1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra vào thị trường EU tại Công ty cổ phần Hùng Vương

137 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Xuất Một Số Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Cá Tra Vào Thị Trường EU Tại Công Ty Cổ Phần Hùng Vương
Tác giả Hồ Thị Khánh Phượng
Người hướng dẫn TS. Huỳnh Minh Triết
Trường học Trường Đại Học Công Nghệ TPHCM
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP. HỒ CHÍ MINH
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BIA LVHC

  • NOI DUNG PDF

Nội dung

Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu đưa ra một số giải pháp hiệu quả và phù hợp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường EU cho mặt hàng cá tra thông qua việc đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu và môi trường cạnh tranh hiện tại của Công ty Cổ phần Hùng Vương.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu chính của nghiên cứu là đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm tăng cường xuất khẩu cá tra vào thị trường EU Nghiên cứu sẽ đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu và môi trường cạnh tranh hiện tại của Công ty Cổ phần Hùng Vương để đưa ra những phương án phù hợp.

Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xuất khẩu cá tra vào thị trường EU, đồng thời nghiên cứu các điều kiện kinh doanh của thị trường EU đối với sản phẩm thủy sản cá tra.

Trong những năm gần đây, tình hình xuất khẩu cá tra và basa của công ty sang thị trường EU đã có những biến động đáng kể Phân tích các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu, bao gồm quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm và các chính sách thương mại Đánh giá điểm mạnh như thương hiệu uy tín và sản phẩm chất lượng, bên cạnh những điểm yếu như chi phí sản xuất cao và cạnh tranh gay gắt, sẽ giúp nhận diện cơ hội và nguy cơ cho hoạt động xuất khẩu hiện tại và trong tương lai Để nâng cao hiệu quả xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU, công ty cần triển khai một số giải pháp như cải thiện quy trình sản xuất, tăng cường marketing và tìm kiếm các kênh phân phối mới.

ĐỐI TƢỢNG - PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Hoạt động kinh doanh XK cá tra tại Cty Cổ Phần Hùng Vương

– Về không gian: Hoạt động xuất khẩu cá tra sang thị trường EU của Cty

– Thời gian: tập trung xử lý số liệu từ năm 2010 đến tháng 6/2013 và đề xuất các giải pháp đến năm 2020.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 Phương pháp thu thập dữ liệu:

Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp bao gồm việc khai thác thông tin từ các nguồn bên trong và bên ngoài công ty, như báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động kinh doanh, tài liệu nghiên cứu của chính phủ về thị trường, cũng như từ các hiệp hội, báo chí, tạp chí và các trang web uy tín liên quan đến ngành thủy sản, đặc biệt là cá tra.

Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp bao gồm việc phỏng vấn trực tiếp nhân viên tại Công ty Cổ phần Hùng Vương và các cán bộ phụ trách kinh doanh từ một số công ty trong ngành.

 Phương pháp phân tích dữ liệu: (chi tiết ở phụ lục )

 Phân tích hoạt động – khía cạnh – tác động

 Xây dựng mô hình EFE, IFE đánh giá phản ứng của công ty trước yếu tố môi trường bên ngoài và bên trong

 Mô hình phân tích SWOT: đánh giá các điểm mạnh, yếu và những cơ hội, thách thức từ đó đề xuất những giải pháp tối ƣu

 Sơ cấp: Sử dụng bảng tính Excel để thống kê các số liệu thu thập đƣợc

Tham khảo ý kiến từ các chuyên gia trong ngành xuất khẩu thủy sản là cần thiết để hoàn thiện các giải pháp tối ưu nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Việc xử lý các câu trả lời sẽ được thực hiện thông qua các phương pháp thống kê hiệu quả.

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Hệ thống hóa các lý luận phù hợp với thực tiễn của công ty, góp phần nâng cao năng lực và mở rộng thị phần xuất khẩu

Tài liệu này hỗ trợ Ban lãnh đạo công ty trong việc vận dụng hiệu quả các chiến lược kinh doanh sắp tới, nhằm nâng cao năng lực phát triển xuất khẩu cá tra và các sản phẩm chế biến từ cá tra sang thị trường EU.

Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu quý giá cho sinh viên và các công ty quan tâm đến lĩnh vực cá tra Đồng thời, luận văn cũng hỗ trợ các cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu trong việc phát triển cơ sở khoa học liên quan đến xuất khẩu mặt hàng cá tra tại Việt Nam.

Tài liệu này cung cấp cơ sở khoa học cho người nông dân hiểu rõ về thị trường xuất khẩu, từ đó nâng cao nhận thức về vai trò của họ trong việc cung cấp nguyên liệu sạch cho thị trường quốc tế.

Luận văn là một công trình khoa học quan trọng, mang lại ý nghĩa lý luận và thực tiễn Tài liệu này hỗ trợ vùng nuôi trồng thủy sản cá tra trong việc xây dựng kế hoạch và phát triển bền vững cho những năm tới, dựa trên cơ sở khoa học vững chắc.

KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương chính như sau:

- Chương 1: Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về xuất khẩu thủy sản Việt Nam nói chung và thị trường EU nói riêng

- Chương 2: Phân tích thực trạng xuất khẩu cá tra vào thị trường EU của Công ty

Cổ phần Hùng Vương trong giai đoạn 2010-2012 và các nhân tố tác động

- Chương 3: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu cá tra vào thị trường EU của Công ty Cổ phần Hùng Vương trong thời gian tới.

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ XUẤT KHẨU

1.1.1 Khái niệm về xuất khẩu:

Xuất khẩu là quá trình bán hàng hóa và dịch vụ sang một quốc gia khác, trong đó tiền tệ được sử dụng làm phương tiện thanh toán Tiền tệ này có thể là của một trong hai quốc gia hoặc là của một nước thứ ba, thường là đồng tiền được chấp nhận trong giao dịch quốc tế.

Mỗi quốc gia có những thế mạnh và yếu điểm khác nhau trong các lĩnh vực sản xuất, dẫn đến việc không thể tự đáp ứng tất cả nhu cầu nội địa Do đó, hoạt động xuất khẩu trở thành cần thiết, giúp các quốc gia tận dụng lợi thế cạnh tranh để xuất khẩu hàng hóa và nhập khẩu những sản phẩm mà trong nước không sản xuất được hoặc chi phí sản xuất quá cao.

Xuất khẩu không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho quốc gia xuất khẩu mà còn giúp người dân các nước khác tiếp cận những sản phẩm và dịch vụ mà đất nước họ thiếu hụt.

Xuất khẩu là một hình thức giao lưu thương mại quan trọng, giúp cân bằng lợi ích giữa các quốc gia trên toàn cầu.

1.1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu

Sự tăng trưởng kinh tế cần có nhân lực, tài nguyên, vốn và công nghệ, nhưng nhiều quốc gia đang phát triển gặp khó khăn do thiếu vốn và công nghệ, trong khi lại dư thừa lao động Do đó, mở rộng xuất khẩu để tăng thu nhập quốc gia và đáp ứng nhu cầu nhập khẩu phục vụ cho phát triển kinh tế trở thành một mục tiêu hàng đầu trong chính sách thương mại.

Trong bối cảnh của nước ta hiện nay, hoạt động xuất khẩu ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, cụ thể là:

1.1.2.1 Đối với một nền kinh tế:

Xuất khẩu thu được ngoại tệ về cho đất nước

Xuất khẩu giúp cho các quốc gia mở rộng thị trường tiêu thụ

Xuất khẩu là một công cụ quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vì việc tăng cường hoạt động xuất khẩu sẽ mở rộng quy mô sản xuất và phát triển nhiều ngành nghề, từ đó góp phần vào sự tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội và nâng cao mức sống của người dân.

Xuất khẩu còn thúc đẩy việc phát minh, sáng tạo, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất

Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi cơ cấu kinh tế ngành, giúp tối ưu hóa lợi thế tuyệt đối và so sánh của quốc gia Việc phát triển xuất khẩu không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, từ đó cải thiện sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Xuất khẩu góp phần thúc đẩy và tăng cường hợp tác quốc tế giữa các nước trên thế giới

1.1.2.2 Đối với một doanh nghiệp:

Xuất khẩu mang lại cho các doanh nghiệp trong nước cơ hội tiếp cận thị trường toàn cầu Nếu thành công, điều này sẽ tạo nền tảng cho việc mở rộng thị trường và nâng cao khả năng sản xuất của các doanh nghiệp.

Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thúc đẩy liên doanh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, mở rộng quan hệ kinh doanh và sử dụng hiệu quả nguồn lực Sản xuất hàng hóa xuất khẩu không chỉ tạo ra nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động mà còn mang lại ngoại tệ để nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Khi tham gia kinh doanh quốc tế, doanh nghiệp phải đối mặt với môi trường cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi sự đổi mới và hoàn thiện trong quản trị sản xuất Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã và hạ giá thành sản phẩm Những yếu tố này sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả.

1.1.3 Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu của doanh nghiệp

Để thâm nhập hiệu quả vào thị trường quốc tế, các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược xuất khẩu phù hợp, giúp sản phẩm của họ có mặt vững chắc trên toàn cầu Việc nghiên cứu các yếu tố văn hóa, chính trị, xã hội và tài chính là cần thiết để lựa chọn thị trường phù hợp, không đi lệch với mục tiêu xuất khẩu Do đó, để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp cần triển khai các chiến lược cụ thể và hiệu quả.

1.1.3.1 Nghiên cứu và mở rộng thị trường mục tiêu: Doanh nghiệp phải xem xét các yếu tố sau: quy mô và mức độ tăng trưởng của thị trường, mức độ hấp dẫn của thị trường, những mục tiêu cũng như nguồn lực của doanh nghiệp Mức độ tăng trưởng thường là một đặc điểm mong muốn vì các doanh nghiệp nói chung đều muốn có mức tiêu thụ và lợi nhuận ngày càng tăng Song các đối thủ cạnh tranh sẽ nhanh chóng xâm nhập những khúc thị trường đang tăng trưởng và làm giảm đi khả năng sinh lời của chúng Khi chọn thị trường mục tiêu các doanh nghiệp cần quan tâm đến thị phần mà đối thủ cạnh tranh đang nắm giữ

1.1.3.2 Chiến lƣợc về giá và chiến lƣợc về sản phẩm: Việc xác lập một giá đúng đắn sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp kinh doanh có lãi và chiếm được thị trường Giá là yếu tố duy nhất mang lại doanh thu, hoạch toán đƣợc lãi lỗ và ra những quyết định quản trị để nâng cao hiệu quả kinh doanh Một vấn đề thường xảy ra ở các doanh nghiệp là: giảm giá nhằm tăng doanh thu hơn là làm cho người mua tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp có giá trị cao và vì thế nó đáng giá cao Một sai lầm thường gặp khác là định giá theo chi phí nhiều hơn là theo cảm nhận của khách hàng về giá trị của sản phẩm

Chiến lƣợc về sản phẩm bao gồm: chiến lƣợc tập hợp sản phẩm, dòng sản phẩm, cho từng sản phẩm cụ thể

1.1.3.3 Chiến lƣợc phân phối: Là một công cụ quan trọng để sản phẩm xâm nhập vào thị trường xa, mới lạ, đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng thể hiện qua nhiều phương thức và hoạt động khác nhau Sự lựa chọn hệ thống phân phối là một trong những quyết định quan trọng nhất của công ty Chi phí và lợi nhuận cũng bị ảnh hưởng bởi những quyết định lựa chọn kênh phân phối Kênh phân phối kết hợp tất cả các thành viên tham gia vào tiến trình phân phối gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ, các đại lý và người tiêu dùng Tùy theo từng loại sản phẩm, thị trường, doanh nghiệp mà số lượng kênh và cấu trúc kênh cũng khác nhau: kênh không có trung gian là kênh trực tiếp, có trung gian gọi là kênh gián tiếp

1.1.3.4 Chiến lƣợc xúc tiến: Xúc tiến (Promotion) là các hoạt động truyền tin về sản phẩm và bản thân doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng và mua sản phẩm Đây là những hoạt động truyền thông quan trọng trong việc xây dựng và duy trì những mối quan hệ với khách hàng Mục tiêu của xúc tiến là thông tin cho khách hàng mục tiêu về sự có mặt của sản phẩm công ty trên thị trường Một doanh nghiệp có nguồn tài chính dồi dào có thể thực hiện nhiều chương trình quảng cáo hơn một doanh nghiệp có nguồn tài chính giới hạn

TỔNG QUAN THỰC TIỄN XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM

Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng với mức trung bình 15.6% mỗi năm, khẳng định vị thế là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của đất nước trên thị trường quốc tế Theo thống kê từ Hải quan, xu hướng này tiếp tục cho thấy tiềm năng phát triển mạnh mẽ của ngành thủy sản Việt Nam.

- Năm 2006, xuất khẩu thủy sản đạt gần 3,4 tỷ USD, có mức tăng trưởng cao 22.6% Sang năm 2007, con số này đạt 3,76 tỷ USD, tăng 12.1% so với năm trước

- Đến năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, xuất khẩu nhóm hàng này bị suy giảm (giảm 5.7 %) với mức kim ngạch là 4,25 tỷ USD

- Năm 2010 và năm 2011, xuất khẩu thủy sản khởi sắc với mức kim ngạch và tốc độ tăng lần lƣợt là 5,02 tỷ USD, 18 % và 6,11 tỷ USD, 21.8 %

Năm 2012, xuất khẩu nhóm hàng này đạt 6,09 tỷ USD, giảm 0,4% (tương đương giảm 24 triệu USD) so với năm 2011, chiếm 5,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và khoảng 4% GDP.

- Sáu tháng đầu năm 2013, giá trị xuất khẩu thủy sản đạt gần 2,9 tỷ USD, tương đương với cùng kỳ năm ngoái.

Việt Nam đã trở thành một trong năm quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu thủy sản, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn thủy sản toàn cầu.

Năm 2012, Việt Nam đã xuất khẩu thủy sản sang 156 thị trường với tổng giá trị đạt 6,13 tỷ USD, trong đó các thị trường chính bao gồm Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản.

Hàn Quốc là một trong bốn đối tác lớn nhất của Việt Nam trong việc nhập khẩu và tiêu thụ hàng thủy sản, với tổng kim ngạch đạt 3,89 tỷ USD, chiếm 64% tổng xuất khẩu thủy sản của cả nước Trong khi đó, thị trường EU là ngoại lệ duy nhất với mức suy giảm trong năm 2012, đạt 1,13 tỷ USD, giảm 16,7% so với năm trước.

Năm 2012, Hoa Kỳ đã chính thức vượt Liên minh Châu Âu để trở thành thị trường hàng đầu về nhập khẩu thủy sản của Việt Nam, với kim ngạch đạt 1,17 tỷ USD, chiếm 19,2% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước.

(Nguồn: Tổng cục Hải quan)

Hình 1.1: Kim ngạch và tốc độ tăng giảm xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giai đoạn năm 2006-2012

Trong sáu tháng đầu năm 2013, xuất khẩu vào Mỹ ghi nhận mức tăng 6% so với cùng kỳ năm trước Các thị trường khác như Trung Quốc (bao gồm Hồng Kông), ASEAN và Brazil cũng có sự tăng trưởng ấn tượng với mức tăng lần lượt là 27.7%, 11.8% và 76.5% Tuy nhiên, xuất khẩu vào một số thị trường quan trọng như EU, Nhật Bản và Hàn Quốc lại gặp khó khăn, với mức giảm lần lượt là 1.3% đối với Nhật Bản, 7.8% đối với EU và 19.5% đối với Hàn Quốc.

(Nguồn: Tổng cục Hải quan)

Hình 1.2: Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang EU và Hoa

Việt Nam có bờ biển dài và hệ thống sông ngòi, kênh rạch phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Ngành thủy sản xuất khẩu của Việt Nam rất đa dạng, với sản phẩm từ nuôi trồng chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, hiện đã vượt quá 60% Trong đó, mặt hàng tôm dẫn đầu, tiếp theo là cá tra và cá ngừ.

(Nguồn: Tổng cục Thủy sản)

Hình 1.3: Kim ngạch xuất khẩu các loại thủy sản năm 2012 (triệu USD) 1.2.2 Tình hình xuất khẩu cá tra Việt Nam:

Cá tra đã giữ vững vị thế là mặt hàng chiến lược trong xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, với vị trí hàng đầu thế giới về sản xuất Hai thị trường nhập khẩu chính của cá tra Việt Nam là EU và Mỹ, mặc dù giá trị xuất khẩu sang hai thị trường này đã giảm từ 47,5% năm 2011 xuống còn 45% năm 2012 Trong nửa đầu năm 2013, Mỹ và EU vẫn chiếm gần 46% tổng giá trị xuất khẩu cá tra của Việt Nam.

Năm 2012, cá tra Việt Nam không chỉ tập trung vào hai thị trường chính mà còn mở rộng xâm nhập vào nhiều thị trường khác trên toàn cầu, trong đó có Trung Quốc và Ai Cập.

Trong năm qua, 10 thị trường nhập khẩu cá tra ghi nhận mức tăng trưởng trên 10% Giá trị xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc và Hong Kong tăng 31,5% so với năm 2011, trong khi Ai Cập tăng 29% Bên cạnh đó, các thị trường như Mexico, Brazil, Colombia và Australia vẫn tiếp tục là những điểm đến tiềm năng cho cá tra Việt Nam.

Cá tra Việt Nam từng là mặt hàng độc quyền trên thị trường quốc tế, nhưng hiện nay đang phải đối mặt với tình trạng bị ép giá từ các nước ngoài Mặc dù lý thuyết cho rằng hàng độc quyền sẽ có giá cao và quyền quyết định về giá, thực tế lại cho thấy giá cá tra đã giảm mạnh từ 4,93 USD/kg vào năm 1997 - 1998 xuống chỉ còn 2 - 2,5 USD/kg hơn 12 năm sau Sự cạnh tranh nội bộ, cùng với việc bán phá giá và cung cấp hàng kém chất lượng, đã khiến cá tra Việt Nam mất dần vị thế và tính cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Cá tra Việt Nam đang đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường toàn cầu, khi ngành nuôi cá tra phát triển mạnh mẽ Ngoài bốn quốc gia hạ lưu sông MêKông (Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam), nhiều nước khác như Ấn Độ, Philippines và Indonesia cũng đang gia tăng sản xuất cá tra do nhận thấy tiềm năng kinh tế mà ngành này mang lại.

Hiện tại, thị trường nhập khẩu chính là EU và Mỹ chưa có dấu hiệu hồi phục Dự báo, thị trường EU sẽ tiếp tục giảm nhập khẩu do khủng hoảng kinh tế, trong khi thị trường Mỹ cũng sẽ gặp khó khăn và có khả năng chững lại.

TỔNG QUAN THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VÀO THỊ TRƯỜNG EU

Liên minh châu Âu (EU) hiện có 28 quốc gia thành viên và là trung tâm hàng đầu thế giới về chính trị, kinh tế, thương mại và tài chính Với GDP vượt 16,524 tỷ USD, EU chiếm 23,5% tổng GDP toàn cầu, 25% giá trị thương mại thế giới và 33% luồng đầu tư trực tiếp toàn cầu.

EU là thị trường lớn thứ hai của Việt Nam sau Mỹ

Năm 2012, dân số EU đạt khoảng 504 triệu người, dự kiến sẽ tăng lên khoảng 508 triệu vào năm 2015, tương ứng với sự gia tăng 4,6 triệu người Thị trường EU đa dạng với nhiều đặc điểm tiêu dùng của từng quốc gia, tạo nên nhu cầu tiêu dùng phong phú và đặc trưng theo từng vùng lãnh thổ.

EU là một thị trường khắt khe với tiêu chuẩn chất lượng và an toàn thực phẩm nghiêm ngặt nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường Người tiêu dùng EU ngày càng ưa chuộng sản phẩm bền vững, tự nhiên và hạn chế hóa chất, đồng thời có xu hướng ăn uống lành mạnh và tham gia nhiều hoạt động ngoài trời Thương hiệu, thông tin sản phẩm và trách nhiệm xã hội của nhà cung cấp được người tiêu dùng đặc biệt quan tâm, đặc biệt là đối với sản phẩm chế biến, đồ hộp và đông lạnh.

1.3.2 Xu hướng tiêu thụ thủy sản của các nước trong EU

Là khu vực dân cư có mức sống khá cao trên thế giới, người dân EU có khuynh hướng tiêu thụ rất đa dạng chủng loại thủy sản

Người dân EU rất coi trọng an toàn sức khỏe trong tiêu thụ thực phẩm, đặc biệt là thủy sản, loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, ít năng lượng, và không có tác động xấu tới môi trường Với sự gia tăng bệnh lở mồm long móng ở gia súc, xu hướng tiêu thụ thủy sản đang gia tăng Chất lượng sản phẩm thủy sản cũng được người tiêu dùng khu vực này đánh giá cao, sẵn sàng chi trả giá cao cho sản phẩm chất lượng tuyệt hảo, trong đó có xu hướng chuyển sang các sản phẩm có chứng nhận ASC với giá cao hơn khoảng 10-15% so với sản phẩm thông thường.

Thủy sản chế biến tươi hoặc đông lạnh ngày càng được ưa chuộng tại các nước EU nhờ vào tính tiện lợi và thời gian chế biến nhanh chóng.

1.3.3 Tình hình cá tra tại thị trường EU

Cá tra, một loại cá thịt trắng có giá trị thấp, chiếm ưu thế trong phân khúc bán lẻ và dịch vụ thực phẩm Tại phân khúc bán lẻ, cá tra được cung cấp chủ yếu dưới dạng philê tươi và đông lạnh, thường xuất hiện trong các quảng cáo và chương trình khuyến mãi Trong khi cá tra tươi cạnh tranh với các loại cá nhập khẩu và địa phương khác, thì cá minh thái Alaska là đối thủ chính trong phân khúc đông lạnh Đối với dịch vụ thực phẩm, philê cá tra được tiêu thụ như một món ăn giá rẻ, chủ yếu cạnh tranh với cá minh thái Alaska.

1.3.3.1 Tình hình thị trường EU năm 2005 – 2011

■Italy ■Anh ■Các nước EU khác

Hình 1.4: Nhập khẩu cá tra vào EU, 2007 – 2011 (tấn)

Trong giai đoạn 2007 – 2010, tổng lượng nhập khẩu cá tra vào EU tăng 52% Tuy nhiên, từ năm 2011, nhập khẩu của EU đã bắt đầu giảm, trở về mức năm 2008, với khối lượng giảm 12% và giá trị giảm 2% so với năm 2010 Nhập khẩu vào EU còn bao gồm cả trao đổi thương mại nội khối, như việc Italy nhập khẩu cá tra qua Hà Lan Năm 2010, lượng cá tra nhập khẩu trực tiếp từ Việt Nam vào EU đạt 208.000 tấn, giảm so với 216.000 tấn của năm 2009.

Năm 2011, giá nhập khẩu trung bình vào EU là 1,99 EUR/kg, trong đó giá cá tra thay đổi tùy theo từng quốc gia Sự biến động này phụ thuộc vào các yêu cầu khác nhau về sản phẩm của mỗi nước.

Bảng 1.1: Giá trung bình nhập khẩu cá tra năm 2011 (EUR/kg)

TB tại EU Hà Lan Anh Đức Italy Tây Ban Nha Ba Lan

1.3.3.2 Tình hình thị trường năm 2012, 6 tháng đầu 2013

Trong nửa đầu năm 2012, EU ghi nhận sự giảm mạnh 26% trong nhập khẩu cá tra, từ 107.000 tấn năm 2011 xuống còn 79.000 tấn Mặc dù giá trung bình nhập khẩu cá tra tăng lên 2,18 EUR/kg, nhưng theo Globefish, giá nhập khẩu tại Tây Ban Nha lại giảm đáng kể từ tháng 6 đến tháng 10/2012 Bảng 1.2 cho thấy khối lượng nhập khẩu cá tra vào 6 thị trường đều giảm mạnh.

Bảng 1.2: Tăng, giảm khối lƣợng nhập khẩu cá tra trong nửa đầu năm,

TB tại EU Hà lan Anh Đức Italy Tây Ban Nha Ba Lan

Trong 6 tháng đầu năm 2013 kim ngạch nhập khẩu cá tra của EU đạt 191,329 triệu USD, chiếm 22.5 % kim ngạch nhập khẩu cá tra trên toàn thế giới, xếp thứ hai sau Mỹ Trong đó Tây Ban Nha vẫn là nước nhập khẩu có giá trị cao nhất 39,823 triệu USD, tiếp đến là các nước Hà Lan, Anh, Đức

Bảng 1.3: Nhập khẩu cá tra tại các thị trường chính năm 2011

EU Hà Lan Anh Đức Italy TBN Ba Lan

1.3.4 Tình hình xuất khẩu thủy sản, cá tra của Việt Nam vào EU

Kể từ năm 2007, EU đã trở thành đối tác tiêu thụ thủy sản lớn nhất của Việt Nam, vượt qua Nhật Bản với sự phát triển nhanh chóng và ổn định Đến năm 2011, EU chiếm 21.8% thị phần kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, đứng đầu so với Hoa Kỳ với 19.3% và Nhật Bản với 16.4%.

Theo Vasep, năm 2012, EU là thị trường lớn thứ hai, sau Mỹ, trong top 10 thị trường nhập khẩu thủy sản của Việt Nam, chiếm 2,6% thị phần Mặc dù có hơn 421 doanh nghiệp thủy sản đạt chuẩn xuất khẩu vào EU, giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường này chỉ đạt gần 1,13 tỷ USD, giảm 14,8% so với cùng kỳ năm trước Việt Nam cung cấp đa dạng sản phẩm xuất khẩu, trong đó cá tra chiếm ưu thế, khiến EU trở thành thị trường tiêu thụ cá tra lớn nhất của Việt Nam.

Năm 2012, do ảnh hưởng của khó khăn kinh tế, giá trị nhập khẩu cá tra của EU giảm xuống còn 426 triệu USD, giảm 19.1% so với năm 2011 Các quốc gia EU nhập khẩu cá tra chủ yếu từ Việt Nam bao gồm Hà Lan, Anh, Đức, Italy, Tây Ban Nha và Ba Lan, chiếm 71% tổng lượng nhập khẩu cá tra vào EU trong năm 2011.

XK cá tra 6 tháng đầu năm 2013 đạt 191,3 triệu USD, giảm 14% so với cùng kỳ năm 2012, lượng nhập khẩu cá tra của Việt Nam giảm ở hầu hết các thị trường

Cá tra xuất khẩu sang EU duy trì sản lượng ổn định, nhưng giá cả đang có xu hướng giảm dần Cụ thể, giá bình quân trong năm 2010 đạt 1,99 USD.

Giá cá tra xuất khẩu (XK) trong năm 2011 đạt 2,59 USD/kg, tăng 30,15% so với năm 2010, nhưng giảm xuống 2,4 USD/kg vào năm 2012, tương ứng với mức giảm 7,33% Trong 6 tháng đầu năm nay, giá XK trung bình cá tra đông lạnh Việt Nam sang EU dao động từ 1,75 – 1,87 euro/kg, thấp hơn so với mức 2,1 – 2,16 euro/kg cùng kỳ năm ngoái Mặc dù giá cá tra bán tại một số nước trong khối EU cũng giảm, nhưng từ tháng 4 trở đi, giá XK trung bình cá tra sang EU đã tăng do nhu cầu từ các nhà nhập khẩu phục vụ dịp lễ cuối năm, mặc dù sức mua vẫn yếu so với các năm trước Đồng thời, giá cá tra tại Mỹ tăng do thuế chống bán phá giá cao, góp phần làm tăng giá cá tra tại EU Tuy nhiên, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu dẫn đến giá XK cá tra sang EU vẫn thấp hơn so với Mỹ qua các năm.

GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN HÙNG VƯƠNG

Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN HÙNG VƯƠNG

Tên giao dịch quốc tế : Hung Vuong Corporation

Tên ngắn gọn : HV CORP Địa chỉ trụ sở chính : Lô 44, Khu công nghiệp Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Email : info@hungvuongpanga.com

Giấy ph p đăng ký kinh doanh: Số 1200507529; thay đổi lần 10 ngày 05/10/2012

 Dương Ngọc Minh: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giaám đốc

 Lê Kim Phụng: Phó Tổng giám đốc kinh doanh

 Lê Thành Nam: Phó Tổng giám đốc

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển:

Công ty TNHH Hùng Vương được thành lập vào năm 2003 và bắt đầu hoạt động sản xuất tại Khu công nghiệp Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, với vốn điều lệ ban đầu là 32 tỷ đồng.

Vào ngày 01 tháng 2 năm 2007, công ty chính thức chuyển đổi sang hình thức Công ty cổ phần với vốn điều lệ ban đầu là 120 tỷ đồng Đến ngày 24 tháng 12 cùng năm, vốn điều lệ đã được nâng lên 420 tỷ đồng.

Sau 10 năm không ngừng phát triển, đến nay Hùng Vương đã khẳng định được uy tín của mình trong nước, khu vực và trên toàn thế giới Tính đến cuối Q2/2013, vốn chủ sở hữu đạt 2.335 tỷ đồng; tổng tài sản đạt 8.145 tỷ đồng

Hùng Vương là công ty chế biến và xuất khẩu cá tra hàng đầu tại Việt Nam, với giá trị xuất khẩu hợp nhất đạt 208,4 triệu USD vào năm 2012 Sản phẩm chủ lực của công ty là cá tra chế biến đông lạnh.

- Nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thủy sản

- Sản xuất thức ăn (thủy sản, chăn nuôi)

EU code : DL 308, DL 386, DL 21, DL 27, DL 36, DL 460, DL 60, DL 518, DL

07, DL 08, DL09, DL 360, DL 333, DL 86, DL 401, DL292, DL 132, DL 199

Giấy chứng nhận về chất lƣợng: Global Gap, HACCP, BRC, IFS, GMP, ISO

9001:2008, ISO 22000:2005, HALAL, ISO/IEC17025:2005, ASC, BAP, VietGap

2.1.4 Cơ sở vật chất – kỹ thuật:

Vùng nuôi cá tra nguyên liệu trải dài ở các tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, với tổng diện tích 345,2 ha và sản lượng đạt 78,3 nghìn tấn cá nguyên liệu Công ty sở hữu 12 nhà máy chế biến hiện đại, có tổng công suất thiết kế vượt 1.100 tấn nguyên liệu mỗi ngày.

Nhà máy sản xuất thức ăn bao gồm 6 cơ sở chế biến thức ăn cho thủy sản, gia súc và gia cầm, với công suất trung bình đạt 1.700 tấn mỗi ngày Năm 2012, sản lượng thức ăn đạt 557.528 tấn, chiếm 25% thị phần tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Sở hữu 2 kho lạnh được thiết kế với sự tư vấn kỹ thuật và trang bị hiện đại từ các công ty hàng đầu tại Mỹ và Châu Âu, đảm bảo nhiệt độ bảo quản ổn định và quy trình xuất nhập hàng được tự động hóa Với sức chứa lớn nhất Việt Nam lên đến 42.000 tấn, kho lạnh không chỉ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh (chiếm 30%) mà còn tạo ra nguồn thu nhập đáng kể từ dịch vụ kho lạnh (70%).

TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY

Trong thời gian qua, xuất khẩu thủy sản đã đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty CP Hùng Vương (HVG) Bài viết này sẽ điểm qua những đặc điểm nổi bật trong tình hình hoạt động SXKD của công ty trong những năm gần đây.

2.2.1 Tình hình doanh thu - lợi nhuận:

Tình hình hoạt động SXKD của HVG giữa thực hiện so với kế hoạch đƣợc thể hiện qua bảng 2.1

Bảng 2.1: Kế hoạch (KH) – thực hiện (TH) kinh doanh của công ty 2011 -2013

(Nguồn: Phòng Kế hoạch Kinh doanh Công ty)

(XK: xuất khẩu, DT XK: Doanh thu xuất khẩu, LN: Lợi nhuận)

Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong giai đoạn 2010 đến giữa năm 2013 được trình bày rõ ràng trong bảng 2.2, lấy từ báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.

Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2010 –tháng 6/2013 Đơn vị tính: 1,000,000 đồng

(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty)

(DT: Doanh thu, CP: Chi phí, QLDN: Quản lý doanh nghiệp,LN:Lợi nhuận)

Bảng 2.3: Chênh lệch các chỉ tiêu của Công ty năm 2010 –tháng 6/2013

(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty)

(DT: Doanh thu, CP: Chi phí, QLDN: Quản lý doanh nghiệp, LN: Lợi nhuận, t.chính: tài chính, b.hàng: bán hàng, t.thuế: trước thuế, s.thuế: sau thuế)

Hình 2.1: Tình hình biến động doanh thu và lợi nhuận của Công Ty giai đoạn 2010 - 6/2013

Dựa trên các bảng và hình 2.1, tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm qua đều cho thấy hiệu quả, mặc dù gặp nhiều khó khăn từ nền kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, khi so sánh hiệu quả giữa các năm, chúng ta có thể đưa ra những đánh giá tổng quát.

Năm 2010, hầu hết các chỉ tiêu kinh doanh không đạt kế hoạch, với doanh thu thuần chỉ đạt 73,87%, lợi nhuận trước thuế 55,76% và doanh thu xuất khẩu 87,04% Nguyên nhân chủ yếu là do đồng Euro mất giá so với USD, dẫn đến việc các nhà nhập khẩu không tích cực mua hàng dự trữ và ép giá cá tra xuống thấp Bên cạnh đó, giá xuất khẩu cá giảm, lãi suất ngân hàng tăng, và giá vật tư đầu vào cũng tăng cao, đẩy giá thành sản xuất lên Cá tra Việt Nam còn bị WWF đưa vào "danh sách đỏ", khuyến cáo người tiêu dùng không nên sử dụng tại một số nước EU Nhiều doanh nghiệp trong nước cũng cạnh tranh không lành mạnh bằng cách giảm giá bán và hạ chất lượng sản phẩm.

Các nguyên nhân đã tác động tiêu cực đến kết quả kinh doanh của công ty Mặc dù sản lượng xuất khẩu tăng 6,9% so với kế hoạch, nhưng giá xuất khẩu trung bình chỉ đạt 2.03 USD/kg, trong khi chi phí nguyên liệu và các khoản chi đầu vào cao đã làm giảm doanh thu của công ty.

Năm 2011 được coi là năm khó khăn nhất của ngành thủy sản, khi kinh tế cả nước tiếp tục suy giảm Tuy nhiên, nhờ vào việc chủ động nguồn nguyên liệu từ vùng nuôi, HVG đã khẳng định sức mạnh vượt qua khó khăn và đạt được thành công lớn nhất từ trước đến nay.

Doanh thu thuần năm 2011 đạt mức tăng 75,88% (tương đương 3362 tỷ đồng) so với năm 2010, vượt kế hoạch 30% Lợi nhuận cũng ghi nhận mức tăng 83,46% so với năm trước, vượt kế hoạch 13% Mặc dù sản lượng xuất khẩu chỉ đạt 97,14% kế hoạch, giá cá tăng đã góp phần thúc đẩy doanh thu xuất khẩu tăng trưởng.

Sự vượt kế hoạch của Hùng Vương được lý giải bởi lượng tồn kho thành phẩm lớn tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2010, cùng với giá thành bình quân thấp hơn so với năm 2011, tạo ra lợi thế cạnh tranh Hùng Vương đã chủ động đáp ứng khoảng 80% nhu cầu nguyên liệu nhờ vào chuỗi sản xuất khép kín, từ trại giống đến vùng nuôi được quản lý nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn quốc tế và nhà máy chế biến thức ăn hiện đại Với dây chuyền tự sản xuất thức ăn, Hùng Vương kiểm soát chất lượng thức ăn cho cá, giúp thu được khoảng 1 kg phi lê từ 2,8 kg cá nguyên liệu do công ty nuôi, trong khi cần đến 3,05 – 3,15 kg cá mua ngoài mới đạt được 1 kg phi lê.

Năm 2012, tình hình kinh tế vẫn chưa phục hồi, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty Doanh thu thuần giảm nhẹ 1,36% so với năm 2011, tương ứng với mức giảm 105735 triệu USD, nhưng vẫn vượt kế hoạch đề ra 2,5% Tuy nhiên, các chỉ tiêu khác đều không đạt yêu cầu và giảm so với năm trước.

Giá đầu vào tăng cao, bao gồm nguyên liệu, điện nước, lương nhân viên, chi phí cước tàu và bao bì, trong khi giá xuất khẩu không những không tăng mà còn giảm mạnh Mặc dù sản lượng gần đạt kế hoạch, doanh thu xuất khẩu vẫn không đạt yêu cầu Tuy nhiên, việc bán thức ăn chăn nuôi, nhờ vào giá bánh dầu đậu nành tăng kỷ lục, đã phần nào bù đắp cho sự suy giảm doanh thu xuất khẩu cá tra Môi trường nuôi cá tra ô nhiễm nghiêm trọng dẫn đến giảm sản lượng, cùng với việc tăng giá cá nguyên liệu và chi phí nuôi Các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra đang phải cạnh tranh khốc liệt, với một số công ty trên bờ vực phá sản phải bán tháo sản phẩm, làm giảm đáng kể giá thành phẩm.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn từ nền kinh tế, kết quả kinh doanh của Hùng Vương trong năm 2012 vẫn cho thấy sự khả quan và đáng khích lệ.

Trong sáu tháng đầu năm 2013, doanh thu thuần đã ghi nhận mức tăng 43,06% so với cùng kỳ năm ngoái, cho thấy sự phát triển tích cực trong kết quả hoạt động kinh doanh.

1536 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế tăng 35,67% tương ứng tăng 71483 tỷ đồng so với cùng kỳ Cả hai chỉ tiêu này đều chƣa đạt 50% kế hoạch của năm

Doanh thu của công ty tăng chủ yếu nhờ vào nguồn thu từ bán thức ăn chăn nuôi, đạt 1.847 tỷ đồng, chiếm 36% tổng doanh thu thuần Bên cạnh đó, doanh thu tài chính cũng ghi nhận hơn 80 tỷ đồng, một khoản bất lợi thương mại mà công ty hưởng lợi, tăng đột biến từ 32 tỷ đồng trong cùng kỳ năm 2012 lên 115 tỷ đồng trong năm 2013, góp phần làm lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng hơn 80 tỷ đồng.

Trong 6 tháng đầu năm 2013, HVG đã vượt trội so với các đối thủ trong ngành như Minh Phú, Vĩnh Hoàn, và Nam Việt Tuy nhiên, công ty chỉ mới đạt được 40% kế hoạch lợi nhuận trước thuế cho năm nay.

2.2.2 Tình hình về sản lƣợng và kim ngạch xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu của công ty qua các năm được trình bày trong bảng 2.4 từ báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh 2010-2012 Từ đó, có thể thấy rằng kim ngạch xuất khẩu tăng đáng kể vào năm 2011, nhưng đã có sự sụt giảm trong năm 2012 do tình hình khó khăn chung của thế giới.

Bảng 2.4: Sản lƣợng và Kim ngạch xuất khẩu của công ty năm 2010 – 2012

(Nguồn: Báo cáo hoạt động xuất khẩu hàng hóa công ty)

Sản lượng (1000 kg) Giá trị (1000 USD)

Hình 2.2: Biểu đồ sản lƣợng xuất khẩu, giá trị của công ty năm 2010 – 2012

Qua bảng 2.4 và hình 2.2 ta thấy:

 Sản lƣợng xuất khẩu: Giảm dần qua các năm Cụ thể năm 2011 giảm 3,35% so với năm 2010, năm 2012 tăng nhẹ 2% so với năm 2011

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CÁ

Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường đều chịu ảnh hưởng từ môi trường kinh doanh, nơi có thể mang lại thuận lợi hoặc khó khăn cho sự phát triển của doanh nghiệp Đặc biệt, các doanh nghiệp xuất khẩu tham gia vào thương mại quốc tế phải đối mặt với môi trường kinh doanh phức tạp hơn so với thị trường nội địa Do đó, ngoài trình độ của người tham gia xuất khẩu, các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong công tác xuất khẩu.

2.3.1.1 Các yếu tố vĩ mô:

Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu sản phẩm thủy sản bằng cách đảm bảo rằng sản phẩm có thể tiếp cận thị trường và khách hàng, đồng thời phù hợp với các mục tiêu kinh tế xã hội, chính trị, văn hóa, pháp luật, công nghệ và môi trường sinh thái.

Chính sách của chính phủ có ảnh hưởng lớn đến tình hình xuất khẩu của doanh nghiệp, trong đó thuế xuất khẩu và quota đều có xu hướng làm giảm xuất khẩu, dẫn đến giảm nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Cụ thể, quota hạn chế số lượng xuất khẩu, vừa giảm số đầu mối tham gia xuất khẩu trực tiếp, vừa tạo cơ hội cho những doanh nghiệp được cấp quota Ngoài ra, các chính sách như xây dựng mặt hàng chủ lực, gia công xuất khẩu, đầu tư cho xuất khẩu, lập khu chế xuất, chính sách tín dụng và trợ cấp xuất khẩu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tình hình xuất khẩu của quốc gia.

 Chiến lƣợc phát triển ngành:

Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam theo Quyết định số 332/QĐ-Ttg nhằm hướng tới sự phát triển bền vững và tăng cường khả năng cạnh tranh, với mục tiêu giữ vững vị trí trong nhóm 10 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới Ngành thủy sản không chỉ là mục tiêu phát triển mà còn là động lực thúc đẩy nuôi trồng, khai thác và dịch vụ liên quan, góp phần ổn định và nâng cao thu nhập cho ngư dân và nông dân Đến năm 2015, mục tiêu đặt ra là đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản hàng năm trên 8%, với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 7,5 tỷ USD.

Về việc xuất khẩu cá tra: Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số

Đề án phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, được phê duyệt theo 2033/QĐ-TTg, nhằm tổ chức lại sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cá tra Đề án tập trung vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường quản lý nhà nước, và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất giống, nuôi thương phẩm, sản xuất thức ăn, và xử lý môi trường nuôi Mục tiêu là nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng hệ thống thống kê và dự báo thị trường, đồng thời nâng cao năng lực cho hoạt động xúc tiến thương mại.

Trong năm 2012, ngành thủy sản đã xác định triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, tập trung vào các đối tượng có lợi thế cạnh tranh cao Ngành tăng cường thanh tra, kiểm tra và xây dựng tiêu chuẩn mới, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền các chính sách hỗ trợ cho ngư dân và người nuôi thủy sản Ngoài ra, ngành cũng rà soát danh mục hóa chất trong sản xuất và cấm sử dụng các chất ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm xuất khẩu Để mở rộng thị trường, các hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại sẽ được tăng cường, với mục tiêu chính là các thị trường tiềm năng ở châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ, bên cạnh việc chú trọng vào các thị trường khác như Nam Mỹ và Trung Đông.

 Bộ Thủy sản Việt Nam:

Hiệp hội chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp thủy sản, đặc biệt là trong việc kiểm soát dư lượng kháng sinh và thuốc trừ sâu tại ĐBSCL VASEP cung cấp thông tin kịp thời về sự thay đổi từ thị trường nhập khẩu, đồng thời hỗ trợ đào tạo công nhân viên về các thủ tục và chứng nhận cần thiết Ngoài ra, tổ chức này còn giúp doanh nghiệp trong quá trình xuất khẩu, đảm bảo thông tin lô hàng đến thị trường nhập khẩu chính xác và phản hồi các yêu cầu liên quan đến quy định xuất khẩu thủy sản cá tra.

Dự báo thị trường tiêu thụ nội địa và quốc tế là yếu tố quan trọng trong xuất khẩu thủy sản Hiện nay, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh do công tác dự báo còn hạn chế Thêm vào đó, số liệu thống kê về thị trường và thị phần xuất khẩu toàn cầu còn nhiều bất cập, không đủ cơ sở để phân tích và dự báo chính xác cho từng thị trường và sản phẩm.

Theo thống kê, trong tổng giá trị xuất khẩu thủy sản, 80% là do tăng sản lượng, chỉ 20% do tăng giá Hiện nay, nhiều nhà máy chế biến thủy sản hoạt động dưới 50-70% công suất, dẫn đến chi phí sản xuất cao và giảm sức cạnh tranh Việc liên kết giữa sản xuất nguyên liệu và chế biến chưa chặt chẽ, gây thiếu hụt nguồn nguyên liệu Dù thương hiệu thủy sản Việt Nam đã được nhận diện, nhưng việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu còn yếu, nhiều sản phẩm vẫn phải gắn với thương hiệu nước ngoài Hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước chưa hiệu quả, dẫn đến vi phạm về hóa chất cấm trong nuôi trồng và chế biến, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm xuất khẩu Điều này buộc quy trình kiểm tra nhà nước phải mở rộng, làm tăng chi phí cho doanh nghiệp xuất khẩu và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.

 Các chính sách kinh tế đối với doanh nghiệp:

Ngành thủy sản, đặc biệt là nuôi cá tra, cần một nguồn vốn đầu tư ban đầu và vốn lưu động lớn để duy trì hoạt động Để hỗ trợ doanh nghiệp và người nuôi cá tra vượt qua khó khăn, Chính phủ đã phê duyệt gói hỗ trợ 9.000 tỷ đồng với lãi suất thấp vào đầu tháng 8/2012.

Tuy nhiên, đến nay gói hỗ trợ 9.000 tỷ đồng hầu nhƣ vẫn nằm trên giấy, cả người nuôi lẫn doanh nghiệp vẫn chưa thể tiếp cận nguồn vốn này

Hiện nay, nhiều quốc gia duy trì lãi suất thấp để thúc đẩy kinh tế Tại Việt Nam, dù chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp để ổn định lãi suất cơ bản và khuyến khích ngân hàng giảm lãi suất cho vay, lãi suất chung vẫn đang ở mức cao.

Bảng 2.8: Lãi suất cơ bản trung bình năm Việt Nam giai đoạn 2002 – 2011

(Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam)

Vào năm 2012, lãi suất vay tín dụng cho doanh nghiệp tại Việt Nam dao động từ 14,5% đến 17% mỗi năm đối với tiền Việt, trong khi lãi suất vay bằng đô la Mỹ trên 6% (theo Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam tháng 12/2012), cho thấy mức lãi suất này vẫn còn cao so với mức trung bình chung.

Nhà nước chưa có chính sách tín dụng trung và dài hạn phù hợp, khiến doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay thương mại ngắn hạn để đầu tư phát triển vùng nuôi Trong bối cảnh kinh doanh khó khăn, hầu hết các ngân hàng chỉ cho vay nhỏ giọt để hạn chế rủi ro tín dụng, đặc biệt với những đối tượng có nợ cũ cao, làm cho ngân hàng trở nên thận trọng hơn Điều này đã ảnh hưởng lớn đến kế hoạch mở rộng diện tích và xây dựng vùng nguyên liệu của doanh nghiệp Hơn nữa, trong khi thời gian nuôi cá kéo dài từ 6-8 tháng, doanh nghiệp chỉ được vay từ 4-6 tháng, gây khó khăn trong việc đảm bảo nguồn vốn cho sản xuất.

Giá cả là mức giá tại đó hàng hóa được mua và bán Hiện tại, Công ty chủ yếu tập trung vào xuất khẩu thủy sản, do đó, phần lớn doanh thu của Công ty được thực hiện bằng ngoại tệ.

Tỷ giá hối đoái và chính sách đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xuất khẩu và hướng ngoại Tỷ giá hối đoái, giống như các biến số kinh tế vĩ mô khác, rất nhạy cảm với sự thay đổi, gây ra những tác động phức tạp đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, giá cả, lạm phát, tiền lương thực tế, đầu tư, vay nợ nước ngoài, ngân sách nhà nước, và cán cân thanh toán quốc tế Sự biến động của tỷ giá có thể dẫn đến những kết quả khó lường, ví dụ, khi tỷ giá USD tăng, nhà xuất khẩu sẽ được lợi vì phần lớn xuất khẩu của Việt Nam dựa vào USD.

Công ty có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) với mức thuế suất bằng 15% lợi nhuận thu đƣợc cho 10 năm đầu và 25% cho các tiếp theo

Ngày đăng: 19/06/2021, 08:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w