1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù ở Hà Nội hiện nay

86 46 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 159,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc chọn đề tài xuất phát từ mong muốn được đóng góp công sức bé nhỏ góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của Hà Nội thủ đô ngàn năm văn hiến, cụ thể là bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù. Ca trù không phải là nghệ thuật của riêng đất Thăng Long. Tuy nhiên, chính tại mảnh đất kinh kỳ, nơi hội tụ những tao nhân mặc khách, những tinh hoa văn hóa khắp mọi miền đất nước đã tạo điều kiện nuôi dưỡng Ca trù phát triển rực rỡ nhất. Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù ở Hà Nội hiện nay tuy đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải giải quyết kịp thời.Thông qua việc tìm hiểu thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù tại Hà Nội, sinh viên mong muốn được đề xuất những giải pháp góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị ấy. Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù cũng là góp phần giữ gìn và phát huy giá trị âm nhạc truyền thống, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc.Là một người thuộc thế hệ trẻ, hơn nữa lại là sinh viên thuộc chuyên ngành Văn hóa và phát triển, em luôn ý thức trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ và phát huy những giá trị của nền văn hóa dân tộc và hy vọng sẽ đem chút công sức nhỏ bé của mình để lan tỏa ý thức, trách nhiệm ấy trong giới trẻ.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền và lãnh đạo khoa Tuyên truyền đã tạo cơ hội và điều kiện để em được thực hiện khóa luận tốt nghiệp.

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tận tâm giảng dạy cho em những kiến thức quý báu, giúp em có nền tảng kiến thức vững chắc để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp một cách thuận lợi nhất.

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Ngọc Trung, người thầy đã dành thời gian, công sức để nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận Qua đây em xin gửi tới thầy lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc.

Dù đã có rất nhiều cố gắng và nỗ lực để hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất nhưng do hạn chế về năng lực, kiến thức, kỹ năng của bản thân và thời gian có hạn nên khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp của quý thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn.

Em xin trân trọng cảm ơn!

Người thực hiện Nguyễn Thị Thu Huyền

Trang 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

Trang 3

DANH MỤC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN (Số liệu điều tra xã hội học của sinh viên năm 2017)

Bảng 3.1 Phân tích ưu điểm, hạn chế

của một số mô hình CLB, GP tiêu

biểu ở thủ đô Hà Nội

74

Bảng 3.2: Các biện pháp để nghệ

thuật Ca trù được các bạn trẻ biết

đến nhiều hơn ở Hà Nội

76

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việc chọn “Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù ở Hà Nội hiện nay”làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học xuất phát từ những lý do sau:

Trước hết, việc chọn đề tài xuất phát từ nhận thức về sự cần thiết phải bảo tồn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tếthế giới hiện nay, bên cạnh những thời cơ và thuận lợi cho sự phát triển của đất nước,Việt Nam cũng đồng thời phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có nguy cơ đánhmất bản sắc văn hóa dân tộc Văn hóa là nền tảng tinh thần, là sức mạnh nội sinh củamột quốc gia, dân tộc, là “chứng minh thư” để nhận diện quốc gia này với quốc giakhác Đánh mất bản sắc văn hóa cũng chính là đánh mất nền tảng, sức mạnh của quốcgia Chính vì vậy mà trong nhiều nghị quyết Đại hội, Đảng ta luôn nhấn mạnh nhiệm

vụ phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh đất nước hiện nay

Thêm vào đó, sinh viên luôn dành tình yêu và sự trân trọng dành nền âm nhạctruyền thống Việt Nam nói chung và nghệ thuật Ca trù nói riêng Âm nhạc truyềnthống là một bộ phận cấu thành nền văn hóa Việt Nam và thể hiện đậm nét bản sắcvăn hóa dân tộc Nghệ thuật Ca trù là một loại hình âm nhạc truyền thống của ViệtNam, thể hiện chiều sâu văn hóa, chiều sâu tâm hồn của cộng đồng người Việt, hội tụnhững tinh hoa của văn hóa dân tộc Đây là bộ môn nghệ thuật vừa mang tính dângian, vừa thể hiện tính bác học và gắn liền với phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âmnhạc, tư tưởng, triết lý của người Việt

Thời điểm sau năm 1945, nghệ thuật Ca trù vốn tao nhã và sang trọng bị hiểulầm và đánh đồng với sinh hoạt thiếu lành mạnh ở một số ca quán đô thị khiến cho xãhội chối bỏ và quyết loại Ca trù khỏi đời sống văn hóa Một thời gian khá dài Ca trù

đã không được nuôi dưỡng và phát triển, tôn vinh, tồn tại thiếu sinh khí và tàn lụi

Trang 5

Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ tư của Ủy ban liên chính phủCông ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 2tháng 10 năm 2009), Ca trù đã được công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩncấp Việc này đã khẳng định vị trí nghệ thuật Ca trù không chỉ đối với dân tộc ViệtNam mà còn ở tầm nhân loại nhưng cũng đồng thời rung lên hồi chuông cảnh báo vềtình trạng mai một, có nguy cơ thất truyền của Ca trù.

Mặc dù Việt Nam đã có nhiều cố gắng và có sự hỗ trợ của một số tổ chức quốc

tế trong việc bảo vệ Ca trù song sức sống của Ca trù hiện nay vẫn chưa phải ở mứccao và vẫn cần phải được bảo vệ hơn nữa để phát triển khả năng tồn tại Vì vậy khinhận được vinh dự tự hào này chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn lợi ích, tráchnhiệm và nghĩa vụ của mỗi người, của toàn xã hội trong việc bảo vệ tài sản văn hóaquý báu mà cha ông ta đã để lại

Lý do chọn đề tài còn xuất phát từ mong muốn được đóng góp công sức bé nhỏgóp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của Hà Nội - thủ đô ngàn năm vănhiến, cụ thể là bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù Ca trù không phải là nghệthuật của riêng đất Thăng Long Tuy nhiên, chính tại mảnh đất kinh kỳ, nơi hội tụnhững tao nhân mặc khách, những tinh hoa văn hóa khắp mọi miền đất nước đã tạođiều kiện nuôi dưỡng Ca trù phát triển rực rỡ nhất Là địa phương hiện có 14 CLB Catrù, là số lượng đông nhất so với các tỉnh thành khác, Hà Nội đang trăn trở và hết sức

nỗ lực để đưa Ca trù thoái khỏi tình trạng khẩn cấp Bảo tồn và phát huy giá trị nghệthuật Ca trù ở Hà Nội hiện nay tuy đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng cũngđặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải giải quyết kịp thời

Thông qua việc tìm hiểu thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trùtại Hà Nội, sinh viên mong muốn được đề xuất những giải pháp góp phần gìn giữ,phát huy những giá trị ấy Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù cũng là gópphần giữ gìn và phát huy giá trị âm nhạc truyền thống, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 6

Là một người thuộc thế hệ trẻ, hơn nữa lại là sinh viên thuộc chuyên ngành Vănhóa và phát triển, em luôn ý thức trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ và phát huynhững giá trị của nền văn hóa dân tộc và hy vọng sẽ đem chút công sức nhỏ bé củamình để lan tỏa ý thức, trách nhiệm ấy trong giới trẻ.

Ngọc, Phạm Quỳnh,… viết về Ca trù In tại Hà Nội năm 1932, tác phẩm Đào nương

ca của Nguyễn Văn Ngọc giới thiệu tuyển tập 111 bài Hát nói Ca trù Nhạc sĩ Nguyễn

Xuân Khoát là người đầu tiên viết về Ca trù dưới góc độ một người nghiên cứu âm

nhạc, ông đã có nhiều bài đề cập đến nhiều khía cạnh của nghệ thuật Ca trù: Hát Ả đào (Báo Ngày nay, 1940, số 214-219), Trống chầu (Tạp chí Thanh Nghị, 1942, số 17), Tiếng hát đào nương (Tạp chí Thanh Nghị, 1943, số 51-54)

Đặc biệt, phải kể đến Việt Nam Ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ

Trọng Huề in năm 1962 tại Sài Gòn Cuốn sách không chỉ bao gồm tuyển tập gần 230bài thơ Ca trù mà còn dành một số lượng lớn trang viết cho việc biên khảo: lược sử Catrù, những danh từ chuyên môn trong nghề Ca trù, GP, những lối Ca trù, nhạc khí…

Năm 1980, Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội tổ chức biên soạn tập sách Hát cửa đình Lỗ Khê, giới thiệu về một làng quê có truyền thống Ca trù ở Thủ đô.

Năm 1987, Tuyển tập thơ Ca trù của các tác giả Ngô Linh Ngọc và Ngô Văn

Phú bên cạnh việc tuyển chọn các bài thơ Ca trù còn giới thiệu về nghệ thuật Ca trù vànhấn mạnh đến khía cạnh văn hóa độc đáo của sinh hoạt Ca trù và nhắc đến Hát nóinhư một thể thơ Ca trù mới Phụ lục của sách đề cập đến âm luật Ca trù, tiếng hát vànhạc khí, những điệu hát thông dụng và phép đánh trống chầu

Trang 7

Năm 2000, công trình Góp phần tìm hiểu lịch sử Ca trù của Nguyễn Xuân Diện

in tại NXB Khoa học Xã hội Hà Nội góp phần vào việc tìm hiểu cội nguồn và diễntrình lịch sử Ca trù dựa trên các nguồn tư liệu, chủ yếu là tư liệu Hán – Nôm Có thểnói đây là nguồn tư liệu đầy đủ nhất về lịch sử Ca trù từ trước đến nay, tác giả đã ghilại 34 tư liệu viết bằng chữ Hán Nôm, 70 văn bia và 92 sách báo viết bằng chữ quốcngữ về Ca trù

Năm 2000, tại Viện Văn học, Nguyễn Đức Mậu bảo vệ thành công luận án Tiến

sĩ Ngữ văn với đề tài Thể loại Hát nói trong sự vận động của lịch sử văn học.

Năm 2003, tác giả Nguyễn Đức Mậu giới thiệu Ca trù nhìn từ nhiều phía in tại

NXB Văn hóa thông tin Hà Nội Cuốn sách tổng hợp cách nhìn về Ca trù từ cácphương diện âm nhạc, văn học, ngôn ngữ học, văn hóa, truyền thuyết, từ các vùng quênổi tiếng về Ca trù trong lịch sử như Cổ Đạm, Lỗ Khê đến các địa phương của Nghệ

An, Thanh Hóa và cả Ca trù trong đời sống, trong tâm thức văn nghệ sỹ

Năm 2005, Chính phủ Việt Nam giao cho Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịchchuẩn bị hồ sơ đệ trình tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục của Liên Hợp Quốc(UNESCO) công nhận Ca trù là Kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền miệng của nhânloại Được xây dựng và hoàn thành sau 4 năm, tài liệu này nghiên cứu tổng thể vềnghệ thuật Ca trù, tổng hợp thông tin về số lượng tỉnh thành, xã thôn, xóm còn lưu giữnghệ thuật Ca trù ở Việt Nam, số lượng nghệ nhân và những tư liệu về nghề tổ Ca trù

ở một số địa phương

Ngày 16-7-2005, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức buổi thuyết trình củaNguyễn Xuân Diện về “Lịch sử và nghệ thuật Ca trù Việt Nam”, góp phần làm sáng tỏhơn về lịch sử và sự phát triển của bộ môn Ca trù trong lịch sử

Năm 2007, tác phẩm Lịch sử và Nghệ thuật Ca trù – khảo sát nguồn tư liệu tại viện Nghiên cứu Hán Nôm in tại NXB Thế giới của tác giả Nguyễn Xuân Diện đã

trình bày nhiều vấn đề về lịch sử phát triển Ca trù và nghệ thuật Ca trù dựa trên nguồn

Trang 8

tư liệu Hán Nôm có giá trị đồng thời cung cấp được nhiều cứ liệu quan trọng trongviệc phục hồi không gian văn hóa Ca trù và phát triển nghệ thuật Ca trù

Năm 2010, tác giả Nguyễn Đức Mậu giới thiệu Ca trù Hà Nội trong lịch sử và hiện tại in tại NXB Hà Nội: nghiên cứu Ca trù Hà Nội theo tiến trình lịch sử; sưu tầm

biên soạn các bài Ca trù và các văn bản nói về sinh hoạt Ca trù Qua đó, chứng minhvai trò quan trọng của Hà Nội trong suốt chiều dài lịch sử Ca trù Tác giả cũng đi sâunghiên cứu các vấn đề ngôn ngữ, âm nhạc trong Ca trù, nhất là tính lan toả, chi phốicủa Ca trù Thăng Long - Hà Nội Có thể nói tác phẩm đã cung cấp một khối lượng tưliệu phong phú góp phần bảo tồn, lưu giữ nghệ thuật Ca trù

Năm 2016, tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia, Nguyễn Đức Thắng bảo vệ

thành công Luận án tiến sĩ Hoạt động biểu diễn nghệ thuật Ca trù của một số câu lạc

bộ, GP tại Hà Nội Lần đầu tiên có một công trình khoa học nghiên cứu kỹ lưỡng về

thực trạng hoạt động nghệ thuật Ca trù tại Hà Nội

Năm 2017, tác phẩm Ca trù – Phía sau đàn phách của Nguyễn Xuân Diện in tại

NXB Phụ nữ đem đến cái nhìn tương đối toàn diện về nghệ thuật Ca trù: Tổ nghề vàhành trình Ca trù trong lịch sử, những đặc trưng nghệ thuật Ca trù (nhạc khí và âmluật, thể cách, thơ) cùng lề lối sinh hoạt Ca trù, tổ chức GP và đời sống đào nương.Đặc biệt là những câu chuyện phía sau đàn phách được kể bởi các nhà văn và nhà vănhóa, góp phần tái hiện không khí sinh hoạt văn nghệ thời tiền chiến với những địadanh nức tiếng gắn với các GP ả đào như Xóm Khâm Thiên, Thái Hà, Ngã Tư Sở, GiaLâm

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp nhiều tư liệu qúy giá

về nghệ thuật Ca trù trên nhiều phương diện nhưng ít đề cập đến vấn đề bảo tồn, pháthuy giá trị nghệ thuật Ca trù Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu

về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù trên địa bàn Hà Nội hiệnnay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 9

b Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, khóa luận tập trung giải quyết những nhiệm

vụ sau đây

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo tồn và phát huy giá trịnghệ thuật Ca trù

- Tìm hiểu thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù ở Hà Nội qua

đó đánh giá những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường bảo tồn và phát huy giá trị nghệthuật Ca trù

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù ở Hà Nội

b Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian:

Nghệ thuật Ca trù có mặt ở các tỉnh phía Bắc gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, HàNội, Bắc Giang, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, nhưng trong đề tài khóa luận xin phép chỉ tậptrung nghiên cứu thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù trên địa bànthành phố Hà Nội

- Phạm vi thời gian: từ năm 2009 (thời điểm Ca trù Việt Nam chính thức đượcUNESCO ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩncấp) đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 10

a Phương pháp luận

Dựa trên cơ sở phương pháp luận của Triết học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ ChíMinh; đường lối, quan điểm chỉ đạo về bảo tồn và phát huy di sản của Đảng Cộng sảnViệt Nam, chiến lược, đề án bảo tồn và phát huy nghệ thuật Ca trù của Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

b Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp chung: phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa học, xã hộihọc, lịch sử văn hóa, văn hóa dân gian,…

- Phương pháp cụ thể: phương pháp thu thập và tổng hợp dữ liệu, phân tích,điền dã, so sánh, lập bảng hỏi điều tra,…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận

a Ý nghĩa lý luận

- Làm rõ vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống dân tộc.

- Đề tài cho thấy tính cấp thiết của hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị nghệ

thuật Ca trù ở Hà Nội

b Ý nghĩa thực tiễn

- Khảo sát thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù ở Hà Nội

- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp cơ bản góp phần tăng cường bảo tồn vàphát huy giá trị nghệ thuật Ca trù ở Hà Nội hiện nay

7 Kết cấu khóa luận

Khóa luận bao gồm các phần:

Trang 11

Chương 3: Giải pháp tăng cường bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù ở

Hà Nội hiện nay

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 12

CHƯƠNG 1: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CA TRÙ

-CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Giá trị nghệ thuật Ca trù

1.1.1.1 Giá trị

“Giá trị” là thuật ngữ được dùng trong nhiều bộ môn khoa học khác nhau nhưtoán học, xã hội học, triết học, nghệ thuật, văn hóa học do vậy, trong mỗi bộ mônkhoa học khái niệm này mang những hàm nghĩa khác nhau

Ở nước ta, các nhà xã hội học Việt Nam có những quan niệm khác nhau về “giátrị” Trong đó, nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn - Nguyễn Thạc - Mai Văn Trangtrong công trình “Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” đã khẳngđịnh rõ hơn yếu tố chủ thể thông qua tình cảm, nhận thức, hành vi của chủ thể “bất cứ

sự vật nào cũng có thể xem là có giá trị, dù nó là vật thể tư tưởng, miễn là nó đượcngười ta thừa nhận, người ta cần đến nó như một nhu cầu, hoặc cấp cho nó một vị tríquan trọng trong đời sống của họ, trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức,yếu tố tình cảm và yếu tố hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật, hiệntượng mang giá trị, thể hiện sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể”

Đứng dưới góc độ văn hóa học, trong công trình “Bảo tồn, làm giàu và phát huycác giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam trong đổi mới và hội nhập” do NgôĐức Thịnh chủ biên cũng đã định nghĩa về giá trị như sau: “Giá trị là hệ thống nhữngđánh giá mang tính chủ quan của con người về bất cứ một hiện tượng tự nhiên, xã hội

và tư duy theo hướng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp Nói theo cách của cácnhà triết học phương Tây một thời, đó là những cái con người cho là chân, thiện, mỹgiúp khẳng định và nâng cao bản chất con người Một khi những nhận thức giá trị ấy

Trang 13

đã hình thành và định hình thì nó chi phối cách suy nghĩ, hành vi, niềm tin, tình cảmcủa con người”

Tóm lại, thuật ngữ “giá trị” bao hàm ý nghĩa là nhu cầu, cái ao ước, cái có ích,cái cần và được chia sẻ trong cộng đồng xã hội và giá trị đó chi phối đến cách suynghĩ, hành vi, niềm tin Nếu xem văn hóa là hệ thống các giá trị thì giá trị văn hóađược sáng tạo và kết tinh trong quá trình hoạt động thực tiễn của mỗi cộng đồng trong

sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Giá trị văn hóa hướng đếnthỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp (chân -thiện - mỹ) từ đó bồi đắp và nâng cao tình cảm con người

1.1.1.2 Nghệ thuật Ca trù

* Nghệ thuật

Xem “nghệ thuật” là một hiện tượng xã hội, Chủ nghĩa Mác – Lênin xuất phát

từ những mối liên hệ thực tế giữa nó với toàn bộ các hiện tượng xã hội để giải thích:

“nghệ thuật” là một hình thái ý thức xã hội thuộc thượng tầng kiến thức, nảy sinh từ

cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định, đồng thời, có tác dụng trở lại cơ sở hạtầng Xem “nghệ thuật” là một hình thái ý thức xã hội thuộc thường tầng kiến trúc và

lý giải nó trong mối quan hệ biện chứng giữa cơ sơ hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,lần đầu tiên trong lịch sử mỹ học nhân loại, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đem đến chonhân loại một kiến giải duy nhất đúng đắn về bản chất của “nghệ thuật”

Trên cơ sở quan niệm chủ nghĩa Mác – Lênin, có thể hiểu “nghệ thuật” là mộthình thái ý thức xã hội đặc thù, một hình thái cao nhất, tập trung nhất của quan hệthẩm mĩ của con người đối với hiện thực Hình thái ấy có sự kết hợp hữu cơ, liên tụcgiữa tư duy bằng hình tượng và hoạt động sáng tạo thế giới theo quy luật của cái đẹpnhận thức

Có thể hiểu nghệ thuật là hoạt động sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặcphi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng-thẩm mỹ, mang tính chất văn hóalàm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức Với cách hiểu này,

Trang 14

khái niệm ‘nghệ thuật” được dùng để chỉ các loại hình nghệ thuật: văn học, âm nhạc,hội họa, điêu khắc, kiến trúc, sân khấu, múa, điện ảnh, nhiếp ảnh Mỗi loại hình nghệthuật khác nhau sẽ sử dụng những phương tiện và chất liệu khác nhau để hình thànhnên tác phẩm của mình nhằm biểu đạt một tư tưởng, tình cảm,…

mà tính tiền trả cho đào và kép hoặc GP Người quyết định việc thưởng này chính làcác vị quan viên sử dụng trống chầu Như vậy “Ca trù” có nghĩa là hát thẻ

Ca trù với ý nghĩa là lối hát có dùng thẻ để thưởng như trên thì chỉ có ở đìnhđền, tức là hát thờ Tùy thuộc vào không gian văn hóa, không gian địa lý, hoàn cảnhlịch sử mà nghệ thuật Ca trù còn có các tên gọi khác như: Ả đào, đào nương ca, cacông, cô đầu (hát ở các ca quán), nhà trò (hát ở đình, đền, miếu), nhà tơ (hát ở dinhquan, tư gia các gia đình quyền quý), cửa quyền (trong cung phủ),…

Ca trù là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp, là sự phối hợp đa dạng, tinh vi,nhuần nhuyễn giữa thi ca, âm nhạc và đôi khi có cả múa

1.1.1.3 Giá trị nghệ thuật Ca trù

Giá trị nghệ thuật Ca trù là nhu cầu của cộng đồng xã hội cần được biết, đượchiểu về âm nhạc truyền thống Ca trù, và nghệ thuật Ca trù cần được hiểu biết, trântrọng, chia sẻ, phổ biến trong cộng đồng bởi vị trí, vai trò và ý nghĩa của nó đối vớinền âm nhạc cổ truyền, với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

1.1.2 Bảo tồn và phát huy

Trang 15

1.1.2.1 Bảo tồn

Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn

có của nó Bảo tồn là giữ lại, không để mất đi, không để bị thay đổi, biến hóa hay biếnthái

Đối tượng cần được bảo tồn (các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể)cần thỏa mãn hai điều kiện:

- Một là, nó phải được coi là tinh hoa, là một giá trị đích thực được thừa nhậnminh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi

- Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài vớithời gian, là cái giá trị của nhiều thời (tức là có giá trị lâu dài) trước những biến đổi tấtyếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong bối cảnh nền kinh tếthị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động

Có hai hình thức bảo tồn là bảo tồn ở dạng tĩnh và bảo tồn ở dạng động

- Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dạng tĩnh là vận dụng thành quả khoahọc kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như vốn có

về kích thước, vị trí, chất liệu, đường nét, màu sắc, kiểu dáng Khi cần phục nguyên,cần sử dụng hiệu quả các phương tiện kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vi tính công nghệ3D theo không gian ba chiều, chụp ảnh, băng hình video, xác định trọng lượng, thànhphần chất liệu của di sản văn hóa vật thể Sau khi bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánhđối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để không làm biến dạng

Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng tĩnh là điều tra sưu tầm, thu thập các dạngthức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc chặt chẽ,giữ chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình (video), băng tiếng(audio), ảnh Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong cáckho lưu trữ, các viện bảo tàng

- Bảo tồn động tức là gắn di sản đó với không gian và môi trường sống của nó.Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn động là bảo tồn các hiện tượng văn hóa

Trang 16

đó ngay chính trong đời sống cộng đồng Bởi lẽ, cộng đồng không những là môitrường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất để giữgìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy chúng trong đời sống xã hội Các hiện tượng vănhóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng đồng, nương náu trong tiếng nói, hình thứcdiễn xướng, nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩntrong tâm thức và trí nhớ của những con người đặc biệt mà chúng ta thường mệnhdanh là những nghệ nhân hay là những báu vật nhân văn sống

Do đó bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể còn đồng nghĩa vớiviệc bảo vệ những báu vật nhân văn sống Đó là việc xã hội thừa nhận các tài năngdân gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều kiện tốt nhất để họ sống lâu, khỏemạnh, phát huy được khả năng trong quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóatruyền thống Cần phải phục hồi các giá trị một cách khách quan, sáng suốt, tin cậy,khoa học chứ không thể chủ quan, tùy tiện Tất cả những giá trị phải được kiểm chứngqua nhiều phương pháp nghiên cứu có tính chất chuyên môn cao, có giá trị thực chứngthuyết phục thông qua các dự án điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bảncác dấu tích di sản văn hóa phi vật thể

1.1.2.2 Phát huy

“Phát huy” được hiểu là hành động nhằm đưa di sản vào trong thực tiễn xã hội,coi đó như nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lạinhững lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóađối với sự phát triển của xã hội

Phát huy các giá trị di sản văn hóa phải đảm bảo những nguyên tắc:

- Phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết kế thừa có chọn lọc những tinhhoa văn hóa của đời trước để lại, làm cho các giá trị đó thấm sâu, lan tỏa vào đời sốngcộng đồng xã hội để cộng đồng nhận diện được và biết trân trọng những giá trị ấy

Trang 17

- Phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết mở rộng giao lưu văn hóa để làmgiàu thêm bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị văn hóa trong bối cảnh toàn cầuhóa.

- Phát huy các giá trị di sản văn hóa nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững,phục vụ tích cực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa

1.1.2.3 Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy

Bảo tồn và phát huy là hai hoạt động có sự gắn kết chặt chẽ biện chứng, chiphối tác động lẫn nhau

Bảo tồn di sản văn hóa không chỉ là cất giữ cho khỏi mất di sản, để giữ gìn bảnsắc dân tộc mà bảo tồn còn là để phát triển, khai thác các giá trị văn hóa truyền thống,làm cho nó có thể sống lại, tồn tại trong đời sống thực, thu hút sự quan tâm của cộngđồng nhờ đó mà các gía trị được vận hành, thâm nhập vào cuộc sống hiện tại Pháthuy giá trị di sản là đưa các giá trị đó đến với cộng đồng, giúp cộng đồng phát triểnkinh tế và đáp ứng cho công tác bảo tồn hoàn thiện hơn

Tóm lại, bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trịvăn hóa Phát huy cũng là một cách bảo tồn di sản văn hóa tốt nhất bằng việc lưu giữgiá trị di sản trong ý thức cộng đồng xã hội

1.1.3 Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù

Bảo tồn giá trị di sản văn hóa Ca trù là tìm cách làm cho nó có thể sống thực sựtrong lòng công chúng, cộng đồng, tồn tại trong đời sống thực, còn phát huy các giá trị

Ca trù là để giúp cộng đồng phát triển văn hóa, tăng thu nhập, hiểu biết hơn về giá trị

Trang 18

Phát huy giá trị Ca trù là để nghệ thuật Ca trù đi vào trong cộng đồng, đó làhoạt động biểu diễn nghệ thuật của các CLB, GP Ca trù, một mặt là nhằm phát triểngiao lưu văn hóa, một mặt là để phát triển kinh tế Để phát huy giá trị di sản văn hóa

Ca trù thì phải biết mở rộng giao lưu văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa vàlàm thăng hoa giá trị văn hóa trong bối cảnh xã hội hiện đại ngày nay, tức là phảikhuyến khích các mô hình CLB, GP đã và đang tiên phong trong việc bảo tồn, nhưnglại phát huy thông qua các hoạt động du lịch, hoạt động biểu diễn cho du khách hoặchoạt động tổ chức các chương trình biểu diễn khác tại các liên hoan nghệ thuật, liênhoan du lịch, festival văn hóa trong và ngoài nước

Tóm lại, bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù là bảo vệ và duy nhữnggiá trị đó trong thực tiễn xã hội, làm cho các giá trị đó thấm sâu, lan tỏa vào đời sống

để cộng đồng nhận diện được và biết trân trọng những giá trị ấy, đồng thời coi đó nhưnguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợiích vật chất và tinh thần cho xã hội

1.2 Khái quát về nghệ thuật Ca trù

1.2.1 Nguồn gốc và lược sử phát triển

1.2.1.1 Nguồn gốc

Hiện nay chưa có tư liệu chính xác nào về thời điểm và nguồn gốc hình thànhnghệ thuật Ca trù Các nhà nghiên cứu chỉ có thể căn cứ vào một số ít nguồn tư liệu,chủ yếu là những truyền thuyết, thần tích được ghi chép lại qua truyền khẩu trongnhân dân Chính vì lí do đó, nguồn gốc hình thành Ca trù không thống nhất, tươngtruyền mỗi nơi một khác Đây là một vấn đề đặt ra với các nhà nghiên cứu trong hànhtrình tìm về cái nôi của Ca trù

Có ba tư liệu cổ nói tới nguồn gốc Ca trù được dân gian cũng như các nhànghiên cứu nhắc tới nhiều nhất:

Theo Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sĩ thì vào đầu Vua Lý Thái tổ (1010 - 1028)

có người ca nhi tên là Đào Thị hát hay đàn giỏi từng được vua ban thưởng Về sau vì

Trang 19

ái mộ danh tiếng Đào Thị nên con hát gọi là Đào nương Sách Khâm đinh viết sử cũng

ghi : “năm Thuận Thiên thứ 16 (1925) vua Lý Thái Tổ đặt chức Quản giáp cho giớicon hát Như vậy, từ các cứ liệu trên, Ca trù ít nhất cũng có từ đời Lý Tuy nhiên đâycũng chỉ là tương truyền mà chưa có các căn cứ chính xác

Đến đời nhà Hồ (1400 - 1407) lại có sách Công dư tiệp ký chép lại chuyện một

đào nương ở tại thôn Đài Xá, huyện Tiên Lữ - Hưng Yên múa giỏi hát hay Thời điểm

đó, quân Minh sang xâm chiếm nước ta gây bao cảnh tang thương Nàng đã cùng dânlàng lập mưu hạ được nhiều tên giặc Minh giúp làng Đài Xá được yên ổn Về saungười làng nhớ ơn nên đã lập đến thờ và thôn nàng ở trước đây gọi là thôn “Ả đào”

Có một thần tích về Tổ nghề Ca trù mà hiện nay được nhiều người ghi nhớnhất Đời nhà Lê có người tên là Đinh Lễ tự là Nguyễn Sinh, quê ở làng Cổ Đạm -Nghi Xuân, Hà Tĩnh Là con nhà gia thế song tính tình phóng khoáng, thích ca hát gảyđàn Một lần Đinh Lễ được một cụ già đưa cho một khúc gỗ ngô đồng và tờ giây vẽhình một cây đàn bảo rằng về làm cây đàn sẽ giúp trừ hoạ và mang lại an lành chonhân dân Quả nhiên cây đàn đã giúp cho cuộc sống của bà con hạnh phúc vui tươihơn Một hôm, Đinh Lễ đi qua châu Thường Xuân - tỉnh Thanh Hoá ngồi gảy đàn vôtình tiếng đàn đã giúp cho Bạch Hoa - con gái quan châu Bạch Đình Sa bị câm từ nhỏbỗng cất tiếng nói sau khi nghe đàn Cảm tạ ơn đó Bạch Hoa được gả cho Đinh Lễ Từđấy hai vợ chồng sống hạnh phúc, ca hát và còn dạy cả dân làng cách đàn, cách múa.Khi hai vợ chống mất đi, dân làng Cổ Đạm và đệ từ nhớ ơn lập đền thờ gọi là đền tổ

cô đầu, hay đền bà Bạch Hoa công chúa Hàng năm đến ngày 11 tháng Chạp có giỗ tổ

cô đầu và các đào kép khắp nơi lại tề tựu về ở Hưng Yên, Nam Định, Hà Nội ngàynay đều có đền thờ hai vị tổ sư này

Tóm lại, cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng nào về thời gian cũngnhư nguồn gốc hình thành nghệ thuật Ca trù Dựa vào những tư liệu cổ và truyềnthuyết, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng nghệ thuật Ca trù phát tích từ vùngThanh - Nghệ

Trang 20

1.2.1.2 Lược sử phát triển

Ở thế kỷ XV, Ca trù đã là một bộ môn nghệ thuật hoàn chỉnh Điều này được

chứng minh qua bài Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Tiến sĩ Lê Đức Mao (1462-1529) soạn trước năm 1505 được chép trong sách Lê tộc gia phả Bài thơ cho ta

mường tượng ra không khí đại lễ trang nghiêm, hào hùng của lễ hội đầu xuân cầuphúc của làng Đông Ngạc hồi cuối thế kỷ XV Trong bài thơ, chữ “Ca trù” xuất hiệnhai lần:

Thọ bôi kể chục, Ca trù điểm trăm;

Mừng nay tiệc Ca trù thị yến.

Chữ “Ca trù” trong câu thơ thứ nhất cho thấy đây là lối hát dùng thẻ để thưởng.Câu thơ thứ hai cho thấy tiệc Ca trù được mở để thờ thần Hát thờ ở cửa đình ĐôngNgạc cho thấy cái trống chầu đã có vai trò riêng: để thưởng và phạt, khen và chê Điềunày chứng tỏ việc thưởng thức nghệ thuật Ca trù đã đạt đến được một chuẩn mực, mộttrình độ đáng kể

Thế kỷ XVI, Ca trù gắn liền với ngôi đình làng ở Bắc Bộ Sự phát triển và phổbiến của nghệ thuật Ca trù ở thế kỷ XVI được ghi nhận bằng các bức chạm khắc dângian ở các đình làng Các bức chạm đình Lỗ Hạnh (huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang)

và đình Tây Đằng (xã Tây Đằng, huyện Ba Vì, Hà Nội) đều có các bức chạm hoặctượng hình người cầm đàn đáy Đình Lỗ Hạnh có bức chạm tiên nữ ngồi trên mìnhcon hươu cầm đàn đáy và một bức chạm khắc có cả đám nhạc công đang hòa nhạctrong đó có một người đàn ông cầm đàn đáy Tác phẩm điêu khắc dân gian này chothấy Ca trù đã có mặt trong những sinh hoạt văn hóa đình làng tại các làng quê thế kỷXVI

Thế kỷ XVII và XVIII, tổ chức GP Ca trù đã hoàn bị GP Ca trù không nhữngđược biểu diễn phục vụ trong các lễ hội dân gian ở các làng xã mà còn vượt ra khỏi

địa phương để tham gia các nghi thức tiếp khách của nhà nước Văn bia Bản huyện

GP lập đoan bi ký, soạn năm Long Đức 3 (1734) ghi việc GP An Thanh, huyện Lập

Trang 21

Thạch (Vĩnh Phúc) đã được mời về kinh đô để hát xướng tiếp đón sứ bộ các nước Từ

đó cho phép nhận định rằng nghệ thuật Ca trù vào thế kỷ XVIII đã là một trong nhữngđại diện của âm nhạc nước ta được đem giới thiệu trong hoạt động đối ngoại quốc gia.Nhiều tư liệu văn bia về hát cửa đình với lượng thông tin phong phú cho thấy suốt thờigian lịch sử lâu dài (ít nhất là từ năm 1672) đông đảo nhân dân đã yêu thích Ca trù,coi việc thưởng thức Ca trù như một nhu cầu văn hóa, và quan trong hơn, việc biểudiễn Ca trù đã đem lại nguồn lợi kinh tế cho cả đào kép lẫn GP

Thế kỷ XIX ghi dấu sự hoàn thiện của thể cách Hát nói – đỉnh cao phát triểncủa nghệ thuật Ca trù Hát nói là một thể thơ ca dân tộc được sinh ra từ nhu cầu của bộmôn nghệ thuật Ca trù và trở thành một thể thơ độc đáo trong nền văn học Việt Namnói chung và văn học chữ Nôm nói riêng Hai tác giả có công hoàn thiện thể Hát nói

là Nguyễn Bá Xuyến và Nguyễn Công Trứ Trong giai đoạn này, Ca trù ở ca quán đãđược tinh giản chỉ gồm phách, đàn đáy và chiếc trống chầu nhỏ xinh Thơ nương vàonhạc, nhạc phục vụ cho thơ Người nghe nhằm đến việc thưởng thức thơ là chính.Cảm xúc cộng đồng nhường chỗ cho cảm xúc cá nhân

Từ khi ra đời đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Ca trù chủ yếu tồn tại ở khuvực phía Bắc (Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tây cũ, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Hải Phòng, Huế,

…) Đến năm 1940, một nghệ nhân Ca trù ở Hải Phòng khi đó mới 16 tuối đã dẫn một

số đào kép vào Phú Nhuận, Sài Gòn mở ca quán Ca trù lan rộng khắp Việt Nam vàonửa đầu thế kỷ XX

Trước năm 1945, tại Huế vẫn diễn ra các nghi lễ cung đình chúc thọ hoàng đế.Trong nông thôn Việt Nam các GP vẫn duy trì nền nếp sinh hoạt Ca trù, phục vụ việchát thờ ở đình làng mỗi khi vào hội và hát chơi ở các nhà dân khi có khoa cử Một số

GP ở nông thôn đã di chuyền ra tỉnh và dọc các trục đường giao thông để mở nhà hát

Ở miền Trung, các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa đều có các nhà hát cô đầu; Ởmiền Bắc những thành phố lớn đều có nhà hát Những năm cuối thập niên 30 thế kỷ

XX, Hà Nội có 216 nhà hát và gần 2000 cô đầu tập trung trước thì ở Hàng Giấy, ấp

Trang 22

Thái Hà, sau đến Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, Vạn Thái, Chùa Mới, Cầu Giấy, Kim Mã,

… Trong số đó Khâm Thiên và Ngã Tư Sở là những địa chỉ nổi tiếng vì sự gắn bó vớinhững văn nghệ sĩ tên tuổi: Tản Đà, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Hoài Điệp Thứ Lang,

Vũ Hoàng Chương, Thế Lữ, Xuân Diệu Nguyễn Bính…

Sau năm 1945, trong một thời gian khá dài sinh hoạt Ca trù vốn tao nhã và sangtrọng trước đây đã bị hiểu lầm và đánh đồng với các sinh hoạt thiếu lành mạnh ở một

số ca quán đô thị khiến cho xã hội chối bỏ và quyết loại sinh hoạt Ca trù ra khỏi đờisống văn hóa Ca trù đã không được nuôi dưỡng và phát triển một cách tự nhiên,không được tôn vinh đúng mức, phải chịu tồn tại thiếu sinh khí và tàn lụi Nhiều nghệnhân, nghệ sĩ đã phải cố quên đi nghiệp đàn hát và giấu đi lai lịch của mình

Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát là người có công đầu khơi lại giá trị nghệ thuật của Ca trù Kế đó năm 1976, Giáo sư Trần Văn Khê đã ghi âm tiếng hát của nghệ nhân Quách Thị Hồ đem đi giới thiệu với thế giới Năm 1978, Hội đồng Âm nhạc Quốc tế của UNESCO và viện Nghiên cứu Quốc tế về âm nhạc so sánh đã trao bằng danh dự cho nghệ nhân Quách Thị Hồ vì công lao đặc biệt trong việc bảo tồn một bộ môn có giá trị văn hóa nghệ thuật cao Từ đó, tên tuổi của bà cùng tiếng hát Ca trù độcđáo của Việt Nam trở nên vang lừng trong bốn biển

Sau một thời gian dài trầm lắng, với những nỗ lực của các nghệ nhân, các nhà nghiên cứu và những khán giả, bộ môn nghệ thuật truyền thống này đã được hồi sinh 1/10/12009, Ca trù Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp Từ khi được UNESCO vinh danh, nhiều cuộc liên hoan nghệ thuật Ca trù được tổ chức, nhiều câu lạc bộ Ca trù ra đời, ngày càng có thêm nhiều người theo học và thưởng thức Ca trù Nghệ thuật Ca trù đã

và đang tìm lại cho mình một chỗ đứng trong đời sống văn hóa phong phú đa dạng hôm nay

1.2.2 Một số đặc trưng cơ bản

1.2.2.1 Đặc trưng nghệ thuật

Trang 23

* Thứ nhất, nhạc khí của Ca trù bao gồm đàn đáy, phách và trống chầu

Đàn Ðáy là một loại đàn đặc biệt do người Việt Nam sáng tạo được dùng riêng

để đệm cho Ca trù Thùng đàn hình vuông, cần dài, thường có ít nhất 11 phím, có 3dây (bằng tơ tằm hoặc sợi cước), khi đánh dùng móng và sử dụng một số kỹ thuậtnhấn nhá riêng để tạo những âm thanh đặc trưng của Ca trù Có thể nói đây là cây đàn

có cần đàn dài nhất trên thế giới Do cần đàn rất dài, phím đàn rất cao nên có nhữngngón độc đáo như ngón nhấn, ngón láy, ngón chùng, tiếng đàn ngón luyến thấp nghemềm mại, độc đáo Trong diễn tấu Ca trù, đàn đáy không chỉ là nhạc cụ đệm mà nócòn đóng vai trò là tiếng nói đối thoại với giọng hát, tiếng phách và tiếng trống trầu

Phách là nhạc khí làm bằng tre hoặc gỗ dùng để đệm cùng với tiếng hát của đàonương Cỗ phách gồm bàn phách và lá phách Hai lá phách nhỏ luôn luôn chập làmmột khi gõ gọi là phách con, lá phách tròn còn lại được gọi là phách cái Khi pháchcon và phách cái chơi sẽ tạo nên những âm thanh rất khác biệt Người chơi cỗ pháchtrong suốt quá trình diễn tấu sẽ ngẫu hứng tạo nên những tiết tấu cỗ phách Tuy vai trògiữ nhịp của phách trong Ca trù tương tự như mõ trong hát chèo, phách trong chầuvăn song Ca trù không đơn thuần sử dụng tiếng phách đơn lẻ mà dùng các khổ phách(phách khoan, phách mau, phách dóc, khổ song, khổ siết) trong đó có sự kết hợp nhiềutiếng phách khác nhau Từ đó tạo cho tiếng phách trong Ca trù rất nhiều tiết tấu, màusắc và góp phần khắc họa lời thơ được cất lên Đây chính là điểm độc đáo của tiếngphách trong Ca trù

Trống chầu Ca trù khác trống chầu trong Tuồng, Hát bội, từ kích thước đếncách đánh Trống chầu có đường kính khoảng 15 cm, tang trống bằng gỗ mít, caokhoảng 18cm Dùi trống còn gọi là roi chầu, được làm bằng gỗ găng Người cầm chầu(đánh trống chầu) là quan viên, phải sành Ca trù Nghe tiếng chầu, thính giả biết giátrị và phong cách của người cầm chầu

Có thể nói, trống chầu là nhạc khí giữ vai trò như sợi dây liên hệ giữa ngườinghe hát và người hát, người đàn Khi đã cùng hòa trong một canh hát thì tiếng trống

Trang 24

sẽ trở thành nhạc cụ thứ ba sau phách và đàn nhằm tôn vinh tiếng hát với lời thơ Tất

cả trở thành một bản hòa tấu vô cùng phong phú của nhiều âm sắc, nhiều tính năngkhác nhau và luôn có sự thay đổi, biến hóa không ngừng

* Thứ hai, đặc trưng về kỹ thuật thanh nhạc.

Ngoài hát Tuồng với những kỹ thuật phong phú và độc đáo, các bộ môn ca nhạc

cổ truyền như Quan họ Bắc Ninh, Ca Huế trong nhạc thính phòng cũng không có kỹthuật thanh nhạc phức tạp, tinh vi như Ca trù

Trong khi hát chèo, người nghệ sĩ lấy hơi chủ yếu là từ khoang miệng, trong hátquan họ, người nghệ sĩ lấy hơi ở khoang miệng và cổ họng; thì hát Ca trù, người nghệ

sĩ lấy hơi không chỉ ở khoang miệng hay cổ họng mà còn lấy hơi ở khoang mũi nữa.Tất cả các kỹ thuật đổ hột, sang hơi, đổ con kiến đều ở nơi cổ họng của đào nương.Đạt được như vậy, tiếng hát của đào nương sẽ trở nên tinh tế, giàu âm sắc và đạt đượcđến sự biểu cảm cao nhất Quá trình luyện tập cách lấy hơi là một khổ luyện thật sự.Quan trọng nhất là học lấy hơi cho ra chất riêng của Ca trù Do đặc điểm của lối giữhơi, nhả chữ và luyến láy trong lối hát mà đào nương Ca trù có khóe miệng luôn đoantrang, đài các, đôi môi cắn chỉ luôn mím lại, khi đổi giọng sang hơi thì chỉ rung lênkhe khẽ Nghệ sĩ Nhân dân Quách Thị Hồ là một bậc thầy về kỹ thuật luyến láy trongnghệ thuật Ca trù Việt Nam trong thế kỷ 20

* Thứ ba là đặc trưng về thể cách Ca trù

Thể cách là một thuật ngữ chỉ sử dụng riêng trong Ca trù mà không thấy ở các

bộ môn ca nhạc khác, được dùng để chỉ các làn điệu hát, hình thức diễn xướng múa,diễn, nghi lễ, việc thi cử trong Ca trù Tư liệu Hán Nôm đã ghi nhận 99 thể cách với

66 điệu thuần túy hát/nói/ngâm và 33 điệu có kèm diễn xuất tổng hợp trong nghi lễ hátmúa diễn Có thể kể ra đây một số thể cách Ca trù phổ biến, còn lưu lại đến ngày nay:Hát nói, đọc phú, giáo trống, giáo hương, thét nhạc, ngâm thơ, hát truyện, bắc phản, tỳ

bà hành, hát giai, hát ru, non mai, hồng hạnh, hát mưỡu, chừ khi, đại thạch, hồi loan,

Trang 25

gửi thư Sự phong phú của các thể cách Ca trù có thể được giải thích bởi sự đa dạngtrong lối hát và hình thức biểu diễn của nghệ thuật này

* Thứ năm, thơ là một thành tố quan trọng trong nghệ thuật Ca trù

Trong Ca trù, thơ và nhạc luôn đi bên nhau tạo nên một cảm xúc thẩm mỹ rấtđặc biệt, thơ và nhạc vừa tôn vinh nhau, vừa độc lập với nhau

Trong số 34 thể Ca trù mà thư tịch Hán Nôm có ghi nhận về lời thơ thì các thểthơ được dùng trong Ca trù là : thể lục bát được dùng trong 17 thể Ca trù; thể songthất lục bát được dùng ở một thể Ca trù; thể thơ 7 chữ và một câu lục cuối bài đượcdùng trong 3 thể Ca trù; thể thơ Đường luật (thất ngôn, tứ tuyệt) được dùng trong 8thể Ca trù; thể phú được dùng trong một thể Ca trù; thơ Đường luật trường thiện đượcdùng trong 2 thể Ca trù; thể Hát nói là thể riêng của Ca trù Trong đó, thơ lục bát làthể thơ được sử dụng phổ biến trong Ca trù, nhất là trong các điệu: Bắc phản HồngHạnh, Non mai, Đại Thạch…

Đặc biệt, trong các thể thơ dùng trong Ca trù thì thể Hát nói để lại số lượngnhiều nhất, và được ưa chuộng nhất Hát nói đã gắn với các tên tuổi lớn trong lịch sửvăn học Việt Nam như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tản Đà…

* Múa

Múa cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên nét đặc sắc,riêng biệt của nghệ thuật hát Ca trù Tuy nhiên, những điệu múa chỉ sử dụng trongmột số không gian nhất định: múa Bài Bông (thường được biểu diễn trong hát cửađình), múa Đại Thạch (thường được biểu diễn trong hát thờ và hát thi), múa Bỏ Bộ vàmúa Tứ Linh (chỉ có trong hát thờ)

1.2.2.2 Thành phần tham gia trình diễn

Một chầu hát Ca trù cần có ba thành phần chính: đào nương, kép đàn và ngườicầm chầu Vì là nghệ thuật âm nhạc thính phòng, không gian trình diễn Ca trù cóphạm vi tương đối nhỏ Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa Kép đàn ngồi chếch phía bêntrái, quan viên ngồi chếch bên phải đào nương

Trang 26

Đào nương hay ca nương (còn gọi là ả đào) là người hát đồng thời sử dụng bộphách gõ lấy nhịp Một đào nương phải đạt được những yêu cầu rất kỹ lưỡng, khắtkhe cả về đức hạnh và tài năng: phát âm đầy đủ và đúng dấu giọng của 6 thanh tiếngViệt, không nói ngọng, nói lắp, không ngắn lưỡi, đầy lưỡi; có chất giọng có thể hátđược Ca trù, gọi là “giọng kim” hoặc “giọng thổ đồng”; có tâm với nghề và bền lòngvới nghệ thuật… Bên cạnh chất giọng đẹp được rèn cặp kỹ lưỡng, đào nương còn cần

có năng lực cảm thụ văn chương mới có thể phô diễn ý thơ một cách đúng và haynhất Đào nương xưa phải tuân thủ hàng trăm thứ kiêng kỵ, cốt làm sao giữ cho đượctiếng hát đẹp màu âm sắc và giữ được tiếng thơm cho nghề Sự tồn tại của Ca trù luôngắn liền với các đào nương “không có đào nương bất thành Ca trù” Các đào nươngchính là những người truyền tải và thể hiện những cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của Catrù, giúp Ca trù tồn tại cho đến ngày nay

Kép đàn: nhạc công chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát Kép không đàn theomột bản nhạc cố định và không đi sát theo nét nhạc của lời ca mà chỉ đàn theo nhữngkhổ đàn để mở đầu, theo nét nhạc của lời ca, có lúc chỉ đàn theo tiếng phách

Người cầm chầu là người lịch lãm, biết thưởng thức vẻ đẹp của văn chương và

âm nhạc Cầm chầu là một thú chơi tao nhã của bậc tao nhân mặc khách Họ phải làngười sành về Ca trù, am hiểu thấu đáo âm luật Ca trù mới có thể cầm roi được, ítnhất phải biết 5 phép trống dục, 6 phép trống chầu và nhiều cách biến hóa khác nữa

Người cầm chầu có vai trò: chấm câu khi ca nương ca hết 1 đoạn, tức là thamgia vào sự biểu diễn; khích lệ nghệ sĩ, biểu lộ sự khen chê (khi nghe một câu ca hay,luyến láy khéo thì phải có một tiếng khen bằng cách gõ trên tang trống hay phối hợp

cả tiếng “chat” và tiếng “tom” theo những công thức đã được qui định); định hướngquần chúng (thường quần chúng không biết được ca thế nào là hay, đàn thế nào làkhéo, nhờ tiếng khen của trống chầu mà biết được cách nghe và nhận thức đượcnhững điểm hay của Ca trù)

1.2.2.3 Lề lối sinh hoạt và không gian trình diễn

Trang 27

Theo khảo sát từ các nguồn tư liệu Hán Nôm, sinh hoạt Ca trù được dùng trongcác dịp:

- Hát thờ: hát thờ Tổ (còn gọi là tế tiên sư), hát thờ Thành hoàng trong các đìnhlàng, hát thờ thần trong các đền miếu Trong hát thờ thường hát về những bài sử, vềkinh truyện và sự tích danh nhân Cách hát rõ ràng, cần nhiều hơi, cao giọng để mọingười cùng nghe rõ, điệu bộ nghiêm trang Hát cửa đình gồm có 12 thể: Giáo trống,Giáo hương, Dâng hương, Thét nhạc, Hát giai, Đọc phú, Đọc thơ, Gửi thư, Đại thạch,

Bỏ bộ, Múa bài bông (múa), Tấu nhạc và múa tứ linh (múa)

- Hát chơi: hát khao trong các tư gia (mừng nhậm chức, sinh con trai, khánhthành nhà, đám cưới), hát chơi trong dinh thự, hát chơi ở ca quán Hát chơi thường hátnhững bài tả tình, tả cảnh với sự phóng khoáng, phong lưu, tình tứ Hát chơi gồm có

15 thể: Bắc phản, Mưỡu, Hát nói, Gửi thư, Đọc thơ-thỏng-dồn, Đọc phú, Chừ khi (cónơi gọi là Chử khi), Hát ru, Nhịp ba cung bắc, Tỳ bà, Kể truyện, Hãm, Ngâm vọng,Sẩm cô đầu, Ả phiền (riêng Ả phiền có tới 20 giọng)

- Hát thi bao gồm các trường hợp: cuộc thi do Hội đồng chức sắc tổ chức thigiữa các GP với nhau nhằm chọn đào kép hay nhất vào hát thờ ở cửa đình, phục vụ lễhội địa phương; cuộc thi do ty GP tổ chức để chọn đào kép hay để hát chúc hỗ trongcác khánh tiết nhà nước; cuộc thi do GP tổ chức để công nhận người đào nương đã đạttrình độ được phép hành nghề hoặc đạt đến đẳng cấp được vào hát thờ Tổ trong lễ tếtiên sư Có thể thấy hiếm có lối hát cổ truyền nào lại xâm nhập sâu rộng hầu hết cácsinh hoạt văn hóa tinh thần như Ca trù

Từ lề lối sinh hoạt, có thể thấy không gian trình diễn Ca trù bao gồm: nơi linhthiêng (đền miếu, đình làng, nhà thờ Tổ), nơi trang nghiêm (cung đình), tư gia (dinhthự, nhà dân), ca quán Tùy thuộc vào đặc thù không gian trình diễn mà bộ môn nghệthuật này có những quy định, nghi lễ, lề lối biểu diễn riêng

1.2.2.4 Tổ chức GP

Trang 28

GP là một tổ chức hội tụ những người làm nghề ca múa nhạc dân gian; do mộtngười có chuyên môn và có uy tín đứng đầu, lo việc cắt cử nghệ sĩ đi hát phục vụ theolời mời, lo việc quản lý nghệ sĩ và coi sóc việc truyền nghề, giữ gìn nghề GP là từ chỉriêng của nghề hát Ca trù (ở Chèo gọi là phường Chèo, gánh Chèo; ở vùng hát Xoangọi là phường Xoan,…).

GP được tổ chức quy củ, chặt chẽ Nhiều GP được đặt dưới sự quản lý của ty

GP Ty GP là tổ chức quản lý hoạt động ca xướng tương đương cấp huyện Mỗihuyện thường có một ty GP để quản lý các hoạt động GP cấp xã

Đến với GP, tất cả những công việc như lễ tế Tổ hàng năm, các lệ kiêng tên Tổ

Ca trù, việc thờ thầy, việc chia tiền hát, lệ mở xiêm áo để công nhận một cô đào bắtđầu được hành nghề đều được tổ chức tuân thủ nghiêm ngặt và tự nguyện Chính cách

tổ chức GP như vậy đã tạo nên những nét đẹp nhân văn của GP, khiến cho đào képngày xưa rất được cộng đồng làng xã tôn trọng và kính nể

Tóm lại, GP hoạt động có tổ chức và là nơi đào kép buộc phải ý thức sâu sắc vềviệc giữ gìn nghề Tổ cả về mặt nghệ thuật lẫn tổ chức và đạo đức nghề nghiệp Có thểnói GP Ca trù là nơi chuẩn mực về truyền nghề, học nghề và dạy hành nghề Nghệthuật Ca trù còn lại được đến hôm nay chính là nhờ các đào kép xưa đã từng sốngtrong các GP như thế truyền lại

1.3 Giá trị nổi bật của nghệ thuật Ca trù và sự cần thiết phải bảo tồn và phát

sử, văn hóa, xã hội ở một số phạm vi nhất định

Trang 29

Ca trù với những tên gọi khác nhau như hát cửa đình, hát cửa quyền, hát nhà tơ,hát ả đào, hát cô đầu,… đều thể hiện những giai đoạn lịch sử khác nhau, những khônggian văn hóa khác nhau ở nông thôn, làng xã phong kiến Việt Nam hay ở các đô thị.Tên gọi ca nương cũng thay đổi theo thời cuộc: từ ả đào, đào nương đến cô đầu… đềuphần nào đó phản ánh thực trạng lịch sử, văn hóa, giải trí của xã hội phong kiến ViệtNam.

Từ những nhóm ca nương, kép đàn nhỏ ở một số làng xã đến những làng, thôn

Ca trù mà ở đó nhà nhà đều biết hát, biết đàn như một số làng Ca trù Lỗ Khê (ĐôngAnh, Hà Nội), Chanh Thôn (Phú Xuyên, Hà Nội), Cổ Đạm (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) Sựbiến đổi và phát triển đó, sau một giai đoạn lịch sử, đã hình thành nên những GP Catrù Cùng với sự phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam, đô thị chính là nơi mà các

ca nương, kép đàn tìm đến để lập nên các nhóm, hội Ca trù, dần dần lớn mạnh và tạolập các GP tại đô thị để ca hát cho khách nghe

Cách thức tổ chức quy củ, nề nếp của tổ chức GP Ca trù đã phần nào phản ánh

rõ nét tính quy mô, tính tổ chức xã hội cao của đô thị Việt Nam thời phong kiến

1.3.1.2 Giá trị nghệ thuật

Ca trù là một bộ môn nghệ thuật truyền thống đặc sắc của Việt Nam trong đóthơ và nhạc quyện vào nhau như bóng với hình một cách nhuần nhuyễn, tinh vi.Những đặc trưng về nhạc khí, thanh nhạc, thể cách, thơ và những điệu múa Ca trù đãtạo nên sự độc nhất vô nhị không có ở bất kỳ loại hình nghệ thuật âm nhạc nào:

* Giá trị âm nhạc

Những nét đặc thù về thanh nhạc và khí nhạc đã tạo nên những giá trị âm nhạccủa nghệ thuật Ca trù Ba loại nhạc cụ là đàn đáy, phách và trống, trải qua quá trình sửdụng lâu dài đã trở nên những nhạc khí đặc trưng của Ca trù, góp phần đưa Ca trù trởthành một thể loại thanh nhạc kinh điển của Việt Nam Trên thế giới, ít có một bộ mônnghệ thuật nào mà chỉ có ba người cùng với nhạc cụ đàn đáy, cỗ phách, trống chầu

Trang 30

phối hợp lại mà thành cả thơ, nhạc, tiết tấu, thể điệu… làm mê hoặc lòng người như

Ca trù

Về thanh nhạc, ngoài hát Tuồng có những kỹ thuật phong phú và độc đáo, còncác loại hình ca nhạc cổ truyền khác (kể cả Quan họ Bắc Ninh, Ca Huế trong nhạcthính phòng) đều không có kỹ thuật thanh nhạc phức tạp, tinh vi như Ca trù

* Giá trị văn học

Ca trù với lịch sử lâu đời đã để lại cho đời sau một kho tàng vô giá về giá trịvăn học Từ Ca trù, một thể thơ độc đáo đã ra đời và có vị trí sáng giá trong dòng vănhọc chữ Nôm của dân tộc, đó là thể Hát nói với hàng nghìn bài thơ chữ Nôm chứađựng rất nhiều tâm trạng và biến thái tinh tế của tâm hồn Việt Nam qua nhiều thế kỷ

Ta có thể bắt gặp trong Hát nói muôn nghìn tâm trạng, muôn ngàn biến thái tinh tếnhất của tâm hồn Việt Nam, khi thì hùng tráng trong những tỏ bày tráng chí hay ngợi

ca "địa linh nhân kiệt", lúc hào sảng trong cảm hứng đất nước non sông, khi phiêudiêu mơ màng về một mối tình đẹp như mộng mà cũng mỏng manh như mộng, lúchóa thân trong cảm hứng vũ trụ, và cũng có khi là những gửi gắm nỗi niềm trước sựhưng vong của thời cuộc Hát nói không nhằm tới việc thuyết giáo hay rao giảngnhững nội dung nghiêm túc của luân lý trong học thuyết Khổng Mạnh Văn chươngHát nói không chủ yếu nhằm chở đạo Hát nói chỉ nhằm hướng đến một nhu cầu rấtchính đáng 7 của con người đó là nhu cầu giải trí Có lẽ trong văn chương của ta, chưa

có một thứ văn học nào nhằm đến giải trí như là Hát nói

1.3.1.3 Giá trị văn hóa, giáo dục

Ca trù là một bộ môn nghệ thuật truyền thống thể hiện đậm nét bản sắc văn hoáViệt Nam Ca trù xưa và cổ kính như đang giấu mình trong lớp trầm tích của văn hoáViệt Nam mà mỗi người dân chúng ta đều có quyền tự hào, và tự thấy mình phải cótrách nhiệm giữ gìn lưu truyền và tìm cho nó vị trí xứng đáng trong đời sống văn hóahôm nay

Trang 31

Sự linh hoạt trong cách trình diễn Ca trù cũng như lối thưởng độc đáo bằng thẻđược coi là một nét văn hóa đặc biệt, đó là nét đẹp trong văn hóa thưởng thức nghệthuật của ông cha.

Ca trù được biểu diễn nhiều ở đình làng hay nhà thờ tổ, góp phần giữ gìn, pháthuy bản sắc văn hóa đình làng, truyền thống dòng họ ở các làng quê Việt Nam, đặcbiệt là vùng đồng bằng Bắc Bộ Đình là nơi sinh hoạt cộng đồng của cả làng, nơi ấykhông chỉ là nơi để bàn việc làng việc nước, mà còn là nơi thờ Thành hoàng làng vàcòn là nơi để các GP, làng thôn, nhóm Ca trù họp bàn, sinh hoạt chuyên môn, có dịpthì trình diễn nghệ thuật phục vụ các sự kiện của làng hàng năm Đó chính là giá trịchiều sâu văn hóa của nghệ thuật Ca trù góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóalàng xã, phường hội trong xã hội Việt Nam thời xưa

Qua những lời thơ, câu hát Ca trù, có thể thấy người Việt muốn giãi bày, chia sẻtình yêu đất nước, quê hương, cuộc sống và những tự sự đời thường Mỗi bài thơ đượcphổ nhạc lại có những âm điệu riêng, dấu ấn riêng, khiến người thưởng thức luônchìm đắm với tiếng hát hòa cùng tiếng trống phách trầm bổng Ca trù chính là mộttrong những nghệ thuật truyền thống mà tiếng hát của nó thể hiện sâu sắc lời thơ Catrù thể hiện trong đó phần nào những ứng xử đạo đức, những phong tục tập quán,những bản sắc văn hóa của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ,trong đó có Thăng Long - Hà Nội

Ca trù không chỉ thể hiện giá trị nghệ thuật, giá trị văn hóa mà còn mang giá trịgiáo dục về đạo đức Giá trị ấy trước hết thể hiện ở nề nếp luật tục của các GP, làngthôn Ca trù trong xã hội phong kiến ở cả làng quê và đô thị Thể cách, sự khuôn mẫu,phép tắc của Ca trù đã được các bậc cha ông lão làng trong nghề truyền lại cho concháu và cứ thế, từ đời này qua đời khác, các làng, thôn, GP Ca trù vẫn giữ được bảnsắc văn hóa cộng đồng, giá trị giáo dục truyền thống họ tộc, gia đình, giá trị giáo dụcbằng lời ca, tiếng hát Cho đến ngày nay, nhiều CLB, GP Ca trù vẫn còn giữ đượcnhững cốt cách ấy Thế hệ trẻ luôn được truyền dạy một cách bài bản, có chiều sâu

Trang 32

văn hóa và có tính giáo dục cao Một ca nương trẻ có thể không khó để học được 1hoặc 2 thể cách đơn giản, nhưng để học được cả 6 thể cách như các cụ lão làng truyềndạy thì không đơn giản, nó đòi hỏi tính kiên trì, nhẫn nại và sự nghiêm túc trong họctập, rèn luyện Phong cách ứng xử, sự kính trên, nhường dưới, sự chỉn chu trong đầutóc, cách ăn, cách mặc của một ca nương, kép đàn,… đã tạo nên giá trị giáo dục rấthay mà nghệ thuật Ca trù đã góp phần đem lại cho các thế hệ.

Có thể nói, nghệ thuật Ca trù chứa đựng đầy đủ trong đó những ứng xử đạođức, những những phong tục tập quán thể hiện đậm nét bản sắc văn hoá của ngườiViệt

1.3.2 Sự cần thiết phải bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù

1.3.2.1 Bối cảnh văn hóa – xã hội Việt Nam hiện nay

Hiện nay, đất nước đang đẩy mạnh thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiệnđại hóa và tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới Sự thay đổi

cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội, nhu cầu tăng nhanh về văn hoá, v.v là những yếu tốlàm thay đổi nhiều mặt đời sống văn hoá dân tộc

Những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ thế giới cùng với việc

mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để chúng ta tiếp thụ những thành quả trí tuệ củaloài người, đồng thời cũng đặt ra những thách thức trong việc giữ gìn bản sắc văn hoádân tộc, trong đó có nguy cơ mai một giá trị di sản văn hóa truyền thống Vì vậy, yêucầu bức thiết hiện nay là phải bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống,đặc biệt là những giá trị di sản văn hóa để góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc,phát triển bền vững đất nước

1.3.2.2 Vị trí, vai trò của nghệ thuật Ca trù

Ca trù là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệttrong kho tàng âm nhạc Việt Nam, gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, vănchương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt

Ca trù đã được Hội đồng thẩm định di sản của UNESCO đánh giá như sau:

Trang 33

Ca trù đã trải qua một quá trình phát triển ít nhất từ thế kỷ 15 đến nay, đượcbiểu diễn trong không gian văn hóa đa dạng gắn liền, ở nhiều giai đoạn lịch sử khácnhau Ca trù thể hiện một ý thức về bản sắc và sự kế tục trong nghệ thuật biểu diễn, cótính sáng tạo, được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua các tổ chức

GP Những GP này đã duy trì các cộng đồng có quan hệ mật thiết, tạo nên nét đặctrưng cho Ca trù Mặc dù trải qua nhiều biến động lịch sử, xã hội nhưng Ca trù vẫn cómột sức sống riêng bởi giá trị nghệ thuật độc đáo của nó đối với văn hóa Việt Nam

Ca trù độc đáo ở không gian nghệ thuật riêng, nhạc cụ và thể thơ riêng biệt.Theo các nghệ nhân dân gian, Ca trù có rất nhiều thể thức hoặc giai điệu khác nhau,mỗi loại này được gọi là thể cách Kỹ thuật hát rất tinh tế, công phu Từ Ca trù, mộtthể thơ độc đáo đã ra đời và có vị trí sáng giá trong dòng văn học chữ Nôm của dântộc, đó là thể Hát nói với hàng nghìn bài thơ chữ Nôm chứa đựng rất nhiều tâm trạng

và biến thái tinh tế của tâm hồn Việt Nam qua nhiều thế kỷ Về âm nhạc, ba loại nhạc

cụ là đàn đáy, phách và trống, trải qua quá trình sử dụng lâu dài đã trở nên những nhạckhí đặc trưng của Ca trù, góp phần đưa Ca trù trở thành một thể loại thanh nhạc kinhđiển của Việt Nam Trên thế giới, ít có một bộ môn nghệ thuật nào mà chỉ có ba ngườicùng với nhạc cụ đàn đáy, cỗ phách, trống chầu phối hợp lại mà thành cả thơ, nhạc,tiết tấu, thể điệu… làm mê hoặc lòng người như Ca trù

Có thể nói, những giá trị nổi bật về lịch sử, nghệ thuật, văn hóa của Ca trù đãkhẳng định vị trí, vai trò của nó đối với nền văn hóa dân tộc Mặc dù Việt Nam đã cónhiều cố gắng và có sự hỗ trợ của một số tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ Ca trùsong sức sống của Ca trù hiện nay vẫn chưa mạnh mẽ vẫn chưa thực sự thoát khỏi tìnhtrạng cần bảo vệ khẩn cấp Do vậy, cần tăng cường bảo tồn và phát huy hơn nữa giátrị nghệ thuật Ca trù trong cộng đồng

Trang 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NGHỆ

THUẬT CA TRÙ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 2.1 Những yếu tố tác động đến nghệ thuật Ca trù ở Hà Nội

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội của Hà Nội

* Điều kiện tự nhiên:

Hà Nội có vị thế “rồng cuộn, hổ ngồi”: nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng,giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú; các mạch núi Tây Bắc và Đông Bắc đều hội tụ

về, các dòng sông cũng tụ Thủy về Hà Nội để rồi phân tỏa về phía Biển Đông Nhữngđiểm ưu việt của điều kiện địa lý và tự nhiên tạo ra những thế mạnh cho Hà Nội hiếmnơi đâu sánh được:

Thứ nhất, thế đất bằng phẳng, cao ráo, nằm trên đồng bằng màu mỡ, khí hậu lại

ấm áp Hà Nội là vùng sinh thái tuyệt vời cho con người định cư, phát triển

Thứ hai, với vị thế trung tâm vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm bên con sông lớnkhiến cho giao thông của Thăng Long - Hà Nội với các địa phương khác trở nên dễdàng, thuận tiện Dòng sông Hồng không chỉ lắng đọng phù sa, tạo thành miền đất trùphú “đất lành chim đậu”, mà còn khiến nơi đây trở thành vùng đất địa linh nhân kiệt,thu hút nhân tài, anh kiệt, những tinh hoá văn hoá làng nghề từ khắp nơi, tạo nênnhững phố nghề, làng nghề nổi tiếng ở đất kinh kỳ kẻ chợ Cảnh sắc tươi đẹp bên bờsông Hồng với con người Hà Nội thanh lịch là đề tài cho thơ ca, nhạc, hoạ từ baođời, tạo nên sức thu hút du khách bốn phương

Có thể nói, Hà Nội có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên cho pháttriển kinh tế, xã hội và văn hóa Hà Nội có vị trí địa lý - chính trị quan trọng, là đầunão chính trị - hành chính Quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục,kinh tế và giao dịch quốc tế; là đầu mối giao thương bằng đường bộ, đường sắt, đườnghàng không và đường sông tỏa đi các vùng khác trong cả nước và đi quốc tế

* Văn hóa, xã hội

Trang 35

Là đất kinh đô ngàn năm văn hiến, văn hoá Hà Nội hội tụ kết tinh, tinh tuývăn hoá của mọi miền đất nước.

Hà Nội cũng là vùng đất duy nhất ở Việt Nam ghi dấu ấn của hơn 50 vị Vua,hàng chục vị Chúa và hàng trăm danh nhân văn hóa và lịch sử của đất nước, nhữngngười có thể được sinh ra ở nhiều địa phương khác nhau, nhưng để thành danh, dứtkhoát phải hội tụ về thủ đô, trải qua quá trình rèn luyện không ngừng rồi mới trởnên những nhân tài tỏa sáng Tài năng sáng tạo và hoạt động của những nhân cáchvăn hóa như vậy nhất thiết phải để lại dấu ấn qua các di sản văn hóa phi vật thể vàvật thể Có thể nói, Hà Nội xứng đáng được tôn vinh là nơi đào luyện nhân tài chođất nước mà Văn Miếu – Quốc Tử Giám và các trường đại học ở thủ đô là ví dụđiển hình

Hà Nội cũng là vùng đất chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của quốcgia: Lý Thái Tổ định đô Thăng Long, Hội nghị Diên Hồng lịch sử, Hội thề ĐôngQuan, Rồng lửa Thăng Long của Quang Trung - Nguyễn Huệ, Tuyên ngôn Độc lậptại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Điện Biên Phủ trên không năm 1972 v.v

Hà Nội còn là "thủ đô tâm linh" của cả nước, bởi trong lòng nó hàm chứacác thiết chế tôn giáo tín ngưỡng như: Tứ trấn (đền Bạch Mã, đền Quán Thánh, đềnLinh Lang Voi Phục, đình Kim Liên), Tứ Bất Tử (Tản Viên Sơn Thánh, ThánhGióng, Thánh Chử Đồng Tử và Mẫu Liễu Hạnh) Những lễ hội tôn giáo, tínngưỡng và lễ hội lịch sử lớn hàng năm vẫn được tổ chức trên địa bàn Hà Nội, đặcbiệt là trong không gian văn hóa thiêng liêng của các di tích tiêu biểu như: lễ hộiChùa Hương, Hội Gióng ở Đền Phù Đổng và Đền Sóc Sơn v.v

Hệ thống di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của Hà nội phong phú, đadạng và mang đậm bản sắc của người Tràng An Hà Nội là thành phố duy nhấttrong cả nước có sự hiện diện của 09 di tích quốc gia đặc biệt, 01 di sản văn hóathế giới, 01 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và 01 di sản văn hóa

Trang 36

phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp Ngoài ra còn phải kể đến hàng ngàn di tíchlịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được xếp hạng di tích quốc gia.

Góp phần làm nên tinh hoa văn hoá của đất kinh kỳ là những di sản văn hoá phivật thể có trữ lượng khá lớn, phản ánh một cách phong phú, đa dạng và chân thựctruyền thống sinh hoạt văn hoá của người Hà Nội Văn hoá phi vật thể Hà Nội là tổnghoà các yếu tố giao lưu, hội nhập, dung hoà, tiếp biến, cởi mở, linh hoạt, để tạo nênbản sắc Thăng Long - Hà Nội, một vùng đất “hội thuỷ, hội nhân và hội tụ văn hoá vôcùng phong phú và đa dạng”

Hiện nay, trụ sở trung ương các hội văn học - nghệ thuật, các hội khoa học - kỹthuật, các xưởng phim, nhà hát quốc gia của các bộ môn nghệ thuật tập trung rất nhiềutại đây Về số lượng nhà bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa, câu lạc bộ, rạp hát, chiếubóng, hiệu sách,… di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc và cách mạng, Hà Nội đứng hàngđầu Vốn nghệ thuật dân gian truyền thống cũng đang được quan tâm bảo tồn và pháthuy

Có thể khẳng định, các yếu tố về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội Hà Nội cóảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hình thành, phát triển và giữ gìn, phát huy giá trịnghệ thuật Ca trù nơi đây Chính tại mảnh đất kinh kỳ, nơi hội tụ những tinh hoa vănhóa, những tao nhân mặc khách với nhu cầu hưởng thụ đời sống tinh thần phong phú

đã tạo điều kiện nuôi dưỡng Ca trù phát triển rực rỡ Thăng Long - Hà Nội chính làmảnh đất màu mỡ khiến cho bộ môn nghệ thuật này được thăng hoa

2.1.2 Quá trình phát triển nghệ thuật Ca trù ở Hà Nội

Nghệ thuật Ca trù của Thăng Long - Hà Nội có bề dày lịch sử lâu đời Mặc dùnghệ thuật hát Ca trù có ở nhiều địa phương, nhưng Ca trù vẫn luôn được coi là đặcsản của Hà Nội, với sự sang trọng, nền nã, tinh tế hơn hẳn các vùng miền

Làng Lỗ Khê, xã Liên Hà - huyện Đông Anh, là một trong những cái nôi Ca trùlâu đời nhất của Thủ đô Theo ngọc phả tại đền thờ ca công, Tổ Ca trù của làng LỗKhê là Đinh Dự, con tướng Đinh Lễ Trong khởi nghĩa Lam Sơn, Đinh Lễ được Lê

Trang 37

Lợi cử ra Bắc và lập đồn doanh trại tại Lỗ Khê, đồng thời cưới vợ sinh con tại nơinày Đinh Dự lớn lên giỏi đàn hát và lấy vợ là Đường Hoa Tiên Hải Hai vợ chồng đã

mở GP dạy hát, nổi tiếng khắp vùng Sau này nhân dân tôn vợ chồng ông Đinh Dự là

Tổ Ca trù Như vậy, Ca trù đã có ở Lỗ Khê từ đầu thế kỷ XV Lỗ Khê là nơi sản sinh

ra nhiều đào nương, kép đàn nổi tiếng khắp cả nước

Ban đầu, Ca trù dưới hình thức hát cửa đình hình thành và phát triển ở khắp nộingoại thành Thăng Long Hà Nội và vùng lân cận

Từ thế kỷ 19, Ca trù trở thành thú chơi tao nhã rất được ưa chuộng của các thinhân mặc khách tại kinh thành Thăng Long Nhiều tác giả các bài thơ sử dụng tronghát Ca trù đều là những thi nhân nổi tiếng của Hà thành như Cao Bá Quát, NguyễnCông Trứ, Nguyễn Khuyến… Trong phong trào cứu nước, chống ngoại xâm, nhiềuchí sĩ đã đặt ra các bài Hát nói để động viên tinh thần nhân dân và giác ngộ quầnchúng như Hồ Tùng Mậu, Huỳnh Thúc Kháng…

Những năm cuối thập niên 30 thế kỷ XX, Hà Nội có 216 nhà hát và gần 2000

cô đầu tập trung trước thì ở Hàng Giấy, ấp Thái Hà, sau đến Khâm Thiên, Ngã Tư Sở,Vạn Thái, Chùa Mới, Cầu Giấy, Kim Mã,… Trong số đó Khâm Thiên và Ngã Tư Sở

là những địa chỉ nổi tiếng vì sự gắn bó với những văn nghệ sĩ tên tuổi: Tản Đà,Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Hoài Điệp Thứ Lang, Vũ Hoàng Chương, Thế Lữ, XuânDiệu Nguyễn Bính…

Sau một thời gian dài ở trong khoảng lặng, vắng bóng và bị mai một cũng như

bị biến thể, với nỗ lực phục dựng bộ môn nghệ thuật bác học cổ truyền dân tộc, vớichính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề bảo tồn và phục hưng nghệthuật dân tộc, từ khoảng những năm 70, 80 của thế kỷ XX, nghệ thuật Ca trù bắt đầuđược quan tâm trở lại Một số ca nương Hà Nội xưa như Nguyễn Thị Phúc, Phạm ThịMùi, Đinh Thị Bản, Phạm Thị Chúc, Quách Thị Hồ, Phó Thị Kim Đức,… lại đượcgiới âm nhạc Thủ đô chú ý đến, trong đó nổi bật nhất là hai giọng ả đào lừng danh củanghệ nhân Phạm Thị Mùi và NSND Quách Thị Hồ Bên cạnh đó là những nghệ nhân

Trang 38

kép đàn, trống chầu nổi tiếng như nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi, nghệ nhân NguyễnPhú Đẹ (người Hưng Yên nhưng tham gia hoạt động Ca trù Hà Nội từ rất lâu) Kể từ

đó, Ca trù có dấu hiệu hồi sinh Sau nhiều thăng thầm, những nghệ nhân Ca trù chânchính của Hà Nội vẫn giữ được phong cách, lề lối xưa và bảo tồn được những giá trị

Ca trù độc đáo của cha ông để lại

Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX và thập niên đầu của thế kỷ XXI, một số CLB docác cá nhân, gia đình, làng xã tổ chức xuất hiện Nghệ thuật Ca trù tại Hà Nội chủ yếuvẫn được hoạt động trong các CLB, GP, các nhóm, trung tâm như: CLB Ca trù HàNội, GP Ca trù Thái Hà, GP Ca trù Lỗ Khê, nhóm Ca trù Tràng An, GP Ca trù ThăngLong, CLB Ca trù Chanh Thôn, CLB Ca trù Ngãi Cầu, Trung tâm văn hóa Ca trùThăng Long… Với sự chỉ dạy của các lão làng thế hệ trước, thế hệ ngày nay đã cónhững ca nương, kép đàn là niềm tự hào của Ca trù Hà Nội như nghệ sĩ Lê Thị BạchVân, Phạm Thị Huệ, Nguyễn Thúy Hòa,…

Hiện nay, Hà Nội đang có 3 địa điểm thường xuyên biểu diễn Ca trù hàng tuần

là Bích Câu đạo quán, đền Quan Đế, đình Kim Ngân… thu hút số lượng không nhỏcác du khách thưởng thức bộ môn nghệ thuật truyền thống này

2.2 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù ở Hà Nội hiện

nay

2.2.1 Thành tựu và nguyên nhân

2.2.1.1 Thành tựu

* Hoạt động kiểm kê và nghiên cứu, sưu tầm tư liệu

Nghiên cứu và sưu tầm tư liệu về nghệ thuật Ca trù là những hoạt động quantrọng góp phần bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Ca trù Kiểm kê cũng là mộttrong những công việc được đặt ra hàng đầu nhằm đánh giá tổng thể, toàn diện về thựctrạng bảo tồn và phát huy giá trị Ca trù Căn cứ vào những kết quả kiểm kê và nghiêncứu để đưa ra những giải pháp, đề xuất để tăng cường bảo tồn và phát huy giá trị Catrù đời sống cộng đồng

Trang 39

Trong thời gian qua, công tác nghiên cứu, kiểm kê và sưu tầm tư liệu về nghệthuật Ca trù ở Hà Nội đã đạt nhiều kết quả quan trọng

Thứ nhất là những kết quả đạt được trong công tác kiểm kê Theo thống kê của

Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, hiện tại ở thủ đô có 14 CLB và nhóm Ca trù đanghoạt động, 50 người có khả năng truyền dạy, 220 người đang thực hành và hàng trămngười đang theo học Các CLB Ca trù vừa lưu giữ hơn 30 thể cách, điệu múa cổ, vừasáng tác thêm 18 làn điệu mới nhằm đáp ứng nhu cầu của người nghe Ngoài việctham gia các liên hoan, hội diễn do ngành Văn hóa tổ chức, hầu hết CLB Ca trù ở HàNội mở được lớp truyền dạy và duy trì sinh hoạt đều đặn Trong đó, CLB Ca trù HàNội, Thăng Long, Thái Hà… thường xuyên biểu diễn ở các địa chỉ văn hóa phục vụnhân dân Thủ đô và du khách Những số liệu trên khẳng định sau gần 8 năm đượcUNESCO vinh danh, nghệ thuật Ca trù ở Hà Nội đang có dấu hiệu hồi sinh và pháttriển

Thứ hai, hoạt động nghiên cứu nghệ thuật Ca trù ngày càng được chú trọng vàđạt được nhiều thành tựu Các tác giả có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị vềnghệ thuật Ca trù như Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Xuân Diện,… Năm 2010, tác giả

Nguyễn Đức Mậu giới thiệu Ca trù Hà Nội trong lịch sử và hiện tại in tại NXB Hà

Nội Đây là công trình nghiên cứu Ca trù Hà Nội theo tiến trình lịch sử; sưu tầm biênsoạn các bài Ca trù và các văn bản nói về sinh hoạt Ca trù Qua đó, chứng minh vai tròquan trọng của Hà Nội trong suốt chiều dài lịch sử Ca trù Tác giả cũng đi sâu nghiêncứu các vấn đề ngôn ngữ, âm nhạc trong Ca trù, nhất là tính lan toả, chi phối của Catrù Thăng Long - Hà Nội Có thể nói tác phẩm đã cung cấp một khối lượng tư liệuphong phú góp phần bảo tồn, lưu giữ giá trị nghệ thuật Ca trù ở Hà Nội hiện nay

Năm 2016, tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia, Nguyễn Đức Thắng bảo vệ

thành công Luận án tiến sĩ Hoạt động biểu diễn nghệ thuật Ca trù của một số câu lạc

bộ, GP tại Hà Nội Lần đầu tiên có một công trình khoa học nghiên cứu kỹ lưỡng về

thực trạng hoạt động nghệ thuật Ca trù tại Hà Nội

Trang 40

Ngày 16-7-2005, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức buổi thuyết trình củaNguyễn Xuân Diện về “Lịch sử và nghệ thuật Ca trù Việt Nam”, góp phần làm sáng tỏhơn về lịch sử và sự phát triển của bộ môn Ca trù trong lịch sử.

Các công trình nghiên cứu khoa học trên cung cấp và phổ biến nhiều tư liệu quýgiá về nghệ thuật Ca trù trong cộng đồng, qua đó góp phần quan trọng trong việc bảotồn và phát huy những giá trị nghệ thuật Ca trù

Thứ ba, công tác sưu tầm tư liệu đạt thu được nhiều kết quả Các cơ quan chứcnăng đã khẩn trương tiến hành thu thanh, ghi hình, sưu tầm tư liệu về loại hình nghệthuật này Theo tổng kết của Viện Âm nhạc Việt Nam thì chúng ta đang sở hữu 42 bàibản Ca trù, 7 điệu múa, 117 băng - đĩa tiếng sưu tầm điền dã, 250 băng - đĩa hình, 25cuốn sách viết về Ca trù…

Những người làm công tác sưu tầm âm nhạc Việt Nam đã kịp thu thanh vào đĩalàm tư liệu giọng ca của các nghệ nhân lão làng, nổi tiếng như Quách Thị Hồ, NguyễnThị Chúc, Nguyễn Thị Phúc, Phạm Thị Mùi, Đinh Thị Bản, Phó Thị Kim Đức hay ghilại những tiếng đàn, tiếng trống chầu của các nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ, Nguyễn VănMùi Hiện nay, Viện âm nhạc cũng đã xuất bản đĩa hát hai giọng ả đào lừng danh làNghệ sĩ nhân dân Quách Thị Hồ và Nghệ nhân dân gian Phạm Thị Mùi Đây có thểcoi là những tài sản âm thanh vô giá giúp tìm hiểu, nghiên cứu những sắc thái riêngcủa Ca trù Hà Nội Nó còn là căn cứ giúp phục hồi đúng phong cách Ca trù Hà Nội

Những kết quả trên cho thấy nỗ lực của các cấp chính quyền và các nhà nghiêncứu trong việc bảo tồn giá trị nghệ thuật Ca trù

* Hoạt động gìn giữ, phục dựng giá trị truyền thống nghệ thuật Ca trù

Các CLB, GP như Lỗ Khê, Thái Hà, Thăng Long, Chanh Thôn, Đồng Trữ, YênLộ rất chú trọng vào việc bảo tồn, gìn giữ giá trị nguyên gốc của nghệ thuật Ca trùthể hiện qua các hoạt động:

Ngày đăng: 18/06/2021, 20:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Văn Bài (2007), “Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể - từ góc nhìn toàn cầu hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2, tr.6-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể - từ góc nhìn toàn cầuhóa”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2007
2. Nguyễn Chí Bền (2010), Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ởThăng Long - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
3. Công ước về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể (2003) kèm hướng dẫn thực hiện công ước 2003, Đại hội đồng UNESCO chính thức thông qua tại phiên họp thứ 32 tại Paris và bế mạc vào ngày 17 tháng 10 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể "(2003) "kèm hướng dẫn thực hiệncông ước 2003
4. Nguyễn Xuân Diện (2000), Góp phần tìm hiểu lịch sử Ca trù, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu lịch sử Ca trù
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 2000
5. Nguyễn Xuân Diện (2007), Lịch sử và nghệ thuật Ca trù, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và nghệ thuật Ca trù
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2007
8. Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu (2004), Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu
Tác giả: Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2004
9. Hội Folklore châu Á (2006), Giá trị và tính đa dạng của Folklore châu Á, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị và tính đa dạng của Folklore châu Á
Tác giả: Hội Folklore châu Á
Nhà XB: NxbThế giới
Năm: 2006
10. Đỗ Huy (2001), Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìngiá trị học
Tác giả: Đỗ Huy
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2001
11. Nguyễn Văn Hy, Phan Văn Tú (1998), Quản lý hoạt động văn hóa, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động văn hóa
Tác giả: Nguyễn Văn Hy, Phan Văn Tú
Nhà XB: Nxb Vănhóa - Thông tin
Năm: 1998
12. Luật di sản văn hóa (2001, sửa đổi, bổ sung 2009).13. Luật du lịch (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản văn hóa "(2001, sửa đổi, bổ sung 2009).13."Luật du lịch
14. Lê Hồng Lý (chủ biên) (2010), Quản lý di sản văn hóa với sự phát triển du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di sản văn hóa với sự phát triển dulịch
Tác giả: Lê Hồng Lý (chủ biên)
Năm: 2010
15. Mancacaritadipura (2014), “Nghiên cứu, bảo tồn âm nhạc truyền thống và những bài dân ca trong một thế giới đang thay đổi thông qua các trường hợp nghiên cứu ở Indonesia và Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa học, số 4 (14), tr.31-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, bảo tồn âm nhạc truyền thống vànhững bài dân ca trong một thế giới đang thay đổi thông qua các trườnghợp nghiên cứu ở Indonesia và Việt Nam”, "Tạp chí Văn hóa học
Tác giả: Mancacaritadipura
Năm: 2014
16. Nguyễn Đức Mậu (2003), Ca trù nhìn từ nhiều phía, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca trù nhìn từ nhiều phía
Tác giả: Nguyễn Đức Mậu
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2003
17. Nguyễn Đức Mậu (2009), Hát nói Nguyễn Công Trứ, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát nói Nguyễn Công Trứ
Tác giả: Nguyễn Đức Mậu
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2009
18. Nguyễn Đức Mậu (2010), Ca trù Hà Nội trong lịch sử và hiện tại, Tủ sách 1000 năm Thăng Long, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca trù Hà Nội trong lịch sử và hiện tại
Tác giả: Nguyễn Đức Mậu
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
19. Hoàng Minh (2014), “Văn hóa dân gian và phương pháp tiếp cận diễn xướng”, Tạp chí Văn hóa học, số 4 (14), tr.96-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian và phương pháp tiếp cận diễn xướng”,"Tạp chí Văn hóa học
Tác giả: Hoàng Minh
Năm: 2014
20. Nguyễn Thụy Loan (1993), Lược sử âm nhạc Việt Nam, Nxb Âm nhạc, Nhạc viện Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử âm nhạc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thụy Loan
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 1993
21. Phan Ngọc (1998), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thôngtin
Năm: 1998
22. Phan Thuận Thảo (2008), “Về việc thiết lập hệ thống “Báu vật nhân văn sống”ở Việt Nam”, Tạp chí Sông Hương, số 233, tr 7-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc thiết lập hệ thống “Báu vật nhân văn sống”ở Việt Nam
Tác giả: Phan Thuận Thảo
Năm: 2008
23. Nguyễn Đức Thắng (2016), Hoạt động biểu diễn nghệ thuật Ca trù của một số câu lạc bộ, GP tại Hà Nội. Luận án tiến sĩ Văn hóa học, Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động biểu diễn nghệ thuật Ca trù của một sốcâu lạc bộ, GP tại Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Đức Thắng
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w