Khái niệm về Quản lý Nhà nước - Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
PHAN THỊ XUÂN ĐÀO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG
TỪ THỰC TIỄN CỦA QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Hà Nội, năm 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
PHAN THỊ XUÂN ĐÀO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG
TỪ THỰC TIỄN CỦA QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS LÊ VĂN LONG
Hà Nội, năm 2021
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển vượt bậc Thành phố Hồ Chí Minh
đã trở thành Trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội lớn nhất đất nước, nơi đây tập trung rất nhiều các khu công nghiệp, khu chế xuất có quy mô với công suất hoạt động rất lớn và có đóng góp đáng kể vào GDP của cả nước
Với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được rất nhiều lao động từ các tỉnh thành trên cả nước tập trung về đây tìm kiếm cơ hội việc làm Chính điều này cũng đã kéo theo rất nhiều hệ lụy mà thành phố đang phải gánh chịu, đó là tình trạng bùng nổ dân số, an ninh trật tự, tệ nạn xã hội và một vấn đề mang tính thời sự hiện nay đó chính là vệ sinh ATTP
Thực phẩm là yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội, nó giúp con người
có thể tồn tại và phát triển, tuy nhiên nếu thực phẩm kém chất lượng có thể gây ra hàng loạt các tác động xấu đến sức khỏe và tính mạng của con người, ảnh hưởng đến sự phát triển của nòi giống trong tương lai, ngoài ra còn kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Cùng với sự gia tăng dân số thì nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng tăng lên, các nhà hàng, quán ăn, suất ăn lưu động lớn nhỏ mọc lên như nấm sau mưa nhưng chất lượng các mặt hàng thực phẩm thì lại không an toàn.Hàng năm trên địa bàn thành phố xảy ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm kém chất lượng gây nên
Tình trạng sản xuất, kinh doanh thực phẩm kém chất lượng xảy ra hầu hết các Quận/Huyện trên địa bàn thành phố, ý thức của người dân và của các chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm vẫn còn thấp, chưa nhận thức hết được hậu quả của việc sử dụng và buôn bán thực phẩm kém chất lượng Trong khi đó hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm của các cơ quan nhà nước vẫn chưa đem lại hiệu quả
An toàn thực phẩm trở thành đề tài nóng tại các diễn đàn, hội nghị, phiên họp quan trọng của Quốc hội, Chính phủ và trở thành vấn đề gây lo lắng, bức xúc trong quần chúng nhân dân Và liên hệ thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu, quận Gò Vấp được xem là quận đông dân đứng thứ 2 của Thành phố Hồ Chí Minh, nên số lượng thực phẩm tiêu thụhàng ngày tại địa bàn rất lớn, về chất lượng vệ sinh ATTP những
Trang 5năm gần đây cũng đang ở mức đáng báo động Mặc dù Ủy ban nhân dân quận đã ban hành các chủ trương, chính sách để cải thiện tình hình nhưng vẫn chưa khả thi Thực trạng trên cho thấy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện cả về
cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật về ATTP dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính nhằm đánh giá những ưu điểm, những hạn chế, vướng mắc, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả pháp luật về ATTP là rất cần thiết và khách quan, đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới
Nắm bắt được tình hình đó, học viên đã chọn đề tài:“Quản lý Nhà nước về An toàn thực phẩm đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống từ thực tiễn quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh” để làm Luận văn tốt nghiệp lớp Cao học Luật,
chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu hoạt động QLNN về an toàn vệ sinh thực phẩm đối với các cơ sở kinh doanh DVAU từ thực tiễn quận Gò Vấp Xem xét quá trình kinh doanh DVAU, vấn đề phát sinh trong quá trình kinh doanh thường gặp những trường hợp vi phạm nào về vệ sinh ATTP, đối tượng chịu trách nhiệm, cách thức kiểm tra, xử phạt trong quá trình QLNN trong lĩnh vực này
Đề xuất ưu điểm trong công tác quản lý, việc sử dụng các văn bản quy phạm pháp luật mang tính chế tài, răn đe nhằm hướng các dịch vụ kinh doanh văn minh, đúng luật, đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng; chỉ ra những hạn chế thiếu sót trong quá trình áp dụng công cụ pháp luật trong việc phát hiện, kiểm tra, xử lý các sai phạm về vệ sinh ATTP trong quá trình kinh doanh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Các cơ sở kinh doanh DVAU trong quá trình đảm bảo vệ sinh ATTP và cơ quan QLNN về ATTP Các lỗi vi phạm về điều kiện vệ sinh ATTP của các cơ sở kinh doanh DVAU
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về QLNN đối với các cơ sở kinh doanh DVAU trên địa bàn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh như nguyên tắc, thẩm
Trang 6quyền, hình thức, trình tự, thủ tục trong quản lý và từ thực tiễn nêu ra được những hạn chế, bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật
Các số liệu được thống kê từ năm 2016 đến năm 2019
4.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu để làm rõ các cơ sở lý luận có liên quan đến QLNN về ATTP Đánh giá tổng quát các yếu tố tác động đến hoạt động của cơ quan QLNN trong việc cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP, công tác hậu kiểm và xử lý vi phạm hành chính,… về ATTP
- Nêu ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong QLNN đối với các cơ sở kinh doanh DVAU trên địa bàn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Các phương pháp sử dụng để nghiên cứu là phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, và tư tưởng Hồ Chí Minh
về QLNN đối với các cơ sở kinh doanh DVAU trên địa bàn quận Gò Vấp
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học, thu thập và phân tích số liệu, phương pháp luận
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trong những năm vừa qua, cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và địa phương Gò Vấp nói riêng có nhiều nỗ lực trong công tác QLNN về ATTP Tuy
Trang 7nhiên về mặt thực tế, nhìn khách quan nhận thấy tình trạng các cơ sở kinh doanh DVAU vẫn không ngừng vi phạm về điều kiện vệ sinh ATTP Tình trạng ngộ độc, tâm lý đối phó, trường hợp dịch bệnh đi kèm với mất vệ sinh trong chế biến thực phẩm vẫn là những nội dung hết sức nóng, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng cũng như tình hình tăng trưởng kinh tế Việc hàng loạt sản phẩm ăn liền kém chất lượng vẫn tràn ngập thị trường nhưng chưa được xử lý triệt để Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh về lĩnh vực này thường xuyên sửa đổi, bổ sung và thay thế, nhưng thực tế vẫn không khả thi Một số khái niệm về cách dùng
từ chưa thực sự rõ ràng và chưa cụ thể, gây khó khăn cho người thi hành nhiệm vụ, đồng thời tạo điều kiện cho một số cán bộ công chức lợi dụng từ ngữ của Luật để gây phiền hà, nhũng nhiểu người dân nhằm trục lợi Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về ATTP thường xuyên thay thế đã thực sự chứng tỏ được khả năng áp dụng trong thực tế hay chỉ mang tính chất răn đe tượng trưng? (Nghị định
số 91/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 được bãi bỏ và thay thế Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 Hiện tại áp dụng Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về ATTPthay thế Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013)
Đề tài mong muốn mang đến cái nhìn chung nhất về các hành vi vi phạm của chủ thể trong quá trình kinh doanh DVAU và cách thức giải quyết vấn đề bằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thông qua hoạt động QLNN của địa bàn nghiên cứu
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương:
* Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về Quản lý Nhà nước đối với
các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống
* Chương 2: Thực trạng Quản lý Nhà nước về An toàn thực phẩm đối với các cơ
sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
* Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện Quản lý Nhà nước về An
toàn thực phẩm đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 8Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ KINH DOANH
DỊCH VỤ ĂN UỐNG 1.1 Những vấn đề chung về vệ sinh An toàn thực phẩm
1.1.1 Khái niệm về Quản lý Nhà nước
- Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì
và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa QLNN là một hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội
- Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt hiểu theo hai nghĩa Nghĩa rộng: QLNN là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi; bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất; chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Theo nghĩa hẹp: QLNN chỉ bao gồm hoạt động hành pháp
Theo đề tài, vận dụng nghĩa rộng của QLNN trong quản lý lĩnh vực ATTP đối với các cơ sở kinh doanh DVAU QLNN sẽ bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản pháp luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng thuộc diện quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết Hoạt động QLNN chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song
có thể các tổ chức chính trị-xã hội đoàn thể quần chúng nhân dân trực tiếp nếu được nhà nước ủy quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật
Trang 9- Một khái niệm khác về QLNN cần mở rộng: QLNN là sự chỉ huy, điều hành
xã hội để thực hiện quyền lực nhà nước, là tổng thể, thể chế về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhà nước có tư cách pháp nhân tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật
- Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển xã hội
Phần lớn các nền văn hóa đều có nghệ thuật ẩm thực Văn hóa ẩm thực là một tập hợp cụ thể của các truyền thống, thói quen, sở thích, cách thức chọn lựa thực phẩm và tập quán trong nấu ăn Việc nghiên cứu các khía cạnh của ẩm thực gọi
là khoa học về nghệ thuật ẩm thực Nhiều nền văn hóa đã đa dạng hóa các chủng loại thực phẩm của mình bằng các phương pháp chế biến, nấu nướng và sản xuất Bên cạnh đó, việc buôn bán các loại lương thực, thực phẩm cũng tạo điều kiện để các nền văn hóa đa dạng hóa hơn nữa các chủng loại thực phẩm của mình Trong khi con người, về bản chất là động vật ăn tạp, thì tôn giáo và các định kiến xã hội, chẳng hạn như các tiêu chuẩn luân lý, thường có ảnh hưởng tới các chủng loại thực phẩm mà xã hội đó tiêu thụ ATTP cũng là một vấn đề cần được quan tâm với
Trang 10Mặt khác theo Luật ATTP, định nghĩa thực phẩm là sản phẩm mà con người
ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm
- Phân loại thực phẩm
Trong lý thuyết về thực phẩm và thực tiễn có nhiều cách để phân loại thực
phẩm, trong phần trình bày của luận văn này đưa ra cách phân loại theo hình thức quá trình hình thành và lưu thông thực phẩm, Thực phẩm bao gồm: thực phẩm tươi sống, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, thực phẩm chức năng, thực phẩm biến đổi gen, thực phẩm đã qua chiếu xạ, TAĐP và thực phẩm bao gói sẵn
Thực phẩm tươi sống là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, cá, thủy hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khách chưa qua chế biến
Thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng là thực phẩm được bồ sung vitamin, chất khoáng, chất vi lượng nhằm phòng ngừa, khắc phục sự thiếu hụt các chất đó đối với sức khỏe cộn đồng hay nhóm đối tượng cụ thể trong cộng đồng Thực phẩm chức năng là thực phẩm để hỗ trợ chức năng của cơ thể con người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm bốt nguy cơ mắc bệnh, gao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học
Thực phẩm biến đổi gen là thực phẩm có một hoặc nhiều thành phần nguyên liệu có gen bị biến đổi bằng công nghệ gen
Thực phẩm đã qua chiếu xạ là thực phẩm đã được chiếu xạ bằng nguồn phóng
xạ để xử lý, ngăn ngừa sự biến chất của thực phẩm
Thực phẩm bao gói sẵn là thực phẩm được bao gói và ghi nhãn hoàn chỉnh, sẵn sàng để bán trực tiếp cho mục đích chế biến tiếp hoặc sử dụng để ăn ngay
- Các khái niệm liên quan đến thực phẩm
Khi nhắc đến thực phẩm, người ta còn đề cập đến các khái niệm liên quan: phụ gia thực phẩm, phực phẩm đông lạnh
Phụ gia thực phẩm là các chất được bổ sung thêm vào thực phẩm để bảo quản (chất bảo quản) hay cải thiện hương vị và bề ngoài của chúng Một số phụ gia thực phẩm đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ (ví dụ ướp muối - thịt ướp muối xông
Trang 11khói; sử dụng điôxít lưu huỳnh trong một số loại rượu vang) Với sự ra đời và phát triển của công nghiệp chế biến thực phẩm trong nửa sau thế kỷ 20 thì có thêm nhiều phụ gia thực phẩm đã được sử dụng rộng rãi, cả tự nhiên lẫn nhân tạo Tuy nhiên, một số phụ gia được dùng trong thực phẩm nhưng phải thận trọng vì nếu dùng sai chủng loại hoặc dùng quá liều lượng có thể gây hại cho sức khỏe con người (ví dụ Natri Benzoat, Oxi già, )
Thực phẩm đông lạnh là khái niệm về thực phẩm dùng phương pháp kéo dài thời gian kể từ khi chuẩn bị cho đến khi ăn Kể từ thời xa xưa, nông dân, ngư dân và người săn thú đã bảo quản ngũ cốc và thực phẩm có được trong các căn nhà không được giữ ấm trong mùa đông Đông lạnh để bảo quản thực phẩm bằng cách hạ nhiệt độ nhằm biến nước trong thực phẩm thành băng do đó làm ngăn cản sự phát triển của hầu hết các vi sinh vật Trong ngành công nghiệp thực phẩm, có hai quy trình: cơ học và cryogenic (hoặc đóng băng flash) Động học của việc đóng băng là rất quan trọng để bảo vệ chất lượng và kết cấu của thực phẩm Đông lạnh nhanh tạo ra các tinh thể băng nhỏ hơn và duy trì cấu trúc tế bào Đông lạnh cryogenic là công nghệ đông lạnh nhanh
nhất có sẵn bằng nhiệt độ nitơ lỏng cực thấp -196 °C (-320 °F)
1.1.3 Khái niệm về An toàn thực phẩm
Có nhiều khái niệm khác nhau về “vệ sinh ATTP” Theo định nghĩa của Tổ chức Lương thực - Nông nghiệp thế giới (FAO), ATTP được định nghĩa “ATTP là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho người tiêu dùng khi nó được chế biến hoặc/và dùng theo mục đích sử dụng của nó” Theo định nghĩa này, ATTP là hoạt động bảo đảm cho thực phẩm không tác động xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng
cả khi chế biến và sử dụng Định nghĩa tuy đã thể hiện tính khái quát hóa nhưng chưa chỉ rõ được tác động của thực phẩm không an toàn đối với người tiêu dùng, đó
là gây hại gì cho người tiêu dùng
Theo Tổ chức ATTP thế giới (WHO) và Tổ chức Lương thực - Nông nghiệp thế giới (FAO) thì “ATTP là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là
Trang 12sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng” Đây là khái niệm khá đầy đủ, tuy nhiên tính khái quát hóa chưa cao
Theo trang Từ điển bách khoa toàn thư mở vi.wikipedia.org, khái niệm vệ sinh ATTP là “ATTP hay vệ sinh ATTP hiểu theo nghĩa hẹp là một môn khoa học dùng
để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra… Hiểu theo nghĩa rộng, vệ sinh ATTP là toàn bộ những vấn đề cần xử lý liên quan đến việc bảo đảm
vệ sinh đối với thực phẩm nhằm bảo đảm cho sức khỏe của người tiêu dùng” Theo cách hiểu trực tiếp và cơ bản nhất, ATTP là việc không để thực phẩm có ảnh hưởng, gây hại lên sức khỏe con người
Theo giải thích tại Luật ATTP năm 2010, “ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người” (khoản 1, Điều 2, Luật ATTP năm 2010) Đây là khái niệm khá khái quát khi nó chứa đựng đầy đủ những nội dung cốt lõi của vấn đề về ATTP Theo khái niệm này, ATTP được hiểu là việc thực hiện những cách thức, biện pháp để bảo đảm thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng của con người
Trong luận án, “ATTP” được định nghĩa là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người, định nghĩa này đồng nhất với khái niệm
về ATTP trong Luật ATTP năm 2010
Bảo đảm ATTP có nghĩa là những hành động của con người nhằm ngăn chặn các mối nguy, hạn chế và xử lý hậu quả do thực phẩm không an toàn gây ra đối với con người, động thực vật.Cụ thể là: phòng ngừa các mối nguy về an toàn
và vệ sinh thực phẩm; kiểm tra, kiểm soát, xử lý các trường hợp vi phạm về vệ sinh ATTP; và can thiệp để loại trừ hậu quả do thực phẩm gây nên đối với con người, môi trường và phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, mục đích trực tiếp của việc bảo đảm ATTP là bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng Tuy nhiên, vấn đề ATTP còn có ý nghĩa to lớn hơn đó là vấn đề phát triển con người, vấn đề chất lượng cuộc sống, vấn đề công bằng xã hội, vấn đề hội nhập quốc tế và văn hoá Trước hết, xét về bình diện xã hội, ATTP liên quan đến chất lượng lao động của cả nền kinh tế hiện tại và tương lai, duy trì và phát triển nòi giống của dân tộc
Trang 13Thứ hai, trong bối cảnh hội nhập hiện nay ATTP ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt là những nước đang phát triển mà nguồn tích luỹ ban đầu dựa chủ yếu vào các nguồn lực tự nhiên Các sản phẩm nông nghiệp và thuỷ sản bảo đảm ATTP là lợi thế cạnh tranh của các nước này trong thương mại quốc tế, làm tăng khả năng tiếp cận thị trường
Thứ ba, bảo đảm ATTP còn có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường thuận lợi thu hút ngoại lực như đầu tư trực tiếp nước ngoài, du lịch, nâng cao hình ảnh quốc gia trong con mắt của người nước ngoài Cuối cùng, ATTP còn liên quan đến các yếu tố văn hoá - xã hội Văn hoá ẩm thực của một vùng, một nước là di sản
vô cùng quý giá góp phần cho phát triển
1.1.4 Khái niệm về cơ sở kinh doanh Dịch vụ ăn uống
Dịch vụ ăn uống: là hoạt động liên quan đến việc tổ chức chế biến, cung cấp
thức ăn, đồ uống tại những điểm cố định, có quy mô nhỏ hoặc lớn Việc mua bán, kinh doanh các DVAU được phân thành cơ sở kinh doanh DVAU (có quy mô) hoặc kinh doanh TAĐP Việc phân loại này chủ yếu dựa vào nơi tổ chức dịch vụ, điểm kinh doanh cố định hay không cố định, nơi cố định để kinh doanh to hay nhỏ
- Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống: là cơ sở tổ chức chế biến, cung cấp
thức ăn, đồ uống để ăn ngay có địa điểm cố định bao gồm cơ sở chế biến suất ăn sẵn, căng tin kinh doanh ăn uống, bếp ăn tập thể, bếp ăn, nhà hàng ăn uống của khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng ăn uống, cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn, thực phẩm chín
- Kinh doanh thức ăn đường phố: là loại hình kinh doanh thực phẩm, thức
ăn, đồ uống để ăn ngay, uống ngay được bán rong trên đường phố hay bày bán tại những địa điểm công cộng (bến xe, bến tàu, nhà ga, khu du lịch, khu lễ hội) hoặc ở những nơi tương tự
1.2 Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
1.2.1 Đặc trưng của quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có đích hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra
Trang 14Quản lý nhà nước “là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” Khái niệm này cho ta thấy được nhà nước thực hiện quyền quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và chỉ có các cơ quan nhà nước mới được thực hiện chức năng quản lý này, nét đặc trưng quan trọng nhất của QLNN chính là quyền lực nhà nước, chính nhờ quyền lực nhà nước mà nhà nước mới có thể quản lý được các đối tượng trong xã hội Cũng chính nhờ đặc trưng đó mà nhà nước mới có thể duy trì được sự ổn định và phát triển của toàn xã hội, vì quyền lực nhà nước mang tính cưỡng chế và bắt buộc mọi chủ thể trong xã hội và tuân theo
Từ khái niệm về QLNN chúng ta có thể đưa ra được khái niệm QLNN về
ATTP như sau: “QLNN về ATTP là hoạt động của các cơ quan nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước tác động lên các đối tượng có liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh ATTP, nhằm đảm bảo cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng”
Vệ sinh ATTP là một lĩnh vực của QLNN do đó nó mang những đặc trưng chung của QLNN
Thứ nhất, Quản lý nhà Nước về ATTP là hoạt động quản lý mang tính quyền
lực nhà nước Đây là đặc trưng cơ bản của hoạt động QLNN so với hoạt động quản
lý của các chủ thể khác Quyền lực nhà nước cho phép chủ thể nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tác động đến các chủ thể trong xã hội có liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh ATTP và bắt buộc các chủ thể này phải tuân theo
Sử dụng quyền lực nhà nước cho phép cơ quan nhà nước thực hiện chức năng QLNN về chất lượng vệ sinh ATTP, có quyền thanh tra, kiểm tra và áp dụng các hình thức xử lý theo pháp luật đối với những hành vi vi phạm quy định về ATTP Khi ý thức về vệ sinh ATTP của các chủ thể trong xã hội chưa cao thì việc sử dụng quyền lực nhà nước là một biện pháp hữu hiệu để đảm bảo vệ sinh ATTP
Thứ hai, quản lý nhà nước về vệ sinh ATTP là hoạt động có tính thống nhất
Bộ máy nhà nước được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương đến địa
Trang 15phương, trong đó Chính Phủ chịu trách nhiệm cao nhất về công tác đảm bảo vệ sinh ATTP trên phạm vi cả nước, trong đó có sự phân công cho các bộ ngành và cho các địa phương, điều này vừa đảm bảo tính thống nhất trong quản lý vừa đảm bảo phù hợp với đặc thù của từng địa phương Tính thống nhất còn thể hiện ở việc khi các
cơ quan địa phương ban hành các văn bản quy định về vệ sinh ATTP tại địa phương mình thì phải phù hợp với quy định của cơ quan cấp trên, đồng thời phải chịu trách nhiệm về công tác đảm bảo vệ sinh ATTP của địa phương mình đối với cơ quan nhà nước cấp trên
Thứ ba, quản lý nhà Nước về vệ sinh ATTP là hoạt động mang tính liên tục
Hoạt động QLNN cần phải đảm bảo tính liên tục, kịp thời để có thể đáp ứng được
sự vận động không ngừng của đời sống xã hội Đối với công tác đảm bảo vệ sinh ATTP cũng phải quản lý một cách thường xuyên, liên tục thì mới có thể đảm bảo được chất lượng của thực phẩm từ đó mới có thể đảm bảo được sức khỏe cho người tiêu dùng, vì chúng ta biết rằng nhu cầu tiêu thụ thực phẩm của con người diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, việc kinh doanh, buôn bán thực phẩm cũng diễn ra hàng ngày do đó hoạt động quản lý của nhà nước cũng phải đảm bảo tính liên tục
Thứ tư, hoạt động Quản lý nhà Nước về vệ sinh ATTP phải tuân theo quy định
của pháp luật Khi các chủ thể nhà nước được trao quyền để quản lý về vệ sinh ATTP thì không có nghĩa là họ có thể quản lý một cách tùy tiện, hay áp đặt ý chí của họ vào công tác quản lý mà mọi hoạt động của các chủ thể quản lý phải tuân theo quy định pháp luật, không được làm trái với các quy địnhcủa pháp luật Nếu không tuân theo các quy định của pháp luật thì có thể gặp phải sự phản kháng của các đối tượng quản lý, ngoài ra còn làm mất lòng tin của nhân dân đối với nhà nước
Do đó không chỉ riêng trong hoạt động QLNN về vệ sinh ATTP mà tất cả hoạt động của các cơ quan nhà nước đều phải tuân thủ theo quy định của pháp luật đây cũng
là cơ sở cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Ngoài những nét chung đó thì QLNN về ATTP cũng có những đặc điểm riêng biệt:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về vệ sinh ATTP là công việc của rất nhiều cơ
quan cùng thực hiện, do đó trong quá trình thực hiện cần phải phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan tổ chức, ngoài ra cần có sự phối hợp thực hiện để mang lại
Trang 16Thứ hai, quản lý nhà nước về vệ sinh ATTP có liên quan đến việc QLNN về
xuất, nhập khẩu vì hiện nay các mặt hàng thực phẩm của Việt Nam đang xuất khẩu
ra nhiều nước trên thế giới, trước khi xuất khẩu thực phẩm cần phải được các bộ ngành kiểm nghiệm, kiểm dịch để đảm bảo chất lượng
Thứ ba, quản lý nhà nước về vệ sinh ATTP là hoạt động rất phức tạp Hiện
nay có rất nhiều chủ thể trong xã hội sản xuất, kinh doanh thực phẩm, tuy nhiên không phải cơ sở kinh doanh nào cũng đăng ký với nhà nước, những cơ sở kinh doanh tự phát hay những người kinh doanh nhỏ lẻ rất nhiều và rất khó để quản lý.Mặt khác với sự phát triển của kinh tế như hiện nay các loại thực phẩm rất đa dạng và phong phú, điều này gây rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý của các
cơ quan nhà nước
Như vậy ta thấy hoạt động quản lý nhà nước về ATTP vừa mang những nét chung của QLNN nhưng cũng có những đặc điểm riêng, chính những nét đặc thù đó đòi hỏi các cơ quan nhà nước cần phải có sự phối hợp một cách chặt chẽ mới có thể vừa đảm bảo được chất lượng vệ sinh ATTP vừa có thể tạo được hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của các chủ thể kinh doanh thực phẩm Từ đó tạo nên động lực thúc đẩy xã hội phát triển và tăng thêm niềm tin của nhân dân vào các cơ quan nhà nước
An toàn thực phẩm là một vấn đề quan trọng của đất nước, đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý của các cơ quan nhà nước, đây là công việc rất phức tạp vì tính chất đa dạng của các loại thực phẩm Do đó trong công tác QLNN cần phải có
sự phân công rõ trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể được giao quyền
Ngoài ra cần phải vận động sự tham gia của tất cả các chủ thể trong công cuộc loại bỏ thực phẩm bẩn, thực phẩm kém chất lượng, việc làm này không phải kìm hãm sự phát triển của các nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm mà là tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể hoạt động một cách tốt nhất Để làm được điều này, nhà nước phải ban hành các quy chuẩn rõ ràng đối với chất lượng các loại thực phẩm Khi có quy chuẩn về chất lượng thì mới có thể quản lý một cách hiệu quả nhất
1.2.2 Nội dung của quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm chủ yếu bao gồm những nội dung như sau: Xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch
Trang 17về vệ sinh ATTP Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
về ATTP Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn về ATTP; xây dựng và thực hiện các
kế hoạch về phòng ngừa ngộ độc thực phẩm và các bệnh lây qua đường thực phẩm Xây dựng và quản lý hệ thống kiểm nghiệm, thực nghiệm thực phẩm Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh ATTP cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm Đào tạo bồi dưỡng kiến thức; tổ chức tuyên truyền, giáo dục các đối tượng trong xã hội về vấn đề ATTP Tiến hành thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
An toàn thực phẩm là lĩnh vực rất rộng và phức tạp, do đó các quy định của pháp luật cần phải đảm bảo điều chỉnh hết những quan hệ xã hội trong lĩnh vực này Trước hết là những quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong công tác đảm bảo ATTP và cơ quan quản lý phải tuyên truyền để họ nắm và hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình thì họ mới có thể kinh doanh một cách hợp pháp Hiện nay các chính sách của nhà nước về ATTP chủ yếu bao gồm vào các nội dung sau: Xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể về đảm bảo ATTP, quy hoạch vùng sản xuất thực phẩm an toàn theo chuỗi cung cấp thực phẩm Đầu tư phát triển khoa học công nghệ để có thể ứng dụng công nghệ phục vụ việc phân tích nguy cơ đối với ATTP, xây dựng và nâng cấp các phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn khu vực
và quốc tế Khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất Xây dựng các chính sách về mở rộng sự hợp tác với quốc tế, đẩy mạnh ký kết các điều ước, thỏa thuận quốc tế về công nhận, thừa nhận lẫn
Trang 18cho hiệp hội, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư, tham gia vào hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, kiểm nghiệm ATTP
1.2.2.2 Tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Sau khi xây dựng và ban hành các chính sách thì tổ chức thực hiện để đưa vào thực tiễn Tổ chức thực hiện vô cùng quan trọng, tác động trực tiếp tới sự thành công hay thất bại của các cơ quan trong hoạt động QLNN Để tổ chức thực hiện có hiệu quả, cần phải đảm bảo đầy đủ mọi nguồn lực, triển khai các văn bản của cấp trên phải đúng trình tự, hiểu đúng nội dung và triển khai một cách khoa học
Trong các nội dung cần tổ chức thực hiện thì hoạt động cấp giấy chứng nhận
cơ sở đủ điều kiện ATTP là một nội dung rất quan trọng Trước khi đi vào hoạt động ngành nghề kinh doanh DVAU thì cơ sở phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP Việc cấp giấy chứng nhận được quy định cụ thể tại Điều 34, 35, 36, 37 chương V của Luật ATTP năm 2010
* Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP cho loại hình kinh doanh DVAU (Điều 36 Luật ATTP năm 2010), cụ thể:
Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP;
Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
Bản thuyết minh về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ bảo đảm điều kiện
vệ sinh ATTP theo quy định của cơ quan QLNN có thẩm quyền;
Giấy xác nhận đủ sức khoẻ của chủ cơ sở và người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ sở y tế cấp huyện trở lên cấp;
Giấy xác nhận đã được tập huấn kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm của chủ cơ sở và của người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo quy định của
định tại Điều 35 của Luật ATTP năm 2010 (Điều 35:Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định cụ
Trang 19thể thẩm quyền cấp, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP thuộc lĩnh vực được phân công quản lý)
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra thực tế điều kiện bảo đảm ATTP tại cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; nếu đủ điều kiện thì phải cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP; trường hợp từ chối thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do
* Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP(Điều
37 Luật ATTP năm 2010)
Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP có hiệu lực trong thời gian 03 năm Trước 06 tháng tính đến ngày Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP hết hạn, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải nộp hồ sơ xin cấp lại Giấy chứng nhận trong trường hợp tiếp tục sản xuất, kinh doanh Hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp lại được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Luật ATTP năm 2010 Sau khi được cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP thì các chủ thể kinh doanh DVAU mới được hoạt động, và trong quá trình hoạt động phải luôn đảm bảo đầy đủ các điều kiện vệ sinh ATTP, nếu vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh ATTP thì các chủ thể này sẽ tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP.Thẩm quyền thu hồi đó là cơ quan nào cấp thì
cơ quan đó có quyền thu hồi, cơ quan cấp trên có quyền thu hồi Giấy chứng nhận do
cơ quan cấp dưới cấp
1.2.2.3 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm cho loại hình kinh doanh dịch vụ ăn uống
Bộ máy QLNN về ATTP được quy định rõ trong Luật ATTP năm 2010 Ở Trung ương Chính phủ thống nhất QLNN về ATTP Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện QLNN về ATTP, các Bộ cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế thực hiện QLNN về vệ sinh ATTP
Bộ Y tế là cơ quan chính phụ trách công tác đảm bảo vệ sinh ATTP, dưới bộ
có Cục ATTP, đây là cơ quan chuyên môn trực thuộc Bộ Y tế, thực hiện chức năng
Trang 20tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Y tế thực hiện chức năng QLNN và thực thi pháp luật về vệ sinh ATTP thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Y tế trong phạm vi cả nước
Ở các địa phương thì Sở Y tế là cơ quan chính thực hiện chức năng QLNN về
vệ sinh ATTP tại địa phương Sở Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh QLNN về ATTP đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Y tế
Dưới Sở Y tế có các Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm là tổ chức trực thuộc Sở Y tế, giúp Giám đốc Sở Y tế tham mưu cho
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng QLNN về vệ sinh ATTP; thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ về vệ sinh ATTP, thực hiện thanh tra chuyên ngành về vệ sinh ATTP trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật Chi cục chịu
sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Sở Y tế, đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm trực thuộc
Bộ Y tế
Tại Ủy ban nhân dân cấp huyện thì phòng Y tế là cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện chức năng QLNN về vệ sinh ATTP, phòng có chức năng tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc thực thi pháp luật về vệ sinh ATTP trên địa bàn huyện, Phòng Y tế chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn nghiệp
vụ của Ban Quản lý ATTP thành phố và Sở Y tế
Vai trò của cơ quan QLNN về ATTP ở địa phương chịu trách nhiệm quản lý ATTP tại địa phương: Quản lý điều kiện đảm bảo ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, TAĐP, cơ sở kinh doanh DVAU, ATTP tại các chợ trên địa bàn và các đối tượng theo phân cấp quản lý; Có quyền ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật địa phương, xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất thực phẩm an toàn để đảm bảo việc quản lý được thực hiện trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm; Chủ động thực hiện công tác đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ việc đảm bảo chất lượng vệ sinh ATTP, đồng thời
bố trí nguồn lực của địa phương mình một cách hợp lý; Tổ chức tuyên truyền, giáo
Trang 21dục, truyền thông, nâng cao nhận thức về ATTP, ý thức chấp hành pháp luật, ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng, ý thức của người tiêu dùng thực phẩm
Ngoài ra, thực hiện chứcnăng thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về ATTP trên địa phương mình
1.2.2.4 Thanh tra, kiểm tra An toàn thực phẩm
Trong giai đoạn hiện nay hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước là hoạt động không thể thiếu trong nội dung QLNN về ATTP Thanh tra về ATTP là hoạt động thanh tra chuyên ngành, thanh tra ATTP do ngành y tế, ngành nông nghiệp, ngành công thương thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra Nội dung của thanh tra ATTP được quy định tại điều 67, Luật ATTP năm 2010
“Thanh tra việc thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật, quy định về ATTP đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm và sản phẩm thực phẩm do cơ quan QLNN có thẩm quyền Việc thực hiện các tiêu chuẩn liên quan đến ATTP do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm với sản phẩm thực phẩm Thanh tra hoạt động quảng cáo, ghi nhãn đối với thực phẩm thuộc phạm vi thẩm quyền quản lý Thanh tra hoạt động chứng nhận hợp quy, kiểm nghiệm ATTP Thanh tra việc thực hiện các quy định khác của pháp luật ATTP” Thẩm quyền tiến hành kiểm tra ATTP được quy định cụ thể, theo đó cơ quan quản lý ATTP thuộc Bộ quản lý ngành thực hiện việc kiểm tra ATTP trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo quy định của Luật ATTP năm 2010
Ở địa phương thì cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tiến hành kiểm tra ATTP trên phạm vi địa phương mình Đối với hoạt động kiểm tra liên ngành về ATTP có liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều ngành hoặc địa phương, cơ quan chủ trì kiểm tra có trách nhiệm phối hợp với cơ quan hữu quan thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Như vậy hoạt động thanh tra, kiểm tra điều kiện ATTP được phân công cụ thể cho từng cơ quan trong bộ máy nhà nước,
từ các cơ quan Trung ương tới địa phương
1.2.2.5 Xử lý vi phạm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Trang 22Sau khi tiến hành thanh tra, kiểm tra nếu có phát hiện vi phạm về vệ sinh ATTP, thì tùy theo mức độ vi phạm chủ thể sản xuất kinh doanh sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật hiện hành Chi tiết xử lý vi phạm về vệ sinh ATTP được quy định tại nghị định số 178/2013/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 14 tháng 11 năm 2013, quy định xử phạt vi phạm hành chính về ATTP Vi phạm hành chính về ATTP quy định tại nghị định này bao gồm: vi phạm quy định về điều kiện đảm bảo an toàn với sản phẩm thực phẩm; vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm ATTP trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm (Xử phạt về ATTP đối với cơ sở kinh doanh DVAU được quy định tại Điều 20, 21 và 22); vi phạm quy định về điều kiện đảm bảo ATTP đối với thực phẩm nhập khẩu, thực phẩm xuất khẩu; vi phạm quy định về thông tin, giáo dục truyền thông về ATTP, kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ, phòng ngừa ngăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP, truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý đối với thực phẩm không an toàn Mức phạt tiền tối đa đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính về ATTP là 100.000.000 đồng đối với cá nhân và 200.000.000 đồng đối với tổ chức
Ngày 04/9/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 115/2018/NĐ-CP quy định
xử phạt vi phạm hành chính về ATTP, có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 10 năm
2018 và Nghị định này thay thế Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về ATTP Xử phạt
về điều kiện đảm bảo ATTP đối với cơ sở kinh doanh DVAU được quy định tại Điều 15 và 16 của Nghị định này Mức phạt tiền tối đa đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính về ATTP là 100.000.000 đồng đối với cá nhân và 200.000.000 đồng đối với tổ chức
Ngoài xử lý vi phạm hành chính, thì hiện nay vi phạm về ATTP còn bị xử lý hình sự tùy theo mức độ vi phạm Tại Điều 317 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về việc xử lý hình sự những hành vi vi phạm pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm, theo đó thì những hành vi vi phạm tùy theo mức độ vi phạm, tính chất, hậu quả gây ra mà có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 20 năm tù hoặc bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng
Trang 23Như vậy ta thấy hành vi vi phạm quy định về vệ sinh ATTP có thể chịu trách nhiệm hình sự, điều này cho thấy được quyết tâm của Nhà nước ta trong việc đấu tranh, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật về ATTP
1.3 Phương thức quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Phương pháp quản lý là tổng thể những cách thức tác động có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý trên cơ sở lựa chọn những công cụ và phương tiện thích hợp nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức Hoạt động QLNN về ATTP là hoạt động rất phức tạp và có phạm vi rất rộng, do đó muốn quản lý có hiệu quả thì cần phải sử dụng kết hợp các biện pháp, cụ thể:
- Phương pháp tâm lý – xã hội: là các cách thức tác động vào nhận thức và
tình cảm của các chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhằm nâng cao tính tự giác và ý thức của họ trong việc kinh doanh buôn bán thực phẩm
Phương pháp tâm lý – xã hội dựa trên cơ sở sự vận dụng các quy luật tâm lý Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục và từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm xã hội, ý thức về sự nguy hại trong việc kinh doanh, buôn bán thực phẩm kém chất lượng của các chủ thể sản xuất kinh doanh thực phẩm đối với sức khỏe của con người và ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước
Ưu điểm của phương pháp này là nâng cao ý thức của người kinh doanh, buôn bán thực phẩm, để họ tự giác ý thức được hành động của mình, do đó mang lại kết quả rất khả quan, lâu dài Khi ý thức của các chủ thể kinh doanh thực phẩm được nâng lên thì các cơ quan nhà nước cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc quản lý
Nhược điểm của phương pháp này là tác động chậm, cầu kỳ, không đảm bảo thực hiện chắc chắn, nên khi sử dụng vẫn cần phải có kết hợp đi kèm các phương pháp khác Phương pháp này đòi hỏi rất nhiều nhiều thời gian
- Phương pháp cưỡng chế: là việc các cơ quan nhà nước sử dụng quyền lực
nhà nước bắt buộc những cá nhân, tổ chức phải thực hiện hoặc không thực hiện hành vi nhất định
Cưỡng chế là phương pháp có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý của nhà nước, chính nhờ có phương pháp này thì mới có thể giữ vững được trật tự,
Trang 24thức được tác hại của việc kinh doanh thực phẩm kém chất lượng nhưng vì lợi nhuận mà họ vẫn cố tình vi phạm các quy định trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm kém chất lượng do đó đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải sử dụng biện pháp cưỡng chế, bắt buộc các chủ thể này phải ngừng ngay các hành vi gây ảnh hưởng đến tính mạng và sức khỏe của người tiêu dùng
Sử dụng phương pháp cưỡng chế cần phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, có như vậy cưỡng chế mới hiệu quả và đảm bảo không lạm quyền của các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức nhà nước
Ưu điểm của phương pháp này đó là có tính bắt buộc thi hành ngay, đảm bảo hiệu quả ngay lập tức
Nhược điểm của phương pháp này đó chính là có thể dẫn tới việc lạm quyền của các cơ quan nhà nước, gây mất lòng tin trong nhân dân, ngoài ra việc sử dụng biện pháp cưỡng chế cũng phần nào cho thấy được sự yếu kém của các cơ quan nhà nước trong việc giáo dục, thuyết phục các chủ thể trong xã hội trong việc chấp hành các quy định của pháp luật
- Phương pháp kinh tế: là các phương pháp tác động vào đối tượng quản lý
thông qua các lợi ích kinh tế bằng việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế, để cho đối tượng quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ Trong hoạt động QLNN về vệ sinh ATTP, các cơ quan nhà nước có thể ban hành các chính sách như miễn, giảm thuế cho các chủ thể kinh doanh thực phẩm sạch, đầu tư hỗ trợ vốn kinh doanh để cho các chủ thể kinh doanh thực phẩm sạch hoạt động, điều này sẽ làm cho các chủ thể sản xuất kinh doanh thực phẩm thấy được lợi ích của việc kinh doanh thực phẩm sạch từ đó họ sẽ từ bỏ việc kinh doanh những thực phẩm kém chất lượng
Ưu điểm của phương pháp này đó là mang lại hiệu quả cao, tác động trực tiếp tới lợi ích của các chủ thể sản xuất kinh doanh
Nhược điểm là khi hết các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy về kinh tế thì có thể không còn hiệu quả, ngoài ra áp dụng phương pháp này có thể ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước
Trang 25Tóm lại, trong thực tiễn quản lý không thể tuyệt đối hoá một phương pháp nào
đó mà phải có quan điểm tổng hợp, phải biết kết hợp nhịp nhàng và linh hoạt các phương pháp quản lý với nhau để nâng cao hiệu quả quản lý bởi lẽ:
(1) Đối tượng quản lý là những hệ thống phức tạp bao gồm nhiều yếu tố và nhiều mối quan hệ tồn tại và phát triển trong môi trường luôn biến động;
(2) tất cả các phương pháp quản lý đều hướng về con người mà bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, con người hoạt động vì nhiều động cơ nên phải vận dụng tổng hợp các phương pháp;
(3) mỗi phương pháp quản lý đều có ưu nhược điểm riêng cần kết hợp lại để
bổ sung cho nhau
1.4 Các điều kiện bảo đảm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống
hoạt động QLNN về tổ chức chế biến, cung cấp thức ăn, đồ uống để ăn ngay có địa điểm cố định bao gồm việc thực hiện quản lý các cơ sở chế biến suất ăn sẵn, căn tin kinh doanh ăn uống, bếp ăn tập thể, bếp ăn, nhà hàng ăn uống của khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng ăn uống, cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn, thực phẩm chín về an toàn vệ sinh thực phẩm
* Các điều kiện bảo đảm ATTP đối với nơi chế biến, kinh doanh DVAU
(Điều 28 Luật ATTP năm 2010) bao gồm:
- Bếp ăn được bố trí bảo đảm không nhiễm chéo giữa thực phẩm chưa qua chế biến và thực phẩm đã qua chế biến
- Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ chế biến, kinh doanh
- Có dụng cụ thu gom, chứa đựng rác thải, chất thải bảo đảm vệ sinh
- Có dụng cụ thu gom, chứa đựng rác thải, chất thải bảo đảm vệ sinh
- Cống rãnh ở khu vực cửa hàng, nhà bếp phải thông thoát, không ứ đọng
- Nhà ăn phải thoáng mát, đủ ánh sáng, duy trì chế độ vệ sinh sạch sẽ, có biện pháp để ngừa côn trùng và động vật gây hại
- Có thiết bị bảo quản thực phẩm, nhà vệ sinh, rửa tay và thu dọn chất thải, rác thải hàng ngày sạch sẽ
Trang 26- Người đứng đầu đơn vị có bếp ăn tập thể có trách nhiêm bảo đảm ATTP
* Các điều kiện bảo đảm ATTP đối với cơ sở chế biến, kinh doanh DVAU (Điều 29 Luật ATTP năm 2010) bao gồm:
- Có dụng cụ, đồ chứa đựng riêng cho thực phẩm sống và chín
- Dụng cụ nấu nướng phải đảm bảo an toàn vệ sinh
- Dụng cụ ăn uống phải được làm bằng vật liệu an toàn, rửa sạch, giữ khô
- Tuân thủ quy định về sức khỏe, kiến thức và thực hành của người trực tiếp sản xuất kinh doanh thực phẩm
* Các điều kiện bảo đảm ATTP trong chế biến và bảo quản thực phẩm (Điều 30 Luật ATTP năm 2010) bao gồm:
- Sử dụng thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm phải rõ nguồn gốc và bảo đảm
an toàn, lưu mẫu thức ăn
- Thực phẩm phải được chế biến bảo đảm an toàn, hợp vệ sinh
- Thực phẩm bày bán phải để trong tủ kính hoặc thiết bị bảo quản hợp vệ sinh, chống được bụi, mưa, nắng và sự xâm nhập của côn trùng và động vật gây hại; được bày bán trên bàn hoặc giá cao hơn mặt đất
* Các điều kiện bảo đảm ATTP đối với nơi bày bán TAĐP (Điều 31 Luật ATTP năm 2010) bao gồm:
Phải cách biệt nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm
Phải được bày bán trên bàn, giá, kệ, phương tiện bảo đảm vệ sinh ATTP, mỹ quan đường phố
chứa đựng thực phẩm và người kinh doanh TAĐP (Điều 32 Luật ATTP năm 2010) bao gồm:
- Nguyên liệu để chế biến TAĐP phải bảo đảm ATTP, có nguồn gốc, xuất xứ
rõ ràng
- Dụng cụ ăn uống, chứa đựng thực phẩm phải bảo đảm an toàn vệ sinh
- Bao gói và các vật liệu tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm không được gây ô nhiễm và thôi nhiễm vào thực phẩm
- Có dụng cụ che nắng, mưa, bụi bẩn, côn trùng và động vật gây hại
Trang 27- Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ việc chế biến, kinh doanh
- Tuân thủ quy định về sức khoẻ, kiến thức và thực hành đối với người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm
1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của một số nước trên thế giới
1.5.1 Singgapore
Tại Singgapore, khi mở quán ăn hay một xe bán thực phẩm lưu động, chủ thể kinh doanh phải học qua lớp tìm hiểu các quy định về ATTP Lớp này được tổ chức thường xuyên tại nhiều nơi, đến tận nhà người buôn bán Khi đã biết mà vẫn vi phạm thì sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật Hàng quán của bạn cũng
sẽ được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP Cách làm này, Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng nhưng không mang lại hiệu quả
1.5.2 Thái Lan
Theo ông Somchai, Phó văn phòng quốc gia về Tiêu chuẩn nông sản và thực phẩm, trước năm 2001, nông sản Thái Lan gặp phải những vấn đề như xu hướng bệnh do ngộ độc thực phẩm gia tăng; tranh chấp về ATTP và yêu cầu chất lượng trong thương mại thực phẩm; các luật và quy định kiểm soát thực phẩm không đồng bộ…Để đối phó với vấn đề này, Thái Lan đã đề ra chiến lược “Từ đồng ruộng tới bàn ăn”, thực hiện theo dõi các quy trình: nhập khẩu (kiểm tra đầu vào vật liệu thô, thực phẩm chế biến); sản xuất ngoài đồng ruộng (đăng ký, chứng nhận tiêu chuẩn, kiểm tra tại ruộng); thiết bị (kiểm tra, tư vấn, chứng nhận vật liệu thô và cây trồng); đầu ra (kiểm tra, chứng nhận hàng hoá); cuối cùng là thị trường (đàm phán nước ngoài, thận trọng trong nước)
Trang 28phẩm quốc gia và ngành đã áp dụng cho hơn 3.000 mặt hàng thực phẩm chế biến và gần 4.000 mặt hàng nông sản, đề ra tiêu chuẩn thanh tra, vệ sinh thực phẩm
1.5.4 Nhật Bản
Kiểm soát chặt chẽ thực phẩm nhập khẩu Nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người, đồng thời bảo vệ ngành sản xuất và chế biến trong nước, Nhật Bản áp dụng Luật VSATTP, Luật Chống gây nhiễm và kiểm soát các loại dịch bệnh, Luật Ngoại thương và Ngoại hối, Luật Thương mại với những quy định chặt chẽ, chỉ cho phép nhập vào Nhật Bản những loại thực phẩm đảm bảo VSATTP Những loại thực phẩm không được phép nhập vào Nhật Bản bao gồm: thực phẩm chứa các thành phần độc tố hoặc có hại, hoặc bị nghi vấn có chứa độc tố; thực phẩm bị thối rữa hoặc hư hỏng; thực phẩm không đáp ứng được tiêu chuẩn và đặc điểm kỹ thuật trong quá trình chế biến, công thức hoặc nguyên liệu chế biến; thực phẩm sử dụng chất phụ gia quá mức cho phép; thực phẩm không kèm theo các chứng từ chứng minh
Một số mặt hàng thực phẩm còn phải đáp ứng đầy đủ các quy định kiểm tra nghiêm ngặt khác mới được nhập vào Nhật Bản như: không chứa các côn trùng gây bệnh hoặc có hại tới sức khỏe con người có trong thịt và cá tươi, các sản phẩm thịt chế biến như hamberger, xúc xích…, trái cây, rau quả hoặc ngũ cốc Nước này còn quy định giấy phép nhập khẩu đối với một số loài cá đánh bắt tại các vùng duyên hải và rong biển ăn được
Ngoài ra, còn có một số ít các mặt hàng nằm trong diện quản lý nhập khẩu theo quy định của Luật Ngoại thương và Ngoại hối yêu cầu Quota nhập khẩu, phải được đồng ý trước của Bộ trưởng phụ trách chuyên ngành Các mặt hàng này bao gồm: cá đánh bắt ở vùng duyên hải Nhật Bản; con điệp (động vật có vỏ như trai, sò), mực ống; rong biển ăn được
1.5.5 Mỹ
Cũng giống như Nhật Bản, Mỹ kiểm soát rất chặt chẽ nguồn thực phẩm nhập khẩu Để có thể đưa thực phẩm vào thị trường Mỹ, các doanh nghiệp phải cung cấp thông tin trên nhãn mác về thành phần dinh dưỡng, nhà sản xuất phải ghi thêm hàm lượng axit béo chuyển hoá (TFA) ngay sau dòng về hàm lượng axít béo no (saturated) và chesterol Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) là cơ quan chịu trách nhiệm QLNN về nhập khẩu thực phẩm, với những quy định chặt
Trang 29chẽ Ngoài quy định của FDA, còn có các quy định riêng của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) và Cục Nghề cá Mỹ (NMFS) đối với một số mặt hàng nông, thủy sản FDA cho biết, ở Mỹ chỉ quy định những kháng sinh được phép sử dụng, còn tất cả những kháng sinh khác ngoài danh mục đều bị cấm Hiện chỉ có 06 loại kháng sinh được Mỹ cho phép sử dụng là chorionic, gonadotropin, formalin solution,
sulfadimethoxine/ormetoprim Cuối năm 2012, Tổng thống Mỹ còn ký một đạo luật quy định từ ngày 01/07/2012, tất cả các lô hàng nhập khẩu vào Mỹ từ bất kỳ quốc gia nào đều phải được chiếu tia X tại cảng trước khi hàng hoá xuống tàu nhằm đảm bảo VSATTP
1.5.6 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua nghiên cứu về công tác QLNN về vệ sinh ATTP của một số nước trên thế giới, ta có thể rút ra được bài học kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất, việc QLNN về vệ sinh ATTP muốn thực hiện được cần phải hệ thống cơ
sở pháp lý chặt chẽ, các quốc gia đều ban hành luật quy định riêng về vấn đề ATTP Việc xây dựng hành lang pháp lý vừa tạo điều kiện cho các chủ thể sản xuất kinh doanh hoạt động vừa tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý của nhà nước
Thứ hai, việc phân công QLNN về vệ sinh ATTP cho các cơ quan phải đảm
bảo sự rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn, tránh sự trùng lắp về chức năng, nhiệm
vụ Hiện nay nước ta có rất nhiều cơ quan tham gia công tác đảm bảo vệ sinh ATTP, nhưng khi xảy ra vấn đề thì các cơ quan lại trốn tránh trách nhiệm
Thứ ba, ta thấy ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật bản,…vấn đề vệ sinh
ATTP rất đảm bảo do họ có cơ quan chuyên trách đảm nhận vấn đề này, những cơ quan này được thành lập ra hoạt động một cách độc lập và có toàn quyền về ATTP Thực tế cho thấy các cơ quan này hoạt động rất hiệu quả Đây là bài học rất quý giá
mà Việt Nam có thể học hỏi, vì ở nước ta hiện nay thực sự cần một cơ quan như vậy Có như vậy thì công tác đảm bảo vệ sinh ATTP mới hiệu quả
Thứ tư, cần phải có hệ thống kiểm nghiệm thực phẩm và hệ thống tiêu chuẩn
chất lượng vệ sinh ATTP có sự đồng bộ với các quốc gia trên toàn thế giới, có như
Trang 30vậy hàng hóa nông sản, thực phẩm của Việt Nam mới đảm bảo chất lượng, và có thể xuất khẩu sang các nước khác
Trang 31Tiểu kết chương 1
Vệ sinh ATTP là tất cả các điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm đảm bảo thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không hư hỏng hay chứa các chất gây nguy hại cho sức khỏe con người
Quản lý nhà nước về ATTP đối với các cơ sở kinh doanh DVAU là hoạt động của các cơ quan nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước tác động lên các đối tượng kinh doanh DVAU có liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh ATTP, nhằm đảm bảo cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng
Quản lý nhà nước về ATTP là hoạt động rất quan trọng hiện nay, nó đảm bảo cho sức khỏe của con người, thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước Làm tốt công tác này cũng chính là đảm bảo cho sự ổn định của toàn xã hội và làm tăng lòng tin của nhân dân vào các cơ quan nhà nước
Quản lý nhà nước về ATTP cần phải có sự tham gia phối hợp của nhiều cơ quan, đảm bảo sự thống nhất từ Trung ương đến địa phương, trong đó Bộ Y tế là cơ quan chịu trách nhiệm chính đối với việc đảm bảo vệ sinh ATTP các cơ sở kinh doanh DVAU của nước ta hiện nay
Việc xây dựng hệ thống pháp luật về ATTP và hệ thống tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh ATTP cần phải được thực hiện một cách chặt chẽ và đảm bảo sự đồng
bộ, cần thiết có thể tham khảo tiêu chuẩn của các nước trên thế giới để chọn lọc áp dụng vào nước ta
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG TỪ THỰC TIỄN
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GÓ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Thực trạng tình hình vệ sinh An toàn thực phẩm tại nước ta
Với thực trạng nhu cầu sử dụng thực phẩm ngày càng cao của con người thì vấn đề đảm bảo vệ sinh ATTP hiện nay càng trở nên báo động hơn bao giờ hết
Ở Việt Nam, tình hình ATTP trong cả nước, nhất là khu vực đô thị, đang tạo nhiều lo lắng cho người dân Sức khỏe là vốn quý của mỗi con người và của toàn xã hội, do đó vấn đề ATTP ngày càng trở nên nóng bỏng và được cộng đồng hết sức quan tâm
Tuy được các cơ quan chức năng lên tiếng báo động từ những nguy cơ VSATTP nhưng tình trạng ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng vẫn diễn ra và ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn Việc vi phạm các quy định về VSATTP diễn
ra ở khắp mọi nơi, mọi lĩnh vực gây tâm lý hoang mang ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người
Trước đây, nước ta là một đất nước với nền kinh tế mang đặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp trong đó phần lớn là các sản phẩm được sản xuất, chế biến từ nông nghiệp – thủy sản với công nghệ thủ công, lạc hậu và việc tổ chức quản lý chưa chặt chẽ Mặt khác, khâu kiểm soát còn gặp khó khăn hơn đối với các cơ sở kinh doanh DVAU nhỏ lẻ, hầu như việc kiểm tra chỉ diễn ra tại khâu thành phẩm và trong quá trình sử dụng, khi có xảy ra các vụ ngộ độc không rõ được nguyên nhân gây hư hỏng thực phẩm chính xác từ đâu
Hậu quả rõ nét nhất trong vi phạm VSATTP là tình trạng ngộ độc Trong những năm 2003 đến 2007 là những năm có số vụ ngộ độc tăng, số người mắc và số người tử vong cao Giai đoạn này, được cho là những năm đáng báo động của tình trạng ngộ độc và câu hỏi thường thấy trong người dân “sự quản lý của cơ quan chức năng ở đâu mà lại xảy ra tình trạng tăng liên tục như vậy”
Trang 33Biểu đồ biểu thị tình hình ngộ độc thực phẩm từ năm 2003 đến 2010
Năm 2003, cả nước có 514 vụ ngộ độc với tổng số 4173 người bị nhiễm Đến năm 2004, cả nước có 503 vụ với tổng số người bị nhiễm là 5724 Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2006 có tới 19.636 cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm vi phạm các quy định về VSATTP; trong năm 2006, cả nước xảy ra 165 vụ ngộ độc,
số người nhiễm là 7135 người, 57 người tử vong Tổng số người ngộ độc trong năm
2007 là 7329 người, trong đó có 25 người tử vong Giai đoạn từ 2007 đến 2008 là giai đoạn tăng mạnh số vụ ngộ độc và số ca nhiễm Năm 2008 có 205 vụ ngộ độc trong đó có 7828 người nhiễm và 61 trường hợp tử vong Tỷ lệ số vụ ngộ độc đến năm 2010 giảm nhưng giảm không đáng kể, số người nhiễm vẫn cao, tỷ lệ tử vong dao động từ 30 đến 50 người
Những con số thống kê trong “giai đoạn vàng” của ngộ độc thực phẩm chỉ là những con số cơ quan chức năng thống kê từ những cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm quy mô lớn, hoặc những vụ ngộ độc có sức ảnh hưởng với dư luận Vẫn còn
đó trong người dân, những trường hợp ngộ độc nhỏ lẻ đến từ cơ sở kinh doanh DVAU quy mô trung bình và nhỏ lẻ
Theo báo cáo của các ngành chức năng, công tác bảo đảm ATTP những năm qua đã có nhiều tiến bộ, được lãnh đạo các cấp quan tâm và coi đây là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Việc Nhà nước ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Luật ATTP đã nâng cao vai trò quản lí nhà nước từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt
là vai trò của UBND các cấp Công tác QLNN về ATTP được chú trọng hơn; kiến thức, sự hiểu biết của người dân về vấn đề bảo đảm sức khỏe cũng được nâng lên;
Năm 2004
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Số người mắc
số người tử vong
Trang 34Biểu đồ biểu thị tình hình ngộ độc thực phẩm từ năm 2014 đến 2018
các nhà sản xuất, kinh doanh cũng hiểu rõ hơn trách nhiệm của mình trong việc tuân thủ các điều kiện bảo đảm ATTP đối với sản phẩm làm ra…
Tuy nhiên, do nhịp sống hối hả hiện nay, đối với người tiêu dùng, việc nhận biết, phân biệt giữa thực phẩm đảm bảo an toàn với thực phẩm không an toàn là vấn
đề hết sức khó khăn Theo tài liệu của Cục Quản lý chất lượng vệ sinh ATTP của
Bộ Y tế, số lượng các vụ ngộ độc thực phẩm cũng như số người bị nhiễm độc thực phẩm vẫn còn, đặc biệt là các trường hợp mắc bệnh nhiễm trùng bởi thực phẩm.Có thể nói, chưa bao giờ sự lo ngại trước vấn đề ATTP lại nóng bỏng và được rất nhiều người quan tâm như hiện nay
Giai đoạn từ năm 2016 trở về đây tình hình các vụ ngộ độc giảm nhưng cũng chỉ là những con số thống kê được qua quản lý, chúng ta vẫn chưa có cái nhìn sâu rộng hơn, tìm ra các vụ ngộ độc theo hình thức ngấm độc lâu dài vào cơ thể người, phá hủy trực tiếp đến sức khỏe người dân Theo Cục an toàn Thực phẩm, trong năm
2014, cả nước ghi nhận 189 vụ ngộ độc, trong đó có 5100 người mắc, 4100 người nhập viện, 43 trường hợp tử vong Năm 2015, số vụ ngộ độc là 171 vụ, với 4965 người mắc, 23 trường hợp tử vong; năm 2016 có 128 vụ ngộ độc thực phẩm, 4139 người mắc, 12 trường hợp tử vong Năm 2017 có 139 vụ ngộ độc, 3869 người mắc,
tử vong 24 trường hợp và năm 2018 có 91 vụ ngộ độc, 2010 người mắc và 15 trường hợp tử vong
Số vụ ngộ độc trong những năm gần đây so với giai đoạn trước giảm đáng kể, nhìn nhận chủ quan do có sự can thiệp của QLNN, nhưng nhìn khách quan tình trạng ngộ độc vẫn là một vấn nạn đối với cuộc sống con người hiện đại Số nguyên
Trang 35nhân tìm ra trong các vụ ngộ độc không cao Các cơ quan chức năng vẫn chưa xác định rõ nguồn nhiễm từ đâu chỉ nêu những nguyên nhân chung chung khi có trường hợp ngộ độc xảy ra Số liệu hầu như xuất phát qua khảo sát từ các khu chế xuất Các khu công nghiệp thường khoán việc cung cấp suất ăn cho các dịch vụ nấu thuê mà không quan tâm đến chất lượng vệ sinh thực phẩm, và những cơ sở nấu các suất ăn công nghiệp này thường thấy tại địa phương nơi mà chính quyền sở tại quản lý Việc nhiễm bẩn thực phẩm có thể xảy ra trong suốt quá trình đầu vào của nguyên vật liệu đến quá trình chế biến, bảo quản
Tình trạng nhiễm bẩn thức ăn còn thấy rõ hơn tại đường phố, nơi mà cơ quan chức năng phải “chào thua” vì khó quản lý Số vụ ngộ độc mang tính âm ỉ và tác hại hàng ngày đến sức khỏe con người lại nằm nhiều ở đối tượng này Các sản phẩm ăn liền bày bán tại các khu công nghiệp, bên lòng lề đường và đặc biệt là những điểm kinh doanh tự phát bị nhiễm khuẩn rất phổ biến Đối với các quán cơm bình dân, nguyên liệu thực phẩm nhập vào hầu như không có hóa đơn chứng từ, không nhãn mác, không rõ nguồn gốc Thấy rõ trên mạng hình ảnh người dân đăng tải chị hàng cơm, hàng nước thường xuyên mua loại rau, trái cây đã dập nát, hoặc để lâu ngày về chế biến lại, Mặt khác, do thói quen thích ăn món lạ, qua cách ăn thể hiện đẳng cấp mà một số người vẫn sử dụng thịt động vật không rõ nguồn gốc như thịt rừng, thịt động vật hoang dã,… Chính vì vậy, một số chủ thể kinh doanh DVAU bất chấp việc nhập lậu hoặc tạo ra thịt rừng giả để phục vụ thực khách Dạo gần đây là hình ảnh của một quán nhậu dùng thịt chuột cống, sơ chế bắt mắt và bán ra với cái tên thịt dúi Có thể thấy rằng, vi phạm ATVSTP không chỉ bắt nguồn từ chính thực phẩm mà còn do ý thức của người dân trong việc sử dụng chưa khoa học Con người chưa dứt bỏ được thói quen ăn uống xấu dẫn đến tình trạng ngộ độc thực phẩm vẫn diễn ra
Thực phẩm chứa nhiều chất bảo quản độc hại (hàn the, chất tạo màu tươi, formol,…), các loại rau xanh đều có xịt hóa chất giúp tươi lâu, trái cây được tẩm hóa chất tạo độ giòn, ngọt,… Theo Cục Quản lý chất lượng ATTP (Bộ Y tế), việc
sử dụng hóa chất bảo quản độc hại như phẩm màu, peroxit,… còn ở mức cao Có tới
Trang 36hại vượt quá tiêu chuẩn cho phép đặc biệt là hoa quả nhập từ Trung Quốc, Mỹ, Úc, Thái,… Khi nhập sản phẩm này, người kinh doanh chưa nắm rõ về nguồn gốc, chỉ dựa vào mắt nhìn thông thường để xác định loại, không phân biệt được phải nhập từ nơi đó hay không Họ chỉ quan tâm đến giá cả, và lượng bán cho người tiêu dùng Người tiêu dùng là nạn nhân trực tiếp, vì thói quen hướng ngoại, đã vô tình bị mất tiền mà tiếp nhận một lượng chất bảo quản không rõ ràng vào cơ thể Trường hợp tương tự đối với rau xanh, không phải hàng nhập nhưng người tiêu dùng mắc phải tâm lý dùng rau sạch, nên người kinh doanh đáp ứng nhu cầu bằng cách dùng sâu
bỏ vào rau, hoặc cho rau vào các loại bao nilon và ghi bên ngoài là rau organic, rau sạch Theo kết quả điều tra gần đây, một số mẫu rau, quả tươi chứa dư lượng thuốc bảo quản ảnh hướng đến sức khỏe người từ 30 đến 60% Có đến 66,6% mẫu rau cải tại Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai có dư lượng chất bảo vệ thực vật vượt giới hạn cho phép Thậm chí một số thuốc bảo vệ thực vật bị cấm sử dụng như Methamidophos còn phát hiện sử dụng nhiều trong rau xanh.Điển hình đối với loại rau “quốc dân” là rau muống, thì không thể thiếu trong các bữa cơm Việt, nhìn món rau muống xào tỏi tươi xanh từ nhà đến hàng cơm, nhà hàng sang trọng nhưng người tiêu dùng không biết chúng được trồng và thu hoạch bằng công nghệ siêu tốc, bình thường để thu hoạch một lứa rau phải mất ít nhất một tuần nhưng chỉ cần hai ngày là đã
có rau xanh tươi ngon, không úng Người trồng chỉ việc cắt sát gốc các cọng rau và tưới một lượng thuốc tăng trưởng, sau 01 đêm đã đạt kích thước như mong đợi.Ngoài
ra, nhiều người trồng rau đã dùng nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi để tưới rau làm cho hàm lượng kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh trong rau quả cao hơn nhiều so với qui định của Bộ Y tế… Đó chính là nguyên nhân làm phát sinh các bệnh cấp tính, là mầm mống gây ra nhiều loại bệnh đặc biệt nguy hiểm
Thêm vào đó, các thực phẩm từ gia súc, gia cầm như: lợn, bò, gà, vịt… không
ít người chăn nuôi cũng sử dụng những loại cám tăng trọng không rõ nguồn gốc để kích thích tăng trưởng, thậm chí những người kinh doanh thực phẩm còn sử dụng nhiều loại chất tẩy rửa thịt cá ôi thối để che mắt khách hàng,… tiếp theo là hoạt động chế biến, giết mổ gia súc, gia cầm thì VSATTP còn ở trong tình trạng đáng ngại hơn Hầu hết các cơ sở giết mổ động vật không đáp ứng yêu cầu vệ sinh Cơ
Trang 37quan thú y chỉ kiểm soát được 50% lượng thịt tươi lưu thông trên thị trường Điều này cho thấy đối với lượng thịt trôi nổi ngoài thị trường có rất nhiều điều kiện đến tay người tiêu dùng
Ngoài những thực phẩm không rõ nguồn gốc bày bán ở các chợ, thực phẩm nhập đa quốc gia đến các thực phẩm có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan QLNN đang bày bán trong siêu thị vẫn chưa có sự đảm bảo nào về chất lượng: Qua kiểm định của cơ quan chức năng tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội có nhiều kết quả: các mẫu nước tương lấy từ siêu thị có tỷ lệ chất 3-MCPD (chất gây ung thư) khá cao Các sản phẩm chế biến như dưa chua, nem chua, giò, chả, rau chuối, bồn bồn,… đều có hàn the và formol Gần đây nhất là vụ Trung tâm Y tế cộng đồng Osaka Nhật Bản đã ra lệnh thu hồi toàn bộ 18.168 chai tương ớt nhập khẩu từ Việt Nam do có chứa chất phụ gia bị cấm dùng trong sản xuất tương ớt ở Nhật Các chai tương ớt mang nhãn hiệu Chin – su của Công ty Masan bị thu hồi do chứa các phụ gia (axit benzoic, axit sorbic ) chưa được kiểm định tại Nhật, vi phạm Điều 11 Khoản 2 Luật Vệ sinh Thực phẩm của Nhật Bản Điều này cho thấy với các nước tiên tiến luôn có sự kiểm định chặt chẽ đối với người tiêu dùng, họ định lượng cả thói quen ăn uống trong quá trình quản lý, đối với chất không cấm như axit benzoic
họ vẫn tính đến người dân nếu ăn quá nhiều vượt cả định lượng cho phép cũng gây ảnh hưởng đến sức khỏe nên việc thu hồi gây tổn thất nhưng họ vẫn thực hiện nhằm đảm bảo sức khỏe người dân trước những chất bị giới hạn Còn quan điểm của chúng ta, chỉ cần chất không cấm có thể đem vào sản phẩm mà chưa quan tâm sâu đến người tiêu dùng Tương tự như trong cả hai trường hợp trên, nếu cơ quan chức năng không kiểm tra các mẫu nước tương, Nhật không trả hàng thì người dùng còn khá lâu mới biết bên trong sản phẩm mình dùng có chứa chất gì,…
Thực phẩm không an toàn đe dọa trực tiếp sức khỏe người tiêu dùng Sử dụng các loại thực phẩm không an toàn, người tiêu dùng đã phải trả giá quá đắt bằng chính sức khoẻ, thậm chí cả tính mạng của mình do bị ngộ độc thực phẩm và mầm mống gây ra căn bệnh ung thư quái ác đang ngày một tích tụ và chờ bộc phát Nhưng có không ít người tiêu dùng không quan tâm đến vấn đề an toàn vệ sinh thực
Trang 38thịt….).Các hóa chất độc hại như thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, trừ bệnh và thuốc trừ cỏ dại…), thuốc kích thích tăng trưởng, kim loại nặng, các vi sinh vật gây bệnh có trong các loại rau quả hoặc các chất kháng sinh, chất tăng trọng có trong thịt cá sẽ tích lũy dần trong các mô mỡ, tủy sống…của con người là tiền đề để phát sinh các loại bệnh tật như ung thư, loãng xương, suy giảm trí nhớ và thoái hóa xương khớp
Trước tình hình mất kiểm soát về ATTP, ngày 09 tháng 5 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg về tăng cường trách nhiệm QLNN về ATTP Nội dung của Chỉ thị nhằm đề cao trách nhiệm, tăng cường hiệu lực QLNN, tạo bước chuyển biến tích cực trong công tác quản lý, bảo đảm ATTP Thủ tướng Chính phủ chỉ thị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện nghiêm túc, đầy đủ trách nhiệm quản lý ATTP và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về thực hiện trách nhiệm được giao Ngày 21 tháng 6 năm 2017,Quốc hội cũng đã thống nhất thông qua Nghị quyết số 43/2017/QH14 về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về ATTP giai đoạn 2016 – 2020, trong đó nêu rõ, công tác xử lý vi phạm về ATTP thời gian qua còn thụ động nể nang, né tránh Theo Nghị quyết này, để khắc phục những tồn tại, yếu kém, đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật về ATTP trong giai đoạn 2016 - 2020, Nghị quyết giao Chính phủ tập trung thực hiện 8 nhiệm vụ và giải pháp
Tuy nhiên, có một thực tế là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ATTP chưa được hệ thống hóa, một số quy định còn chưa rõ ràng, còn thiếu cụ thể về phân công trách nhiệm giữa các bộ, ngành và địa phương Bên cạnh đó, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật còn thiếu; công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện và cơ chế phối hợp của các cấp, các ngành chưa theo kịp tình hình thực tế, hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan QLNN chưa cao…Tại một số địa phương, tình trạng vi phạm pháp luật về ATTP còn khá phổ biến; sử dụng chất cấm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm vẫn diễn ra ở nhiều nơi; một lượng lớn thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không bảo đảm an toàn vẫn lưu thông trên thị trường; thực phẩm nhập lậu vẫn diễn ra
Trang 39Mặt khác, điều kiện chăn nuôi, hạ tầng chợ, cơ sở kinh doanh DVAU, cơ sở giết mổ còn nhiều yếu kém; sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ không kiểm soát được an toàn vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn; công nghệ chế biến lạc hậu; việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm còn nhiều khó khăn Công tác thu hồi, xử lý thực phẩm không
an toàn thực hiện chưa nghiêm; tình hình ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm diễn ra khá nghiêm trọng; yếu tố môi trường tự nhiên, môi trường sản xuất, kinh doanh thực phẩm chưa được quan tâm đúng mức Việc quy hoạch vùng sản xuất thực phẩm an toàn chưa gắn với thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, xuất xứ của sản phẩm
Hơn nữa, việc thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại về ATTP còn thụ động,
xử lý vi phạm chưa kiên quyết, còn có biểu hiện nể nang, né tránh; chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật chưa bảo đảm tính răn đe Công tác vận động, tuyên truyền, giáo dục về ATTP còn hạn chế Hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn chưa được chú trọng đúng mức Mặc dù, nhà nước và các cơ quan chức năng đã
có nhiều giải pháp nhằm nâng cao VSATTP, cũng như tạo ra hành lang pháp lý để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng Tuy nhiên, vấn đề kiểm tra, kiểm soát vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn cả về mặt con người lẫn phương tiện giám định đồng bộ thực phẩm Vì vậy, thiết nghĩ, để nâng cao chất lượng thì phải không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng thực phẩm, cũng như công tác tuyên truyền cho mọi tầng lớp nhân dân
2.2 Tình hình quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống từ thực tiễn trên địa bàn quận Gò Vấp, Thành phồ
Hồ Chí Minh
2.2.1 Đặc điểm tình hình chung quân Gò Vấp
Quận Gò Vấp là một quận nội thành nằm ở phía Bắc và Tây Bắc Thành phố
Hồ Chí Minh, Bắc giáp Quận 12, Nam giáp quận Phú Nhuận, Tây giáp quận 12 và quận Tân Bình, Đông giáp quận Bình Thạnh, cách trung tâm Thành phố khoảng 7
km Diện tích đất tự nhiên của Quận là 19,74 km2 trải dài theo hướng Đông - Tây
Từ những năm 80, quận Gò Vấp được xem là một Quận có tốc độ đô thị