1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Day hoc Vat li theo phuong phap nghien cuu tinh huongmot xu the day hoc nham tich cuc hoa nguoi hoc

5 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 82,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tãm t¾t: Trªn c¬ së nghiªn cøu c¬ së lÝ luËn vµ kh¶o cøu kinh nghiÖm d¹y häc theo phương pháp nghiên cứu tình huống PPNCTH của các nước trên thế giới, tác giả bài viết đã trình bày các k[r]

Trang 1

DạY HọC VậT Lí THEO PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU TìNH HUốNG-MộT XU HƯớNG DạY HọC NHằM TíCH CựC HOá NGƯờI HọC

Nguyễn Thị Diệu Linh

Khoa Vật lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

136 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận và khảo cứu kinh nghiệm dạy học theo

phương pháp nghiên cứu tình huống (PPNCTH) của các nước trên thế giới, tác giả bài viết

đã trình bày các khái niệm cơ bản và tiến trình dạy học theo PPNCTH.

Mở đầu

PPNCTH được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và đã thể hiện những kết quả khả quan trong việc tích cực hoá người học PPNCTH cũng đã được đưa vào

áp dụng trong giảng dạy ở các nhà trường đại học Việt Nam ở các ngành Y, Luật, Quản trị kinh doanh Tuy nhiên, việc áp dụng PPNCTH trong dạy học môn Vật lí ở trường phổ thông còn rất mới mẻ Vấn đề đặt ra là: "Làm thế nào có thể vận dụng thành công PPNCTH trong dạy học vật lí ở trường phổ thông phù hợp với đặc điểm của chương trình, nội dung và đối tượng học sinh THPT ở Việt Nam?"

Nội dung

1 Khái niệm tình huống

Theo Vicki L.Golich: "tình huống là một câu chuyện thuật lại một cách chi tiết, khách quan và tỉ mỉ các sự kiện hay vấn đề để người học trải nghiệm sự phức tạp, sự mơ hồ, và sự không chắc chắn mà những người tham gia gặp phải khi lần đầu

đối mặt với tình huống đó [1]

2 Khái niệm phương pháp nghiên cứu tình huống

PPNCTH là phương pháp (PP) dạy các kiến thức thông qua các tình huống thực tế bằng cách khuyến khích người học tham gia thảo luận trong các tình huống

đặc thù PPNCTH là PP lấy người học làm trung tâm, đặc trưng bởi sự tương tác giữa giáo viên và người học, giữa các người học trong một nhóm Dựa trên nhận thức về hiệu quả của việc học, học sinh khám phá hoặc xây dựng kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên [1]

3 Phân loại phương pháp nghiên cứu tình huống

Vai trò của người học và người dạy thay đổi tuỳ thuộc vào cách sử dụng tình huống trong dạy học và cách tổ chức lớp học Căn cứ vào đối tượng chính làm việc với tình huống, Clyde Freeman Herreid đã phân loại PPNCTH như sau:

Trang 2

Phương pháp bài giảng: Người làm việc chính với tình huống là giáo viên.

Phương pháp thảo luận toàn lớp: Tình huống được phân tích trong quá trình

tương tác giữa một người học và GV, những người khác lắng nghe và thỉnh thoảng

có tương tác giữa người học – người học

Phương pháp thảo luận nhóm nhỏ: Còn được gọi là Problem Based Learning

(PBL) Việc phân tích tình huống được thực hiện bởi sự hợp tác giữa GV và nhóm HS Hiện nay, PBL có một biến thể được sử dụng phổ biến trong dạy học các môn khoa học, đó là phương pháp tình huống gián đoạn Cũng giống như PBL, nó cung cấp

thông tin theo giai đoạn thay vì đưa ra toàn bộ câu chuyện ngay từ đầu Do đó, nó rất phù hợp với việc dạy kiến thức vật lí vì nó buộc người học đi theo con đường khám phá của các nhà khoa học, phải đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu không đầy đủ và liên tục kiểm chứng lại kết luận Nó khác với PBL chỉ là tình huống gián đoạn được

thực hiện trong một buổi học duy nhất Ưu điểm của phương pháp này là tiết kiệm

được thời gian giải quyết vấn đề, nên rất phù hợp với nội dung và phân phối chương trình môn Vật lí ở Việt Nam Mặt khác, vấn đề được nghiên cứu trong một khoảng thời gian liên tục và không quá dài nên duy trì rất tốt hứng thú của HS

Nghiên cứu cá nhân: Học sinh nghiên cứu tình huống dưới sự hướng dẫn của

thầy dạy kèm hoặc dưới hình thức thực hiện nhiệm vụ cá nhân

Phương pháp hỗn hợp: Giáo viên hướng dẫn bắt đầu tổ chức nghiên cứu tình

huống với các nhóm nhỏ và kết thúc bằng hình thức thảo luận chung với cả lớp [2]

4 Tiến trình dạy học theo phương pháp nghiên cứu tình huống

Dựa trên tiến trình giải quyết vấn đề, nhấn mạnh đến tính độc lập tự chủ của

HS và đặc điểm của PPNCTH, chúng tôi đề xuất tiến trình dạy học theo PPNCTH như sau:

4.1 Tiếp nhận tình huống

- Nắm bắt và phân tích thông tin của tình huống: GV cho HS tiếp cận với phần

mở đầu tình huống và hỗ trợ HS nắm bắt đầy đủ các thông tin trong tình huống HS

đọc phần tình huống được giao và thảo luận trong nhóm để mỗi thành viên trong nhóm có thể hiểu tài liệu theo cùng một cách

- Phát biểu vấn đề – bài toán: HS phải phân tích các thông tin trong tình huống, xác định rõ những điều đã biết và những điều cần được biết Trên cơ sở đó, HS nhận

định được chủ đề của tình huống và vấn đề cần giải quyết tương ứng

4.2 Nghiên cứu tình huống

- Huy động vốn kinh nghiệm, đề xuất giả thuyết: Trong bước này, GV thường

sử dụng kĩ thuật "động não" đối với các nhóm HS Nếu HS không đề xuất được giả thuyết, GV cần khai thác các cách nhìn nhận vấn đề, phân tích, đặt câu hỏi giúp HS vượt qua khó khăn

Trang 3

- Lập kế hoạch giải theo giả thuyết: HS xác định những công việc cần phải

được thực hiện theo một trình tự hợp lí và những dấu hiệu đảm bảo đã thực hiện

đúng kế hoạch

- Thực hiện kế hoạch giải: các hoạt động thực hiện giải pháp trả lời cho chủ

đề chung được thực hiện

- Đánh giá việc thực hiện kế hoạch: HS kiểm tra lại việc thực hiện kế hoạch giải Sau đó, HS diễn đạt, trao đổi với những người khác trong nhóm về cách giải quyết vấn đề và kết quả thu được Qua đó có thể chỉnh lí, hoàn thiện tiếp

4.3 Khai thác tình huống

GV tổ chức cho HS trình bày thảo luận, bảo vệ kết quả mà họ đạt được trong quá trình nghiên cứu tình huống Sau đó GV nhận xét, đánh giá các kết quả đó và

đưa ra kết luận cho tình huống Cuối cùng, GV chính thức hoá, bổ sung, thể chế hoá tri thức mới HS chính thức ghi nhận và vận dụng

Nắm bắt và phân tích thông tin của

tình huống

Phát biểu vấn đề – bài toán

Huy động vốn kinh nghiệm, đề xuất giả thuyết

Lập kế hoạch giải theo giả thuyết

Thực hiện kế hoạch giải

Kết luận Trình bày, thảo luận, bảo vệ kết quả

Đánh giá việc thực hiện kế hoạch

Vận dụng, đề xuất vấn đề mới

Nghiên cứu tình huống

Tiếp cận tình huống

Khai thác tình huống

Trang 4

5 Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực hành dạy học về "Sự đối lưu"

Giờ học được tổ chức theo PP tình huống gián đoạn, sử dụng tình huống: "Sự tan của viên nước đá" Tình huống được chia làm 4 phần Sau khi giáo viên kể mỗi phần của câu chuyện, học sinh thảo luận nhóm để trả lời câu hỏi của mỗi phần Phần I : Ngạc nhiên Bốn bạn học sinh quan sát thấy người ta sử dụng muối để làm tan chảy băng trên vỉa hè Các bạn có suy nghĩ rằng muối giúp làm tan băng Do

đó họ dự đoán: Khi thả hai viên đá như nhau vào hai cốc nước cùng nhiệt độ, cùng lượng nước nhưng một cốc chứa nước muối, một cốc chứa nước ngọt, viên nước đá trong cốc nước muối sẽ tan chảy trước Nhưng kết quả thí nghiệm cho thấy: viên nước đá ở cốc nước ngọt tan chảy nhanh hơn nhiều so nước muối Câu hỏi đặt ra là: Giải thích tại sao?

Để giải quyết bí ẩn này, một số học sinh áp dụng sự hiểu biết của họ về sự nổi

để dự đoán rằng một khối nước đá sẽ nổi cao hơn trong nước muối nên không nhận

được nhiều nhiệt từ nước muối và tan chảy chậm hơn so với viên đá ở nước ngọt Tuy nhiên, họ sớm nhận thấy sự chênh lệch này là không đáng kể

Phần II: Các hiện tượng liên quan Bốn bạn chưa tìm ra lời giải thích về hiện tượng trên và khi về nhà, các bạn vẫn tiếp tục suy nghĩ Một bạn khi nấu canh nhận thấy dầu ăn nổi lên trên nước Đột nhiên bạn reo lên: "A! Mình biết những gì xảy ra với những viên đá rồi!" Một bạn ngồi xem chương trình về lịch sử khinh khí cầu và nhận thấy không khí trong khinh khí cầu nóng làm nó bay lên cao và bạn đó cũng tự nhủ: "Mình có ý tưởng rồi" Một bạn đi bơi ở biển và nhận thấy phần cơ thể mình nổi trên mặt nước biển dường như cao hơn ở nước ngọt và bạn đó thầm nghĩ "Chắc chắn cách giải thích của mình đúng" Bạn cuối cùng vô tình làm đổ một li trà đá trên thành của bồn tắm và thấy nước trà đá màu nâu dường như đi xuống đáy của bồn tắm chứa đầy nước ấm Bạn đó cũng cho rằng mình nghĩ ra câu trả lời Hôm sau, bốn bạn đó gặp nhau và thống nhất lời giải thích Họ muốn kiểm nghiệm ý tưởng đó bằng cách làm đá màu và lặp lại thí nghiệm ban đầu với các viên đá màu Theo bạn, lời giải thích của họ là gì ?

Học sinh bắt đầu suy nghĩ về vai trò của mật độ của chất lỏng trong những hiện tượng trên Dần dần, một số em có thể giải thích đúng hướng

nước muối nước ngọt

Trang 5

Phần III -Dự báo và quan sát Phần này yêu cầu học sinh mô tả bằng hình vẽ những gì họ cho rằng sẽ quan sát được trong thí nghiệm với viên đá màu

Sau đó tiến hành thí nghiệm và so sánh với dự đoán của họ

Hầu hết học sinh đưa ra dự đoán phù hợp với những quan sát Kết quả thí nghiệm còn cho thấy điều bất ngờ về cách tan của hai viên đá

Phần IV- Giải thích Phần này yêu cầu học sinh dự đoán khối đá trong nước muối nóng chảy từ trên xuống hay từ dưới lên và giải thích

Đa số học sinh trả lời đúng câu hỏi liệu các khối băng tan chảy từ trên xuống hoặc dưới lên Tuy nhiên, họ đều cần phải hỗ trợ cho lời giải thích Một số học sinh

có thể sớm đưa ra thiết kế của các khối băng hai lớp với hai màu sắc khác nhau để quan sát phần nào tan đầu tiên Dựa trên kinh nghiệm hàng ngày hoặc cho rằng đá

đang nổi trên nước làm cho nước lạnh hơn, một số em có thể cho rằng không khí ấm hơn nước nên viên đá sẽ tan chảy từ trên xuống Những em khác có thể dự đoán rằng khối băng sẽ tan chảy từ dưới lên vì nó tiếp xúc với các chất lỏng nhiều hơn Giáo viên có thể hướng đến một cuộc thảo luận sâu hơn về mối liên hệ giữa mật độ phân

tử chất khí và chất lỏng với tốc độ truyền nhiệt

Kết luận

Các kết quả điều tra tại các nước trên thế giới đều chỉ rõ: PPNCTH và đặc biệt

là PBL có một tác động rất tích cực đến việc phát triển kĩ năng của học sinh và sự ghi nhớ kiến thức của học sinh được cải thiện so với việc ghi nhớ kiến thức theo các bài giảng thông thường Đa số học sinh đều hứng thú khi học theo PPNCTH Như vậy, các kết quả dạy học theo PPNCTH đã mở ra một hướng tích cực hoá người học khi học vật lí

Tài liệu tham khảo

[1] Vicki L Golich, The ABCs of Case Teaching, Edmund A Walsh School of

Foreign Service Georgetown University (2000), 1-52

[2] Herreid, CF 1994 Case studies in science: A novel method for science education Journal of College Science Teaching 23 (4): 221-229.

Ngày đăng: 19/06/2021, 07:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w