- Đánh giá được thực trạng nông thôn tại huyện Bình Gia theo các tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới.. cần có một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀO THẾ ĐÔNG
GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀO THẾ ĐÔNG
GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số ngành: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐINH NGỌC LAN
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép
từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 3 năm 2019
Học viên luận văn
Đào Thế Đông
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Kinh tế nông nghiệp tại Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên, được sự đồng ý của Trường và sự nhất trí của giảng viên hướng dẫn PGS.TS Đinh Ngọc Lan, tôi đã tiến hành thực hiện
luận văn thạc sĩ Kinh tế nông nghiệp với đề tài: “Giải pháp xây dựng nông thôn mới tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn”
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các quý thầy cô, các anh chị trong tập thể lớp Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, và các thầy cô giáo
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn; đặc biệt là PGS.TS Đinh Ngọc Lan đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình, truyền đạt những kinh nghiệm thực tế quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn UBND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới huyện Bình Gia; các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; UBND các xã: Tân Văn, Hồng Thái, Minh Khai huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã cung cấp số liệu và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn, cảm ơn tất cả các học viên của những cuốn sách, bài viết, công trình nghiên cứu và website hữu ích được đề cập trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn này
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 3 năm 2019
Học viên luận văn
Đào Thế Đông
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
a Đối tượng nghiên cứu 3
b Phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 5
1.1.1 Khái niệm nông thôn và nông thôn mới 5
1.1.2 Đặc điểm của nông thôn Việt Nam trong giai đoạn đổi mới 6
1.1.3 Vai trò của nông thôn trong phát triển kinh tế xã hội 7
1.2 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới 7
1.2.1 Quan điểm của Đảng và Chính phủ về xây dựng nông thôn mới 7
1.2.2 Mục đính, mục tiêu xây dựng nông thôn mới 8
1.2.3 Các bước xây dựng nông thôn mới 11
1.2.4 Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và các nội dung thực hiện 11
1.2.5 Kinh nghiệm trong xây dựng nông thôn mới 14
1.3 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 23
1.3.1 Những công trình đã nghiên cứu có liên quan 23
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới 24
1.4 Đánh giá chung 25
Trang 6Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 27
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 28
2.2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 32
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 32
2.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 32
2.3.4 Phương pháp phân tổ thông kê 33
2.3.5 Phương pháp so sánh 33
2.3.6 Phương pháp thống kê mô tả 33
2.3.7 Phương pháp phân tích SWOT 33
2.3.8 Phương pháp chuyên gia 33
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn 35
3.1.1 Thực trạng tiến độ triển khai các bước trong xây dựng nông thôn mới 35
3.1.2 Thực trạng tiến độ thực hiện bộ tiêu chí và nội dung xây dựng nông thôn mới 37
3.1.3 Sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới 53
3.2 Đánh giá chung về chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn 57
3.2.1 Kết quả đạt được 57
3.2.2 Những tồn tại, hạn chế 59
3.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 61
3.3 Giải pháp xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Gia giai đoạn 2019 - 2020 63
Trang 73.3.1 Quan điểm xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2019-2020 63
3.3.2 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2019-2020 65
3.3.3 Nội dung và bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2019-2020 66
3.3.4 Cơ sở, quan điểm đề xuất các giải pháp 66
3.3.5 Giải pháp xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2019 - 2020 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Kiến nghị 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83
Trang 8NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Bình Gia 27
Bảng 2.2: Tình hình dân số huyện Bình Gia 29
Bảng 2.3: Thu nhập và cơ cấu kinh tế của huyện trong 03 năm 30
Bảng 3.1: Tình hình thực hiện tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch XDNTM 38
Bảng 3.2: Tình hình thực hiện tiêu chí giao thông đến 31/12/2018 39
Bảng 3.3: Tình hình thực hiện tiêu chí thủy lợi đến 31/12/2018 40
Bảng 3.4: Tình hình thực hiện tiêu chí điện nông thôn đến 31/12/2018 41
Bảng 3.5: Tình hình thực hiện tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa đến 31/12/2018 43
Bảng 3.6: Tình hình thực hiện tiêu chí Thông tin và Truyền thông đến 31/12/2018 44
Bảng 3.7: Tình hình thực hiện tiêu chí nhà ở dân cư đến 31/12/2018 45
Bảng 3.8: Tình hình thực hiện tiêu chí thu nhập và hộ nghèo đến 31/12/2018 46
Bảng 3.9: Tình hình thực hiện tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm đến 31/12/2018 50
Bảng 3.10: Tình hình thực hiện tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị đến 31/12/2018 52
Bảng 3.11: Đặc điểm hộ gia đình tại 3 xã điều tra năm 2018 53
Bảng 3.12: Cơ cấu ngành nghề hộ gia đình năm 2018 53
Bảng 3.13: Các kênh tiếp cận thông tin của người dân về nông thôn mới 54
Bảng 3.14: Đánh giá của người dân về việc triển khai xây dựng NTM 54
Bảng 3.15: Những công việc người dân tham gia vào xây dựng nông thôn mới 55
Bảng 3.16: Ý kiến của người dân về chất lượng cơ sở hạ tầng ở địa phương 56
Bảng 3.17: Ý kiến của các hộ về khó khăn trong xây dựng nông thôn mới 57
Bảng 3.18: Kết quả thực hiện bộ tiêu chí nông thôn mới theo nhóm 58
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Họ và tên: Đào Thế Đông
Tên luận văn: Giải pháp xây dựng nông thôn mới tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số ngành: 8.62.01.15
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Ngọc Lan
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
1 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về Chương trình xây dựng nông thôn mới
- Đánh giá được thực trạng nông thôn tại huyện Bình Gia theo các tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
- Tìm ra được các yếu tố thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức trong quá trình xây dựng nông thôn mới
- Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Bình Gia
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Bình Gia Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
2 Phương pháp thu thập số liệu
+ Thu thập thông tin từ tài liệu đã công bố (Tài liệu thứ cấp)
+ Thu thập thông tin sơ cấp
Chọn 3 xã đại diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội và xây dựng mô hình nông thôn mới theo nhóm khá, trung bình và kém làm điểm nghiên cứu, điều tra Gồm các xã: Tân Văn, Hồng Thái và Minh Khai
Sử dụng phương pháp điều tra theo bảng hỏi Chọn hộ điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên, phỏng vấn hộ nông dân mỗi xã điều tra tại 3 thôn, tổng số mẫu điều tra là 20 hộ nông dân/xã, tổng số mẫu điều tra/3 xã là 60 hộ
Trang 11cần có một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng NTM trên địa bàn huyện Bình Gia, với những giải pháp cụ thể thực hiện từng nội dung của Chương trình; các giải pháp thực hiện từng tiêu chí; các giải pháp thực hiện cho từng nhóm xã (xã
đã đạt chuẩn, xã nằm trong kế hoạch đạt chuẩn đến năm 2020 và nhóm xã còn lại)
để việc chỉ đạo, thực hiện chương trình trên địa bàn huyện Bình Gia đảm bảo tính toàn diện, đạt được mục tiêu số xã đạt chuẩn nông thôn mới và kết quả đạt các chỉ tiêu, tiêu chí hằng năm của các xã theo kế hoạch đề ra
Đề tài được thực hiện với mục tiêu là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn
về Chương trình xây dựng NTM đang triển khai thực hiện; Đánh giá thực trạng nông thôn tại huyện Bình Gia theo các tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Tìm ra được các yếu tố thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức trong quá trình xây dựng NTM; Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng NTM tại huyện Bình Gia và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Bình Gia
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện Nghị quyết số 26 - NQ/TW, với chủ trương đưa nông thôn tiến kịp với thành thị, xây dựng mục tiêu hiện đại hóa nông thôn Việt Nam vào năm 2020, ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới; ngày 04 tháng 6 năm 2010 Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -
2020, mục tiêu đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới, đến năm
2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới Quyết định số 1760/QĐ-TTg ngày 16 tháng 8 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Quyết định số 691/QĐ-TTg ngày 05 tháng 6 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành tiêu chí
xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2018-2020
Trên cơ sở các văn bản của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương đã tiến hành rà soát và xây dựng chương trình hành động để thực hiện thắng lợi xây dựng nông thôn, ngày 12/8/2011, Tỉnh uỷ Lạng Sơn đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TU, về xây dựng nông thôn mới tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn
2011 - 2020, trong đó đề ra các giải pháp tổng thể triển khai thực hiện Nghị quyết
Huyện Bình Gia trong những năm vừa qua kinh tế - xã hội khu vực nông thôn có bước phát triển khá toàn diện Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, đó là: Phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chưa theo quy hoạch; các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn chậm đổi mới; việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất còn nhiều hạn chế; chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động trong nông nghiệp còn chậm; kết cấu hạ tầng thấp kém chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; môi trường ngày càng bị ô nhiễm; đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn nhiều khó khăn; tập quán sinh hoạt và sản xuất ở nhiều nơi còn lạc hậu; tỷ lệ hộ nghèo còn
Trang 13cao, các hộ thoát nghèo chưa bền vững; chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị
cơ sở còn hạn chế; an ninh nông thôn có lúc, có nơi chưa tốt Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng trong giai đoạn mới, các cấp uỷ đảng, chính quyền huyện Bình Gia đã ban hành nhiều văn bản quan trọng chỉ đạo công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện, trong
đó quan trọng nhất là Nghị quyết số 06-NQ/HU, ngày 19/12/2011 về xây dựng nông thôn mới huyện Bình Gia giai đoạn 2011 - 2020, đã đề ra một số chỉ tiêu cụ thể như: Đến năm 2015 có 20% số xã trong huyện đạt chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới; đến năm 2020 có 50% số xã trong huyện cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên đến hết năm 2016 toàn huyện mới có 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới, kết quả đạt được còn nhiều tồn tại, hạn chế, tiến độ triển khai chậm, việc triển khai xây dựng nông thôn mới thực chất tại nhiều xã mới chủ yếu đạt được mục đích trên lĩnh vực phát triển hạ tầng Chưa quan tâm, chú trọng đến việc nâng cao trình độ sản xuất và đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa với những sản phẩn đặc hữu của địa phương hay những đưa những sản phẩm mới phù hợp với điều kiên phát triển của tỉnh tạo thành các chuỗi giá trị bền vững
để cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập của người dân ở khu vực nông thôn Ý thức, nếp sống của người dân nông thôn vẫn còn nhiều lạc hậu, cổ hủ, chậm đổi mới phù hợp với con người nông thôn mới và con người trong thời buổi hội nhập Cảnh quan đường làng, ngõ xóm chưa thực sự được phong quang, xanh, sạch đẹp thân thiện với môi trường, kiến trúc nông thôn ngày càng bị phá vỡ, pha tạp không còn các dấu ấn đặc trưng An ninh, trật tự xã hội vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn, quan hệ làng xóm, láng giềng, giá trị đạo đức con người nông thôn ngày càng thay đổi theo chiều hướng mất dần bản sắc dân tộc, hồn cốt con người nông thôn Việt Nam Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này chính là việc triên khai xây dựng nông thôn mới chưa được quan tâm đúng mức, việc triển khai thực hiện còn thiếu quyết liệt, nhiều
xã còn tư tưởng chông chờ, ỷ lại, xây dựng nông thôn mới chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng và thực hiện từ người dân nông thôn, kết hợp với một số nguyên nhân khác nảy sinh trong triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới Do
Trang 14đó, việc nghiên cứu đề ra các giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn trong thời điểm hiện nay là hết sức cần
thiết Đó chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Giải pháp xây dựng nông thôn mới tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới, đánh giá
và phân tích thực trạng tình hình nông thôn ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện những mặt mạnh, những khó khăn, yếu kém và những tiềm năng từ đó đề ra giải pháp đẩy nhanh tiến độ, nâng cao hiệu quả việc thực hiện Chương trình xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn Cụ thể gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về Chương trình xây dựng nông thôn mới
- Đánh giá được thực trạng nông thôn tại huyện Bình Gia theo các tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
- Tìm ra được các yếu tố thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức trong quá trình xây dựng nông thôn mới
- Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Bình Gia
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Bình Gia
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
b Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung và không gian: Kết quả thực hiện bộ tiêu chí và các nội dung
xây dựng nông thôn mới các xã trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
- Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu, số liệu khảo sát, thu thập thực
tiễn giai đoạn từ năm 2016 - 2018, định hướng các giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài bám sát mục tiêu, nhận diện được những
Trang 15thành công, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, đề xuất các giải pháp có tính khả thi góp phần đẩy mạnh trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Bình Gia Vì vậy, đây là luận cứ khoa học phục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quản lý của huyện Bình Gia và trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước
- Đề tài góp phần quan trọng trong việc làm rõ thực trạng, đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học, sẽ góp phần đẩy mạnh quá trình xây dựng Nông thôn mới tại huyện Bình Gia nhanh và bền vững hơn
- Với những kết quả nghiên cứu hiện trạng thực tế và đề ra 04 nhóm giải pháp cụ thể (giải pháp chỉ đạo điều hành, giải pháp thực hiện các nội dung, giải pháp thực hiện từng tiêu chí; giải pháp thực hiện cho từng nhóm xã) sẽ giúp cho công tác chỉ đạo, triển khai, thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Gia đảm bảo tính toàn diện, đạt được mục tiêu số xã đạt chuẩn nông thôn mới theo đúng kế hoạch đề ra
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Khái niệm nông thôn và nông thôn mới
1.1.1.1 Khái niệm về nông thôn
Theo từ điển tiếng Việt: Nông thôn là danh từ chỉ khu vực dân cư tập trung
chủ yếu làm nghề nông; phân biệt với thành thị
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho rằng: Nông thôn Việt Nam là danh từ
để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Thông tư số
54/2009/TT-BNNPTNT thì nông thôn được khái niệm: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc
nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ
sở là Ủy ban nhân dân xã
Như vậy nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó tập trung chủ yếu là nông dân, nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh sự quản lý hành chính cơ sở là Ủy ban Nhân dân xã
1.1.1.2 Khái niệm về nông thôn mới
Về nông thôn mới có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng đa số đều khá thống nhất khi khẳng định nông thôn mới phải có kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao, dân trí cao, bản sắc văn hóa dân tộc được gìn giữ, tái tạo
Nghị quyết 26-NQ/TƯ của Trung ương xác định: Nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 17Như vậy, mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng tính tiên tiến ở 5 nội
dung: thứ nhất, làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; thứ hai, sản xuất phát triển bền vững theo hướng hàng hóa; thứ ba, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn, phát triển; thứ năm, được quản lý tốt, dân chủ ngày càng được nâng cao
Nông thôn mới là vùng nông thôn được xác định bởi các xã đã hoàn thành và đạt chuẩn các tiêu chí nông thôn mới theo Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tường Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới
1.1.2 Đặc điểm của nông thôn Việt Nam trong giai đoạn đổi mới
Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân, lao động và GDP nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong kinh tế nông thôn Nông thôn Việt Nam sau những năm đổi mới đến nay đã có nhiều biến đổi theo xu hướng tích cực Tuy nhiên, lực lượng dân cư chủ yếu vẫn là nông dân, ngành nghề và nguồn thu của hộ vẫn chủ yếu là nông nghiệp Công nghiệp và dịch vụ đã có sự phát triển, nhưng còn chiếm tỷ
lệ nhỏ và chủ yếu phát triển dựa trên sự phát triển của nông thôn và phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp và đời sống người nông dân là chính
Nông thôn có điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái đa dạng bao gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng, sông suối, ao hồ, khoáng sản, hệ động thực vật Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhưng đồng thời cũng là thách thức trong quá trình phát triển bền vững của khu vực nông thôn nói riêng và cả nước nói chung
Dân cư nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình Những người ngoài họ tộc cùng chung sống luôn có tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau tạo nên tình làng, nghĩa xóm lâu bền
Nông thôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hóa quốc gia như phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắng cảnh… Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hóa dân tộc, đồng thời là khu vực giải trí và du lịch sinh thái phong phú và hấp dẫn đối với mọi người
Trang 181.1.3 Vai trò của nông thôn trong phát triển kinh tế xã hội
Nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống nhân dân; cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp; cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu; cung cấp lao động cho công nghiệp và thành thị; là thị trường rộng lớn tiêu thụ những sản phẩm công nghiệp và dịch vụ; phát triển nông thôn tạo điều kiện phát triển ổn định
về kinh tế- chính trị - xã hội; là nơi sản sinh và lưu giữ các truyền thống văn hóa các dân tộc Việt Nam
1.2 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Quan điểm của Đảng và Chính phủ về xây dựng nông thôn mới
Qua các kỳ Đại hội, từ Đại hội III đến Đại IX của Đảng, tuy chưa chưa đề cập đến cụm từ “Nông thôn mới” nhưng Đảng ta luôn xác định nông nghiệp có một
vị trí rất quan trọng, là mặt trận hàng đầu, đồng thời đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối để phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại Cho đến Đại hội X của Đảng, nghị quyết Đại hội X đã xác định: “Phải luôn luôn coi trong đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội” Ngày
05 tháng 8 năm 2008, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 7, khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó đã đánh giá thành tựu và hạn chế trong vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn sau hơn
20 năm đổi mới, đồng thời xác định quan điểm chỉ đạo về vấn đề nông nghiệp- nông dân- nông thôn như sau: (i) Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là
cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước (ii) Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông
Trang 19thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt (iii) Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước
và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân (iiii) Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X), Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ về Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ, trong đó xây dựng 45 nội dung, chương trình dự án và 03 chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới, để lượng hóa các đặc tính nông thôn mới trong các Nghị quyết đã đề ra; ban hành Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới để cụ thể hóa các mục tiêu, nội dung, lộ trình, cách thức tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
Như vậy, kể từ sau các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, quan điểm, chủ trương, biện pháp về xây dựng nông thôn mới của Đảng ta ngày càng rõ và đến Đại hội X,
XI thì hoàn chỉnh và thống nhất chỉ đạo trên phạm vi toàn quốc
1.2.2 Mục đính, mục tiêu xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là nông thôn được xây dựng đạt được những tiêu chí quy định và được công nhận của cấp có thẩm quyền Trong Nghị quyết số 26-
Trang 20NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ,
đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường” Như vậy, Xây dựng nông thôn mới phải đạt những nội dung cơ bản sau: làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; đời sống về vật chất
và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ, chất lượng nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn được nâng cao
Thực tế hiện nay trong quá trình chỉ đạo xã điểm triển khai xây dựng nông thôn mới ở nước ta đang gặp phải 3 khó khăn lớn nhất: Đầu tiên là tăng nhanh, bền vững thu nhập cho nông dân, mục tiêu đến 2020 thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn các tỉnh trung du miền núi phía Bắc phải đạt từ 36 triệu đồng/người trở lên Khó khăn tiếp theo là xây dựng hạ tầng nông thôn hiện đại, trong điều kiện thực tế hạ tầng nông thôn quá lạc hậu nhất là miền núi thì hầu hết các xã chưa đạt chuẩn về các tiêu chí hạ tầng, trong khi nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ rất hạn chế, huy động nội lực từ người dân gặp nhiều khó khăn do thu nhập, đời sống của người dân nôn thôn còn thấp Cuối cùng là vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn, sao cho đến năm 2020 lao động nông nghiệp chiếm 30% lao động của xã hội, trong khi chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng các yêu cầu để chuyển dịch
* Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay
Việt Nam là một nước nông nghiệp, tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, sự
ổn định về chính trị - xã hội là nền tảng cơ bản để thực hiện thành công mục tiêu này Khu vực nông thôn tính đến năm 2017 dân số khu vực nông thôn khoảng 60,85 triệu người, chiếm 65,0% tổng dân số, lao động khu vực nông thôn chiếm 67,8% Bên cạnh đó, nông thôn có vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam nói chung và đặc biệt là phát triển kinh tế nông nghiệp Bởi vì nông thôn vừa là nơi cung cấp lao động, nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế, là nơi lưu giữ các ngồn tài
Trang 21nguyên thiện nhiện, văn hóa nói chung, đồng thời là nới sản xuất, cung cấp lương thực, thực phẩm thiết yếu cho xã hội và xuất khẩu, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng so với thành thị, nông thôn gặp phải rất nhiều khó khăn, điển hình như: Hạ tầng thấp kém, không đồng bộ chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, phát triển thiếu quy hoạch, đặc biệt là phát triển sản xuất, tỷ lệ người nghèo lớn và tập trung chủ yếu ở khu vực này Do đó, đòi hỏi phải có sự quan tâm và đầu tư thích đáng nông nghiệp - nông thôn Trong những năm qua, nguồn vốn đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn rất lớn, tuy nhiên đầu tư mang tính dàn trải và hiệu quả không cao Một trong những lý do dẫn đến tình trạng này là thiếu mục tiêu cụ thể trong phát triển nông nghiệp - nông thôn,
không đồng bộ trong đầu tư
Từ những vai trò, đóng góp và hiện trạng đầu tư vào khu vực nông thôn, đòi hỏi Việt Nam phải đẩy mạnh phát triển khu vực này Chúng ta có thể rút ra một số vấn đề sau:
Một là, phải tập trung đẩy mạnh phát triển nông nghiệp - nông thôn làm cơ
sở cho thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng thành công mục tiêu xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
Hai là, phải đặt ra mục tiêu cụ thể cho phát triển khu vực nông nghiệp, nông
thôn làm bàn đạp, làm kim chỉ nam cho quá trình đầu tư và phát triển
Ba là, nhanh chóng đưa khu vực nông thôn phát triển, theo kịp với sự phát
triển của khu vực thành thị
Từ những vấn đề đó, đòi hỏi phải xây dựng một chương trình phát triển toàn diện, đồng bộ dành cho khu vực nông nghiệp - nông dân - nông thôn, làm kim chỉ nam cho quá đầu tư và phát triển nông thôn Vì vậy, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 4 tháng 6 năm 2010 về phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, sau khi thực hiện Chương trình trong giai đoạn 2011-2015, trên cơ sở tích lũy, phát huy những kết quả, thành tựu đã đạt được, khắc phục, điều chỉnh những vấn đề tồn tại, chưa phù hợp, Chính phủ đã có sự điều chỉnh bằng việc ban hành Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc
Trang 22gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Mục tiêu về xây dựng nông thôn mới: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; chất lượng nguồn nhân lực ngày được nâng cao; hệ thống chính chị được củng cố và phát huy hiệu quả; an ninh trật tự được giữ vững
1.2.3 Các bước xây dựng nông thôn mới
Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện
Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền, tập huấn về thực hiện chương trình
Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu
chí quốc gia NTM
Bước 4: Xây dựng quy hoạch NTM của xã
Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng NTM của xã
Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án
Bước 7: Giám sát, đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện chương trình
1.2.4 Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và các nội dung thực hiện
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới: Để lượng hóa các đặc tính nông thôn
trong xây dựng nông thôn mới, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và được sửa đổi tại quyết định số Quyết định 342/QĐ-TTg ngày 20/3/2013 Trong giai đoan 2016-2020 để bổ sung, hoàn thiện và điều chỉnh các tiêu chí xây dựng nông thôn mới đảm bảo tính toàn diên mọi mặt của cấp xã, đồng thời mang tính khả thi, phù hợp với đặc điểm vùng miền Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành
Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Bộ tiêu chí quốc gia
xã nông thôn mới có 19 tiêu chí chia thành 05 nhóm, bao gồm: Nhóm tiêu chí về quy hoạch có 01 tiêu chí (tiêu chí số 1); nhóm tiêu chí về hạ tầng Kinh tế - Xã hội
có 08 tiêu chí (từ tiêu chí số 2 đến hết tiêu chí số 9); nhóm tiêu chí về Kinh tế và tổ
Trang 23chức sản xuất có 04 tiêu chí (từ tiêu chí số 10 đến hết tiêu chí số 13); nhóm tiêu chí
về Văn hóa - Xã hội - Môi trường có 04 tiêu chí (từ tiêu chí số 14 đến hết tiêu chí số 17); nhóm tiêu chí hệ thống chính trị gồm 02 tiêu chí (tiêu chí số 18 và 19) Xã đạt chuẩn nông thôn mới khi hoàn thành và đạt các chỉ tiêu quy định trong 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới, được UBND tỉnh thẩm định và quyết định công nhận, sau 05 năm thẩm định công nhận lại
Nội dung xây dựng nông thôn mới: Để cụ thể hóa việc thực hiện các tiêu chí
xây dựng nông thôn mới Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 4/6/2010 về phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, kết thúc giai đoạn 2011-2015 Chính phủ đã có sự điều chỉnh bằng việc ban hành Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Trong đó cụ thể hóa các nội dung phải thực hiện để đạt các tiêu chí, phân công, giao trách nhiệm và xác định tiến độ thực hiện cụ thể để triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới, gồm 11 nội dung cụ thể như sau:
(1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới: Đạt yêu cầu tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Hết năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước làm cơ sở đầu tư xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở
để thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;
(2) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội: Đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới với 7 nội dung cụ thể:
- Nội dung 1: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và
hệ thống giao thông trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hóa)
- Nội dung 2: Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn
- Nội dung 3: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn
Trang 24- Nội dung 4: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về
y tế trên địa bàn xã Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn
- Nội dung 5: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75%
số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch)
(3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập: Đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2015 có 20%
(6) Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và
14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn
(7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu chí
số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn
(8) Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% số xã có bưu điện và điểm internet đạt chuẩn Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 70% có điểm bưu điện
và điểm internet đạt chuẩn
Trang 25(9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu chí số
17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn
(10) Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn: Đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn
(11) Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn: Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm
2020 là 95% số xã đạt chuẩn
1.2.5 Kinh nghiệm trong xây dựng nông thôn mới
1.2.5.1 Kinh nghiệm nước ngoài
* Phong trào làng mới ở Hàn Quốc:
Từ những cách làm và kết quả của phong trào làng mới ở Hàn Quốc, chúng ta
có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm không chỉ cho xây dựng NTM, mà còn về vấn đề xã hội hóa, kết nối nông thôn - thành thị, phát triển con người… Những bài học kinh nghiệm chính đó là:
- Chính phủ Hàn Quốc có cam kết chính trị mạnh mẽ và quyết liệt đối với việc thực hiện phong trào làng mới
- Hình thành một hệ thống tổ chức quản lý, điều hành vững chắc từ cấp cơ sở đến cấp trung ương, tạo ra các cơ chế phối hợp tốt theo chiều ngang và chiều dọc
- Xây dựng đội ngũ lãnh đạo từ cấp làng độc lập với hệ thống chính quyền và chính trị Đội ngũ này do dân bầu, được trao quyền, được đào tạo bài bản, không được hưởng trợ cấp nhưng con cái được hỗ trợ học tập…
- Quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ triển khai phong trào làng mới các cấp cùng với cán bộ chính quyền, giáo sư, nhà báo… để tạo phong trào cho toàn xã hội
- Thúc đẩy tinh thần thi đua, cạnh tranh lành mạnh giữa các làng, làm tốt thì được hưởng hỗ trợ nhiều
- Triển khai theo từng bước, từ thấp đến cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, hình thành dần sự tự tin thay thế cho tự ti trong tâm lý cộng đồng
Trang 26* Chương trình mỗi làng một sản phẩm (OVOP) ở Nhật Bản:
Từ hiệu quả của phong trào OVOP có thể đúc rút ra một số bài học để vận dụng trong triển khai thực tế khi phát triển, hình thành các sản phẩm ở khu vực nông thôn như sau:
- Mỗi làng sẽ tự chọn và quyết định hình thành, phát triển một nghề có nhiều
hộ và doanh nghiệp tham gia Mỗi xã quyết định phát triển ít nhất một làng nghề có sản phẩm đặc trưng của địa phương Với những làng có nhiều nghề, nhiều sản phẩm thì cần lựa chọn những nghề có sản phẩm đặc trưng nhất để tập trung nguồn lực đầu
tư, tạo ra sự khác biệt so với sản phẩm cùng loại của địa phương khác Công nghệ mới cần được đưa vào quá trình sản xuất, vừa nâng cao được chất lượng sản phẩm, cải thiện năng suất lao động, vừa bảo vệ môi trường, đảm bảo sức khỏe người lao động và cộng đồng dân cư Khâu thiết kế mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm cũng cần được chú trọng
- Các làng nghề cần tăng cường xây dựng, quảng bá thương hiệu, hình ảnh về làng nghề, về sản phẩm Chủ động tìm kiếm các cách làm hay, độc đáo trong công tác tiếp thị, bán hàng, tạo ấn tượng đối với người tiêu dùng Bên cạnh đó, cần tăng cường các dịch vụ sau bán hàng như: Bảo hành, bảo trì, dịch vụ chăm sóc khách hàng, có các chế độ ưu đãi đối với khách hàng truyền thống, quan tâm phát triển khách hàng tiềm năng Các làng nghề nói riêng và hiệp hội các làng nghề nói chung cần phối hợp với các cơ quan xúc tiến thương mại của địa phương và quốc gia để giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm đối tác để xuất khẩu ra thị trường thế giới
- Các Bộ, ngành có liên quan cần có những chính sách hỗ trợ để các làng nghề đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, đầu tư kỹ thuật, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, tạo chuỗi liên kết trong hoạt động sản xuất gắn với thị trường tiêu thụ Bên cạnh sự hỗ trợ về chính sách từ các cấp quản lý, cần hỗ trợ giải quyết cho vay vốn ưu đãi để đầu tư mở rộng sản xuất, hiện đại hóa công nghệ sản xuất
1.2.5.2 Kinh nghiệm trong nước
* Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Huyện Lạng Giang nằm ở phía Bắc của tỉnh Bắc Giang, giáp huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, huyện có diện tích 245 km2, với dân số trên 200.000 người, huyện có 21 xã, 2 thị trấn, kinh tế của huyện chủ yếu dựa trên sản xuất nông nghiệp
Trang 27Xác định xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lạng Giang, huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện công tác xây dựng nông thôn mới, đến hết năm 2016 huyện đã hoàn thành 05 xã xây dựng nông thôn mới Hàng năm huyện đều tập trung chỉ đạo cơ quan chuyên môn làm việc với Ban quản lý xây dựng nông thôn mới các xã để xác định các hạng mục cần xây dựng trong năm từng thời điểm đảm bảo các dự án kịp tiến độ theo yêu cầu Hàng tháng tổ chức giao ban với tất cả các xã để kịp thời nắm bắt tình hình tiến độ triển khai ở cơ sở và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện Thường xuyên chỉ đạo cập nhật thông tin tăng thời lượng phát các tin bài về tình hình, tiến độ, kết quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn, kịp thời phản ánh đưa tin những nơi làm tốt những cách làm hay sáng tạo, những cá nhân đơn vị có nhiều thành tích trong xây dựng nông thôn mới, phát đông phong trào thi đua “Lạng Giang cùng cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” và triển khai thực hiện sâu rộng đến từng thôn, xóm
Căn cứ vào điều kiện thực tế và tiến độ chung của huyện, hàng năm huyện đều tổ chức cho các xã đăng ký tiêu chí phấn đấu cụ thể để tập trung chỉ đạo và phân bổ các nguồn lực nhằm đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu đề ra, kết quả đến hết năm 2016 các xã
trên địa bàn huyện (trừ xã Tân Thịnh đã thực hiện đạt chuẩn các tiêu chí năm 2013) hoàn
thành thêm 29 tiêu chí, bình quân mỗi xã đạt thêm 1,45 tiêu chí, đạt 145 % so với kế hoạch, trong đó có xã Tân Hưng năm 2014 hoàn thành đạt chuẩn nông thôn mới trước kế
hoạch đề ra (kế hoạch năm 2015)
Công tác huy động các nguồn lực và giải ngân các nguồn vốn trên địa bàn huyện được thực hiện tốt, riêng trong năm 2016 tổng nguồn vốn đầu tư trên toàn huyện là: 80,5 tỷ đồng (trong đó: Vốn ngân sách Trung ương, tỉnh: 22 4 tỷ đồng; vốn ngân sách huyện: 11,8 tỷ đồng; vốn ngân sách xã: 19,4 tỷ đồng; huy động nhân dân đóng góp và các nguồn vốn khác: 26,9 tỷ đồng) Riêng 4 xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 đầu tư: 55,08 tỷ đồng, gồm: Trung ương, tỉnh: 19,8
tỷ đồng; ngân sách huyện: 2,23 tỷ đồng; ngân sách xã: 15,23 tỷ đồng; huy động nhân dân đóng góp và các nguồn vổn khác: 17,82 tỷ đồng Bên cạnh đó, công tác huy động nhân dân tham gia hiến đất để xây dựng nông thôn mới cũng đạt nhiều kết
Trang 28quả quan trọng, riêng trong năm 2014 toàn huyện vận động hiển đất để xây dựng các công trình trong xây dựng nông thôn mới là: 35.702 m2 đất, đất do nhân dân hiến chủ yếu dùng cho việc mở rộng đường giao thông nông thôn, một phần để xây dựng kênh mương và nhà văn hóa
Có được kết quả trên là do có sự tập trung cao trong công tác lãnh chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền Ban Chỉ đạo các cấp từ huyện tới cơ sở, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và đặc biệt là sự tham gia tích cực của cộng đồng nên công cuộc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lạng Giang đã đạt một số kết quả quan trọng như đến nay đã có 05 xã đạt chuẩn nông thôn mới; cơ bản các tiêu chí đề ra để phấn đấu đạt thêm ở các xã đã được thực hiện hoàn thành, bình quân số tiêu chí đạt thêm vượt mục tiêu kế hoạch đề ra Những kinh nghiệm trên nếu vận dụng cho địa bàn huyện Bình Gia sẽ có nhiều điểm tương đồng và khả năng triển khai thực hiện cao
* Kinh nghiệm xây dựng “Khu dân cư kiểu mẫu” và “Vườn mẫu” tỉnh Hà Tĩnh:
Triển khai thực hiện Chương trình nông thôn mới, quan điểm chỉ đạo của tỉnh Hà Tĩnh là “Thực chất, bền vững, không chạy theo thành tích”, qua thực tế việc đánh giá các xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2013 theo bộ tiêu chí Quốc gia, mặc
dù Hà Tĩnh đánh giá bài bản, chặt chẽ, song các xã được công nhận đạt chuẩn bộ mặt nông thôn chưa có sự thay đổi rõ nét, thực trạng khu dân cư, vườn hộ có nhiều hạn chế, tiềm năng phát triển kinh tế vườn lớn nhưng chưa được khai thác Thời điểm trước khi triển khai xây dựng Vườn mẫu, Vườn ở Hà Tĩnh chủ yếu là vườn tạp; phát triển thiếu quy hoạch; hiệu quả kinh tế thấp; môi trường, cảnh quan chưa sạch, đẹp; sản xuất tự cung, tự cấp là chủ yếu; việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ còn hạn chế… Chính vì vậy, tỉnh đã tập trung chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, tạo chuyển biến ngay từ hộ gia đình cho đến cấp thôn, cấp xã và đã chủ trương xây dựng Khu dân cư kiểu mẫu, Vườn mẫu, ban đầu triển khai thí điểm tại
05 thôn đại diện cho 03 vùng miền sinh thái Sau 01 năm thực hiện, Ban Chỉ đạo NTM tỉnh đã tổ chức sơ kết, đánh giá, kết quả bước đầu thấy rằng hiệu quả mang lại khá thuyết phục, bộ mặt nông thôn thay đổi rõ nét, được người dân đồng tình, hưởng ứng rất cao
Từ thành công đó Ban Chỉ đạo NTM tỉnh chỉ đạo các xã tiếp tục xây dựng và nhân nhanh Khu dân cư NTM kiểu mẫu, Vườn mẫu trên diện rộng và ban hành Tiêu
Trang 29chí Khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu gồm 10 tiêu chí, trọng tâm là chỉnh trang,
sắp xếp, bố trí lại Khu dân cư, nhà ở, công trình phụ trợ; xanh hóa hàng rào, cải thiện cảnh quan môi trường ; Tiêu chí Vườn mẫu, gồm 05 tiêu chí, tập chung vào quy hoạch lại vườn hộ, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào vườn hộ để tăng giá trị sản phẩm, hình thành các sản phẩm chủ lực và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cũng như bảo vệ môi trường sinh thái, tạo cảnh quan thân thiện với môi trường, đặc biệt quy định cụ thể mức thu nhập tối thiểu cho một đơn vị diện tích vườn mẫu
Tiêu chí “Khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu và Vườn mẫu” là nét sáng tạo của Hà Tĩnh, đây là tiêu chí thứ 20 trong Bộ Tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới
áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Đến nay toàn tỉnh Hà Tĩnh đã có 1.250 Khu dân
cư nông thôn mới kiểu mẫu, có 5.556 vườn triển khai (trong đó 2.300 vườn đạt trên 50% so với chuẩn, 1.300 vườn đạt chuẩn), với nhiều kết quả rõ nét:
(1) Vườn hộ được xây dựng và phát triển theo quy hoạch: Việc sắp xếp, bố
trí, cơ cấu lại cây trồng, vật nuôi vườn hộ bài bản, khoa học, phát huy hiệu quả sử dụng đất cao nhất; nhiều vườn hộ sử dụng công nghệ 3D trong quy hoạch - thiết kế
(2) Xác định rõ sản phẩm chủ lực, tạo sản phẩm hàng hóa, tiến tới hình thành
mỗi làng một sản phẩm.Tiêu biểu như vùng chuyên canh sản xuất rau giống tại thôn Hồng Lĩnh (xã Vượng Lộc, huyện Can Lộc), rau gia vị tại thôn La Xá (xã Thạch Lâm, huyện Thạch Hà); trồng cây ăn quả đặc sản nổi tiếng như Bưởi Phúc Trạch tại
xã Phúc Trạch, cam Khe Mây tại xã Hương Đô, huyện Hương Khê; Cam chanh tại
xã Thượng Lộc; Cam bù, cam chanh tại xã Đức Lĩnh, Sơn Thọ, Hương Thọ, huyện
Vũ Quang…
(3) Các tiến bộ KHCN được ứng dụng rộng rãi như tưới tiết kiệm theo công
nghệ Israel; sử dụng chế phẩm sinh học trong xử lý môi trường, sản xuất phân hữu
cơ sinh học, phòng trừ sâu bệnh hại; quy trình sản xuất VietGAP, nông nghiệp hữu cơ; sản xuất mương thoát nước bằng kết cấu bê tông đúc sẵn; nhà màng nông nghiệp công nghệ cao… Tiêu biểu như: Ống dẫn cơ động công nghệ Israel ở xã Xuân Mỹ - huyện Nghi Xuân; dàn phun ở xã Vượng Lộc, huyện Can Lộc và các mô hình tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa ở: Xã Hương Trạch, Hương Trà, Hương Khê; Cẩm Yên, Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên; Vượng Lộc, Thượng Lộc, huyện Can Lộc
và ở nhiều địa phương khác… Mô hình nhà màng sản xuất rau tại xã Tượng Sơn,
Trang 30huyện Thạch Hà; nhà lưới sản xuất rau tại xã Đức La, huyện Đức Thọ; nhà lưới
trồng hoa ở Xuân Mỹ, huyện Nghi Xuân…
(4) Hiệu quả kinh tế Vườn cao hơn: Bình quân doanh thu 01 vườn đạt 50 - 80
triệu đồng (có khoảng 2.000 vườn có thu nhập từ 500 triệu đồng, trong đó có trên
600 vườn có doanh thu trên 1,0 tỷ đồng); bình quân/1.000m2 đạt 50 triệu đồng; 1,0
ha đạt 500 triệu đồng (trên đất trồng lúa hiện nay là 70 triệu đồng/ha) Tiêu biểu như ông Phan Văn Liệu (thôn 1 Bồng Giang, xã Đức Giang, huyện Vũ Quang), doanh thu trên 1,3 tỷ đồng/năm, thu nhập trên 1,0 tỷ đồng; ông Trần Ngọc Hóa (thôn 2, xã Sơn Thọ, huyện Vũ Quang), doanh thu 1,2 tỷ đồng/năm, Thu nhập 900 triệu đồng/năm; ông Trần Nhật Tân (thôn Nam Trà, xã Hương Trà, huyện Hương Khê), doanh thu 1,3 tỷ đồng, thu nhập 900 triệu đồng; Ông Nguyễn Văn Quý (thôn Yên Thành, xã Cẩm Yên), doanh thu: 200 triệu đồng/năm, thu nhập: 90 triệu đồng/năm; Bà Phan Thị Lộc (thôn Hồng Lĩnh, xã Vượng Lộc), doanh thu: 500 triệu đồng/năm; thu nhập 430 triệu đồng/năm…
(5) Góp phần bảo vệ môi trường, cảnh quan sạch đẹp: Hàng rào vườn hộ
được trồng bằng hệ thống cây xanh hoặc hàng rào kinh tế, kể cả lối ngõ vào nhà, trên mặt nước, bờ biên vườn ; các công trình phụ trợ, chuồng trại được đi dời, sắp xếp hợp lý góp phần cải thiện cảnh quan, môi trường sạch đẹp
Có thể khẳng định “Xây dựng thành công Vườn mẫu, khu dân cư kiểu mẫu, hiện thực hóa đa mục tiêu”, đó là vừa nâng cao thu nhập cho nông dân, vừa thân thiện với môi trường, tạo cảnh quan đẹp cho nông thôn; hướng nông dân sản xuất theo hướng an toàn, hữu cơ và là cách tốt nhất để áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất ngay trong khuôn viên hộ gia đình; còn có thể thúc đẩy du lịch sinh thái vườn phát triển
Để đạt được những kết quả trên, Hà Tĩnh rút ra một số kinh nghiệm sau:
- Phải tổ chức khảo sát, đánh giá kỹ thực trạng: Đây là bước đầu tiên hết sức
quan trọng và được cơ sở thực hiện nghiêm túc; nhiều vườn hộ được quy hoạch - thiết kế bài bản, có sự tư vấn giúp đỡ của Văn phòng Điều phối NTM tỉnh, Hội Làm vườn và Trang trại tỉnh, các tổ chức cấp huyện và các đơn vị tư vấn
- Ban hành Bộ Tiêu chí và tập trung cao cho công tác tuyền truyền, tập huấn
hướng dẫn cụ thể.Tỉnh đã ban hành Bộ Tiêu chí Vườn mẫu gồm 05 tiêu chí (Quy
Trang 31hoạch và thực hiện quy hoạch; sản phẩm từ vườn; ứng dụng tiến bộ KHKT; môi trường - cảnh quan và Thu nhập); tổ chức tập huấn hướng dẫn lập phương án, dự toán, phát hành tờ rơi tiêu chí xuống tận thôn, xóm
- Các nội dung công việc đều phải có phương án, dự toán cụ thể Quy hoạch
thiết kế vườn hộ phải trên cơ sở đề xuất của hộ gia đình, lấy ý kiến của các chuyên gia; quyết định cuối cùng là chủ hộ gia đình; lập kế hoạch triển khai cụ thể
- Chọn các nhân tố đại diện cho các nhóm hộ, vùng miền để làm mẫu để
nhân rộng; chọn đối tượng cây con chủ lực phù hợp với điều kiện lập địa
- Phân công, phân nhiệm cụ thể trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn hộ gia
đình thực hiện (nguồn cung cấp giống, KHCN) và nêu cao sự chủ động của gia đình trong quá trình thực hiện
- Có chính sách hỗ trợ vườn mẫu Đối với xã đạt chuẩn trong năm và những
năm kế tiếp: Trong năm 2016, hỗ trợ 10 Vườn mẫu/xã với mức 20 triệu đồng/vườn mẫu; năm 2017-2018 hỗ trợ 05 triệu đồng/Vườn mẫu
- Tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm lẫn nhau, tạo phong trào thi đua
giữa các địa phương trong xã, giữa các xã với nhau
- Triển khai thực hiện trên diện rộng với sự phối hợp của các tổ chức giúp đỡ
các hộ gia đình
- Sơ, tổng kết đánh giá sâu, kịp thời khen thưởng, biểu dương các hộ làm tốt;
chấn chỉnh, giải quyết các vướng mắc, khó khăn, điểm nghẽn trong quá trình thực hiện
* Kinh nghiệm xây dựng Chương trình mỗi làng một sản phẩm của tỉnh Quảng Ninh
Khi triển khai Chương trình cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng mô hình OVOP (Nhật Bản) và OTOP (Thái Lan), học tập về nguyên tắc chứ không dập khuôn máy móc, có sự đánh giá và điểu chỉnh từng bước trong quá trình thực hiện cho phù hợp với thực tiễn kinh tế thị trường trong nước và địa phương
Chương trình phải được: (i) Tổ chức quản lý khoa học theo hệ thống, từng khâu, từng bước thực hiện; (ii) Thiết lập được tính pháp lý của toàn bộ chương trình (Chu trình, Tài liệu hướng dẫn, Bộ Tiêu chí, tiêu chuẩn Đánh giá và phân hạng sản phẩm, hệ thống chính sách ); (iii) Xây dựng được hệ thống chính sách hỗ trợ phát
Trang 32triển SMEs, HTX, hỗ trợ phát triển sản phẩm trên nền tảng hỗ trợ phát triển nghiên cứu, ứng dụng KHCN, công tác hướng dẫn lập và quản lý các dự án đầu tư, các dự
án sản xuất
Tính hệ thống và tổ chức của chương trình phải được tổ chức chặt chẽ và được trao nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp để thực hiện Phải khởi động, thúc đẩy được sự đề xuất, tính sáng tạo từ dưới lên (từ nhân dân, nhóm hộ sản xuất, doanh nghiệp, HTX) Người đứng đầu trong Ban Điều hành OCOP các cấp phải có đủ thẩm quyền để điều hành và quyết định công việc
Thị trường và hoạt động xúc tiến thương mại sản phẩm, cùng với thiết kế sản phẩm, mẫu mã bao bì, đóng gói sản phẩm là rất quan trọng
Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng về chương trình OCOP, sản phẩm OCOP
1.2.5.3 Các bài học kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới trong tỉnh
* Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
Chi Lăng là huyện phía nam của tỉnh Lạng Sơn, giáp huyện Bình Gia, huyện
có diện tích 703 km2, với dân số trên 73.800 người, huyện có 19 xã và 02 thị trấn Dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện, sự giúp đỡ của các sở, ban ngành tỉnh và sự tham gia tích cực của Ban Chỉ đạo cấp huyện, xã, các ban ngành đoàn thể, chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai đồng bộ, rộng khắp
từ huyện đến các xã, bước đầu đạt được những kết quả nhất định
Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện Chi Lăng đã ban hành văn chỉ đạo các xã tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới Chỉ đạo cơ quan thường trực, Uỷ ban nhân dân các xã xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới hàng năm Thành lập các Đoàn kiểm tra tiến độ thực hiện để kịp thời giúp cơ sở tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện
Chương trình đã tạo được sự chuyển biến tích cực về nhận thức trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về xây dựng nông thôn mới, bước đầu có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị để triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, người dân đã nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình trong xây dựng
Trang 33nông thôn mới Các cơ quan thông tin đại chúng tích cực, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về nông thôn mới, tăng cường các tin bài tuyên truyền những sáng kiến, mô hình kinh tế có hiệu quả, những kinh nghiệm hay trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới Bên cạnh đó, huyện Chi Lăng cũng rất tích cực trong việc mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng về xây dựng nông thôn mới qua các chương trình cụ thể
Công tác hỗ trợ phát triển sản xuất được quan tâm chỉ đạo làm rất tốt, bên cạnh việc phát triển các cây trồng đặc sản có thế mạnh đã có thương hiệu như: Na Chi Lăng, hồng Chi Lăng, huyện đã chủ động phối hợp với các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp đầu tư sản xuất các cây trồng, vật nuôi mới phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của địa phương, góp phần nâng cao thu nhập và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tại huyện
Triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới với nguồn lực đầu tư của Nhà nước, hỗ trợ của các doanh nghiệp, sự đóng góp của nhân dân Các xã đã triển khai đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu: điện, đường, trường, trạm; đầu tư phát triển sản xuất, đến nay số xã có đường ô tô đi lại 4 mùa đạt 89,47%, tỷ lệ km đường giao thông trục xã, liên xã cứng hóa đạt 16,61%,
tỷ lệ km giao thông trục thôn cứng hóa đạt 17,98%, tỷ lệ km đường ngõ xóm cứng hóa đạt 14,98%, tỷ lệ km đường giao thông nội đồng cứng hóa đạt 6,25%
Công tác phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường đạt được nhiều kết quả quan trọng Huyện đã tập trung nâng cao chất lượng giáo dục ở các xã đặc biệt khó khăn, hiện nay huyện có 68 trường học, 751 lớp, trong đó có 12 trường đạt chuẩn quốc gia Hệ thống Y tế xã từng bước được hoàn thiện, hiện nay đã có 02 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã Phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao quần chúng và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” gắn với việc xây dựng nông thôn mới được quan tâm triển khai Kết quả đánh giá hiện trạng tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại các xã: Đến nay huyện Chi Lăng đã có 06 xã đạt chuẩn quốc gia xây dựng nông thôn mới, trong đó có xã Quang Lang đạt chuẩn nông thôn mới năm 2016 không nằm trong kế hoạch của tỉnh
Trang 341.3 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.3.1 Những công trình đã nghiên cứu có liên quan
Nông thôn mới là chương trình mới triển khai từ năm 2011, nhưng được đánh giá là chương trình có ý nghĩa, mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân nông thôn Chính vì tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của xây dựng nông thôn mới, do vậy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, những đề tài nghiên cứu này được nghiên cứu trên phạm vi, quy
mô, đối tượng, thời gian, không gian, địa bàn khác nhau như: Luận án tiến sĩ kinh tế nông nghiệp “Nghiên cứu xây dựng nông thôn mới các huyện phía Tây thành phố
Hà Nội” của học viên Nguyễn Mậu Thái, năm 2015; Luân án Tiến sĩ kinh tế “Xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế- xã hội ở tỉnh Bắc Ninh” của học viên Nguyễn Văn Hùng, năm 2015; Luận văn thạc sĩ “Xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang hiện nay” của học viên Vương Đình Thắng, năm 2015; Luân văn thạc sĩ “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh” của học viên Phạm Thị Tiến, năm 2013; Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn” của học viên Lý Quang Ngọc, năm 2014 Các công trình nghiên cứu khoa học này đã có những đóng góp nhất định trong việc cung cấp cơ sở lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề xây dựng nông thôn mới tại một số địa phương Ở các công trình khoa học trên, việc nghiên cứu giải pháp về xây dựng nông thôn mới cấp huyện đã được nhiều học viên đề cập, tuy nhiên mỗi công trình có cách tiếp cận và nội dung nghiên cứu khác nhau Do mục đích và yêu cầu khác nhau mà các nghiên cứu trên chỉ phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp cho từng địa phương cụ thể, không thể áp dụng giải pháp đó cho địa phương khác Đến thời điểm hiện tại trên địa bàn huyện Bình Gia chưa có một công trình, đề tài khoa học nào nghiên cứu về giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài là cần thiết để đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý, điểu hành, chỉ đạo, để đẩy nhanh tiến độ, hiệu quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Gia cho xứng tầm với tiềm năng lợi thế và phù hợp với thực tiễn của huyện
Trang 351.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới
1.3.2.1 Các yếu tố chủ quan
Điều kiện kinh tế: Là yếu tố thúc đẩy tiến độ xây dựng nông thôn mới tại các
xã Nới nào có điều kiện kinh tế khá, thu nhập của người dân cao, các lĩnh vực phát triển kinh tế từ công nghiệp, thương mại dịch vụ đến nông nghiệp phát triển sẽ
thuận lợi hơn trong việc huy động nguồn lực tham gia xây dựng nông thôn mới
Điều kiện tự nhiên và hạ tầng cơ sở: Là yếu tố tác động đến tiến độ, phương
thức triển khai xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là đối với nhóm các tiêu chí về hạ tầng mà cụ thể là các công trình hạ tầng nông thôn thôn Đối với các tỉnh miền núi điều kiện địa hình chia cắt, đồi núi nhiều, độ dốc cao, khí hậu khắc nghiệt sẽ là yếu
tố bất lợi cho xây dựng nông thôn mới Hạ tầng cơ sở ở khu vực nông thôn, đặc biệt
là khu vực miền núi còn nhiều khó khăn, thấp kém, chưa đồng bộ hầu hết chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển, để đạt chuẩn nông thôn mới về kết cấu hạ tầng thì hầu hết phải đầu tư mới và nâng cấp, xuất đầu tư các công trình hạ tầng ở khu vực miền núi thường cao hơn các tỉnh miền xuôi, nhu cầu kinh phí rất lớn để thực hiện nội dung này
Văn hóa xã hội: Thể hiện phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt của từng
vùng miền, dân tộc cụ thể Yếu tố này ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu, tiêu chí cụ thể trong xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là nhóm các tiêu chí về văn hóa xã hội, môi trường và các nhóm tiêu chí trách nhiệm thực hiện chính từ người dân Đồng thời nó ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền, truyền thông trong xây dựng nông thôn mới
Nguồn nhân lực và trình độ sản xuất: Hiện nay khu vực nông thôn lao động
chiếm đa số, tuy nhiên trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn còn thấp, ý thức tổ tổ chức kỷ luật, tác phong làm việc chưa cao Điều này ảnh hưởng đến việc tổ chức sản xuất và phát triển sản xuất ở khu vực nông thôn cũng như chuyển dịch cơ cấu lao động trong xây dựng nông thôn mới hay nó tác động kìm hãm nhóm các tiêu chí kinh tế tổ chức sản xuất trong xây dựng nông thôn mới
Chính quyền địa phương: Đây chính là đơn vị quản lý, tổ chức, triển khai
thực hiện chương trình, để chương trình xây dựng nông thôn mới đi vào cuộc sống
Trang 36và được các tầng lớp nhân dân và cả hệ thống chính trị tham gia vào cuộc thì nhất thiết chính quyền các cấp phải nổ lực quyết tâm, kiên trì, bền bỉ, sáng tạo, quyết tâm cao trong chỉ đạo điều hành thì xây dựng nông thôn mới mới thành hiện thực và bền vững Mỗi địa phương có một điều kiện từ kinh tế văn hóa xã hội đến đội ngũ cán
bộ khác nhau do vậy trong xây dựng nông thôn mới các địa phương có những cơ chế chính sách riêng, phù hợp cũng là yếu tố tác động không nhỏ đến kết quả và tốc
độ xây dựng nông thôn mới
Sự tham gia của người dân: Trong xây dựng nông thôn mới người dân chính
là người hưởng thụ chương trình, Đảng và Nhà nước xác định người dân phải là chủ thể của chương trình, đồng thời phải phát huy nội lực của người dân từ trí lực đến tiềm lực, do vậy việc tham gia của người dân vào quá trình xây dựng nông thôn mới
là yếu tố quyết định sự thành công và bền vững của chương trình xây dựng nông thôn mới
1.3.2.2 Các yếu tố khách quan
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước: Đây là nhóm yếu tố tác
động trực tiếp thúc đẩy, hỗ trợ nguồn lực để các địa phương triển khai thực hiện chương trình Mỗi một cơ chế, chính sách sẽ có tác động thúc đẩy đến một địa phương hoặc vùng lãnh thổ, hoặc tác động đến một tiêu chí hoặc một nhóm tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới
Ngân sách nhà nước: Đối với các địa phương còn nhiều khó khăn về kinh tế
xã hội thì nguồn lực hỗ trợ từ ngân sách các cấp là động lực hết sức quan trọng thúc đẩy tiến độ xây dựng nông thôn mới, đặc biệt đối với nhóm các tiêu chí xây dựng hạ tầng nông thôn
Các văn bản hướng dẫn thực hiện: Đây là nhóm yếu tố tác động trực tiếp đến
cách thức tổ chức thực hiện, kế hoạch, lộ trình, phạm vi, đối tượng thực hiện chương trình, giúp các cơ quan chuyên môn, đơn vị, cá nhân được giao nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới tổ chức triển khai, quản lý, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc tổ chức thực hiện chương trình
1.4 Đánh giá chung
Khu vực nông thôn nước ta có vai trò vị trí hết sức quan trọng, quyết định sự thịnh vượng của cả quốc gia và dân tộc Hiện nay Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai rộng khắp trên địa bàn các xã của cả nước là một chủ trương,
Trang 37chính sách lớn, hết sức đúng đắn dành cho phát triển nông nghiệp - nông dân - nông thôn, có thể nói đây chính là sự tri ân của Đảng và Nhà nước cho khu vực nông thôn
từ khi hòa bình thống nhất đất nước Sau 7 năm triển khai thực hiện chương trình trên phạm vi cả nước, đến hết năm 2017, cả nước có 3.289 xã (đạt 36,84%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (mục tiêu là 31%); có 50 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới Cả nước còn 121 xã dưới 5 tiêu chí, giảm 136 xã (vượt mục tiêu năm 2017 giảm số xã dưới 5 tiêu chí xuống dưới 150 xã) Bình quân tiêu chí/xã đạt 14,25 tiêu chí, vượt mục tiêu đạt 14 tiêu chí Tuy nhiên còn có sự chênh lệch lớn về kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới ở các vùng, miền (số xã đạt chuẩn NTM ở Đông Nam Bộ là 53,19%, ở ĐBSH 52,8% thì ở Miền núi Phía Bắc đạt 12,19%, Tây Nguyên là 18,83%)
Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đến hết năm 2018 có 48 xã đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm 23,2% tổng số xã), bình quân đạt 10,5 tiêu chí/xã Kết quả triển khai xây dựng nông thôn mới của tỉnh Lạng Sơn còn chậm, đặc biệt có huyện Bình Gia, hết năm 2018 mới có 04 xã đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm 21,05% tổng số xã)
Do vậy việc phân tích, nghiên cứu tìm các giải pháp khoa học và thực tiễn để đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới là một yêu cầu cấp bách, đặc biệt đối với các
tỉnh, huyện miền núi còn nhiều khó khăn như huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
Luận văn được học viên kế thừa các nội dung lý luận về xây dựng nông thôn mới nói chung và xây dựng nông thôn mới ở cấp huyện nói riêng đã được các học viên khác hệ thống hóa Trên cơ sở đó, phát triển các nội dung cụ thể khác trong xây dựng nông thôn mới cấp huyện cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả xây dựng nông thôn mới Đồng thời vận dụng các cơ sở lý luận vào thực tiễn huyện Bình Gia để trả lời cho câu hỏi: Thực trạng tiến độ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn trong những năm gần đây như thế nào? Các vấn đề mà huyện gặp phải? Nguyên nhân gặp những vấn đề ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả xây dựng nông thôn mới của huyện? Các giải pháp đẩy nhanh tiến độ, hiệu quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
Trang 38Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Huyện Bình Gia cách thành phố Lạng Sơn 75 km về phía Tây, đi theo đường Quốc lộ 1B Phía Bắc giáp huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; Phía Đông giáp hai huyện Văn Quan và Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn; Phía Tây giáp huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn; Phía Nam giáp huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Toàn huyện có 20 xã, thị trấn, trong đó có 19 xã
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 109.415,1 ha, trong đó:
- Diện tích đất nông nghiệp: 92.314,4 ha (Gồm: đất sản xuất nông nghiệp: 8.018,6 ha; đất lâm nghiệp: 84.189 ha; đất nuôi trồng thủy sản: 106,9 ha)
- Đất phi nông nghiệp: 3.221,51 ha
- Đất chưa sử dụng: 13.879,2 ha
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Bình Gia
- Đất trồng cây hàng năm khác Ha 1.786,8
Nguồn: Chi Cục thống kê huyện Bình Gia
Trang 39* Địa hình: Huyện Bình Gia bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đất và núi đá
khiến cho các dãy đồi, núi ở Bình Gia đều có độ dốc từ 25-300 trở lên Các dải thung lũng hẹp có diện tích nhỏ, không đáng kể, diện tích đất cây hàng năm vì thế không có nhiều nên sản lượng lúa và hoa màu lương thực khác hàng năm thu được không cao Địa hình phân tầng lớn, chia cắt mạnh đặt ra thách thức lớn đối với huyện: suất đầu tư hạ tầng lớn, việc quy hoạch bố trí dân cư cũng gặp nhiều khó khăn, việc xây dựng các Khu công nghiệp tập trung, Khu đô thị quy mô lớn, hiện đại gặp nhiều khó khăn; việc mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp để tạo ra các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng rất khó thực hiện Mặt khác do địa hình bị chia cắt, đồi núi cao, các tuyến giao thông không thông suốt, không có tính liên kết giữa các vùng là những cản trở lớn cho việc phát triển kinh tế xã hội của huyện
* Khí hậu: Bình gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh
hưởng chung của khí hậu miền Bắc, đó là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng mang những nét độc đáo, riêng biệt Khí hậu Bình Gia cũng tương đối khắc nghiệt,
do nằm trong lòng máng trũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc nên mùa đông thường lạnh và khô, ảnh hưởng khá lớn đến cơ cấu mùa vụ và sự sinh trưởng của các loại cây trồng, khá nhiều diện tích đất nông nghiệp của huyện chỉ sản xuất được 1 đến 2 vụ lúa, khó tăng vụ
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Đặc điểm về dân số, lao động và phát triển kinh tế của huyện
Bình Gia là huyện miền núi, gồm các dân tộc chính như: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa Dân số của huyện Bình Gia đến 31/12/2017 là 54.887 người, trong đó:
nữ là 27.391 người (chiếm 49,9%), dân số thành thị 3.226 người (chiếm gần 5,87%), dân số nông thôn là 51.661 người Tỷ lệ dân số giữa thị trấn và nông thôn ít biến động chứng tỏ tốc độ đô thị hoá của huyện còn chậm, việc mở mang các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch của huyện còn hạn chế do lực lượng lao động trong các ngành này còn ít
Lao động: Toàn huyện Bình Gia có 12.822 hộ sinh sống tại 194 thôn, khối phố Dân cư phân bố chủ yếu dọc các tuyến quốc lộ, đường tỉnh, các trung tâm thị trấn, thị tứ, trung tâm xã, chợ bình quân nhân khẩu là 4,28 nhân khẩu/hộ
Trang 40Nguồn nhân lực của Bình Gia khá dồi dào, tổng số lao động trong độ tuổi trong toàn huyện là 33.208 lao động, chiếm 60,5% tổng số nhân khẩu Lao động có việc làm là 33.132 người, trong đó có tới 87,67% số lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp - lâm nghiệp Lao động trong huyện chủ yếu là lao động theo mùa vụ nên lực lượng lao động sau mùa vụ cần được bố trí cho các ngành nghề khác như khai thác đá, cát, sỏi, sản xuất vật liệu xây dựng và các ngành nghề khác
để giải quyết số lao động sau mùa vụ và số lao động sau việc làm
Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực toàn huyện còn thấp so với mặt bằng chung của tỉnh, số lao động nông thôn qua đào tạo còn thấp (đến hết năm 2018 tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 44,3%); tỷ lệ lao động có trình độ đại học, cao đẳng chiếm tỷ
lệ nhỏ trong tổng số lao động Đây là một cản trở lớn trong quá trình tiếp thu những thành tựu về khoa học - kỹ thuật cho phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
Bảng 2.2: Tình hình dân số huyện Bình Gia
STT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2015 2016 2017 Tỷ lệ tăng