LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan, bản luận án với đề tài “Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc lập do chính tác giả thực hiện, không sao chép ở bất k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2021
Trang 2GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ
NGUYỆN Ở VIỆT NAMChuyên ngành : Quản lý công
Mã số: 9 34 04 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS Lê Thanh Hà
2 TS Phạm Trường Giang
HÀ NỘI, 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, bản luận án với đề tài “Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc lập do chính tác giả thực
hiện, không sao chép ở bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác Các số liệu
sử dụng trong luận án là trung thực và chính xác, các tài liệu tham khảo vàtrích dẫn được sử dụng trong luận án đều có xuất xứ, nguồn gốc, tác giả cụ thể
và được ghi trong danh mục các tài liệu tham khảo của luận án
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Nghiên cứu sinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án với đề tài “Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện
ở Việt Nam” tôi xin đặc biệt cảm ơn đến hai giáo viên hướng dẫn là PGS.TS.Lê
Thanh Hà và TS.Phạm Trường Giang đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình thực hiện luận án
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chínhQuốc gia; lãnh đạo Ban Quản lý đào tạo Sau đại học; lãnh đạo Khoa QLNN về
Xã hội; các thầy, cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia; các chuyên giaQLNN về bảo hiểm xã hội và các chuyên gia hoạt động trong ngành bảo hiểm
xã hội; các nhà quản lý; các nhà khoa học; chính quyền địa phương các cấp;người lao động, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đã tham gia góp ýkiến, tham gia điều tra, khảo sát; cung cấp tài liệu, ủng hộ và giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận án
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đãluôn hỗ trợ, động viên, chia sẻ và tạo những điều kiện thuận lợi về thời gian, vềvật chất và tinh thần để giúp tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành bảnluận án này
Do còn nhiều điều kiện khách quan và chủ quan, chắc chắn kết quảnghiên cứu của luận án vẫn còn nhiều thiếu sót Tác giả luận án rất mong tiếptục nhận được những ý kiến đóng góp để luận án hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
NCS: Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ADB Ngân hàng phát triển châu Á
3 LĐPCT Lao động phi chính thức
7 Bộ LĐ-TB&XH Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
8 ILO Tổ chức Lao động Quốc tế
Trang 6DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU, SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
1 Bảng 3.1 Số người thuộc đối tượng tham gia BHXH tự 85nguyện giai đoạn 2008-2020
2 Hình 1 Sơ đồ hệ thống cơ quan hoạch định và thực thi 89chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam
3 Biểu đồ 3.1 Cơ cấu lao động phi chính thức phân theo mức 98
độ hiểu biết về BHXH tự nguyện
4 Bảng 3.2 Tỷ lệ lao động biết về chính sách BHXH tự 98nguyện phân theo kênh tiếp cận thông tin
5 Biểu đồ 3.2:Tỷ lệ lao động phi chính thức biết về chính 99sách BHXH tự nguyện phân theo kênh tiếp cận thông tin
Bảng 3.3: Tỷ lệ lao động đang tham gia BHXH tự nguyện
6 phân theo đánh giá về quá trình đăng ký tham gia và giải 100quyết chế độ
7 Bảng 3.4 Tốc độ tăng người tham gia BHXH tự nguyện 101giai đoạn 2008-2020
8 Bảng 3.5 Ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao 102động (1)
9 Bảng 3.6 Ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao 103động (2)
10 Bảng 3.7 Số thu BHXH tự nguyện giai đoạn 2013 -2018 108
11 Bảng 3.8 Kết dư quỹ BHXH tự nguyện giai đoạn 2009- 1082015
12 Bảng 3.9 Mức tiền dự định tham gia BHXH tự nguyện của 109
Trang 713 Bảng 3.10 Mức đóng bình quân tháng của NLĐ mong 109muốn
Trang 8tham gia BHXH tự nguyện
14 Bảng 3.11 Lãi thu được từ kết quả đầu tư quỹ BHXH 111
15 Bảng 3.12 Danh mục đầu tư quỹ BHXH Việt Nam giai 111đoạn 2015 -2017
16 Bảng 3.13 Chi các chế độ cho NLĐ tham gia BHXH tự 112nguyện giai đoạn 2009-2015
17 Bảng 3.14 Cơ cấu chi quản lý bảo hiểm xã hội giai đoạn 1132015-2017
18 Bảng 3.15 Số năm đóng BHXH tương ứng với tỷ lệ hưởng 115lương hưu 45%
19 Bảng 3.16 Số người hưởng chế độ BHXH tự nguyện giai 119đoạn 2009-2020
20 Bảng 4.1 Đánh giá lý do BHXH tự nguyện không hấp dẫn 143
21 Bảng 4.2.Tình hình chi trả quỹ ốm đau và thai sản năm 1522017
22 Bảng 4.3 Tình hình thu chi, kết dư các quỹ thành phần 152năm 2018
23 Bảng 4.4 Mong muốn bổ sung các chế độ ngắn hạn 153Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ lao động phi chính thức đang tham gia
24 BHXH tự nguyện phân theo mong muốn bổ sung các chế 153
Trang 10MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ
1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 13
1.2 Những nghiên cứu về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện 211.2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 21
1.3 Nội dung các công trình nghiên cứu đã đề cập và vấn đề đặt ra
1.3.1 Nội dung các công trình nghiên cứu đã đề cập 381.3.2 Các khoảng trống nghiên cứu và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM
2.2 Nội dung, vai trò và quy trình chính sách bảo hiểm xã hội tự
2.2.1 Nội dung chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện 542.2.2 Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện 582.2.3 Quy trình chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện 60
2.3 Các yếu tố tác động đến chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện 68
Trang 112.3.2 Đặc điểm tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 692.3.3 Năng lực của đội ngũ nhân lực trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội 712.3.4 Nguồn lực tài chính của các bên liên quan tham gia bảo hiểm xã
72hội tự nguyện
2.3.5 Nhận thức của các bên liên quan đến chính sách bảo hiểm xã hội tự
73nguyện
2.3.6 Xu thế phát triển của bảo hiểm thương mại 75
2.4 Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện của một số quốc gia và giá
2.4.1 Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện của một số quốc gia 76
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI
3.1 Đặc điểm đối tượng chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt
3.2.1 Cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội 87
3.3 Phân tích thực trạng chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt
Trang 123.4 Đánh giá thực trạng chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
4.1 Bối cảnh, quan điểm và mục tiêu chính sách bảo hiểm xã hội tự
4.1.1 Bối cảnh thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đề tài được chọn nghiên cứu xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, yêu cầu khách quan thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam.
Việt Nam là nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới Dự báođến năm 2050, Việt Nam sẽ trở thành nước có cơ câu dân số già Vì vậy, đểứng phó trước với vấn đề dân số già chúng ta cần phải có sự chuẩn bị tích cực.Một trong những giải pháp quan trọng chính là xây dựng hệ thống ASXH có
độ bao phủ rộng và hiệu quả
Do đặc điểm của nền kinh tế nước ta hiện nay còn chưa phát triển, khu vựckinh tế chính thức còn nhỏ bé, khu vực kinh tế phi chính thức lại rất phát triển, sốlượng LĐPCT chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động, do đó đối tượng thamgia BHXH bắt buộc ít, đối tượng không thuộc diện làm công ăn lương, khôngđược bảo vệ bởi BHXH bắt buộc, những đối tượng làm nghề tự do, những ngườinông dân trong khu vực kinh tế phi chính thức lại nhiều Vì vậy, việc bổ sung chế
độ BHXH tự nguyện nhằm góp phần mở rộng độ bao phủ của BHXH là cần thiết
và cấp bách Điều này đã được Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của BanChấp hành Trung ương khoá XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn
2012 – 2020 khẳng định quan điểm chỉ đạo: “Hệ thống ASXH phải đa dạng, toàndiện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cưtrong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng” và đặt mục
tiêu “Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội; 35% lực lượng lao động tham gia thất nghiệp” [8] Nghị quyết số
21- NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng đối với công tác BHXH, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020 tiếp tục khẳng
định và đặt ra mục tiêu “Thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế; tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm xã hội tự nguyện” [9].
Trang 14Thực hiện BHXH tự nguyện ở Việt Nam chính là mở rộng chính sáchBHXH, để BHXH mở rộng độ bao phủ đối với NLĐ cũng chính là thực hiệncông bằng xã hội, để “không ai bị bỏ lại phía sau”, người lao động chính thứccũng như người LĐPCT đều được Nhà nước bảo vệ, xóa bỏ sự bất bình đẳngđối với người LĐPCT Thực hiện BHXH tự nguyện cho người LĐPCT chính
là thực hiện các cam kết của Nhà nước với cộng đồng quốc tế, đây cũng là một
xu hướng phát triển mạnh mẽ ở các nước đang phát triển và trên thế giới
Thứ hai, nghiên cứu về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
Chính sách BHXH tự nguyện là một chính sách công, là một trongnhững công cụ hữu hiệu để thực hiện QLNN về BHXH, góp phần nâng caohiệu quả QLNN về BHXH vì vậy, chất lượng chính sách và hiệu quả BHXH tựnguyện tác động đến hiệu quả QLNN về BHXH Do đó, nghiên cứu về chínhsách BHXH tự nguyện nhằm góp phần hoàn thiện nội dung QLNN về BHXH
Sau hơn 12 năm thực hiện chính sách BHXH tự nguyện và nhiều lần thayđổi nội dung chính sách, độ bao phủ của BHXH tự nguyện vẫn còn rất thấp, sốngười tham gia BHXH tự nguyện tăng rất chậm Theo Bảo hiểm xã hội Việt Namhết năm 2020, số người tham gia BHXH tự nguyện là 1,1 triệu người Như vậy,nước ta vẫn còn khoảng 35 triệu người chưa tham gia BHXH Đây sẽ là một áplực rất lớn lên hệ thống ASXH nước ta nói riêng và tình hình phát triển kinh tế -
xã hội nói chung trong thời gian tới vì những họ không được đảm bảo thu nhậptrong các trường hợp rủi ro, đặc biệt khi những người này bước vào độ tuổi già
Những khó khăn chủ yếu mà chính sách BHXH tự nguyện gặp phải là: hoạtđộng tuyên truyền mới chỉ tiếp cận được một bộ phận nhỏ người LĐPCT; NLĐchưa có lòng tin đối với BHXH tự nguyện; do thiếu nguồn lực nên chế độ chínhsách BHXH tự nguyện chưa hấp dẫn, chính sách BHXH tự nguyện chưa nhậnđược sự quan tâm đúng mức của các cấp ủy Đảng và các cấp chính quyền
Ngày 23 tháng 05 năm 2018, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã ban hành
Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH với mục tiêu: “(i) Đến năm 2021 Phấn đấu đạt khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia
Trang 15BHXH, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH
tự nguyện chiếm khoảng 1% lực lượng lao động trong độ tuổi; (ii) Đến năm
2025 phấn đấu đạt khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH
tự nguyện chiếm khoảng 2,5% lực lượng lao động trong độ tuổi; (iii) Đến năm
2030 phấn đấu đạt khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH
tự nguyện chiếm khoảng 5% lực lượng lao động trong độ tuổi” [7].
So với thực tế hiện nay thì mục tiêu của Nghị quyết 28 đặt ra khá thamvọng, vì vậy cần có hệ thống các giải pháp đột phá, có cơ sở khoa học, quyếtliệt để thực hiện trong thời gian tới
Thứ ba, thực trạng nghiên cứu về chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam và trên thế giới.
Để phát triển chính sách BHXH tự nguyện cả về lý luận và thực tế, đã córất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và trên thế giới Trên thếgiới, đã có nhiều nghiên cứu về BHXH tự nguyện, cả ở các nước phát triển nhưPhần Lan, Pháp hay các nước đang phát triển như Tazanian [124], Moldoval[126],Ruwanda [116], Ghana [117] Ở các quốc gia này, BHXH tự nguyện có tên gọi làBHXH cho nông dân hoặc BHXH cho khu vực phi chính thức nhưng về mặt bảnchất thì tương đồng với khái niệm BHXH tự nguyện ở Việt Nam Vì vậy, cácnghiên cứu này dù ở quốc gia nào cũng là những bài học kinh nghiệm có giá trịtham khảo đối với thực hiện chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về chính sách BHXH tự nguyện bắt đầu từnhững năm 2000, trước khi Việt Nam áp dụng chính sách BHXH tự nguyện cho đến nay.Bước đầu, các nghiên cứu tập trung vào việc luận giải yêu cầu khách quan phải thực hiệnchính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam của Phạm Văn Cảnh (2003)[49], Trần Thúy Nga(2006) [82]; nghiên cứu, khảo sát nhu cầu và khả năng tham gia BHXH tự nguyện của ngườilao động như nghiên cứu của Dương Xuân Triệu (2009)[103] Tiếp sau là các nghiên cứu tìmtòi, giải đáp những kinh nghiệm để thực hiện thành công chính sách BHXH tự nguyện ở Việt
3
Trang 16Nam trong giai đoạn đầu thực hiện chính sách như các nghiên cứu của ViệnKhoa học BHXH (2010) [32], World Bank (2012) [83]; Mai Ngọc Cường(2013) [53] Đến nay, các nghiên cứu về chính sách BHXH tự nguyện ở ViệtNam đã ngày càng phong phú như nghiên cứu của Hà Văn Sỹ (2016) [91],Phạm Lan Phương (2015) [87], Hoàng Bích Hồng (2017) [76] Các nghiên cứunày tập trung vào các giải pháp để triển khai thành công BHXH tự nguyện ởViệt Nam trong thời gian qua trên phạm vi cả nước hoặc một số tỉnh như Nghệ
An, Phú Yên, Vĩnh Phúc, thành phố Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu nào luận giải vềchính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam dưới góc độ một chính sách công,đặc biệt trong bối cảnh sau khi có Nghị quyết 28 về cải cách chính sách BHXH
ở Việt Nam Phát triển chính sách BHXH tự nguyện vẫn còn là một bài toánkhó đối với Đảng và Nhà nước, vẫn còn rất nhiều khó khăn và thách thức cầnđược giải quyết trong thời gian tới để đạt được mục tiêu mở rộng độ bao phủcủa BHXH tự nguyện, nâng cao ASXH cho đông đảo người lao động
Với mục tiêu góp phần đánh giá đúng thực trạng chính sách, tìm ra đúngnhững nguyên nhân khiến cho diện bao phủ BHXH tự nguyện còn thấp, trên cơ
sở đối chiếu với cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế, tìm ra giải pháp phù hợp
để hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam, tác giả đã lựa chọn đề
tài “Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam” làm đề tài luận án
tiến sỹ Quản lý công
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chính sách BHXH tựnguyện, luận án tập trung làm rõ thực trạng chính sách BHXH tự nguyện ởViệt Nam Từ đó, luận án đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sáchBHXH tự nguyện, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển chínhsách BHXH tự nguyện ở Việt Nam; góp phần hoàn thiện QLNN về BHXH ởViệt Nam, đảm bảo ASXH cho tất cả người lao động
Trang 172.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụsau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến BHXH tự nguyện trong
và ngoài nước, chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu và những nội dung luận án cần tiếptục nghiên cứu:
- Xây dựng khung lý thuyết, hệ thống hóa và hoàn thiện một số vấn đề cơbản về chính sách và BHXH tự nguyện làm nền tảng cơ sở lý luận của chính sách BHXH
tự nguyện; nghiên cứu các nhân tố tác động đến chính sách BHXH tự nguyện; đúc kếtkinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về chính sách BHXH tự nguyện và rút racác bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Điều tra, khảo sát thực tế về chính sách BHXH tự nguyện, từ đó phântích, đánh giá thực trạng chính sách BHXH tự nguyện, chỉ ra những thành tựu, hạn chế vànguyên nhân của hạn chế chính sách BHXH tự nguyện
- Đưa ra phương hướng và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện chính sáchBHXH tự nguyện, từ đó mở rộng độ bao phủ của BHXH tự nguyện góp phần đảm bảoASXH cho người dân; hoàn thiện QLNN về BHXH
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chính sách BHXH tự nguyện, baogồm 3 chính sách: chính sách phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện,chính sách phát triển quỹ BHXH tự nguyện và chính sách thụ hưởng cho ngườitham gia BHXH tự nguyện
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: luận án tiến hành nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ ViệtNam, cụ thể ở các tỉnh: Hà Nội, Lai Châu, Lạng Sơn, Thừa Thiên Huế, ĐăkLăk, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh Đây là các tỉnh đại diện cho 3 miềnBắc, Trung, Nam; bao gồm cả các tỉnh đồng bằng, các tỉnh miền núi và cácthành phố lớn
Trang 18Về thời gian: Luận án tiến hành nghiên cứu chính sách BHXH tự nguyện ởViệt Nam từ năm 2008 đến nay, định hướng hoàn thiện cho những năm tiếp theo.
Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên nội dung các chính sách: chínhsách phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, chính sách phát triển quỹBHXH tự nguyện và chính sách thụ hưởng cho người tham gia BHXH tự nguyện
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án sử dụng các phương pháp luận chủ yếu trong nghiên cứu khoahọc quản lý công như phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,duy vật lịch sử cùng với các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước vềBHXH và BHXH tự nguyện để đảm bảo ASXH cho người dân làm cơ sở lýluận nghiên cứu chính sách BHXH tự nguyện
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp
Luận án kế thừa các tài liệu về thể chế, chính sách pháp luật quốc gia vàquốc tế có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các báo cáo, số liệu thống kê, các
lý luận từ các nguồn sau:
- Sách chuyên khảo về BHXH và BHXH tự nguyện của các tác giả trong
án NCS cũng nghiên cứu những vấn đề lý luận đã được đúc rút trong các giáotrình, tài liệu chuyên ngành trong nước và quốc tế Các số liệu thống kê, báo cáotổng hợp từ các tổ chức, cơ quan quản lý có liên quan, các kết quả nghiên cứu
Trang 19trước đây đã công bố Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu có sẵn,NCS đã có bổ sung và phát triển các luận cứ khoa học và thực tiễn phù hợp vớimục đích, mục tiêu nghiên cứu của luận án.
Trong quá trình nghiên cứu, các tài liệu này liên tục được cập nhật, bổsung và được phân tích một cách chi tiết để tìm ra các nội dung phù hợp, cầnthiết cho luận án Phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu tại cácchương: chương 1, chương 2, chương 3
4.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, ngoài các số liệu, thông tin có được từnguồn tài liệu thứ cấp, tác giả đã thu thập thông tin sơ cấp thông qua các phươngpháp nghiên cứu xã hội học, bao gồm các phương pháp nghiên cứu định tính(phỏng vấn sâu) và nghiên cứu định lượng (phỏng vấn bằng bảng hỏi)
- Khảo sát bằng bảng hỏi: tác giả đã tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi đốivới các cơ quan chức năng, người tham gia BHXH tự nguyện; phiếu khảo sát được xâydựng thành 02 mẫu, theo hai nhóm đối tượng khảo sát để tìm ra sự khác biệt hay tươngđồng giữa việc đánh giá chính sách BHXH tự nguyện và đề xuất thay đổi hoàn thiệnchính sách
Mẫu phiếu số 1: dành cho nhóm đối tượng là chuyên gia trong lĩnh vực
BHXH bao gồm: cán bộ, công chức của Vụ BHXH – Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội; nghiên cứu viên của Viện Nghiên cứu Lao động xã hội - BộLao động – Thương binh và Xã hội; viên chức của BHXH Việt Nam các cấp;các cán bộ thuộc Sở, Phòng LĐ-TB và Xh; giảng viên Khoa BHXH – Đại họcLao động – Xã hội; các giảng viên giảng dạy và nghiên cứu về chính sách công
và chính sách xã hội của Học viện Hành chính Quốc gia
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, thời gian và kinh phí nghiên cứu tác giả
đã sử dụng phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên, có chủ đích với những đốitượng này Mẫu phiếu khảo sát được gửi tới các đối tượng ở các tỉnh Lai Châu,Lạng Sơn, Sơn La, Đăk Nông, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Hưng Yên, Thành phố
Hồ Chí Minh bằng công cụ Google biểu mẫu Mẫu phiếu được thiết kế trên ứngdụng Google Biểu mẫu của Drive, gồm 3 phần: Phần 1 giới thiệu về mục đích
Trang 20khảo sát; Phần 2 nội dung khảo sát; Phần 3 thông tin cá nhân Các câu hỏi đượcthiết kế dưới dạng nhiều lựa chọn trả lời và bắt buộc, riêng câu hỏi ở phần 3không bắt buộc đối với thông tin về họ tên, người trả lời phiếu khảo sát có thể
để trống ở câu hỏi này Phiếu này được trực tiếp gửi qua email, zalo bằng việcchia sẻ đường link, người tham gia khảo sát trả lời trực tiếp trả lời qua mail vàgửi lại cho người khảo sát
Mẫu phiếu thứ 2: dành cho đối tượng tham gia BHXH tự nguyện Mẫu
phiếu này dành để khảo sát người lao động là đối tượng tham gia BHXH tựnguyện như người lao động tự do, nông dân ở các tỉnh thành: Hà Nội, thànhphố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Thừa Thiên Huế Số phiếu phát ra
là 500 phiếu, nhận về 413 nhưng số phiếu có thể sử dụng là 340 phiếu Đốitượng khảo sát của luận án bao gồm cả người lao động tự do ở thành thị, ngườinông dân ở nông thôn; đối tượng khảo sát phong phú về dân tộc và ngànhnghề; mức thu nhập và tình trạng hôn nhân gia đình
Phương pháp xử lý số liệu: sau khi thu thập được phiếu, tác giả luận án
sử dụng phần mềm SPSS, EXCEL và công cụ Google biểu mẫu để xử lý các
thông tin thu thập được; thiết lập các bảng và biểu đồ minh họa; sử dụng cáckết quả này làm minh chứng cho nội dung luận án
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn chuyên gia: trong quá trình thực hiện luận án, nghiên cứu sinh
đã sử dụng phương pháp phỏng vấn, trao đổi, hỏi ý kiến chuyên gia về chính sáchBHXH tự nguyện và phương hướng hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện Cácchuyên gia được mời phỏng vấn gồm: 02 giảng viên nghiên cứu về chính sáchcông và các vấn đề xã hội của Học viện Hành chính Quốc gia; 02 chuyên gia củaViện nghiên cứu Khoa học Lao động Xã hội, 01 chuyên gia của Vụ Bảo hiểm xãhội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; 01 chuyên gia của Tổ chức Lao độngQuốc tế (ILO); các lãnh đạo cơ quan BHXH của một số tỉnh, thành như HưngYên, Đăk Nông, Thừa Thiên Huế, Hà Nội Tổng số chuyên gia tác giả luận án đãphỏng vấn là 10 người Luận án chủ yếu sử dụng kết quả phỏng vấn này để giải
Trang 21thích những vấn đề cơ bản của luận án, tìm ra những giải pháp phù hợp đểhoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện.
Phỏng vấn đối tượng tham gia BHXH tự nguyện: Tác giả luận án đã phỏng vấn người dân đã tham gia BHXH tự nguyện và những người chưa tham
gia BHXH để tìm hiểu những nhận xét, đánh giá và những mong muốn, đềxuất của người lao động đối với BHXH tự nguyện
4.2.3 Phương pháp so sánh
Để có những nhận định khách quan, trong quá trình phân tích, nghiêncứu sinh tiến hành phương pháp so sánh thực trạng, các giải pháp hoàn thiệnchính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam so với một số nước, từ đórút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
4.2.4 Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp này nghiên cứu sinh đã sử dụng trong suốt quá trìnhnghiên cứu của luận án Thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, NCS sửdụng phương pháp này để hệ thống hóa, làm cơ sở khoa học chính sách bảohiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằmhoàn thiện chính sách
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Trên thế giới và ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu nào về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện?
- Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam dựa trên những cơ sởkhoa học nào?
- Những yếu tố nào tác động đến chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện?
- Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Để hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam cần cónhững giải pháp nào?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Luật BHXH sửa đổi bổ sung năm 2006 đã lần đầu tiên quy định việc thực thi BHXH tự nguyện và Luật BHXH 2014 đã có nhiều quy định sửa đổi, bổ sung
Trang 22để thu hút NLĐ tham gia BHXH tự nguyện Các quy định và giải pháp chínhsách này được đề ra trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm của LĐPCT ở ViệtNam và tham khảo, học tập các kinh nghiệm thực hiện BHXH tự nguyện trênthế giới Tuy nhiên, số người tham gia BHXH tự nguyện vẫn còn rất ít, chiếm
tỷ lệ nhỏ trong nhóm đối tượng thuộc diện tham gia Nguyên nhân là do chínhsách BHXH tự nguyện vẫn không có các chế độ ngắn hạn linh hoạt; sự hỗ trợcủa Nhà nước chưa nhiều; người dân không có lòng tin với chính sách Vì vậy,nghiên cứu và tìm ra các giải pháp thực hiện chính sách BHXH tự nguyện mớikhoa học, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn Việt Nam sẽ khắc phục những tồntại, yếu kém trong chính sách BHXH tự nguyện hiện nay, nâng độ bao phủ củaBHXH tự nguyện, nâng cao khả năng tự an sinh của NLĐ
6 Đóng góp mới của đề tài
- Từ hệ thống phương pháp nghiên cứu và lý thuyết được sử dụng trongquá trình nghiên cứu đề tài, luận án đã có đóng góp mới về lý luận trong phân tích chínhsách BHXH tự nguyện ở Việt Nam Bên cạnh việc hệ thống các khái niệm liên quan đến
đề tài luận án như khái niệm BHXH, khái niệm chính sách công luận án đã bổ sung, pháttriển khái niệm BHXH tự nguyện, chính sách BHXH và chính sách BHXH tự nguyệnlàm cơ sở cho nghiên cứu của luận án
- Luận án đã phân tích để xác định các yếu tố tác động đến chính sáchBHXH tự nguyện trên cơ sở hệ thống các nghiên cứu đã có trước đó về BHXH tự nguyện.Tuy nhiên, vì các nghiên cứu đã có tập trung nghiên cứu về khả năng phát triển và các yếu tốtác động đến sự phát triển của loại hình BHXH tự nguyện, chưa xác định được hệ thống cácyếu tố tác động đến chính sách BHXH tự nguyện Vì vậy, luận án đã phân tích và xác địnhcác yếu tố tác động đến chính sách BHXH tự nguyện như: thể chế về BHXH tự nguyện; đặcđiểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của đất nước; năng lực của đội ngũ nhân lực trong lĩnh vựcBHXH; năng lực tài chính, nhận thức của các bên liên quan trong lĩnh vực BHXH; xu thếphát triển của bảo hiểm thương mại thông qua các yếu tố này phân tích xu hướng phát triển
và tìm ra phương hướng hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện
10
Trang 23- Luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng và tìm ra hạn chế của chính sáchBHXH tự nguyện ở Việt Nam và các nguyên nhân của những hạn chế đó Bên cạnh nhữngnguyên nhân đã được một số nghiên cứu chỉ ra, luận án đã xác định và bổ sung được nhữngnguyên nhân mới như vị thế chính sách BHXH tự nguyện chưa cao, chưa tương xứng trongmối quan hệ với BHXH bắt buộc; đầu tư của nhà nước đối với chính sách BHXH tự nguyệncòn hạn chế; chỉ đạo phát triển BHXH tự nguyện của một số lãnh đạo các địa phương cònchưa quyết liệt; và những sai phạm trong hệ thống BHXH làm suy giảm lòng tin của ngườidân vào chính sách BHXH Việc tìm ra các hạn chế mới giúp luận án xác định được phươnghướng, giải pháp hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện.
- Bên cạnh việc hệ thống các quan điểm của Đảng và Nhà nước về chínhsách BHXH tự nguyện, luận án đã đưa ra năm quan điểm làm cơ sở để đề xuất các giảipháp Các quan điểm của luận án về chính sách BHXH tự nguyện bao gồm: chính sáchBHXH cần được thực hiện trên nguyên tắc tham gia BHXH vừa là quyền lợi vừa là tráchnhiệm của NLĐ; nâng cao vai trò và vị thế của chính sách BHXH tự nguyện; niềm tincủa người dân vào hệ thống BHXH là cơ sở quan trọng tác động đến thành công củachính sách BHXH tự nguyện; thực hiện nội dung chính sách BHXH tự nguyện phải dựatrên mức độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ; chính sách BHXH tự nguyệnphải đồng bộ và liên kết với chính sách xã hội khác
Luận án đã xác định các cơ hội và thách thức đối với việc thực hiện mụctiêu chính sách BHXH tự nguyện và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sáchBHXH tự nguyện ở Việt Nam Ngoài những giải pháp đã được các nghiên cứutrước đó công bố nhưng vẫn còn giá trị thực tiễn và khoa học đến thời điểm hiệnnay, luận án đã đề xuất các giải pháp mới có tính thực tiễn và khả thi cao như đềxuất bổ sung chế độ ốm đau và tai nạn lao động; đề xuất mức hỗ trợ mới chongười tham gia BHXH tự nguyện; huy động các nguồn lực ngoài nhà nước hỗ trợquỹ BHXH tự nguyện; đề xuất đưa việc tuyên truyền về chính sách BHXH tựnguyện vào trong chương trình học phổ thông; huy động sự tham gia của hệ thống
11
Trang 24chính trị trong thực hiện mục tiêu chính sách BHXH tự nguyện và liên kếtchính sách BHXH tự nguyện với các chính sách kinh tế - xã hội khác.
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Thứ nhất, luận án góp phần hoàn thiện về lý luận của chính sách BHXH
tự nguyện;
Thứ hai, luận án góp phần hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện, đềxuất những thay đổi cả về nội dung chính sách và thực thi chính sách, qua đóthực hiện mục tiêu mở rộng độ bao phủ của BHXH tự nguyện;
- Những đóng góp mới từ kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu thamkhảo cho các nhà quản lý của ngành và chính quyền địa phương ở Việt Nam về chínhsách BHXH tự nguyện Luận án cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu,giảng dạy về chính sách BHXH tự nguyện và xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách,pháp luật có liên quan
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án được kết cấu 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện
Chương 2: Cơ sở khoa học về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyệnChương 3: Thực trạng chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt NamChương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam
Trang 25CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH
BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1.1 Những nghiên cứu về chính sách bảo hiểm xã hội
1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Butler, Richard J (1999), The Economics of Social Insurance and Employee Benefits (Kinh tế của Bảo hiểm xã hội và Phúc lợi của Người lao động), Cuốn sách nghiên cứu về các khoản phúc lợi cho NLĐ, bao gồm: thứ
nhất, các khoản phúc lợi ngoài lương trả cho NLĐ do chính phủ ủy nhiệm như:bồi thường cho NLĐ, bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp ASXH; thứ hai,là nhữngphúc lợi do các công ty tự nguyện cung cấp như: chăm sóc y tế theo nhóm, trợcấp tàn tật, thời gian ốm đau được trả lương, trợ cấp hưu trí, bảo hiểm nhân thọ
và các loại phúc lợi khác Cuốn sách được chia thành ba phần Phần một giớithiệu ngắn gọn các chương trình phúc lợi này và thảo luận một số khái niệmkinh tế và bảo hiểm hữu ích trong cả việc đánh giá các chương trình hiện tạicũng như hiểu được những thay đổi có thể có ý nghĩa gì đối với chi phí và lợiích trong tương lai Hai phần tiếp theo của cuốn sách lần lượt đề cập đến cácchương trình BHXH và các phúc lợi do người sử dụng lao động cung cấp
Bài viết của Marcelo, B., & Guillermo, C (2014), Work and tax evasion incentive effects of social insurance programs: Evidence from an employment- based benefit extension (Tác động khuyến khích việc làm và trốn thuế của các chương trình bảo hiểm xã hội: Bằng chứng từ việc mở rộng phúc lợi dựa trên việc làm), Bài viết này nghiên cứu cách các chương trình BHXH hình thành các động
lực khuyến khích cá nhân tiếp nhận việc làm đã đăng ký và báo cáo thu nhập cho
cơ quan thuế Phân tích dựa trên một cuộc cải cách BHXH ở Uruguay đã mở rộngphạm vi bảo hiểm y tế cho trẻ em phụ thuộc của những NLĐ trong khu vực tưnhân đã đăng ký Chiến lược xác định dựa trên sự so sánh giữa các cá nhân có trẻ
em phụ thuộc và không có trẻ em phụ thuộc trước và sau khi cải cách Cuộc cảicách đã làm tăng số việc làm đăng ký đủ điều kiện hưởng lợi lên, nhưng chủ yếu
là do sự gia tăng lực lượng lao động tham gia mới thay vì chuyển từ việc làm chưa
Trang 26đăng ký sang việc làm đã đăng ký của NLĐ Sự thay đổi lớn hơn đối với cácnhóm các cha mẹ có con nhỏ và những người trưởng thành sống chung Cuốicùng, cải cách đã làm tăng tỷ lệ báo cáo thu nhập được trả lương cao hơn 25% sovới mức trước cải cách, chủ yếu đối với NLĐ làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ.
ILO (2015), Extending the social security coverage for farmers in the Republic of Moldova: findings and recommendations based on the social security assessment survey (Mở rộng phạm vi bảo hiểm ASXH cho nông dân ở Cộng hòa Moldova: các phát hiện và khuyến nghị dựa trên khảo sát đánh giá ASXH) Các
chính sách và chiến lược hiệu quả để mở rộng phạm vi bao phủ ASXH cho nôngdân phải dựa trên phân tích sâu về các nhóm đối tượng, và đánh giá nhu cầuASXH của họ và các dịch vụ hiện có cho họ Để đạt được mục tiêu này, một cuộcđiều tra đánh giá ASXH đã được thực hiện vào tháng 11 năm 2015 để thu thập dữliệu cơ bản về điều kiện sống, cơ cấu thu nhập hộ gia đình và hiện trạng bao phủASXH của nông dân Modoval Báo cáo này tập trung vào các nội dung: rà soátcác chính sách ASXH hiện có và các chính sách thuế liên quan cho nông dân;trình bày những kết quả chính của cuộc điều tra thống kê cũng như các cuộc thảoluận nhóm tập trung; tóm tắt các vấn đề chính trong việc mở rộng bao phủ ASXHcho nông dân và thảo luận về các hàm ý chính sách của họ
Bài viết Ben Braham Mehdi (2016), Pension Systems Contribution Determinants: a Cross Sectional Analysis on Tunisia (Các yếu tố quyết định sự đóng góp của hệ thống lương hưu: một phân tích cắt ngang về Tunisia) Bài báo
này trình bày một phân tích về bảo hiểm lương hưu dựa trên mật độ đóng góp.Cách tiếp cận này được luận giải bởi thực tế là tỷ lệ bao phủ không cho thấy dấuhiệu rõ ràng về đóng góp hiệu quả và đặc biệt không thể giải thích mức lương hưuthấp trong khu vực tư nhân được quan sát ở nhiều nước đang phát triển Sau khitính toán tỷ trọng đóng góp của lao động khu vực tư nhân ở Tunisia, một phân tíchkinh tế lượng dựa trên dữ liệu hành chính xác định các yếu tố quyết định tỷ lệ này.Kết quả cho thấy tỷ trọng đóng góp của các nhóm dễ bị tổn thương nhất là rất thấp
so với những NLĐ khác Phụ nữ có nhiều khả năng đóng góp vào hệ thống lươnghưu hơn và mật độ đóng góp giảm theo quy mô doanh nghiệp
Trang 27Ngân hàng phát triển châu Á, Krzysztof Hagemejer (2018), Financing the Social Protection Agenda of the Sustainable Development Goals (Tài trợ cho
Chương trình Bảo trợ Xã hội của các Mục tiêu Phát triển Bền vững) chương 7
Mở rộng phạm vi bảo hiểm thông qua BHXH có đóng góp hoặc các chương trìnhđóng góp khác đang hấp dẫn các chính phủ vì đây là con đường tiềm năng để huyđộng các nguồn lực mới và tạo ra không gian tài chính mới Tuy nhiên, việc mởrộng này có những giới hạn như: chỉ áp dụng đối với những người trong thị trườnglao động có tình trạng việc làm với mức độ chính thức cao, thu nhập cao hơn đáng
kể mức đủ sống và được nhận thường xuyên Hệ thống quản trị cũng được yêu cầu
có đủ năng lực để thường xuyên thu nhập thông tin của những người được bảohiểm và thu thập các khoản đóng góp một cách hiệu quả Ấn phẩm này phân tíchtiềm năng của BHXH (còn gọi là bảo trợ xã hội có đóng góp) ở 16 quốc gia châu
Á được đánh giá để lấp đầy những khoảng trống về bảo vệ và bao phủ trong anninh thu nhập Nội dung nghiên cứu của chương này tập trung vào lương hưu,nhưng cũng xem xét các phúc lợi khác tạm thời thay thế thu nhập của lao động bịmất do các sự kiện như ốm đau (có liên quan đến việc làm hay không), thai sản vàthất nghiệp Do cấu trúc thị trường lao động hiện tại quyết định phần lớn cơ hội
mở rộng phạm vi bảo hiểm, nên chương này cũng xem xét các đặc điểm của thịtrường lao động và phân tích mức độ bao phủ theo các hình thức BHXH khácnhau và đánh giá tiềm năng mở rộng Phân tích cho thấy rằng, mặc dù nỗ lực mởrộng tỷ lệ bao phủ của BHXH có thể mang lại hiệu quả ở một số quốc gia trong cảviệc giảm nghèo và huy động thêm nguồn lực, nhưng hầu hết các khoảng cáchhiện nay sẽ phải được lấp đầy bằng các can thiệp không phân bổ Nguyên nhân bắtnguồn từ cấu trúc thị trường LĐPCT đang thịnh hành và khoảng thời gian ba hoặcbốn thập kỷ từ khi bắt đầu các chương trình hưu trí tuổi già có đóng góp đến thờiđiểm những người hưu trí đầu tiên có thể nghỉ hưu với các khoản trợ cấp hưu trítương xứng Việc lấp đầy khoảng cách bảo vệ trong an ninh thu nhập ở tuổi giàvào năm 2030 sẽ đòi hỏi phải mở rộng lương hưu không phân bổ ở mọi nơi
Trang 281.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Luận án tiến sỹ kinh tế “Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Chính, đại học Kinh tế Quốc dân,
2010[51] Theo luận án cần có quan điểm toàn diện về hệ thống tổ chức chi trảBHXH, đồng thời phải vận dụng kinh nghiệm của nước ngoài Luận án đã đưa raquan điểm: Thứ nhất: Hệ thống tổ chức chi trả BHXH là một hệ thống các bộphận có liên quan với nhau, cùng phối hợp để giải quyết quyền lợi được hưởngBHXH của NLĐ và gia đình họ khi có rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra đối vớiNLĐ Thứ hai: Các mối quan hệ của hệ thống tổ chức chi trả BHXH bao gồm:quan hệ cùng cấp, quan hệ trên dưới, quan hệ khác (với kho bạc, ngân hàng); qua
đó, luận án đã khái quát mô hình tổ chức chi trả BHXH Thứ ba: luận án đã rút ra
5 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong công tác tổ chức và hoạt động chi trảcác chế độ BHXH Trên cơ sở đó, luận án đã đề xuất đồng bộ các giải pháp nhằmgiúp cơ quan BHXH thực thi có hiệu quả chính sách BHXH, hoàn thiện hệ thống
tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam
Luận án tiến sỹ kinh tế “Hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam” của
Phạm Trường Giang, trường đại học Kinh tế Quốc dân năm 2010[62] Luận ánnày tập trung nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế thuBHXH ở Việt Nam, giới hạn ở hai vấn đề chính là: cách thức phối hợp giữa các
bộ phận trong hệ thống thu BHXH và các quy định trong thu BHXH Luận án đãnghiên cứu bài học kinh nghiệm trong thực hiện thu BHXH ở một số nước nhưTrung Quốc, Philipin, CHLB Đức và rút ra được 7 bài học kinh nghiệm cho ViệtNam trong hoàn thiện cơ chế thu là: (1)Tỷ lệ đóng góp vào quỹ BHXH nên cânđối, hài hòa giữa NLĐ và người sử dụng lao động, (2)Thường xuyên cân đối quyđịnh về thu BHXH trong cả dài hạn và ngắn hạn, (3)Phân cấp thu BHXH ở một sốđịa phương đặc thù, (4) Kiện toàn, sắp xếp một số bộ phận nhằm mục đích thanhtra, kiểm tra quá trình thu nộp BHXH, (5)Phát triển dịch vụ thu BHXH qua cáckênh ngân hàng, bưu điện, (6)Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và cảicách hành chính trong thu BHXH và (7) Nghiên cứu việc sử dụng mã số cá nhâncho các đối tượng tham gia BHXH Trên cơ sở phân tích, đánh giá kết quả của
Trang 29hoạt động, cơ chế thu phí BHXH luận án đề ra các giải pháp và khuyến nghị đểhoàn thiện cơ chế thu BHXH là: 1) Hoàn thiện cơ chế, quy định về thu BHXHnhư quy định tỷ lệ đóng phí hài hòa, hợp lý; tăng cường cơ chế phối hợp củaBHXH Việt Nam với các cơ quan LĐ-TB&XH, cơ quan thuế, tòa án 2) Tăngcường quan hệ công chúng trong hoạt động của cơ quan BHXH với báo chí,với người tham gia BHXH và với xã hội 3) Tăng cường thanh tra, kiểm tra vàgiám sát hoạt động thu nộp phí 4) Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin
và cải cách hành chính trong lĩnh vực BHXH Các khuyến nghị chủ yếu là đốivới Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ Bộ LĐ-TB&XH và tổchức công đoàn, tập trung vào việc sửa đổi các quy định của Luật BHXH, cơchế chính sách thuận tiện và khoa học cho hoạt động của cơ quan BHXH
Luận án tiến sỹ kinh tế “Đảm bảo tài chính cho BHXH Việt Nam” của
Nguyễn Thị Hào, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2015 [67] Luận án đãđưa ra khái niệm đảm bảo tài chính cho BHXH dưới góc độ kinh tế chính trị học
và luận giải nội dung đảm bảo tài chính cho BHXH bao gồm các vấn đề: đảm bảothu; đảm bảo chi; đảm bảo duy trì sự cân đối và ốn định quỹ BHXH trong dài hạn;đảm bảo sự công bằng đối với các đối tượng tham gia BHXH Luận án đã đưa ra
hệ thống các tiêu chí đánh giá đảm bảo tài chính cho BHXH Luận án đã làm rõnhững kết quả và những hạn chế về đảm bảo tài chính cho BHXH Việt Nam,nguyên nhân của những kết quả, hạn chế Từ đó, đề xuất các giải pháp: tăngcường vai trò của Nhà nước đối với BHXH; phát triển rộng rãi loại hình BHXH tựnguyện, tạo điều kiện để mọi người dân thuộc mọi thành phần kinh tế đều đượctham gia; thực hiện cải cách trong chính sách BHXH như: quy định lại căn cứđóng, mức đóng, mức hưởng, điều kiện hưởng các chế độ BHXH; cải cách cáchtính lương hưu; tăng tuổi nghỉ hưu; xây dựng chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sungbằng tài khoản cá nhân Luận án cũng cho rằng BHXH theo mô hình kinh tế thịtrường có đóng, có hưởng và có sự tham gia của Nhà nước là mô hình BHXH phùhợp với nước ta, trong thời gian tới cần nghiên cứu và chuyển dần mô hình đónghưởng với mức hưởng xác định (PAYG) sang hệ thống BHXH theo chương trìnhtài khoản cá nhân danh nghĩa dựa trên mức đóng xác định
Trang 30Luận án tiến sỹ “Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam” của Hoàng Minh Tuấn, đại học Kinh tế Quốc dân
năm 2018[108] Luận án này nghiên cứu những nhân tố tác động đến công tácQLNN về BHXH trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đó và có bổ sung cácnhân tố ảnh hưởng mới Tác giả chỉ ra có 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến công tácQLNN về BHXH là nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài Tác giảcũng đã lựa chọn và sắp xếp các nhân tố đó theo thứ tự giảm dần như sau: trình
độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong công tác QLNN về BHXH, cảicách hành chính trong BHXH, sự phát triển hệ thống chính sách ASXH, nhu cầu,nhận thức của người dân về BHXH, sự phát triển của chính sách bảo hiểm thươngmại, cơ sở vật chất,tài chính của đơn vị Dựa trên phương pháp phân tích nhân tố(Exploratory Factor Analysis -EFA) của Hair & ctg luận án đã đề xuất hoàn thiện
mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến từng nội dung QLNN: hoạch địnhchính sách; xây dựng hệ thống pháp luật; xây dựng cơ chế tài chính; hỗ trợ, bảotrợ của nhà nước; thanh tra, kiểm tra và tác động hoạt động QLNN về BHXH
Đề tài khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính và đổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực BHXH ” do Nguyễn Duy Cường
là chủ nhiệm, Vụ BHXH, Bộ LĐ-TB&XH năm 2017 [52] Đề tài đã tìm hiểu và
hệ thống các khái niệm cơ bản trong lĩnh vực BHXH; các nhóm nhân tố tác độngđến cải cách hành chính và cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực BHXH; các tiêuchí chủ yếu để đánh giá dịch vụ công trong lĩnh vực BHXH Đề tài tập trung phântích thực trạng cải cách thủ tục hành chính về cung cấp dịch vụ công trong lĩnhvực BHXH, trong đó chỉ ra hai nhóm công việc chính là: (1) Rà soát, đơn giản hóathủ tục, hồ sơ, các chỉ tiêu, biểu mẫu và quy trình nghiệp vụ, (2) Đẩy mạnh ứngdụng công nghệ thông tin trong quản lý, thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vựcBHXH Từ đó, đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế, nguyên nhân trongđổi mới cơ chế cung cấp dịch vụ công của ngành BHXH Đó là những cơ sở để đề
ra các 3 giải pháp của đề tài, (1) Nhóm giải pháp về hoàn thiện thể chế, (2) Nhómgiải pháp về cải cách thủ tục hành chính, (3) Nhóm giải pháp đổi mới cơ chế cungcấp dịch vụ công gồm dịch vụ đóng BHXH, dịch vụ hưởng BHXH, dịch vụ tuyên
Trang 31truyền, phổ biến, giáo dục, tư vấn chính sách về BHXH; đồng thời đề tài cũng
đã đề xuất lộ trình cụ thể để thực hiện các giải pháp hướng tới mục tiêu đặt ra
Bài viết, “Hướng tới APEC 2017: Bàn về mở rộng diện bao phủ nhằm phát triển bền vững bảo hiểm xã hội Việt Nam giai đoạn 2020 -2030” của Nguyễn Hữu
Dũng, Ấn phẩm Khoa học Lao động và Xã hội, số 5/quý 2/2017 [57] Tác giả bàn
về mở rộng diện bao phủ của BHXH và các khoảng trống chính sách trong tổchức thực hiện Theo đó, xu hướng chung là diện bao phủ BHXH tăng liên tục quacác năm, số người tham gia BHXH bắt buộc tăng nhưng đối tượng tham giaBHXH tự nguyện thì tăng ít Khoảng trống chính sách là Nhà nước chưa có chínhsách hưu trí xã hội tiếp cận dựa trên quyền đảm bảo ASXH cho người cao tuổitheo hướng phổ quát; lao động nông nghiệp, khu vực phi kết cấu có nhu cầu thamgia lớn nhưng khả năng tham gia lại rất thấp, chưa có chính sách của Nhà nước để
hỗ trợ họ tham gia, BHXH tự nguyện thiếu chế độ ngắn hạn; Chính sách hưởngBHXH một lần khá dễ dàng Các giải pháp được đưa ra là cải cách chính sáchBHXH theo hướng đa tầng; giảm thời gian đóng BHXH để được hưởng lươnghưu từ 20 năm xuống 10 năm; chia đều tỷ lệ đóng giữa NLĐ và người sử dụng laođộng Về tổ chức thực hiện, các giải pháp chủ yếu là đẩy mạnh truyền thông vềchính sách BHXH; giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH cho từng địaphương; đơn giản hóa quy trình, thủ tục, hồ sơ tham gia; liên kết chặt chẽ cơ quanthuế và BHXH trong việc xác định và giám sát nguồn thu nhập của lao động trongdoanh nghiệp tham gia BHXH
Bài viết “ASXH ở Việt Nam trong bối cảnh mới” của Mạc Văn Tiến, Ấn
phẩm Khoa học Lao động và Xã hội, số 51, quý 2/2017 [96] Bài viết đề cậpđến vấn đề ASXH trước những thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp4.0 từ quan điểm coi ASXH là một khoản đầu tư vào con người và vào sự pháttriển kinh tế - xã hội lâu dài và sự đầu tư này được tiếp cận từ khía cạnh quyền
và sự được tiếp cận Tác giả bài viết chỉ ra thực trạng các cơ quan chức năngvẫn đang loay hoay với vấn đề mở rộng đối tượng tham gia BHXH nhưng lạikhông quan tâm tìm hiểu đúng mức nhu cầu của người lao động; hệ thốngBHXH vẫn chưa tiếp cận NLĐ từ khía cạnh đảm bảo quyền của NLĐ
Trang 32Luận án “Quản lý thu BHXH ở Việt Nam” của Phạm Minh Việt, Học viện
Tài chính Luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống về BHXH, quỹ BHXH vàquản lý thu BHXH [115] Luận án sử dụng cơ sở lý thuyết, thực tiễn để phân tích,đánh giá thực trạng quản lý thu BHXH ở Việt Nam giai đoạn 2007-2017 Trên cơ
sở đó, luận án đã đưa ra những đánh giá về thực trạng nghiên cứu trên các mặt: kếtquả đạt được, những hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế Từ đó đềxuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu BHXH ở Việt Nam gồm cácnhóm giải pháp: Mở rộng, phát triển đối tượng tham gia BHXH; Hoàn thiện căn
cứ đảm bảo đóng BHXH; Quản lý tổ chức thu BHXH; Hạn chế rủi ro thu BHXH;Tăng cường hiệu quả thanh tra, kiểm tra thu BHXH Bên cạnh đó, luận án còn đềxuất nhóm giải pháp: Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhậnthức và tuân thủ pháp luật BHXH; Kiện toàn, nâng cao hiệu quả hệ thống tổ chức
bộ máy BHXH các cấp; Tổ chức thu BHXH qua cơ quan thuế; Ứng dụng côngnghệ thông tin và cải cách hành chính; Phát triển mô hình tính toán cân đối quỹBHXH nhằm đảm bảo tài chính BHXH bền vững; Tăng cường quan hệ côngchúng và hợp tác quốc tế vào hoạt động BHXH
Nguyễn Hữu Dũng, Chính sách BHXH đối với NLĐ: Thực trạng và định hướng cải cách, Tạp chí Cộng sản, 6/2018 [56] Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống ASXH,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định xã hội, góp phần pháttriển bền vững đất nước Ở Việt Nam, trải qua nhiều giai đoạn cải cách chínhsách BHXH, nhất là từ sau khi khi Bộ luật Lao động, Luật BHXH có hiệu lực,việc thực thi chính sách BHXH đối với NLĐ đã đạt được những kết quả nhấtđịnh Tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục được cải cách trong thờigian tới để đạt mục tiêu phát triển hệ thống BHXH đa tầng, linh hoạt, hiện đại,bền vững và tiếp cận chuẩn mức quốc tế, theo nguyên tắc đóng - hưởng, có sựchia sẻ, gắn kết trong tổng thể hệ thống ASXH, tiến tới thực hiện BHXH toàndân theo hướng tiếp cận quyền “Công dân có quyền được bảo đảm ASXH”
Bài viết “Cải cách chính sách BHXH hướng tới bao phủ toàn dân” của
Nguyễn Mậu Quyết, Tạp chí Cộng sản, 8/2018 [89] Bảo đảm ASXH, thúc đẩy
Trang 33tiến bộ và công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực đối với sự pháttriển bền vững của một đất nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của một chế độ xãhội Trong đó, chính sách BHXH luôn được coi là trụ cột của hệ thống ASXH.Bài viết trình bày về quá trình hoàn thiện chính sách BHXH ở nước ta đểhướng tới bao phủ toàn dân, thực trạng thực thi chính sách BHXH và giải phápnhằm phủ rộng BHXH đến mọi người.
1.2 Những nghiên cứu về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện
1.2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Ấn phẩm “Pension Systems for the Informal Sector in Asia” (Hệ thống lương hưu cho khu vực phi chính thức ở châu Á) của Landis MacKellar, World
Bank năm 2009 [123] Bài viết tập trung nghiên cứu những kinh nghiệm của cácquốc gia châu Á trong việc mở rộng độ bao phủ của hệ thống lương hưu cho NLĐtrong khu vực không chính thức Nghiên cứu cho rằng cung cấp hệ thống giảipháp nhanh chóng của các chính phủ để ứng phó già hóa dân số là cần thiết đểchống lại các nguy cơ nghèo ở tuổi già Điều này đặc biệt nguy cấp đối với NLĐkhu vực phi chính thức, vì những khó khăn trong việc tiếp cận họ thông qua cáchtiếp cận lương hưu chính thức của khu vực truyền thống Từ việc phân tích cáctrường hợp khác nhau nghiên cứu kết luận rằng việc mở rộng độ bao phủ choNLĐ khu vực phi chính thức thông qua hệ thống bắt buộc không hiệu quả Vì vậy
sự chuẩn bị hệ thống tự nguyện là cần thiết Tuy nhiên, các công nhân khu vực phichính thức có khả năng tiết kiệm thấp hơn và tỷ lệ chi trả cao cho nên các khoảntrợ cấp có mục tiêu có thể được yêu cầu để khuyến khích sự tham gia của lao độngkhu vực phi chính thức Ấn phẩm thảo luận về một số vấn đề liên quan đến thiết
kế của các chương trình này - bao gồm các vấn đề liên quan đến quản lý và tậphợp các đóng góp Trong mọi trường hợp, phải giải quyết được các khó khăn giữaviệc chuyển đổi từ hệ thống lương hưu chính thức và hệ thống lương hưu phichính thức để ngăn chặn đói nghèo ở tuổi già và đảm bảo các chi tiêu trong cácchương trình xã hội khác
Clement Joubert, Pension design with a large informal labor market: Evidence from Chile, (Thiết kế lương hưu với một thị trường LĐPCT rộng, bằng
Trang 34chứng từ Chile),2014 [118] Một phần ba hoạt động kinh tế trên thế giới là ở trong
khu vực phi chính thức Chúng được các cơ quan công quyền che giấu để tránhcác khoản đóng góp và các khoản thuế Một hệ thống phi chính thức lớn là mộtthách thức to lớn đối với việc thiết kế các hệ thống lương hưu, điều đó có nghĩa lànguồn thu thuế và đóng góp vào hệ thống hưu trí thấp hơn, sự phụ thuộc vào mạnglưới an toàn đắt đỏ của người già tăng cao hơn Tài liệu mô tả sự chuyển đổi môhình lương hưu từ khu vực công sang hệ thống lương hưu tư nhân, từ mô hìnhPAYG (người đang tham gia BHXH đóng để cho thế hệ trước hưởng lương hưu)sang mô hình tài khoản cá nhân của hệ thống BHXH Chile Tài liệu điều tra vàtìm ra các bằng chứng định lượng để thấy các đóng góp trong khu vực chính thứclàm giảm sự hấp dẫn của việc làm chính thức và ngược lại khu vực phi chính thứctrở thành một lựa chọn của NLĐ để tránh các nghĩa vụ đóng góp
Workers in the informal sector and contributory social insurance schemes
—the case of Tanzania (Công nhân trong khu vực phi chính thức và bảo hiểm xã hội có đóng góp – trường hợp của Tanzania) của Flora Myamba, IPC-UNDP,
9/2017 [121] Trong các thập kỷ qua thế giới đã chứng kiến nỗ lực của các quốcgia trong việc mở rộng độ bao phủ của BHXH cho khu vực phi chính thức trong
đó có các nước Châu Phi cận Sahara, cụ thể là trường hợp Tanzania Trong nămnăm, tất cả các hệ thống lương hưu đóng góp cho NLĐ khu vực phi chính thứcđều được mở rộng thông qua đóng góp tự nguyện của NLĐ Tuy nhiên, bất chấpcác nỗ lực, độ bao phủ của BHXH cho khu vực phi chính thức vẫn rất thấp Mộttrong những lý do là do NLĐ thiếu hụt kiến thức về hệ thống bảo hiểm đóng góp
tự nguyện Bên cạnh đó, do các nguy cơ về nghèo và thậm chí là đói, rất nhiều laođộng trong khu vực chính thức và phi chính thức đều có xu hướng rút tiền từ quỹBHXH khi cần Những nước Châu Phi cận Sahara cần phát triển bền vững và xâydựng một cơ chế tài chính quốc gia cụ thể, thậm chí phải chịu thêm các gánh nặng
về đóng góp, ngoài ra, phải có một chiến lược thuế và nguồn thu ngân sách tốthơn Bảo vệ xã hội là quyền của tất cả NLĐ và phải được cung cấp cả trong ngắn
và dài hạn cho tất cả người dân
Trang 35Asian Economic and Social Society, “Factors influencing informal sector workers’ contribution to pension scheme in the Tamale Metropolis of Ghana”(Những nhân tố ảnh hưởng đến đóng góp của LĐPCT vào hệ thống lương hưu ở thành phố Tamale Metropolis của Ghana), 2015 [117] Bảo trợ xã hội là
một cơ chế thiết yếu để xóa đói giảm nghèo bền vững Một trong những công cụcủa bảo trợ xã hội là chương trình lương hưu không chính thức Nghiên cứu nàyxác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của NLĐ không chính thức trongchương trình lương hưu cũng như mức đóng góp của họ Phân tích dữ liệu thuthập được từ 150 công nhân khu vực phi chính thức ở đô thị Tamale cho kết quảnghiên cứu là người cao tuổi, người độc thân, những người có thu nhập cao, cótrình độ cao và có thu nhập cao có khả năng đóng góp cao hơn vào chương trìnhlương hưu không chính thức Tương tự như vậy, các nhà giao dịch, nghệ nhân,người có trình độ học vấn cao, lao động làm chủ đóng góp cao hơn hàng tháng.Mặc dù lao động khu vực phi chính thức nói chung nên được khuyến khích duy trìlâu dài các chương trình lương hưu, nhưng nông dân nói riêng cần phải được đặcbiệt quan tâm hơn Để khôi phục niềm tin của NLĐ và đảm bảo sự duy trì củachương trình hưu trí, giáo dục công phải được tăng cường
Yu-Wei Hu and Fiona Stewart, OECD, “Pension Coverage and Informal Sector Workers, International experiences” (Độ bao phủ lương hưu và công nhân khu vực phi chính thức, kinh nghiệm quốc tế), năm 2009 [124] Cải cách hưu trí
trên toàn thế giới trong những thập kỷ gần đây tập trung chủ yếu vào lĩnh vựcchính thức Do đó, nhiều người làm việc trong khu vực phi chính thức đã bị loại rakhỏi hệ thống lương hưu có cấu trúc, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Tuynhiên, gần đây, cả cộng đồng quốc tế và các chính phủ đã nhận ra tầm quan trọng
và cấp bách của việc mở rộng hệ thống lương hưu cho khu vực phi chính thức vànhững nỗ lực của các quốc gia đã làm cho độ bao phủ của BHXH tự nguyện trongkhu vực phi chính thức có sự tăng trưởng nổi bật Bài viết đã cung cấp tổng quan
về trải nghiệm của các quốc gia trong lĩnh vực này và cung cấp một số đề xuất chochính phủ ở các nước đang phát triển khi xem xét triển khai cải cách lương hưu đểđảm bảo rằng các công nhân khu vực phi chính thức nhận được thu nhập hưu trí
Trang 36mà họ cần Các giải pháp chủ yếu bao gồm: mở rộng độ bao phủ của lươnghưu không có đóng góp (Nam Phi); Điều chỉnh lương hưu có đóng góp chokhu vực phi chính thức theo hướng giảm tỷ lệ đóng góp, đóng góp linh hoạtdựa trên tình hình thu nhập, giảm thuế với các khoản đóng góp lương hưu(Chile); Tăng cường giáo dục nói chung và giáo dục các kỹ năng tài chính nóiriêng vì tình trạng không có thông tin về lương hưu phổ biến ở rất nhiều nước
và NLĐ không tham gia BHXH vì không có các kỹ năng tài chính; Bán cưỡngchế (Semi-compulsion) tham gia bắt buộc vào hệ thống hưu trí
African Economic Conference ,“Auto-enrolment of informal sector workers
in pension scheme to strengthen the regional integration in EAC Case of Rwanda, (Tự động đăng ký của công nhân khu vực phi chính thức vào hệ thống lương hưu
để củng cố hội nhập khu vực Trường hợp Rwanda ), 2013 [116] Rwanda là nước
có thu nhập thấp và đã thực hiện các cải cách kinh tế xã hội trong mười năm đểgiảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, trở thành một nước có thu nhập trung bình vàonăm 2020, GDP bình quân đầu người 1240 USD, trong đó chỉ 20% dân số nằmdưới mức nghèo khổ Để đạt được những mục tiêu này, chính phủ cần cung cấpASXH cho tất cả dân cư của mình Năm 2009, Chính phủ Rwanda đã nhận thứcđược tỷ lệ bao phủ của lương hưu thấp, và quyết định thông qua một chính sáchASXH quốc gia để giải quyết vấn đề này Theo đó, vấn đề quan trọng nhất trongASXH ở Rwanda là phạm vi bao phủ của bảo hiểm nhỏ, đặc biệt là các chươngtrình bảo hiểm hưu trí và rủi ro nghề nghiệp là một đặc quyền của NLĐ trong khuvực chính thức, hơn 90% dân số hoạt động bị loại trừ khỏi việc hưởng lợi từquyền cơ bản của họ Định hướng chính sách là tăng cường các biện pháp tăng độbao phủ của các chương trình cho tất cả các công nhân trong khu vực chính thức,người tự làm chủ và NLĐ trong khu vực phi chính thức Chính sách cho rằng cácchương trình chuyên sâu và các ưu đãi thích hợp sẽ thúc đẩy sự gia nhập của tốithiểu 70% lao động khu vực không chính thức ở thành thị và nông thôn, tức làphần dân số sống ở trên chuẩn nghèo Nghiên cứu thảo luận các chiến lược có thểthực hiện để mở rộng chương trình lương hưu bảo hiểm cho khu vực phi chínhthức để tăng cường hội nhập khu vực trong EAC Các
Trang 37giải pháp chính là đăng ký tham gia tự động và thanh toán trước các khoản đóng góp bằng điện thoại di động.
“Extension of Social Protection”(Sự mở rộng của bảo vệ xã hội) ILO
[122] Trong khi các chương trình BHXH đã được thiết lập ban đầu cho việc làmchính thức,các nhà lập pháp đã mở rộng phạm vi bảo hiểm của họ ở giai đoạn sau trong một
số trường hợp bằng cách đưa các doanh nghiệp nhỏ và các loại lao động tự làm vào đốitượng bao phủ của BHXH Tuy nhiên, cho đến nay mục tiêu nhiều nhóm dân số hoạt độngkinh tế tham gia BHXH hơn vẫn chỉ thành công ở một số quốc gia Nỗ lực mở rộng phạm viBHXH đã thành công khi có sự thay đổi của các nội dung như lợi ích, đóng góp và tổ chứchoạt động đối với một số loại công nhân trong khu vực kinh tế phi chính thức, bao gồm: chophép người hưởng lợi lựa chọn có liên kết với tất cả các chi nhánh hay không theo nhu cầu
và khả năng đóng góp của họ; các khoản đóng góp linh hoạt hơn để tính vào thu nhập của tàikhoản hoặc doanh thu theo mùa (đối với công nhân nông nghiệp); giới thiệu các cơ chế cụthể để xác định mức đóng góp cho nhân viên và công nhân tự làm chủ nơi thu nhập thực sựkhó khăn; giảm chi phí đăng ký; và cung cấp các đại lý quy mô nhỏ; đơn giản về cả đăng ký
và tuân thủ nghĩa vụ thuế
“Extending social insurance to informal workers - A gender analysis” (Mở rộng bảo hiểm xã hội cho lao động khu vực phi chính thức – Một phân tích giới) của Rebecca Holmes and Lucy Scott năm 2016 [119] NLĐ không chính
thức phải đối mặt với mức độ rủi ro cao nhưng đa số không được bao phủ bởiBHXH Trong khi đó, lao động nữ không chính thức phải đối mặt với các rủi rocao trong thị trường lao động và trong suốt vòng đời, vẫn còn nhiều phụ nữ hơn sovới nam giới bị loại trừ khỏi các chương trình bảo hiểm Mặc dù, ngày càng nhiềucác quốc gia mở rộng BHXH cho những NLĐ không chính thức, nhưng trừ một
số trường hợp ngoại lệ còn hầu hết các chính sách vẫn bị “mù quáng giới” Tuynhiên, những cải cách đáp ứng giới có thể đảm bảo tăng độ bao phủ của phụ nữ đểgiải quyết những rủi ro họ phải đối mặt là: pháp luật trong thị trường lao động;công nhận nền kinh tế chăm sóc; thiết kế chính sách sáng tạo trong các tùy chọn
25
Trang 38thanh toán và quy trình quản trị đơn giản và đầu tư vào khả năng phân phối
“nhạy cảm giới”
“Expanding Social Insurance Coverage to Informal Workers” (Mở rộng
độ bao phủ bảo hiểm xã hội cho lao động khu vực phi chính thức) của Hernan
Winkler, Elizabeth Ruppert Bulmer and Hilma Mote, World Bank, 2017 [120].Những ảnh hưởng lớn của khu vực không chính thức ở nhiều nước đang phát triển
là rất nhiều lao động không được bao phủ để chống lại các nguy cơ lớn như thấtnghiệp, ốm đau và tuổi già Hệ thống Bismarckian đã được giới thiệu với nhiềuchương trình BHXH không chính thức, không đóng góp để mở rộng phạm
vi bảo hiểm Tuy nhiên, nó không chắc chắn và bền vững về mặt tài chính Tàiliệu này đã xem xét các tài liệu kinh tế về việc mở rộng các chương trình BHXH và tómtắt những hiểu biết chính sách chính dựa trên những bằng chứng quốc tế về BHXH và kếtquả ảnh hưởng đến độ bao phủ Những giải pháp quan trọng nhất để mở rộng BHXH làtruyền thông về BHXH; thiết kết hệ thống đóng – hưởng; hỗ trợ về thủ tục và tài chínhcho người tham gia; kiểm tra, giám sát và bắt buộc thực hiện
1.2.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Đề tài cấp Bộ “Những căn cứ để thể chế hóa các quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện” do Trần Thị Thúy Nga chủ nhiệm, Vụ BHXH, Bộ LĐ-TB&XH
năm 2006 [82] Bối cảnh của đề tài là khi Việt Nam chưa có những quy định cụthể về BHXH tự nguyện Đề tài đã nghiên cứu những căn cứ pháp lý và thực tiễn
để thể chế hóa các quy định về BHXH tự nguyện là Hiến pháp, Bộ Luật Lao động
và Luật BHXH ; các căn cứ thực tiễn là việc thực thi các mô hình quỹ “hưu nôngdân”, “hỗ trợ tuổi già” ở một số tỉnh của nước ta và chế độ BHXH tự nguyện đãđược thực hiện ở nhiều nước trên thế giới Vì vậy, việc phải có chế độ BHXH tựnguyện và yêu cầu phải thế chế hóa các quy định BHXH tự nguyện là cần thiết ởnước ta Đề tài khuyến nghị các nội dung cần thể chế hóa về chế độ BHXH tựnguyện ở nước ta là: đối tượng tham gia, khả năng thu hút; mức đóng và phươngthức đóng BHXH tự nguyện; chế độ và mức hưởng BHXH tự nguyện; quy địnhđối với người vừa có thời gian tham gia BHXH bắt buộc với thời gian tham gia
26
Trang 39BHXH tự nguyện; cơ chế quản lý quỹ BHXH tự nguyện; thủ tục thực hiệnBHXH tự nguyện.
Chuyên đề nghiên cứu “Mô hình thực hiện BHXH tự nguyện ở một số nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng ở Việt Nam” Viện
Khoa học BHXH năm 2010 [32] Chuyên đề nghiên cứu mô hình BHXH tựnguyện của một số nước trên thế giới như: Pháp, Trung Quốc, Philippine,Malaysia, Srilanka, Thái Lan và Miền nam Ấn Độ…và rút ra các nhận xét: (1)Phần lớn các quốc gia trên thế giới đều phát triển chế độ BHXH tự nguyện chođối tượng là người nông dân, lao động trong nông nghiệp, lao động tự do chưatham gia BHXH bắt buộc nhưng nhiều nước không loại trừ cả những người đãtham gia BHXH bắt buộc; (2) Chế độ được nhiều nước áp dụng nhất là hưu trí và
tử tuất, rất ít quốc gia lựa chọn thêm chế độ ngắn hạn như chăm sóc y tế, ốm đauhoặc tai nạn lao động; (3) Mức phí tham gia BHXH tự nguyện đa dạng và linhhoạt; (4) Vai trò bảo trợ và hỗ trợ của Nhà nước đối với quỹ BHXH tự nguyện làrất quan trọng; (5) Quỹ BHXH tự nguyện ở hầu hết các nước đều được phép đầu
tư vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro thấp; (6) Hai chế độ hưởng chủ yếu là trợ cấpxác định hoặc tài khoản cá nhân; (7) Quản lý BHXH tự nguyện có thể do Nhànước hoặc ở một số nước là do các tổ chức tư nhân quản lý Các bài học kinhnghiệm cho Việt Nam được rút ra là có thể xây dựng chính sách BHXH tự nguyện
có mức đóng – mức hưởng thấp hơn so với chế độ BHXH bắt buộc; cần có sự hỗtrợ của Nhà nước; muốn mở rộng chế độ BHXH tự nguyện thì phát triển kinh tế làđiều kiện tiền đề; coi BHXH tự nguyện thực sự là một dịch vụ công do đó ngườitham gia là khách hàng, phân loại đối tượng tham gia BHXH tự nguyện và có lộtrình trong việc triển khai đầy đủ các chế độ ngắn hạn cho người tham gia
Hanns Seidel Foundation, Viện Khoa học Lao động – Xã hội,” ASXH cho khu vực phi chính thức và NLĐ phi chính thức ở Việt Nam - Kết quả rà soát tài liệu và cơ sở dữ liệu” năm 2012 [64] Tài liệu này thực hiện rà soát các quy định
và các số liệu liên quan đến ASXH cho khu vực phi chính thức và NLĐ phi chínhthức ở Việt Nam trong đó BHXH tự nguyện là một nội dung Kết quả rà soát là(1) Các chế độ BHXH có nhiều tiềm năng mở rộng; (2) Cần đánh giá, điều chỉnh
Trang 40và cải thiện các chế độ BHXH tự nguyện, ví dụ: quy định phải đóng tối thiểu 20năm mới được hưởng lương hưu, nếu tham gia BHXH tự nguyện trong thời gianngắn thì tương quan giữa mức đóng và lợi nhuận thấp, không hấp dẫn người laođộng; (3) Xây dựng cách tiếp cận riêng hướng tới nhóm đối tượng cụ thể nhằm trợcấp cho người nghèo tham gia BHXH tự nguyện, tách họ ra khỏi nhóm khôngnghèo và tạo động lực cho nhóm dân cư không nghèo tham gia BHXH tự nguyện.
Bài viết “Phát triển bảo hiểm xã hội nhìn từ lực lượng lao động trẻ” của Nguyễn
Thị Thu Hương, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 6A, tháng 7/2018 [68] Tác giả đãnghiên cứu phát triển BHXH từ góc độ tiếp cận lực lượng lao động trẻ Trên cơ sởphân tích những đặc điểm về học vấn, việc làm và thu nhập của lao động trẻ tácgiả đã chỉ rõ việc mở rộng hệ thống BHXH tự nguyện cho lực lượng này là quantrọng Hai giải pháp chủ yếu được nêu ra là phải hỗ trợ cho lao động trẻ tham giaBHXH tự nguyện, tuy nhiên giải pháp quan trọng hơn là nâng cao nhận thức của
họ về BHXH và từ đó tạo ra “nếp văn hóa” tham gia BHXH cho họ
Sách chuyên khảo “ASXH đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Mai Ngọc Anh, NXB Chính trị Quốc gia năm 2010 [29] Tác giả
đã chỉ ra thực tế ASXH đối với nông dân Việt Nam là vấn đề hết sức quan trọng,ASXH đối với nông dân là ASXH cho khu vực phi chính thức nhưng hệ thốngluật pháp cho việc thực hiện ASXH cho nông dân vẫn còn nhiều bất cập và tínhnhất quán chưa cao Tác giả nhận định, điều kiện để thực hiện thành công mở rộngbao phủ BHXH tự nguyện đối với nông dân phải là nâng cao thu nhập của họthông qua các biện pháp xóa đói giảm nghèo và tăng cường giáo dục và đào tạo.Ngoài ra, quan điểm của tác giả là để xây dựng được hệ thống ASXH đối vớinông dân và duy trì được hoạt động của hệ thống thì trợ giúp từ phía Chính phủ làđòi hỏi bắt buộc Vì thu nhập bình quân của nông dân là 473.000/người/ tháng(2007) thì phần đông người nông dân Việt Nam không có khả năng tham giaBHXH tự nguyện Người nông dân có khả năng đóng góp 55,5% mức kinh phí vàmong muốn Nhà nước hỗ trợ 44,5% mức kinh phí tham gia BHXH tự nguyện, cònquan điểm của tác giả là Nhà nước nên hỗ trợ ở mức 40% kinh phí tham gia