1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề an ninh lương thực tại huyện phổ yên tỉnh thái nguyên

108 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề An Ninh Lương Thực Tại Huyện Phổ Yên - Tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Dương Thanh Sơn
Người hướng dẫn PGS.TS. Đỗ Thị Bắc
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về ANLT được Tổ chức Lương - Nông Liên Hiệp Quốc FAO đưa ra vào thập niên 80 của thế kỷ trước với ba nội dung để một nước được cho là bảo đảm an ninh lương thực: 1 Có đủ lương

Trang 1

-

DƯƠNG THANH SƠN

VẤN ĐỀ AN NINH LƯƠNG THỰC TẠI HUYỆN PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn thạc sỹ “Vấn đề an ninh lương thực tại huyện Phổ Yên - tỉnh

Thái Nguyên”, chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, mã số 60-31-10, đây là

công trình của riêng tôi Luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc

Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu và kết quả nghiên cứu đã được nêu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào hoặc chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả luận văn

Dương Thanh Sơn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Vấn đề an ninh lương thực tại huyện

Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên”, tôi nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động

viên, của nhiều cá nhân và tập thể, tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Nhà trường , phòng quản lý Đào tạo Sau đại học trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Bắc

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, của các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo trong trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên cùng các đơn vị khác

Để hoàn thành được đề tài, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ và cộng tác của UBND huyện Phổ Yên, UBND các xã thị trấn Ba Hàng , Đắc Sơn, Hồng Tiến ,các cán bộ kỹ thuật, các hộ nông dân trên địa bàn trong huyện

Tôi xin cảm ơn bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi thực hiện tốt bản luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Tác giả luận văn

Dương Thanh Sơn

Trang 4

MỤC LỤC Trang

Trang phụ bìa

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ AN NINH

LƯƠNG THỰC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5

1.1.7 Tình hình an ninh lương thực của một số nước trên thế giới và 16

Trang 5

ở Việt Nam

1.1.7.1 Tình hình an ninh lương thực của một số nước trên thế giới 16

Chương II: THỰC TRẠNG AN NINH LƯƠNG THỰC TẠI

HUYỆN PHỔ YÊN

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực huyện Phổ Yên 30

Trang 6

2.1.3.4 Y tế 41

2.1.7 Đánh giá chung về các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh lương

thực của huyện Phổ Yên

51

2.2.4.2 Những trở ngại, khó khăn và thách thức ảnh hưởng tới an ninh

lương thực ở huyện Phổ Yên

64

Chương III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM

BẢO ĐẢM AN NINH LƯƠNG THỰC HUYỆN PHỔ YÊN

66

3.2 Những căn cứ , định hướng và mục tiêu chủ yếu nhằm đảm bảo

Trang 7

3.2.2.1 Định hướng chung nhằm đảm bảo anh ninh lương thực 69

3.3.1.1 Dự kiến thu nhập của người dân huyện Phổ Yên trong tương lai 73

3.3.1.3 Dự kiến tiêu dùng lương thực và tổng tổng nhu cầu tiêu dùng

lương thực của huyện Phổ Yên

75

3.3.4 Nâng cao hiệu quả sản xuất lúa nhằm đảm bảo an ninh lương

thực

79

3.4.5 Phát triển thị trường tiêu thụ lương thực nhằm đảm bảo an ninh

3.4.8 Đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn nhằm đảm bảo an ninh lương thực 82

3.4.10 Nâng cao nhận thức của người dân nói chung và nông dân

nói riêng về an ninh lương thực

84

3.4.11 Vận dụng tốt các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm bảo đảm an ninh lương thực tại huyện Phổ Yên

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

IMF international monetary Fund (Quỹ tiền tệ

quốc tế)

WFP World Food Program (Chương trình lương

thực thế giới)

WTO World Trade Organization

WHO World Health Organization

Institute

(chương trình phát triển liên hợp quốc)

Countries (Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa)

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Diện tích, sản lượng lương thực có hạt ở Thái Nguyên từ 2009 - 2011

26

Bảng 2.3: Tình hình nhân khẩu và lao động huyện Phổ Yên năm 2009 - 2011

38 Bảng 2.4: Cơ cấu chuyển dịch kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp

46 Bảng 2.5:

Giá trị sản xuất, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp huyện Phổ Yên giai đoạn 2009 - 2011 (Theo

Bảng 2.6: Các chỉ tiêu đánh giá mức sống dân cư tại huyện Phổ Yên giai đoạn 2009 - 2011

49 Bảng 2.7: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa cả năm của huyện Phổ Yên qua 3 năm

53

Bảng 2.11: Cân đối cung cầu về lương thực lúa của huyện Phổ Yên năm 2011

59 Bảng 2.12: Khối lượng tiêu dùng gạo bình quân 1 người/1 tháng (Đơn vị tính kg)

61 Bảng 2.13

Thu nhập và tổng nhu cầu tiêu dùng lương thực (gạo) bình quân một nhân khẩu/ năm tại các điểm điều tra

Bảng 3.1 Dự kiến thu nhập bình quân 1 nhân khẩu 1 năm huyện Phổ Yên

74

Bảng 3.3 Dự kiến tiêu dùng lương thực bình quân/ đầu người/năm của huyện Phổ Yên

Trang 10

Biểu phụ 2 Biểu đồ phân tích hồi quy về d â n s ố h u y ệ n P h ổ

Biểu phụ 3 Biểu đồ phân tích hồi quy về tiêu dùng lương thực huyện Phổ Yên 94

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để tồn tại và phát triển, con người cần phải có lương thực, thực phẩm

để tiêu dùng, trong đó nhu cầu tiêu thụ lương thực là cơ bản nhất Với dân số ngày càng tăng trên thế giới (đặc biệt ở các quốc gia Châu Á, Châu Phi, Mỹ

La Tinh,…), nhu cầu về lương thực không ngừng tăng lên, trong khi diện tích canh tác lương thực trên thế giới đang có xu hướng bị thu hẹp Đây là một thách thức lớn đối với vấn đề an ninh lương thực toàn cầu

Với quy mô diện tích đất lúa ở nước ta như hiện nay và khả năng áp dụng khoa học công nghệ để tăng năng suất lúa nhằm hướng tới sản lượng lúa 40 triệu tấn/năm là khả thi Tuy nhiên, mức sản lượng này chỉ bảo đảm cho an ninh lương thực khoảng 100 triệu dân Nếu dân số tiếp tục gia tăng, kèm theo đó diện tích đất trồng lúa giảm thì sẽ có nguy cơ mất cân đối an ninh lương thực

An ninh lương thực (ANLT) cần được hiểu và phải bao gồm: Đủ lương

thực cho xã hội để không ai bị đói; người làm ra lương thực không bị nghèo

đi, dù là nghèo đi một cách tương đối so với mặt bằng xã hội Trong nhiều thập kỷ qua, an ninh lương thực luôn là vấn đề bức xúc của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Tìm kiếm giải pháp đảm bảo ANLT cho tất cả mọi người không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia nghèo mà nó đã trở thành vấn đề thời sự mang tính toàn cầu Nhiều sách báo, nhiều tổ chức và cá nhân, nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế

đã thường xuyên đề cập và thảo luận về chương trình ANLT quốc gia và toàn cầu Từ đó họ đã rút ra một kết luận hết sức có ý nghĩa đó là: giải quyết kịp thời vấn đề lương thực là trung tâm của mọi cố gắng hiện nay để phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững

ANLT ở nước ta đang được thiết lập và đã đạt được những thành công

to lớn trên nhiều mục tiêu Tuy nhiên, vấn đề ANLT quốc gia của Việt Nam đang đứng trước những áp lực của việc tăng dân số (dự báo năm 2020 đạt khoảng 100 triệu người và 110- 120 triệu người sau năm 2030) và biến đổi

Trang 12

khí hậu Đặc biệt, biến đổi khí hậu được dự báo là sẽ tác động nặng nề đến Việt Nam và ảnh hưởng đến an ninh lương thực Việc đảm bảo ANLT vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là khả năng tiếp cận lương thực của mọi tầng lớp dân

cư còn thấp và không đồng đều Do khả năng tiếp cận lương thực của các hộ gia đình còn hạn chế nên trên thực tế hiện nay tại Việt Nam vẫn còn trên 12%

hộ nghèo và khoảng 18% trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng Mức tiêu dùng bình quân nhiều loại thực phẩm còn thấp so với thế giới Một bộ phận dân cư

có mức tiêu dùng lương thực, thực phẩm quá thấp (dưới 2100 kcal/ngày), bấp bênh và có sự chênh lệch giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn

Có thể nói ANLT hiện nay đã trở thành yêu cầu mang tính pháp lý của mỗi quốc gia, Việt Nam cũng không thể nằm ngoài vần đề này trong quá trình thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Có thực mới vực được đạo, sự đúc kết kinh nghiệm đó cho thấy giữ được an ninh về lương thực đảm bảo được an sinh xã hội sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển, sản xuất, kinh doanh, vượt qua mọi khó khăn, thách thức trước mắt tiếp tục đưa nền kinh tế trong đó có sản xuất lương thực phát triển ổn định, bền vững

Phổ Yên là huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên có tổng quỹ đất có

25.667,6 ha trong đó đất dùng cho nông nghiệp đạt 12.000 ha - 12.800 ha, có

nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp và phát triển sản xuất lúa Trong nhiều năm qua và gần đây vấn đề ANLT của huyện đã có bước phát triển, nhưng cơ bản ANLT chưa ổn định, còn nhiều bất cập, cần phải giải quyết Vậy thực trạng ANLT của huyện như thế nào? Vị trí, vai trò của nó? Sự phát triển đó có bền vững và có hiệu quả không? Đây là những vấn đề cấp thiết đặt

ra cần phải được nghiên cứu, đánh giá một cách đúng đắn Cần phải xem cái

gì đã đạt được, cái gì chưa đạt, cái gì mạnh, cái gì yếu, để từ đó có các giải pháp hữu hiệu phát huy các thế mạnh và hạn chế những mặt yếu nhằm đảm bảo ANLT của huyện Phổ Yên ổn định và bền vững

Trang 13

Xuất phát từ đó tôi lựa chọn đề tài: “Vấn đề an ninh lương thực tại

huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu với mục tiêu nhằm

góp phần đảm bảo ANLT bền vững góp phần phát triển kinh tế - xã hội huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu bao trùm của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng ANLT của huyện Phổ Yên , đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo an ninh lương thực tại huyện Phổ Yên , góp phần giúp huyện thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá về cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề an ninh lương thực

- Phân tích, đánh giá thực trạng ANLT trên địa bàn huyện Phổ Yên giai đoạn 2009 - 2011

- Đề ra định hướng và những giải pháp nhằm đảm bảo ANLT trên địa bàn huyện Phổ Yên trong thời gian tới

3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về ANLT huyện Phổ yên, người dân nông thôn , các hộ, cộng đồng và các vùng trên địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian : Đề tài thực hiện trên địa bàn huyện Phổ Yên , tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi về thời gian: Số liệu từ năm 2009 - 2011

- Phạm vi về nội dung : Nội dung nghiên cứu về an ninh lương thực là rất rộng, vì vậy đề tài tập trung nghiên cứu về sản xuất lúa, chế biến lúa, cung ứng các sản phẩm vật tư nông nghiệp cho đến việc lưu thông hàng hóa lúa…

Trang 14

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Luận văn là công trình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực , là tài liệu giúp huyện Phổ Yên các vấn đề về quy hoạch , kế hoạch nhằm đảm bảo

an ninh lương thực đến năm 2015 có cơ sở khoa học

- Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống một số giải pháp

Nguyên, có ý nghĩa thiết thực cho quá trình đảm bảo an ninh lương thực cho huyện Phổ Yên và đối với các địa phương có điều kiện tương tự

5 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận ra , luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về an ninh lương thực và phương pháp nghiên cứu

Chương II: Thực trạng an ninh lương thực huyện Phổ Yên , tỉnh Thái Nguyên

Chương III: Định hướng và một số giải pháp nhằm đảm bảo an ninh lương thực huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Trang 15

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ AN NINH LƯƠNG

THỰC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Một số lý luận về an ninh lương thực

1.1.1 Khái niệm về an ninh lương thực

An ninh lương thực là khái niệm linh hoạt, được thể hiện khác nhau trong nhiều định nghĩa của các nghiên cứu và chính sách Ngay cả một thập

kỷ trước thì cũng đã có đến khoảng 200 định nghĩa trong các bài viết được xuất bản (Maxwell & Smith, 1992) Vì thế khái niệm này được diễn giải theo nhiều cách khác nhau Maxwell (1996) cho rằng bất cứ khi nào quan niệm này được đề cập đến trong tiêu đề của một nghiên cứu thì nên đưa ra các định nghĩa rõ ràng hoặc ngầm định cho sát với thực tế

Khái niệm về ANLT được Tổ chức Lương - Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) đưa ra vào thập niên 80 của thế kỷ trước với ba nội dung để một nước được cho là bảo đảm an ninh lương thực: (1) Có đủ lương thực cho cả nước, (2) Có khả năng cung cấp lương thực ổn định và điều hòa cho mọi người đang sống trên lãnh thổ và (3) tất cả mọi người dân có đủ khả năng mua lương thực khi cần Ba nội dung này đã được Ủy ban An toàn lương thực thế giới và Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên Hiệp Quốc thừa nhận sau một thời gian dài tranh cãi vì nhận thấy đây là những yêu cầu khắc nghiệt

Hội nghị thượng đỉnh lương thực thế giới năm 1974 định nghĩa an ninh lương thực là: “lúc nào cũng có đủ nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cơ bản của thế giới để đảm bảo việc tiêu dùng lương thực, thực phẩm ngày một nhiều hơn và để bù đắp được những biến động trong sản xuất và giá cả” (UN, 1975) Năm 1983, FAO mở rộng quan niệm này để tính thêm cả việc đảm bảo cho những người dễ bị tổn thương tiếp cận được với các nguồn cung cấp sẵn

có, hàm ý rằng cần phải quan tâm đến sự cân bằng giữa cầu và cung trong phương trình an ninh lương thực: “đảm bảo tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý và kinh tế đối với nguồn lương thực mà họ cần” Sau

Trang 16

đó, Báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) năm 1986 với tiêu đề “Đói nghèo”

đã tập trung vào tính linh hoạt theo thời gian của mất an ninh lương thực Báo cáo này đã đưa ra sự phân biệt giữa mất an ninh lương thực kinh niên, gắn liền với các vấn đề về nghèo khổ lâu năm hoặc nghèo khổ cơ cấu và thu nhập thấp

và mất an ninh lương thực đang chuyển đổi liên quan đến các giai đoạn khi thảm hoạ thiên nhiên, kinh tế sụp đổ hoặc xung đột gây ra các sức ép lớn; và điều này đã được chấp thuận rộng rãi Quan niệm về an ninh lương thực được

cụ thể hoá hơn theo nghĩa: “tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được với đủ lương thực, thực phẩm để đảm bảo một cuộc sống khoẻ mạnh và năng động.”

Hội nghị lương thực thế giới năm 1996 sử dụng một khái niệm thậm chí còn phức tạp hơn: “an ninh lương thực ở các cấp độ cá nhân, gia đình, khu vực và toàn cầu đạt được khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng, để đáp ứng nhu cầu bữa ăn và sở thích đối với thức ăn, nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh” (FAO, 1996)

Báo cáo về tình hình mất an ninh lương thực năm 2001 đã chỉnh sửa lại quan niệm này như sau: “An ninh lương thực là tình trạng khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý, xã hội và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu bữa ăn và sở thích đối với thức ăn nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh”

Tóm lại, an ninh lương thực là khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp

cận được về mặt vật lý, xã hội và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ,

an toàn và đảm bảo dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu ăn uống và khẩu vị thức ăn nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh Mặc dù trong nhiều năm an ninh lương thực được xem là vấn đề của một số nước đang phát triển song gần đây nó đã trở thành mối quan tâm toàn cầu Thay đổi khí hậu nhanh chóng, nguy cơ khủng hoảng nguồn nước và nhu cầu

Trang 17

ngày càng lớn đối với nguồn thịt gia súc, gia cầm và năng lượng sinh học đang tạo ra những bất ổn mới đối với đảm bảo nguồn lương thực cho nền kinh tế toàn cầu (AusAid, 2008)

1.1.2 Vị trí, vai trò của an ninh lương thực

Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh vị trí của lúa gạo Việt Nam: Lúa gạo đóng vai trò quyết định vấn đề cung cấp lương thực cho cả nước và do đó chi phối sâu sắc sự phát triển kinh tế quốc dân Từ đó, Chính phủ đã đề ra các chính sách phát triển nông nghiệp nói chung và lúa gạo nói riêng, như: Chính sách đầu tư vật chất kỹ thuật thích đáng về thuỷ lợi, giống lúa, thâm canh, quảng canh lúa qua từng thời kỳ

An ninh lương thực đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh của cong người ANLT đảm bảo cho người dân có đủ lương thực để dùng trong một thời gian dài Một nền kinh tế

có ANLT tốt nghĩa là người dân sống trong đó không còn phải lo về việc thiếu lương thực hay không đủ khả năng để mua lương thực khi cần thiết Đặc biệt trong quá trình đô thị hóa đang diễn ra rất nhanh ở các nước đang phát triển cùng với việc sử dụng lúa gạo vào những mục đích khác nhau thì vấn đề ANLT ngày càng được quan tâm hơn bao giờ hết Theo ông Jean Ziegler, một đại diện của Liên Hợp Quốc nhận xét: “ việc dùng cây lương thực để sản xuất khối lượng lớn nhiên liệu sinh học là một tội ác vì nó tác động trực tiếp tới giá lương thực trên toàn cầu, đe doạ cuộc sống của hàng triệu người” Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng gạo làm lương thực để dự trữ Số lượng gạo

dự trữ này hàng năm đều tăng do vấn đề tăng dân số Khi gặp sự cố bất ngờ như thiên tai bão lũ mùa màng thất bát thì Chính Phủ các nước sẽ sử dụng dến

lượng lương thực dự trữ này cứu trợ nhân dân

Đảm bảo ANLT sẽ giúp cho mọi người đều được tiếp cận với lương thực Một quốc gia có phát triển bền vững hay không thì trước tiên quốc gia

đó phải có một nền chính trị ổn định, một nên kinh tế phát triển và một nền văn hoá đặc trưng phù hợp… nhưng để có được điều đó thì trước tiên quốc

Trang 18

gia đó phải duy trì cuộc sống của các công dân trên lãnh thổ của mình để thực hiện các công việc, duy trì sự hoạt động của cả quốc gia vì vậy muốn duy trì được điều đó đòi hỏi các quốc gia sẽ phải quan tâm đến đời sống của các công dân về mọi mặt như ăn, uống, ở, mặc, đi lại… để họ yên tâm làm việc và giúp quốc gia đó phát triển

Đảm bảo ANLT sẽ có vai trò hết sức quan trọng, nó sẽ giúp cho mọi người đều được tiếp cận với lương thực Ở mỗi vùng khác nhau thì việc tiếp cận lương thực lại theo các hướng khác nhau, như ở thành thị không sản xuất được lương thực thì hướng tiếp cận là mua bán, trao đổi (thương mại), còn ở các vùng như nông thôn sản xuất được lương thực nên việc tiếp cận với lương thực sẽ theo hướng tự cung, tự cấp Các vùng núi, vùng sâu, vùng xa vừa sản xuất tự cung tự cấp, vừa thương mại trao đổi lương thực do ở khu vực này sản xuất lương thực có năng suất thấp, diện tích gieo trồng ít, kỹ thuật canh tác thấp kém, đi lại khó khăn nên tình trạng thiếu lương thực thường xuyên xẩy ra gây nên tình trạng đói về lương thực Điều này càng thể hiện rõ vai trò của việc đảm bảo an ninh lương thực, nó không chỉ giúp người dân tiếp cận được với lương thực ở mọi lúc, mọi nơi mà nó còn góp phần ổn định về chính trị và kinh tế… quan trọng hơn là đảm bảo cuộc sống cho người dân giúp người dân duy trì cuộc sống và yên tâm hơn để có thể làm việc và giúp thoát khỏi nghèo đói

Đảm bảo ANLT sẽ giúp cho các quốc gia đối phó được với các biến động đột xuất như là thiên tai, hạn hán, chiến tranh, xung đột Trong thực tế,

từ xưa đến nay nếu như quốc gia nào không đảm bảo được ANLT khi xảy ra những biến động đột ngột sẽ không thể nào mà đói phó kịp sẽ gây nên những

sự bất ổn về mọi mặt, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến diệt vong của quốc gia Ví dụ đơn thuần như việc đột nhiên xảy ra chiến tranh mà quốc gia đó không đảm bảo an ninh lương thực, không dự trữ được lương thực thì sẽ không đáp ứng được lương thực cho người dân, cho binh lính sẽ dẫn đến lòng dân không yên, binh lính không chiến đấu được … Còn nếu như đột biến xảy

Trang 19

ra bão lũ mà việc đảm bảo ANLT không kịp thời có thể dẫn đến nạn đói và có thể làm cho nhiều người chết vì đói khi bão lũ kéo dài mà không được sự trợ giúp của Chính phủ vì thế Chính Phủ phải đảm bao ANLT để đáp ứng mọi tình huống xẩy ra

Đảm bảo ANLT giúp cân bằng cung cầu thị trường lương thực, ổn định giá cả Trên thực tế hiện nay cung cầu lương thực ít biến động do các quốc gia đều có các phương pháp và chính sách đảm bảo ANLT cho quốc gia mình, trừ một số quốc gia ở Châu Phi, ở đây chúng ta muốn nói đến vai trò quan trọng của việc đảm bảo ANLT đó chính là việc điều tiết cung cầu lương thực giữa các quốc gia, giữa các vùng Nhờ có đảm bảo ANLT với những chính sách và chiến lược hợp lý nên lương thực đã đến và đảm bảo, ít xảy ra biến động về cung cầu cũng như giá cả lương thực giúp cho người dân sử dụng lương thực yên tâm hơn và tích cực làm việc, giúp cho các quốc gia, các vùng phát triển một cách bền vững và ổn định

Đảm bảo ANLT nhằm thực hiện nhanh quá trình xoá đói giảm nghèo Trên thế giới hiện nay vấn đề nghèo đói vẫn đang là vấn đề nóng bỏng, đặc biệt là các quốc gia phát triển với tỷ lệ nghèo còn cao và đòi hỏi các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế đất nước phải tìm mọi cách để giảm nghèo, giảm dần khoảng cách giữa các vùng Ở Việt Nam, hiện nay trong quá trình xoá đói giảm nghèo của mình thì việc giải quyết đầu tiên đó chính là giảm nhanh vấn đề nghèo về lương thực, thực phẩm để giải quyết vấn đề ăn cho nhân dân, để họ yên tâm làm việc và thực hiện nhiệm vụ của mình, thúc đẩy nhanh quá trình xoá đói giảm nghèo

Đảm bảo ANLT cấp cơ sở tạo điều kiện để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn khi đảm bảo ANLT thì chúng ta phải làm từ cấp cơ sở, bởi lẽ đối tượng để chúng ta tác động chính là nông dân và họ đều sinh sống ở nông thôn và họ sản xuất nông nghiệp là chính, vì vậy đảm bảo được ANLT cấp cơ sở sẽ tạo điều kiện để chuyển đổi và phát triển kinh tế ở nông thôn, khi đảm bảo ANLT chúng ta

Trang 20

thực hiện sản xuất lương thực, đặc biệt là thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và nó sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao, có đủ lương thực đảm bảo cho người dân có lương thực để dùng và có thể đem bán và sẽ tăng thu nhập, cải thiện đời sống, tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội, và thực hiện chiến lược công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn Đảm bảo ANLT cấp cơ

sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nông thôn nói riêng và phát triển đất nước nói chung, nó sẽ đảm bảo sự ổn định, sự bền vững khi đất nước ta tiến lên xã hội chủ nghĩa [10]

* Vai trò của cây lúa đối với an ninh lương thực

Lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu bao gồm lúa mì, ngô và lúa gạo Trong lúa gạo có đầy đủ các chất dinh dưỡng như các cây lương thực

khác, ngoài ra còn có các Vitamin nhóm B và một số thành phần khác

- Về tinh bột: Là nguồn cung cấp chủ yếu Calo Giá trị nhiệt lượng của lúa là 3594 Calo/g, trong đó hàm lượng amyloza trong hạt quyết định đến độ dẻo của gạo Hàm lượng amyloza ở lúa gạo Việt nam thay đổi từ 18 - 45% đặc biệt có giống lên tới 54%

- Prôtêin: Chiếm 6 - 8% thấp hơn so với lúa mỳ và các loại cây khác Giống lúa có hàm lượng prôtêin cao nhất là 12,84% và thấp nhất là 5,25% Phần lớn các giống Việt nam nằm vào khoảng 7 -8%

- Lipít: Ở lúa lipít thuộc loại trung bình, phân bố chủ yếu ở lớp vỏ gạo

- Vitamin: Trong lúa gạo còn có một số vitamin nhóm B như B1, B2, B6…Vitamin B1 là 0,45 mg/100hạt Từ những đặc điểm của cây lúa và giá trị của nó, lúa gạo được coi là nguồn thực phẩm, dược phẩm có giá trị và được tổ chức dinh dưỡng quốc tế gọi là "Hạt gạo là hạt của sự sống"

Với giá trị dinh dưỡng của hạt kết hợp với việc chọn tạo giống có năng suất cao, phẩm chất tốt thì lúa gạo ngoài việc sử dụng hàm lượng lương thực

là chủ yếu thì các sản phẩm phụ của lúa còn sử dụng rất nhiều trong các lĩnh vực khác nhau [22]

Trang 21

1.1.3 Đặc điểm về đảm bảo an ninh lương thực ở nước ta

Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên sản xuất lương thực của nước ta có tính chất vùng rõ rệt nên việc đảm bảo ANLT cũng sẽ có tính chất vùng Việc đảm bảo ANLT ở mỗi vùng khác nhau là khác nhau, do ở mỗi vùng có các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau Đảm bảo ANLT không chỉ là việc đảm bảo cho người dân đủ ăn, phải lo cho họ khi họ thiếu ăn

mà việc quan trọng là với những điều kiện của mỗi vùng thì phải có các chiến lược, chính sách cụ thể hợp lý để họ tự cung, tự cấp hay nói cách khác là họ

tự đảm bảo lương thực cho mình nhằm duy trì cuộc sống Chúng ta đảm bảo ANLT đối với những vùng cụ thể sẽ phải có các công cụ cụ thể nhằm đảm bảo ANLT tốt nhất, ít công nhất và rẻ nhất, chẳng hạn như một vùng nào đó sản xuất lúa gạo không hiệu quả tất yếu xảy ra lương thực không đủ ăn, bị đói nhưng chính sách lại không phù hợp vẫn cứ bắt họ phải cấy lúa, vậy thì tình trạng đói là đương nhiên Với tình huống cụ thể này thì ta phải có phương pháp để giải quyết như chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đổi hướng sang trồng cây khác có hiệu quả hơn, kinh tế hơn, chuyển sang chăn nuôi Như vậy không chỉ đảm bảo được ANLT mà còn giúp cho người dân thoát được cảnh nghèo đói truyền kiếp

Do thu nhập giữa các vùng, các địa phương là khác nhau và có sự chênh lệch nên đảm bảo ANLT đói với từng vùng, từng địa phương đối tượng

là khác nhau

Khu vực thành thị thu nhập cao, việc đảm bảo ANLT không còn là việc đảm bảo vấn đề ăn về số lượng nà còn đảm bảo ANLT còn phải là cả về số lượng, chất lượng, mẫu mã và văn hoá, đảm bảo về dinh dưỡng, đảm bảo ANLT ở trình độ cao

Khu vực nông thôn, đồng bằng có thu nhập thấp nhưng ở khu vực này lại sản xuất được nhiều lương thực nên vấn đề đói về lương thực cũng không đáng quan tâm vì thế đảm bảo ANLT ở khu vực này tiến dần tới tăng thu

Trang 22

nhập cho họ, sử dụng lương thực chất lượng, có dinh dưỡng cao và sử dụng lương thực sạch, huy động dự trữ phòng trừ các tình huống xảy ra

Vùng núi, vùng sâu, vùng xa, có thu nhập thấp, đói về lương thực xẩy ra thường xuyên nên cần phải đảm bảo ANLT trước tiên là về số lượng, giúp họ có lương thực để duy trì cuộc sống và tích cực thoát nghèo,

tự lo được cho mình

Việt Nam nằm trong miền nhiệt đới gió mùa nên đảm bảo ANLT có đặc điểm là đảm bảo ANLT với các biến động đột xuất do những yếu tố khách quan đem lại như hạn hán, lũ lụt, mất mùa… Thực tế cho thấy ở Việt Nam thời tiết luôn biến động thất thường mưa, bão, lũ, hạn hán thường xuyên xẩy ra nên trong chương trình đảm bảo ANLT của Việt Nam luôn quan tâm tới tình huống này nhằm đáp ứng lương thực kịp thời cho người dân khi xẩy

ra các tình huống đột suất từ đó nhằm ổn định về kinh tế, chính trị đất nước, đưa đất nước phát triển bền vững [11]

1.1.4 Hệ lụy từ mất an ninh lương thực

Theo số liệu do Liên hợp quốc công bố ngày 16-10-2010 trên thế giới

có khoảng 1 tỷ người thiếu ăn Còn theo FAO số người đói là 925 triệu, 2/3 số người đói tập trung ở bảy quốc gia là Bangladesh, Trung Quốc, Congo, Ethiopia, Ấn Độ, Indonesia và Pakistan Khu vực có số người đói nhiều nhất

là châu Á - Thái Bình Dương với 578 triệu người Tỷ lệ người đói cao nhất ở khu vực tiểu vùng Sahara châu Phi, chiếm 30% trong năm 2010 (239 triệu)

Cũng theo đánh giá của FAO, giá lương thực leo thang là thủ phạm gây nên nhiều cuộc khủng hoảng chính trị trên thế giới FAO cảnh báo rằng, sự tăng đột biến giá cả có thể là một mối đe dọa chính trị đối với an ninh lương thực cho người nghèo ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Theo cảnh báo đầu tháng 1 của Olivier de Schutter, chuyên gia Liên hợp quốc về lương thực, đã bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng lương thực trên quy mô toàn cầu giống như năm 2008

Trang 23

Theo Olivier de Schutter, hiện nay có khoảng 80 quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực Những khu vực bị đe dọa nhiều nhất là Bắc và Trung Phi, tiếp đó là châu Á như: Afghanistan, Mông

Cổ, Triều Tiên

Chủ tịch Ngân hàng thế giới (WB) Robert Zoellick khẳng định, sự nghèo đói đang tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn tại 37 quốc gia trên thế giới Quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất do giá lương thực leo thang là Ai Cập Làn sóng biểu tình chống tăng giá đã dẫn đến sự ra đi của Tổng thống Mubanrak sau 31 năm cầm quyền Tại Mozambique, sau khi chính phủ quyết định tăng giá bánh mì lên 30%, nhiên liệu lên 17%, cũng dẫn đến bạo động bùng nổ làm hàng trăm người bị thương và bị chết, hơn 400 người bị bắt giữ

Nhà kinh tế học Abdolreza Abbassian của FAO dự báo, trong tương lai gần có thể xảy ra nhiều vụ bạo động vì tăng giá do khan hiếm lương thực ở các nước kém phát triển, nhất là ở châu Phi và Trung Đông vốn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu lương thực, thực phẩm Mặt khác, tình trạng thiếu lương thực càng trở nên nghiêm trọng hơn đối với các quốc gia phải nhập nhẩu lương thực, nhưng lại thiếu ngoại tệ

Như vậy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực, nhưng theo FAO thì biến đổi khí hậu là nguyên nhân chính làm sản lượng lương thực giảm và kéo theo các hệ lụy khác Vì thế, các nước cần có giải pháp toàn diện để bảo đảm an ninh lương thực, trong đó xây dựng chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu cần được đặc biệt quan tâm [22] [25]

1.1.5 Nội dung về an ninh lương thực

Nội dung chính của việc đảm bảo an ninh lương thực đó là bảo đảm nguồn cung lương thực, đầy đủ mọi nơi, mọi lúc, ổn định hệ thống phân phối

và khả năng tiếp cận lương thực của người dân

Đảm bảo nguồn cung lương thực tức là lúc nào cũng sẵn có lương thực, đảm bảo có đủ khối lượng lương thực ở một mức độ chất lượng phù hợp

từ các nguồn sản xuất hoặc đầu vào khác để phục cho mọi người

Trang 24

Ổn định lương thực: Khía cạnh ổn định lương thực hàm ý một dân tộc hoặc một hộ gia đình hoặc một cá nhân lúc nào cũng phải tiếp cận được với nguồn lương thực phù hợp Những người này không gặp phải rủi ro không tiếp cận được với lương thực do các cú sốc bất thường (như khủng hoảng khí hậu hoặc kinh tế) hoặc các hiện tượng chu kỳ (như mất ANLT theo mùa)

Tiếp cận lương thực: Các cá nhân tiếp cận được với lượng lương thực thích hợp với chế độ ăn uống dinh dưỡng để phục vụ nhu cầu tối thiểu hàng ngày

1.1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực

1.1.6.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu và thủy văn:

Mỗi nơi có vị trí địa lý, địa hình khác nhau nên vùng nào có vị trí địa lý thuận lợi thì ngành nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng mới phát triển còn ngược lại nếu bất lợi thì kìm hãm thì phát triển của ngành sản xuất nông nghiệp và không đảm bảo an ninh lương thực

* Biến đổi khí hậu:

Báo cáo phát triển con người của UNDP nêu rõ “thay đổi khí hậu là thách thức đối với sự phát triển của con người trong thế kỷ 21 Thất bại không đối phó được với thách thức này sẽ cản trở và sau đó đảo ngược các nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm giảm nghèo khổ…Trong tương lai, không một quốc gia nào – bất kể giàu nghèo – có thể tránh khỏi tác động của việc trái đất nóng lên”

Các rủi ro về thay đổi khí hậu sẽ có tác động tiêu cực đến sản xuất lương thực và làm tăng thách thức đáp ứng nhu cầu lương thực toàn cầu Tăng nhiệt độ khí quyển khiến cho rủi ro hạn hán và lũ lụt cao hơn và gây

ra mất mùa…[ 24]

* Nguồn nước và ô nhiễm

Uỷ ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc dự báo, trong 100 năm tới, nước biển dâng cao một mét gây lụt lội khoảng 1/3 diện

Trang 25

tích đất trồng thế giới Mực nước biển tăng và các cơn bão nhiệt đới hoạt động dữ dội làm ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất lương thực, chưa kể đến tốc

độ đô thị hoá diễn ra quá nhanh làm giảm diện tích đất nông nghiệp

Nguồn nước ô nhiễm do các nhà máy thải ra ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng tới an ninh lương thực

* Diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp

Dân số tăng khiến cho nhu cầu về đất ở tăng theo dẫn đến diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm dần, bên cạnh đó do Công nghiệp hóa ngày càng phát triển nên Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của người dân để xây dựng

cơ sở hạ tầng, nhà máy ngày một nhiều…

Dân số tăng khiến nhu cầu tiêu dùng lương thực tăng, do vậy nếu dân

số tăng nhanh hơn so với sản lượng lương thực thì sẽ dẫn tới mất an ninh lương thực

1.1.6.3 Điều kiện kinh tế xã hội và các yếu tố khác

* Điều kiện kinh tế xã hội

tốt thì ở đó sẽ bảo đảm được an ninh lương thực vì họ có thể chủ động trong sản xuất và mua lương thực tích trữ

* Hệ thống cơ sở hạ tầng

Trang 26

Nơi nào có hệ thống cơ sở hạ tầng tốt sẽ khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp vì có điều kiện thuận lợi cho trồng trọt, chăm sóc và thu hoạch …và tạo điều kiện cho bảo đảm an ninh lương thực trong địa bàn đó

* Mức sống dân cư và sự phát triển của vùng

Những nơi đời sống nhân dân khó khăn thì khả năng bảo đảm an ninh lương thực chưa thể đáp ứng được do khả năng tiếp cận còn hạn chế và họ chưa thể có khả năng tích trữ lương thực để đủ ăn cho cả gia đình, ngược lại một số nơi đời sống và trình độ văn hóa cao họ sẽ chủ động được vấn đề an ninh lương thực cho gia đình nói riêng…

* Giảm sút đầu tư

Người dân ngày càng không mặn mà với sản xuất lúa vì đầu tư vào nhiều khi không hiệu quả do tính rủi ro trong sản xuất dẫn tới không đầu tư giống mới và cơ sở hạ tầng nên năng suất có thể không tăng cao

1.1.7 Tình hình an ninh lương thực của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.7.1 Tình hình an ninh lương thực của một số nước trên thế giới

Sản lượng lúa thế giới dự báo điều chỉnh còn 720 triệu tấn lúa (480,1 triệu tấn gạo), thấp hơn dự báo ban đầu 1,4 triệu tấn lúa, phản ảnh diễn biến

thời tiết xấu ở nhiều nước, đặc biệt ở Bangladesh Nhưng sản lượng lúa 2011

vẫn cao hơn năm 2010 khoảng 2,5% hay 17,7 triệu tấn Trong đó Ấn Độ lần đầu tiên vượt 100 triệu, cao nhất từ trước đến nay Sản lượng kỷ lục còn ghi nhận ở các nước châu Mỹ La-tinh và Caribbean

Trong thời gian tới, Tổ chức Lương nông Quốc tế FAO dự báo sản lượng lúa năm 2012 đạt 732,3 triệu tấn (488,2 triệu tấn gạo), 1,7 % cao hơn

2011 Cứ sau mỗi năm sản lượng lúa tăng thêm 12,3 triệu tấn với điều kiện thời tiết diễn biến bình thường Dự báo này dựa trên diện tích tăng thêm 1,6%, đạt 165,1 triệu ha, năng suất 4,44 tấn/ha Châu Á hy vọng đạt thành tựu lớn ở Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar, Pakistan, Philippines và

Trang 27

đặc biệt là Thái Lan Dự báo cũng khả quan ở Indonesia, Malaysia và Sri Lanka, đang thu họach vụ chính năm 2012 [ 22]

Sản xuất cũng hồi phục ở một số nước châu Phi như Mali, Senegal và Nigeria, trong khi Madagascar do bị các trận bão vào tháng 1 Các nước châu

Mỹ La-tinh và Caribbean sản lượng giảm 7% so với 2011 do hạn hán, giá lúa thấp, chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là Argentina, Brazil và Uruguay Sản lượng lúa còn giảm ở châu Âu và Mỹ do chuyển qua cây trồng khác, trong khi

Úc trúng mùa năm 2012

Trong năm 2011, lượng gạo giao dịch thương mại trên thế giới lên 8% đạt con số kỹ lục 34,5 triệu so với 31,5 triệu tấn năm 2010 Tất cả các nơi ngoại trừ Nam Mỹ đều có nhu cầu mua gạo tăng như ở châu Á (Bangladesh, Trung Quốc và Indonesia) và châu Phi (Ai Cập, Ghana, Nigeria, Senegal) Những nước xuất khẩu tăng bao gồm Ấn Độ, Thái Lan; đạt kỹ lục có Argentina, Brazil

và Việt Nam Trái lại xuất khẩu gạo của Trung Quốc, Ai Cập, Pakistan và Mỹ giảm, do giá gạo trong nước tăng cao hay do sản lượng thấp

Dự trữ gạo trên thế giới đến cuối năm 2011 đạt 140,8 triệu tấn so với 138 triệu tấn năm 2010 Con số này bằng 30% lượng gạo trên thế giới Dự kiến sang năm 2012 dự trữ sẽ tăng 8,4% nữa, đạt 152,8 triệu tấn Những nước nhập khẩu gạo Indonesia và Philippines dự trữ gạo lần lượt là 4,8 và 3 triệu tấn [ 22]

* Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những quốc gia nhập khẩu lương thực lớn nhất thế giới Nguồn lương thực chính cung cấp cho Nhật Bản chủ yếu là từ các nước: Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam… Nguồn lương thực mà Nhật Bản phải nhập chủ yếu là gạo, bột mỳ, bơ, sữa và các loại thịt Trong năm 2007, Nhật Bản đã nhập khẩu 630.550 tấn gạo Theo phát ngôn của chính phủ, Nhật Bản là nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới, chiếm tới 7,9 nghìn tỉ yên trong khi đó chỉ xuất khẩu chỉ đạt tới số 434 tỉ yên hàng năm, 86% bột mì đang tiêu dùng hàng ngày ở Nhật đều là hàng nhập khẩu Và chính phủ đã buộc phải tăng giá bán hơn 30% trong tháng này Chỉ số tiêu dùng dự đoán còn sẽ tăng

Trang 28

1,2% trong tháng tới, lần tăng lớn nhất trong 1 thập kỉ qua, hệ quả của việc tăng giá năng lượng và giá các mặt hàng nông sản Yasuhiko Nakamura trưởng ban Lương thực quốc hội phát biểu "Cho đến thời điểm hiện nay, Nhật Bản có thể trông cậy vào việc mua lương thực từ khắp mọi nơi trên thế giới bởi người tiêu dùng có khả năng chi trả cho việc đó, nhưng trong tương lai, điều này có thể sẽ không xảy ra dù chúng ta có đủ tiền" Ngài Nakamura cũng nói thêm người Nhật nên ăn nhiều gạo hơn vì săn phẩm chính này của nông nghiệp Nhật Bản có thể cung cấp số lượng đủ tới 100% Việc tiêu thụ gạo đã giảm xuống chỉ còn 8,5 triệu tấn từ ngưỡng 12,99 triệu tấn vào năm 1965 trong khi lượng sản xuất ra vượt ngưỡng nhu cầu tới 210.000 tấn Một vấn đề nghiêm trọng mà nông nghiệp Nhật đang phải đối mặt còn là số nông dân ngày càng giảm nhanh một cách chóng mặt, từ 14,5 triệu người năm 1960 xuống còn 3,4 triệu người trong năm 2005 Báo cáo năm vừa qua của Bộ Nông nghiệp còn cho thấy việc cắt, giảm thuế nhập khẩu nông sản sẽ càng khiến việc sản xuất nông nghiệp của nước này giảm xuống, dự tính lên tới 42% tương đương với 3,6 nghìn tỉ yên Và với tình trạng này, Nhật Bản đang phải đau đầu tìm kiếm giải pháp nhập khẩu thêm từ các nước Nauy, Thụy Sĩ

và Hàn Quốc (Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Kojima).Cuộc đàm phán này với WTO dự đoán sẽ rất khó khăn đối với phía Nhật Bản Thực tế quốc gia này đang phải tạm ngừng việc tìm kiếm những đối tác xuất khẩu gạo mới vì bị buộc tội vi phạm một số luật quy định của WTO Các nước đang phát triển liên tiếp gây sức ép lên Nhật yêu cầu cắt giảm thuế nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp hiện nay đang ở mức 778% đồng thời mở rộng thị trường trong vòng đàm phán Doha cùng WTO sắp tới [22]

* Hoa Kỳ

Mặc dù mất ANLT và đói ăn vốn từ lâu đã được biết đến là những mối quan ngại tại các nước nghèo trên thế giới, những vấn đề này gần đây đã tái xuất hiện và trở thành một vấn đề dinh dưỡng đáng quan tâm tại Mỹ, một nước có nguồn thực phẩm dồi dào Tình trạng mất ANLT tại Hoa Kỳ và các

Trang 29

nước giàu lương thực khác cơ bản xảy ra theo hai mức độ của tổ chức xã hội:

hộ gia đình hay đơn vị ăn uống cấp gia đình và mức độ cá nhân Đói ăn nhìn chung được dùng để miêu tả trải nghiệm về sự thiếu thốn thức ăn ở mức độ cá nhân Tại Hoa Kỳ, mối quan tâm đến khái niệm ANLT ở mức độ cộng đồng đang tăng lên Liên hiệp ANLT Cộng đồng đã định nghĩa thuật ngữ này là

“tình trạng mà trong đó tất cả các cả nhân nhận được khẩu phần ăn thích hợp

về mặt dinh dưỡng, chấp nhận được về mặt văn hóa tại bất kì thời điểm nào thông qua các nguồn không khẩn cấp tại địa phương Tuy nhiên, bản chất nền tẳng của khái niệm này không được miêu tả rõ ràng, và do dó không biết được bao nhiêu cộng đồng ở Mỹ có an ninh lương thực Để giải quyết tình trạng mất an ninh lương thực, Mỹ đã đưa ra kế hoạch toàn diện trong 10 năm cho Chương trình Quốc gia Kiểm soát Dinh dưỡng và các Nghiên cứu liên quan tập hợp hàng loạt những nỗ lực cộng tác của các tổ chức chính phủ, viện hàn lâm, và khu vực tư nhân trên cả nước nhằm thiết lập một công cụ đo lường cho sự mất ANLT để có thể dùng để đánh giá thực trạng mất ANLT và đói ăn trong dân số Mỹ hàng năm Qua đó, Vụ Thống kê Dân số Hoa kỳ đã đưa vào

18 mục đo lường về mất ANLT Với số liệu từ cuộc điều tra và và các phương pháp từ học thuyết đáp ứng từng phần, thang đo lường đã được phân cấp tốt, các mức chia độ trầm trọng của hiện tượng khác nhau được định nghĩa, và các nhóm đáp ứng biểu thị an ninh lương thực, mất ANLT nhưng không đói ăn,

và mất ANLT kè vói đói ăn nghiêm trọng, đã được thiết lập Kết quả là 10.1%

số hộ gia đình ở Mỹ không đảm bảo an ninh lương thực: 7.1% mất ANLT nhưng không bị đói ăn và 3% bị mất ANLT kèm theo đói ăn Khoảng 31 triệu người sống trong các hộ gia đình bị mất an ninh lương thực Sự mất ANLT tại

Mỹ thay đổi theo đặc điểm hộ gia đình theo đúng cách đã được kì vọng Những hộ gia đình nằm dưới chuẩn nghèo, có tỉ lệ mất ANLT cao hơn gấp 3 lần so với trung bình trên cả nước Những hộ gia đình người da đen và người gốc Tây Ban Nha có tỉ lệ mất ANLT là 21.2% và 20.8%, và những hộ gia đình có chủ hộ là phụ nữ độc thân có trẻ nhỏ có tỉ lệ mất ANLT là 29.7%

Trang 30

(2000) Với những nhận biết về hậu quả tiềm tàng về sức khỏe của mất ANLT đối với dân số Mỹ, chính phủ Mỹ đã đưa mục tiêu dinh dưỡng của chương trình Con người khỏe mạnh năm 2010 gồm có: Tăng tỉ lệ ANLT của cá hộ gia đình Mỹ lên ≥ 94% (2) Thêm nữa, Kế hoạch Hành động của Hoa Kỳ cũng đặt ra một số hành động và chiến lược ưu tiên để đạy được các mục tiêu y tế công cộng [24]

* ASEAN

Đảm bảo ANLT ở cấp độ quốc gia và hộ gia đình là ưu tiên hàng đầu của nhiều nước châu Á vì cuộc sống tốt đẹp hơn của những người nghèo và

vì ổn định chính trị Lúa gạo là một trong những hàng hoá quan trọng nhất

ở châu Á, đặc biệt là ở những nước nghèo Lúa gạo chiếm trên 70% lượng calo của người dân Miama và khoảng gần 2/3 đối với người dân Việt Nam Ngay cả đối với những nước tương đối giàu có hơn như Malaixia, Thái lan và Inđônêxia thì lúa gạo vẫn chiếm gần 50% lượng calo (FAO, 1999 in Dawe, 2001) Theo Báo cáo phát triển con người (UNDP, 1997), 70% của tổng số 1,3 tỷ người nghèo trên thế giới sống ở châu Á nơi gạo là nguồn lương thực chủ yếu hàng ngày Lúa gạo ở châu Á được sản xuất bởi hàng triệu nông dân (đây cũng là đối tượng tiêu dùng) Gạo cũng quan trọng đối với hàng triệu hộ gia đình nông dân nhỏ khác đang canh tác trên hàng triệu hécta đất rải rác trong khu vực và đối với nhiều người lao động không có đất khác đang làm thuê tại những trang trại này Nghiên cứu của FAO-WB (FAO, 2001) ước tính 80% dân số nông nghiệp ở châu Á liên quan đến các hệ thống nông nghiệp dựa vào lúa gạo và chủ yếu là những người nông dân nhỏ Khoảng 50% diện tích nông nghiệp của châu Á trồng lúa Năng suất trong nông nghiệp đã tăng mạnh nhờ Cách mạng Xanh diễn ra vào đầu những năm 1970 và 1980 và tiếp tục tăng sau thời kỳ này Nhiều nước đã chuyển từ chỗ là nước nhập khẩu nông nghiệp ròng sang tự túc và thậm chí là nước xuất khẩu ròng (trong ASEAN là các nước Việt nam, Mianma và Thái lan)

Bên cạnh các chính sách thúc đẩy sản xuất, nhiều chính sách về giá cả

Trang 31

và can thiệp thị trường cũng được thường xuyên ban hành nhằm ổn định giá cả và đảm bảo nguồn cung lương thực ổn định cho người tiêu dùng, nhất là nguồn lương thực chính như gạo Ngoài ra còn có các chính sách nhằm thúc đẩy giáo dục và nhân thức dinh dưỡng

Các công cụ chủ chốt được sử dụng nhằm đảm bảo ANLT bao gồm: các biện pháp củng cố cung (bằng cách thúc đẩy sản xuất trong nước và nhập khẩu); một loạt các biện pháp trợ cấp đầu vào để giữ chi phí thấp và kiểm soát giá đầu ra giúp người tiêu dùng (nhất là người tiêu dùng thành thị) có được lương thực ở mức giá hợp lý Các chính sách kinh tế và cơ chế thị trường được

sử dụng nhiều hơn các biện pháp can thiệp hành chính trong việc đảm bảo nguồn cung lương thực cho người nghèo, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt Một mục tiêu chính sách lớn khác là ổn định giá gạo - mục tiêu này rất quan trọng trong bối cảnh giá gạo thế giới dao động mạnh Giá gạo thế giới đã biến động mạnh trong thập kỷ 70 và 80; hệ số dao động là 39% Ngược lại, trong cùng thời kỳ hệ số dao động này của Inđônêxia, Philíppin và Thái lan lần lượt

là 19%, 25% và 13% Điều này cho thấy chính sách ổn định giá của các nước Đông Nam Á tương rất thành công [22]

1.1.7.2 Tình hình an ninh lương thực ở Việt Nam

Đánh giá về thực trạng ANLT toàn cầu năm 2004, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Thế giới (FAO) nhận xét:

“Mặc dù các cố gắng giảm nghèo đói ở các nước đang phát triển chưa đáp ứng được mục tiêu của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Lương thực (1996) và mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGS) là giảm một nửa số người nghèo đói trên thế giới vào năm 2015, nhưng khả năng đạt được mục tiêu vẫn còn nhiều triển vọng Bởi vì, đã có hơn 30 quốc gia chiếm gần một nửa dân số thuộc các nước đang phát triển trên thế giới, có thể chứng minh về khả năng đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo và những bài học quý báu được rút ra

từ đây là làm thế nào để đạt được mục tiêu đề ra” [ 13 ]

Trang 32

Việt Nam không những nằm trong danh sách các nước nói trên, bởi những thành tích đầy ấn tượng về đảm bảo ANLT và xoá đói giảm nghèo đạt được trong thời gian qua, mà còn là một trong những nước đi đầu trên thế giới trong việc đảm bảo tính hiện thực của mục tiêu của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Lương thực và mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mới

Nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng liên tục qua các năm, đạt 232652.2 tỷ đồng (2010) Năm 2010 so với năm 2009, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 104.7

tỷ đồng [13]

Lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp là lĩnh vực duy nhất trong nền kinh tế liên tục xuất siêu, năm sau cao hơn năm trước, kể cả trong những giai đoạn kinh tế gặp khó khăn Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt khoảng 16 tỷ USD gấp 3.8 lần năm 2000, trong đó, tăng trưởng trung bình của các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giai đoạn 2000 - 2008 thì gạo chiếm 13.6% và năm 2010, xuất khẩu gạo đạt 3.2 tỷ USD tăng 20.6% so với 2009 [13]

Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam Lúa là cây lương thực quan trọng nhất, chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất Cây lương thực quan trọng thứ hai là ngô, đang có xu hướng tăng ở ĐBSH, ĐBSCL, Tây nguyên, Bắc trung bộ & duyên hải Nam trung bộ Cây lương thực quan trọng thứ ba là cây sắn đang có xu hướng tăng ở vùng ĐNB, TN, TD & MNPB Cây lương thực quan trọng thứ tư là khoai lang có xu hướng giảm ở hầu hết các vùng Những cây lương thực, thực phẩm lấy củ và lấy hạt khác (như khoai tây, khoai môn, khoai mỡ, ) chiếm tỷ trọng không nhiều

Trong giai đoạn 2000 - 2010, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong lĩnh vực sản xuất lương thực Sản lượng lương thực Việt Nam không những đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khối lượng lớn cho xuất khẩu Bình quân lương thực đầu người tăng từ 445 kg năm 2000 lên 511.9 kg năm 2010 Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo và các sản phẩm sắn

Trang 33

(tinh bột sắn và sắn lát) đứng thứ hai trên thế giới sau một thời gian dài thiếu lương thực

Việt Nam hiện đã đạt được ANLT trên phạm vi quốc gia Tuy nhiên, để đảm bảo được ANLT ở cấp hộ gia đình trên phạm vi cả nước vẫn đang còn là một vấn đề lớn, đặc biệt ở trung du miền miền núi phía Bắc và Tây nguyên

Ở Việt Nam, một trong những cái nôi của lúa gạo thế giới, sản xuất lúa gạo đã gắn liền với truyền thống lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Hiện nay, sản lượng lúa chiếm trên 90% sản lượng của các cây lương thực có hạt, liên quan đến việc làm và thu nhập của khoảng 80% số hộ nông dân [21]

Một số bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong đảm bảo an ninh lương thực phải kể đến:

Một là, bảo đảm an ninh lương thực cần thực hiện đồng bộ cả 3 nội

dung, đó là bảo đảm tính sẵn có (nguồn cung lương thực, đầy đủ mọi nơi, mọi lúc), tính ổn định (hệ thống phân phối ổn định) và khả năng tiếp cận của người dân (có khả năng mua lương thực) Trước hết từng quốc gia cần nỗ lực trong việc bảo vệ diện tích đất trồng cây lương thực, có chính sách bảo đảm lợi ích cho người sản xuất lương thực để họ an tâm sản xuất; tăng cường đầu

tư để tăng sản lượng và chất lượng lương thực; tạo thuận lợi cho thương mại nông sản, xây dựng hệ thống phân phối lương thực ổn định; tạo các cơ hội việc làm, thu nhập và có hỗ trợ thích hợp để bảo đảm khả năng tiếp cận với lương thực của người dân; thận trọng trong việc sử dụng lương thực vào mục đích khác; cùng với các cố gắng của từng quốc gia, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phối hợp hành động chung trong khu vực và toàn cầu

Hai là, tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế đặc biệt là tổ chức

Nông lương thế giới FAO, trong việc điều phối, hỗ trợ các hoạt động liên quan đến định hướng, sản xuất, phân phối lương thực trên toàn cầu Trong thế giới đa dạng hiện nay, các nước có năng lực và điều kiện phát triển nông nghiệp rất khác nhau Do đó, cần có một cơ chế chắp nối để các nước có thể hợp tác và bổ trợ cho nhau khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên, tài chính, kỹ

Trang 34

thuật và kinh nghiệm trong nỗ lực phát triển nông nghiệp và bảo đảm an ninh lương thực Các tổ chức quốc tế, đi đầu là FAO sẽ tăng cường các nỗ lực trong việc chắp nối này để giúp các nước thiếu đói phát triển nông nghiệp Cần bổ sung nguồn lực và mở rộng phạm vi hoạt động cho Quỹ Phát triển Nông nghiệp Thế giới (IFAD) để tăng cường các hoạt động hỗ trợ phát triển nông nghiệp tại các nước nghèo, đặc biệt theo mô hình hợp tác nêu trên Giải pháp bền vững và lâu dài nhất đối với vấn đề an ninh lương thực thế giới là làm thế nào hỗ trợ một cách có hiệu quả cho các nước thiếu đói biết cách tự vươn lên

Ba là, chuẩn bị các tình huống, giải pháp kịp thời ứng phó với biến đổi

khí hậu, nhất là nước biển dâng đang trở thành mối đe dọa lớn đối với các nước nông nghiệp Bên cạnh đó, tình trạng thừa, thiếu cục bộ do mất mùa, thiên tai, lũ lụt là những tác động của biến đổi khí hậu cần được quan tâm giải quyết Là một trong số ít các nước được dự báo chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng, nhưng lại là nước hàng năm cung cấp khoảng 1/5 lượng gạo xuất khẩu của thế giới, Việt Nam đặt mục tiêu quan tâm đối với các chương trình ứng phó biến đổi khí hậu, trước hết trong việc triển khai Chương trình hành động thích ứng đối với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp giai đoạn 2008-2020 nhằm góp phần bảo đảm an ninh lương thực cho Việt Nam, đồng thời cũng là góp phần vào bảo đảm an ninh lương thực cho khu vực và thế giới

Bốn là, giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới, tích cực

trong phong trào cứu đói, giảm nghèo, an ninh lương thực của thế giới Chúng

ta cần nỗ lực tránh xảy ra cuộc khủng hoảng lương thực như năm 2008 tại nhiều nước, nhất là tại Châu Phi và Châu Á làm giá cả lương thực tăng vọt và khan hiếm lương thực giả tạo tại nhiều nước sau đó Một hệ thống cảnh báo sớm cũng cần được thiết lập để sớm phát hiện khả năng xảy ra khủng hoảng lương thực, từ đó có các giải pháp ứng phó hữu hiệu, kịp thời [20]

Trang 35

1.1.7.3 Tình hình an ninh lương thực ở Thái Nguyên

Sản lượng lương thực có hạt năm 2011 đạt 448.739 tấn, tăng 8,14% so với năm 2010 Trong đó sản lượng lúa đạt 339.770 tấn, chiếm 81,88% tổng sản lượng lương thực có hạt Diện tích trồng cây lương thực có hạt toàn tỉnh năm 2010 đạt 87.621 ha, tăng 0,51% so với năm 2009, trong đó diện tích trồng lúa chiếm 79,59% Bảng 1.1: Diện tích, sản lượng lương thực có hạt ở Thái Nguyên từ 2009 - 2011

2011

1 Diện tích lương

thực có hạt Ha 87.187 87.631 89.800 100,51 102.48 101.49 Trong đó:

Ha 69.829 69.743 71.217 99,88 102.11 100.99

- Diện tích lúa

2 Sản lượng lương

thực có hạt Tấn 407.263 414.950 448.739 101,89 108.14 104.20 Trong đó:

(Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Thái Nguyên)[6]

Nhìn chung diện tích lúa Thái Nguyên biến động không nhiều, năm 2009 diện tích lúa đạt 69,83 ha, đến năm 2010 diện tích lúa giảm so với năm 2009 là 0,22%, nhưng đến năm 2011 diện tích gieo trồng lại tăng so với năm 2010 là 2,11% Cây lúa có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển cây lương thực trên địa bàn tỉnh để bảo đảm an ninh lương thực Trước thực trạng đất đai nhất là diện tích đất trồng lúa ngày một bị thu hẹp phục vụ cho sản xuất công nghiệp, để đảm bảo mục tiêu ổn định lương thực, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất trên 1

Trang 36

đơn vị diện tích, trong nhiều năm trở lại đây ngành nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên

đã đưa các giống lúa mới có ưu thế nổi trội về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế vào sản xuất đại trà nên hiện tại vẫn đang đảm bảo được ANLT trên địa bàn

nếu như không có biến động lớn về thiên tai hạn hán, lũ lụt xảy ra

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết

Người dân trong toàn huyện đã đảm bảo được an n inh lương thực ở cấp độ gia đình chưa? Tỷ lệ hộ đói nghèo không đủ lương thực để ăn là bao nhiêu?

Hai là vị trí , vai trò của an ninh lương thực ra sao khi quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh?

Ba là trong việc bảo đảm An ninh lương thực cho người dân trong huyện cần phải xem cái gì đã đạt được, cái gì chưa đạt, cái gì mạnh, cái gì yếu, để từ

đó có các giải pháp hữu hiệu phát huy các thế mạnh và hạn chế những mặt yếu

nhằm đảm bảo ANLT của huyện Phổ Yên ổn định và bền vững

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu

Chọn 3 xã thuộc huyện Phổ Yên làm điểm nghiên cứu từ 3 vùng trong huyện, những xã này vừa có thể đại diện cho toàn vùng, vừa phải đảm bảo suy rộng cho cả huyện, tỉnh

Thị trấn Ba Hàng ở vùng giữa, có 5.994 người dân , có tổng diện tích đất là 183 ha trong đó đất nông nghiệp là 69 ha, trong đó đất trồng lúa là 61

ha, sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp là chính

Xã Hồng Tiến ở vùng Bắc, có 11.266 người dân, có tổng diện tích đất

là 1.840 ha (trong đó đất nông nghiệp là 1.372 ha, trong đó đất trồng lúa là

688 ha) (diện tích đất sản xuất nông nghiệp là chính)

Xã Đắc Sơn ở vùng Nam, có 8.698 người dân, có tổng diện tích đất 1.443 ha trong đó đất nông nghiệp là 1.222 ha, trong đó đất trồng lúa là 675

Trang 37

ha: là xã sản xuất nông nghiệp và đất nông nghiệp đang bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông

1.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập số liệu đã công bố và thu thập số liệu mới qua phiếu điề u tra, qua các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA), đánh giá nông thôn

có người dân tham gia (PRA), phương pháp điều tra hộ gồm chọn mẫu điều tra, phiếu điều tra, điều tra thực tế hộ

* Thu nhập các số liệu thứ cấp: có liên quan đến nội dung nghiên cứu ở

các báo cáo kinh tế - xã hội của địa phương qua các năm, truy cập thông tin trên internet, tạp chí, khảo sát các chương trình dự án đã và đang triển khai trên địa bàn và thông qua phỏng vấn cấu trúc, quan sát trực tiếp, phỏng vấn cán bộ ở địa phương để phục vụ cho quá trình nghiên cứu nhằm khái quát tình hình chung cũng như đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật ở địa bàn nghiên cứu

* Thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra, phỏng vấn:

- Hộ phân theo tiêu chí ở phần chọn điểm nghiên cứu (hộ sản xuất lương thực, hộ sản xuất phi nông nghiệp và tiến hành mua lương thực, hộ sản xuất nhưng bị mất đất nông nghiệp)

- Các hộ cầu về lương thực

Thông qua điều tra nông hộ nhằm phân tích, đánh giá tình hình thực hiện cung ứng và tiêu dùng của các nông hộ, doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện: các hộ, doanh nghiệp này được chọn ngẫu nhiên trong mỗi nhóm hộ

và doanh nghiệp để điều tra về các nguồn lực của nông hộ, các nhân tố ảnh hưởng đến việc an ninh lương thực Do tìm hiểu, nghiên cứu các nông hộ sản xuất và tiêu dùng lương thực và nhóm hộ, doanh nghiệp không sản xuất lương thực trong nông nghiệp nên có được các số liệu mới thu thập như mong muốn, bên cạnh việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia, tôi tập trung thu thập số liệu sơ cấp thông qua cách phỏng vấn, điều tra trực tiếp với số lượng mẫu điều tra như bảng 1.2

Trang 38

Bảng 1.2 Số hộ điều tra ở các mẫu điều tra

Địa điểm\nhóm hộ Tổng số hộ khá Nhóm

Nhóm hộ Trung bình

Nhóm

hộ nghèo

1.2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Sau khi thu thập đầy đủ điều tra của các hộ, tiến hành kiểm tra, xử

lý thông tin cơ bản trên hệ thống biểu, loại bỏ những biểu thiếu hoặc thông tin không rõ ràng

Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu là hình thức xử lý đơn giản các số liệu ban đầu thu thập được Tiến hành phân loại và tổng hợp các số liệu đó theo các chỉ tiêu đã đề ra, giúp cho ta có được những nhận xét, đánh giá cơ bản về về tình hình sản xuất lúa của các hộ Kết quả của việc

xử lý và tổng hợp số liệu ta được các bảng thông kê và đồ thị thống kê

1.2.2.4 Phương pháp phân tích thống kê kinh tế

- Phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp này dùng để đối chiếu các số liệu thu thập được sau điều tra theo các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả sản xuất để từ đó có được những nhận xét xác đáng về an ninh lương huyện Phổ Yên

- Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội bằng việc mô tả số liệu thu thập được Phương pháp này tôi sử dụng để phân tích các hộ, nhóm hộ sản xuất lúa của huyện Trên cơ sở số liệu điều tra, tổng hợp phân tích theo thời gian và không gian, sau đó tổng hợp khái quát để thấy được xu thế phát triển của hiện tượng, sự vật

- Phương pháp phân tổ thống kê: Phương pháp này được dùng để phân tổ các mẫu điều tra, tổng hợp kết quả điều tra nhằm phản ánh các đặc điểm cơ bản

về tình hình sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất của các hộ trồng lúa trong

Trang 39

huyện Phân tổ các nhóm hộ theo tình hình kinh tế của các hộ, hộ có thu nhập cao, thu nhập trung bình và thu nhập thấp từ việc trồng lúa

1.2.2.5 Phương pháp hồi quy

Phân tích hồi quy nghiên cứu mối liên hệ phụ thuộc của một biến (gọi là biến phụ thuộc hay biến được giải thích), với một hay nhiều biến khác (được gọi là (các) biến độc lập hay giải thích) nhằm ước lượng hoặc dự báo giá trị trung bình của biến phụ thuộc với các giá trị đã biết của (các) biến độc lập

Phân tích hồi quy có nhiệm vụ: ước lượng giá trị trung bình của biến phụ thuộc với giá trị đã cho của biến độc lập; kiểm định giả thiết về bản chất của sự phụ thuộc; dự đoán giá trị trung bình của biến phụ thuộc khi biết giá trị của các biến độc lập; kết hợp các vấn đề trên

Trong Luận văn này, chúng tôi sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để dự báo dân số, thu nhập, tiêu dùng lương thực của huyện… Đồng thời, nghiên cứu mối quan hệ giữa tổng nhu cầu tiêu dùng lương thực và thu nhập của huyện Phổ Yên

1.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

*Chỉ tiêu định tính: Áp dụng mô tả hiện trạng an ninh lương thực,

thành phần chính trong hệ thống cung ứng và tiêu dùng lương thực và giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến người dân trong việc sản xuất cung ứng và tiêu dùng lương thực

* Chỉ tiêu định lượng: Sử dụng phương pháp trọng số trung bình (WAI)

để xác định một số chỉ tiêu ở dạng định tính với các mức độ khác nhau của người nông dân về mức độ ảnh hưởng của vấn đề an ninh lương thực Phân tích nhân tố ảnh hưởng và hàm hồi quy log được áp dụng để xác định nhân tố chính ảnh hưởng đến ANLT trong việc ra quyết định sản xuất cung ứng và tiêu dùng lương thực Các chỉ tiêu thể hiện mức độ trang bị vốn; các chỉ tiêu

về số lượng lao động, số nhân khẩu bình quân/hộ; trình độ văn hóa của chủ hộ; diện tích canh tác bình quân/hộ (/khẩu; /lao động)…

Trang 40

Chương II THỰC TRẠNG AN NINH LƯƠNG THỰC TẠI HUYỆN PHỔ YÊN 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực huyện Phổ Yên

2.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Phổ Yên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Phổ Yên là huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên có 18 đơn vị hành chính gồm 15 xã và 3 thị trấn Là cửa ngõ phía Nam của tỉnh Thái Nguyên với diện tích tự nhiên là 25667 km2, có vị trí địa lý hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế Trong đó:

- Phía Nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô Hà Nội

55 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 20 km;

- Phía Bắc giáp với thành phố Thái Nguyên và huyện Đại Từ

- Phía Đông giáp huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang và huyện Phú Bình

- Phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc

Đặc điểm nổi bật của huyện Phổ Yên là có đường Quốc lộ số 3 và đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên chạy dọc từ nam lên bắc, mang lại cho huyện nhiều thuận lợi về kinh tế - xã hội

2.1.1.2 Địa hình

* Địa hình

Huyện Phổ Yên có tổng diện tích tự nhiên 256,68km2; (trong đó, diện tích đất nông nghiệp 124,99km2, bằng 48,69% tổng diện tích tự nhiên; diện tích đất lâm nghiệp 73,68 km2, bằng 287% tổng diện tích tự nhiên; diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản là 3,26km2, diện tích đất phi nông nghiệp là 51,67km2, diện tích đất chưa sử dụng là 3,09km2 )

Căn cứ vào các chỉ tiêu về loại đất, tầng dầy và độ dốc của đất, toàn huyện có 120,045 km2 đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp và 50,39 km2 đất thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp Trên 50% diện tích đất nông nghiệp ở Phổ Yên là đất bạc màu, đất vàng nhạt trên đá cát, độ phì kém

Ngày đăng: 19/06/2021, 09:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w