Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng hoạt động TTGSNH của Cục II đối với các NHTMCP trên địa bàn Tp. HCM nhằm tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế của hoạt động TTGSNH và từ đó đưa ra giải pháp để hoàn thiện hoạt động TTGSNH của Cục II đối với các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬN VĂN
Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, thực hiện các hoạt động như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán Tuy nhiên, hoạt động ngân hàng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro như rủi ro tín dụng, thị trường, thanh khoản, lãi suất và hoạt động Khi một ngân hàng lớn gặp rủi ro thanh khoản và phá sản, điều này có thể gây ra ảnh hưởng dây chuyền đến các ngân hàng khác, thậm chí dẫn đến khủng hoảng hệ thống Do đó, sự giám sát và thanh tra của Ngân hàng Nhà nước ngày càng trở nên cần thiết để đảm bảo an toàn, hiệu quả trong hoạt động ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước.
Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam, đang đối mặt với nhu cầu vốn cao để phát triển kinh tế Với 2.014 đơn vị mạng lưới tổ chức tín dụng, việc quản lý và ổn định thị trường tài chính là rất quan trọng Ngân hàng Nhà nước cần thực hiện thanh tra, giám sát ngân hàng để đảm bảo an toàn hoạt động và phát triển bền vững không chỉ cho các ngân hàng mà còn cho toàn bộ nền kinh tế Để các ngân hàng hoạt động hiệu quả và góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, hoạt động thanh tra, giám sát của Cục II là yêu cầu hàng đầu cần được chú trọng.
Với tính cấp thiết đó, tác giả đã nghiên cứu và chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp:
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết này phân tích hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng (TTGSNH) của Cục II đối với các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại TP.HCM, nhằm xác định những hạn chế và nguyên nhân của chúng Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động TTGSNH của Cục II trong khu vực này.
Câu hỏi nghiên cứu: Giải pháp để hoàn thiện hoạt động TTGSNH của Cục II.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu tập trung vào thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát của Cục II đối với các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) có hội sở chính tại TP HCM, đồng thời phân tích nguyên nhân hạn chế trong hoạt động của Cục II và đề xuất các giải pháp cải thiện Lý do lựa chọn các NHTMCP trên địa bàn là vì tổng tài sản của họ chiếm tỷ lệ lớn, cho phép Cục II thực hiện chức năng quản lý Nhà nước một cách toàn diện và hiệu quả hơn so với các chi nhánh NHTMCP ngoài khu vực, ngân hàng nước ngoài, và các tổ chức tài chính khác.
Luận văn này nghiên cứu và đánh giá hoạt động thanh tra giám sát (TTGS) của Cục II đối với các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) có trụ sở chính tại TP.HCM Nghiên cứu tập trung vào các hoạt động nghiệp vụ thực tế phát sinh và các kết quả, kiến nghị được nêu trong các kết luận thanh tra, kiểm tra từ năm 2010 đến tháng 6/2015.
Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế như thống kê mô tả, so sánh tổng hợp, diễn dịch, phân tích và quy nạp, nhằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu từ lý thuyết đến thực tiễn Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử dụng bảng khảo sát để tìm hiểu nguyên nhân hạn chế của Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP Hồ Chí Minh và đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát.
Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của luận văn
Sau quá trình nghiên cứu, luận văn đã có những đóng góp mới về khoa học cả về mặt lý luận và thực tiễn:
Nghiên cứu phương thức hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng (TTGSNH) tại Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP Hồ Chí Minh bao gồm thanh tra tại chỗ, giám sát từ xa và sự kết hợp giữa hai phương thức này Bài viết đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện hoạt động TTGS của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại TP.HCM trong thời gian tới, đồng thời đưa ra một số kiến nghị đối với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các NHTM.
Kết cấu luận văn
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, luận văn bao gồm 70 trang, được chia thành 5 chương, cùng với phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1: Giới thiệu chung về luận văn
Chương 2: Tổng quan về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Chương 3: Thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4: Khảo sát về nguyên nhân những hạn chế và giải pháp hoàn thiện hoạt động của Cục II
Chương 5: Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát của Cục II đối với các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG
2.1 HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG
2.1.1 Khái niệm thanh tra, giám sát ngân hàng
Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ thanh tra, giám sát được hiểu như sau:
Thanh tra là kiểm tra, xem xét tại chỗ các sự việc, việc làm của cơ quan
Giám sát là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng các điều quy định không
Tại Khoản 11 và Khoản 12, Điều 6, Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Thanh tra, giám sát ngân hàng được hiểu như sau:
Thanh tra ngân hàng là hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhằm kiểm tra sự tuân thủ pháp luật về tiền tệ và ngân hàng của các tổ chức tài chính.
Giám sát ngân hàng là hoạt động của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhằm thu thập, phân tích thông tin về các đối tượng giám sát Mục tiêu của hoạt động này là phòng ngừa và phát hiện kịp thời các rủi ro, ngăn chặn vi phạm quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng, cũng như các quy định pháp luật liên quan.
Thanh tra và giám sát ngân hàng là hai hoạt động bổ trợ không thể thiếu trong việc đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và ổn định nền kinh tế Giám sát giúp Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đánh giá tổng thể hoạt động của các NHTM, phát hiện những vấn đề cần cảnh báo và xác định trọng tâm cho thanh tra Ngược lại, thanh tra cho phép NHNN xác thực kết quả giám sát và hiểu rõ hơn về thực trạng hoạt động của các NHTM Do đó, sự phối hợp thường xuyên và liên tục giữa thanh tra và giám sát là yếu tố quyết định để đạt được kết quả hiệu quả trong quản lý ngân hàng.
2.1.2 Sự cần thiết của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Ngân hàng là tổ chức tài chính thiết yếu cho nền kinh tế, với hoạt động ngân hàng đặc thù cần được thanh tra và giám sát liên tục để đảm bảo an toàn Theo Peter S Rose và Sylvia C Hudgin (2001), việc theo dõi ngân hàng là cần thiết để duy trì sự ổn định và an toàn trong hoạt động tài chính.
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tích trữ tiết kiệm của cá nhân và hộ gia đình, nhưng sự phá sản của ngân hàng có thể gây ra thảm họa tài chính cho nhiều người Hầu hết người gửi tiền thiếu kiến thức về tài chính và thông tin để đánh giá rủi ro của ngân hàng Do đó, các cơ quan quản lý cần có trách nhiệm thu thập và đánh giá thông tin để xác định tình hình tài chính thực sự của ngân hàng, nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.
Các ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽ trong khả năng "tạo tiền" từ tiền gửi thông qua hoạt động cho vay và đầu tư, mở rộng tín dụng Sự biến động trong khối lượng tiền tệ mà ngân hàng tạo ra gắn liền với tình hình kinh tế, đặc biệt là mức tăng trưởng việc làm và tình trạng lạm phát.
Ngân hàng được quản lý chặt chẽ vì cung cấp các khoản vay và tài trợ cho cá nhân và doanh nghiệp, mang lại lợi ích lớn cho xã hội khi cung cấp tín dụng hợp lý Tuy nhiên, sự phân biệt trong việc cấp tín dụng có thể gây khó khăn cho những cá nhân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng, từ đó tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh và nền kinh tế chung.
Do vậy, việc kiểm soát các ngân hàng cũng để đảm bảo loại bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính
2.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan
Hoạt động TTGSNH là một hoạt động thường xuyên và liên tục nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả cho hệ thống ngân hàng, đồng thời tăng cường quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về TTGSNH từ các tác giả khác nhau, nhưng hầu hết chỉ dừng lại ở việc giới thiệu và đánh giá chung về thực trạng mà chưa phân tích sâu về các phương thức hoạt động TTGSNH đối với các NHTMCP tại các tỉnh, thành phố, đặc biệt là TP HCM.
Nguyễn Thị Thanh Bình trong luận văn thạc sĩ kinh tế năm 2013 với tiêu đề “Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng tại Việt Nam” đã nêu rõ thực trạng của hoạt động này Luận văn phân tích những vấn đề hiện tại trong lĩnh vực thanh tra và giám sát ngân hàng, đồng thời đưa ra những nhận định quan trọng về hiệu quả và thách thức mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đối mặt.
Bài viết đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng (TTGSNH) tại Việt Nam, chỉ ra những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại này, đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Luận văn thạc sỹ của Đỗ Thị Thu Phương (2011) tập trung phân tích thực trạng TTGS của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng thương mại tại tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2009 - 2010, từ đó đánh giá các mặt tích cực và hạn chế, cùng với nhóm giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả TTGSNH.
CN NHNN đối với tất cả các NHTM trên địa bàn tỉnh Hải Dương
PGS.TS Hoàng Xuân Quế và nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ vào năm 2011 mang tên “Hoàn thiện hoạt động thanh tra ngân hàng ở Việt Nam theo hướng tăng cường giám sát và cảnh báo sớm” Đề tài này đã hệ thống hóa và làm rõ lý luận cơ bản về hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng, đồng thời phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động thanh tra ngân hàng chủ yếu do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện.
2.1.4 Các chuẩn mực quốc tế về Thanh tra, giám sát ngân hàng
2.1.4.1 Các nguyên tắc cơ bản của Ủy ban Basel (gồm 25 nguyên tắc)
Uỷ ban Basel đã xây dựng 25 nguyên tắc cơ bản về các thông lệ và chuẩn mực giám sát ngân hàng nhằm ổn định và bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính toàn cầu (Basel 1, 1999 & Basel 2, 2005) Sự yếu kém và rủi ro trong hệ thống ngân hàng của bất kỳ quốc gia nào, dù đang phát triển hay đã phát triển, đều có thể đe dọa sự ổn định tài chính không chỉ của quốc gia đó mà còn có ảnh hưởng toàn cầu.
Nguyên tắc 1: Điều kiện cần thiết cho hoạt động giám sát ngân hàng có hiệu quả
Nguyên tắc 2-5: Cấp phép và cơ cấu giám sát
Cơ quan cấp phép có trách nhiệm thiết lập các điều kiện và tiêu chuẩn cho việc thành lập và hoạt động của ngân hàng, nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng trong hệ thống hoạt động một cách an toàn và hiệu quả.
Nguyên tắc 6-15: Quy định an toàn hoạt động và yêu cầu của hoạt động giám sát ngân hàng
Cơ quan giám sát đảm bảo ngân hàng có đầy đủ quy trình quản lý rủi ro và đảm bảo an toàn hoạt động
Nguyên tắc 16-20: Phương pháp giám sát thường xuyên
Hệ thống giám sát ngân hàng hiệu quả cần kết hợp thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa Cơ quan giám sát ngân hàng phải trang bị đầy đủ công cụ để thu thập, phân tích và xem xét các báo cáo an toàn hoạt động cùng thông tin thống kê từ ngân hàng, nhằm đảm bảo giám sát chặt chẽ và liên tục.
Nguyên tắc 21: Yêu cầu về thông tin giám sát ngân hàng
Cơ quan giám sát đảm bảo các ngân hàng lưu giữ hồ sơ đầy đủ theo đúng các chính sách và chuẩn mực kế toán
Nguyên tắc 22: Quyền hạn của người thực thi nhiệm vụ giám sát
Cơ quan giám sát có quyền áp dụng các biện pháp xử lý cần thiết đối với ngân hàng vi phạm quy chế hoạt động và các quy định pháp luật.
Nguyên tắc 23-25: Hoạt động ngân hàng quốc tế
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA CỤC II ĐỐI VỚI CÁC NHTMCP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam, có hơn một phần ba các tổ chức tín dụng hoạt động, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng ngày càng gia tăng để phục vụ sản xuất kinh doanh Do đó, các ngân hàng thương mại cổ phần tại đây không ngừng nâng cao năng lực tài chính, tăng vốn, mở rộng quy mô tài sản và phát triển sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân trong khu vực cũng như trên toàn quốc.
Là một trung tâm kinh tế lớn nhất nước nên hoạt động của các NHTM trên địa bàn TP.HCM có những đặc điểm sau:
Quy mô và mạng lưới hoạt động của các NHTMCP ngày càng phát triển
Bảng 3.1: Mạng lưới hoạt động của các NHTMCP trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2010 -2015
STT Đơn vị mạng lưới 2010 2011 2012 2013 2014 T6/2015
2 Chi nhánh/Sở giao dịch
Bảng 3.1 cho thấy sự biến động đáng kể về số lượng đơn vị mạng lưới của các ngân hàng thương mại tại TP.HCM qua các năm, với sự gia tăng mạnh mẽ nhất diễn ra trong giai đoạn 2010-2011 Tuy nhiên, trong giai đoạn 2012-2013, sự đóng băng của thị trường bất động sản và tình hình kinh tế trì trệ đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của các ngân hàng.
Theo báo cáo của NHNN CN TP.HCM, số lượng mạng lưới ngân hàng thương mại không tăng mà có xu hướng giảm nhẹ trong năm 2014 do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, dẫn đến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn và thua lỗ.
Năm 2011, số lượng các đơn vị mạng lưới của NHTM không tăng mạnh như giai đoạn
Trong giai đoạn 2009 - 2010, việc tạm ngừng phát triển mạng lưới của các ngân hàng thương mại (NHTM) theo công văn số 1511/NHNN-TTGSNH ngày 25/02/2011, công văn số 2028/NHNN-TTGSNH ngày 11/3/2011 và công văn số 3861/NHNN-TTGSNH ngày 17/5/2011 của Thống đốc NHNN đã dẫn đến một số ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) hoạt động yếu kém, không đảm bảo an toàn Để củng cố hoạt động của các NHTMCP, một số ngân hàng này đã được hợp nhất, sáp nhập vào cuối năm 2010 và đầu năm 2011, trong đó có TinNghiaBank, FCB và SCB, tạo thành NHTMCP Sài Gòn Hành động này đã góp phần giảm số lượng đơn vị mạng lưới trong năm 2011 so với năm 2010, nhằm đảm bảo ổn định kinh tế - xã hội.
Từ ngày 25/02/2011 đến 31/12/2013, số lượng đơn vị mạng lưới của các ngân hàng thương mại (NHTM) không có sự phát triển do các quy định về mạng lưới của tổ chức tín dụng (TCTD) ban hành năm 2008 không còn phù hợp với Luật các TCTD năm 2010, có hiệu lực từ 01/01/2011 Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tạm ngưng phát triển mạng lưới của các NHTM chờ Thông tư hướng dẫn phù hợp Hơn nữa, việc các NHTM thực hiện phương án tái cơ cấu theo đề án "Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015" cũng là một yếu tố quan trọng dẫn đến sự tạm ngưng này Đề án này giúp các NHTM đánh giá và quyết định đóng cửa hoặc tái cơ cấu các đơn vị mạng lưới hoạt động yếu kém, ảnh hưởng đến hoạt động của NHTMCP và hệ thống NHTM nói chung.
Từ năm 2014 trở đi, theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) sẽ tiến hành hợp nhất và sáp nhập để tinh lọc các ngân hàng yếu kém, nâng cao sức mạnh hệ thống và khả năng cạnh tranh Cụ thể, NHTMCP Sài Gòn Thương Tín và Phương Nam đã thông qua việc sáp nhập, được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận vào ngày 14/8/2015 Ngoài ra, một số ngân hàng cũng tự cơ cấu lại mạng lưới hoạt động để cải thiện chất lượng dịch vụ và giảm chi phí, dẫn đến việc chấm dứt hoạt động của một số phòng giao dịch không hiệu quả Kết quả là, số lượng mạng lưới của các NHTMCP có hội sở trên địa bàn sẽ tiếp tục giảm.
Quy mô về vốn và tài sản không ngừng tăng lên do đó nâng cao năng lực tài chính của các NHTM
Bảng 3.2: Quy mô về tài sản và vốn của các NHTMCP trên địa bàn TP.HCM Đơn vị tính: tỷ đồng
4 Dư nợ cho vay cá nhân và tổ chức kinh tế
6 Tỷ lệ Dư nợ cho vay /
7 Tỷ lệ nợ xấu / Tổng dư nợ (%)
1,9 2,3 3,3 2,7 3,7(tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng dư nợ)
4(tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng dư nợ)
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của NHNN CN TP.HCM
Hình 3.1: Mức thay đổi tổng tài sản, vốn điều lệ, vốn huy động, dư nợ cho vay cá nhân và tổ chức kinh tế giai đoạn 2010-2015
Theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006, các TCTD phải có lộ trình tăng vốn điều lệ đạt mức vốn pháp định Các NHTM được cấp phép hoạt động phải đảm bảo vốn điều lệ thực góp tương đương mức quy định trước ngày 31/12/2008 và 31/12/2010 Tính đến cuối năm 2010, 8/16 NHTMCP đã có vốn điều lệ trên 3000 tỷ đồng, trong khi các NHTM khác vẫn tiếp tục thực hiện lộ trình tăng vốn theo sự chấp thuận của NHNN Hiện nay, 14 NHTM tại TP.HCM đã hoàn tất việc tăng vốn điều lệ theo quy định Vốn điều lệ của các NHTMCP tăng đều qua các năm, tuy nhiên, vào tháng 6/2015, vốn đạt 83.050 tỷ đồng, giảm 4,71% so với năm 2014 do NHTMCP Việt Á và Quốc Dân chuyển trụ sở chính sang Hà Nội, dẫn đến Cục II không còn quản lý hai ngân hàng này.
Công tác huy động vốn là một trong những ưu tiên hàng đầu của các ngân hàng thương mại (NHTM) Tính đến ngày 30/6/2015, tổng vốn huy động của các NHTMCP tại TP HCM đạt 1.032.414,4 tỷ đồng Xu hướng huy động vốn của các NHTMCP trong khu vực này đang có sự gia tăng rõ rệt, mặc dù năm qua gặp nhiều thách thức.
Giai đoạn 2012-2014 chứng kiến nhiều biến động trong nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng Mặc dù có nhiều thách thức, các ngân hàng thương mại tại TP HCM đã nỗ lực tăng cường huy động vốn, với mức tăng trưởng so với năm 2010, cho thấy sự phát triển tích cực trong công tác này.
Sự phát triển về vốn đã dẫn đến sự gia tăng không ngừng của tổng tài sản các ngân hàng thương mại (NHTM), phù hợp với quy định trong Nghị định số 141/2006/NĐ-CP Tại TP.HCM, tổng tài sản của các NHTMCP vào tháng 6/2015 đạt 1.351.357 tỷ đồng, chiếm 83,66% tổng tài sản của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong khu vực, tăng 22,54% so với năm 2012.
Hiệu quả sử dụng vốn và cho vay của các ngân hàng thương mại (NHTM) đã tăng trưởng ổn định, với dư nợ tín dụng trên thị trường 1 đạt 731.463,5 tỷ đồng vào tháng 6/2015, tăng 2,3% so với năm 2014 Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu cũng tăng đáng kể, chủ yếu do tình hình kinh tế khó khăn làm giảm cầu hàng hóa, dẫn đến tồn kho cao và khách hàng mất khả năng trả nợ Theo thông tư số 10/2014/TT-NHNN, từ ngày 01/6/2014, hệ thống tài khoản của các tổ chức tín dụng không còn ghi nhận nợ xấu mà thay bằng nợ quá hạn, khiến việc so sánh số liệu nợ xấu giữa các năm trước và nợ quá hạn từ năm 2014 trở đi trở nên khó khăn.
Các dịch vụ ngân hàng đang phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu về tiền tệ và tín dụng của khách hàng, đặc biệt tại TP.HCM Sự phát triển này gắn liền với quá trình hiện đại hóa hoạt động ngân hàng của NHNN và các NHTMP Những thành tựu trong công nghệ điện tử và tin học đã được ứng dụng rộng rãi, bao gồm các dịch vụ thanh toán điện tử, thanh toán thẻ, thanh toán trực tuyến, cũng như HomeBanking, MobileBanking và InternetBanking.
3.2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
3.2.1 Tổ chức hoạt động Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng
Cơ quan Thanh tra,giám sát ngân hàng được tổ chức thành hệ thống gồm:
1 Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước
2 Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước chi nhánh được thành lập tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi không có Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước, có nhiệm vụ tham mưu cho Thống đốc trong việc quản lý các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Đơn vị này thực hiện thanh tra, giải quyết khiếu nại và tố cáo, đồng thời phòng, chống tham nhũng và rửa tiền Ngoài ra, cơ quan cũng tiến hành thanh tra hành chính và chuyên ngành, giám sát các lĩnh vực quản lý nhà nước, cùng với việc thực hiện các biện pháp phòng, chống tài trợ khủng bố theo quy định pháp luật.
Theo Quyết định số 35/2014/QĐ-TTg ngày 12/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc NHNN Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức rõ ràng, bao gồm 11 đơn vị.
- Vụ Thanh tra, giám sát các TCTD trong nước (gọi tắt là Vụ I);
- Vụ Thanh tra, giám sát các TCTD nước ngoài (gọi tắt là Vụ II);
- Vụ Thanh tra hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng (gọi tắt là Vụ III);
- Vụ Giám sát an toàn hệ thống ngân hàng (gọi tắt là Vụ IV);
- Vụ Chính sách an toàn hoạt động ngân hàng (gọi tắt là Vụ V);
- Vụ Quản lý cấp phép các TCTD và hoạt động ngân hàng (gọi tắt là Vụ VI);
- Vụ Tổ chức cán bộ (gọi tắt là Vụ VII);
- Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thành phố Hà Nội (gọi tắt là Cục I);
- Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Cục II);
- Cục Phòng, chống rửa tiền (gọi tắt là Cục III)
3.2.2 Tổ chức hoạt động Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP.Hồ Chí Minh
KHẢO SÁT NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA CỤC II
PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA CỤC II
Trong nghiên cứu này, tác giả đã phỏng vấn các chuyên viên, thanh tra viên và chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng thuộc hệ thống Ngân hàng Nhà nước để xác định những nguyên nhân hạn chế hoạt động thanh tra và giám sát ngân hàng tại địa phương.
TP Hồ Chí Minh cũng như một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động của Cục II
Để hoàn thiện hoạt động của Cục II, bước đầu tiên là lập bảng câu hỏi nhằm xác định nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất giải pháp Bảng câu hỏi sẽ được hiệu chỉnh dựa trên các báo cáo định kỳ về công tác thanh tra và ý kiến từ lãnh đạo Thanh tra, giám sát ngân hàng, nhằm tạo ra bảng câu hỏi chính thức cuối cùng Bảng khảo sát chính thức sẽ sử dụng thang đo Likert 5 điểm, từ "rất đồng ý" đến "rất không đồng ý".
- Bước 2: Chọn mẫu gồm 100 chuyên viên, thanh tra viên, chuyên gia trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước để khảo sát
Bước 3: Gửi bảng câu hỏi đến 75 chuyên viên và thanh tra viên tại Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP Hồ Chí Minh, NHNN để thu thập ý kiến và dữ liệu cần thiết.
Vào tháng 8 năm 2015, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã gửi 25 phiếu khảo sát đến các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng tại TP Hồ Chí Minh để thu thập ý kiến và thông tin.
4.2 Thông tin về khảo sát:
Mục tiêu của khảo sát là đánh giá mức độ các nguyên nhân gây ra hạn chế trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này tại TP Hồ Chí Minh.
- Thời gian khảo sát: từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 8 năm 2015
Địa điểm khảo sát được thực hiện tại Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP Hồ Chí Minh, thuộc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP Hồ Chí Minh, trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Quy mô mẫu: Dựa vào mục đích khảo sát và các khả năng thực hiện, tác giả quyết định quy mô mẫu là 100
- Đối tượng được khảo sát: chuyên viên, thanh tra viên, chuyên gia trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn cá nhân (Personal Interview) dựa theo bảng câu hỏi định lượng
- Số phiếu phát ra 100, số phiếu thu về 96 phiếu với tỷ lệ phản hồi là 96%, trong đó có
01 phiếu không hợp lệ do bỏ trống quá nhiều, còn lại là 95 phiếu hợp lệ tiến hành thống kê
Số phiếu hợp lệ thu về là 95 phiếu Trong đó:
- 25 phiếu (26,31%) được khảo sát đối với các chuyên gia, 70 phiếu (73,68%) được khảo sát đối với chuyên viên, thanh tra viên Cục II và NHNN CN TP Hồ Chí Minh;
- 23 mẫu (34,73%) làm trên 5 năm, 20 mẫu (21,05%) làm trên 2 năm, 17 mẫu (17,89%) làm dưới 2 năm;
- 60 mẫu (63,15%) hiện là chuyên viên và thanh tra viên, 7 mẫu (7,37%) là phó phòng,
Bảng 4.1: Kết quả khảo sát
STT Các yếu tố 1 2 3 4 5 Tỷ lệ(%)
A Những hạn chế của hoạt động thanh tra tại chỗ của Thanh tra, giám sát ngân hàng
1 Tần suất thanh tra đối với NHTMCP trên địa bàn còn thưa 9 15 29 23 19 44,21
2 Đề cương thanh tra quá rộng, chưa trọng tâm 10 1 62 13 9 23,16
3 Phương pháp thanh tra chủ yếu trên cơ sở tuân thủ, chưa đánh giá hết thực trạng của NHTMCP
Cán bộ thanh tra chưa thể truy cập vào số liệu trên mạng nội bộ của NHTMCP, mà chỉ dựa vào dữ liệu do ngân hàng cung cấp, dẫn đến việc thông tin không đảm bảo tính chính xác.
Khung pháp lý và cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu cho công tác thanh tra, giám sát ngân hàng
6 Lực lượng nhân sự thanh tra còn mỏng chưa đáp ứng được các cuộc thanh tra toàn diện trên 0 0 16 35 44 83,16 toàn quốc
B Những hạn chế của hoạt động giám sát từ xa của Thanh tra, giám sát ngân hàng
7 Số liệu phân tích chỉ dựa vào báo cáo của
NHTMCP nên chưa phản ánh đúng số thực tế 9 15 37 23 11 35,78
8 Thiếu sự hợp tác giữa NHTMCP khi cung cấp các số liệu cho Thanh tra, giám sát ngân hàng
Phân tích của cán bộ giám sát chưa sâu, còn hời hợt, tính chất “chỉ điểm” cho thanh tra tại chỗ thấp
C Giải pháp và kiến nghị
A Giải pháp đối với Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP Hồ Chí Minh(Cục II)
10 Hoàn thiện và phát triển đội ngũ cán bộ TTGS về số lượng, chất lượng
11 Hoàn thiện quy trình tiến hành một cuộc thanh tra tại chỗ
12 Hoàn thiện phương thức thanh tra theo hướng chuyển dần từ thanh tra tuân thủ sang thanh tra trên cơ sở rủi ro
13 Cải tiến và nâng cao hiệu quả của công tác giám sát từ xa
14 Nâng cao hiệu quả thu thập thông tin liên quan hoạt động ngân hàng phục vụ công tác TTGS
15 Tăng cường phối hợp với các đơn vị, cơ quan chức năng có liên quan trong việc trao đổi, cung cấp thông tin có liên quan
B Kiến nghị đối với chính phủ
16 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật, các cơ chế chính sách
17 Xác định vị thế pháp lý của Cơ quan TTGSNH một cách rõ ràng 0 0 55 11 29 42,1
Xây dựng cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin và tăng cường phối hợp, hành động giữa Cơ quan
TTGSNH với các cơ quan chức năng có liên quan trên thị trường tài chính Việt Nam
C Kiến nghị đối với NHNN Việt Nam
Ban hành các quy trình, quy định mang tính đồng nhất nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng
20 Đổi mới mô hình tổ chức TTGSNH tại các
NHNN Chi nhánh tỉnh, thành phố nhằm đảm bảo tính độc lập
21 Đổi mới nội dung, quy trình và phương pháp giám sát từ xa 0 0 32 30 33 66,31
22 Hoàn thiện hệ thống hạ tầng và thành lập bộ phận hỗ trợ nghiệp vụ TTGSNH 0 0 62 20 13 34,73
23 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho
24 Thực hiện chế độ báo cáo theo đúng quy định 0 0 38 41 28 72,63
Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) đặt sự chú trọng vào việc kiểm soát và kiểm toán nội bộ, đồng thời không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận này.
4.4 Bình luận về kết quả khảo sát
Theo khảo sát tại Mục A về hạn chế trong hoạt động thanh tra tại chỗ của Thanh tra, giám sát ngân hàng, nguyên nhân chính là do lực lượng nhân sự còn mỏng, không tương xứng với quy mô và số lượng các TCTD tại TP Hồ Chí Minh Điều này dẫn đến việc không đáp ứng được các cuộc thanh tra toàn diện, vốn được đánh giá là cần thiết và quan trọng nhất, với 83,16% người tham gia khảo sát đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý Kết quả này cho thấy rằng, nguồn nhân lực là yếu tố then chốt để đảm bảo chất lượng cao cho các cuộc thanh tra, giúp phát hiện và cảnh báo sớm những rủi ro trong hệ thống ngân hàng.
Khoảng 40% người tham gia khảo sát đồng ý về các hạn chế khác, trong đó hạn chế do đề cương thanh tra quá rộng và thiếu trọng tâm chỉ nhận được 23,16% sự đồng tình Nhiều ý kiến cho rằng đề cương thanh tra cần phải bao quát và toàn diện hơn để phát hiện những sai phạm hệ thống có rủi ro cao, ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của TCTD.
Theo khảo sát tại Mục B về những hạn chế trong hoạt động giám sát từ xa của Thanh tra, giám sát ngân hàng, 74,74% người tham gia cho rằng thiếu sự hợp tác từ các NHTMCP khi cung cấp số liệu là nguyên nhân chính Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác từ các TCTD, vì thông tin chính xác là cơ sở để cán bộ thanh tra đánh giá thực trạng và đưa ra cảnh báo kịp thời nhằm ngăn ngừa rủi ro Ngoài ra, 64,21% người tham gia cho rằng khả năng phân tích của cán bộ giám sát còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng công tác thanh tra Điều này cho thấy yếu tố con người là yếu tố quyết định đến hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng.
Mục C của bài viết đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng, trong đó việc phát triển đội ngũ cán bộ TTGS tại Cục II về số lượng và chất lượng được đánh giá là quan trọng nhất, với 89,27% người tham gia đồng ý Bên cạnh đó, kiến nghị về việc tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho TTGSNH trong toàn hệ thống cũng nhận được sự đồng tình cao, đạt 83,15%.
Theo khảo sát về cải tiến công tác giám sát từ xa tại Cục II, có đến 78,94% người tham gia đồng ý và hoàn toàn đồng ý, trong đó 47 người đồng ý và 28 người hoàn toàn đồng ý, điều này khẳng định vai trò quan trọng của giám sát từ xa trong hoạt động.
Thanh tra và giám sát ngân hàng của Cục II đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giám sát Việc cải thiện chất lượng này sẽ cung cấp thông tin cần thiết, giúp thanh tra tại chỗ thực hiện nhanh chóng và thuận lợi hơn.
Các kiến nghị đối với ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện chế độ báo cáo theo đúng quy định, với tỷ lệ đồng tình cao nhất lên đến 72,63%, tương ứng với 41 người ủng hộ.
GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG
5.1 ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG TTGSNH
Trong thời gian qua, hoạt động TTGSNH đã đạt được những kết quả đáng khích lệ về quy mô và hiệu quả, tiến gần hơn đến thông lệ quốc tế Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế và khoảng cách so với mục tiêu đề ra Để đạt được kết quả tốt hơn trong tương lai, hoạt động TTGSNH cần có những biến đổi mạnh mẽ về cả lượng và chất.
Đối với Ngân hàng Nhà nước
Dựa trên bộ máy Thanh tra NHNN hiện tại, cần xây dựng một hệ thống giám sát ngân hàng hiện đại và hiệu quả để đáp ứng yêu cầu phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam và tuân thủ các nguyên tắc quốc tế Mục tiêu chính là đảm bảo an toàn và ổn định cho các TCTD, đồng thời bảo vệ lợi ích công chúng Cần ưu tiên đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của Thanh tra NHNN theo hướng nâng cao tính độc lập và thống nhất, dưới sự quản lý của Thống đốc NHNN, nhằm đảm bảo tính nhất quán trong phương pháp giám sát Tổ chức hệ thống thanh tra theo ngành dọc sẽ giúp phân bổ hợp lý các nguồn lực thanh tra.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và hạ tầng kỹ thuật cho hoạt động giám sát ngân hàng là cần thiết để nâng cao an toàn và các biện pháp thận trọng trong ngành ngân hàng Điều này bao gồm việc cải thiện các quy định và chính sách quản lý các loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) và hoạt động ngân hàng Đồng thời, cần đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình thanh tra giám sát (TTGS) để phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin và công nghệ ngân hàng, đồng thời áp dụng các nguyên tắc giám sát ngân hàng hiệu quả của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel cùng các chuẩn mực quốc tế liên quan.
Basel năm 1988 - Basel I), từng bước tiến tới thực hiện các nguyên tắc, chuẩn mực cơ bản theo Hiệp ước vốn mới (Basel II) sau năm 2010
Hiện đại hóa công nghệ thông tin trong công tác thanh tra giám sát ngân hàng là cần thiết để nâng cao hiệu quả giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ Giám sát từ xa đóng vai trò quan trọng trong việc cảnh báo sớm rủi ro ngân hàng Đồng thời, kết quả từ kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập sẽ hỗ trợ quá trình này, giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả giám sát.
Đối với Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TP Hồ Chí Minh
Đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình thanh tra giám sát của Cục II phù hợp thực tế hoạt động tại địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính lớn nhất Việt Nam với nhiều ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và công ty tài chính Khối lượng vốn và ngoại tệ lưu chuyển trong hệ thống tài chính tại đây rất cao, thúc đẩy các hoạt động huy động vốn và cho vay diễn ra sôi động Sự phát triển kinh tế nhanh chóng của TP HCM dẫn đến nhu cầu vốn gia tăng, kéo theo sự tăng trưởng tín dụng tương ứng Tuy nhiên, sự tăng trưởng này cũng làm gia tăng rủi ro tín dụng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn và hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của các tổ chức tín dụng Để giảm thiểu rủi ro, Cục II cần được đổi mới và nâng cao chất lượng phù hợp với thực tế địa phương.
Phương thức hoạt động kết hợp giữa thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa, trong đó giám sát đóng vai trò chủ yếu Cần chú trọng đến cảnh báo sớm và cảnh báo xa, đặc biệt là cảnh báo sớm rủi ro hệ thống để thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, đồng thời hỗ trợ hiệu quả cho thanh tra tại chỗ.
Phương thức giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ đều có mục tiêu giám sát các TCTD, phòng ngừa rủi ro và xử lý vi phạm trong hoạt động của họ Sự kết hợp chặt chẽ giữa hai phương thức này sẽ nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng Do đó, cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cả hai phương thức giám sát và thanh tra, đặc biệt là cải tiến quy trình giám sát và xây dựng quy trình thanh tra tại chỗ phù hợp với đặc điểm hoạt động của các TCTD trong khu vực.
Hoàn thiện các quy định về an toàn trong hoạt động các tổ chức tín dụng
NHNN cần hoàn thiện quy định và văn bản pháp luật để nâng cao tính an toàn trong hoạt động của các TCTD, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Cụ thể, cần chỉ đạo TCTD nâng cao năng lực tài chính, quản trị điều hành và phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại để đáp ứng yêu cầu hội nhập Đồng thời, rà soát và sửa đổi các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn hoạt động của TCTD theo thông lệ quốc tế và thực tiễn Việt Nam Ngoài ra, cần thực thi các biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của các TCTD, củng cố và sắp xếp lại các TCTD phù hợp với chuẩn mực quốc tế Việc tăng cường tính công khai minh bạch, thanh tra, giám sát, đặc biệt là giám sát từ xa, cũng rất quan trọng để phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
5.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM CỦA CỤC II
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Thanh tra Giám sát Ngân hàng (TTGSNH) trong sự phát triển kinh tế của đất nước và TP.HCM, việc tăng cường hoạt động TTGSNH tại các ngân hàng trên địa bàn là rất cần thiết và có vai trò quan trọng Để khắc phục những hạn chế hiện tại, Cục II cần chú trọng vào một số giải pháp cụ thể.
5.2.1 Hoàn thiện và phát triển đội ngũ cán bộ TTGS về số lượng, chất lượng Để hoàn thiện hoạt động của TTGSNH, việc phát triển đội ngũ cán bộ thanh tra, giám sát đủ về số lượng và có trình độ nghiệp vụ cao, có phẩm chất đạo đức tốt, được trang bị đầy đủ kiến thức về pháp luật, quản lý và các công cụ thực thi nhiệm vụ là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Chính vì vậy, Ban lãnh đạo Cục II phải chú trọng ngay từ khâu tuyển dụng nhân sự mới cho TTGSNH Bên cạnh đó, cần có chế độ đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu kiến thức cũng như kỹ năng dành cho cán bộ TTGSNH
Kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho TTGS tại Cục II cần được xây dựng theo hướng:
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng cần tăng cường biên chế cho cán bộ thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa tại Cục II, ưu tiên tuyển dụng nhân sự có kinh nghiệm Việc này nhằm đảm bảo đủ nhân lực cho công việc, tránh tình trạng thiếu nhân sự tham gia các đoàn thanh tra, đồng thời không để cán bộ thanh tra phải rời khỏi đoàn công tác tại chỗ để thực hiện giám sát từ xa như hiện nay.
Cử cán bộ TTGS tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn và dài hạn liên quan đến nghiệp vụ tài chính ngân hàng hiện đại, quản trị rủi ro và các phương pháp TTGS tiên tiến để đảm bảo cán bộ nắm bắt kịp thời các yêu cầu và có khả năng thích ứng với sự phát triển hiện nay.
Phân công công việc hợp lý, phù hợp với năng lực và trình độ của các cán bộ làm công tác TTGS
Thường xuyên tổ chức các buổi thảo luận về chuyên môn và kỹ năng thanh tra giúp cán bộ trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau Trong các buổi thảo luận, Lãnh đạo TTGS hoặc cán bộ có kinh nghiệm đưa ra các tình huống thực tế để cán bộ đề xuất phương án giải quyết, đồng thời phân tích ưu nhược điểm và khó khăn khi áp dụng Qua đó, cán bộ thanh tra, đặc biệt là những người mới, có thể rút ra bài học kinh nghiệm và lựa chọn phương án phù hợp nhất cho công việc của mình.
Nâng cao phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ thanh tra là nhiệm vụ quan trọng bên cạnh đào tạo chuyên môn Cần nâng cao nhận thức về vai trò và trách nhiệm của cán bộ TTGSNH trong công tác thanh tra Tổ chức thường xuyên các lớp tập huấn để rèn luyện đạo đức, bản lĩnh chính trị và học tập theo tấm gương Hồ Chí Minh Trong bối cảnh đổi mới, cán bộ thanh tra cần giữ vững lập trường tư tưởng, kiên quyết chống lại sự suy thoái về chính trị và đạo đức, đồng thời tránh xa cám dỗ vật chất để hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ nhân dân, góp phần phát triển đất nước và ổn định chính trị.
5.2.2 Hoàn thiện quy trình tiến hành một cuộc thanh tra tại chỗ
Việc hoàn thiện kế hoạch và đề cương thanh tra trong giai đoạn chuẩn bị là rất quan trọng, giúp thu thập thông tin và xác định vấn đề trọng tâm cần thanh tra Điều này không chỉ rút ngắn thời gian mà còn đảm bảo thực hiện đầy đủ yêu cầu của cuộc thanh tra Do đó, quyết định về đề cương thanh tra cần được cân nhắc và thảo luận kỹ lưỡng trong tập thể thanh tra, dựa trên kết quả giám sát từ xa và các thông tin liên quan, phù hợp với điều kiện cụ thể của chi nhánh thanh tra.