Bài viết trình bày đánh giá sự hài lòng với chăm sóc điều dưỡng của sản phụ sau mổ lấy thai và một số yếu tố liên quan khoa Phụ sản - Bệnh viện Bạch Mai trong 6 tháng đầu năm 2019. Kết quả: Trong 147 trường hợp mổ lấy thai, 100% các sản phụ có các chỉ số hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu ở giới hạn bình thường. Trường hợp có sự hài lòng về các chăm sóc điều dưỡng chiếm 91,8%.
Trang 1ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG VỀ CHĂM SÓC CỦA SẢN PHỤ SAU MỔ LẤY THAI TẠI KHOA PHỤ SẢN
BỆNH VIỆN BẠCH MAI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
SATISFACTION TO CARE AFTER CESAREAN DELIVERY IN THE DEPARTMENT OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY IN BACH MAI HOSPITAL AND RELATED FACTORS
HÀ THỊ BÍCH 1 , LƯU TUYẾT MINH 2
1 Thạc sỹ Điều dưỡng khoa Phụ sản, Bệnh viện Bạch Mai
ĐT: 0904 138 609
Email: Habich2710@gmail.com.
2 Tiến sỹ khoa Điều dưỡng - Hộ sinh, Trường Đại học Y
Hà Nội.
Ngày nhận bài phản biện: 29/5/2020
Ngày trả bài phản biện: 18/6/2020
Ngày chấp thuận đăng bài: 12/8/2020
some related factors at Department of Obstetrics and Gynecology of Bach Mai Hospital in the first
6 months of 2019
Methods: cross-sectional study.
Results: 100% of the women had red blood
cell, leukocyte and platelet index at normal range 91.8% of the cases had good care results and satisfied with the way they were taken care
of Characteristics of age group, care results, occupation, pregnant women to be monitored and monitored with wound-dressing change, genital hygiene care, counseling on nutrition-related diet care for pregnant women after cesarean section
Conclusion: 91.8% of women had good
results and were satisfied with the caring There are statistically significant correlations between age, occupation, pregnant women receiving nursing care including dressing changes, nutrition counseling and the care of pregnant women after cesarean delivery
Keywords: cesarean section, care after
cesarean section
1 ĐẠI CƯƠNG NGHIÊN CỨU
Tỷ lệ mổ lấy thai đang gia tăng ở nhiều nước trên thế giới Mexico là nước có tỷ lệ mổ lấy thai cao nhất theo khảo sát vào năm 2007 là 43,9%,
so với Italy, Hàn Quốc, Mỹ (lần lượt là 39,8%; 35,3% và 31,8%) [4] Tại Việt Nam, tỷ lệ mổ lấy thai cũng khá cao và tăng dần hàng năm Số liệu của Viện Bảo vệ Bà mẹ và trẻ sơ sinh từ giữa thập
kỷ 50 đến hết thập kỷ 60 cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai khoảng 9%, đến những năm đầu thập kỷ 90 đã lên đến 23% [1] Theo nghiên cứu trên 21.722
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá sự hài lòng với chăm sóc
điều dưỡng của sản phụ sau mổ lấy thai và một
số yếu tố liên quan khoa Phụ sản - Bệnh viện
Bạch Mai trong 6 tháng đầu năm 2019
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Kết quả: Trong 147 trường hợp mổ lấy thai,
100% các sản phụ có các chỉ số hồng cầu, bạch
cầu và tiểu cầu ở giới hạn bình thường Trường
hợp có sự hài lòng về các chăm sóc điều dưỡng
chiếm 91,8% Các đặc điểm về nhóm tuổi, kết
quả chăm sóc, nghề nghiệp, sản phụ được chăm
sóc theo dõi thay băng vết mổ, được chăm sóc
vệ sinh bộ phận sinh dục, được tư vấn về chế độ
dinh dưỡng có liên quan đến chăm sóc sản phụ
sau mổ lấy thai
Kết luận: 91,8% các sản phụ có kết quả tốt và
hài lòng với cách chăm sóc Có mối liên quan có
ý nghĩa thống kê giữa tuổi, nghề nghiệp, sản phụ
được chăm sóc thay băng, tư vấn dinh dưỡng với
chăm sóc sản phụ sau mổ lấy thai
Từ khóa: mổ lấy thai, chăm sóc sau mổ lấy thai.
ABSTRACT
Objectives: To evaluate the satisfaction to
care percieved by post-caesarean women and
Trang 22 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
147 thai phụ từ 18 - 49 tuổi được quản lý thai tại khoa Sản, Bệnh viện Bạch Mai
Tiêu chuẩn chọn:
- Sản phụ vào khoa Phụ sản để mổ lấy thai tại khoa Phụ sản - Bệnh viện Bạch Mai
- Sản phụ đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Sản phụ không đảm bảo sức khỏe để tham gia nghiên cứu
- Sản phụ không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
• Nghiên cứu mô tả cắt ngang
• Cỡ mẫu:
2
2 2 /
1 . (1 )
d
p p
n=Ζ−α − Trong đó:
n: cỡ mẫu cần tính cho nghiên cứu
Z = hệ số tin cậy, với mức ý nghĩa α = 0,05 hệ
số tin cậy z = 1,96
P = 0,8 (giả định 80% sản phụ được chăm sóc tốt)
d: sai số tuyệt đối chấp nhận được, chọn
d = 5% (0,05)
Vậy, cỡ mẫu tính được là 144 Tuy nhiên, thực
tế chúng tôi đã chọn 147 sản phụ tham gia nghiên cứu
• Phương pháp thu thập số liệu Phỏng vấn trực tiếp đối tượng bằng bộ câu hỏi gồm 66 câu hỏi với 51 câu lựa chọn, 15 câu điền khuyết tập trung vào các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng để mô tả chi tiết quá trình chăm sóc
trường hợp đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
năm 2017 cho thấy có đến 11.166 trường hợp
phẫu thuật lấy thai, chiếm tỷ lệ 54,4%
Đối với phương pháp mổ lấy thai, sản phụ cần
có thời gian lâu hơn để phục hồi sức khỏe và
cũng có nhiều nguy cơ xảy ra tai biến hơn cho cả
mẹ và con Về phía mẹ, sinh mổ mất máu nhiều
hơn so với sinh thường, tăng nguy cơ nhiễm trùng
vết mổ, tử cung và bàng quang, tổn thương các
cơ quan như ruột bàng quang, đặc biệt trong các
trường hợp mổ lấy thai được lặp lại Quá trình
liền sẹo có thể gây đau và tắc ruột sau khi mổ Mổ
lấy thai làm tăng thời gian và chi phí nằm viện [6]
Theo nghiên cứu của Trần Sơn Thạch và cộng
sự (2007) tại Bệnh viện Hùng Vương cho thấy
có 6,8% sản phụ được chẩn đoán là nhiễm trùng
tiểu sau mổ lấy thai [7] Theo nghiên cứu của Lưu
Tuyết Minh và cộng sự (2014) tại Bệnh viện Bạch
Mai thì tỷ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới ở
sản phụ sau mổ lấy thai là 13,5% [3]
Ngoài việc được chăm sóc như một sản phụ
sinh thường, điều dưỡng viên cần có kế hoạch
chăm sóc đặc biệt cho sản phụ sau mổ lấy thai
nhằm hạn chế các biến chứng giúp sản phụ sớm
trở về với hoạt động bình thường Theo Lê Thu
Đào (2012) tỷ lệ sản phụ được chăm sóc tốt sau
mổ lấy thai là 32%, tỷ lệ này khá thấp so với tỷ
lệ sản phụ chưa được chăm sóc tốt là 68% [2]
Những nghiên cứu liên quan đến việc chăm sóc
sức khỏe sản phụ sau mổ lấy thai là thực sự cần
thiết, đây là cơ sở để điều dưỡng viên xây dựng
được kế hoạch chăm sóc cho sản phụ, góp phần
cải thiện và nâng cao chất lượng chăm sóc toàn
diện để mang lại sức khỏe tốt nhất cho những
sản phụ
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
với 2 mục tiêu:
Mục tiêu 1: Đánh giá sự hài lòng với chăm sóc
sản phụ sau mổ lấy thai tại khoa Phụ sản - Bệnh
viện Bạch Mai trong 6 tháng đầu năm 2019
Mục tiêu 2: Xác định một số yếu tố liên quan
đến sự hài lòng chăm sóc của sản phụ sau mổ lấy
thai tại khoa Phụ sản - Bệnh viện Bạch Mai trong
6 tháng đầu năm 2019
Trang 376,2% sản phụ nằm trong độ tuổi từ 23 - 35 tuổi, chủ yếu làm kinh doanh (46,3%) và tập trung sinh sống ở khu vực thành thị (63,3%) với đa số
có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học (60,5%)
Bảng 2 Thói quen của sản phụ (N = 147)
Số lượng (n) Phần trăm (%)
Bệnh lý mắc kèm (tim mạch, bệnh thận, bệnh đái tháo đường, bệnh khớp)
Hình thức phẫu thuật
- Đặc điểm cận lâm sàng của sản phụ trước
mổ lấy thai: 100% các sản phụ đều có các chỉ số
về hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu ở giới hạn bình thường, cụ thể hồng cầu nằm trong khoảng 4,8
T/L đến 5,1 T/L Bạch cầu 6,8 G/L đến 7,2 G/L
- Đặc điểm lâm sàng của sản phụ sau mổ lấy thai: 10,9% sản phụ bị kích động, khó chịu;
3,4% gặp biến chứng chảy máu; 2,1% bị chướng bụng; 60,5% bị khó tiểu tiện; 3,5% khó đại tiện; 3,4% có hiện tượng sốt nhẹ; 68,7% có vết mổ khô, và 93,9% sản phụ có sản dịch bình thường
lượng theo nhu cầu; 96,6% sản phụ được tư vấn
về chế độ dinh dưỡng, vệ sinh cá nhân; thời gian vận động trung bình là 2-2,5 giờ/ngày; thời gian ngủ trung bình là 6 - 6,5 giờ/ngày; thời gian trung tiện sau khi mổ lấy thai là 25 - 40 giờ
91,8% các sản phụ có kết quả tốt và hài lòng với cách chăm sóc của điểu dưỡng viên bao gồm: chăm sóc vết mổ và các hoạt động tư vấn cho sản phụ và người nhà sản phụ sau mổ
theo dõi sản phụ từ lúc chuẩn bị và sau khi thực
hiện phẫu thuật mổ lấy thai đến khi ra viện
Thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án: các xét
nghiệm sinh hóa máu được ghi chép vào “Bảng
theo dõi chăm sóc sản phụ sau mổ đẻ” theo đúng
mẫu thiết kế đã thiết lập sẵn
• Phân tích số liệu
Số liệu sau khi kiểm tra sẽ được nhập và
xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0 Áp dụng các
phương pháp phân tích mô tả: số lượng (n), tỷ
lệ phần trăm (%) Các χ2 test được sử dụng để
so sánh mức độ hài lòng đối với các dịch vụ y tế
được cung cấp
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của sản phụ
Bảng 1 Đặc điểm nhân khẩu học của sản phụ
(N = 147)
Biến số nghiên cứu Sản phụ sau mổ lấy thai
Số lượng (n) Phần trăm (%) Tuổi
Nghề nghiệp
Địa dư
Trình độ học vấn
Trung cấp, cao đẳng,
Trang 4Bảng 5 Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc
với mức độ hài lòng của sản phụ (N = 147)
Mức độ hài lòng của sản phụ
Kết quả chăm sóc
p Trung bình n (%) Tốt n (%)
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa mức
độ hài lòng của sản phụ với đánh giá kết quả
chăm sóc của điều dưỡng viên p = 0,03.
4 BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm chung của sản phụ
Trong 147 sản phụ mổ lấy thai, độ tuổi của sản phụ từ 23-35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 76,2%, đây cũng là độ tuổi có sức khỏe sinh sản tốt nhất Có
sự chênh lệch khá lớn của các sản phụ trên 35 tuổi, chiếm tỷ lệ 17% trong nghiên cứu này so với 7,5% trong nghiên cứu của Lê Thu Đào (2012) [2] Trong nghiên cứu của tôi có đề cập đến thói quen của sản phụ với một tỷ lệ tương đối lớn các sản phụ thích ngọt chiếm 23,8%; thích chất béo 25,2% và vẫn còn một tỷ lệ nhỏ 2% hút thuốc
lá Do xã hội ngày càng phát triển, đồ ăn nhanh nhiều, các loại thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn vặt
đa dạng hơn nên các sản phụ có nhu cầu gia tăng với các chất ngọt, chất béo
Đa số sản phụ không có bệnh lý kèm theo với
120 sản phụ chiếm 81,6%; 7,4% sản phụ mắc bệnh đái tháo đường; 5,4% sản phụ mắc bệnh khớp và một tỷ lệ nhỏ mắc bện thận và tim Tỷ
lệ này có sự khác với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Châu (2016) khi sản phụ không
có bệnh lý kèm theo chiếm trên 90%, còn lại là tỷ
lệ các bệnh đái tháo đường, thận, khớp và không
có trường hợp sản phụ mắc bệnh tim [5] Nguyên nhân là do khoa Phụ sản của Bệnh viện Bạch Mai
là tuyến cuối khi sinh nên có sự đa dạng về bệnh
lý trên các sản phụ nhập viện
Phần lớn các ca sinh mổ có chuẩn bị (86,4%), ngoài ra có 20 người bệnh (chiếm 13,6%) mổ không chuẩn bị, do những trường hợp cần mổ cấp cứu
3.2 Một số yếu tố liên quan đến chăm sóc
sản phụ sau mổ lấy thai
Bảng 3 Mối liên quan giữa mức độ hài lòng
với mức độ thực hiện chăm sóc cho
sản phụ sau mổ lấy thai (N = 147)
Yếu tố liên quan
Mức độ hài lòng
p Chưa hài lòng
n (%) Hài lòng n (%) Theo dõi, thay băng vết mổ
Vệ sinh bộ phận sinh dục (làm thuốc) cho sản phụ
0,04
≥ 2 lần/ngày 7 (5,8%) (94,2%)113
Nhóm sản phụ được theo dõi, thay băng vết
mổ ≤ 1 lần/ngày có đánh giá về mức độ hài lòng
khác biệt so với nhóm được theo dõi, thay băng
vết mổ ≥ 2 lần/ngày Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p = 0,02.
Nhóm sản phụ được vệ sinh bộ phận sinh dục
≤ 1 lần/ngày có đánh giá về mức độ hài lòng khác
biệt so với nhóm được vệ sinh bộ phận sinh dục
≥ 2 lần/ngày Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
với p = 0,04.
Bảng 4 Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc
với việc tư vấn chế độ dinh dưỡng
cho sản phụ sau mổ lấy thai (N = 147)
Kết quả chăm sóc (n = 147)
p Trung bình
n (%) n (%) Tốt
Tư vấn ≤ 1 lần /ngày 25 (50%) 25 (50%)
0,04
Tư vấn ≥ 2 lần /ngày 30 (30,9%) 67 (69,1%)
Nhóm sản phụ được tư vấn về chế độ dinh
dưỡng ≤ 1 lần /ngày có đánh giá về sự hài lòng
khác biệt so với nhóm được tư vấn ≥ 2 lần /ngày
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,04.
Trang 5- Sau mổ lấy thai: Một số sản phụ xuất hiện các triệu chứng kích động, khó chịu; chảy máu;
chướng bụng; khó tiểu tiện; khó đại tiện; sốt nhẹ
Vì vậy, điều dưỡng cần theo dõi sản phụ trong giai đoạn sau mổ này, đồng thời giải thích trước các triệu chứng có thể gặp để sản phụ yên tâm
và tự theo dõi
- Có sự khác biệt trong hài lòng về chăm sóc điều dưỡng tại các nhóm sản phụ ở độ tuổi khác nhau, cũng như tần suất được thực hiện các chăm sóc như thay băng vết mổ, vệ sinh bộ phận sinh dục, được tư vấn về chế độ dinh dưỡng
- 8,2% các sản phụ chưa hài lòng với cách chăm sóc, vì vậy cần có các nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân sản phụ chưa hài lòng để nâng cao chất lượng chăm sóc và dịch vụ tại khoa phòng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Thị Mỹ Châu (2016) Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng và kết quả chăm sóc sau
mổ của sản phụ tại Bệnh viện Trường Đại học
Y dược Cần Thơ Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Điều dưỡng Trường Đại học Y dược Cần Thơ
2 Dương Thị Cương (2004) Bài giảng sản phụ khoa tập 1 Nhà xuất bản Y học Hà Nội
3 Lê Thu Đào (2012) Nghiên cứu tình hình chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa Trung uơng Cần Thơ Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Điều dưỡng Trường Đại học Y dược Cần Thơ
4 Trần Thị Lợi, Nguyễn Duy Tài (2011) Thực hành sản phụ khoa Nhà xuất bản Y học Thành phố Hồ Chí Minh
5 Lưu Tuyết Minh, Nguyễn Việt Hùng, Đinh Thị Thu Hương (2014) Nghiên cứu huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới mới mắc bằng siêu âm Doppler ở sản phụ sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2012 Y học Thực hành (903), số
1, 64-67
6 Trần Sơn Thạch, Trần Văn Út, Nguyễn Thị Bích Duyên, Vũ Thị Hạnh Như, Trần Thị Hoa Vi (2007) Yếu tố nguy cơ của nhiễm trùng tiểu sau
mổ sanh Tạp chí Phụ sản
7 Nguyễn Đức Vy (2006) Bài giảng sản phụ khoa (sách dùng cho sau đại học) Nhà xuất bản
Y học Hà Nội
4.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của
sản phụ và chăm sóc sản phụ sau mổ lấy thai
Trong vòng 24-48 giờ đầu sau mổ lấy thai, sốt
nhẹ phần lớn do nguyên nhân sản phụ nhịn ăn
uống hoặc bù dịch không đủ [8] Tuy nhiên nếu
sốt kéo dài trên 48 tiếng hoặc sốt từ 39oC, cần
phải khám lại để tìm nguyên nhân nhiễm trùng
[8] Trong khảo sát, kết quả ghi nhận các dấu
hiệu sinh tồn của người bệnh bao gồm mạch,
huyết áp, nhịp thở của sản phụ sau mổ lấy thai
đều trong giới hạn bình thường Chỉ có 5 sản phụ
(3,4%) có hiện tượng sốt nhẹ (37,2oC) ở một số
ngày đầu sau mổ
Sau mổ lấy thai, các sản phụ có thể gặp các
tình trạng như: kích động, khó chịu do đau vết
mổ, biến chứng chảy máu, chướng bụng hoặc
trung tiện Kết quả nghiên cứu cho thấy 24 giờ
sau mổ có đến 16 sản phụ có tình trạng kích
động, khó chịu chiếm 10,9% Tuy nhiên, tỷ lệ này
giảm dần chỉ còn 4,8% ở những ngày sau và ra
viện Kết quả phù hợp với nghiên cứu của Lê Thu
Đào (2012) [2], với tỷ lệ kích động, khó chịu sau
khi phẫu phuật lấy thai ra viện có 3,8%
4.3 Bàn luận về các yếu tố liên quan đến
việc chăm sóc sản phụ sau mổ lấy thai
Nhóm sản phụ được theo dõi, thay băng vết
mổ ≤1 lần/ngày chưa hài lòng về kết quả chăm
sóc có sự khác biệt với mổ ≥ 2 lần/ngày Kết quả
nghiên cứu cho thấy việc được thường xuyên
chăm sóc sẽ cho kết quả tốt cao hơn so với chăm
sóc ≤1 lần/ngày, như vậy điều dưỡng viên cần lên
kế hoạch chăm sóc chi tiết để đảm bảo sản phụ
được chăm sóc đầy đủ, đạt được sự hài lòng tối
đa của sản phụ được chăm sóc
Nhìn chung những sản phụ đánh giá kết quả
chăm sóc là tốt có mức độ hài lòng cao hơn
những sản phụ đánh giá kết quả chăm sóc trung
bình Vì vậy, công tác chăm sóc toàn diện cho
sản phụ khi nằm viện là thực sự cần thiết Điều
dưỡng viên cần có kế hoạch chăm sóc chi tiết
theo từng ngày, theo dõi, kịp thời xử lý nếu có vấn
đề hậu phẫu phát sinh và đồng hành cùng sản
phụ trong quá trình nằm tại viện
5 KẾT LUẬN
- Tại thời điểm trước khi mổ lấy thai: 100% các
sản phụ đều có các chỉ số về hồng cầu, bạch cầu,
tiểu cầu ở giới hạn bình thường.