Mục tiêu tổng quát Xác định được tính đa dạng của thảm thực vật, hệ thực vật, vai trò của thực vật, các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất được một số giải pháp bảo tồn tính đa dạng thực vật t
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được tính đa dạng của thảm thực vật, hệ thực vật, vai trò của thực vật, các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất được một số giải pháp bảo tồn tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
- Xác định được tính đa dạng của thảm thực vật và mô tả được đặc điểm (hình thái, cấu trúc) các kiểu thảm thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
- Xác định được tính đa dạng của hệ thực vật bậc cao có mạch (thành phần loài, thành phần dạng sống, giá trị sử dụng, các yếu tố địa lý, giá trị bảo tồn) tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
- Xác định được vai trò của thực vật và các yếu tố tác động ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
- Đề xuất được một số giải pháp bảo tồn tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang.
Những điểm mới của luận án
- Lần đầu tiên sử dụng khung phân loại của UNESCO (1973) để phân loại và mô tả đặc điểm hình thái, cấu trúc của các kiểu thảm thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về tính đa dạng của hệ thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, gồm 726 loài, 462 chi, 137 họ, thuộc 6 ngành bậc cao có mạch
- Luận án làm sáng tỏ vai trò của thảm thực vật, hệ thực vật trong việc bảo vệ cảnh quan, môi trường, sinh kế của người dân và những yếu tố tác động ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học
Thuật ngữ đa dạng sinh học (ĐDSH) được dùng lần đầu tiên vào năm 1988, sau khi Công ước Đa dạng sinh học được ra đời năm 1992 thì thuật ngữ ĐDSH đã được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu [113] Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đa dạng sinh học Công ước ĐDSH (1992) đã định nghĩa:
“ĐDSH là sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái” [105] Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên đưa ra khái niệm: “ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” [42] Ở Việt Nam, khái niệm về ĐDSH đã được Luật Đa dạng sinh học (2008) định nghĩa như sau: “ĐDSH là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái tự nhiên” [67] Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, tính đa dạng sinh học được thể hiện ở 3 mức độ sau đây [84]
1.1.1.1 Đa dạng gen Đa dạng gen (hay đa dạng di truyền) được thể hiện ở mức độ phân tử, đó là trình tự sự sắp xếp của các nuleotit trong phân tử ADN của mỗi loài, thậm chí là của mỗi cá thể trong cùng một loài khác nhau là khác nhau Tính chất này qui định các đặc trưng về hình thái, sinh thái và tính di truyền của từng loài Đây là yếu tố tạo nên đa dạng của thế giới sinh vật trên Trái đất mà con người chúng ta đang sinh sống như hiện nay [70]
Tính đa dạng loài được thể hiện ở mức độ cá thể, nó được đặc trưng bởi khả năng trao đổi thông tin di truyền (giao phối, thụ phấn) với nhau và cho các thế hệ con cái hữu thụ (có khả năng sinh sản) giữa các loài với nhau Đa dạng loài là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng loài hoặc số lượng phân loài (loài phụ) trên Trái đất, ở một vùng địa lý, một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định
1.1.1.3 Đa dạng hệ sinh thái
Trong tự nhiên tồn tại những quần xã sinh vật bao gồm các loài sinh vật sinh sống trong một không gian nhất định ở một thời điểm nhất định, có mối quan hệ với nhau và với các nhân tố của môi trường tạo thành một thể thống nhất, tương đối ổn định Những quần xã sinh vật như thế gọi là hệ sinh thái và ở đó vòng tuần hoàn vật chất, dòng năng lượng và dòng thông tin được thực hiện Ða dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó [88]
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [84], nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều công nhận trên thế giới có nhiều hệ sinh thái khác nhau, gồm: (1) Rừng mưa nhiệt đới; (2) Rừng mưa á nhiệt đới - ôn đới; (3) Rừng lá kim ôn đới ; (4) Rừng khô nhiệt đới ; (5) Rừng lá rộng ôn đới ; (6) Thảm thực vật Địa Trung Hải ; (7) Sa mạc và bán sa mạc ẩm ; (8) Đồng rêu và sa mạc; (9) Sa mạc, bán sa mạc lạnh ; (10) Trảng cỏ và đồng cỏ nhiệt đới; (11) Đồng cỏ ôn đới; (12) Thảm thực vật vùng núi; (13) Thảm thực vật vùng đảo; (14) Thảm thực vật ao hồ
1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững
Trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” với nội dung: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”, thuật ngữ
“Phát triển bền vững” lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1980 [16]
Khái niệm trên được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế, trong báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” Hay nói cách khác, phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người [81]
Qua các khái niệm trên ta thấy nội dung nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu, nước nghèo và giữa các thế hệ chứ không đơn thuần chỉ là các nhân tố sinh thái hay nhân tố xã hội, con người
1.1.2.2 Nội dung của phát triển bền vững
Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng những tiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường [34]
Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch
Bền vững về xã hội là phải xây dựng một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội
Bền vững về môi trường là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên ) và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tập của con người ), nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trường trong sạch
Những tiêu chí nói trên là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, nếu thiếu một trong những điều kiện đó thì sự phát triển sẽ đứng trước nguy cơ mất bền vững [34]
1.1.2.3 Các nguyên tắc của phát triển bền vững
Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc trong tác phẩm “Hãy cứu lấy Trái đất - chiến lược cho một cuộc sống bền vững”, năm 1991 đã nêu ra 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng trong thực tế của một thế giới đầy các biến động về chính trị, kinh tế, văn hóa Thực tế đòi hỏi cần thiết lập một hệ thống nguyên tắc khác có tính khả thi và sát thực tế hơn Hệ thống
Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật
và Sinh quyển Việt Nam đưa ra và áp dụng cách tiếp cận “Tư duy hệ thống, Quy hoạch cảnh quan, Điều phối liên ngành, Kinh tế chất lượng” (SLIQ) trong việc xây dựng, quản lý các khu DTSQ do tổ chức UNESCO công nhận và đã được áp dụng tại khu DTSQ Cát Bà, khu DTSQ Đất ngập nước ven biển châu thổ Sông Hồng [98]
1.1.4 Khái niệm thảm thực vật
Thảm thực vật (Vegetation) là khái niệm được nhiều nhà khoa học đưa ra các định nghĩa khác nhau Theo Schmithusen (1976) [72] thảm thực vật là lớp thực bì của Trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Thái Văn Trừng (1978) [93] cho rằng thảm thực vật gồm các quần hệ thực vật bao phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh Trần Đình Lý (2006) [54] đưa ra khái niệm thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thực vật trên toàn bộ bề mặt Trái đất Như vậy, thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định ngữ kèm theo như: thảm thực vật rừng nhiệt đới, thảm thực vật núi đá vôi tỉnh Tuyên Quang
1.2 Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật
1.2.1 Nghiên cứu về thảm thực vật
1.2.1.1 Các nguyên tắc phân loại thảm thực vật
Thảm thực vật trên Trái đất vô cùng phong phú và đa dạng, cho đến nay người ta vẫn chưa tìm được những tiêu chuẩn có sự thống nhất chung để phân loại thảm thực vật Dựa trên các quan điểm và phương pháp nghiên cứu khác nhau các nhà nghiên cứu đã đưa ra những nguyên tắc phân loại và xây dựng hệ thống phân loại khác nhau Mặc dù vậy, các hệ thống phân loại thảm thực vật trên thế giới tuân theo một số nguyên tắc cơ bản sau:
* Nguyên tắc phân loại lấy thành phần thực vật làm yếu tố chủ đạo:
Người đặt nền móng cho nguyên tắc này là Ragmar, Hult (1881) và được Schroter và Brockmann - Jerosch (1916) bổ sung hoàn thiện Về sau được Braun - Blanquet (1928) phát triển và đã xây dựng thành hệ thống phân loại thảm thực vật với đơn vị cơ bản là quần hợp (Association) (dẫn theo Lê Ngọc Công, 2004 [29])
* Nguyên tắc phân loại lấy đặc điểm ngoại mạo làm yếu tố chủ đạo:
Theo nguyên tắc này thì không căn cứ vào thành phần thực vật, mà chủ yếu căn cứ vào cấu trúc ngoại mạo của quần xã thực vật để phân loại Vì vậy, trong một đơn vị phân loại thảm thực vật có thể có nhiều quần xã thực vật có thành phần thực vật rất xa nhau về hệ thống sinh, nhưng lại có sự tương đồng về ngoại mạo Đơn vị phân loại cơ bản của các hệ thống phân loại theo nguyên tắc này là Quần hệ (Formation), tương ứng với thuật ngữ Kiểu thảm thực vật, kiểu Quần lạc thực vật [87]
* Nguyên tắc phân loại dựa trên phân bố không gian làm yếu tố chủ đạo: Điểm xuất phát của nguyên tắc phân loại này là mối quan hệ nhân quả giữa thảm thực vật và không gian phân bố của chúng Vì vậy, việc nghiên cứu từng đơn vị của thảm thực vật và giải thích nguyên nhân phân bố của chúng phải được bắt đầu từ các đơn vị cơ sở của thảm thực vật (các quần xã, quần hợp thực vật) Các nhà nghiên cứu cho rằng có 3 nguyên nhân chính chi phối sự phân bố không gian của thảm thực vật là: (1) Sự phân ly của giới thực vật do các nguyên nhân sinh học mang tính di truyền có liên quan đến lịch sử Trái đất; (2) Phân bố không gian của nơi sống và khác biệt giữa các khoảng không gian tiềm năng ở nơi sinh sống của thảm thực vật do các nhân tố sinh học; (3) Tác động của con người, nhờ các tác động này mà thảm thực vật địa phương thường mang những nét đặc biệt có liên quan đến lịch sử của nền văn hóa con người [87]
* Nguyên tắc phân loại lấy yếu tố phát sinh quần thể thực vật làm yếu tố chủ đạo:
Nguyên tắc phân loại này lấy các yếu tố phát sinh thảm thực vật như: khí hậu - thủy văn, địa lý - địa hình, địa chất - thổ nhưỡng, sinh vật (chủ yếu là khu hệ thực vật) và con người làm yếu tố chủ đạo, do đó mỗi bậc phân loại đều gắn liền với các yếu tố phát sinh này Đơn vị cơ sở của nguyên tắc phân loại này là kiểu thảm thực vật (kiểu rừng) Kiểu thảm thực vật được coi là tương đương với quần hệ trong nguyên tắc phân loại theo cấu trúc ngoại mạo Trên kiểu thảm là nhóm kiểu thảm (hay quần hệ) Dưới các kiểu thảm là kiểu phụ, kiểu trái và thấp nhất là quần hợp thực vật [87]
1.2.1.2 Các hệ thống phân loại thảm thực vật
* Trên thế giới Ở Châu Âu, theo Schmithusen (1959) có hai hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu, đó là hệ thống phân loại các quần xã thực vật mà đơn vị cơ bản là quần hợp của Braun - Blanquet (1928) phần lớn được thực hiện bởi các nhà thực vật học theo trường phái của Pháp và hệ thống phân loại các quần thể thực vật chủ yếu được thực hiện bởi các nhà địa thực vật của Đức Ở Nga, ngay từ đầu thế kỷ XX, Morodov là người đầu tiên đặt nền móng vững chắc cho vấn đề phân loại rừng phục vụ kinh doanh Kế thừa học thuyết của Morodov, trên quan điểm coi rừng là một sinh địa quần lạc, Sukasov đã xây dựng nên trường phái phân loại kiểu rừng, dựa vào những đặc điểm tổng hợp để phân loại (địa hình, thực bì, thổ nhưỡng) Tác giả chủ trương dùng đơn vị cơ bản phân loại thảm thực vật là quần hợp Ở Thụy Điển có hai trường phái: trường phái sinh học (phân loại rừng dựa theo 2 nhân tố là độ ẩm và độ phì của đất) và trường phái quần xã thực vật (dựa vào đặc trưng chủ yếu là tổ thành thực vật và coi quần hợp là đơn vị cơ bản) [87] Ở vùng nhiệt đới, theo Thái Văn Trừng (1978) thì Schimper (1898) là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Trong hệ thống này Schimper đã chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi Trong quần hệ khí hậu tác giả còn phân biệt các kiểu rừng khác nhau (rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai) Sau Schimper là hệ thống phân loại của Rubel, Ilinxki, Burt - Davy, Aubreville ; Trong hệ thống của Aubreville, ông đã căn cứ vào độ tàn che trên mặt đất của tầng ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểu quần thể thưa thành rừng thưa và trảng, truông [94] Ở vùng nhiệt đới gió mùa châu Á có hệ thống của Champion (1936) là hệ thống nổi bật và tương đối hoàn chỉnh, đã phân chia được 4 đai thảm thực vật lớn theo nhiệt độ: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao Cách phân loại này hiện nay vẫn được sử dụng phổ biến [87] Ở vùng Nam Mỹ, Bear (1944) đề nghị một hệ thống phân loại cho những quần thể thực vật ở vùng này gồm 3 cấp: quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ Còn Forber
(1958) đưa ra hệ thống phân loại chung cho thảm thực vật rừng nhiệt đới dựa trên hình thái ngoại mạo cấu trúc quần thể là: lớp quần hệ, quần hệ và phân quần hệ
Tuy nhiên, nhược điểm của các hệ thống phân loại thảm thực vật nói trên là không thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố sinh thái với thảm thực vật hoặc là không làm nổi bật mối quan hệ qua lại giữa các nhân tố sinh thái với nhau
Năm 1973, UNESCO [110] đã công bố khung phân loại thảm thực vật trên Trái đất dựa trên những tiêu chuẩn chung nhất để có thể so sánh được các kết quả nghiên cứu ở các vùng khác nhau và có thể thể hiện được trên bản đồ có tỷ lệ 1:2.000.000 hay bé hơn Bảng phân loại này không dựa vào một nguyên tắc hay hệ thống đã có, mà nó kết hợp các nguyên tắc lại với nhau ở những mức độ khác nhau Tiêu chuẩn cơ bản của hệ thống phân loại này là cấu trúc ngoại mạo với sự bổ sung của các thông tin về sinh thái, địa lý Đây là bảng phân loại tuy còn mang tính chất nhân tạo, nhưng lại cần thiết theo yêu cầu thực tế hiện nay Hệ thống này được sắp xếp như sau:
I, II, etc = Lớp quần hệ (Formation class)
A, B, etc = Phân lớp quần hệ (Formation subclass)
1, 2, etc = Nhóm quần hệ (Formation group) a, b, etc = Quần hệ (Formation)
(1), (2), etc = Phân quần hệ (Subformation)
(a), (b), etc = Các bậc nhỏ khác (Further subdivision)
* Ở Việt Nam Ở Việt Nam hiện có các hệ thống phân loại thảm thực vật như sau: a Hệ thống phân loại rừng theo hiện trạng
Trước năm 1960, các công trình nghiên cứu về thảm thực vật chủ yếu được thực hiện bởi các tác giả người nước ngoài như Chevalier (1918), Maurand (1943), Dương Hàm Hy (1944), Rollet, Lý Văn Hội và Neay Sam Oil (1958) ; Từ năm
1960, Loschau đã đưa ra một khung phân loại rừng theo trạng thái ở Quảng Ninh Bảng phân loại này đã phân thành 4 trạng thái như sau: (1) Loại I: gồm những đất trống đồi núi trọc, trảng cỏ và cây bụi ; (2) Loại II: gồm những rừng non mới mọc;
(3) Loại III: gồm tất cả các rừng đã bị khai thác trở nên nghèo kiệt, tuy còn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ; (4) Loại IV: gồm những rừng nguyên sinh chưa bị khai phá
[87] Đây là hệ thống phân loại rừng đã được sử dụng khá rộng rãi ở nước ta trong điều tra tái sinh rừng cũng như điều tra tài nguyên rừng theo trạng thái Viện Điều tra và Quy hoạch rừng đã áp dụng hệ thống này để phân loại trạng thái rừng phục vụ công tác quy hoạch, thiết kế và kinh doanh rừng b Phân loại thảm thực vật rừng theo các nhân tố sinh thái phát sinh
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật
1.3.1 Các yếu tố làm suy giảm tính đa dạng thực vật
* Trên thế giới Đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa, duy trì hệ thống tự nhiên và phát triển kinh tế, xã hội Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đa dạng sinh học nói chung và đa dạng thực vật nói riêng, đang bị suy giảm nghiêm trọng chủ yếu là do các hoạt động của con người Các nhà khoa học đều thống nhất nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật bao gồm:
- Do khai thác quá mức:
Từ những năm 40 của thế kỷ XX, khai thác gỗ trụ mỏ, gỗ xẻ, đã tăng lên nhanh chóng phục vụ nhu cầu của con người Nguyên nhân này một phần có sự liên quan đến gia tăng dân số trên toàn thế giới: năm 1850 có 1 tỷ người, tăng lên 2 tỷ người vào năm 1930 và hiện nay đã có trên 6 tỷ người Tốc độ tăng dân số tuy thấp ở các nước công nghiệp phát triển nhưng lại tăng cao ở các nước kém phát triển ở châu Mỹ, châu Á, châu Phi, mà đây lại là nơi có thảm thực vật rừng rất phong phú và đa dạng Theo số liệu của FAO (1991), 87 nước nhiệt đới ở ba châu lục (châu Mỹ, châu Á, châu Phi), diện tích rừng hàng năm bị phá khoảng 170.000 ha, chiếm tỷ lệ 0,9% so với diện tích tự nhiên Ở Băng La Đét, nhu cầu gỗ, củi và tre nứa tăng lên rất nhanh từ giữa năm 1977 đến 1984, tăng 69% đối với gỗ, 152% đối với củi và 115% đối với tre nứa (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005 [88])
- Chặt trắng trên diện tích lớn để kinh doanh:
Rừng biến thành đồng cỏ là nguyên nhân trước đây gây ra mất rừng đối với các nước Nam Mỹ Ở Brazin, 75% diện tích rừng bị chặt trắng làm đồng cỏ vào năm
1980 Rừng tiếp tục bị chặt trắng để xây dựng đồn điền Cao su, Cọ dầu, Mía, Chè,
Cà phê Ở bán đảo Malaya phần lớn rừng bị chặt trắng để làm nông nghiệp, đặc biệt để trồng Cao su, Cọ dầu
- Du canh, du cư và di dân: Đây là nguyên nhân cơ bản gây mất rừng trong vùng nhiệt đới gồm: 70% rừng châu Phi, 50% châu Á, 35% châu Mỹ Việc du canh, du cư làm tăng diện tích trồng trọt rất nhanh liên quan đến gia tăng dân số Ở Madagasca dân số tăng từ 5-
12 triệu người và việc chặt phá rừng đã làm mất phần lớn diện tích rừng của đất nước Trong thời đại ngày nay việc di dân theo yêu cầu mới cũng là những nhân tố xã hội và chính trị gây mất rừng Ví dụ ở Brazin, Chính phủ động viên các chủ đất vào rừng để sinh sống và chăn nuôi Sau một thời gian, vào cuối những năm 1970 người ta thấy mỗi năm có 20.000km 2 rừng bị mất đi, đặc biệt lưu vực sông Amazon năm 1987 có khoảng 50.000km 2 rừng đã bị đốt cháy (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn,
- Hiện đại hóa đất nước:
Nhu cầu xã hội ngày càng tăng cao, việc hiện đại hóa nền kinh tế là hết sức cần thiết Nhiều diện tích rừng đã bị mất do xây dựng các nhà máy, hầm mỏ, đường giao thông và đó chính là nguyên nhân trực tiếp gây mất diện tích rừng nhiệt đới Bên cạnh đó, việc hiện đại hóa đất nước còn kéo theo sự ô nhiễm môi trường do khí độc hại, chất phế thải Ở Mỹ, hiện nay việc sử dụng thuốc trừ sâu tăng gấp 2 lần nên đã làm hại đến các loài côn trùng có ích, hiện tượng mưa axit đã gây thiệt hại hàng trăm ha rừng mỗi năm (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005 [88])
Các công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng thực vật chủ yếu được thực hiện tại các Vườn Quốc gia (VQG), các Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN), nơi mà thảm thực vật và hệ thực vật còn khá phong phú và đa dạng
Hầu hết các tác giả đều cho rằng các nguyên nhân làm suy giảm đa dạng thực vật thuộc 2 nhóm: nguyên nhân trực tiếp (khai thác gỗ, dược liệu, củi đun, xây dựng công trình, cháy rừng, phá rừng làm rẫy…) và nguyên nhân gián tiếp (biến đổi khí hậu và nước biển dâng, dân số tăng, đói nghèo, phong tục tập quán…)
Nguyễn Thị Thoa (2010) điều tra ở Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng (tỉnh Thái Nguyên) cho thấy việc khai thác và vận chuyển trái phép các loại gỗ tròn ngày càng gia tăng: năm 2010 là 51,6m 3 ; năm 2011 (490,1 m 3 ); năm 2012 là 470,2 m 3 Riêng các loại gỗ thuộc loài quý hiếm bị khai thác tương ứng với thời gian trên là 45,3 m 3 ; 138 m 3 và 126,5m 3 Đối với cây dược liệu tác giả thống kê có 42 loài cây thuốc được người dân thường thu hái như Hoàng đằng, Bình vôi, Sa nhân…; Năm
2012, Hạt Kiểm lâm của Khu BTTN đã tịch thu 211 kg củ Bình vôi khai thác trái phép mang đi tiêu thụ Bộ phận sử dụng cây thuốc cũng rất đa dạng : rễ, thân, lá, củ, cả cây…nên đã làm cho nhiều loài không còn khả năng tái sinh, có thể dẫn đến tuyệt chủng [91]
Nguyễn Anh Hùng (2014), khi phỏng vấn 50 người dân trong khu vực ATK Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên) có tới 80% cho biết họ thường khai thác các loại gỗ (Đinh, Sến, De, Giổi…) để bán lấy tiền do đời sống còn rất khó khăn Trong giai đoạn điều tra từ 2005-2014, một người khỏe mạnh có thể khai thác được 10m 3 gỗ/tháng Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ như củi đun cũng diễn ra hàng ngày, qua điều tra tại 4 xã trong khu vực tác giả cho biết có 82,8% lượng củi được người dân khai thác từ rừng tự nhiên, 95% số hộ sử dụng củi để sao chè và lượng củi dùng sao chè hàng năm là 590,4 ste [40]
Nguyễn Thanh Nhàn (2017), khi nghiên cứu ở VQG Pù Mát (tỉnh Nghệ An) cho thấy nạn khai thác gỗ trái phép diễn ra quanh năm, họ thường khai thác các loài gỗ quý như Pơ mu, Dổi, Táu mật, Sao, Sưa… ; đặc biệt loài gỗ Sưa bán qua biên giới với giá từ 8-10 triệu đồng/kg, hoặc gỗ Muồng trắng bán giá 60 triệu đồng/m 3 Việc khai thác lâm sản ngoài gỗ (dược liệu, rau rừng, củi…) cũng diễn ra hàng ngày với mức thu nhập từ 150-300 ngàn đồng/ người/ngày Ngoài ra, hoạt động xây dựng 2 nhà máy thủy điện nhỏ trong phạm vi VQG này cũng làm thay đổi sinh cảnh sống của nhiều loài sinh vật do bị ngập nước, một số diện tích đất rừng bị chuyển đổi mục đất sử dụng… [63]
Các nguyên nhân gián tiếp cũng góp phần quan trọng làm suy giảm đa dạng thực vật ở nhiều vùng của nước ta
Việt Nam được đánh giá là một trong năm nước trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề do biến đổi khí hậu (BĐKH) Hậu quả của BĐKH đã làm suy giảm diện tích rừng, trong đó rừng ngập mặn bị suy giảm nghiêm trọng Chỉ tính riêng các tỉnh ven biển đồng bằng sông Hồng giai đoạn từ năm 2000-2006 diện tích rừng ngập mặn đã giảm 9.990 ha do nước biển dâng Do nhiệt độ tăng cao cùng với các đợt nắng nóng xảy ra nhiều hơn làm tăng nguy cơ cháy rừng ở nước ta Trong vài thập kỷ qua, cháy rừng đã làm mất đi 16.000 ha rừng mỗi năm BĐKH đã làm sâu bệnh, dịch bệnh và sâu bệnh hại ngoại lai phát triển Tại Bắc Giang có 160 ha rừng Thông đuôi ngựa bị sâu róm phá hoại, ở Đồng Nai xuất hiện bệnh nguy hiểm như khô cành làm 11.000 ha rừng Bạch đàn bị thiệt hại BĐKH còn làm thay đổi cơ cấu tổ chức rừng và ranh giới phân bố của các hệ sinh thái rừng tự nhiên Sự tăng nhiệt độ Trái đất khiến nhiều loài thực vật trên dãy Hoàng Liên Sơn đang phải dịch chuyển sự phân bố lên vùng cao hơn để tồn tại Điển hình là loài thông Vân sam trước đây chỉ sinh trưởng ở độ cao 2.200-2.400 m, thì nay có thể gặp ở độ cao 2.400-2.700 m so với mực nước biển
Theo Nguyễn Thị Thoa (2010), ở Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng (tỉnh Thái Nguyên) tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao, chiếm 38,97% cao hơn bình quân chung của toàn tỉnh Thái Nguyên (16,69%) Hầu hết là người dân tộc thiểu số, thu nhập chỉ dựa vào nông nghiệp, không có nghề phụ, tỷ lệ tăng dân số bình quân 1,4%/năm Vì vậy họ phải vào rừng khai thác gỗ và các lâm sản ngoài gỗ để cải thiện đời sống [91]
Nguyễn Thanh Nhàn (2017) thống kê tại 9 bản của người dân tộc Đan Lai trong khu vực VQG Pù Mát (tỉnh Nghệ An) cho thấy họ có cuộc sống đói nghèo và lạc hậu Sản xuất mang tính tự túc, tự cấp, thu nhập bình quân đầu người chỉ 2,5 triệu đồng/người/năm, mỗi năm chỉ đủ ăn khoảng 3-4 tháng, còn lại dựa vào trợ cấp của Nhà nước và dựa vào rừng Mặt khác, mức tăng dân số trên địa bàn khá cao, tỷ lệ trung bình là 2,6%/năm, đặc biệt có 3 bản người Đan Lai trung bình mỗi cặp vợ chồng có 5-6 con, có gia đình 8-9 con Đó là những nguyên nhân cơ bản gây suy giảm tài nguyên rừng ở VQG này [63]
Nghiên cứu thảm thực vật, hệ thực vật ở tỉnh Tuyên Quang
Bao gồm toàn bộ các kiểu thảm thực vật tự nhiên và rừng trồng, hệ thực vật bậc cao có mạch tại Khu di tích lịch sử Tân Trào tỉnh Tuyên Quang, gồm 3 nhóm: Thực vật có bào tử (Khuyết lá thông, Thông đất, Cỏ tháp bút, Dương xỉ), thực vật Hạt trần và thực vật Hạt kín
- Nghiên cứu tính đa dạng của thảm thực vật
- Nghiên cứu tính đa dạng của hệ thực vật
- Nghiên cứu vai trò của thực vật tại Khu di tích lịch sử
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật
- Thời gian thực hiện luận án: 3 năm (từ năm 2016 đến năm 2019)
- Kế hoạch và thời gian cụ thể:
+ Điều tra thực địa được tiến hành từ năm 2016 đến năm 2017, cụ thể: Đợt 1: tháng 6/2016; Đợt 2: tháng 9/2016; Đợt 3: tháng 12/2016; Đợt 4: tháng 3/2017
+ Thực hiện điều tra phỏng vấn đợt 1: tháng 8/2016, đợt 2: tháng 10/2016, đợt 3: tháng 12/2016
+ Bố trí điều tra và thu thập các số liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu: từ tháng 6/2016 - 6/2018
+ Tổng hợp, xử lý số liệu, viết và bảo vệ luận án cấp cơ sở: Từ 6/2018 - 3/2019
2.4.1 Phương pháp kế thừa Đề tài thu thập, kế thừa có chọn lọc những số liệu, tài liệu, các báo cáo liên quan đến thảm thực vật, hệ thực vật của Khu di tích lịch sử Tân Trào của các nhà khoa học, các cơ quan chức năng của tỉnh Tuyên Quang như Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND các cấp, Chi cục Kiểm lâm và Ban Quản lý Khu di tích lịch sử Tân Trào.