Bên cạnh việc phát triển các trang trại chăn nuôi với quy mô ngày càng tăng kéo theo những vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó phân và nước thải từ các trang trại chính là n
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Chuyên ngành: QLTN&MT
Mã số: 8850101
Cán bộ hướng dẫn: TS Đào Đình Châm
Thái Nguyên - năm 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện, dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS Đào Đình Châm Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ một nghiên cứu nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện nghiên cứu đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng… năm 2019
Tác giả
PHẠM THỊ QUYÊN
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài này, tác giả xin cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Khoa học - ĐHTN, Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất tới TS Đào Đình Châm người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, đóng góp quan trọng cho sự thành công của luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện hết mức có thể của các Thầy, Cô giáo tại Phòng thí nghiệm khoa Tài nguyên và Môi trường - Trường Đại học Khoa học đã hướng dẫn tôi từ phương pháp đến cung cấp hóa chất, thiết bị máy móc để tôi có thể tiến hành các thí nghiệm phục vụ quá trình làm luận văn tốt nghiệp của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Trong thời gian nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan nên không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các Thầy, Cô giáo, bạn bè để luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn
Tác giả
PHẠM THỊ QUYÊN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu 4
1.1.2 Đặc điểm chất thải chăn nuôi 4
1.1.3 Một số thông số nghiên cứu trong nước thải chăn nuôi 6
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 8
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và xử lý chất thải chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam 8
1.2.2 Khái quát về công nghệ Biogas 10
1.2.3 Ô nhiễm môi trường và một số tác hại đến sức khỏe từ nước thải chăn nuôi 13
1.3 Cơ sở pháp lý của đề tài 13
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 15
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 15
2.2 Nội dung nghiên cứu 15
2.3 Phương pháp nghiên cứu 16
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 16
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 16
2.3.3 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm 17
2.3.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu 19
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 19
3.1.2 Nhân tố kinh tế - xã hội 22
3.2 Thực trạng công tác chăn nuôi lợn tại một số trang trại tại tỉnh Bắc Ninh 26
3.2.1 Số lượng trang trại chăn nuôi lợn tại khu vực nghiên cứu 26
3.2.2 Quy mô chăn nuôi tại một số trang trại trên địa bàn nghiên cứu 27
3.2.3 Các dạng mô hình chăn nuôi lợn tại một số trang trại 28
3.2.4 Phương thức chăn nuôi lợn tại một số trang trại 29
3.3 Hiện trạng xử lý chất thải tại khu vực nghiên cứu 30
3.4 Hiện trạng phòng, chống dịch bệnh và nhận thức của cộng đồng trong xử lý chất thải chăn nuôi 31
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3.4.1 Công tác phòng, chống dịch bệnh tại các trang trại 31
3.4.2 Nhận thức của cộng đồng trong xử lý chất thải chăn nuôi 32
3.5 Tình hình quản lý và xử lý các trang trại gây ô nhiễm môi trường 32
3.6 Hiện trạng chất lượng nước thải chăn nuôi sau Biogas tại khu vực nghiên cứu 33
3.6.1 Hiện trạng chất lượng nước thải sau Biogas tại một số trang trại chăn nuôi ở huyện Gia Bình 33
3.6.2 Hiện trạng chất lượng nước thải sau Biogas tại một số trang trại chăn nuôi ở huyện Quế Võ 35
3.6.3 Hiện trạng chất lượng nước thải sau Biogas tại một số trang trại chăn nuôi tại thị xã Từ Sơn 38
3.6.4 So sánh giá trị trung bình của các thông số trong mẫu nước thải sau Biogas tại huyện Gia Bình, huyện Quế Võ và thị xã Từ Sơn 39
3.6.5 Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất xử lý chất thải chăn nuôi bằng công nghệ Biogas 43
3.7 Một số giải pháp thích hợp nhằm pháp nâng cao hiệu quả sử dụng mô hình Biogas và cải thiện chất lượng nước thải sau Biogas 44
3.7.1 Đối với các cơ sở chăn nuôi 44
3.7.2 Đối với các cơ quan quản lý, cơ quan chuyên môn 45
3.7.3 Giải pháp tuyên truyền – giáo dục 46
3.7.4 Giải pháp về kinh tế 46
3.7.5 Giải pháp về kỹ thuật 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
I Kết luận 49
II Kiến nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 53
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
QCVN 62 – MT: 2016/BTNMT Quy chuẫn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Khối lượng phân và nước tiểu từ lợn thải ra trong 1 ngày đêm 5 Bảng 2.1: Thống kê phân bổ số phiếu điều tra trên các địa bàn khảo sát 17 Bảng 3.1: Thông kê số lượng trang trại chăn nuôi lợn ở một số huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 26 Bảng 3.2: Thống kê số lượng lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 27 Bảng 3.3: Tỷ lệ các dạng mô hình chăn nuôi lợn tại một số trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 28 Bảng 3.4: Phương thức chăn nuôi lợn tại một số trang trại 29 Bảng 3.5: Thống kê tỉ lệ xây dựng hầm Biogas tại khu vực nghiên cứu 30 Bảng 3.6: Kết quả phân tích chất lượng nước thải chăn nuôi sau Biogas tại huyện Gia Bình 34 Bảng 3.7: Kết quả phân tích chất lượng nước thải chăn nuôi sau Biogas tại huyện Quế
Võ 36 Bảng 3.8: Kết quả phân tích chất lượng nước thải chăn nuôi sau Biogas tại thị xã Từ Sơn 38
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh 19 Hình 3.2: Biểu đồ biểu diễn sự biến thiên theo thời gian về số trang trại chăn nuôi lợn
ở một số huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 27 Hình 3.3: Biểu đồ biểu diễn giá trị trung bình của thông số pH trong mẫu nước thải sau Biogas tại huyện Gia Bình, huyện Quế Võ và T.x Từ Sơn 39 Hình 3.4: Biểu đồ biểu diễn giá trị trung bình của thông số BOD5 trong mẫu nước thải sau Biogas tại huyện Gia Bình, huyện Quế Võ và T.x Từ Sơn 39 Hình 3.5: Biểu đồ biểu diễn giá trị trung bình của thông số COD trong mẫu nước thải sau Biogas tại huyện Gia Bình, huyện Quế Võ và T.x Từ Sơn 40 Hình 3.6: Biểu đồ biểu diễn giá trị trung bình của 2 thông số Tổng Nitơ và TSS trong mẫu nước thải sau Biogas tại huyện Gia Bình, huyện Quế Võ và T.x Từ Sơn 41 Hình 3.7: Biểu đồ biểu diễn giá trị trung bình của thông số Coliforms trong mẫu nước thải sau Biogas tại huyện Gia Bình, huyện Quế Võ và T.x Từ Sơn 42 Hình 3.8: Sơ đồ công nghệ hệ xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau Biogas bằng phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt 48
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta ngày càng phát triển cả về
số lượng và chất lượng; Cùng với sự lớn mạnh chăn nuôi của cả nước, ngành chăn nuôi tỉnh Bắc Ninh cũng thu được những thành tựu to lớn Trong năm 2017, tỉnh Bắc Ninh đã có 3.300 trang trại, gia trại, bình quân hàng năm, hệ thống các trang trại này
đã cung ứng cho thị trường 95.000 - 100.000 tấn lợn; 22.000 - 25.000 tấn gia cầm; 40.000 tấn thủy sản; 100.000 tấn quả các loại Diện tích bình quân đạt 2,7ha/trang trại, thu nhập 412 triệu đồng/trang trại Thu nhập từ kinh tế trang trại đạt gần 50% giá trị thu nhập của ngành nông nghiệp [7] Với sự chuyển dịch tích cực từ chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ sang chăn nuôi gia trại và trang trại đã và đang mang lại hiệu quả kinh
tế cao, góp phần cải thiện đời sống của người dân
Bên cạnh việc phát triển các trang trại chăn nuôi với quy mô ngày càng tăng kéo theo những vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó phân và nước thải
từ các trang trại chính là nguồn gây ô nhiễm lớn, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người và vật nuôi nếu như không có biện pháp xử lý Chất thải từ chăn nuôi do không được xử lý hay xử lý không triệt để đã làm ô nhiễm môi trường không khí, đất và nguồn nước Từ nguồn ô nhiễm này đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người như gây nên các bệnh về đường hô hấp và đường tiêu hóa, bệnh ngứa da, ngứa mắt, viêm gan Không chỉ làm ô nhiễm môi trường xung quanh, chất thải của vật nuôi không được xử lý còn đe dọa đến sự phát triển bền vững và ổn định của chính những trang trại này
Tại tỉnh Bắc Ninh, chất thải chăn nuôi lợn chủ yếu được xử lý bằng hầm phân hủy yếm khí (hầm Biogas) đã và đang góp phần quan trọng cải thiện môi trường, sức khỏe con người, thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển bền vững Tuy nhiên, nếu công trình khí sinh học (KSH) không được vận hành, quản lý và sử dụng đúng kỹ thuật không chỉ gây ô nhiễm môi trường (đặc biệt là ô nhiễm mùi), mà các chất khí CH4,
CO2được tạo ra từ quá trình phân hủy yếm khí chất thải chăn nuôi (hầm Biogas) đều
là các khí gây hiệu ứng nhà kính làm trái đất ấm dần lên, kéo theo nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan khác
Trang 10Xuất phát từ vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải sau Biogas tại một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” nhằm nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước thải sau Biogas tại một
số trang trại chăn nuôi lợn giúp đánh giá được hiệu quả của công trình xử lý chất thải chăn nuôi sau Biogas và là cơ sở quan trọng để đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm góp phần cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường tại khu vực nghiên cứu Từ đó, tác động đến người chăn nuôi để họ có những biện pháp xử lý chất thải nhằm phát triển sản xuất đi đôi với việc bảo vệ môi trường; đồng thời giúp các cơ quan chức năng có
cơ sở để đưa ra những giải pháp, những chính sách hợp lý nhằm hạn chế, ngăn chặn những tác động gây hại cho môi trường
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được thực trạng công tác chăn nuôi lợn tại một số trang trại tại tỉnh Bắc Ninh
Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải sau Biogas tại một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện chất lượng nước thải chăn nuôi sau Biogas phù hợp với điều kiện tại địa bàn nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên cần giải quyết các vấn đề sau:
- Thu thập thông tin về hiện trạng sản xuất của các cơ sở chăn nuôi lợn trên địa bàn nghiên cứu (loại hình, quy mô, công nghệ chăn nuôi )
- Tìm hiểu về nguồn xả thải của các cơ sở chăn nuôi
- Lấy mẫu và phân tích các chỉ tiêu và thông số cơ bản trong nước thải chăn nuôi sau Biogas tại khu vực nghiên cứu
- Điều tra đánh giá thực trạng chất lượng nước thải sau Biogas tại một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn nghiên cứu
- Tìm hiểu, phân tích một số giải pháp thích hợp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ nước thải chăn nuôi sau Biogas tại khu vực nghiên cứu
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3 Ý nghĩa của đề tài
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu [16]
Quy chuẩn kỹ thuật môi trường
Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường
Ô nhiễm môi trường
“Ô nhiễm môi trường là sự biến đối của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”
Chất gây ô nhiễm
“Chất gây ô nhiễm là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất
hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm”
1.1.2 Đặc điểm chất thải chăn nuôi [4]
Chất thải chăn nuôi chủ yếu bao gồm:
Phân là sản phẩm loại thải của quá trình tiêu hóa của gia súc bị bài tiết ra ngoài qua đường tiêu hóa Vì vậy phân gia súc là sản phẩm dinh dưỡng tốt cho cây trồng hay
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
các loại sinh vật khác như cá, giun… Do thành phần giàu chất hữu cơ của phân nên chúng rất dễ bị phân hủy thành các sản phẩm độc, khi phát tán vào môi trường có thể gây ô nhiễm cho vật nuôi, con người và các sinh vật khác Thành phần hóa học của phân bao gồm các thành phần như sau:
- Các chất hữu cơ gồm các chất protein, carbonhydrate, chất béo và các sản phẩm trao đổi của chúng
- Các chất vô cơ bao gồm các hợp chất khoáng (đa lượng, vi lượng)
- Nước: là thành phần chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm 65-80% khối lượng của phân Do hàm lượng nước cao, giàu chất hữu cơ cho nên phân là môi trường tốt cho các vi sinh vật phát triển nhanh chóng và phân hủy các chất hữu cơ tạo nên các sản phẩm có thể gây độc cho môi trường
- Dư lượng của thức ăn bổ sung cho gia súc, gồm các thuốc kích thích tăng trưởng, các hormone hay dư lượng kháng sinh…
- Các men tiêu hóa của bản thân gia súc, chủ yếu là các men tiêu hóa sau khi sử dụng bị mất hoạt tính và được thải ra ngoài…
- Các mô và chất nhờn tróc ra từ niêm mạc đường tiêu hóa
- Các thành phần tạp từ môi trường thâm nhập vào thức ăn trong quá trình chế biến thức ăn hay quá trình nuôi dưỡng gia súc (đá, cát, bụi, )
- Các yếu tố gây bệnh như các vi khuẩn hay ký sinh trùng bị nhiễm trong đường tiêu hóa gia súc hay trong thức ăn
Lượng phân thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào giống, loài, tuổi và khẩu phần ăn Lượng phân lợn thải ra mỗi ngày có thể ước tính 6 - 8% trọng lượng của vật nuôi (Bảng 1.1)
Bảng 1.1: Khối lượng phân và nước tiểu từ lợn thải ra trong 1 ngày đêm
Khối lượng lợn (kg) Lượng phân (kg/ngày) Nước tiểu (kg/ngày)
Trang 14Chất thải lỏng
Nước thải chăn nuôi là hỗn hợp bao gồm cả nước tiểu, nước tắm gia súc, rửa chuồng Nước thải chăn nuôi có thể chứa một phần hay toàn bộ lượng phân được gia súc, gia cầm thải ra Nước thải là dạng chất thải chiếm khối lượng lớn nhất trong chăn nuôi; Thành phần nước thải rất phong phú, chúng bao gồm các chất rắn ở dạng lơ
lửng, các chất hòa tan hữu cơ hay vô cơ, cụ thể:
- Các chất hữu cơ: hợp chất hữu cơ chiếm 70 - 80% bao gồm cellulose, protit, acid amin, chất béo, hidrat carbon và các dẫn xuất của chúng, thức ăn thừa
- Các chất vô cơ chiếm 20–30% gồm cát, đất, muối, ure, ammonium, muối chlorua, SO42-…
- N và P: khả năng hấp thụ N và P của các loài gia súc, gia cầm rất kém, nên khi
ăn thức ăn có chứa N và P thì chúng sẽ bài tiết ra ngoài theo phân và nước tiểu, trong nước thải chăn nuôi lợn thường chứa hàm lượng N và P rất cao
- Vi sinh vật gây bệnh: nước thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi trùng, virus và trứng ấu trùng giun sán gây bệnh
Chất thải khí
Chăn nuôi phát thải nhiều loại khí thải (CO2, NH3, CH4, H2S, và hàng loạt các khí gây mùi khác) do hoạt động hô hấp, tiêu hóa của vật nuôi, ủ phân, chế biến thức ăn,…
Hầu hết các khí thải chăn nuôi có thể gây độc cho gia súc, cho con người và môi trường
1.1.3 Một số thông số nghiên cứu trong nước thải chăn nuôi [19]
Độ pH: là thước đo tính axit hoặc tính bazơ của dung dịch nước, nhìn chung sự
sống tồn tại phát triển tốt nhất trong điều kiện môi trường nước trung tính có pH=7 Tuy nhiên, sự sống vẫn chấp nhận một khoảng nhất định trên dưới giá trị trung bình (6<pH< 8,5) đôi khi còn rộng hơn và cá biệt cũng có những sinh vật sống ở các pH cực tiểu (0<pH<1) và cực đại pH= 14 Trong tự nhiên luôn luôn tồn tại một hệ đệm do vậy sự thay đổi nồng độ axit (H+) hoặc bazơ (OH-) đến một mức độ nào đó mới dẫn đến sự thay đổi của pH
Nhu cầu oxy hoá học (Chemical Oxygen Demand -COD): trong hoá học môi
trường, chỉ tiêu và thử nghiệm nhu cầu oxy hoá hoá học được sử dụng rộng rãi để đo gián tiếp khối lượng các hợp chất hữu cơ có trong nước phần lớn, các ứng dụng của COD là xác định khối lượng của các chất ô nhiễm hữu cơ tìm thấy trong nước bề mặt, COD là phép đo hữu ích về chất lượng nước Nó được biểu diễn bằng đơn vị đo là
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
miligam/lit (mg/l), chỉ ra khối lượng oxy cần tiêu hao trên một lít dung dịch, nền tảng cho thử nghiệm COD là gần như mọi hợp chất hữu cơ đều bị ôxy hoá để tạo ra CO2bằng các chất ôxy hoá mạnh trong các điều kiện axit
Nhu cầu oxy hoá (Biochemical Oxygen Demand - BOD): là lượng oxy thể
hiện bằng gam hoặc mg O2 trên một đơn vị thể tích cần cho một vi sinh vật tiêu thụ để oxy hoá sinh học các chất hữu cơ ở điều kiện nhiệt độ và thời gian xác định Giá trị BOD phản ánh lượng các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học có trong mẫu nước, để xác định BOD cần tiến hành ở điêu kiện chuẩn, thường ở nhiệt độ 200C trong thời gian
5 ngày Vì vậy, giá trị BOD thường được công bố là BOD5, viết tắt là BOD5
Nitơ tổng: là toàn bộ Nitơ có trong các hợp chất hữu cơ nói chung Sự phân
giải các chất sống cuối cùng tạo ra amoniac (NH3) hoà tan tốt trong nước Trong môi trường kiềm, khí amoniac thoát ra có mùi khai khó chịu, cạnh tranh sự hoà tan của oxy trong nước, đầu độc các động vật thủy sinh Trong môi trường trung tính và axit, amoniac tồn tại dưới dạng cation amoni (NH4-), tạo điều kiện cho rêu tảo phát triển khi
có ánh sáng, vì vậy ở các ao hồ bẩn nước thường có màu xanh lục Khi có oxy và các
vi khuẩn tự dưỡng, amoniac được ôxy hoá thành các oxyt của nitơ với các mức độ khác nhau Các hợp chất này đều độc với người và động vật ở các mức độ khác nhau Sản phẩm cuối cùng của ôxy hoá amoniac là axit Nitric, tồn tại trong nước dưới dạng anion NO3-
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS: Turbidity & Suspendid Solids): gồm các hạt chất
vô cơ, hữu cơ và những hạt chất lỏng không hòa tan với nước Các hạt đó là hạt đất sét, phù sa… hoặc các hạt có bản chất vô cơ khác Cũng có thể là các sợi thực vật, tảo,
vi khuẩn… hoặc các hạt có bản chất hữu cơ khác
Chỉ số vi sinh vật: coliform gồm các vi sinh vật hiếu khí và kị khí tuỳ tiện,
Gram âm, không sinh bào tử, hình que, lên men đường lactozơ và sinh hơi trong môi trường nuôi cấy lỏng Dựa vào nhiệt độ tăng trưởng, nhóm này lại được chia thành 2 nhóm nhỏ là coliform và coliform phân có nguồn gốc từ phân các loài động vật Trong môi trường, coliform phân được quan tâm nhiều hơn vì coliform phân có nguồn gốc từ ruột người và các động vật máu nóng Khi coliform phân hiện diện lớn trong mẫu thì
có khả năng mẫu bị nhiễm nước phân và có khả năng chứa các vi sinh vật gây bênh hiện diện trong phân Để định lượng coliform người ta dùng phương pháp MPN (Most Probable Number)
Trang 161.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và xử lý chất thải chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới
Việc xử lý nước thải (XLNT) chăn nuôi đã được nghiên cứu triển khai ở các nước phát triển cách đây vài chục năm Các công nghệ áp dụng cho XLNT có tải trọng ô nhiễm cao như nước thải chăn nuôi rất đa dạng nhưng trong đó chủ yếu là các phương pháp sinh học do chúng có tính bền vững và thích nghi với nhiều điều kiện tự nhiên
Tại Tây Ban Nha, nước thải chăn nuôi được xử lý bằng quy trình VALPUREN (được cấp bằng sáng chế Tây Ban Nha số P9900761) Đây là quy trình xử lý kết hợp phân hủy kỵ khí tạo hơi nước và làm khô bùn bằng nhiệt năng được cấp bởi hỗn hợp khí sinh học và khí tự nhiên
Tại Thái Lan, công trình xử lý nước thải sau Biogas là UASB, đây là công trình
xử lý sinh học kỵ khí ngược dòng Nước thải được đưa vào từ dưới lên, xuyên qua lớp bùn kỵ khí lơ lửng ở dạng các bông bùn mịn Quá trình khoáng hóa các chất hữu cơ diễn ra khi nước thải tiếp xúc với các bông bùn này Một phần khí sinh ra trong quá trình phân hủy kỵ khí (CH4, CO2và một số khí khác) sẽ kết dính với các bông bùn và kéo các bông bùn lên lơ lửng trong bùn, tạo sự khuấy trộn đều giữa bùn và nước Khi lên đến đỉnh bể, các bọt khí được giải phóng với khí tự do và bùn sẽ lắng dần xuống
Để tăng tiếp xúc giữa nước thải với các bông bùn, lượng khí tự do sau khi thoát ra khỏi
bể được tuần hoàn trở lại hệ thống [8]
Tại Việt Nam
Hiện nay phân thải và nước thải chăn nuôi ở nước ta được tiến hành xử lý theo nhiều hình thức khác nhau Một số hình thức phổ biến có thể kể tới như: thu gom phân rắn để bán, Biogas, làm thức ăn cho cá, thải bỏ trực tiếp ra môi trường… Một số hình thức quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi được trình bày cụ thể như sau:
*Vệ sinh chuồng nuôi
Hiện nay ở nước ta có hai cách vệ sinh chuồng nuôi chủ yếu: Trộn lẫn phân thải rắn với nước tiểu và nước rửa chuồng trại để tạo ra nước thải lỏng (không tách pha) và tách riêng phân thải rắn với nước tiểu và nước rửa chuồng (tách pha rắnlỏng)
Trộn lẫn pha là biện pháp sử dụng vòi phun nước kết hợp với bố trí chuồng trại
có độ dốc để lôi cuốn phân thải, nước tiểu chăn nuôi về phía cuối chuồng trước khi thoát ra ngoài qua hệ thống cống rãnh Hình thức này đơn giản, dễ làm, đỡ tốn công
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nhưng có thể làm tăng khối lượng chất thải phát sinh do lượng nước rửa chuồng trại lớn Mặt khác việc trộn lẫn pha rắn, lỏng có thể gây phức tạp hơn cho quá trình xử lý chất thải chăn nuôi tiếp theo
Biện pháp tách pha rắn - lỏng: thực chất là thu gom riêng phần phân rắn sau đó mới tiến hành rửa chuồng Biện pháp này có thể thu gom từ 9095% lượng phân rắn qua đó làm giảm bớt chất ô nhiễm trong nước thải Tuy nhiên hạn chế của biện pháp này là tốn công và tốn thời gian hơn trong quá trình vệ sinh chuồng
*Tích trữ chất thải
Tích trữ chất thải là việc thu gom các chất thải chăn nuôi vào một chỗ nhất định, sau đó có thể áp dụng các biện pháp xử lý khác nhau, một số hình thức tích trữ chất thải như:
Nhà chứa phân: Nhà chứa phân được xây ngoài chuồng nuôi, phân được đóng thành bao tải và chuyển đến đây để tích trữ và bán Hình thức này khá hiệu quả vì phân thải được tận dụng và người chăn nuôi có thêm thu nhập từ việc bán phân Tuy nhiên biện pháp này đòi hỏi khá nhiều công sức thu gom phân thải, cần một diện tích kho chứa phân lớn và phát sinh mùi hôi thối trong quá trình tích lũy phân
- Hố chứa phân hỗn hợp: Phương pháp này đơn giản là toàn bộ phân và nước thải chăn nuôi được đổ xuống một hố, sau một vài tuần, các vi sinh vật hiếu khí hoặc yếm khí đã phân hủy các chất hữu cơ có trong phân Tuy nhiên, phương pháp này dễ gây dịch bệnh, ô nhiễm môi trường không khí và mạch nước ngầm
- Chứa phân lỏng: Người ta xây hố chứa kề lỗ thoát phân của chuồng, do đó toàn bộ lượng phân lỏng thải ra sẽ đổ vào hố chứa Tuy nhiên, vào mùa mưa hoặc khi
mở rộng quy mô đàn mà không nới thể tích chứa, hố chứa thường bị tràn
*Xử lý chất thải
- Hệ thống bể xử lý nước thải: là hệ thống bể thường có 23 cấp, mỗi cấp là một
bể riêng biệt có hệ thống lưới ngăn các chất lơ lửng Đại bộ phận chất rắn lơ lửng được lắng xuống đáy của bể thứ nhất, một số chất lơ lửng sau khi thoát ra qua các lưới của
bể thứ nhất thường được lắng xuống ở bể thứ hai và bể thứ ba Biện pháp này thường khá tốn kém do không tận dụng được nguồn phân thải, tốn chi phí xây dựng hệ thống
và cần một diện tích khá lớn
- Biogas: đây là biện pháp được sử dụng khá phổ biến tại các khu chăn nuôi của
nước ta Tỷ lệ các trang trại chăn nuôi tại Hưng Yên sử dụng Biogas đạt từ 37,5 -
Trang 1859,1% Tỷ lệ sử dụng Biogas tại các trang trại nuôi lợn nái ở một số địa phương như
Hà Nội, Hà Tây cũ, Ninh Bình, Thái Bình là rất cao dao động từ 89,4 - 100% [20]
Biện pháp này được đánh giá là có hiệu quả cao khi vừa góp phần giảm thiểu chất ô nhiễm vừa tạo ra khí sinh học phục vụ nhu cầu đun nấu, thắp sáng của người dân Bùn cặn và nước thải sau Biogas có thể sử dụng tốt để tưới cây hoặc làm thức ăn cho cá do đã giảm bớt được các vi sinh vật gây bệnh trong quá trình phân hủy yếm khí
Mặc dù các phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi được áp dụng hiện nay đều dựa trên các công nghệ đã được áp dụng thành công trên thế giới nhưng để phù hợp với thực tiễn Việt Nam vẫn còn gặp không ít khó khăn do quy mô chăn nuôi đa dạng, vốn đầu tư và chi phí vận hành thấp, trình độ và hiểu biết của người chăn nuôi chưa đáp ứng nhu cầu Có thể thấy rằng ở nước ta, một thực trạng là vấn đề xử lý nguồn nước thải ô nhiễm này thường bị bỏ qua hoặc bằng các biện pháp đơn lẻ, không hiệu quả, mô hình XLNT chăn nuôi hiện nay tại nước ta mới chỉ làm giảm tải trọng ô nhiễm chứ chưa đạt được theo quy chuẩn xả thải của ngành chăn nuôi
1.2.2 Khái quát về công nghệ Biogas [8]
Biogas hay còn gọi là khí sinh học (KSH) hệ thống này làm nhiệm vụ chủ yếu
là phân hủy phân gia súc, gia cầm thành khí và khí này có thể dùng để đun nấu, để đốt đèn hay chạy máy nổ, máy phát điện, hệ thống Biogas gồm có hầm hoặc bể để chứa phân gia súc và các phụ kiện khác
Hiện nay ở Việt Nam đã ứng dụng rất nhiều mô hình khác nhau như: hầm KSH dạng nắp vòm, hầm KSH sử dụng túi ủ bằng nilông, bể phốt tự hoại, hầm Biogas phủ bạt nhựa HDPE…
Phương pháp xử lý bằng hầm Biogas có ưu điểm lớn so với các phương pháp
xử lý khác ở chỗ chi phí thấp và tính ổn định cao Đặc biệt hiệu quả xử lý rất cao trong thời gian lưu ngắn đối với các loại nước thải chứa các chất dễ phân hủy sinh học Nước thải sau Biogas đã loại bỏ một hàm lượng lớn kim loại nặng và vi sinh vật có hại đồng thời chứa nhiều chất dinh dưỡng có thể phục vụ cho tưới tiêu cây trồng
* Cấu tạo của hệ thống Biogas
Hệ thống phân hủy Biogas được cấu tạo gồm 4 phần:
- Hệ thống phân hủy chính: là nơi diễn ra phân hủy hiếm khí các chất hữu cơ
chứa trong phân và nước tiểu Bể phân hủy thường có dung tích lớn, nhỏ tùy thuộc và quy mô chăn nuôi của tổng trang trại
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Hệ thống điều áp: có vai trò trong việc đảm bảo áp lực khí cần thiết trong hệ
thống phân hủy chính, đồng thời đảm bảo quá trình an toàn cho cả hệ thống
- Hệ thống đường ống dẫn khí: được cấu tạo bằng các đường ống dẫn nhựa
PVC, có chức năng chuyển tải khí đốt sinh học từ hệ thống phân hủy chính đến các thiết bị khí sinh học
- Thiết bị sử dụng khí sinh học: là những bếp đun, các thiết bị dùng thắp sáng,
thiết bị sấy nguyên liệu, thiết bị sưởi ấm
* Nguyên lý hoạt động hầm Biogas
Quá trình sản xuất khí của Biogas dựa trên nguyên tắc phân hủy kỵ khí, các chất hữu cơ phức tạp bị vi sinh vật kỵ khí phân hủy tạo thành các chất đơn giản ở dạng khí hòa tan
Quá trình của vi sinh vật kỵ khí gồm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Là sự phát triển hỗn hợp rất nhiều loài vi sinh vật có trong chất
thải, pha này kéo dài khoảng 2 ngày Thời gian đầu có phát triển cả vi khuẩn hiếu khí
vì trong dung dịch lên men chất thải còn tồn tại một lượng oxy hòa tan nhất định Các loại vi khuần hiếu khí sử dụng oxy hòa tan để tăng số lượng, khi oxy hết dần, lượng vi khuẩn hiếu khí giảm dần và bị chết hết khi quá trình tạo CH4 xuất hiện
- Giai đoạn 2: Sự phát triển mạnh của các loại vi khuẩn thủy phân các chất hữu
cơ và các vi khuẩn tạo axit Ở đây có sự phát triển rất mạnh các loài vi khuẩn sinh
CH4 Giai đoạn này gồm 3 giai đoạn nhỏ:
+ Phân giải chất hữu cơ: các chất thải hữu cơ chứa polyme như protein, chất béo được phân hủy bởi các enzim ngoại bào của vi khuẩn, tạo ra những chất có phân
tử lượng nhỏ hơn và có khả năng tan trong nước và chúng có khả năng sinh axit hấp thụ
+ Giai đoạn axit: những hợp chất đơn giản được giải phóng ở giai đoạn phân giải chất hữu cơ sẽ chuyển hóa thành axit axetic, hidro, CO2 nhờ vi khuẩn acetogenic Các axit hữu cơ dễ bay hơi sinh ra là những sản phẩm của sự trao đổi chất giữa vi khuẩn với carbon hydrat, chất béo, protein trong đó axit axetic, axit propionic, axit lactic là những sản phẩm chính
Sự axit hóa cellulose:
(C6H10O5)n + nH2O → 3nCH3COOH CH3COOH + 2H2O → 2CO2 + 4H2
CO2, H2 sinh ra trong quá trình dị hóa cacbon hydrat
Trang 20+ Tạo thành khí CH4, quá trình tạo khí metan nhờ Axit axetic:
CH3COO- + H2O → CH4 + HCO3
-Sự kết hợp của CO2, H2:
4H2 + H+ + HCO3- → CH4 + 3H2O
Vi khuẩn sử dụng axit axetic, methanol hay sự kết hợp của CO2, H2 để tạo khí
CH4, trong đó axit axetic là chất nền sản sinh metan quan trọng nhất chiếm 70%, lượng còn lại được tạo từ Sự kết hợp của CO2, H2, ngoài ra còn có axit formic, methanol nhưng chúng không quan trọng và ít xuất hiện trong quá trình lên men kỵ khí
* Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men tạo khí Biogas [8]
Điều kiện yếm khí: đây là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình phân hủy
chất hữu cơ của vi sinh vật, vi sinh vật tạo khí trong hầm ủ rất nhạy cảm với oxygen, nếu hầm ủ có oxygen thì hoạt động của vi sinh vật yếm khí yếu hay ngừng hẳn
Nhiệt độ: có hai vùng nhiệt độ thích hợp cho sự lên men của vi khuẩn sinh khí
methane, một là nhiệt độ trung bình biến động từ 20 – 45oC, và hai là nhiệt độ cao trong vùng nhiệt trên 45oC Nhiệt độ tối ưu là 35oC cho vùng thứ nhất và 55oC cho vùng thứ hai
Sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình sinh khí, vi khuẩn sinh khí methane rất nhạy cảm với nhiệt độ, biên độ nhiệt độ thay đổi cho phép là 10oC trong mỗi ngày Nhiệt độ dưới 10oC làm vi khuẩn hoạt động kém và gas sẽ không được sinh ra hoặc rất ít Ở Việt Nam nhiệt độ trung bình từ 18 – 32oC là thuận lợi cho hoạt động của vi sinh, sinh khí methane
pH: pH cũng góp phần quan trọng đối với hoạt động sống của vi khuẩn sinh khí
methane Vi khuẩn sinh khí methane thích hợp ở pH 6,5 – 7 Khi pH lớn hơn 8 hay nhỏ hơn 6 thì hoạt động của nhóm vi khuẩn giảm nhanh
Ẩm độ: ẩm độ đạt 91,5 – 96% thì thích hợp cho vi khuẩn sinh methane phát
triển, ẩm độ lớn hơn 96% thì tốc độ phân hủy chất hữu cơ có giảm, sản lượng khí sinh
ra thấp
Thành phần dinh dưỡng (Hàm lượng chất khô): để đảm bảo quá trình sinh khí
bình thường và liên tục phải cung cấp đầy đủ nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của vi khuẩn Thành phần chủ yếu của nguyên liệu phải cấp là carbon (C) và nitơ (N); với carbon ở dạng là carbohydrate, còn nitơ ở dạng nitrate, protein, ammoniac;
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Ngoài việc cung cấp đầy đủ nguyên liệu C và N cần phải đảm bảo tỉ lệ tương ứng C/N
Tỉ lệ thích hợp sẽ đảm bảo cân đối dinh dưỡng cho hoạt động sống của vi sinh vật kỵ khí, trong đó C sẽ tạo năng lượng còn N sẽ tạo cơ cấu của tế bào
Tỉ lệ phân/nước: nếu phân quá loãng thì lượng phân không đủ để phân hủy,
ngược lại dịch phân quá đặc sẽ gây cứng hầm ủ và cản trở quá trình thoát khí Tốt nhất cho sự phân hủy biến thiên từ 1/3 hoặc 1/4 đến 1/7, dịch thải ra rất tốt có màu đen sậm; Nước thải sau quá trình phân hủy trong công nghệ hầm ủ Biogas sẽ giảm mùi hôi, không thấy ruồi nhặng đeo bám, tiêu diệt mầm bệnh, nhất là ký sinh trùng và các bệnh lây lan khác
Thời gian lưu phân trong hầm chứa: nguyên liệu cần nằm trong bể từ 30-50 ngày
1.2.3 Ô nhiễm môi trường và một số tác hại đến sức khỏe từ nước thải chăn nuôi
Chất thải chăn nuôi tác động đến môi trường và sức khỏe con người trên nhiều khía cạnh: gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, môi trường khí, môi trường đất
và các sản phẩm nông nghiệp Đây chính là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh về hô hấp, tiêu hóa, do trong chất thải chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã cảnh báo, nếu không có biện pháp thu gom và
xử lý chất thải chăn nuôi một cách thỏa đáng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, vật nuôi và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đặc biệt là các virus biến thể
từ các dịch bệnh như lở mồm long móng, dịch bệnh tai xanh ở lợn có thể lây lan nhanh chóng và có thể cướp đi sinh mạng của rất nhiều người
Theo Báo cáo tổng kết của Viện Chăn nuôi năm 2016 (Bộ NN&PTNT), nồng
độ khí H2S và NH3 trong chất thải chăn nuôi cao hơn mức cho phép khoảng 30-40 lần Tổng số vi sinh vật và bào tử nấm cũng cao hơn mức cho phép rất nhiều lần Ngoài ra, nước thải chăn nuôi còn chứa Coliform, E.coli, COD và trứng giun sán cao hơn rất nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép Do đó, nước thải từ các cơ sở chăn nuôi lợn không được xử lý đạt tiêu chuẩn sẽ ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
1.3 Cơ sở pháp lý của đề tài
Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH 13 ngày 23/6/2014
Nghị định 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của chính phủ về việc quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường
Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải trong chăn nuôi: QCVN MT:2016/BTNMT
Trang 2262-Thông tư số 04/2012/TT – BTNMT ngày 08/05/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Quy chuẩn Việt Nam QCVN 01-14:2010/BNNPTNT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học năm 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Quyết định số 18/2015/QĐ-UBND ngày 27/05/2015 của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc phê duyệt đề án rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030
Quyết định số 46/2016/QĐ-UBND ngày 21/12/2016 của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc ban hành quy định hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và hạ tầng nông thôn giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Quyết định số 03/2018/QĐ-UBND ngày 31/01/2018 của UBND tỉnh Bắc Ninh
về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với nước thải áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nước thải sau Biogas tại một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Gia Bình, huyện Quế Võ và thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại tỉnh Bắc Ninh
+ Thu thập, phân tích các tài liệu về khí tượng – thủy văn, địa lý, địa chất, hiện trạng kinh tế - xã hội
+ Thu thập phân tích các tài liệu, số liệu về môi trường nước của địa bàn nghiên cứu, các tài liệu về hiện trạng môi trường từ 2013 đến nay của khu vực nghiên cứu
+ Thu thập, thống kê các nguồn thải gây ô nhiễm môi trường nước trong khu vực + Viết báo cáo tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
- Hiện trạng sản xuất của các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn
+ Loại hình, quy mô, công nghệ sản xuất chăn nuôi
+ Việc tuân thủ các quy định của pháp luật về thực hiện công tác bảo vệ môi trường, các biện pháp xử lý chất thải tại các cơ sở chăn nuôi lợn
- Hiện trạng xả thải trong các cơ sở chăn nuôi (biện pháp xử lý chất thải, mức
độ ô nhiễm trong nước thải…)
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng chất lượng nước thải sau Biogas tại một số
trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn nghiên cứu
Trang 24- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm cải thiện chất lượng nước thải sau Biogas đạt hiệu quả thải phù hợp với điều kiện tại địa bàn nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Tổng hợp các số liệu điều tra, tài liệu được cung cấp từ xã, huyện, tỉnh hiện nay
- Kế thừa các tài liệu, số liệu nghiên cứu, số liệu thống kê từ các đề tài, niên giám thống kê được thực hiện trên địa bàn tỉnh và tại khu vực nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
* Phương pháp điều tra bảng hỏi
Tiến hành lập và phỏng vấn các chủ trang trại theo bảng hỏi nhằm thu thập các thông tin liên quan tới tình hình sản xuất, đặc điểm và các hình thức quản lý, xử lý chất thải của các trang trại nuôi lợn
Mẫu phiếu số 1: Điều tra tình hình chăn nuôi tại các trang trại
- Gồm 42 chỉ tiêu
- Nội dung: Thông tin chung về tình hình chăn nuôi, thú y và vệ sinh chuồng trại chăn nuôi trong 12 tháng qua
- Đối tượng tượng điều tra: Đại diện các trang trại
- Khu vực điều tra: hộ chăn nuôi tập trung tại các huyện Gia Bình, huyện Quế
Võ và thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh
- Số lượng phiếu điều tra: 150 phiếu (Có phụ lục kèm theo)
Mẫu phiếu số 2: Điều tra đơn vị cấp huyện /thị, xã /phường, thôn/tổ dân phố
- Gồm 41 chỉ tiêu
- Nội dung: Thông tin chung về tình hình chăn nuôi, thú y trên địa bàn, công tác quản lý hỗ trợ các hộ chăn nuôi, công tác phòng dịch, môi trường…
- Đối tượng điều tra: Đại diện cấp huyện - thị, xã – phường
Số lượng phiếu điều tra: 50 phiếu (Có phụ lục kèm theo)
* Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Tiến hành điều tra khảo sát các trang trại nuôi lợn trên địa bàn bằng hình thức quan sát, chụp ảnh và thu thập các thông tin liên quan tới đề tài
Quan sát và đánh giá những vấn đề về môi trường, xã hội và khí tượng thủy văn tới vấn đề nghiên cứu
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tham vấn cộng đồng dân cư tại các điểm điều tra về áp dụng các giải pháp để
xử lý triệt để chất thải chăn nuôi trước khi thải ra môi trường
Việc phân bổ số phiếu điều tra trên các địa bàn nghiên cứu được thể hiện cụ thể như trong bảng 2.1
Bảng 2.1: Thống kê phân bổ số phiếu điều tra trên các địa bàn khảo sát
số Cán bộ Hộ dân
Các địa phương được lựa chọn để điều tra, khảo sát là các địa phương tiêu biểu
về chăn nuôi trên địa bàn các xã, các huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh Quy mô trang trại của các hộ ở mức tương đối lớn vì vậy mà nguy cơ ảnh hưởng từ hoạt động chăn nuôi đến môi trường, đời sống người dân là khá cao
Đa số các xã điều tra đều có tỉ lệ số hộ chăn nuôi tương đối cao; Bên cạnh đó đề tài đã thực hiện điều tra tại chi cục chăn nuôi thú ý tỉnh Bắc Ninh để có cơ sở đánh giá khái quát chung về tình hình chăn nuôi trên địa bàn toàn tỉnh và một số huyện
2.3.3 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm
- Phương pháp lấy mẫu
Lấy mẫu nước thải chăn nuôi sau Biogas của một số trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Mẫu được lấy theo phương pháp ngẫu nhiên, mẫu đơn, theo hướng dẫn của TCVN 6663-1:2011(ISO 5667-1:2006) – Chất lượng nước – Phần 1: hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu và kỹ thuật lấy mẫu, TCVN 6663-3:2008(ISO 5667-3:2003) – Chất lượng nước – Lấy mẫu – Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu và TCVN 5999-1995 (ISO 5667-10:1992) - Chất lượng nước - lấy mẫu – hướng dẫn lấy mẫu nước thải
Số lượng mẫu được lấy dựa vào biến động của các yếu tố môi trường cũng như căn cứ vào sai số cho phép Trong đó sai số cho phép phụ thuộc vào mục tiêu quan trắc, thông số môi trường cần quan tâm, tiêu chuẩn đánh giá
Số lượng mẫu cần lấy được tính dựa vào 02 công thức:
Trang 26+ Công thức Manly (2001): n = 4Ŝ2/e2 trong đó e là mức sai số, Ŝ là phương sai tập hợp mẫu chưa hiệu chỉnh và n là số mẫu cần lấy
+ Công thức kiểm định Fisher (US EPA): n = t2s2/e2 trong đó t là giá trị kiểm tra Student, s2 là tổng bình phương, e là mức sai số còn n là số mẫu cần lấy
Quy trình lấy mẫu:
Địa điểm lấy mẫu
Huyện Quế Võ: 65 mẫu, ký hiệu mẫu QV1, QV2, ,QV65
Huyện Gia Bình: 35 mẫu, ký hiệu mẫu GB1, GB2, ,GB35
Thị xã Từ Sơn: 20 mẫu, ký hiệu mẫu TS1, TS2, ,TS20
Tống số mẫu: 120 mẫu nước thải chăn nuôi sau Biogas
Thời gian lấy mẫu: tháng 7-9/2018
- Phân tích trong phòng thí nghiệm tại khoa Tài nguyên và Môi trường - Trường
2.3.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
- Thu thập, nghiên cứu tất cả các tài liệu có liên quan tới vấn đề nghiên cứu, các tiêu chuẩn, các quy chuẩn môi trường phục vụ cho mục đích nghiên cứu
- Hệ thống các tài liệu số liệu rời rạc sẵn có về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn nghiên cứu Hiện trạng môi trường, các nguồn gây ô nhiễm và các tài liệu khác có liên quan tới đề tài
- Các số liệu trong công tác điều tra, thu thập tài liệu, số liệu từ quá trình nghiên cứu, phân tích mẫu nước tại khu vực được xử lý bằng phần mềm Excel
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọi trong châu thổ sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao và giao lưu kinh tế mạnh Tỉnh Bắc Ninh có địa giới hành chính tiếp giáp với các tỉnh:
Phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội
Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang
Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Hải Dương
Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên
Trang 28lưu với các tỉnh trong cả nước Gần thành phố Hà Nội là một thị trường rộng lớn, đồng thời cũng là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao khoa học công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước Hà Nội sẽ là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh như Nông - Lâm - Thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ Bắc Ninh cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố vệ tinh trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Bắc Ninh là cầu nối giữa Hà Nội với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và có vị trí quan trọng đối với an ninh quốc phòng
Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên sẽ có tác động trực tiếp đến hình thành cơ cấu và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bắc Ninh về mọi mặt, đặc biệt là công nghiệp và dịch vụ du lịch
Vị trí địa lý thuận lợi là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong các tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình của tỉnh Bắc Ninh không hoàn toàn là đồng bằng mà xen kẽ là các đồi thấp có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3-7m, địa hình trung du (huyện Quế Võ và Tiên Du), có một số dải núi độ cao phổ biến 300 - 400m Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở 2 huyện Quế Võ, Tiên Du và thành phố Bắc Ninh Ngoài ra, còn một số khu vực thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ, Yên Phong [17]
Với 99,47% diện tích của tỉnh là đồng bằng, là khu vực địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc nhỏ, tuy tránh được các hiện tượng xói mòn, rửa trôi so với các vùng trung du, miền núi nhưng địa hình thấp lại tạo điều kiện các chất hữu cơ và vô cơ thẩm thấu vào trong đất, làm thay đổi thành phần lý học và hóa học của nước ngầm Ở các vùng trũng còn là nơi ứ đọng, tích tụ nguồn nước thải ra từ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và nước thải sinh hoạt Tại những khu vực như thế, nguồn nước mặt và nước ngầm bị ô nhiễm trầm trọng
3.1.1.3 Khí hậu [17].
Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mưa nhiều, chịu
ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Thời tiết chia thành 2 mùa rõ rệt:
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Mùa đông có gió mùa Đông Bắc tràn về mang đến thời tiết lạnh, đầu mùa đông (tháng 11) lạnh khô, cuối mùa đông (tháng 2,3) lạnh ẩm ,có mưa phùn
Mùa hạ có gió Tây Nam và Đông Nam hoạt động mạnh kèm theo giông, bão, mưa lớn Nhiệt độ trung bình năm 23,3oC; nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,9oC (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8oC (tháng 1) Sự chênh lệch nhiệt
độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,1oC
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1.400-1.600mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80 - 85% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 15 - 20% tổng lượng mưa trong năm
Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.530 - 1.776 giờ, trong đó tháng có nhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng là tháng 1 Các hiện tượng thời tiết đặc biệt: bão, áp thấp nhiệt đới kèm theo gió mạnh, mưa lớn diễn ra phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống và môi trường tự nhiên, nhất là đối với môi trường nước
3.1.1.4 Thổ Nhưỡng
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 822,72 km2; diện tích lớn nhất
là đất nông nghiệp chiếm 65,85%, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ chỉ với 0,81%; đất phi nông nghiệp chiếm 33,31% trong đó đất ở chiếm 12,83%; diện tích đất chưa sử dụng chiếm 0,84% [7]
Đất ở đây chủ yếu là đất phù sa màu mỡ, thành phần cơ giới nhẹ, giàu dinh dưỡng
do được bồi tụ bởi hệ thống sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình, diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn (42 nghìn ha) chiếm 51% diện tích của tỉnh, thuận lợi cho phát triển các loại cây hàng năm, cây công nghiệp, thực phẩm, hoa màu, đặc biệt là cây lúa
Bên cạnh đó có đất phù sa không được bồi tụ hàng năm ở Tiên Du, Từ Sơn, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài Thành phần cơ giới từ đất thịt trung bình đến thịt nhẹ, giữ nước và phân tốt, hàm lượng mùn trung bình, hàm lượng đạm, lân, kali từ trung bình đến khá, ít chua Ngoài ra, Bắc Ninh còn có đất xám bạc màu trên phù sa cổ
ở các huyện Yên Phong, Quế Võ, thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng mùn, lân đạm, kali nghèo [11]
Đặc điểm và tính chất của đất có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nguồn nước, nhất là nước ngầm Do nước trong tự nhiên luôn có sự vận động theo các vòng tuần hoàn nên nước mặt có quan hệ chặt chẽ với nước mưa khí quyển và nước ngầm,
Trang 30các dòng ngầm góp phần điều hòa chế độ nước của các dòng chảy trên mặt, do vậy tính chất của đất có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nước, ở các vùng thổ nhưỡng có chứa các chất nguy hại thì theo dòng ngầm chảy ra sông cũng làm cho nước sông bị ô nhiễm
Như vậy, nguồn nước chịu tác động của các yếu tố tự nhiên làm cho chất lượng
nước bị thay đổi, làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất và quá trình vận động của nước
3.1.1.5 Sinh vật
Trong địa bàn tỉnh có khoảng 528 loài thực vật bậc cao thuộc 396 chi 145 họ, gồm các loài cây bản địa và di cư từ vùng Hoa Nam - Trung Quốc, Ấn Độ, Malaixia, Indonexia sang Hệ động vật cũng khá phong phú và đa dạng với khoảng 25 loài thú,
99 loài chim, 41 loài bò sát, 21 loài lưỡng cư, 51 loài cá… ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn trồng các loại lương thực, rau màu, cây ăn quả và các loại cây công nghiệp hàng năm,và chăn nuôi các loài gia súc, gia cầm và thủy sản [17]
Trong các loài sinh vật thì sinh vật thủy sinh có ảnh hưởng lớn đến môi trường nước Các sinh vật sống trong nước thải ra các chất phế thải làm ô nhiễm nước, đặc biệt xác chết sinh vật phân hủy trong nước làm nước bốc mùi hôi thối gây ô nhiễm nguồn nước Việc nuôi, trồng các loài sinh vật cũng gây áp lực đến môi trường nước thông qua các hoạt động như tưới tiêu nước, vệ sinh chuồng trại…Tuy nhiên sinh vật sống trong nước cũng có vai trò phân hủy các chất thải, đặc biệt chất thải hữu cơ để làm sạch nước
3.1.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số và sự gia tăng dân số
Năm 2016, dân số Bắc Ninh là 1.153.600 người, chiếm 1,21% dân số cả nước
và đứng thứ 39/63 tỉnh, thành phố, trong đó nam 568.055 người và nữ 585.545 người; khu vực thành thị chiếm 28% dân số toàn tỉnh và khu vực nông chiếm 72% [7] Mật độ dân số 1.403 người/km2, gấp gần 5 lần mật độ dân số bình quân của cả nước và là địa phương có mật độ dân số cao thứ 3 trong số 63 tỉnh, thành phố, chỉ thấp hơn mật độ dân số của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Bắc Ninh có kết cấu dân số trẻ với nhóm tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi chiếm khoảng 64,9% tổng số dân Nhóm tuổi dưới 15 tuổi chiếm 25,26% tổng dân số còn nhóm trên 60 tuổi chiếm 9,8% Dân số đông, mật độ dân số cao, sự gia tăng dân số nhanh đã gây áp lực lớn lên nguồn nước vì nhu cầu nước cho phát triển nông nghiệp
để gia tăng lương thực thực phẩm, phát triển công nghiệp để gia tăng hàng hóa và gia
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tăng thêm nhiều hình thức dịch vụ Có thể nói dân số đông và sự gia tăng dân số nhanh
là nguyên nhân chính gây áp lực tới nguồn nước
3.1.2.2 Hoạt động nông nghiệp
Cây lương thực: dựa trên thế mạnh về đất phù sa màu mỡ, nguồn nước dồi dào, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên cây lương thực của tỉnh phát triển mạnh Năm 2017 diện tích trồng cây lương thực của tỉnh là 41.519 ha, trong cơ cấu cây lương thực, lúa gạo là cây lương thực chính, diện tích trồng lúa gạo là 39.217,9 ha trong năm 2017, sản lượng lúa gạo đạt 424.153 tấn, lúa gạo được trồng nhiều ở các huyện Quế Võ, Thuận Thành, Yên Phong, Lương Tài [17]
Ngành chăn nuôi được phát triển ở Bắc Ninh từ rất sớm cung cấp nhu cầu về thực phẩm cho người dân, cung cấp sức kéo và phân bón cho ngành trồng trọt Những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở thức ăn, dịch vụ về giống, thú y đã tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển mạnh mẽ theo hướng chuyên môn hóa, chăn nuôi công nghiệp Vật nuôi tiêu biểu là trâu với số lượng 2.456 con, nuôi nhiều ở Yên Phong, Quế Võ, Lương Tài, Tiên Du, Thuận Thành; bò 35.645 con, nuôi nhiều ở
các huyện Quế Võ, Gia Bình, Tiên Du, Yên Phong; lợn 381.544 con và gia cầm (chủ
yếu là gà) được nuôi rộng khắp với số lượng lớn
Ngành nuôi trồng thủy sản: Bắc Ninh có khoảng 5 nghìn ha diện tích mặt nước tại các ao, hồ, sông, đầm triều trũng thuận lợi để nuôi trồng thủy sản nước ngọt, các huyện có diện tích và sản lượng thủy sản nuôi trồng lớn là Quế Võ, Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành [17]
Các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp làm ảnh hưởng tới chất lượng nước phải kể đến là: sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu bệnh, dịch bệnh, vứt xác chết vật nuôi bừa bãi, chất thải của vật nuôi… Việc sử dụng một lượng lớn phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu bệnh cũng có ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước Trong các loại phân bón hóa học nông nghiệp có chứa hàm lượng Muối của nitơ và photpho là các chất dinh dưỡng đối với thực vật, nếu ở nồng độ thích hợp chúng tạo điều kiện cho cây cỏ, rong tảo phát triển Amoni, nitrat, photphat là các chất dinh dưỡng thường có mặt trong các nguồn nước tự nhiên, hoạt động sản xuất của con người như sử dụng quá nhiều phân bón đã làm gia tăng nồng độ các ion này trong nước tự nhiên Mặc dù không độc hại đối với người, song khi có mặt trong nước ở nồng độ tương đối lớn, cùng với nitơ, photphat sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng Với tình trạng sử dụng bừa bãi, tùy tiện các loại hóa chất trong nông nghiệp như phân bón, các loại thuốc kích hoạt phát triển cây… làm nhiều hệ thống kênh mương tưới tiêu nội đồng đã bị ô nhiễm nguồn nước và phát tán rộng
Trang 32Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm ở quy mô hộ gia đình hoặc trang trại tại các địa phương còn chưa có ý thức tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ thống xử lý chất thải nước thải, phần lớn cho vào ao hồ, bể tự hoại để thấm vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường Việc nuôi các bè cá, bè tôm trực tiếp trên các dòng nước mặt như sông, rạch đã làm ô nhiễm nguồn nước do một số nguyên nhân: thức ăn của cá dư thừa, sự khuấy động nguồn nước, sự cản trở lưu thông dòng mặt
3.1.2.3 Hoạt động công nghiệp
Bắc Ninh có điều kiện thuận lợi về vị trí giao thông, nguyên liệu nông nghiệp…
để phát triển ngành công nghiệp với cơ cấu ngành đa dạng Năm 2017 giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 1,049 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành) đứng thứ 2 cả nước sau thành phố Hồ Chí Minh [7]
Hiện nay, trên toàn tỉnh có 15 khu công nghiệp tập trung, 1 khu công nghệ thông tin và hơn 30 cụm công nghiệp, phân bố nhiều tại thành phố Bắc Ninh, huyện
Từ Sơn, Yên Phong, Quế Võ, Thuận Thành, Tiên Du, Gia Bình Hoạt động công nghiệp có sự tập trung theo hình thức phổ biến nhất là khu công nghiệp và cụm công nghiệp Công tác thu hút đầu tư được đẩy mạnh với cơ chế, giải pháp thông thoáng
Việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn dẫn đến nhu cầu về nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà còn phục vụ sinh hoạt cho một số lượng lớn công nhân từ nhiều vùng khác nhau tập trung về
Các chất thải công nghiệp như khối, bụi… tạo nên mưa axít không những làm thay đổi chất lượng nước ngọt, mà còn ảnh hưởng xấu đến đất và môi trường sinh thái Việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy, khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa được xử lý vào sông rạch, ao hồ gây ô nhiễm nước mặt Thậm chí có nơi còn cho nước thải chảy tràn trên mặt đất để tự thấm xuống đất hoặc đào các hố dưới đất để xả nước thải làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tầng nước dưới đất
* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
Qua quá trình tìm hiểu các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Ninh
có thể rút ra những nhận xét, đánh giá chính như sau:
Những thuận lợi
- Về điều kiện tự nhiên: nhìn chung tỉnh Bắc Ninh có những điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp trong đó có phát triển chăn nuôi, cụ thể là:
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Khí hậu ôn hòa, ít biến động, ít có những kiểu thời tiết cực đoan, thiên tai bão
lũ đây là điều kiện thuận lợi cho các loại vật nuôi sinh trưởng, phát triển tốt và cũng đảm bảo cho người dân có thể yên tâm phát triển chăn nuôi lâu dài
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản cần thiết cho phát triển chăn nuôi như diện tích đất nông nghiệp lớn, nguồn nước dồi dào cộng với lịch sử phát triển nông nghiệp lâu đời là những yếu tố quan trọng bảo đảm cho chăn nuôi phát triển tốt
Vị trí địa lý của tỉnh khá thuận lợi có thể dễ dàng đi lại với các vùng lân cận đây
là điều kiện thuận lợi để trao đổi, buôn bán các sản phẩm chăn nuôi và phát triển thị trường tiêu thụ
- Về mặt kinh tế: trong những năm qua kinh tế của tỉnh Bắc Ninh phát triển
nhanh, tương đối ổn định Nền kinh tế có hướng chuyển dịch làm tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Đây là hướng chuyển dịch tích cực phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định tạo ra tiềm lực lớn về tài chính cho tỉnh để phát triển các lĩnh vực khác như y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao… Đồng thời nâng cao
chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn
Mặt khác sự phát triển mạnh của quá trình công nghiệp hóa đã tác động lớn tới
sự chuyển biến trong sản xuất nông nghiệp Xu hướng phát triển nông nghiệp theo quy
mô lớn nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng gia tăng Đây là động lực để cho chăn nuôi phát triển theo quy mô lớn tại các trang trại tập trung
- Về mặt xã hội: nhờ hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật khá đầy đủ, có chất lượng
tương đối tốt nên trong những năm qua các công tác xã hội như: y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao trên địa bàn tỉnh luôn được bảo đảm Nhờ đó mà đời sống văn hóa, tinh thần, sức khỏe của người dân trên địa bàn tỉnh được bảo đảm Chất lượng cuộc sống của nhân dân ngày một được nâng cao
Những khó khăn
- Về mặt điều kiện tự nhiên: ít nguồn tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản, tài
nguyên rừng… điều này gây ra những hạn chế nhất định cho việc phát triển công nghiệp
trên địa bàn tỉnh do phải phụ thuộc vào các nguồn nguyên, nhiên liệu từ bên ngoài
Đối với nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất do phân bố không đồng đều giữa mùa mưa và mùa khô nên việc khai thác và sử dụng tài nguyên nước của tỉnh còn nhiều hạn chế Vì vậy, để bảo đảm đủ nước cho sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn tỉnh thì việc điều tiết nước hợp lý là vô cùng quan trọng
Trang 34- Về mặt kinh tế: mặc dù trong những năm qua kinh tế của tỉnh có tốc độ tăng
trưởng nhanh và tương đối ổn định, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế chuyển dần sang hướng công nghiệp song tỉnh vẫn gặp phải những khó khăn như các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh gặp khó khăn do chịu tác động của suy thoái kinh tế, thiếu vốn đầu tư dẫn đến tình trạng sản xuất bị hạn chế, chưa phát huy hết
được hiệu quả như mong muốn
- Về mặt xã hội: mặc dù lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh tương đối dồi dào
song vẫn tập trung chủ yếu ở lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Số lượng lao động qua
đào tạo nghề còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường
Kinh tế phát triển góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân song cũng kéo theo nhiều các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, nghiện ngập, trộm cắp, mại dâm… gây ra những khó khăn nhất định trong việc bảo đảm an ninh và chật tự xã hội
Việc du nhập các văn hóa xấu, kém lành mạnh vào tỉnh trong những năm qua
đã tác động tới một bộ phận lớn lớp thanh niên trẻ trên địa bàn tỉnh dẫn đến hình thành lối sống lệch lạc, buông thả và vô trách nhiệm trong một bộ phận thanh thiếu niên Vấn đề này cần phải có những biện pháp quản lý và ngăn chặn kịp thời để tránh những tác động xấu không mong muốn
3.2 Thực trạng công tác chăn nuôi lợn tại một số trang trại tại tỉnh Bắc Ninh
3.2.1 Số lượng trang trại chăn nuôi lợn tại khu vực nghiên cứu
Theo thống kê của Chi cục Chăn nuôi và Thú y đến hết năm 2017, toàn tỉnh hiện có khoảng 134 trang trại chăn nuôi (tiêu chí theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT, ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) Số lượng trang trại chăn nuôi lợn ở một số huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh được thể hiện qua bảng 3.1
Bảng 3.1: Thông kê số lượng trang trại chăn nuôi lợn ở một số huyện trên địa bàn
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hình 3.2: Biểu đồ biểu diễn sự biến thiên theo thời gian về số trang trại chăn nuôi
lợn ở một số huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Qua hình 3.2 cho thấy số lượng trang trại trên địa bàn tỉnh tăng lên qua các năm (so với 2016 tăng 6,3%) Số trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Gia Bình và thị xã Từ Sơn đều là 24 trang trại trong khi đó huyện Quế Võ có số lượng trang trại lợn thấp hơn với chỉ 4 trang trại, tuy nhiên đây lại là khu vực có số lượng lợn khá lớn vì phần lớn người dân ở huyện Quế Võ chăn nuôi lợn theo hình thức gia trại, trang trại quy mô vừa
và nhỏ, chỉ riêng xã Nhân Hòa thuộc huyện Quế Võ đã có tới 45 gia trai chăn nuôi lợn
3.2.2 Quy mô chăn nuôi tại một số trang trại trên địa bàn nghiên cứu
Quy mô chăn nuôi tại một số trang trại lợn được thể hiện qua bảng 3.2
Bảng 3.2: Thống kê số lượng lợn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh