Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên chúng tôi định nghĩa như sau: Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy độn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ CẢNH
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
TỰ HỌCCHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HỆ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TRONG DẠY HỌC PHẦN “SINH HỌC VI SINH VẬT” (SINH HỌC 10)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ CẢNH
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HỆ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TRONG DẠY HỌC PHẦN “SINH HỌC VI SINH VẬT” (SINH HỌC 10)
Ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã ngành: 8140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ HỒNG TÚ
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả nghiên cứu là trung thực
và chưa có ai công bố trong bất kì công trình khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả
Nông Thị Cảnh
Trang 4Tôi xin được gửi lời chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc, các thầy cô giáo và các
em học sinh tại Trung tâm GDNN - GDTX đã hợp tác nhiệt tình, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực nghiệm sư phạm
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và người thân đã luôn tạo điều kiện và động viện tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu đề tài
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Nông Thị Cảnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Những điểm mới của đề tài 2
6 Giới hạn nghiên cứu 3
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
8 Các phương pháp nghiên cứu 3
9 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Lược sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Cơ sở lí luận của tự học và dạy học theo định hướng phát triển NLTH 11
1.2.1 Khái quát về Tự học và NLTH 11
1.2.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học 19
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 25
1.3.1 Mục đích khảo sát 25
1.3.2 Đối tượng, địa bàn khảo sát 25
1.3.3 Nội dung khảo sát 25
1.3.4 Phương pháp khảo sát 25
1.3.5 Kết quả khảo sát (Kết quả cụ thể ở phụ lục 1.3) 25
Trang 6Chương 2 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC
SINH THPT HỆ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TRONG DẠY HỌC 29
2.1 Đặc điểm cấu trúc, nội dung phần “Sinh học Vi sinh vật”(Sinh học 10) 29
2.2 Một số biện pháp phát triển NLTHcho HS THPT hệ GDTX trong dạy học phần "Sinh học Vi sinh vật" (Sinh học 10) 32
2.2.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 32
2.2.2 Một số biện pháp phát triển NLTH cho HS THPT hệ GDTX trong dạy học phần “Sinh học vi sinh vật” (Sinh học 10) 32
2.3 Tổ chức dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật” (Sinh học 10) theo hướng sử dụng các biện pháp phát triển NLTH cho HS THPT hệ GDTX 50
2.3.1 Quy trình tổ chức dạy học theo hướng phát triển NLTH cho HS THPT hệ GDTX 50
2.3.2.Vận dụng quy trình tổ chức dạy học theo hướng phát triển NLTH cho HS THPT hệ GDTX trong dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật” SH 10 52
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Mục đích thực nghiệm 63
3.2 Nội dung thực nghiệm 63
3.3 Phương pháp thực nghiệm 63
3.3.1 Chọn trường, lớp TN 63
3.3.2 Bố trí TN 64
3.3.3 Kiểm tra, đánh giá HS 64
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm và biện luận 64
3.4.1 Phân tích kết quả học tập của học sinh 64
3.4.2 So sánh sự tiến bộ của HS lớp TN với lớp ĐC 74
3.4.3 Đánh giá HS qua phiếu điều tra mức độ hứng thú và khả năng tự học của HS trước và sau khi tiến hành dạy TN 75
3.4.4 Đánh giá việc phát triển NLTH của HS thông qua kết quả theo dõi sự tiến bộ của một nhóm HS (Case study) 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Nội dung cơ bản Phần “Sinh học Vi sinh vật” (Sinh học 10) 29
Bảng 3.1 Bảng phân phối tần số điểm kiểm tra lần 1 65
Bảng 3.2 Bảng phân phối tần suất điểm kiểm tra lần 1 65
Bảng 3.3 Tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra trong TN (lần 1) 66
Bảng 3.4 Kiểm địnhXđiểm kiểm tra trong thực nghiệm (lần1) 67
Bảng 3.5 Phân tích phương sai điểm kiểm tra trong thực nghiệm (lần 1) 67
Bảng 3.6 Bảngphân phối tần số điểm kiểm tra lần 2 68
Bảng 3.7 Bảng phân phối tần suất điểm kiểm tra lần 2 68
Bảng 3.8 Tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra trong thực nghiệm (lần2) 69
Bảng 3.9 Kiểm địnhXđiểm kiểm tra trong thực nghiệm (lần2) 70
Bảng 3.10 Phân tích phương sai điểm kiểm tra trong thực nghiệm (lần 2) 71
Bảng 3.11 Bảng phân phối tần số điểm kiểm tra lần 3 71
Bảng 3.12 Bảng phân phối tần suất điểm kiểm tra lần 3 71
Bảng 3.13 Tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra trong thực nghiệm (lần3) 72
Bảng 3.14 Kiểm địnhXđiểm kiểm tra trong thực nghiệm (lần3) 73
Bảng 3.15 Phân tích phương sai điểm kiểm tra trong thực nghiệm (lần 3) 74
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Biểu hiện của người có NLTH 16
Sơ đồ 1.2 Biểu hiện của NLTH 17
Sơ đồ 1.3 Các yếu tố của NLTH môn Sinh học của HS 19
Hình 1.4 Quan hệ HĐ TH - NLTH - Đánh giá NLTH 25
Hình 2.1 Minhhọa bản đồ tư duy 41
Hình 2.2 Bức tranh chủ đề 45
Hình 2.3 Quy trình tổ chức dạy học theo hướng phát triển NLTHcho HS THPT hệ GDTX 50
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn tần suất điểm kiểm tra lần 1 trong thực nghiệm 65
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích của nhóm lớp TN và ĐC bài kiểm tra lần 1 66
Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn tần suất điểm kiểm tra lần 2 trong TN 68
Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích của nhóm lớp TN và ĐC bài kiểm tra lần 2 69
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn tần suất điểm kiểm tra lần 3 trong thực nghiệm 72
Hình 3.6 Đồ thị đường lũy tích của nhóm lớp TN và ĐC bài kiểm tra lần 3 73
Trang 10MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
1.1.Căn cứ vào các nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà nước và của Bộ Giáo dục -Đào tạo
Nghị quyết hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&
ĐT đã xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện
đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”[1]
Nghị quyết hội nghị Trung ương 8 khóa XI đối với GDTX:“Đối với giáo dục
thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xóa mù chữ bền vững Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo dục từ xa”[1]
Luật Giáo dục 2005 quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học NLTH, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên…” (Khoản 2 Điều 5)[30]
Bộ GD& ĐT quy định mục tiêu về kĩ năng học tập bộ môn Sinh học là “Phát
triển kĩ năng học tập, đặc biệt là tự học: biết thu thập và xử lí thông tin; lập bảng biểu,
sơ đồ, đồ thị, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm; làm báo cáo nhỏ, trình bày trước tổ, lớp”[5, tr 6]
1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy học môn Sinh học ở Trung tâm GDNN -GDTX
Thực trạng dạy - học của các môn học nói chung và Sinh học nói riêng ở Trung tâm GDNN-GDTX hiện nay đã thay đổi theo phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của HS, tuy nhiên GV việc thực hiện chưa thường xuyên Vì vậy để phát triển được năng lực HS, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo hiện nay, cần có các biện pháp dạy học để phát triển năng lực HS
Trang 111.3 Xuất phát từ đặc điểm của Phần “Sinh học Vi sinh vật” Sinh học 10
Phần “Sinh học Vi sinh vật” giới thiệu với HS về thế giới của những sinh vật vô cùng nhỏ bé, có kích thước hiển vi, không nhìn thấy bằng mắt thường Chúng bao gồm nhiều nhóm phân loại khác nhau: vi khuẩn, vi tảo, vi nấm, động vật nguyên sinh,… chúng phân bố ở khắp mọi nơi, trong đất, trong nước, trong không khí, trong thực phẩm… chúng có vai trò rất quan trọng trong tự nhiên và trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống con người như sản xuất kháng sinh, thuốc diệt bệnh sinh học, xử lí rác thải, sản xuất thực phẩm như sữa chua, muối dưa, lên men rượu… đồng thời chúng cũng gây ra nhiều tác hại cho cuộc sống con người như dịch bệnh, gây hỏng đồ dùng, thực phẩm
từ những đặc điểm này sẽ làm HS tò mò muốn nghiên cứu, tìm hiểu về vi sinh vật
Phần “Sinh học vi sinh vật”được dạy ở kì 2 lớp 10, đến thời điểm này HS đã quen với chương trình và phương pháp học ở bậc học mới vì vậy tác động đến HS là phù hợp để phát triển NLTH
Tự học là nhu cầu, một năng lực cần có của mọi người trong thời đại ngày nay,
do đó mục tiêu quan trọng nhất của nhà trường không phải trang bị cho người học tri thức mà là phương pháp tự học
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp phát triển năng lực tự học cho HS THPT hệ Giáo dục thường xuyên trong dạy học phần “Sinh học
Vi sinh vật” (Sinh học 10)
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề xuất và sử dụng được các biện pháp phát triển NLTH phù hợp với HS THPT hệ Giáo dục thường xuyên
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
*Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học Sinh học 10
* Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp phát triển NLTH choHS THPT hệ GDTX
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và sử dụng được các biện pháp phát triển NLTH cho HSTHPT hệ
GDTX trong dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật” (Sinh học 10) một cách hợp lí thì sẽnâng cao kết quả học tập môn Sinh học và phát triển NLTH ở HSTHPT hệ GDTX
5 Những điểm mới của đề tài
Trang 125.1 Đưa ra được các biện pháp phát triển NLTH phù hợp với HSTHPT hệ GDTX 5.2 Sử dụng được các biện pháp nhằm phát triển NLTH cho HSTHPT hệ GDTX trong dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật” (Sinh học 10)
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu đại diện: HS ở một số Trung tâm GDNN-GDTX trong tỉnh Thái Nguyên
6.2 Nghiên cứu các biện pháp phát triển NLTH cho HS trong dạy học phần
“Sinh học vi sinh vật”(Sinh học 10) nhằm nâng cao kết quả học tập môn Sinh học đồng thời phát triển NLTH ở HSTHPT hệ GDTX
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu tổng quan về tự học, NLTH, phát triển NLTH
7.2 Phân tích cấu trúc nội dung phần "Sinh học Vi sinh vật" làm cơ sở cho việc
đề xuất các biện pháp phát triển NLTH cho HSTHPT hệ GDTX
7.3 Đưa ra được các biện pháp phát triển NLTH phù hợp với HSTHPT hệ GDTX 7.4 Sử dụng được các biện pháp trong dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật” (Sinh học 10) theo định hướng phát triển NLTH cho HSTHPT hệ GDTX
7.5 Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi của giả thuyết đề tài đã đặt ra
8 Các phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp quy của nhà nước, Bộ ĐT; Các tài liệu chuyên môn, SGK và các tài liệu khác để phân tích tổng hợp hệ thống những thông tin có liên quan đến đề tài
GD-8.2 Phương pháp thực tiễn
- Tham vấn chuyên gia: gặp gỡ, trao đổi và xin ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu Lắng nghe sự tư vấn, giúp đỡ của các chuyên gia để giúp cho việc triển khai nghiên cứu đề tài Tham khảo ý kiến các GV có kinh nghiệm và tâm huyết
về các vấn đề liên quan
Trang 13- Sử dụng phiếu điều tra: Sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn thực trạng tự học
của HS và việc tổ chức rèn luyện KN tự học, đánh giá việc đề xuất và sử dụng các biện
pháp phát triển NLTH cho HS THPT hệ GDTX trong dạy học phần Sinh học "Vi sinh
Nội dung: Gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2 Các biện pháp phát triển NLTH cho HSTHPT hệ GDTX trong dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật” (Sinh học 10)
Chương3 Thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận và đề nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lược sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Vấn đề tự học từ xa xưa đến nay đã có nhiều tác nghiên cứu đến Lịch sử Trung Hoa cổ đại đã xuất hiện các nhà giáo dục kiệt xuất, nổi bật là Khổng Tử (551- 479) Trong cuộc đời dạy học của mình, ông quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ, sáng tạo của HS Cách dạy học của ông là gợi mở để học trò tìm ra chân lý Ông nói
với học trò của mình: “Không giận vì không biết thì không gợi mở cho, không bực
vìkhông rõ thì không bày vẽ cho, một vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy
ra 3 góc kia thì không dạy nữa” [15]
Mạnh Tử (372- 289), đòi hỏi người học phải tự suy nghĩ, chứ không nên nhắm mắt theo sách: “cả tin ở sách thì chi bằng không có sách” Ông đòi hỏi người học phải
tự cố gắng mà tìm hiểu, ông ví người dạy họ như người dạy bắn cung, chỉ kéo thẳng dây cung mà không bắn tên đi hộ, tự người bắn phải bắn lấy [ 9]
Trong nền Giáo dục Phương tây cổ đại, ý tưởng dạy học coi trọng người học và trao quyền tự chủ cho người học đã được chú ý đến phương pháp giảng dạy của Heraclitus (530- 475), Socrate (469- 390), Aristote (384- 322) nhằm phát hiện chân lý bằng cách đặt câu hỏi
để người học tự tìm ra kết luận Sau đó cùng với những diễn biến của thăng trầm lịch sử và
sự phát triển của nhận thức xã hội mà ý tưởng này tiếp tục phát triển
Nhà sư phạm J.A.Comenxki (1592 - 1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, người đặt nền móng cho sự ra đời của nhà trường hiện nay đã khẳng định: “không có khát vọng học tập thì không trở thành tài” Trong tác phẩm ông cương quyết phản đối lối dạy học áp đặt, giáo điều Tư tưởng này cho thấy trong dạy học cần phải xây dựng hoài bão, tạo động cơ để người học có thể tự vượt qua các trở ngại trong học tập [ 16]
N.A.Rubakin (1862- 1946) trong tác phẩm "Tự học như thế nào", nhà xuất bản Thanh niên năm 1990, đã trình bày nhiều vấn đề về phương pháp tự học, đặc biệt là phương pháp sử dụng tài liệu và ông đã nhấn mạnh "việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để bạn tích cực, chủ động trong tự học" [16]; "Hãy mạnh dạn tự mình
Trang 15đặt ra câu hỏi rồi tự mình lấy câu trả lời, đó là phương pháp tự học" [16] Ông cũng cho rằng, nhiệm vụ của người thầy phải xây dựng được các bài tập nghiên cứu, hình thành cho HS nhu cầu giải quyết các bài tập nghiên cứu là một trong các biện pháp hình thành
và phát triển NLTH cho HS
Trong những năm 30 của thế kỷ XX, Tsunesaburo Makiguchi (1871 - 1944) nhà
sư phạm lỗi lạc Nhật Bản đã trình bày tư tưởng giáo dục mới Trong cuốn "Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo "NXB trẻ 1994, có trích dẫn quan niệm của ông cho rằng giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn TH, mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới giá trị hạnh phúc của bản thân và cộng đồng [19]
Ngay từ những năm đầu cách mạng tháng Mười Nga, N.K.Crupxcaia rất quan tâm tới vấn đề tự học, tự nghiên cứu của HS, bà cho rằng: Điều quan trọng là dạy HS học tập, mà không chờ đợi người khác làm điều đó thay mình GV không chỉ làm diễn giả, HS không chỉ làm thính giả, không những cần dạy cho HS biết nghe mặc dù điều
đó hoàn toàn cần thiết, mà còn cần dạy cho họ biết tự mình làm như: đọc, hiểu điều đã đọc, kiểm tra nhiều điều bằng con đường nghiên cứu, tìm tài liệu, tập hợp lựa chọn tài liệu [ 16]
Những năm cuối thế kỷ XX các nhà giáo dục tập chung nghiên cứu bản chất NLTH, theo thống kê của Candy (1987) đã xác định được ít nhất 30 khái niệm khác nhau được sử dụng đồng nghĩa với NLTH đó là: học tập độc lập, người học tự kiểm soát, hướng dẫn bản thân, học tập phi truyền thống, học tập mở, TH, tự giáo dục, học tập tự tổ chức, TH theo kế hoạch Nội dung các định nghĩa tập trung mô tả người TH
đó là chủ động thể hiện kết quả học tập của mình, kiên trì trong học tập và chịu trách nhiệm về việc học
Trong cuốn "Tự học có hiệu quả", Anna Mikukak nhận định rằng trong những năm gần đây các nhà giáo dục đã tập trungnhiều hơn vào việc thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, tham gia thực hành, tự nghiên cứu và sử dụng thao tác trong lớp học Tác giả đưa ra lí do cơ bản là HS có thể tự tích lũy được kinh nghiệm học tập tự định hướng
Tác giả Dimitrios Thamasoulas, trong cuốn "TH là như thế nào và làm thế nào bồi dưỡng việc TH" cho rằng: Khái niệm TH là sự độc lập và tự chủ của người học Nó
là một vấn đề quan trọng nhất trong việc giảng dạy Người học học học tập một cách
Trang 16độc lập và có trách nhiệm với việc học của mình Tuy nhiên, bên cạnh đó tác giả cũng không phủ nhận vai trò hướng dẫn của GV đối với việc TH của HS Bên cạnh đó, tác giả phân tích khá kĩ về việc mỗi cá nhân đều khác nhau thói quen học tập, sở thích, nhu cầu, động lực Từ đó ông đưa ra trong nghiên cứu của mình quan niệm về TH, điều kiện để TH, chiến lược học tập hiệu quả cũng như những biện pháp khuyến khích HS
TH và tự kiểm tra đánh giá việc học của bản thân
Như vậy, qua các nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả trên thế giới về TH và
NLTH chúng tôi nhận thấy chúng tôi nhận thấy: tự học là yếu tố quyết định cho xu
hướng học tập suốt đời của mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại Việc phát triển NLTH
là vô cùng cần thiết, ảnh hưởng to lớn và trực tiếp tới việc học của người học
1.1.2 Ở Việt Nam
Vấn đề TH đã được chỉ rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Giáo dục, đồng thời được thể chế hóa trong luật Giáo dục và các chiến lược phát triển Giáo dục và Đào tạo của chính phủ Hồ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề học tập và TH, Người cho rằng: cách
học tập “phải lấy TH làm cốt”, Bác đã động viên toàn dân: phải tự nguyện, tự giác, coi
học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, phải tích cực, chủ động hoàn thành kế hoạch học tập
Vấn đề TH được Đảng ta đặc biệt coi trọng Trong nghị quyết của Bộ chính trị
về cải cách Giáo dục (11/1/1979) đã viết: “Cần coi trọng việc bồi dưỡng hứng thú, thói
quen và phương pháp TH cho HS, hướng dẫn HS biết cách nghiên cứu SGK, thảo luận
chuyên đề, ghi chép tư liệu…” [31] Với công cuộc đổi mới đất nước và phong trào đổi
mới trong giáo dục, Đảng và nhà nước ta cũng nhận định rất rõ vai trò của TH trong việc nâng cao chất lượng học tập Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996) cũng
khẳng định: “… Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Phát triển mạnh phong trào TH, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên…”[32]
Định hướng này được thể chế hóa qua luật Giáo dục 2005 điều 5, khoản 2:
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học NLTH, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”[30]
Trang 17Trong tình hình hiện nay khi vấn đề đổi mới giáo dục đang được đặc biệt quan tâm thì việc phát triển phong trào TH trong các nhà trường lại càng có ý nghĩa to lớn Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 về đổi mới chương trình
giáo dục phổ thôngđã nêu rõ: “Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán
triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong Luật giáo dục; khắc phục những mặt còn hạn chế của chương trình, SGK hiện hành; tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, NLTH; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của HS[32]
Vấn đề TH còn được pháp chế trong Luật Giáo dục Điều 40 luật Giáo dục sửa
đổi năm 2009 nêu rõ: “Phương pháp đào tạo trình độ Cao đẳng, Đại học phải coi trọng
việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, NLTH, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” [31]
Để phát triển vấn đề TH, Việt Nam đã thành lập trung tâm nghiên cứu và phát triểnTH từ tháng 5/1997 do GS Nguyễn Cảnh Toàn làm giám đốc Trung tâm được giao nhiệm vụ chủ yếu là: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về TH, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc thiết kế quá trình dạy-tự học nhằm mục đích góp phần xây dựng một xã hội học tập ít tốn kém mà hiệu quả Trung tâm đã tổ chức nhiều hội thảo, trong
đó có hội thảo khoa học: “TH, tự đào tạo, tư tưởng chiến lược của sự phát triển Giáo
dục Việt Nam” ngày 15/1/1998 Đồng thời tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu, trong đó
có đề tài: “Nghiên cứu và phát triển tự học” do GS Nguyễn Cảnh Toàn làm chủ nhiệm
Đề tài gồm có các vấn đề chính như: Chiến lược phát triển nội lực của người học, mô hình dạy TH, thiết kế bài học và thử nghiệm theo mô hình dạy TH
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, một trong những tác giả có công nghiên cứu rất nhiều về TH và làm thế nào để TH có hiệu quả, Ông cùng một số tác giả xuất bản khá
nhiều đầu sách viết về vấn đề này tiêu biểu như: “Quá trình dạy tự học”, NXB Giáo dục 1996 [22]; “Học và dạy cách học”, NXB Đại học Sư phạm 2002 [23]; “Tự học
như thế nào cho tốt”, NXB Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009 [21];… Qua tham
khảo các đầu sách trên chúng tôi thấy ông cho rằng: TH là tự mình động não, suy
Trang 18nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ như: quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến nó thành sở hữu của mình Những tác phẩm trên như lời tâm sự, đúc rút kinh nghiệm về TH đồng thời cũng là những cẩm nang quý giá về nghiên cứu phương pháp TH
Tác giả Trần Bá Hoành, trong cuốn "Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa", NXB Đại học sư phạm năm 2007, quan niệm:"Trong các phương pháp dạy học thì cốt lõi là phương pháp tự học, nếu rèn luyện cho người học
có phương pháp, KN, thói quen TH, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo ra cho họ lòng ham học hỏi, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người" [13] Bên cạnh đó ông liệt kê các dấu hiệu của người TH như: người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, thể hiện mình
Trong cuốn "Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới" NXB Giáo dục (2008) [27], tác giả Thái Duy Tuyên đã đề cập nhiều vấn đề TH Tác giả đã dành hẳn chương VIII để nói về việc bồi dưỡng NLTH Trong chương này tác giả đã đề cập đến các vấn đề chủ yếu: khái niệm TH, nội dung hoạt động TH, những yếu tố ảnh hưởng đến TH, những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TH, một số vấn đề cấp thiết như xây dựng động cơ học tập, làm việc với sách, nghe và ghi khi nghe giảng, đọc sách - một dạng TH quan trọng và phổ biến, dạy trên lớp thế nào để HS có thể TH và biên soạn SGK theo hướng bồi dưỡng phương pháp TH Theo tác giả, hình thức và đối tượng TH hết sức phong phú và đa dạng Đối với mỗi người trong suốt cuộc đời có lẽ đều phải trải qua các dạng TH, mỗi người cần tìm tòi rút kinh nghiệm để xây dựng cho mình một phương pháp TH riêng và phù hợp đối với bản thân Khi tìm hiểu bản chất của tự học, tác giả liệt kê các hoạt động cần phải có trong quá trình tự học như quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, rèn luyện kĩ năng, đồng thời tác giả cũng lưu ý đến động cơ, tình cảm của người tự học nhưng mới chỉ dừng lại ở khái niệm hành động chứ chưa phân tích cụ thể, mô tả hành động tự học diễn ra như thế nào Trong tác phẩm [27] tác giả đã hướng dẫn GV tăng cường hoạt động tự học của HS “… GV đóng vai trò tổ
Trang 19chức, hướng dẫn, giúp đỡ Càng lên lớp trên vai trò của người thầy càng giảm dần, cho đến lúc HS hoàn toàn đảm nhận được việc học của mình”, tác giả còn khẳng định “Hoạt động tự học không chỉ cần tổ chức khi học tập ở nhà mà cần coi trọng hoạt động độc lập của HS ngay cả trong giờ lên lớp”
Về phương pháp rèn luyện khả năng TH, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã chỉ ra rằng: để hướng dẫn TH phải viết tài liệu in ra và hướng dẫn người học TH Tài liệu hướng dẫn phải vạch ra được kế hoạch học tập, phương pháp học Việc hướng dẫn nên thể hiện ra bằng các câu hỏi hay bài tập nhỏ
Về các mức độ của TH, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [21] nêu lên đặc điểm của người tự học đó là tự mình động não suy nghĩ, say mê, kiên trì, không ngại khó ngại khổ để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó Tác giả cũng chia tự học thành hai mức đó là tự học có hướng dẫn và tự học hoàn toàn rồi đưa ra các dấu hiệu để phân biệt hai mức này cụ thể là:
Mức 1: Tự học có hướng dẫn nghĩa là có quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò dưới dạng phản ánh thắc mắc, giải đáp thắc mắc, làm bài, chấm bài nhưng trò phải chủ động
Mức 2: Tự học hoàn toàn có nghĩa là không có sự trợ giúp của người thầy, người học tự vượt khó khăn trong học tập bằng cách động não, tự mình làm thử, tự mình quan sát, cũng có thể gặp người khác để trao đổi
Hiện nay, ở Việt Nam trong giáo dục phổ thông khái niệm NLTH đang tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện, [3] theo các tác giả thì NLTH là một bộ phận của năng lực chung Như vậy, NLTH nó sẽ tồn tại phổ biến ở những người có NL, có khả năng thực hiện các hoạt động Tuy nhiên mức độ biểu hiện NLTH đến đâu còn phụ thuộc vào từng cá nhân
Tóm lại: Qua nghiên cứu các tài liệu về tự học và NLTH của các tác giả trong
và ngoài nước thì thấy rằng, các tác giả đều khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của việc TH nói chung việc phát triển NLTH cho HS nói riêng trong việc nâng cao chất lượng học tập, rèn luyện khả năng tư duy độc lập, sáng tạo cho người học Vấn đề lí luận về TH đã được các tác giả nghiên cứu khá toàn diện, đã được đề cập đến ở nhiều công trình nghiên cứu, luận văn và luận án Các tác giả đã đề xuất được một số biện pháp để nâng cao chất lượng TH như biện pháp tạo hứng thú, biện pháp rèn luyện kĩ
Trang 20năng tự học cũng như đề cập đến vấn đề TH ở các góc độ khác nhau Tuy nhiên, trong các tài liệu này vẫn chưa nghiên cứu sâu để giải quyết được một số vấn đề cho HS THPT hệ GDTX thuộc các huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên như: Làm thế nào để
HS THPT hệ GDTX ở các huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thích học, tự giác học và tự tin học bộ môn Sinh học; Làm cách nào để HS THPT hệ GDTX ở các huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên biết và thành thạo các kĩ năng tự học, tham gia tích cực hoạt động tự học chủ động chiếm lĩnh tri thức Đây là những tồn tại của thực tiễn đòi hỏi thôi thúc chúng tôi nghiên cứu sâu về về tình hình thực tiễn vấn đề tự học của
HS THPT hệ GDTX ở các huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, chúng tôi đề xuất và tổ chức thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm phát triển NLTH cho HS THPT hệ GDTX trong quá trình dạy học phần
"Sinh học Vi sinh vật" (Sinh học 10), góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn Sinh học
1.2 Cơ sở lí luận của tự học và dạy học theo định hướng phát triển NLTH
1.2.1 Khái quát về Tự học và NLTH
1.2.1.1 Tự học và vai trò của tự học
(i) Khái niệm Tự học
Theo từ điển giáo dục học: Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lí trực tiếp củacác cơ sở giáo dục [12]
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học là một hình thức của hoạt động nhận thức nhằm nắm vững hệ thống tri thức và KN do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài giờ lên lớp theo hoặc không theo chương trình SGK đã quy định [24] “Tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ và cố khi cả cơ bắp, cùng với các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành
sở hữu của riêng mình” [23]
Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học”[27]
Trang 21Theo tác giả Trần Thị Minh Hằng: Tự học là quá trình cá nhân tự giác, tự lực, tích cực để lĩnh hội những vấn đề được đặt ra trong cuộc sống bằng hành động của chính mình để đạt được những mục đích nhất định [11]
Theo tác giả Đỗ Thị Mỹ Trang: Tự học là sự “tự thân” ở người học mà thể hiện qua sự học tập chủ động, tự lực, tự kiểm - tra đánh giá học tập của chính mình Tự học xảy ra khi có sự hiện diện của GV hoặc không, cả trong lớp và ngoài lớp [25]
Theo các tác giả Ngô Văn Hựu, Ngô Thị Thúy Nga: “Tự học là quá trình trình
tự giác, tích cực, độc lập, tự chiếm lĩnh thông tin, tri thức ở một lĩnh vực nào đó, là cách phản biện và phát hiện vấn đề” [14]
Như vậy, tự học là quá trình người học chủ động, tự lực, sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức bằng hoạt động của chính mình nhằm đạt được mục đích học tập
(ii) Vai trò của tự học
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI [1]
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu lên mục tiêu cụ thể, trong đó
có đề cập tới việc "phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời"; trong các giải pháp có nêu "tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển NL
Tự học là một mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Người học muốn có kết quả học tập tốt thì người học phải có khả năng tự phát hiện kiến thức và tự giải quyết các vấn đề mà cuộc sống, hay nội dung bài học
Tạo hứng thú học tập bộ môn và rèn luyện kĩ năng tự học là một trong những biện pháp tốt nhất để tạo ra động lực cũng như nhu cầu tự học cho HS trong quá trình học tập Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú học thì người học mới có được sự tự giác, say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp giữa hứng thú với tự giác Nó đảm bảo cho sự định hình tính độc lập trong học tập
Trang 22Tự học giúp cho người học có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khảng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp người học thích ứng với những biến đổi của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi người sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống
lạ trong cuộc sống Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễnthì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao, tạo đà cho tự làm trong cuộc sống, hay trong thực tiễn
1.2.1.2 Năng lực, năng lực tự học
(i) Khái niệm năng lực
Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống
xã hội Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
Đứng về góc độ tâm lý học, năng lực trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu
từ thế kỷ XIX, trong các công trình thực nghiệm của F.Ganton năng lực có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt động mới nào đó Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau Năng lực gắn bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách
Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định” Còn A.N.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”
Nhà tâm lý học A.Rudich đưa ra quan niệm về năng lực như sau: năng lực đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và
kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định Năng lực của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc
Trang 23điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu Năng lực đó là năng khiếu đã được phát triển,
có năng khiếu chưa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành năng lực Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích
Trong các giáo trình tâm lý học các tác giả cũng đã đưa ra khá nhiều quan niệm
về năng lực Trong đó đa số đều quan niệm năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ
Như vậy, khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ ) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý
cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một
hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn
Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên chúng tôi định nghĩa
như sau: Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh
nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức, khả năng thực hiện và hiệu quả của hoạt động mà cá nhân đó giải quyết các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống Như vậy, năng lực không mang tính chung chung
mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói về một lĩnh vực cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực dạy học của hoạt động giảng dạy NL của
HS là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, KN mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội
Trang 24(ii) Khái niệm NLTH
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: "NLTHđược hiểu như một thuộc tính KN rất phức hợp, nó bao gồm KN và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đá ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra" [21, tr 87] NLTH
là sự bao hàm cả cách học, KN học và nội dung học: "NLTH là sự tích hợp tổng thể cách học và KN tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống - vấn đề khác nhau" [21]
NLTH là những thuộc tính tâm lí mà nhờ đó chúng ta giải quyết được các vấn đề đặt ra một cách hiệu quả nhất, nhằm biến kiến thức của nhân loại thành sở hữu của riêng mình
Như vậy NLTH là trước tiên HS có thái độ tích cực trong học tập, hs thấy được trách nhiệm học tập, có hứng thú đam mê, tự giác học tập Thứ hai, HS có kĩ năng lập kế hoạch học tập và thực hiện kế hoạch đó như thu thập thông tin, xử lí thông tin, vận dụng kiến thức giải các các vấn đề thực tiễn và kĩ năng tự hiểm tra, đánh giá
Tóm lại, NLTH là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự
giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; tự kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh những sai sót; hạn chế của bản thân khi thực hiện nhiệm vụ học tập thông qua tự giác đánh giá hoặc lời góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập
(iii) Biểu hiện NLTH
NLTH là một khái niệm trừu tượng và bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố Trong nghiên cứu khoa học, để xác định được sự thay đổi các yếu tố của NLTH sau một quá trình học tập, các nhà nghiên cứu đã tập trung mô phỏng, xác định những dấu hiệu của NLTH được bộc lộ ra ngoài Điều này đã được thể hiện trong một số nghiên cứu dưới đây:
Tác giả Taylor [29] khi nghiên cứu về vấn đề tự học của HS trong trường phổ thông đã xác định NLTH có những biểu hiện được thể hiện ở sơ đồ hình 1.1:
Trang 25Sơ đồ 1.1 Biểu hiện của người có NLTH
Taylor đã xác nhận người tự học là người có động cơ học tập và bền bỉ, có tính độc lập, kỉ luật, tự tin và biết định hướng mục tiêu, có kĩ năng hoạt động phù hợp Thông qua mô hình, tác giả đã phân định ra ba yếu tố cơ bản của người tự học, đó là thái độ, tính cách, kĩ năng Mỗi một yếu tố đều có những biểu hiện tương ứng Theo chúng tôi sự phân định đó để nhằm xác định rõ ràng những biểu hiện tư duy của bản
thân, thuộc tính ý chí của người học và khả năng hoạt động trong thực tế chứ không đơn thuần chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lí của người học
Tác giả Candy [28] đã liệt kê 12 biểu hiện của người có NLTH Theo tác giả, có2 nhóm để xác định các yếu tố sẽ chịu tác động mạnh từ môi trường học tập, được thể hiện ở hình 1.2
Người tự học
1 Chịu trách nhiệm với
việc học tập của bản thân
15 Có kĩ năng quản lí thời gian học tập
16 Lập kế hoạch
Trang 26Sơ đồ 1.2 Biểu hiện của NLTH
- Nhóm đặc điểm bên ngoài: Chính là phương pháp học nó chứa đựng kĩ năng học tập cần phải có của người tự học, chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá trình học, do đó phương pháp dạy của GV sẽ có tác động rất lớn đến phương phương pháp học của trò, tạo điều kiện để hình thành, phát triển và duy trì NLTH
- Nhóm đặc điểm bên trong (tính cách) được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua các hoạt động sống, trải nghiệm của bản thân và bị chi phối nhiều bởi yếu tố tâm lí Chính vì điều đó người dạy nên tạo môi trường để người học được thử nghiệm và kiểm chứng bản thân, đôi khi chỉ cần phản ứng đúng sai trong nhận thức hoặc nhận được lời động viên, khích lệ cũng tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cố gắng tự học
Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của bộ GD&ĐT 19/1/2018 [3] thì NL TH đều thuộc 3 nhóm năng lực chung cần hướng tới: NLTH- tự chủ; năng lực giao tiếp - hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề - sáng tạo Trong đó NLTH được biểu hiện ở một số tiêu chí sau:
- Tự đặt được mục tiêu học tập để nỗ lực phấn đấu thực hiện
- Biết lập và thực hiện kế hoạch học tập; lựa chọn được các nguồn tài liệu học tập phù hợp; lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khoá; ghi chú bài giảng của GV theo các ý chính
12 Có năng lực đánh giá, kĩ năng xử
lí thông tin và giải quyết vấn đề
6 Có năng lực giao tiếp xã hội
7 Mạo hiểm/ sáng tạo
8 Tự tin/ tích cực
9 Có khả năng tự học
Trang 27- Nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân khi được GV, bạn bè góp ý; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập
- Biết rèn luyện, khắc phục những hạn chế của bản thân hướng tới các giá trị xã hội
- Xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạn chế
- Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học riêng của bản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết
- Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học
- Biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân
Năng lực TH được cấu thành từ các thành tố là thái độ tích cực, kĩ năng tự học,
kĩ năng xã hội và tính cách , vì vậy sự phát triển của NL NLTH chính là quá trình hình thành và phát triển các KN thành tố của NL này Về mặt bản chất, sự hình thành các KN thành tố của NL chính là sự biến đổi về lượng, còn sự phát triển của NL chính
là sự phát triển về chất Khi các KN thành tố được hình thành từ các thao tác riêng lẻ đến KN và kỹ xảo thì tất yếu sẽ dẫn tới sự phát triển NL Sự hình thành KN từ mức thao tác đơn giản đến kỹ xảo sẽ dẫn tới sự phát triển NL từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện
Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích về tự học và NLTH mà các tác giả đã nêu, chúng tôi xác định được gồm các yếu tố cấu thành NLTH môn Sinh học của HS THPT
hệ GDTX, được trình bày ở sơ đồ 1.3:
Trang 28Sơ đồ 1.3 Các yếu tố của NLTH môn Sinh học của HS
1.2.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học
1.2.2.1 Định hướng chung của dạy học phát triển năng lực
Hình thành và phát triển các NL cơ bản của HS trong học tập và đời sống là nhiệm vụ tuỳ theo đặc thù của mỗi môn học có thể thuận lợi hơn trong việc hình thành
và quan trọng của các nhà giáo dục Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định, phát triển một số NL cơ bản nào đó Ví dụ môn Sinh học thuận lợi cho việc hình thành
và phát triển NL chung như: NL tự học - tự nghiên cứu, NL GQVĐ - sáng tạo, NL hợp tác - giao tiếp; NL chuyên biệt của bộ môn: NL thực hành - thực nghiệm, NL vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn,… Dù là môn học nào, thì trong quá trình dạy học, để phát triển NL người học song song với các thành phần và cấu trúc của năng lực, những yếu tố liên quan đến năng lực để từ đó nhà trường có biện pháp phù hợp trong quá trình giảng dạy Như đã phân tích ở trên, NL mang đặc thù tâm lí, sinh lí khác biệt của cá nhân, chịu ảnh hưởng của yếu tố bẩm sinh di truyền, được phát triển
do những tác động của giáo dục và điều kiện môi trường chung, những đặc trưng chung nhất của dạy học phát huy tính tích cực, dạy học theo định hướng phát triển sống NL
- Vượt khó khăn
để tự lĩnh hội kiến thức sinh học
- Khẳng định giá trị
- KN tìm kiếm thu thập, xử lý thông tin
- Giải quyết vấn
đề thực tiễn liên quan đến kiến thức sinh học
- Tự kiểm tra đánh giá
Năng lực tự học môn Sinh học
hội
- KN hợp tác
- KN trình bày
-KN giúp nhau cùng tiến bộ
Trang 29có thể được hình thành và phát triển thông qua tất cả các môn học giáo dục có những tác động phù hợp nhằm phát triển được NL cho người học trong nhà trường Tuy nhiên hình thành kiến thức, người dạy phải quán triệt được những định hướng NL người học
“Trong dạy học môn Sinh học, năng lực tự chủ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động thực hành, làm dự án, thiết kế các hoạt động thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, ngoài thực địa, đặc biệt trong tổ chức tìm tòi khám phá thế giới sống Định hướng tự chủ, tích cực, chủ động trong phương pháp dạy học mà môn Sinh học chú trọng là cơ hội thường xuyên giúp HShình thành và phát triển NLTH” [3]
Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:
- Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển NLTH (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin, ), trên
cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
- Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”
- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt
về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học
- Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định
Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng HS Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Việc đổi mới phương pháp dạy học của GV được thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau [4]:
+ Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp HS tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Theo tinh thần này, GV là người tổ chức và chỉ đạo HStiến hành các hoạt
Trang 30động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn,
+ Chú trọng rèn luyện cho HS những tri thức phương pháp để họ biết cách đọc sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới, Các tri thức phương pháp thường
là những quy tắc, quy trình, phương thức hành động, tuy nhiên cũng cần coi trọng cả các phương pháp có tính chất dự đoán, giả định (ví dụ: các bước cân bằng phương trình phản ứng hóa học, phương pháp giải bài tập toán học, ) Cần rèn luyện cho HS các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ
về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo của họ
+ Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm
“tạo điều kiện cho HS nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn” Điều
đó có nghĩa, mỗi HS vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới Lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy - trò và trò - trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung
+ Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp
án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót
Theo các tác giả Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội [26] thì việc dạy học định hướng NL được thể hiện ở trong các thành tố quá trình dạy học như sau:
- Về mục tiêu dạy học: Mục tiêu về kiến thức ngoài các mục tiêu về nhận biết, tái hiện kiến thức, cần có những mục tiêu về vận dụng kiến thức trong các tình huống, các nhiệm vụ gắn với thực tế Với các mục tiêu về kĩ năng, cần có thêm những mục tiêu rèn luyện các kĩ năng thực hiện hoạt động đa dạng
- Về phương pháp dạy học: Ngoài cách dạy học thuyết trình cung cấp kiến thức, cần tổ chức hoạt động dạy học thông qua trải nghiệm, giải quyết những nhiệm vụ thực
Trang 31tiễn Như vậy, thông thường qua một hoạt động học tập, HS sẽ được hình thành và phát triển không phải một loại NL mà được hình thành đồng thời nhiều NL thành phần mà
ta không cần (và cũng không thể) tách biệt trong quá trình dạy học
- Về nội dung dạy học: Cần xây dựng các hoạt động, nhiệm vụ đa dạng gắn với thực tiễn
- Về kiểm tra đánh giá: Về bản chất, đánh giá NL cũng phải thông qua đánh giá khả năng vận dụng kiến thức và kĩ năng thực hiện nhiệm vụ của HS
Để hình thành và phát triển NL cho HS, cần sử dụng nhiều phương pháp và hình thức tổ chức dạy học khác nhau, đặc biệt cần tổ chức các hoạt động học tập gắn liền với thực tiễn để kích thích và hoạt động hóa người học Một số phương pháp có nhiều ưu thế trong việc hình thành và phát triển NL người học trong dạy học như: Dạy học theo dự án; Dạy học giải quyết vấn đề; Dạy học tìm tòi, khám phá; Dạy học bằng bài tập tình huống;… [8], [13]
1.2.2.2 Dạy học định hướng phát triển năng lực tự học
Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển NL người học không những hướng tới dạy học hình thành tri thức, kĩ năng, thái độ cho người học mà còn phát triển khả năng thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức, sử dụng kĩ năng và thể hiện thái
độ của mình để giải quyết các tình huống trong học tập và trong cuộc sống
Với nguyên tắc năng lực chỉ hình thành và phát triển thông qua các hoạt
động Vì vậy dạy học phát triển NLTH chính là tổ chức các hoạt động cho HS
tham gia, qua mỗi hoạt động HS có được hứng thú, sự tự tin trong học tập và tự chiếm lĩnh tri thức đồng thời phát triển được một số kĩ năng - năng lực nói chung
và NLTH cho bản thân
1.2.2.3 Đánh giá năng lực tự học
(i) Đánh giá NLTH
* Mục tiêu đánh giá NLTH của HS trong dạy học
Các mục tiêu cơ bản ĐGNLTH của HSTHPT trong dạy học Sinh học bao gồm: (1) Thu thập thông tin, chẩn đoán những điểm mạnh, những hạn chế, những tồn tại về NLTH của HS, để GV giúp HS phát huy mặt mạnh, khắc phục những hạn chế, tồn tại; chẩn đoán những trở ngại, khó khăn, sai lầm HS gặp phải khi TH, từ đó có kế hoạch giúp các em vượt qua Căn cứ vào kết quả đã chẩn đoán NL của các HS trong
Trang 32lớp, GV sắp xếp HS vào các nhóm học tập hợp tác theo NL, để tổ chức HĐ nhóm, đồng thời tạo điều kiện để HS đánh giá NL lẫn nhau
(2) Xây dựng kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch dạy học hiệu quả: Quan sát quá trình TH và nghiên cứu sản phẩm TH của mỗi HS, giúp GV xây dựng, điều chỉnh kế hoạch dạy học phù hợp nhằm bồi dưỡng, rèn luyện NLTH của HS, nâng cao chất lượng dạy học
(3) Tham gia vào đánh giá kết quả học tập của HS: Hiện nay đánh giá học lực cuối mỗi học kì, cuối năm học của HS thực hiện theo Qui chế đánh giá, xếp loại học lực, hạnh kiểm HS THCS, THPT trong Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT, ngày 12/12/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Mức độ NLTH của HS được lượng hóa thành điểm số các bài kiểm tra và tính điểm tổng kết theo các văn bản quy định Do vậy, đánh giá NL TH tham gia trực tiếp vào đánh giá kết quả học tập của HS trong chương trình THPT
(4) Theo dõi sự tiến bộ trong học tập của HS: GV tiến hành ĐG NLTH trong suốt một giai đoạn học tập Kết quả theo dõi được ghi nhận vào sổ nhật kí dạy học;
là một kênh thông tin quan trọng giúp GV xác nhận sự tiến bộ, ít tiến bộ hoặc không tiến bộ trong học tập của HS Từ đó có biện pháp giúp HS nâng cao chất lượng học tập môn học
(5) Cung cấp thông tin phản hồi về NLTH của HS: Các thông tin phản hồi cho
HS, GV, gia đình và các nhà quản lí giáo dục về NLTH của HS, trong đó bao gồm cả kiến thức và kĩ năng
Như vậy, việc đánh giá HS là xác nhận mức độ đạt được để từ đó có thể điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp Đánh giá NLTH của HS trong dạy học nhằm mục đích giúp GV và HS tự nhận biết mức độ NL huy động kiến thức, KN trong chương trình học, thực hiện các thao tác tư duy, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra trong học tập, từ đó GV có biện pháp bồi dưỡng, phát triển NL cho HS, giúp HS biết điều chỉnh, rèn luyện NLTH Đồng thời có sự phản ánh để gia đình, nhà trường, xã hội tạo điều kiện hỗ trợ bồi dưỡng, rèn luyện NLTH cho HS
* Nội dung đánh giá NLTH
Đánh giá NLTH của HS là GV đánh giá hoặc HS tự đánh giá thái độ, kỹ năng,
Trang 33tính cách khi TH của HS trên nền tảng kiến thức, KN của các em Từ đó GV có biện pháp điều chỉnh trong giảng dạy, HS có biện pháp điều chỉnh trong học tập nhằm phát
- Phương án đánh giá dựa hoàn toàn trên nội dung kiến thức chỉ nhằm xác nhận:
HS lĩnh hội được gì sau khi học tập
- Phương án đánh giá NL trên cơ sở đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ, tính cách là hướng tới xác nhận HS có NL gì (có thể là một NL cụ thể, chẳng hạn NLTH) với mức độ đạt được như thế nào
Đối với HS THPT hệ GDTX chúng tôi đánh giá HS thông qua 3 bộ công cụ: Thứ nhất là đánh giá mức độ tiến bộ trong học tập của HS bằng điểm số qua các bài
kiểm tra trong quá trình dạy TN; thứ hai đánh giá HS qua phiếu điều tra mức độ hứng
thú và khả năng tự học của HS trước và sau khi tiến hành dạy TN; thứ ba đánh giá
thông qua theo dõi sự tiến bộ của nhóm HS
(ii) Quan hệ giữa hoạt động TH - NLTH - đánh giá NLTH
Giữa hoạt động TH, NLTH và đánh giá NLTH có mối quan hệ biện chứng hữu
cơ với nhau diễn ra trong quá trình HS tự học Hoạt động TH làm bộc lộ NLTH ngược lại NLTH thể hiện qua kết quả hoạt động TH HS có NLTH thì tự đánh giá NLTH được chính xác ngược lại đánh giá NLTH để xác nhận, phát triển NLTH của HS đánh giá NLTH để điều chỉnh hoạt động TH ngược lại hoạt động TH là điều kiện quan
trọng để đánh giá NLTH Quan hệ giữa hoạt động TH, NLTH, đánh giá NLTH trong
quá trình TH; được mô tả bởi sơ đồ sau (hình 1.4)
HĐTH
Trang 34Hình 1.4 Quan hệ HĐ TH - NLTH -Đánh giá NLTH
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.3.1 Mục đích khảo sát
Tìm hiểu thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học được
áp dụng trong dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật” (Sinh học 10) theo định hướng phát triển NLTH cho HS của GV Sinh học ở một số Trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.3.2 Đối tượng, địa bàn khảo sát
Khảo sát với 18 GV đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Sinh học THPT hệ GDTX năm học 2017- 2018
Khảo sát 227 HS lớp 10 THPT hệ GDTX trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.3.3 Nội dung khảo sát
Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học được áp dụng trong dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật” (Sinh học 10)theo định hướng phát triển NLTH cho HS THPT hệ GDTX
1.3.4 Phương pháp khảo sát
- Dùng phiếu khảo sát
- Quan sát thông qua dự giờ
1.3.5 Kết quả khảo sát (Kết quả cụ thể ở phụ lục 1.3)
Kết quả điều tra đã được tổng hợp ở bảng phụ lục 1.3 Các số liệu ở bảng điều
Trang 35tra giúp chúng tôi có được một số nhận xét sau:
Kết quả khảo sát về kết quả học tập môn Sinh học của các em trong năm học trước, có 73,6% HS có học trung bình; khá 19,8%; giỏi 0,8%; yếu 5,7% Nhận thấy rằng số lượng HS đạt khá, giỏi chiếm tỉ lệ rất ít
Khảo sát mức độ thích thú học tập môn Sinh học có 8,8% HS thích học, 55,1% bình thường, 36,1% là không thích Như vậy tỉ lệ HS thích thú với mộ học rất ít, do đó cần có biện pháp để các em yêu thích môn học
Về mức độ tự học chỉ có 7,9% HS thường xuyên tự học, 60,3% tự học chỉ khi
có kiểm tra Lý do tự học của các em chủ yếu là do thầy cô yêu cầu (69,2%); hoặc do
sự ép buộc của gia đình, rất ít HS yêu thích bộ môn (8,4%)
Nhận thức về tự học của các em, đa số HS cho rằng đó là "chủ động học tập ở nhà theo hướng dẫn của GV" (43,2%), đa số HS nhận thức chưa đủ về vai trò của tự học, một số cho rằng tự học giúp mở rộng, củng cố, hiểu sâu kiến thức trên lớp (31,7%); một số khác cho rằng tự học giúp đạt kết quả học tập cao hơn; có một bộ phận HS nhận thức được tự học sẽ giúp tạo hứng thú, yêu thích môn học hoặc tạo thói quen học tập tốt
Nhận thức về vai trò của tự học chưa đầy đủ, 31,7% cho rằng tự học giúp bản thân mở rộng, củng cố, hiểu sâu kiến thức, 28,6% cho rằng tự học sẽ giúp kết quả học tập tốt hơn, chỉ có 14,1% tạo hứng thú, yêu thích môn học
Những hoạt động HS thường sử dụng để tự học môn Sinh học chủ yếu là kết hợp nghe giảng, ghi chép và sử dụng SGK (53,3%); một số chỉ sử dụng SGK (33,9%); rất ít HS sử dụng tài liệu tham khảo (7%), sử dụng sơ đồ để ôn tập củng cố kiến thức (3,5%), tự kiểm tra đánh giá (1,3%), tự tìm hiểu qua mạng internet (0.9%)
Hình thức tự học của HS chủ yếu là học một mình (65,2%), còn lại là học theo nhóm, học bạn bè, hỏi thầy cô Thời gian HS dành cho tự học rất ít 60,8% dưới 15 phút, 34,4% dưới 30 phút Khi gặp khó khăn trong tự học, đa số HS cư làm đủ bài, không cần biết đúng hay sai (72,2%); một số trao đổi với thầy cô, bạn bè (9,3%); hoặc tự đọc
kĩ, suy nghĩ cách trả lời (10,1%)
Đa số HS nhận thức để có kết quả tự học tốt môn Sinh học cần luôn chuẩn bị bài trước khi học bài mới (42,3%), một số HS cho rằng cần tích cực phát biểu ý kiến
Trang 36trong giờ học, còn lại cho rằng cần nêu câu hỏi khi không hiểu bài hoặc có thắc mắc
(7,5%), trao đổi ý kiến với thầy cô, bạn bè (9,3%), làm bài tập về nhà đầy đủ (20,7%)
Những khó khăn chủ yếu mà HS gặp phải khi HS tự học môn Sinh học là không
có kĩ năng tự học (38,3%); không yêu thích hứng thú với môn học (37,4%), thời gian trên lớp hạn chế (21,6%), nội dung môn học khó (2,6%)
Chúng tôi cũng khảo sát về quá trình dạy sinh học sinh học ở trên lớp của các thầy cô trên 18 tiêu chí (phiếu khảo sát phần phụ lục 1.3.) ở các các mức độ thường
xuyên, thỉnh thoảng hay không bao thực hiện các nội dung khảo sát Đa số các thầy cô
thực hiện các nội dung ở mức độ thỉnh thoảng, mức độ thường xuyên ít hơn, mức độ
không bao giờ rất ít
Qua bảng kết quả điều tra dành cho GV, đa số các thầy cô quan niệm bản chất
của tự học là HS chủ động học tập ở nhà theo hướng dẫn của GV (38,9%) hoặc là quá
trình tích cực, chủ động, độc lập nhận thức trên lớp của HS (33,3%); một số ít quan
niệm tự học tập ở nhà để bổ sung kiến thức (16,7%); hoặc tự tìm ra kiến thức, không
cần sự hỗ trợ của GV (11,1%) Các thầy cô nhận thức về vai trò phát triển NLTH cho
HS là để rèn luyện thói quen chủ động, tích cực trong học tập (33,3%); hoặc giúp HS
mở rộng khắc sâu kiến thức (33,3%), một số ít quan niệm là để giáo dục phẩm chất, đạo đức cho HS hay nâng cao chất lượng học tập bộ môn Theo các thầy cô thì mức độ
tự học của HS hiện nay chủ yếu HS tự học khi có kiểm tra, rất ít HS thường xuyên tự
học Các thầy cô đánh giá NLTH của HS ở mức trung bình 50%, mức yếu 33,3%, mức
khá, tốt rất ít Lý do tự học chủ yếu là do yêu cầu của GV hoặc ép buộc quản lí từ gia đình Đa số các thầy cô cho rằng yếu tố ảnh hưởng đến phát triển NLTH của HS là hứng thú học tập và động cơ học tập của HS (33,3%) Chỉ có 16,7% GV thường xuyên
rèn luyện NLTH của HS, 66,7% thỉnh thoảng rèn luyện NLTH cho HS Theo các thầy
cô thì khó khăn lớn nhất của rèn luyện NLTH cho HS trong môn Sinh học là HS không yêu thích môn học và không có kĩ năng TH
Tóm lại: Qua khảo sát thực tiễn đối với HS, cho thấy HS chưa hứng thú, yêu
thích môn Sinh học Động lực học tập của các em là do thầy cô yêu cầu hoặc do sự ép
Trang 37buộc của gia đình Một số ít HS có hứng thú, yêu thích môn học nhưng không có kĩ năng tự học
Đối với GV, các thầy cô đã nhận thấy vai trò của phát triển NLTH cho học sinh Nhưng chưa có biện pháp dạy TH, hoặc rất ít khi rèn luyện kĩ năng TH cho HS
Trong hoạt động dạy học Sinh học, chỉ dừng lại ở mức độ là giúp HS nắm được kiến thức, rèn luyện được kĩ năng, chưa chú ý đến hình thành và phát triển NLTH của
HS trong dạy học HS chưa có kĩ năng TH, chưa có thói quen tự kiểm tra, tự đánh giá trong quá trình tự học
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương1, trình bày các kết quả nghiên cứu cơ sở lí luận của tự học và dạy học theo định hướng phát triển NLTH Qua các công trình nghiên cứu của một số nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam, chúng tôi đã xác định được các khái niệm
về TH và vai trò của TH trong dạy học; những vấn đề về NL, NLTH: khái niệm, biểu hiện của NLTH, xác định các thành tố của NLTH; những vấn đề dạy học theo định hướng phát triển NL
Bằng phương pháp điều tra ở một số Trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi xác định được thực trạng mức độ hứng thú học tập môn Sinh học của HS còn thấp, khả năng tự học của HS chỉ có ở một số em Phần lớn GV nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng của việc rèn luyện NLTH cho HS, tuy nhiên mức độ rèn luyện của GV để phát triển năng lực tự học cho HS chưa thường xuyên và chưa có biện pháp hơp lí để phát triển NLTH
Từ cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn là căn cứ để chúng tôi đề xuất một số biện pháp để phát triển NLTH cho HS THPT hệ GDTXtrong dạy học phần “Sinh học
Vi sinh vật” (Sinh học 10)
Trang 38Chương 2 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT
HỆ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TRONG DẠY HỌC 2.1 Đặc điểm cấu trúc, nội dung phần “Sinh học Vi sinh vật” (Sinh học 10)
Phần “Sinh học Vi sinh vật” là phần cuối của chương trình Sinh học 10, sau phần Giới thiệu chung về thế giới sống và phần Sinh học tế bào Phần “Sinh học Vi sinh vật” vật gồm có 3 chương và 12 bài trong đó có 2 bài thực hành và 1 bài ôn tập [18] Cụ thể nội dung cơ bản của phần “Sinh học vi sinh vật” thể thể hiện trong bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1 Nội dung cơ bản Phần “Sinh học Vi sinh vật” (Sinh học 10)
1 Chuyển hóa vật
chất và năng lượng ở
vi sinh vật
22-24 Giới thiệu chung về vi sinh vật, đề cập đến các
kiểu dinh dưỡng, quá trình chuyển hóa vật chất
và năng lượng ở vi sinh vật Thông qua quá trình tổng hợp và phân giải của vi sinh vật nêu lên vai trò của chúng trong tự nhiên và ứng dụng những mặt tích cực của vi sinh vật đồng thời hạn chế tác hại của vi sinh vật đối với cuộc sống con ngườivà môi trường
2 Sinh trưởng và sinh
sản của vi sinh vật
25-28 Khái niệm và đặc điểm của quá trình sinh trưởng
ở vi sinh vật trong môi trường nuôi cấy không liên tục và môi trường nuôi cấy liên tục, các yếu
tố ảnh hưởng đến sinh trưởng ở vi sinh vật.Đề cập các hình thức sinh sản ở vi sinh vật nhân sơ
và vi sinh vật nhân thực
Vi rút và bệnh truyền
nhiễm
29-33 Khái niệm về virút, khái quát về cấu tạo, hình
thái, sự nhân lên của virut trong tế bào chủ, virut gây bệnh và ứng dụng virut trong thực tiễn Khái niệm bệnh truyền nhiễm, miễn dịch, giới thiệu một số bệnh truyền nhiễm thường gặp và cách phòng tránh
Trang 39Từ bảng 2.1 chúng tôi nhận thấy phần “Sinh học Vi sinh vật” (Sinh học 10) có một số đặc điểm sau:
- Về bố cục:tương đối hợp lí, đảm bảo nguyên tắc hệ thống,các kiến thức trong các bài, các chương đi từ đơn giản đến phức tạp, các bài trong chương có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Ví dụ như trong chương I: đầu tiên giới thiệu về khái niệm vi sinh vật, các loại môi trường nuôi cấy và các kiểu dinh dưỡng ở vi sinh vật rồi mới trình bày về quá trình tổng hợp và phân giải của vi sinh vật cũng như mối quan hệ giữa quá trình tổng hợp và phân giải Nhờ có chuyển hóa vật chất
và năng lượng vi sinh vật mới có thể sinh trưởng và sinh sản (chương II), trong chương II, sau khi tìm hiểu về sinh trưởng, sinh sản của vi sinh vật mới tìm hiểu
về các yếu tố ảnh hưởng đến vi sinh vật và ứng dụng của chúng Cuối cùng tìm hiểu virut như một thực thể sống đặc biệt
- Về nội dung: Phần “Sinh học vi sinh vật”(Sinh học 10) có tính kế thừa những kiến thức về tế bào trước đó như cấu tạo, chuyển hóa vật chất và năng lượng, sinh sản Một lần nữa khắc sâu: Tế bào là đơn vị cấu trúc và đơn vị chức năng của cơ thể sống Phần “Sinh học vi sinh vật”(Sinh học 10) như là bước chuyển tiếp từ Sinh học tế bào lên Sinh học cơ thể Đây là phần học có tính hiện đại và thực tiễn cao: cuối mỗi bài thường trình bày các kiến thức ứng dụng đặc điểm nào
đó của vi sinh vật vào đời sống và sản xuất HS có thể vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn như: Các quá trình lên men truyền thống (lên men rượu, lên men lactic, lên men giấm ), ứng dụng vi sinh vật đề bảo vệ môi trường; sản xuất chế phẩm vi sinh vật diệt sâu bọ, sử dụng VSV trong công nghiệp (sản xuất bia, rượu, enzim ), trong y tế (như sản xuất thuốc kháng sinh, sử dụng vi sinh vật trong kĩ thuật di truyền)
Như vậy, qua phân tích đặc điểm nội dung của phần “Sinh học vi sinh vật”(Sinh học 10) cho thấy đây là phần thuận lợi cho nhiều biện pháp để phát triển NLTH cho HS HS có thể thiết lập mối quan hệ giữa lí thuyết và thực tiễn, đảm bảo nguyên tắc "học đi đôi với hành", "lí luận gắn liền với thực tiễn" Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động tự học tiếp tục phát triển những năng lực và phẩm chất cho
Trang 40HS Góp phần giúp các em tự đánh giá về năng lực, sở trường, hứng thú liên quan đến nghề nghiệp; rèn luyện phẩm chất và năng lực thích ứng với nghề nghiệp trong tương lai
Mục tiêu chung của phần “Sinh học vi sinh vật” (Sinh học 10):
+ Về kiến thức: Nội dung kiến thức phần “Sinh học Vi sinh vật” nhằm giúp cho
HS hình thành được các khái niệm đại cương về hình dạng, kích thước, cấu tạo tế bào của vi sinh vật Hình thành sự hiểu biết về các quá trình sinh học ở mức cơ thể đơn bào như: trao đổi chất và năng lượng, phân giải và tổng hợp các chất, sinh trưởng, sinh sản Những kiến thức được hình thành trong phần “Sinh học Vi sinh vật” là cơ sở để tìm hiểu các công nghệ sử dụng vi sinh vật để sản xuất các sản phẩm phục vụ nhu cầu cho con người hay giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động sống của vi sinh vật trong thực tiễn
+ Về kĩ năng: Trong quá trình học tập phần “Sinh học Vi sinh vật”, HS tiếp tục phát triển các kĩ năng thực hành như: kĩ năng quan sát, thí nghiệm, làm tiêu bản,
sử dụng kính hiển vi, biết bố trí một số thí nghiệm đơn giản để tìm hiểu nguyên nhân một số hiện tượng, quá trình sinh học ở cấp độ cơ thể đơn bào Ngoài kĩ năng thực hành, HS còn phát triển các kĩ năng khác như kĩ năng tư duy như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, so sánh,…; kĩ năng học tập như: thu thập, xử lý thông tin, làm việc cá nhân, làm việc nhóm, tự học,… Và đặc biệt với nội dung kiến thức phần
“Sinh học Vi sinh vật”, HS sẽ được tiếp cận nhiều với các kiến thức thực tiễn như các ứng dụng của vi sinh vật đối với đời sống, qua đó hình thành và phát triển nên
kĩ năng phát hiện, đặt, giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, qua đó hình thành NLTH
+ Về thái độ: Sau khi học xong phần “Sinh học Vi sinh vật”, HS phải có nhận thức đúng đắn về bản chất của sự sống; có thái độ tích cực sử dụng VSV để phục vụ cho cuộc sống; có ý thức bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường, phòng tránh các bệnh truyền nhiễm, các tệ nạn xã hội,…
+ Về NL: Phát triển NL tự học và các NL khác như NL làm việc nhóm, NL giải quyết vấn đề,…