1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tình hình gia công hàng may mặc tại công ty cổ phần sài gòn wan bin

74 509 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tình hình gia công hàng may mặc tại công ty cổ phần sài gòn wan bin
Tác giả Nguyễn Thanh Thủy
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Hữu Thủy
Trường học Đại học Kinh tế Huế
Thể loại Khĩa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 814,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

được thu thập bằng cách trực tiếp phỏng vấn nhân viên phòng kế toán và bằng cách tìm hiểu, quan sát tình hình thực tế tại công ty trong thời gian thực tập.- Phương pháp thống kê, tổng hợ

Trang 1

Với tình cảm chân thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các cơ quan và cá nhân đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy, Cô giáo trường Đại học Kinh tế Huế đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt bốn năm đại học và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành bài luận văn này.

Để có được kết quả này, tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng đến Th.S Nguyễn Hữu Thủy, người đã nhiệt tình hướng dẫn tôi từ lúc định hướng chọn đề tài cũng như trong quá trình hoàn thiện luận văn.

Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo, các anh chị nhân viên của Công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin, đặc biệt là Giám đốc Nguyễn Xuân Thuyết đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp cho tôi các tài liệu cần thiết và những kiến thức thực tế trong suốt quá trình thực tập.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình và bạn bè đã quan tâm, ủng hộ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.

Do còn hạn chế về thời gian, kiến thức và kinh nghiệm, đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, ý kiến đóng góp chân thành của quý Thầy, Cô và các bạn.

Một lần nữa, tôi xin chân thành cám ơn!

Huế, tháng 05 năm 2013

Sinh viên Nguyễn Thanh Thủy

Trang 2

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC 4

1.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty 13

1.2.4 Môi trường bên ngoài 16

1.2.4.1 Môi trường vĩ mô 16

1.2.4.2 Môi trường vi mô 20

1.2.5 Môi trường bên trong 21

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH GIA CÔNG HÀNG 30

MAY MẶC CỦA CÔNG TY 30

2.1 Thực trạng hoạt động gia công hàng may mặc của công ty 30

2.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 33

2.3 Tình hình thực hiện đơn giá gia công tại công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin 36

2.5 Tình hình ký kết hợp đồng 39

2.6 Phân tích ma trận SWOT của công ty trong việc tiến hành hoạt động sản xuất hàng may mặc để xuất khẩu 40

2.6.1 Điểm mạnh của công ty 42

2.6.2 Điểm yếu của công ty 42

2.6.3 Cơ hội của công ty 43

2.6.4 Những thách thức công ty gặp phải 44

2.6.5 Đề xuất các phương án chiến lược 45

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG 52

3.1 Nhận định chung về tình hình gia công 52

3.2 Phương hướng, chiến lược phát triển của công ty 52

3.2.1 Kế hoạch tuyển dụng nhân sự công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin thực hiện dự án giai đoạn 1 (2013 – 2015) 52

3.2.2 Dự án đầu tư xây dựng lò hơi đốt than, phân xưởng gia công đóng gói hàng may mặc tại Nghi Lâm và xây dựng hệ thống văn phòng đại diện tại thành phố Vinh 58

3.3 Những biện pháp nâng cao hiệu hoạt động gia công 61

3.3.1 Đào tạo bồi dưỡng bổ sung nhân lực 61

Trang 3

3.3.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm 63

3.3.3 Quan hệ đối tác 64

3.3.4 Quản lý sản xuất 64

3.3.5 Tìm hiểu các quy định, thủ tục nhập khẩu vào thị trường các nước 65

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1: Quan hệ giữa bên đặt và nhận gia công sản phẩm 5

Sơ đồ 2: Quy trình thực hiện hợp đồng 9

Sơ đồ 4: Quy trình may cơ bản 13

Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin 14

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Số liệu và dự báo tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu dệt may của Việt Nam

giai đoạn 2006-2013 11

Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu dệt may trong nền kinh tế quốc dân 19

Bảng 3: Các khách hàng của công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin 20

Bảng 4: Tình hình vốn sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin 22

Bảng 5: Tình hình máy móc trang thiết bị của công ty 24

Bảng 6: Tình hình lao động của công ty 26

Bảng 7: Cơ cấu các mặt hàng gia công của công ty 34

Bảng 8: Tình hình thực hiện đơn giá gia công các mặt hàng chủ yếu 37

Bảng 9: Tình hình thực hiện hợp đồng của công ty 39

Bảng 10: Sản lượng dự án 60

Bảng 11: Tính toán hiệu quả kinh tế của dự án 61

Trang 6

PHẦN I:ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Qua hơn 25 năm đổi mới, nền kinh tế của nước ta đã thay da đổi thịt và đạt được nhiều thành tích to lớn, nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao liên tục trong nhiều năm Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập cùng với các nước phát triển trên thế giới Song bên cạnh đó nền kinh tế nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, gần đây nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm

2008 Một trong những hoạt động có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế chính là hoạt động xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu giúp cho nền kinh tế có lượng ngoại tệ lớn góp phần làm cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Dệt may là một ngành công nghiệp có đóng góp không nhỏ trong hoạt động xuất khẩu của kinh tế nước ta Mặc dù liên tục trong những năm gần đây phải chịu nhiều ảnh hưởng do suy giảm kinh tế toàn cầu nhưng ngành dệt may nước ta vẫn đạt kim ngạch xuất khẩu rất ấn tượng Năm 2012 vừa qua nền kinh tế được dự báo là sẽ còn gặp nhiều khó khăn nhưng ngành dệt may vẫn tiếp tục duy trì vị trí thứ 2 của mình

Trong những năm gần đây, Nghệ An đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ đạt được những bước tiến vượt bậc về kinh tế Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập, xây dựng các nhà máy, khu công nghiệp Công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin là một trong những doanh nghiệp chuyên gia công hàng may mặc xuất khẩu hoạt động trên địa bàn tỉnh Tuy mới được thành lập nhưng công ty đã có những đóng góp to lớn trong việc giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người dân

Sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam chịu nhiều sức ép từ các doanh nghiệp nước ngoài nhất là khi nước ta gia nhập WTO Bên cạnh đó chính là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước Từ khi mới thành lập công ty đã lựa chọn hình thức gia công là hoạt động trọng tâm Căn cứ vào thực tiễn nêu trên tôi đã lựa chọn

“Phân tích tình hình gia công hàng may mặc tại Công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin” làm đề tài khóa luận khi thực tập tốt nghiệp tại công ty.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 7

2.1 Mục tiêu tổng quát

Thông qua việc tìm hiểu và thu thập thông tin số liệu liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất gia công xuất khẩu của công ty, đề tài sẽ phân tích đánh giá tình hình gia công hàng may mặc của công ty và đưa ra một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Củng cố kiến thức chuyên môn và rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân

- Phân tích thực trạng gia công ở công ty để từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động gia công

- So sánh hiệu quả của hoạt động gia công với hoạt động sản xuất xuất khẩu để trả lời câu hỏi vì sao công ty lại lựa chọn hình thức gia công làm hoạt động sản xuất chính

3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu đối tượng là tình hình gia công hàng may mặc tại công ty

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Tình hình hoạt động sản xuất của công ty như thế nào?

- Tình hình gia công hàng may mặc của công ty như thế nào?

- Hiệu quả của hoạt động sản xuất gia công như thế nào?

- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hoạt động gia công hàng may mặc của công ty?

- Những giải pháp nào được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động gia công hàng may mặc?

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng

Là phương pháp cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Trong kinh tế chính trị, phương pháp này đòi hỏi rằng khi xem xét các hiện tượng và quá trình kinh tế phải đặt trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, thường xuyên vận động, phát triển không ngừng Quá trình phát triển là quá trình tích lũy những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất Phương pháp duy vật biện chứng được sử dụng như cơ sở phương pháp luận xuyên suốt đề tài để xem xét các hiện tượng kinh tế xã hội trong mối quan hệ tác động lẫn nhau

- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Số liệu trong bài chủ yếu được thu thập qua các báo cáo tài chính của công ty như: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh… số liệu còn

Trang 8

được thu thập bằng cách trực tiếp phỏng vấn nhân viên phòng kế toán và bằng cách tìm hiểu, quan sát tình hình thực tế tại công ty trong thời gian thực tập.

- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu để tổng hợp thông tin số liệu cần thiết cho việc phân tích đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Phương pháp so sánh

Là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên so sánh với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc) Đây là phương pháp đơn giản và được sử dụng nhiều nhất trong phân tích kết quả kinh doanh

- Và một số phương pháp khác

6 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Đề tài được thực hiện tại Công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin.

- Thời gian: Từ ngày 21/01/2013 đến ngày 11/5/2013

- Nội dung: Phân tích tình hình gia công hàng may mặc tại công ty và đề xuất

giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động gia công hàng may mặc

Trang 9

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC

1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Cơ sở lý luận

- Theo Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005

của Việt Nam, khái niệm về doanh nghiệp như sau: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh”.

- Ngoài ra còn có định nghĩa khác về doanh nghiệp:

“Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ trên cơ sở tối đa hóa lợi ích người tiêu dùng thông qua đó tối đa hóa lợi ích chủ sở hữu, đồng kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội kinh doanh”

Doanh ngiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân: Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do nhà nước khẳng định và xác định Việc xác định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể

Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại

Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí

và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hay bị doanh nghiệp khác thôn tính Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo ra nó

Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhất định, sự phát triển cũng như sự suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó

Trang 10

- Theo Luật doanh nghiệp:

Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ một số trường hợp quy định tại Luật này Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn

- Theo Luật thương mại:

Gia công là một hành vi thương mại, theo đó bên nhận gia công thực hiện việc gia công hàng hoá theo yêu cầu bằng nguyên liệu vật liệu của bên đặt gia công để hưởng tiền gia công, bên đặt gia công nhận hàng hoá đã gia công để kinh doanh thương mại và phải trả tiền gia công cho bên nhận gia công

Gia công hàng may mặc là phương thức sản xuất hàng hóa Trong đó, người đặt hàng gia công (trong nước hoặc nước ngoài) cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm và theo định mức cho trước Bên nhận gia công tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng Toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công để nhận tiền công

Tiền công gia côngMáy móc,…

Trả sản phẩm hoàn chỉnh

Sơ đồ 1: Quan hệ giữa bên đặt và nhận gia công sản phẩm

Hoạt động gia công là phương thức sản xuất hàng hóa theo đơn đặt hàng Bên đặt gia công sẽ đặt hàng cho bên gia công để sản xuất sản phẩm nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Hợp đồng gia công là văn bản để chứng tỏ tính pháp lý của đơn đặt hàng

Theo Nghị định 57/1998/NĐ – CP thì: Gia công hàng hóa với thương nhân nước ngoài là việc thương nhân Việt Nam, doanh nghiệp được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhận gia công hàng hóa tại Việt Nam cho thương nhận nước ngoài hoặc đặt gia công ở nước ngoài Hoạt động gia công là quan hệ hợp tác giữa hai

Bên đặt gia

công

Bên nhận gia công

Thực hiện gia công

Trang 11

hay nhiều bên để sản xuất ra hàng hóa Trong mối quan hệ này, bên nhận gia công có lợi thế về nhân lực nhận tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo hợp đồng sau đó sẽ trả sản phẩm hoàn chỉnh cho bên đặt gia công để lấy tiền công.

Từ các nhận định trên cho thấy :

- Bên đặt gia công là một chủ thể kinh doanh với mục đích gia công là để kinh doanh thương mại, và phải đặt hàng theo yêu cầu của mình với những quy cách phẩm chất, mẫu mã và các tiêu chuẩn kỹ thuật khác

- Bên đặt gia công phải cung cấp nguyên liệu vật liệu phù hợp với quy cách phẩm chất mà mình yêu cầu, ở đây có thể giao một phần hoặc toàn bộ nguyên vật liệu, có khi là bán thành phẩm, có khi là máy móc thiết bị công nghệ chuyển giao cho bên kia

- Bên đặt gia công có thể chỉ định bên nhận gia công mua nguyên vật liệu từ các nơi cụ thể, sau đó gia công giao thành phẩm theo các tiêu chuẩn theo mẫu mã của mình Còn bên nhận gia công tiếp nhận hay mua nguyên vật liệu và tổ chức gia công theo đúng yêu cầu của bên đặt gia công với công nghệ, máy móc, sức lao động của chính doanh nghiệp mình Hoặc tổ chức sản xuất gia công theo công nghệ của bên đặt gia công cung cấp Sau đó nhận lại từ bên đặt gia công khoản tiền gọi là phí gia công

Hợp đồng gia công là sự thỏa thuận giữa hai bên đặt gia công và nhận gia công Trong đó bên đặt gia công là một cá nhân hay một tổ chức kinh doanh ở trong nước hoặc ở nước ngoài Còn bên nhận gia công được hiểu là thương nhân Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế được phép nhận gia công

- Phương thức gia công hàng xuất khẩu

Có nhiều cách phân loại gia công quốc tế, dựa theo các tiêu thức cụ thể khác nhau như:

+ Theo quyền sở hữu nguyên liệu trong quá trình sản xuất sản phẩm thì hoạt động gia công có các hình thức sau:

Hình thức nhận nguyên phụ liệu, giao thành phẩm thì bên nhận gia công sản phẩm từ nguyên phụ liệu và bán thành phẩm thuộc quyền sở hữu của bên đặt gia công, sau đó giao sản phẩm và nhận tiền công Phương thức này còn gọi là phương thức gia công đơn thuần, là phương thức sơ khai của gia công Theo phương thức này, bên nhận gia công có lợi thế là không phải bỏ vốn ra mua nguyên phụ liệu, không những thế, nếu thực hiện sử dụng tiết kiệm nguyên phụ liệu so với định mức thì bên nhận gia công còn

có thể hưởng số nguyên phụ liệu còn dư Tuy nhiên gia công theo hình thức này hiệu quả kinh tế không cao vì bên nhận gia công chỉ được hưởng tiền công gia công Bên

Trang 12

cạnh đó, bên nhận gia công còn phụ thuộc vào tiến độ giao nguyên phụ liệu của bên đặt gia công Bên đặt gia công thường gặp rủi ro trong phương thức gia công này là nếu chấp nhận gia công làm sai thì sẽ mất số nguyên phụ liệu đó mà không thu được hàng hóa.

Hình thức mua nguyên phụ liệu, bán thành phẩm là bên đặt gia công sẽ cung cấp các mẫu mã, tài liệu kĩ thuật cho bên nhận gia công theo hợp đồng để tiến hành sản xuất

và sau đó sẽ mua lại thành phẩm Bên nhận gia công có thể mua nguyên phụ liệu theo hai cách: mua nguyên phụ liệu theo sự hướng dẫn của bên đặt gia công hoặc tự mình tìm nhà cung cấp Đây là hình thức phát triển cao của gia công đem lại hiệu quả kinh tế cho bên nhận gia công Ưu điểm của phương thức gia công này là bên đặt gia công không phải chịu chi phí ứng trước về nguyên phụ liệu, nếu bên nhận gia công làm sai thì không mất nguyên phụ liệu, do vậy giảm được phần nào rủi ro trong quá trình đặt hàng gia công Bên nhận gia công được chủ động trong việc tìm kiếm nguồn cung ứng nguyên phụ liệu không phải phụ thuộc vào bên đặt gia công, nếu được tự mua toàn bộ nguyên phụ liệu thì bên nhận gia công sẽ cắt giảm được một khoản chi phí khá lớn, nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất Bên cạnh đó, bên nhận gia công còn có thể mở rộng thị trường nguyên phụ liệu thông qua việc xây dựng mối quan hệ lâu dài với các nhà cung ứng nguyên phụ liệu Tuy nhiên, phương thức này có những bất lợi với bên nhận gia công đó là việc không mua nguyên phụ liệu đúng nhà cung ứng mà bên đặt gia công yêu cầu thì có nghĩa là bên nhận gia công đã vi phạm hợp đồng, còn nếu lấy nguyên phụ liệu của đúng nhà cung ứng thì thường gặp vấn đề bị ép giá

+ Theo giá cả gia công có hai hình thức là hợp đồng khoán và hợp đồng thực thanh

Hợp đồng khoán là hình thức trong hợp đồng gia công người ta xác định định mức cho sản phẩm gồm: chi phí định mức và thù lao định mức Hai bên sẽ thanh toán với nhau theo mức đó cho dù chi phí thực tế của bên nhận gia công có là bao nhiêu đi chăng nữa

Còn hợp đồng thực chi thực thanh là bên đặt gia công sẽ thanh toán toàn bộ chi phí thực tế cộng với tiền công gia công cho bên nhận gia công

+ Theo nghĩa vụ của bên nhận gia công gồm có các hình thức:

CM (Cutting and Making): Người nhận gia công chỉ tiến hành pha cắt và chế tạo sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công

Trang 13

CMP (Cutting, Making and Packaging): Người nhận gia công phải pha cắt, chế tạo và đóng gói sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công.

CMPQ (Cutting, Making, Packaging and Quota sourcing): Người nhận gia công ngoài việc cắt may, đóng gói sản phẩm còn phải trả phí hạn ngạch theo quy định những mặt hàng được quản lí bằng hạn ngạch

+ Theo mức độ cung cấp nguyên phụ liệu thì có các hình thức sau:

Bên đặt gia công cung cấp 100% nguyên phụ liệu và bên nhận gia công sản xuất sản phẩm theo định mức đã thỏa thuận trong hợp đồng, sau đó sẽ trả lại thành phẩm cho bên đặt gia công hoặc sẽ giao cho bên thứ ba theo chỉ định

Bên nhận gia công chỉ nhận nguyên liệu chính theo định mức còn nguyên phụ liệu thì tự khai thác nhưng vẫn phải đáp ứng đúng theo yêu cầu của bên đặt gia công

Bên nhận gia công không nhận bất cứ nguyên phụ liệu nào của khách hàng mà chỉ nhận ngoại tệ để mua nguyên liệu theo đứng yêu cầu

+ Theo số lượng bên tham gia gồm có:

Gia công hai bên là hình thức chỉ có một bên đặt gia công và một bên nhận gia công.Gia công nhiều bên, còn gọi là gia công chuyển tiếp là hình thức trong đó bên nhận gia công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tượng gia công của đơn vị sau, và bên đặt gia công có thể chỉ có một và cũng có thể nhiều hơn một

Hiện nay công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin thực hiện gia công hàng may mặc theo 3 hình thức: nhận nguyên liệu giao sản phẩm, bên đặt gia công cung cấp 100% nguyên phụ liệu và bên công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin nhận nguyên liệu chính theo định mức còn nguyên phụ liệu thì tự khai thác Sở dĩ các hình thức công ty thực hiện chủ yếu đều là nhận nguyên liệu chính từ bên đặt gia công còn các phụ liệu như kim, chỉ, dây khóa… nếu như không được cung cấp công ty sẽ tự mua Do mới thành lập chưa được bao lâu hơn thế còn phải chuyển cơ sở sản xuất nên phải nhận nguyên liệu từ bên nhận gia công, công ty cũng cố gắng đáp ứng các yêu cầu của đối tác để nhận được hợp đồng Công ty còn nhận các hợp đồng gia công cho các công ty gia công khác do các công ty này không thể tự mình thực hiện đúng thời gian giao hàng đã cam kết trong hợp đồng

- Quy trình thực hiện hợp đồng

Ký kết hợp đồng Nhận nguyên phụ liệu Cắt May thành phẩm

Trang 14

Sơ đồ 2: Quy trình thực hiện hợp đồng 1.1.2 Cơ sở thực tiễn

- Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo Doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương Doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là doanh nghiệp ngành công nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập

- Thị trường thế giới sau nhiều năm vận hành độc lập nay đã trở nên có tổ chức

và đang hoạt động trong sự ràng buộc chặt chẽ của các thể chế như: Định chế kinh tế WTO, các công ước về lao động, thể chế khu vực EU, thể chế khu vực ASIAN… Hoạt động của các thể chế quốc tế và khu vực đã đưa lại hiệu quả giúp cho thương mại quốc

tế được ổn định và phát triển

- Với cơ chế hoạt động của thị trường thế giới như vậy đã ảnh hưởng tới việc sản xuất và tiêu thị hàng dệt may trên thế giới Như khu vực EU đã có các mức thuế ưu đãi đối với hàng dệt may của các nước đang phát triển xuất khẩu vào thị trường này Với các định chế này, nó tạo ra sự công bằng giữa các nước có nền công nghiệp may phát triển và các nước đang phát triền

- Ngành công nghiệp may mặc sẽ bớt ảm đạm và có nhiều khả năng phục hồi hơn ngành dệt vì quy mô ngành hàng này lớn hơn, linh hoạt hơn và có nhiều lựa chọn để

bù đắp trong thời kỳ suy thoái (ví dụ như phát triển thị trường xuất khẩu mới) Vì vậy, BMI dự báo cho dù giá trị gia tăng hàng may mặc năm 2009 giảm xuống chỉ còn 3% và năm 2010 sẽ giảm mạnh hơn chỉ còn 0,9% thì đến năm 2011 sẽ phục hồi với tốc độ tăng trưởng là 10,3% Từ năm 2003 đến 2008 tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của

Trang 15

giá trị gia tăng mà ngành dệt may mang lại đạt 11,9% vượt tốc độ tăng trưởng GDP tới 7,8% Nhưng trong vòng năm năm tới, tốc độ này chỉ còn 4,8% thấp hơn so với tốc độ GDP ở mức 7% BMI dự báo tốc độ xuất khẩu hàng dệt may sẽ giảm 18,6% (tương đương khoảng 8,74 tỉ đô-la Mỹ) trong năm 2009; còn nhập khẩu giảm 20,4% (tương đương khoảng 5,04 tỉ đô-la Mỹ) Tăng trưởng xuất khẩu bình quân ở mức 22,4%/năm giai đoạn 2003 - 2008 có thể giảm xuống chỉ còn 1,8% trong giai đoạn 2008 - 2013.

Trang 16

Bảng 1: Số liệu và dự báo tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu dệt may

của Việt Nam giai đoạn 2006-2013

Thương mại quốc tế

Kim ngạch xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu

dệt may, triệu đôla

Nguồn: World Bank, UNIDO, WTO

Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu, sức mua hàng dệt may trên toàn cầu đã giảm mạnh trong năm 2012 Tổng tiêu thụ hàng dệt may toàn cầu năm 2011 lên tới 704 tỷ USD nhưng sang năm 2012 đã giảm còn khoảng 697 tỷ USD Vì thế, hầu hết các thị trường tiêu thụ lớn đều giảm EU với sức tiêu thụ 264 tỷ USD trong năm 2011 đã giảm mạnh nhất còn 240 tỷ USD năm 2012 Thị

Trang 17

trường Mỹ giảm nhẹ từ 101 tỷ USD còn 100 tỷ USD Hàn Quốc giảm 7% từ 11,3 tỷ USD còn 10,5 tỷ USD trong năm 2012 Trong các thị trường lớn, duy nhất chỉ có Nhật Bản tăng trưởng từ 41 tỷ USD lên 44 tỷ USD.

- Trong năm 2012, giá bán xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam giảm 10% so với năm 2011 Tuy nhiên, tổng sản lượng xuất khẩu vẫn tăng 15%, bằng với năm 2011 Mặc dù sức tiêu thụ và nhập khẩu hàng dệt may vào các thị trường lớn đều giảm, nhưng xuất khẩu dệt may Việt Nam sang các thị trường này vẫn tăng trưởng ổn định Năm 2012, xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ tăng 9,2%, vào Hàn Quốc tăng 9%, vào Nhật Bản tăng 19,3% Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may

5%-và xơ sợi dệt các loại đạt 17,2 tỷ USD, tăng 8,5% so với năm 2011 Trong đó, riêng về hàng dệt may đạt 15,8 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2011 Dệt may tiếp tục giữ vững ngôi vị số 1 về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam

1.2 Giới thiệu chung về công ty

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty

Công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, thương mại tổng hợp Được thành lập từ tháng 10 năm 2010 do ông Nguyễn Xuân Thuyết làm Giám đốc đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh sau đó đến tháng 11 năm 2011 công ty chuyển địa điểm về Nghệ An Công ty đang cố gắng không ngừng để phát triển và nâng cao chất lượng sản xuất sản phẩm Hiện nay trụ sở chính của Công ty đặt tại địa chỉ Km 21+200 Đường 534 xã Nghi Lâm huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An

Điện thoại: 038 3793678

Fax: 038 3793678

Email: saigonwanbin@yahoo.com.vn

Số tài khoản: 030008899777 VND tại ngân hàng Sacombank

03008889798 USD tại ngân hàng Sacombank

1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của công ty

Chức năng của công ty

Công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin có chức năng chính là sản xuất gia công các sản phẩm may mặc như: quần áo thể thao, áo sơ mi các loại, áo thun các loại, áo khoác đồng phục học sinh, găng tay… cho các công ty khác gián tiếp phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Công ty thực hiện theo phương thức là nhận gia công toàn bộ Ngoài

ra công ty còn có thêm một số chức năng sau:

Trang 18

- Tổ chức vận chuyển hàng hóa cho các đối tác.

- Chức năng dự trữ, bảo vệ và quản lý chất lượng hàng hóa

- Thực hiện các hoạt động hạch toán kinh tế, có đầy đủ chức năng pháp nhân trước pháp luật

- Thu thập và phân tích các thông tin thị trường, các hoạt động của công ty để đưa ra các quyết định điều chỉnh, bổ sung về việc sản xuất kinh doanh sản phẩm nhằm nâng cao chất lượng gia công của công ty

1.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty

Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin

Phòng KCS

Phòng

kỹ thuật

Phòng tài chính – kế toán

Giám đốc

Phòng

kế hoạch

Tổ KCS

Tổ là, ủi

Tổ trưởng 2

Tổ trưởng 1

Trang 19

Sơ đồ 4: Quy trình may cơ bản

Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin được tổ chức theo kiểu hỗn hợp trực tuyến - chức năng Các phòng ban tham mưu cho giám đốc trong quá trình ban hành và thực hiện quyết định thuộc phạm vi của mình mà không phải trực tiếp ra quyết định xuống các bộ phận trực thuộc

Giám đốc: là người đại diện về pháp nhân của công ty, có quyền điều hành các

hoạt động sản xuất kinh doanh chung của công ty, là người chịu trách nhiệm toàn bộ về các hoạt động của công ty Giám đốc có nhiệm vụ nhận vốn, các nguồn lực khác, tìm kiếm bạn hàng và thực hiện ký kết các hợp đồng Giám đốc còn trực tiếp quản lý các phòng trong công ty

Phòng kế hoạch: Là phòng tham mưu cho Giám đốc, có chức năng lập kế hoạch

về nhập, xuất nguyên liệu; lập kế hoạch sản xuất; tiêu thụ sản phẩm; doanh thu; chi phí; lợi nhuận… Phòng kế hoạch còn làm công tác soạn thảo và thanh lý các hợp đồng; xây dựng và đôn đốc thực hiện kế hoạch sản xuất của các đơn vị để đảm bảo hoàn thành kế hoạch của công ty

Phòng kỹ thuật: chịu trách nhiệm về hoạch định các định mức nguyên vật liệu

cho sản xuất sản phẩm, các yêu cầu về kỹ thuật sản phẩm, định mức lao động cho công nhân viên, tổ chức dây chuyền may, giám sát các hoạt động của công nhân kĩ thuật trên phương diện an toàn lao động, an toàn sản xuất, nghiên cứu và bảo dưỡng thiết bị máy móc, đào tạo bồi dưỡng tay nghề…

Phòng tài chính - kế toán: có nhiệm vụ ghi chép, xử lý và phân tích các dữ liệu

về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, quản lý nguyên vật liệu nhập vào, xuất

ra, tính toán các khoản lương cho cán bộ công nhân viên, tính toán các khoản phải nộp cho Nhà nước Phòng tài chính kế toán còn tham gia xây dựng kế hoạch giá thành, xây

Nhập kho

Kiểm hàng

Là, gấp, đóng thùng

Trang 20

dựng kế hoạch thu chi tài chính, giá tiêu thụ sản phẩm, kế hoạch tiền vốn, các quy định

về chi tiêu tiền mặt, chuyển khoản các khâu trong công ty

Phòng kĩ thuật - KCS: có chức năng tham mưu giúp Giám đốc về khâu kỹ thuật,

làm mẫu để tiến hành triển khai các hợp đồng Tham gia và công tác đàm phán các hợp đồng gia công, sản xuất Phòng kĩ thuật – KCS còn phải tổ chức gia công và chịu trách nhiệm chất lượng theo dõi tiến độ giao hàng, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật trong hợp đồng đã kí Kiểm tra định mức nguyên phụ liệu các phân xưởng, quan hệ với các cơ quan chức năng về các định mức nguyên phụ liệu và các giao dịch khác về kỹ thuật bên cạnh đó phải kiểm tra lại các thành phẩm một cách nghiêm ngặt xem đã đáp ứng đúng tiêu chuẩn đề ra hay chưa

Tổ trưởng: có nhiệm vụ quan sát đốc thúc trực tiếp đến người lao động Họ là

những người chỉ bảo cho công nhân cách thức tiến hành công việc, luôn đảm bảo chuyền mình đảm nhận phụ trách thực hiện đúng kĩ thuật và nhiệm vụ Tổ trưởng là người trước tiên biết được các vấn đề xảy ra trong quá trình sản xuất, báo cáo lên cho cấp trên xử lí

Tổ cắt: có nhiệm vụ là nhận mệnh lệnh từ cấp trên, trực tiếp thực hiện công đoạn

cắt vải theo thông số kỹ thuật và số lượng được cung cấp Khi gặp sự cố trong quá trình cắt thì báo cáo lên cấp trên để được nhận chỉ thị giải quyết Đây là bộ phận vận hành máy thực hiện các thao tác cắt vải sau đó chuyển vải đã cắt đến công đoạn tiếp theo

Tổ may: có nhiệm vụ gia công, lắp ghép các phần vải được chuyển từ tổ cắt đến

thành sản phẩm hoàn thiện Các công nhân sau khi ghép vải xong cũng thực hiện việc đơm khuy, may nhãn… trong quá thực hiện gia công các công nhân cũng tự kiểm tra sản phẩm của chuyển trước có làm đúng quy định không Nếu sản phẩm may đúng quy định thì tiếp tục thực hiện, ngược lại, thì loại bỏ không thực hiện gia công sản phẩm đó nữa, giảm tải cho các công đoạn sau

Tổ là, ủi: thực hiện là phẳng sản phẩm sau khi may xong Đảm bảo sản phẩm có

chất lượng và bề ngoài bắt mắt, phẳng phiu

Tổ KCS: có chức năng kiểm tra lần cuối sản phẩm trước khi đóng gói giao cho

bên khách hàng Tổ KCS phải kiểm tra về chất lượng xem vải có bị dãn, rách, thủng… trong sản phẩm có bị lẫn lộn kim loại, nhựa… hay không Đây là tổ cuối trong công

Trang 21

đoạn gia công của công ty nên việc kiểm tra hàng phải nghiêm ngặt, đảm bảo giao hàng chất lượng.

1.2.4 Môi trường bên ngoài

1.2.4.1 Môi trường vĩ mô

- Môi trường chính trị - luật pháp

Khi kí hợp đồng gia công quốc tế tức là các doanh nghiệp đã hoạt động ra ngoài biên giới lãnh thổ của một quốc gia Điều này có nghĩa là các công ty phải thích nghi với một số thể chế chính trị mới mà các công ty phải cân nhắc để tránh bị ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh Tình hình chính trị của Việt Nam ổn định trong suốt thời gian qua là một thuận lợi hết sức to lớn đối với các doanh nghiệp nước ngoài muốn hợp tác làm ăn với các doanh nghiệp trong nước Hệ thống pháp luật Việt Nam đang ngày càng được hoàn thiện một cách rõ nét hơn Các bộ luật đang được cải thiện

và dần hoàn chỉnh hơn đối với các thủ tục đơn giản và nhanh chóng, gọn nhẹ, có nhiều

ưu đãi với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài vào nước ta Bên cạnh

đó, các tiêu chuẩn về sản xuất, các luật về cạnh tranh, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống bán phá giá… đã được áp dụng nhằm bảo vệ các doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng hàng giả, hàng nhái, cạnh tranh thiếu lành mạnh, đảm bảo các điều kiện sản xuất cho người lao động đồng thời tôn vinh thương hiệu Việt

Hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ gia công quốc tế bao gồm hệ thống luật thương mại quốc gia, luật quốc tế và tập quán thương mại quốc tế Luật pháp của một quốc gia có tác dụng khuyến khích hoặc hạn chế công tác xuất khẩu thông qua luật thuế, các thủ tục hải quan, quy định về phân bổ hạn ngạch…

Hiện nay, môi trường pháp luật trong nước đang ngày càng được hoàn thiện để các doanh nghiệp có một hành lang pháp lý lành mạnh, ổn định Trong những năm gần đây, luật pháp nước ta luôn coi trọng mặt hàng dệt may là mặt hàng phát triển chiến lược của Việt Nam Vì vậy, luật pháp nước ta luôn có những văn bản pháp luật để hướng dẫn và quy định về xuất khẩu, những ưu đãi dành cho các doanh nghiệp dệt may Đối với các nguyên phụ liệu của ngành dệt may nhập từ nước ngoài hoặc mua trong nước để sản xuất hàng xuất khẩu thì không phải nộp thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng

Trang 22

Đối với các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu, luật pháp nước ngoài ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh Việt Nam đã gia nhập vào nhiều các tổ chức quốc tế

và khu vực, điều này yêu cầu các doanh nghiệp Việt Nam phải am hiểu các quy định cũng như luật pháp của các nước và tổ chức thương mại mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh Chẳng hạn như khi Việt Nam gia nhập vào ASEAN thì Việt Nam phải tuân thủ các điều khoản CEPT/ AFTA Theo đó, Việt Nam phải giảm thuế xuất nhập khẩu xuống

từ 0 – 5% trong vòng 10 năm Mặt khác, các doanh nghiệp của nước ta cũng phải đối mặt với những vụ kiện chống bán phá giá khi tham gia vào các thị trường như EU, Mỹ, Nhật Bản… Đây cũng là một thử thách rất lớn mà các doanh nghiệp dệt may của nước

ta gặp phải khi tham gia vào thị trường nước ngoài

- Môi trường khoa học – công nghệ

Khoa học công nghệ đang là lĩnh vực được quan tâm trong tất cả các ngành nghề của nền kinh tế Yếu tố công nghệ có tác động làm tăng hiệu quả của công tác xuất khẩu Nhờ sự phát triển của hệ thống bưu chính viễn thông các doanh nghiệp ngoại thương có thể đàm phán với khách hàng thông qua internet, điện thoại, fax… thu hẹp khoảng cách về không gian và thời gian góp phần cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp Hơn nữa các doanh nghiệp có thể nắm vững các thông tin về thị trường nước ngoài bằng các phương tiện truyền thông Bên cạnh đó yếu tố công nghệ còn tác động đến quá trình sản xuất, gia công hàng may mặc, khoa học công nghệ còn tác động đến các lĩnh vực như dịch vụ ngân hàng, vận tải… đó cũng là các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình gia công hàng may mặc của doanh nghiệp Lĩnh vực gia công hàng may mặc là một lĩnh vực đòi hỏi dây chuyền công nghệ hiện đại để đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về kỹ thuật của các bạn hàng Chẳng hạn như để đáp ứng được yêu cầu về tiêu chuẩn hàng dệt may xuất sang Nhật Bản thì các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải có máy soi kim và ghim gãy lẫn trong áo quần được xuất sang bên đó Nhật Bản là một thị trường khó tính nhưng lại là một thị trường đầy hấp dẫn đối với nhiều nước Nếu biết cách áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, tìm hiểu chi tiết về thị trường này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp Đây là một dây chuyền hiện đại mà không phải doanh nghiệp dệt may nào của Việt Nam cũng có Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có thể kiểm tra thủ công bằng mắt thường vừa mất thời gian, tốn nhân công mà vừa có hiệu quả không cao

Trang 23

Việt Nam là một nước đang có nền kinh tế còn non trẻ so với các nước trên thế giới, do vậy còn rất nhiều những dây chuyền công nghệ lạc hậu, không còn thích hợp để sản xuất Muốn công ty thu nhận được nhiều mối làm ăn thì cần chú trọng vào đầu tư, đổi mới trang thiết bị để đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về kỹ thuật của bạn hàng.

- Môi trường kinh tế

Năm 2012 được coi là một trong những năm kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu tiếp tục sa lầy mà lối thoát thì chưa thực sự rõ ràng, kinh tế Mỹ , Nhật Bản đều không mấy khả quan Các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil… đều không còn giữ được phong độ tăng trưởng lạc quan như các năm trước Nhìn chung là tăng trưởng kinh tế chậm lại, thất nghiệp tăng cao, sức mua hạn chế, nợ công nhiều hơn Đã có một số chuyên gia cao cấp ở một số lĩnh vực đưa ra dự báo về kinh tế thế giới năm 2013 và đều nhận định không mấy khả quan

so với năm 2012 Dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế thì cho rằng tăng trưởng của các nước ASEAN thì chỉ tăng cao hơn một chút Quan hệ về đầu tư và xuất nhập khẩu của các nước với Việt Nam chưa có gì khởi sắc

Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) – lạm phát của nước ta năm 2012 đã giảm mạnh so với năm 2011 Tỷ giá hối đoái ít thay đổi Thị trường vàng không ổn định, tăng giảm bất thường Mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm Từ đây cũng có thể thấy rằng các chính sách kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô về cơ bản có phát huy tác dụng Mức lạm phát đã giảm và kinh tế vĩ mô giữ được ở mức khá ổn định trong tầm ngắn hạn Tuy vậy nền kinh tế vĩ mô vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn trong dài hạn

Năm 2013, nếu đánh giá một cách tổng thể thì những khó khăn kinh tế hiện nay

cơ bản là do những bế tắc từ trước gây ra Cần có một cách nhìn dài hạn để giải quyết vấn đề Tuy nhiên nền kinh tế vẫn còn ần chứa những nguồn lực lớn Nếu Nhà nước có chính sách khai thác tốt, các mục tiêu về tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô sẽ có nhiều khả năng sáng sủa hơn

Các vấn đề về tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốc dân, lạm phát, thất nghiệp… đã trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh Khi nền kinh tế tăng trưởng cao, thu nhập của người dân tăng lên, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện thì chỉ tiêu cho may mặc cũng tăng lên Người tiêu dùng yêu cầu một sản

Trang 24

phẩm không những bền mà phải đẹp, hợp thời trang và lịch sự… Đây là một thuận lợi đối với công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin Các sản phẩm công ty gia công luôn được đối tác đánh giá cao về chất lượng.

- Môi trường tự nhiên

Bao gồm các nhân tố như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, thời tiết, khí hậu…

Do đặc điểm địa hình và vị trí nước ta các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn bởi khí hậu và thời tiết Khi các nhân tố tự nhiên phong phú thuận lợi sẽ tác động tốt đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ngược lại nếu nhân tố tự nhiên không thuận lợi sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp và sẽ làm cho khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bị yếu đi

- Môi trường văn hóa – xã hội

Yếu tố văn hóa – xã hội là một nhân tố mà doanh nghiệp xem xét kỹ trước khi quyết định mở rộng thị trường hay không Hàng may mặc không chỉ đơn thuần đáp ứng nhu cầu bảo vệ mà còn phải đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, phong tục tập quán, nâng cao địa vị xã hội cho người mặc Đây chính là giá trị văn hóa của sản phẩm may mặc Sự khác biệt về nhu cầu cũng như các giá trị văn hóa ở các thị trường khác nhau sẽ tạo ra những phong cách thời trang khác nhau, do vậy ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm may

Bên cạnh đó, Việt Nam là một thị trường với dân số đông và kết cấu dân số trẻ là thị trường tiềm năng cho ngành may mặc phát triển Ngành may mặc là một ngành bị ảnh hưởng lớn từ thị hiếu của người tiêu dùng, vì vậy các sản phẩm may mặc phải đáp

Trang 25

ứng được tiêu chí về hợp thời trang Đối với từng độ tuổi thì phong cách ăn mặc cũng rất khác nhau Đây là một khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc khi chưa thực sự nhạy bén trong việc bắt kịp xu hướng thời trang.

- Môi trường tự nhiên

Yếu tố địa lý là một trong những nhân tố tác động khá lớn tới tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Công ty cổ phẩn Sài Gòn Wan Bin nằm ngay bên tỉnh lộ 534 lại được xây dựng trên khu đất rộng thuận lợi cho việc vận chuyển cũng như phát triển sau này của công ty Môi trường thuận lợi thông thoáng nên việc tuân thủ các quy định về môi trường được thực hiện một cách khá dễ dàng

1.2.4.2 Môi trường vi mô

Công ty TNHH may mặc Tường Vi Áo kiểu sơ mi, áo thun tay cánh dơi

Công ty TNHH Haivina Kim Liên Lót găng tay

Trang 26

một lợi thế lớn của Trung Quốc Tiếp đó là lợi thế về máy móc trang thiết bị hiện đại của Trung Quốc đều được sản xuất trong nước và rất hiện đại Ngoài ra Chính phủ Trung Quốc

có rất nhiều biện pháp hỗ trợ, lao động quản lý có năng lực, kinh nghiêm kinh doanh trong lĩnh vực hàng may mặc Bên cạnh Trung Quốc, Ấn Độ và Bangladesh cũng là những đối thủ cạnh tranh lớn của Việt Nam trong ngành dệt may

Bên cạnh sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam còn cạnh tranh gay gắt với nhau trên thị trường nội địa Hiện nay, nước ta có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực gia công hàng xuất khẩu như: Công ty May 10, Công ty may Việt Tiến, Công ty may Đức Giang, Công ty may Nhà Bè… Việc cạnh tranh với các doanh nghiệp đã có tên tuổi và kinh nghiệm lâu năm không hề dễ dàng, không chỉ vậy các công ty thành lập cùng thời gian cũng là vấn đề đau đầu cho Công

ty Sài Gòn Wan Bin để tìm được chỗ đứng của mình trên thị trường

1.2.5 Môi trường bên trong

- Nguồn lực về tài chính

Nguồn lực về tài chính cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong gia công hàng may mặc Hiện nay các doanh nghiệp dệt may đã tiến hành cổ phần hóa nên nguồn vốn huy động được thực hiện một cách dễ dàng hơn Các ngân hàng thương mại phát triển nhanh chóng, huy động được lượng tiền nhàn rỗi trong nhân dân nên nguồn vốn cho các doanh nghiệp vay nói chung và các doanh nghiệp trong ngành dệt may nói riêng đang ngày càng dễ dàng hơn Mặt khác, các tổ chức tín dụng nước ngoài cũng sẵn sàng cho các doanh nghiệp Việt Nam vay vốn nếu có sự bảo lãnh của Ngân hàng Ngoại thương Đây cũng là một thuận lợi lớn cho doanh nghiệp gia công hàng may mặc Tuy nhiên, nguồn vốn đi vay của các doanh nghiệp dệt may thường có lãi suất cao, gây giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Hiện nay lãi suất cho các doanh nghiệp vay của các ngân hàng là 13 – 14%/ năm đã làm cho các doanh nghiệp dệt may đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó khăn Nhu cầu vốn vay của các doanh nghiệp dệt may luôn lớn nên giá gia công ngày càng thấp thì việc tăng chi phí vốn sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Bảng 4: Tình hình vốn sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin

ĐVT: Đồng

Trang 27

Theo nguồn hình thành

Vốn chủ sở hữu 6.937.781.178 6.916.109.199 -21.671.979 -0,31

(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán của công ty)

Qua bảng số liệu ta thấy tổng nguồn vốn có sự biến động không lớn trong 2 năm

2011 và 2012 Cụ thể, tổng nguồn vốn năm 2011 là 6.937.781.178 đồng; năm 2012 tổng nguồn vốn là 6.916.109.199 đồng giảm 21.671.979 đồng so với năm hay giảm 0,31% Biến động tổng nguồn vốn do nhiệu nguyên nhân, mà chủ yếu là do thay đổi về nguồn vốn cố định và vốn lưu động

Theo tính chất nguồn vốn: qua 2 năm, số vốn lưu động có sự giảm xuống Năm

2011, lượng vốn lưu động là 5.588.032.956 đồng; năm 2012, lượng vốn lưu động là 4.817.062.331 đồng giảm so với năm trước là 770.970.625 đồng tương ứng giảm 13,80% Lượng vốn cố định năm 2011 là 1.349.748.222 đồng; năm 2012 tăng lên 2.099.046.868 đồng tăng so với năm 2011 là 749.298.646 đồng tương đương tăng 55,51%

Theo nguồn hình thành thì tổng nguồn vốn chỉ được hình thành từ vốn chủ sở hữu Vì vậy các thông số vốn chủ sở hữu năm 2011 và 2012 giống với thông số của tổng nguồn vốn với 6.937.781.178 đồng năm 2011 và 6.916.109.199 đồng năm 2012 Năm sau giảm so với năm trước là 21.671.979 đồng tương ứng giảm 31%

- Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc là tài sản hữu hình góp phần không nhỏ trong hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp Phần lớn các trang thiết bị của doanh nghiệp gia công hàng may mặc Việt Nam đã đáp ứng cơ bản cho hoạt động sản xuất hàng ngày Các nguồn cung cấp máy móc thiết bị cho ngành may thường từ các nước: Nhật Bản, Trung Quốc, Đức… Các thiết bị máy móc ngày càng đa dạng và hiện đại hơn giúp các doanh nghiệp tiến hành sản xuất thuận lợi và hiệu quả

Trang 28

Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, không có đủ vốn để trang bị máy móc thì

có thể được bên đặt gia công cung cấp máy móc thiết bị để hoàn thành hợp đồng Việc này tuy có bất lợi trong việc chuyển giao công nghệ nhưng sẽ giúp doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận với công nghệ hiện đại, từ đó có thể tham khảo để quyết định đầu tư vào

cơ sở vật chất

Công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin mới ra đời nên cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa được đồ sộ và nhiều chủng loại Qua từng năm công ty cũng đang cố gắng mua sắm thêm máy móc thiết bị, xây dựng thêm cơ sở vật chất Hiện nay, số lượng máy móc thiết bị chuyên dùng của công ty chủ yếu do các nước Nhật Bản và Trung Quốc chế tạo Các trang thiết bị mà hiện nay công ty có gồm: máy may, máy chần,máy vắt sổ, máy cắt vải, máy là

Trang 29

Bảng 5: Tình hình máy móc trang thiết bị của công ty

(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán của công ty)

Qua bảng số liệu trên cho thấy, trong 3 năm công ty đã cố gắng hết mình để đầu

tư cho cơ sở vật chất và trang thiết bị máy móc trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh, sản xuất Máy móc, thiết bị may mặc từ 58 máy năm 2010 lên 67 máy năm 2011 và đến năm 2012 là 78 máy Máy móc trong công ty một phần là do đối tác gia công bàn giao hoặc công ty mượn và phần lớn còn lại là do công ty mua mới Việc đầu tư máy móc giúp cho công ty hoàn thiện được một số sản phẩm, hạn chế việc đi thuê ngoài Bên cạnh đó, việc các đối tác gia công bàn giao máy móc sẽ giúp cho công

ty tích lũy được kinh nghiệm trong việc tiếp cận công nghệ mới

Nhà cửa, vật kiến trúc có chút thay đổi qua các năm; năm 2010 là 4 cái đến năm

2011 là 6 cái và năm 2012 là 7 cái Năm 2011, công ty chuyển địa điểm từ Thành phố

Hồ Chí Minh về Nghệ An Nhà cửa ban đầu là thuê tại một địa điểm ở Thành phố Hồ Chí Minh sau đó nhà xưởng được xây dựng lên tại khu đất công ty mua tại Nghệ An Đến năm 2012 công ty đầu tư xây dựng thêm một kho chứa nguyên vật liệu để đảm bảo chất lượng và số lượng

Cũng như nhà cửa và vật trang trí, phương tiện vận tải cũng biến động không nhiều Năm 2010 công ty có 2 xe tải vận chuyển hàng thì sang năm 2011 công ty đầu tư mua thêm một xe ô tô để phục vụ cho mục đích tìm kiếm bạn hàng và đi kí kết hợp đồng Số lượng phương tiện vận tải giữ nguyên trong năm 2013

Thiết bị quản lý cũng không tăng đáng kể Năm 2010 chỉ có 3 chiếc bao gồm: 2 máy tính và 1 máy in Sang năm 2011, công ty mua thêm 1 máy chấm công và 1 máy photocopy, nâng tổng số lên 5 chiếc và không tăng thêm chiếc nào vào năm 2012 Sự đầu tư có phần hạn hẹp này của công ty cũng là do công ty mới bước đầu thành lập còn

Trang 30

gặp nhiều khó khăn, bạn hàng chưa nhiều, chưa có lãi trong những năm đầu bước vào hoạt động.

Tuy nhiên thì số lượng máy móc thiết bị hiện tại của công ty đủ để công ty hoạt động đúng công suất, phục vụ cho việc quản lý cũng như các hoạt động sản xuất của công ty

- Nguồn lực về con người

Vấn đề nguồn lực trong hoạt động kinh doanh là rất quan trọng Các nguồn lực trong công ty ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp dệt may nói riêng Nguồn lực ảnh hưởng đầu tiên phải kể đến là nguồn nhân lực Việt Nam là một nước có dân số trẻ nguồn nhân công dồi dào và giá nhân công rẻ đang là một lợi thế của ngành dệt may, đặc biệt là trong lĩnh vực gia công hàng xuất khẩu Mặt khác, lao động Việt Nam hiện nay tay nghề đã được nâng cao rất nhiều và dễ đào tạo nên lao động ngành dệt may đã có những khó khăn như năng suất lao động của ngành còn thấp Như vậy, tuy giá nhân công của Việt Nam rẻ hơn so với các nước nhưng giá nhân công của Việt Nam tính ra trong nước vẫn còn đắt Đây là khó khăn đối với các doanh nghiệp dệt may gia công hàng xuất khẩu bởi giá nhân công tương đối đắt hơn sẽ làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận thu được

Mặt khác công nhân ngành may phải làm việc vất vả, thường xuyên phải tăng ca, tăng giờ làm nhưng giá lao động thấp nên họ thường chuyển qua làm ngành khác, gây nên tình trạng không có lao động và phải bỏ thêm nhiều chi phí để đào tạo mới nguồn lao động khác Những lao động có tay nghề và lao động có trình độ cao thường chuyển

từ doanh nghiệp nhà nước sang những doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp nước ngoài dẫn đến tình trạng có những doanh nghiệp Việt Nam thiếu những lao động có tay nghề

Trang 31

Bảng 6: Tình hình lao động của công ty

(Nguồn: Phòng tài chính – kế toán)

Trang 32

Qua bảng số liệu ta thấy, số lượng lao động công ty biến động qua 3 năm Năm

2010, công ty có 79 nhân công và nhân viên Đến năm 2011, tổng số lao động tăng lên

121 người đến năm 2012 chỉ còn 91 người Như vậy, quy mô lao động của công ty thiếu

sự ổn định Năm 2011 tổng số công nhân thêm 42 người so với năm 2010 hay tăng đến 53,16% so với năm 2010 Năm 2012 giảm 30 người tương đương với sự sụt giảm 24,79% so với năm 2011 Điều này là do phần lớn công ty chuyển địa điểm sản xuất từ thành phố Hồ Chí Minh về Nghệ An phần khác là do công nhân bỏ việc ở công ty để đi làm nơi khác có thu nhập và điều kiện phát triển hơn

Nếu xét cơ cấu lao động theo giới tính thì dù tổng lao động qua 3 năm có biến động nhưng một điểm chung là lao động nữ luôn chiếm phần lớn Năm 2010, công ty có

10 lao động nam chiếm 12,66% trong tổng số lao động, lao động nữ có 69 người chiếm 87,34% Năm 2011, công ty có 107 lao động nữ chiếm 88,43%, tăng 69 người hay tăng 87,34% so với năm 2011 Đến năm 2012 số lượng lao động nữ giảm 22 người tương đương với sự sụt giảm 20,56% so với năm 2011, chỉ còn 85 lao động nữ chiếm 93,41% Năm 2011, công ty có 14 lao động nam chiếm 11,57%, tăng thêm 4 người hay tăng 40%

so với năm 2010 Năm 2012, công ty chỉ còn 6 lao động nam chiếm 6,59% giảm 8 người hay giảm 57,14% so với năm 2011 Ta thấy rằng mặc dù trong năm 2012 lượng lao động nữ giảm nhiều hơn lao động nam về số tuyết đối nhưng do cơ cấu trong tổng thể khác nhau nên năm 2012 tỷ lệ phần trăm lao động nữ lại tăng so với năm 2011 Điều này cũng khá dễ hiểu trong ngành dệt may vì đặc điểm của ngành này cần sự khéo léo

và tỉ mỉ trong công việc Tuy nhiên, đây cũng là một điều bất lợi đối với công ty do số phụ nữ nghỉ chế độ thai sản ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất và quy mô sản xuất của công ty

Nếu xét cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn thì số lượng lao động đại học, cao đẳng chiếm số lượng rất nhỏ Năm 2010, công ty có 5 lao động có trình độ Đại học – cao đẳng chiếm 6,33% Năm 2011, có 7 lao động có trình độ đại học – cao đẳng chiếm 5.79% tổng lao động; sang năm 2012 chỉ còn lại 3 lao động ở tiêu chí này chiếm 3,30% Lao động ở trình độ trung cấp – học nghề năm 2010 có 19 người chiếm 24,05%

Từ 21 lao động năm 2011 xuống còn 12 lao động vào năm 2012 giảm 42,86% (so với năm 2011) Lượng lao động phổ thông cũng giảm từ 93 người năm 2011 xuống 76 người năm 2012, tỷ lệ phần trăm lại tăng từ 76,86% năm 2011 lên 83,51% năm 2012 là

so sự sụt giảm số lượng ở trình độ đại học – cao đẳng, trung cấp - học nghề quá lớn so

Trang 33

với số lượng cùng tiêu chí năm 2011 Đánh giá chung lao động ở công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin giảm theo chiều hướng không có lợi.

Nếu xét theo tính chất công việc, phần lớn lao động của công ty là lao động trực tiếp ( 69 lao động năm 2010, 109 lao động năm 2011 chiếm 90,08% và 83 lao động năm

2012 chiếm 91,21% ) Năm 2010 có 10 lao động gián tiếp chiếm 12,66% đến năm 2011 lao động gián tiếp có 12 người chiếm 9,92% nhưng đến năm 2012 chỉ còn lại 8 người chiếm 8,79% (qua 2 năm mặc dù công ty có tuyển thêm lao động gián tiếp tuy nhiên vẫn không đủ để lấp chỗ trống) Lượng lao động trực tiếp chiếm ưu thế là một điều hết sức hợp lý đối với một doanh nghiệp gia công hàng may mặc Số lao động gián tiếp chỉ chiếm một lượng nhỏ một phần là do đối tượng lao động này chủ yếu là làm trong bộ phận quản lý hơn nữa so với mặt bằng chung công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin là một công ty nhỏ vừa mới thành lập

Từ số liệu thực tế trên, mặc dù khó đoán biết được sự thay đổi của nguồn lao động do nguyên nhân chính là thay đổi địa điểm làm việc, công ty gần như phải tuyển lại lao động nhưng ta cũng có thể thấy được xu hướng nghỉ việc sẽ dần hình thành trong công ty Khi ổn định sản xuất tại địa điểm mới, thì lực lượng không những không tăng mà cũng không thể duy trì được số lượng Vì vậy công ty bên cạnh việc tuyển dụng thêm lao động thì cần có các chính sách giữ chân người lao động gắn bó lâu dài để giúp công ty có thể hoàn thành tốt các hợp đồng gia công và phát triển hơn nữa

1.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

1.3.1 Doanh thu gia công

TR = Pi * QiTrong đó: TR: Doanh thu gia công

Pi: Đơn giá gia công của sản phẩm iQi: Số lượng sản phẩm i

1.3.2 Lợi nhuận gia công

π = TR – TCTrong đó: π: Lợi nhuận gia công

TR: Doanh thu gia côngTC: Chi phí

Lợi nhuận gia công là khoản tiền thu được sau khi lấy doanh thu trừ đi chi phí

Trang 34

1.3.3 Số tương đối động thái

tĐT = y1/y0Trong đó: tĐT: Số tương đối động thái

y1:Mức độ cần nghiên cứu (Mức độ kỳ báo cáo)

y0: Mức độ kỳ gốc (Mức độ dùng làm cơ sở so sánh)

Trang 35

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH GIA CÔNG HÀNG

MAY MẶC CỦA CÔNG TY 2.1 Thực trạng hoạt động gia công hàng may mặc của công ty

- Lựa chọn bên đặt gia công

Lựa chọn bên đặt gia công là khâu đầu tiên trong hoạt động nhận gia công hàng may mặc Trong quá trình lựa chọn bên đặt gia công, các cán bộ của công ty đóng vai trò quan trọng Các nhân viên tiến hành nghiên cứu thị trường của công ty, tuy nhiên, công tác nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế, chỉ dừng lại ở các khâu nghiên cứu lượng cung của thị trường, giá cả của các đơn đặt hàng, giá nguyên phụ liệu, giá bán thành phẩm có thể, giá bán sản phẩm của bên đối tác cho khách hàng của họ

Việc tìm đối tác là do các mối quan hệ quen biết và do tìm kiếm được trên mạng internet Công ty đã ra sức cố gắng tìm kiếm các đơn hàng cần gia công của các công ty may mặc khác Bước đầu nhận gia công cho các công ty gia công hàng may mặc

- Kí kết hợp đồng gia công

Sau khi lựa chọn được đối tác đặt gia công thì bước tiếp theo là tổ chức kí kết hợp đồng gia công Giám đốc chịu trách nhiệm kí kết, thực hiện các hợp đồng gia công

Bước 1: Tiếp nhận yêu cầu của khách hàng

Nếu kí kết với khách hàng quen thuộc, đã đặt hàng với số lượng lớn, thời gian dài với mức giá cụ thể thì những hợp đồng này sẽ được gửi cho cán bộ phụ trách kỹ thuật từng thực hiện những mặt hàng trước đó Nếu khách hàng muốn thực hiện với mức giá cũ mà là một mức giá mới thì sẽ lưu hồ sơ của khách hàng bằng một phiếu yêu cầu hoặc dùng chính văn bản chào giá của khách hàng làm phiếu yêu cầu, đánh số theo dõi và trình lên cho Giám đốc xem xét và quyết định

Với những khách hàng mới thì việc chào giá gia công cũng tương tự như khi khách hàng quen thuộc của công ty không chấp nhận giá cũ, hoặc khi công ty không chấp nhận mức giá gia công đã kí ở những hợp đồng trước đó Công ty sẽ lưu hồ sơ của khách hàng bằng phiếu yêu cầu, đánh số theo dõi và trình lên cho cấp trên

Bước 2: Xem xét khả năng đáp ứng của công ty

Giám đốc sẽ xem xét các phiếu yêu cầu do cán bộ quản lý kho hàng gửi đến Các nội dung chủ yếu cần xem xét là:

Trang 36

- Loại hàng đặt gia công, số lượng sản phẩm đặt hàng và tính toán khả năng đáp ứng của công ty.

- Đơn giá và giá trị của từng mặt hàng, từng sản phẩm

- Khả năng công nghệ của công ty có đáp ứng được yêu cầu về chất lượng

- Bên cung cấp nguyên phụ liệu

- Thời gian giao hàng

- Điều kiện thanh toán

Sau khi xem xét và thấy khả năng của công ty có thể đáp ứng được, Giám đốc sẽ giao cho phòng kế hoạch hoàn thành biểu mẫu “Xem xét phụ lục hợp đồng” Nếu Giám đốc phê duyệt thì gửi một xác nhận tới khách hàng, sau đó tiến hành ký kết hợp đồng

Bước 3: Soạn thảo và kí kết hợp đồng

Việc soạn thảo hợp đồng có thể do công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin hoặc do bên đối tác soạn thảo Nếu do công ty phụ trách soạn thảo thì việc soạn thảo sẽ được công ty thuê công ty tư vấn luật kinh tế soạn thảo hợp đồng với các nội dung cơ bản do công ty cung cấp Khi công ty thấy bản hợp đồng đã đúng như ý muốn thì thực hiện ký kết hợp đồng với bên đặt gia công Trong thời gian tiến hành thực hiện hợp đồng, công

ty phải tiến hành theo dõi hợp đồng bằng, nếu có phát sinh xảy ra thì lập phiếu “Yêu cầu sửa đổi bổ sung hợp đồng và phụ lục hợp đồng” để xem xét

- Thực hiện hợp đồng gia công

Sau khi kí kết hợp đồng gia công thì bước tiếp theo là tổ chức sản xuất Đôi khi công ty cũng phải sản xuất sản phẩm mẫu cho công ty đặt gia công để kiểm tra năng lực sản xuất và tiến độ hoàn thành Nếu phải sản xuất hàng mẫu cho phía đối tác thì cán bộ kỹ thuật

sẽ nhận các số liệu kĩ thuật của sản phẩm và xem xét tiến hành cho sản xuất mẫu Sau khi hàng mẫu được chấp nhận, hợp đồng được kí kết thì công ty bắt đầu tổ chức sản xuất hàng theo hợp đồng đã kí Quy trình thực hiện hợp đồng gia công như sau:

Bước 1: Lập kế hoạch sản xuất

Trên cơ sở tài liệu kĩ thuật, cán bộ kỹ thuật cùng với thủ kho lập định mức tiêu hao nguyên phụ liệu, số lượng sản phẩm sản xuất ra trong tháng, trong quý, từ đó lên kế hoạch nhập nguyên phụ liệu, kế hoạch sản xuất theo sự chỉ đạo của giám đốc

Trang 37

Bước 2: Tiến hành nhập nguyên phụ liệu

Trên cơ sở định mức nguyên vật liệu của sản phẩm và kế hoạch sản xuất theo tháng, quý và dưới sự chỉ đạo của Giám đốc, thủ kho sẽ tiếp hành nhập nguyên phụ liệu

Do đặc thù và quy mô của công ty nên các hợp đồng gia công của công ty là nhập nguyên liệu, giao thành phẩm thì cán bộ kỹ thuật và thủ kho sẽ phối hợp với bên đặt gia công tiến hành nhập nguyên phụ liệu cho sản xuất Khi nguyên phụ liệu được nhập về kho, thủ kho tiến hành nhận hàng, đối chiếu với bảng kê khai hàng hóa để kiểm tra số lượng, chất lượng hàng thực nhập và sau đó thực hiện làm bảng cân đối giữa nguyên phụ liệu nhập về và kế hoạch sản xuất Và cuối cùng là trình lên cho Giám đốc phê duyệt

Bước 3: Tổ chức sản xuất

Sau khi nhập nguyên phụ liệu về, tùy theo tình hình nhập nguyên phụ liệu mà cán

bộ ở phòng kế hoạch dưới sự chỉ đạo của Giám đốc phát lệnh tiến hành sản xuất tới các phân xưởng, chuyền may Trong quá trình sản xuất cán bộ mặt hàng phải chịu trách nhiệm theo dõi tiến độ sản xuất thường xuyên, nếu có sự cố gì thì phải tìm hiểu nguyên nhân và báo cáo kịp thời lên Giám đốc để tìm hướng giải quyết Mặt khác, công ty phải thường xuyên liên lạc với bên đặt gia công để đôn đốc việc giao nguyên phụ liệu còn thiếu và thông báo cho bên đặt gia công về tiến độ sản xuất

Bước 4: Thực hiện nhiệm vụ giao hàng

Sau khi sản xuất xong lô hàng, cán bộ mặt hàng thông báo cho bên đối tác về thời gian giao hàng

- Kiểm soát hoạt động gia công

Trong quá trình từ khi công ty tiến hành lựa chọn đối tác gia công, sản xuất và giao hàng Công ty phải luôn giám sát quy trình sản xuất, kiểm tra quy trình nhập nguyên phụ liệu để sản xuất Khi nguyên phụ liệu đã được nhập kho, thủ kho sẽ tiến hành kiểm tra số lượng nguyên phụ liệu thực nhập, đối chiếu với hàng mẫu để kiểm tra chất lượng nguyên phụ liệu, giám sát để chất lượng nguyên phụ liệu không bị giảm sút khi đưa vào sản xuất, đồng thời cũng thực hiện bảo quản để các sản phẩm sản xuất ra giữ được chất lượng khi giao hàng Trong quá trình sản xuất, các cán bộ kỹ thuật phối hợp với các tổ trưởng và cán bộ quản lý các phân xưởng theo để theo dõi quá trình sản

Ngày đăng: 14/12/2013, 01:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin - Phân tích tình hình gia công hàng may mặc tại công ty cổ phần sài gòn wan bin
Sơ đồ 3 Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty cổ phần Sài Gòn Wan Bin (Trang 18)
Sơ đồ 4: Quy trình may cơ bản - Phân tích tình hình gia công hàng may mặc tại công ty cổ phần sài gòn wan bin
Sơ đồ 4 Quy trình may cơ bản (Trang 19)
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu dệt may trong nền kinh tế quốc dân - Phân tích tình hình gia công hàng may mặc tại công ty cổ phần sài gòn wan bin
Bảng 2 Kim ngạch xuất khẩu dệt may trong nền kinh tế quốc dân (Trang 24)
Bảng 5: Tình hình máy móc trang thiết bị của công ty - Phân tích tình hình gia công hàng may mặc tại công ty cổ phần sài gòn wan bin
Bảng 5 Tình hình máy móc trang thiết bị của công ty (Trang 29)
Bảng 6: Tình hình lao động của công ty - Phân tích tình hình gia công hàng may mặc tại công ty cổ phần sài gòn wan bin
Bảng 6 Tình hình lao động của công ty (Trang 31)
Bảng 10: Sản lượng dự án - Phân tích tình hình gia công hàng may mặc tại công ty cổ phần sài gòn wan bin
Bảng 10 Sản lượng dự án (Trang 65)
Bảng 11: Tính toán hiệu quả kinh tế của dự án - Phân tích tình hình gia công hàng may mặc tại công ty cổ phần sài gòn wan bin
Bảng 11 Tính toán hiệu quả kinh tế của dự án (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w