Sự cần thiết của nghiên cứu
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua hơn 15 năm phát triển với nhiều thăng trầm, trong đó sự minh bạch thông tin, đặc biệt là thông tin tài chính của các công ty niêm yết, đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển bền vững (Trần Thị Phượng, 2017) Gần đây, vấn đề đáng chú ý là sự khác biệt giữa báo cáo tài chính (BCTC) đã được kiểm toán và BCTC do các công ty tự lập và công bố trước đó Việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán không chỉ xảy ra ở một số công ty mà còn ảnh hưởng đến phần lớn các công ty niêm yết, với một số công ty có sự chênh lệch lợi nhuận lên tới vài trăm tỷ đồng so với số liệu đã công bố trước đó.
Theo thống kê của Vietstock, tỷ lệ công ty niêm yết điều chỉnh lại chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán từ năm 2012 đến 2014 lần lượt là 82%, 77% và 72%, trong khi 6 tháng đầu năm 2015 là 52% (Minh An, 2015) Một số công ty, như Công ty cổ phần Địa Ốc Dầu Khí, đã điều chỉnh lỗ tăng thêm 156 tỷ đồng sau kiểm toán năm 2013, trong khi Tổng công ty cổ phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam điều chỉnh lỗ giảm 487 tỷ đồng Nhiều công ty niêm yết đã khiến nhà đầu tư bất ngờ khi kết quả kinh doanh báo lãi trước kiểm toán lại chuyển thành lỗ sau kiểm toán và ngược lại Sự trình bày lại BCTC sau kiểm toán cho thấy rằng BCTC tự lập và công bố trước đó của các công ty này không đáng tin cậy và có chất lượng thấp.
Trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) không chỉ là vấn đề tại Việt Nam mà còn diễn ra ở nhiều quốc gia khác như Mỹ, Canada, Trung Quốc, Iran và Malaysia Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng xu hướng trình bày lại BCTC đang gia tăng qua các năm (GAO, 2002; Chen và cộng sự, 2006; GAO, 2007; Abdullah và cộng sự, 2010; COSO, 2010; Rezaei & Mahmoudi, 2013; Abdoli & Nazemi, 2013; Srinivasan, 2013).
Trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty niêm yết có thể ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư, vì thông tin trên BCTC là cơ sở để xác định giá trị công ty (Ball & Brown, 1968) Khi công ty công bố BCTC với thông tin khác biệt, giá cổ phiếu thường thay đổi nhanh chóng (Fama, 1970) Nhà đầu tư có xu hướng phản ứng tích cực khi nhận được thông tin tốt và tiêu cực khi thông tin xấu được công bố (Palmrose & cộng sự, 2001; Anderson & Yohn, 2002; GAO, 2007).
BCTC của các công ty niêm yết có ảnh hưởng lớn đến cổ đông và giao dịch chứng khoán hàng ngày Khi công ty công bố BCTC kiểm toán với sự thay đổi từ lãi sang lỗ, điều này thường được coi là tin xấu cho nhà đầu tư, dẫn đến giảm giá cổ phiếu và giá trị vốn hóa công ty Tại Việt Nam, sự điều chỉnh lợi nhuận trong BCTC kiểm toán đã khiến giá cổ phiếu của nhiều công ty giảm mạnh, như trường hợp của công ty cổ phần Hùng Vương, khi lợi nhuận giảm gần 309 tỷ đồng so với báo cáo trước đó, làm giá cổ phiếu giảm sàn trong bốn phiên giao dịch Việc công bố BCTC không chính xác không chỉ ảnh hưởng đến giá trị thị trường của công ty mà còn gây thiệt hại cho nhà đầu tư.
Việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán trong nhiều năm có thể làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào thông tin trên BCTC của các công ty niêm yết, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán.
Việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán đang trở thành hiện tượng phổ biến trong các công ty niêm yết tại Việt Nam Nhiều công ty công bố thông tin tài chính không chính xác, dẫn đến sự khác biệt giữa BCTC tự lập và BCTC đã được kiểm toán Các yếu tố như áp lực kinh tế và hiệu quả quản trị công ty có thể là nguyên nhân chính cho tình trạng này Nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này là cần thiết để hiểu rõ hơn về tình hình của các công ty niêm yết ở Việt Nam.
Nghiên cứu về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) đã được thực hiện rộng rãi ở nhiều quốc gia, với một số nhân tố được xác định là có ảnh hưởng đến hiện tượng này, bao gồm gian lận và sai sót Các nghiên cứu chỉ ra rằng đặc điểm của hội đồng quản trị công ty (HĐQT) có thể tác động đến việc trình bày lại BCTC (Beasley, 1996; Srinivasan, 2005; Agrawal & Chadha, 2005; Chen và cộng sự, 2006; Lobo & Zhao, 2013) Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết cũng đóng vai trò quan trọng (Lazer và cộng sự, 2004; Kinney và cộng sự, 2004; Vivek & Myungsoo, 2013; Tompson & McCoy, 2008; Francis & cộng sự).
Nghiên cứu về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán ở Việt Nam đã được đề cập trong nhiều bài viết, như của Minh An (2015) và Mỹ Hà cùng Công Lý (2014) Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu chỉ thống kê các công ty có sự trình bày lại BCTC hoặc chỉ ra các khoản mục điều chỉnh mà không đi sâu vào nguyên nhân Gần đây, một số nghiên cứu đã được thực hiện nhằm khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC trong bối cảnh kinh tế và đặc điểm của công ty.
Bài viết đề cập đến bốn yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán trong các công ty niêm yết Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hương (2016) chỉ ra rằng các công ty chịu áp lực lợi nhuận có khả năng cao hơn trong việc trình bày lại BCTC so với những công ty không gặp áp lực này Thêm vào đó, nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) đã cung cấp bằng chứng về ảnh hưởng của một số đặc điểm của Hội đồng quản trị (HĐQT) đến sai sót trọng yếu trên BCTC Cuối cùng, nghiên cứu gần đây của Nguyễn Việt và Nguyễn Văn Hương (2017) cho thấy rằng các yếu tố kinh tế đặc trưng của công ty cũng tác động đến khả năng trình bày lại chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán.
Khi công ty đối mặt với áp lực kinh tế như thua lỗ, nợ cao và giảm giá cổ phiếu, điều này có thể dẫn đến việc công ty trình bày sai chỉ tiêu lợi nhuận trên báo cáo tài chính (BCTC) tự lập, làm tăng khả năng trình bày lại BCTC sau kiểm toán Sự không hợp lý trong cơ cấu hội đồng quản trị và sở hữu vốn cũng ảnh hưởng đến hiệu quả giám sát hành vi của nhà quản lý, dẫn đến việc BCTC không phản ánh đúng thực tế Tại Việt Nam, các công ty niêm yết có những đặc điểm này có thể gặp rủi ro trong việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán Hiện tại, chưa có nghiên cứu đầy đủ nào về ảnh hưởng của những yếu tố này đến việc trình bày lại BCTC trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, do đó, nghiên cứu vấn đề này là cần thiết.
Nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam Qua đó, nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ những yếu tố tác động đến việc trình bày lại BCTC, giúp hiểu rõ hơn về vấn đề này và lý do dẫn đến các lỗi trong quá trình kiểm toán.
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam là rất quan trọng Nghiên cứu này không chỉ giúp nhà đầu tư trong việc mua bán cổ phiếu mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho những người sử dụng BCTC chưa được kiểm toán Qua đó, các bên liên quan có thể đưa ra quyết định kinh tế hợp lý, nhằm giảm thiểu thiệt hại do việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán gây ra.
Dựa trên phân tích, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam là cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Từ năm 2011 đến 2015, việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán trở nên cần thiết tại Việt Nam Vì vậy, tác giả đã chọn nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề này trong các công ty niêm yết ở Việt Nam cho luận án tiến sỹ của mình.
Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015 Để đạt được mục tiêu này, luận án sẽ thực hiện các mục tiêu cụ thể.
+ Mục tiêu thứ nhất: Phân tích thực trạng việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam;
+ Mục tiêu thứ hai: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán
Mục tiêu thứ ba của nghiên cứu là xây dựng một mô hình nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giả thuyết nghiên cứu liên quan.
Mục tiêu thứ tư của nghiên cứu là khám phá và phân tích các yếu tố mới có ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
Để hoàn thành luận án, luận án cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Thực trạng việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam như thế nào?
Những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam bao gồm sự tuân thủ quy định pháp lý, chất lượng của kiểm toán viên, và tính minh bạch trong quản lý tài chính Mỗi nhân tố này có mức độ ảnh hưởng khác nhau, với sự tuân thủ quy định pháp lý đóng vai trò quan trọng nhất, tiếp theo là chất lượng kiểm toán viên, và cuối cùng là tính minh bạch, ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư và sự ổn định của thị trường.
Ngoài những nhân tố đã được xác định qua kiểm định, còn có những nhân tố mới đáng chú ý ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gắn kết, trong đó phương pháp định lượng đóng vai trò chính và phương pháp định tính hỗ trợ Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng nhằm thu thập và phân tích dữ liệu một cách chính xác.
Trong luận án này, tác giả áp dụng 7 phương pháp nghiên cứu chính nhằm đạt được mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán Các phương pháp này bao gồm việc phân tích lý thuyết và nghiên cứu trước, xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết về các yếu tố tác động đến BCTC trong các công ty niêm yết tại Việt Nam Cuối cùng, phương pháp hồi quy binary logistic được sử dụng để kiểm định các giả thuyết, từ đó xác định vai trò và ảnh hưởng của các nhân tố đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán.
Phương pháp nghiên cứu định tính được áp dụng trong nghiên cứu này nhằm khám phá các nhân tố mới ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống và phỏng vấn sâu các kế toán trưởng, kế toán phụ trách lập và trình bày BCTC, cũng như nhà quản lý của các công ty niêm yết Đồng thời, khảo sát ý kiến của các kiểm toán viên thực hiện kiểm toán BCTC cũng được tiến hành Kết quả từ nghiên cứu định tính này kết hợp với nghiên cứu chính giúp xác định rõ những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán.
Dữ liệu dùng cho nghiên cứu
Việc thu thập dữ liệu cho nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp cho phần nghiên cứu định lượng, bao gồm cả dữ liệu tài chính và phi tài chính, được công bố bởi các công ty niêm yết trên sàn HOSE và HNX.
Dữ liệu tài chính: Thu thập từ BCTC năm chưa được kiểm toán và BCTC năm được kiểm toán
Tác giả đã thu thập dữ liệu báo cáo tài chính (BCTC) chưa được kiểm toán và BCTC sau khi được kiểm toán của tất cả các công ty niêm yết trên sàn HOSE và HNX tại Việt Nam, trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2015.
Dữ liệu này được các công ty niêm yết công bố trên trang web của chính công ty, hoặc trên trang web của HOSE và HNX
Số lượng báo cáo tài chính (BCTC) chưa kiểm toán và đã kiểm toán được thu thập cho từng công ty và từng năm Nghiên cứu sẽ cung cấp số liệu về BCTC chưa kiểm toán và BCTC đã kiểm toán của tất cả các công ty niêm yết trên HOSE và HNX, ngoại trừ các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng.
Tác giả đã thu thập dữ liệu giá trị thị trường của từng công ty từ bảng giá đóng cửa vào ngày giao dịch cuối năm được công bố bởi Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
- Đối với dữ liệu phi tài chính:
Tất cả dữ liệu phi tài chính liên quan đến đặc điểm của hội đồng quản trị và các đặc điểm khác của công ty đã được thu thập từ tất cả các công ty niêm yết trên HOSE và HNX tại Việt Nam, trong giai đoạn 2011 đến 2015 Dữ liệu này được lấy từ các báo cáo thường niên hàng năm của các công ty, cũng như từ trang web của HOSE và HNX.
Dữ liệu cuối cùng được thu thập từ phỏng vấn kế toán trưởng và kế toán phụ trách lập báo cáo tài chính (BCTC) tại các công ty niêm yết, cùng với ý kiến từ kiểm toán viên (KTV) thực hiện kiểm toán BCTC của những công ty này.
Đóng góp của luận án
Về mặt học thuật
Luận án này giới thiệu một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu công bố thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty niêm yết tại Việt Nam, tập trung vào việc xem xét các trường hợp trình bày lại BCTC sau kiểm toán.
Nghiên cứu này xác định mười một (11) nhân tố qua kiểm định, một (1) nhân tố bằng phương pháp thống kê và khám phá ba (3) nhân tố mới, từ đó xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam Đóng góp này tạo nền tảng cho các nghiên cứu tương lai về mô hình nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC.
Nghiên cứu này đã đưa ra những hàm ý quan trọng về quản trị công ty và cơ cấu sở hữu vốn, đồng thời xác định các đặc điểm của các công ty niêm yết tại Việt Nam có khả năng trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán.
Về mặt thực tiễn
Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về thực trạng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc này trong các công ty niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015.
Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán đã nhận diện thực trạng việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam Họ cũng đã phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này và đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán trong các công ty niêm yết.
Nhà quản lý các công ty niêm yết cần nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán Việc hiểu rõ nguyên nhân gây ra tình trạng này sẽ giúp họ tìm ra các giải pháp quản trị nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC trong tương lai, từ đó tăng cường niềm tin của người sử dụng vào BCTC của công ty.
Nhà đầu tư chứng khoán, ngân hàng và những người sử dụng báo cáo tài chính (BCTC) cần nhận diện các BCTC của công ty có khả năng trình bày lại sau kiểm toán Việc này giúp họ thận trọng hơn trong việc sử dụng thông tin từ BCTC chưa được kiểm toán, từ đó đưa ra quyết định kinh tế phù hợp.
Kết quả nghiên cứu này cung cấp bằng chứng quan trọng để nhận diện các công ty có khả năng trình bày lại báo cáo tài chính, từ đó giúp kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán một cách hợp lý.
Kết cấu của luận án
Để đạt được mục tiêu của luận án, ngoài phần mở đầu, nội dung của luận án được trình bày ở 5 chương như sau:
Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) và phân tích các yếu tố tác động đến quá trình này trong các công ty niêm yết, dựa trên các nghiên cứu trước đó Việc trình bày lại BCTC không chỉ ảnh hưởng đến sự minh bạch tài chính mà còn tác động đến quyết định đầu tư của các cổ đông Các yếu tố như quy định pháp lý, sự thay đổi trong chuẩn mực kế toán và áp lực từ thị trường đều đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và cải thiện chất lượng BCTC.
Chương này tổng quan các nghiên cứu trước về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) và các nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết Nội dung chương bao gồm: định nghĩa về trình bày lại BCTC và nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này; các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC; phát hiện từ các nghiên cứu trước; phân tích, đánh giá các đóng góp và hạn chế của các nghiên cứu trước; và cuối cùng là xác định khe hổng nghiên cứu cùng vấn đề nghiên cứu của luận án.
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương này trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) trong các công ty niêm yết Nó tổng hợp các lý thuyết và kết quả từ các nghiên cứu trước đó, từ đó xác định các yếu tố quyết định khả năng trình bày lại BCTC sau kiểm toán Chương cũng thiết lập mô hình nghiên cứu thực nghiệm cho luận án, làm nền tảng cho các phân tích tiếp theo.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, trong đó nghiên cứu định lượng được coi là phương pháp chủ yếu Chương này sẽ trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu được sử dụng.
Chương này trình bày về dung và quy trình nghiên cứu định lượng, bao gồm mô hình nghiên cứu, các biến và thang đo của các biến Nó cũng đề cập đến quy mô mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu cho nghiên cứu định lượng, cùng với các phương pháp xử lý số liệu Cuối cùng, chương này sẽ giới thiệu trình tự thực hiện phần nghiên cứu định tính.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này trình bày kết quả nghiên cứu về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam qua các năm Nghiên cứu đã thực hiện cả phương pháp định lượng và định tính để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC, đồng thời phân tích mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố Ngoài ra, chương cũng thảo luận về những kết quả đạt được và so sánh với các nghiên cứu trước đó để làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt liên quan đến các nhân tố này.
- Chương 5: Kết luận, các hàm ý và kiến nghị
Chương này tổng kết những kết luận từ việc thực hiện luận án, nêu rõ các mục tiêu đã đạt được và chưa đạt được, cùng với những đóng góp và hạn chế của nghiên cứu Đồng thời, chương cũng đề xuất các hàm ý và chính sách nhằm giảm thiểu khả năng trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam, cũng như kiến nghị cho các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính chưa được kiểm toán.
TỔNG QUAN VỀ TRÌNH BÀY LẠI BCTC VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRÌNH BÀY LẠI BCTC TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TỪ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Trình bày lại BCTC và những nguyên nhân dẫn đến trình bày lại BCTC
Theo FASB, việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) được coi là một bản sửa đổi nhằm khắc phục lỗi trong các BCTC đã phát hành trước đó Các công ty niêm yết thường xuyên phát hành lại BCTC với những sửa đổi so với bản trước, điều này diễn ra phổ biến ở nhiều quốc gia và đã được nhiều nghiên cứu đề cập.
Trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) có thể xảy ra vì nhiều nguyên nhân, theo các nghiên cứu của Plumlee & Yohn (2010), GAO (2007) và DeZoort (2011) Plumlee & Yohn (2010) chỉ ra bốn nguyên nhân chính: lỗi hệ thống nội bộ, gian lận, các giao dịch phức tạp và đặc điểm của chuẩn mực kế toán GAO (2007) nhấn mạnh rằng việc trình bày lại BCTC có thể do nhầm lẫn hoặc gian lận DeZoort (2011) nêu rõ các nguyên nhân tiềm ẩn như sự phức tạp của chuẩn mực kế toán, yếu kém trong kiểm soát tài chính, gia tăng sự bảo thủ của kiểm toán, áp dụng mức trọng yếu rộng, thiếu minh bạch và gian lận.
Theo Tompson & McCoy (2008), các sự trình bày lại trong báo cáo tài chính thường xảy ra do lỗi kế toán và thay đổi trong kiểm toán Cụ thể, các nguyên nhân dẫn đến sự trình bày lại bao gồm mua bán, sáp nhập, thay đổi phương pháp kế toán, các hoạt động ngừng hoạt động hoặc bị hủy bỏ, cũng như các sai sót, thay đổi trong cách trình bày và điều chỉnh các ước tính kế toán.
Trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) thường xảy ra do nhầm lẫn của kế toán và việc áp dụng sai các nguyên tắc kế toán được chấp nhận, mặc dù cũng có thể do lý do gian lận Nghiên cứu này sẽ làm rõ một số nguyên nhân chính dẫn đến việc cần phải trình bày lại BCTC.
Lỗi trong kế toán xảy ra khi một công ty phải trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) đã phát hành trước đó để sửa chữa các sai sót Những sai lầm này thường xuất phát từ việc kế toán viên không tuân thủ các tiêu chuẩn kế toán hoặc thiếu hiểu biết về chúng Điều này cho thấy rằng nhầm lẫn trong kế toán có thể bắt nguồn từ trình độ chuyên môn không đủ của nhân viên hoặc sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn nghề nghiệp.
Hệ thống kiểm soát nội bộ yếu có thể dẫn đến việc công ty phải trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) trước đó Khi kiểm toán viên độc lập phát hiện những điểm yếu trong quy trình và cơ chế kiểm soát BCTC, điều này cho thấy có sự thiếu hụt trong kiểm soát nội bộ, dẫn đến nguy cơ lỗi trong BCTC không được phát hiện Kiểm soát nội bộ là tập hợp các hướng dẫn mà lãnh đạo cấp cao thiết lập nhằm ngăn ngừa tổn thất do lỗi, sự cố công nghệ, bỏ sót của nhân viên, sự bất cẩn và trộm cắp Do đó, kiểm soát nội bộ yếu làm gia tăng khả năng cần phải trình bày lại BCTC.
+ Gian lận: Là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban
Gian lận tài chính xảy ra khi giám đốc, nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện hành vi gian dối nhằm thu lợi bất chính (Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, 2017) Có hai loại gian lận chính: lập báo cáo tài chính gian lận và biển thủ tài sản, trong đó nghiên cứu này tập trung vào lập báo cáo tài chính gian lận Hành vi này là sự điều chỉnh có chủ đích của Ban Giám đốc, dẫn đến việc người sử dụng hiểu sai về tình hình tài chính, kinh doanh, khả năng sinh lời và dòng tiền của đơn vị kiểm toán (Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, 2017) Do đó, việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam là rất cần thiết.
Nghiên cứu này xem xét 14 yếu tố liên quan đến lý do lập báo cáo tài chính (BCTC) gian lận, bao gồm việc Ban Giám đốc có cố ý điều chỉnh BCTC quý 4 nhằm đánh lừa người sử dụng hay không Kết quả là, BCTC năm sau đó được kiểm toán và phát hiện bởi kiểm toán viên (KTV), dẫn đến việc phải trình bày lại.
Chuẩn mực kế toán có những đặc điểm quan trọng góp phần vào việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) Plumlee & Yohn (2010) đã chỉ ra rằng các đặc điểm này không chỉ ảnh hưởng đến độ tin cậy mà còn đến tính minh bạch của thông tin tài chính.
Sự thiếu rõ ràng trong việc áp dụng các chuẩn mực kế toán dẫn đến việc gia tăng tài liệu và phán đoán không chính xác Điều này có thể gây ra việc áp dụng sai các nguyên tắc chi tiết và phức tạp, ảnh hưởng đến tính chính xác và minh bạch của báo cáo tài chính.
Sự phức tạp của các giao dịch có thể dẫn đến việc trình bày lại báo cáo tài chính, như Plumlee & Yohn (2010) đã chỉ ra Những yếu tố như vốn chủ sở hữu, mua bán và đầu tư có thể làm gia tăng sự phức tạp này Các tình huống cụ thể như hợp nhất kinh doanh, công cụ tài chính phái sinh, thuế thu nhập tương lai, hợp nhất báo cáo tài chính và các giao dịch nội bộ cũng góp phần tạo ra các giao dịch phức tạp cho công ty.
Nghiên cứu này trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty niêm yết sau kiểm toán, với việc tái trình bày BCTC có thể do nhầm lẫn kế toán, gian lận hoặc các lý do khác Tác giả tổng hợp các nghiên cứu trước đây liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận BCTC, sai sót trọng yếu, quản lý lợi nhuận và tái trình bày BCTC Mục tiêu là xác định các yếu tố này để phát triển giả thuyết và kiểm định ảnh hưởng của chúng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam.
Các nghiên cứu ở nước ngoài về những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán
Nghiên cứu về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) và gian lận BCTC đã được thực hiện rộng rãi ở nhiều quốc gia, bao gồm Mỹ, Úc, Canada, Trung Quốc, Iran và Malaysia (Beasley, 1996; Chen và cộng sự, 2006; Ahmed & Goodwin, 2007).
Nhiều nghiên cứu, bao gồm GAO (2007), Abdullah và cộng sự (2010), và COSO (2010), đã tìm kiếm bằng chứng về việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) và gian lận BCTC trong các công ty niêm yết, nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng Các nghiên cứu này áp dụng nhiều hướng tiếp cận khác nhau để khám phá các yếu tố tác động đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC Tóm lại, có ba hướng tiếp cận nghiên cứu chính, như thể hiện trong sơ đồ 1.1.
Sơ đồ 1.1 trình bày các hướng tiếp cận nghiên cứu trước đây liên quan đến những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) Nguồn thông tin được tổng hợp bởi tác giả, cung cấp cái nhìn tổng quát về các yếu tố này.
Hướng nghiên cứu đầu tiên tập trung vào mối quan hệ giữa đặc điểm của Hội đồng quản trị (HĐQT) và cấu trúc sở hữu vốn công ty, cũng như ảnh hưởng của những yếu tố này đến việc trình bày lại Báo cáo tài chính (BCTC) hoặc gian lận BCTC Nghiên cứu này bao gồm các công trình như của Beasley.
(1996), COSO (2010), Lobo & Zhao (2013), Srinivasan (2005), Abbot và cộng sự
(2004), Agrawal & Chadha (2005), Abdullah và cộng sự (2010)
HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn công ty
Những đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết Đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty
Hướng nghiên cứu thứ hai tập trung vào các đặc điểm liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) tại các công ty niêm yết Một số tác giả nổi bật trong lĩnh vực này bao gồm Lazer và cộng sự (2004), Vivek & Myungsoo (2013), Tompson & McCoy (2008), cũng như Stanley & DeZoort (2007).
Hướng tiếp cận nghiên cứu cuối cùng tập trung vào các đặc điểm kinh tế và các yếu tố khác của công ty niêm yết Các nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực này bao gồm các tác phẩm của Kinney & McDaniel (1989), GAO (2007), COSO (2010) và Ahmed & Goodwin.
Dưới đây, tác giả khảo lược những nghiên cứu đề cập đến những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC:
1.2.1 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn công ty đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC
Nghiên cứu trước đây tại Mỹ, Úc, Trung Quốc và Malaysia đã xem xét tác động của đặc điểm Hội đồng Quản trị (HĐQT) và cơ cấu sở hữu vốn đến việc trình bày lại Báo cáo Tài chính (BCTC) cũng như gian lận BCTC Đặc biệt, nghiên cứu của Beasley đã nổi bật trong lĩnh vực này.
(1996), Abbott và cộng sự (2001), Agrawal & Chadha (2005), Chen và cộng sự
Nhiều nghiên cứu từ các tác giả như GAO (2007), COSO (2010), và Abdoli & Nazemi (2013) đã chỉ ra ảnh hưởng của đặc điểm Hội đồng quản trị (HĐQT) công ty đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) và gian lận BCTC Các nghiên cứu này tập trung vào các yếu tố như quy mô HĐQT, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT, mức độ độc lập của HĐQT, và tỷ lệ sở hữu của ban giám đốc cũng như HĐQT, bao gồm cả yếu tố giám đốc điều hành thuộc về gia đình.
Sự độc lập của Hội đồng Quản trị (HĐQT) được xác định bởi tỷ lệ thành viên bên ngoài trong HĐQT Nghiên cứu của Zhizhong và cộng sự (2011) chỉ ra rằng sự độc lập này có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC), trong khi Beasley (1996) và Chen cùng cộng sự (2006) cho thấy mối liên hệ với gian lận BCTC Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty có tỷ lệ thành viên bên ngoài cao trong HĐQT có khả năng giảm thiểu rủi ro liên quan đến sai sót và gian lận trong BCTC.
Nghiên cứu chỉ ra rằng việc giảm khả năng xảy ra trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) hoặc gian lận BCTC có thể liên quan đến sự độc lập của Hội đồng quản trị (HĐQT) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại không tìm thấy mối liên hệ giữa tỷ lệ thành viên bên ngoài trong HĐQT và khả năng xảy ra trình bày lại BCTC (Abbott và cộng sự, 2001; Agrawal & Chadha, 2005; Abdullah và cộng sự, 2010; Ahmadabadi và cộng sự, 2014).
Quy mô của Hội đồng Quản trị (HĐQT) được thể hiện qua số lượng thành viên, với nghiên cứu của Beasley (1996) cho thấy rằng quy mô HĐQT lớn hơn có thể làm tăng khả năng gian lận báo cáo tài chính (BCTC) Kết quả này phù hợp với lập luận của Jensen (1993), cho rằng HĐQT nhỏ hơn có khả năng kiểm soát tốt hơn Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác không tìm thấy mối liên hệ giữa quy mô HĐQT và khả năng xảy ra trình bày lại BCTC (Agrawal & Chadha, 2005; GAO, 2007; Abdullah và cộng sự, 2010; COSO, 2010) Về đặc điểm thành viên, các công ty có thành viên HĐQT hoặc ủy ban kiểm toán có chuyên môn tài chính thường giảm khả năng xảy ra trình bày lại BCTC (Abbott và cộng sự, 2004; Agrawal & Chadha, 2005; Lary & Taylor, 2012), nhờ vào sự giám sát tốt hơn trong quá trình lập và trình bày BCTC Đặc điểm về số cuộc họp của HĐQT cũng được nghiên cứu, với Chen và cộng sự (2006) cho thấy số cuộc họp có mối tương quan thuận với khả năng gian lận BCTC, trong khi Abbott và cộng sự (2001) chỉ ra rằng số cuộc họp nhiều hơn giúp giảm khả năng xảy ra sai sót trọng yếu BCTC Cuối cùng, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT cũng là một yếu tố quan trọng được nhiều nghiên cứu xem xét.
Nghiên cứu của Efendi và cộng sự (2007) cho thấy sự trình bày sai trọng yếu báo cáo tài chính (BCTC) thường xảy ra ở những công ty mà CEO kiêm chủ tịch HĐQT Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khác (Beasley, 1996; Abbott và cộng sự, 2001; Agrawal & Chadha, 2005; Chen và cộng sự, 2006; Abdullah và cộng sự, 2010; Zhizhong và cộng sự, 2011) không tìm thấy mối liên hệ giữa việc kiêm nhiệm chức vụ này và sự trình bày lại BCTC Agrawal & Chadha (2005) phát hiện rằng các công ty có giám đốc điều hành thuộc về gia đình sáng lập có khả năng cao hơn trong việc trình bày lại BCTC Đối với ủy ban kiểm toán độc lập, Abbott và cộng sự (2001) cho rằng có sự hiện diện của ủy ban này giúp giảm thiểu sai sót trọng yếu BCTC, trong khi Agrawal & Chadha (2005) không tìm thấy ảnh hưởng tương tự Cả hai nghiên cứu đều đồng ý rằng sự có mặt của giám đốc độc lập có chuyên môn tài chính trong HĐQT hoặc ủy ban kiểm toán giúp giảm khả năng trình bày lại BCTC Về tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn bên ngoài, một số nghiên cứu (Abdullah và cộng sự, 2010; Zhizhong và cộng sự, 2011) cho thấy tỷ lệ này có thể ngăn chặn sai sót trọng yếu, trong khi Wang & Wu (2011) phát hiện rằng các công ty có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức thấp thường có sự trình bày lại BCTC Cuối cùng, mặc dù nhiều nghiên cứu đã xem xét ảnh hưởng của tỷ lệ sở hữu vốn của ban giám đốc và HĐQT đến gian lận BCTC (Beasley, 1996; Agrawal & Chadha, 2005; Chen và cộng sự, 2006; Abdullah và cộng sự, 2010; Ahmadabadi và cộng sự, 2014; Aziz và cộng sự, 2017), nhưng rất ít nghiên cứu tìm thấy bằng chứng cho thấy tỷ lệ này ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC.
Chủ sở hữu quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu khả năng xảy ra trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) Họ thực hiện giám sát và kỷ luật các nhà quản lý một cách hiệu quả, đảm bảo rằng các khoản mục trong BCTC được trình bày chính xác và không bị sai sót.
Tóm lại , có nhiều nghiên cứu tìm thấy bằng chứng một số đặc điểm của
Hội đồng quản trị công ty đóng vai trò quan trọng trong việc trình bày lại báo cáo tài chính, bao gồm cả các vấn đề liên quan đến gian lận và sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính (Beasley, 1996; Chen và cộng sự, 2006; Zhizhong và cộng sự).
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các đặc điểm của Hội đồng quản trị (HĐQT) có thể ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC), như tỷ lệ giám đốc bên ngoài và thành viên có chuyên môn tài chính trong HĐQT hoặc ủy ban kiểm toán (Agrawal & Chadha, 2005; Abdullah và cộng sự, 2010; Abdoli & Nazemi, 2013; Ahmadabadi và cộng sự, 2014; Abbott và cộng sự, 2002) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại không tìm thấy bằng chứng rõ ràng cho mối liên hệ này Ở Việt Nam, với môi trường kinh tế - xã hội đặc thù và tình trạng quản trị doanh nghiệp còn yếu, việc nghiên cứu tác động của các đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán là vô cùng cần thiết.
Các nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của các nhân tố đến trình bày lại BCTC
Tại Việt Nam, một số bài viết đã chỉ ra sự chênh lệch số liệu giữa báo cáo tài chính (BCTC) trước và sau kiểm toán của các công ty niêm yết, tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc thống kê các công ty có BCTC trình bày lại mà không đi sâu vào phân tích nguyên nhân Gần đây, các nghiên cứu định lượng đã được thực hiện để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sai sót trọng yếu trên BCTC Cụ thể, nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) cho thấy một số đặc tính của Hội đồng Quản trị, như quy mô và tỷ lệ thành viên không điều hành, có ảnh hưởng đến sai sót này Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hương (2016) chỉ ra rằng các công ty chịu áp lực lợi nhuận có khả năng trình bày lại BCTC cao hơn Nghiên cứu gần đây của Nguyễn Việt và Nguyễn Văn Hương (2017) xác định rằng các công ty gặp khó khăn kinh tế, như thua lỗ năm trước hoặc tỷ số nợ cao, có khả năng điều chỉnh lại chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán cao hơn so với các công ty khác.
Nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) chỉ ra rằng quy mô Hội đồng quản trị (HĐQT) có mối tương quan thuận với sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính (BCTC) Ngược lại, tỷ lệ thành viên không điều hành trong HĐQT lại có mối tương quan nghịch với sai sót này Họ cũng phát hiện rằng các công ty có thành viên HĐQT có quan hệ gia đình có nguy cơ xảy ra sai sót trọng yếu cao hơn, trong khi thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính giúp giảm thiểu khả năng xảy ra sai sót Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy nhiệm kỳ của HĐQT cũng ảnh hưởng đến sai sót trọng yếu trên BCTC.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các đặc điểm kinh tế và khác của công ty niêm yết có ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) Cụ thể, Nguyễn Văn Hương (2016) và Nguyễn Việt cùng Nguyễn Văn Hương (2017) cho thấy rằng các công ty chịu áp lực lợi nhuận trong năm hiện tại có khả năng trình bày lại chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán cao hơn so với những công ty không gặp áp lực này Thêm vào đó, Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) cũng chỉ ra rằng các công ty có tỷ số nợ cao thường có khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trên BCTC và tỷ lệ trình bày lại lợi nhuận cao hơn các công ty khác.
Các nghiên cứu trong nước đã xem xét ảnh hưởng của nhiều nhân tố đến sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính (BCTC) và việc trình bày lại BCTC Một số nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng của đặc tính Hội đồng quản trị (HĐQT) đến sai sót trên BCTC, trong khi các nghiên cứu khác phân tích ảnh hưởng của đặc điểm kinh tế và các yếu tố khác đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ sự ảnh hưởng của tất cả các nhân tố như đặc điểm HĐQT, cơ cấu sở hữu vốn, đặc điểm kinh tế và các yếu tố liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết Do đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng của những nhân tố này đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam là rất cần thiết.
Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam Mục tiêu chính là xác định xác suất xảy ra hoặc không xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán Phương pháp đo lường trong nghiên cứu này là dựa trên sự hiện hữu hoặc không hiện hữu của trình bày lại BCTC, khác biệt với các nghiên cứu trước đó về chất lượng thông tin trên BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam Nghiên cứu không tổng hợp các nghiên cứu trước đây liên quan đến ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng BCTC trong nước.
Phương pháp nghiên cứu được các nghiên cứu trước tiếp cận
Tất cả các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu đều áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, phát triển giả thuyết và mô hình nghiên cứu thực nghiệm dựa trên lý thuyết có sẵn Các giả thuyết này được kiểm định thông qua dữ liệu định lượng trong quá khứ, với phương pháp hồi quy logistic là công cụ chính để kiểm tra Thông tin về hướng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và xử lý dữ liệu của các nghiên cứu trước được trình bày chi tiết trong phụ lục 1.
Những đóng góp của các nghiên cứu trước
1.5.1 Những đóng góp của các nghiên cứu ở nước ngoài
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại báo cáo tài chính, bao gồm gian lận và sai sót trong báo cáo tài chính.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số đặc điểm của Hội đồng Quản trị (HĐQT) có thể ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) hoặc gian lận BCTC Các nghiên cứu của Dechow và cộng sự (1995), Beasley (1996), cùng với Chen và các đồng tác giả (2006) đã cung cấp bằng chứng cho mối liên hệ này.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng xảy ra trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) có liên quan đến các đặc điểm kiểm toán tại các công ty niêm yết Các yếu tố như uy tín của công ty kiểm toán, phí kiểm toán, sự nỗ lực của kiểm toán viên, các dịch vụ bổ sung mà công ty kiểm toán cung cấp, và sự thay đổi đơn vị kiểm toán ở công ty niêm yết đều ảnh hưởng đến vấn đề này (Lazer và cộng sự, 2004; Kinney và cộng sự, 2004; Francis & Yu, 2009; Ahmadabadi và cộng sự, 2014).
Nghiên cứu cho thấy rằng các đặc điểm kinh tế và phi kinh tế của công ty niêm yết ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính, trong đó các yếu tố như quy mô nhỏ, lợi nhuận thấp, tỷ lệ nợ cao, giá trị thị trường so với giá trị sổ sách thấp và việc ghi nhận lỗ trong năm trước là những yếu tố quan trọng (Kinney & McDaniel, 1989; Ahmed & Goodwin, 2007; Rezaei & Mahmoudi, 2013).
Tất cả các nghiên cứu đều áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và sử dụng hồi quy logistic để kiểm tra các giả thuyết về những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại báo cáo tài chính.
1.5.2 Những đóng góp của các nghiên cứu ở trong nước
Các nghiên cứu trong nước đã chỉ ra thực trạng trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam Nhiều nghiên cứu định lượng gần đây đã tiếp cận khác nhau để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc này Các phương pháp nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) về đặc tính hội đồng quản trị, cùng với nghiên cứu của Nguyễn Việt và Nguyễn Văn Hương (2017) về đặc điểm kinh tế công ty, đã tạo nền tảng cho luận án này Cả hai nghiên cứu đều áp dụng phương pháp hồi quy logistic để phân tích dữ liệu, góp phần vào phương pháp xử lý số liệu cho nghiên cứu hiện tại.
Hạn chế của các nghiên cứu trước
Nhiều nghiên cứu chưa xác định được mối liên hệ giữa đặc điểm của Hội đồng Quản trị (HĐQT) và cơ cấu sở hữu vốn với việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) (Agrawal & Chadha, 2005; Abdullah và cộng sự, 2010; Abdoli & Nazemi, 2013; Ahmadabadi và cộng sự, 2014; Abbott và cộng sự, 2002) Sự khác biệt về quốc gia và thời gian nghiên cứu có thể là nguyên nhân của điều này Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ giám đốc bên ngoài và thành viên HĐQT hoặc ủy ban kiểm toán có chuyên môn tài chính có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC.
Chưa có sự đồng thuận rõ ràng về mối liên hệ giữa đặc điểm của HĐQT và khả năng trình bày lại BCTC Sự khác biệt này có thể xuất phát từ môi trường kinh doanh đa dạng ở các quốc gia hoặc từ các giai đoạn nghiên cứu khác nhau Trong giai đoạn sau, nhiều công ty đã điều chỉnh vấn đề quản trị, dẫn đến việc các nghiên cứu sau này không tìm thấy mối liên hệ rõ ràng.
Nghiên cứu về đặc điểm của Hội đồng Quản trị (HĐQT) cho thấy sự khác biệt về không gian và thời gian nghiên cứu dẫn đến các kết quả khác nhau Các nghiên cứu hiện tại tập trung vào nhiều khía cạnh khác nhau, như ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT đến công ty, hoặc tác động của các yếu tố liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) ở các công ty niêm yết Tuy nhiên, ở Việt Nam, số lượng nghiên cứu về việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán còn hạn chế, với một số tác giả như Nguyễn Văn Hương (2016) và Trần Thị Giang Tân (2016) đã đề cập đến vấn đề này Những nghiên cứu trước đây chủ yếu chỉ xem xét một số nhân tố nhất định mà chưa đánh giá toàn diện các yếu tố như đặc điểm HĐQT, cơ cấu sở hữu vốn và các yếu tố kinh tế khác ảnh hưởng đến BCTC của công ty niêm yết.
Khe hổng nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu của luận án
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra nhiều khía cạnh khác nhau ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC).
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng đặc điểm của Hội đồng Quản trị (HĐQT) và cấu trúc sở hữu vốn của công ty có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại Báo cáo tài chính (BCTC) hoặc gian lận BCTC (Beasley, 1996; Agrawal & Chadha, 2005; Chen và cộng sự, 2006; Abdullah và cộng sự, 2010), cũng như các sai sót trọng yếu trên BCTC (Abbott và cộng sự, 2002; Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương, 2016) Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cho rằng khả năng xảy ra trình bày lại BCTC bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết (Kinney và cộng sự, 2004; Lazer và cộng sự, 2004; Vivek & Myungsoo, 2013; Francis & Yu, 2009; Lobo & Zhao, 2013; Ahmadabadi và cộng sự, 2014).
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các đặc điểm kinh tế và những yếu tố khác của công ty đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính của các công ty niêm yết (Kinney & McDaniel, 1989; Ahmed & Goodwin, 2007; Rezaei & Mahmoudi, 2013; Nguyễn Văn Hương, 2016; Nguyễn Việt và Nguyễn Văn Hương).
Mô hình nghiên cứu nào có thể xác định đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) trong các công ty niêm yết? Đây là câu hỏi được Hiệp hội Kế toán Mỹ (AAA-2014) đặt ra khi tổng hợp các nghiên cứu liên quan Hiện tại, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến một mô hình nghiên cứu toàn diện cho tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC.
Các nghiên cứu về trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) thường được thực hiện ở các quốc gia phát triển với mức độ minh bạch thông tin tốt Tuy nhiên, các yếu tố ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC có thể thay đổi theo từng giai đoạn nghiên cứu và khác nhau giữa các quốc gia, như Dechow và cộng sự (2011) cùng Abdullah và cộng sự (2010) đã chỉ ra Điều này cho thấy rằng các yếu tố này không đồng nhất cho mọi quốc gia và giai đoạn phát triển kinh tế Đối với Việt Nam, một nền kinh tế mới nổi với mức độ minh bạch thông tin chưa cao, đặc điểm môi trường kinh doanh và cơ chế quản lý cũng khác biệt, do đó cần nghiên cứu xem liệu các yếu tố ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC có giống với các quốc gia khác hay không.
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam là rất cần thiết, nhằm hiểu rõ hơn về quy trình và các yếu tố tác động đến tính chính xác của thông tin tài chính.
- Nghiên cứu này sẽ chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam
Nghiên cứu này bổ sung thêm bằng chứng cho các yếu tố tác động đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC), củng cố những phát hiện từ các nghiên cứu trước đây.
Nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt trong các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) giữa các công ty niêm yết tại Việt Nam và các quốc gia khác.
- Bổ sung vào mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong công ty niêm yết tại Việt Nam
Trình bày lại báo cáo tài chính (BCTC) sau kiểm toán là một hiện tượng không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn phổ biến trên toàn cầu Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc này, với những góc nhìn khác nhau Một số nghiên cứu cho rằng đặc điểm của Hội đồng Quản trị (HĐQT) công ty có ảnh hưởng lớn, trong khi những nghiên cứu khác nhấn mạnh vai trò của cơ cấu sở hữu vốn và các đặc điểm kinh tế của công ty Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau thường không đồng nhất Qua việc phân tích và đánh giá các nghiên cứu trước, tác giả đã chỉ ra những khoảng trống trong nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu cho luận án này.