Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu quá trình tổ chức, thực hiện các hoạt động quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ và sự hài lòng của tiểu thương chợ Đông Ba đối với công tác quản lý
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT
CỦA BAN QUẢN LÝ CHỢ DƯỚI GÓC NHÌN CỦA TIỂU THƯƠNG CHỢ ĐÔNG BA
Sinh viên thực hiện:
Khổng Thị Thu Huyền
Lớp: K43 QTKDTM
Niên khĩa: 2009 - 2013
Giảng viên hướng dẫn
TS Nguyễn Thị Minh Hịa
Huế, 05/2013
Trang 2Hoàn hành công rình nghiên cứu là sự ổng hợp kiến thức và kết quả học ập rong các năm học vừa qua.
Trong quá rình ìm hiểu nghiên cứu và viết khóa luận tôi đã nhận được sự quan âm giúp đỡ ận ình của nhiều ập
thể, cá nhân, các hầy cô giáo rong rường Đại Học Kinh
Tế Huế Trước hết ôi xin rân rọng cảm ơn quý hầy cô
giáo đã giảng dạy ôi trong những năm học qua.
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Hòa – Khoa Quản Trị Kinh Doanh rường
Đại Học Kinh Tế Huế đã hướng dẫn ôi tận ình rong suốt
thời gian nghiên cứu và hoàn hành khóa luận.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân hành đến Ban quản
lý chợ Đông Ba đã ạo mọi điều kiện cho ôi trong hời gian
nghiên cứu vừa qua, cung cấp những kinh nghiệm kiến thức
thực ế quý báu cũng như những ư liệu cần hiết cho ôi trong
việ nghiên cứu hoàn hành khóa luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cá nhân đã ận ình giúp đỡ cho ôi trong việ phục vụ điều ra và phỏng vấn.
Vì điều kiện hời gian còn hạn chế, kiến hức có hạn, kinh nghiệm hực iễn chưa nhiều nên rong báo cáo đề ài khóa
luận không ránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự
góp ý chân hành của quý hầy cô giáo.
Huế, tháng 4 năm 2013 Sinh viên hực hiện
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC HÌNH v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỢ VÀ BAN QUẢN LÝ CHỢ 10
1.1 Cơ sở lý luận 10
1.1.1 Nguồn gốc về chợ 10
1.1.1.1 Trên thế giới 10
1.1.1.2 Ở Việt Nam 10
1.1.2 Khái niệm về chợ 12
1.1.3 Những đặc trưng về chợ 13
1.1.4 Các loại chợ 14
1.1.4.1 Phân theo quy mô 14
1.1.4.2 Phân theo thời gian 14
1.1.4.3 Phân theo ngành hàng 15
1.1.4.4 Phân theo tính chất 15
1.1.4.5 Phân loại theo cơ sở vật chất kỹ thuật 16
1.1.5 Phân cấp quản lý 16
1.1.6 Vai trò của chợ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương 16
1.1.7 Chức năng của chợ 19
1.1.8 Một số mô hình tổ chức quản lý chợ hiện nay ở nước ta 19
Trang 41.1.8.2 Tổ chức quản lý chợ theo mô hình hợp tác xã 22
1.1.8.3 Tổ chức quản lý chợ theo mô hình ban quản lý 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 29
1.2.1 Tình hình hiện trạng các chợ 29
1.2.2 Tình hình công tác quản lý chợ trên cả nước 32
1.2.3 Tình hình quản lý chợ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 34
1.3 Mô hình nghiên cứu 35
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
2.1 Đặc điểm chợ Đông Ba 37
2.1.1 Giới thiệu chung về chợ Đông Ba 37
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 38
2.1.3 Cơ cấu tổ chức Ban quản lý chợ Đông Ba 39
2.1.3.1 Sơ đồ bộ máy quản lý chợ 39
2.1.3.2 Chức năng của từng tổ 40
2.1.3.3 Cơ cấu kinh doanh 41
2.1.4 Nguồn nhân lực trong hoạt động quản lý của Ban quản lý chợ Đông Ba 42
2.1.5 Kết quả hoạt động của Ban quản lý chợ Đông Ba 44
2.1.6 Tình hình cơ sở vật chất và công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba 46
2.1.6.1 Các lô hàng 47
2.1.6.2 Nhà vệ sinh 48
2.1.6.3 Ngoài lô hàng 48
2.2 Kết quả nghiên cứu 49
2.2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 49
2.2.1.1 Đặc điểm mẫu theo giới tính 49
2.2.1.2 Đặc điểm mẫu theo địa chỉ lô 50
2.2.1.3 Đặc điểm mẫu theo ngành hàng 51
2.2.1.4 Đặc điểm mẫu theo hình thức bán 52
2.2.2 Đặc điểm của tiểu thương 53
2.2.2.1 Mức độ hiểu biết của tiểu thương về công việc của Ban quản lý chợ 53
2.2.2.2 Những kênh thông tin mà Ban quản lý sử dụng 54
Trang 52.2.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach’s Alpha 55
2.2.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 58
2.2.5 Kiểm định tính phân phối chuẩn của nhân tố mới 63
2.2.6 Phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của tiểu thương đối với công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba 64
2.2.6.1 Hệ số tương quan 65
2.2.6.2 Đánh giá độ phù hợp của mô hình 66
2.2.6.3 Kiểm định hệ số β trong mô hình 68
2.2.6.4 Đa cộng tuyến 69
2.2.6.5 Tự tương quan 69
2.2.6.6 Phân phối chuẩn của phần dư 70
2.2.7 Kiểm định giá trị trung bình của tổng thể về công tác quản lý của Ban quản lý với cơ sở vật chất chợ Đông Ba bằng kiểm định One- Sample T-Test 71
2.2.7.1 Kiểm định giá trị trung bình của tổng thể về Công tác quản lý cơ sở vật chất trong lô hàng của Ban quản lý chợ Đông Ba 72
2.2.7.2 Kiểm định giá trị trung bình của tổng thể về Công tác quản lý cơ sở vật chất nhà vệ sinh 73
2.2.8 Kiểm định sự khác biệt mức độ hài lòng về công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba giữa 6 khu vực 75
2.2.9 Kiểm định sự khác biệt mức độ hài lòng về công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba giữa các hình thức bán 76
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA BAN QUẢN LÝ CHỢ ĐÔNG BA 79
3.1 Một số định hướng công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý 79
3.2 Một số giải pháp cụ thể 80
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết Luận 82
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ 20
Hình 1.2 Cơ cấu tổ chức Ban quản lý chợ 24
Hình 1.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất về công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba 36
Hình 2.2 Cơ cấu kinh doanh tại chợ Đông Ba 41
Hình 2.3 Đặc điểm mẫu theo giới tính 49
Hình 2.4 Đặc điểm mẫu theo địa chỉ lô 50
Hình 2.5 Biểu đồ tần số Histogram của phần dư chuẩn hoá 70
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 0.1 Mẫu được chọn theo khu vực 5
Bảng 0.2 Mẫu được chọn theo ngành ở từng khu vực 6
Bảng 1.1 Số chợ được dự kiến xây dựng giai đoạn 2011-2015 34
Bảng 2.1 Tình hình lao động tại Ban quản lý chợ Đông Ba qua 3 năm 2010,
2011, 2012 42
Bảng 2.2 Kết quả hoạt động qua 3 năm 2010, 2011, 2012 44
Bảng 2.3 Tình hình cơ sở vật chất tại chợ Đông Ba 46
Bảng 2.4 Đặc điểm mẫu theo ngành hàng 51
Bảng 2.5 Đặc điểm mẫu theo hình thức bán 52
Bảng 2.6 Mức độ hiểu biết của tiểu thương về công việc của Ban quản lý chợ 53
Bảng 2.7 Những kênh thông tin mà Ban quản lý sử dụng 54
Bảng 2.8 Kiểm định Cronbach’s Alpha đối với nhân tố “Cơ sở vật chất của các lô hàng ở chợ Đông Ba” 55
Bảng 2.9 Kiểm định Cronbach’s Alpha đối với nhân tố “Nhà vệ sinh ở chợ Đông Ba” 56
Bảng 2.10 Kiểm định Cronbach’s Alpha đối với nhân tố “Cơ sở vật chất nằm ngoài lô” 57
Bảng 2.11 Kiểm định KMO và Bartlett’s Test 58
Bảng 2.12 Kết quả phân tích nhân tố 59
Bảng 2.13 Các tiêu chí sau khi tiến hành phân tích nhân tố 62
Bảng 2.14 Kiểm tra tính phân phối chuẩn của thang đo mới 64
Bảng 2.15 Kiểm định hệ số tương quan 65
Bảng 2.16 Kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy 67
Bảng 2.17 Xác định độ phù hợp của mô hình hồi quy 68
Bảng 2.18 Kết quả mô hình hồi quy 68
Bảng 2.19 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 69
Bảng 2.20 Kiểm định giá trị trung bình của tổng thể về Công tác quản lý cơ sở vật chất trong lô hàng của Ban quản lý chợ Đông Ba bằng kiểm định
One- Sample T-Test 72 Bảng 2.21 Kiểm định giá trị trung bình của tổng thể về Công tác quản lý cơ sở vật
Trang 8Bảng 2.22 Kiểm định One-Sample Kolmogorov-Smirnov Test 75 Bảng 2.23 Kiểm định Kruskal-Wallis về mối quan hệ giữa sự hài lòng của tiểu thương đối
với công tác quản lý cơ sở vật chất của ban quản lý và khu vực buôn bán 75 Bảng 2.24 Hệ số chi- bình phương của kiểm định Kruskal-Wallis 76 Bảng 2.25 Kiểm định Kruskal-Wallis về mối quan hệ giữa sự hài lòng của tiểu
thương đối với công tác quản lý cơ sở vật chất của ban quản lý và hình
thức bán 77 Bảng 2.26 Hệ số chi- bình phương của kiểm định Kruskal-Wallis 77
Trang 9PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi nhắc đến Huế thì người ta nghĩ ngay đến một thành phố du lịch, nhiều danh lam thắng cảnh, địa danh nổi tiếng như: sông Hương, núi Ngự, lăng tẩm, chùa chiền,…
và không thể không nhắc đến chợ Đông Ba- cái chợ đã gắn bó với bao thăng trầm biến
cố của đất nước Chợ Đông Ba hình thành từ năm 1899 dưới thời vua Thành Thái với diện tích 47.614m2 Chợ bắt đầu từ múi cầu Tràng Tiền đến cầu Gia Hội, một mặt phố chính là Trần Hưng Đạo, mặt sau là sông Hương, với hàng ngàn lô hàng đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa của nhân dân
Trong 113 năm xây dựng và phát triển, chợ Đông Ba là nơi có truyền thống đấu tranh cách mạng bất khuất, kiên cường trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Ước tính tiểu thương chợ Đông Ba đã tham gia được 255 cuộc biểu tình và có lúc lên đến 400 tiểu thương Để ghi nhận những đóng góp to lớn của chị em tiểu thương chợ Đông Ba thì Nhà nước đã tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất
Hiện nay, chợ được xem là trung tâm thương mại của tỉnh gồm 2536 hộ kinh doanh có lô cố định, 140 lô bạ và gần 700 hộ buôn bán hàng rong Năm 2010, Ban quản lý chợ Đông Ba cũng đã thu được trên 10 tỷ đồng tiền thuế, nộp ngân sách trên 2,6 tỷ đồng Hàng ngày chợ Đông Ba thu hút khoảng 700 khách du lịch trong và ngoài nước, số khách hàng ngày đi chợ chiếm khoảng 10%, gần những dịp lễ, tết hàng ngày khoảng trên 10.000 khách đến chợ.1
Với những thành tựu mà chợ đã đạt được cùng với những bản sắc văn hóa Huế thì đáng lẽ chợ phải trở thành một điểm hấp dẫn thu hút khách trong và ngoài nước đến Nhưng thực tế cả khách trong và ngoài nước đều có cái nhìn không mấy thiện cảm với chợ Đông Ba Sau khi tham quan hầu hết họ đều nhận xét: cơ sở vật chất đã
1
Chợ Đông Ba, một điểm đến hấp dẫn ở thành phố Huế - Báo mới:
Trang 10http://www.baomoi.com/Cho-Dong-Ba-mot-xuống cấp (lối đi ẩm thấp, chật hẹp, nhà vệ sinh còn ít và bẩn), tiểu thương nói giá thách cao, không niêm yết rõ ràng giá, không nhã nhặn, lịch sự với khách, Đặc biệt vấn đề cơ
sở vật chất xuống cấp cũng như công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ chưa tốt không chỉ khách hàng mà cả tiểu thương cũng đều nhận xét như vậy Ắt hẳn mọi người vẫn chưa quên được thời gian vừa qua đã có thông tin chợ Đông Ba được giao cho Tổng công ty thương mại Thương Tín xây dựng lại chợ với kinh phí 1000 tỷ đồng Việc này đã gây xôn xao dư luận mà chủ yếu tiểu thương là những người có phản ứng mạnh mẽ nhất
vì lợi ích của họ bị ảnh hưởng nhiều nhất Và khi vấp phải sự phản kháng quyết liệt và mạnh mẽ của tiểu thương thì dự án đó đã được xếp lại không đề cập nữa Nhưng tình trạng cơ sở vật chất chợ cũng như công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý thì vẫn thế chưa có biện pháp khắc phục rõ ràng
Mặt khác ở thành phố Huế các siêu thị như BigC, Coop mart đang hoạt động rất hiệu quả thu hút một lượng khách hàng lớn từ chợ Đông Ba sang siêu thị, là đối thủ cạnh tranh lớn của chợ Đông Ba Trước tình hình đó, tôi thiết nghĩ Chợ Đông Ba cần phải thay đổi để nâng cao khả năng cạnh tranh, mà công tác quản lý của Ban quản lý Chợ đóng vai trò quan trọng trong quá trình thay đổi đó Chính vì những lý do trên tôi chọn đề tài
nghiên cứu: “Nâng cao công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ dưới góc
nhìn của tiểu thương chợ Đông Ba” để làm khóa luận của mình Với mong muốn tìm
hiểu tình hình quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba, và đưa ra những giải pháp mang tính khả thi để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý đó
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá tình hình công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba trong thời gian qua, phân tích những mặt hạn chế, nguyên nhân tồn tại Đưa ra một số giải pháp mang tính khả thi để nâng cao hiệu quả công tác quản lý đó
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá mức độ hiểu biết của tiểu thương đối với công tác quản lý của Ban quản lý chợ Đông Ba
Trang 11- Tìm hiểu tình hình và đánh giá công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba
- Đề xuất một số giải pháp khả thi để nâng cao công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự hài lòng của tiểu thương đối với công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý?
-Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của tiểu thương đối với công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý?
- Tiểu thương đánh giá như thế nào về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý?
- Làm sao để nâng cao sự hài lòng của tiểu thương đối với công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý?
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình tổ chức, thực hiện các hoạt động quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ và sự hài lòng của tiểu thương chợ Đông Ba đối với công tác quản lý
cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba
Đối tượng khảo sát là tiểu thương (lô cố định) đang kinh doanh buôn bán ở chợ Đông Ba
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, vận dụng phương pháp luận của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp chung nhất để xem xét các vấn đề một cách khách quan và khoa học Từ phương pháp đó, tôi vận dụng phương pháp chuyên môn trong nghiên cứu như phương pháp thống kê kinh tế, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp ngoài ra để hỗ trợ cho phương pháp phân tích thống kê tôi sử dụng phần mềm hỗ trợ SPSS trên máy tính
Phương pháp thu thập thông tin số liệu:
Đối với tài liệu thứ cấp: tôi tổng hợp từ các báo cáo thống kê, các bảng tổng kết hoạt động của Ban quản lý chợ Đông Ba
Đối với tài liệu sơ cấp: tôi tiến hành điều tra mẫu trên những tiểu thương đang kinh doanh buôn bán tại chợ Đông Ba
Dữ liệu sơ cấp: Điều tra bằng bảng hỏi phỏng vấn kết hợp quan sát
Tổng thể: Tiểu thương có lô cố định ở chợ Đông Ba (N): 2536 lô
Mẫu: Các tiểu thương được chọn ngẫu nhiên (n)
Cỡ mẫu: được tính theo công thức
n =
Trong đó:
z là giá trị tương ứng của miền thống kê Với độ tin cậy 95%; z=1,96
p là tỷ lệ tiểu thương hài lòng về công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản
lý chợ Đông Ba
(1-p) là tỷ lệ các tiểu thương không hài lòng về công tác quản lý cơ sở vật chất
của Ban quản lý chợ Đông Ba
Do tính chất p+(1-p) = 1 nên để cỡ mẫu lớn nhất thì p=(1-p) tức p(1-p)=0,25
Trang 13e là sai số mẫu cho phép, chọn e = 0,06 (do hạn chế về thời gian và tiền bạc)
Phương pháp chọn mẫu:
Mẫu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng
Bảng 0.1 Mẫu được chọn theo khu vực
Đơn vị: Lô
Khu vực Số lô Tỷ lệ phần trăm số lô
của mỗi khu vực (%)
Số lô được chọn ở mỗi khu vực
1 Lầu chuông trên 394 15,53 29
Trang 14Căn cứ vào cách phân chia các lô theo khu vực mà Ban quản lý chợ đã phân
Tính tỷ lệ phần trăm số lượng lô trong mỗi khu vực
Tính lượng lô ni sẽ được chọn trong mỗi khu vực bằng cách lấy tỷ lệ phần trăm của khu vực nhân với n’
Ở mỗi khu vực lấy tỷ lệ phần trăm của mỗi ngành nhân với ni
Bảng 0.2 Mẫu được chọn theo ngành ở từng khu vực
Trang 16 Phương pháp phân tích số liệu:
- Đánh giá mức độ hiểu biết của tiểu thương đối với công tác quản lý của Ban quản lý chợ Đông Ba
Sử dụng thống kê mô tả để xem mức độ hiểu biết của tiểu thương đối với các công việc của Ban quản lý chợ Đông Ba
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng chung của tiểu thương đối với công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba
Do chưa có mô hình chính xác về sự hài lòng của tiểu thương đối với công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ nên đề tài thu thập các ý kiến có ảnh hưởng đến sự hài lòng của tiểu thương và sử dụng phương pháp phân tích nhân tố EFA để gộp các ý kiến thành các nhân tố chính
- Mức độ ảnh hưởng các nhân tố đến sự hài lòng của tiểu thương về công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba
Tiến hành hồi quy bội với biến phụ thuộc là sự hài lòng của tiểu thương đối với công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý chợ Đông Ba và các biến độc lập là các nhân tố được rút trích từ phân tích nhân tố EFA
Trang 17- Đánh giá của tiểu thương về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công tác quản lý cơ sở vật chất của Ban quản lý?
- Dùng thống kê mô tả và kiểm định one sample T-test để có mức độ trung bình
về thái độ của tiểu thương
- Kiểm tra xem có sự khác biệt về mức độ hài lòng của tiểu thương ở các khu vực khác nhau hay không? Kiểm tra xem có sự khác biệt về mức độ hài lòng của tiểu thương khi họ có hình thức bán khác nhau không?
Dùng kiểm định phi tham số Kruskal-Wallis để xem xét có hay không sự khác biệt về mức độ hài lòng của tiểu thương ở các khu vực khác nhau, có hay không sự khác biệt về mức độ hài lòng của tiểu thương khi họ có hình thức bán khác nhau
Trang 18PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chợ ra đời từ rất sớm trong lịch sử loài người, khi mà con người đã sản xuất
được hàng hóa nhiều hơn nhu cầu của họ, nên phải mang nó đi trao đổi với người khác
để lấy một loại hàng hóa nào đó
Thưở ban đầu, chợ chủ yếu là nơi để mọi người trao đổi sản phẩm dư thừa với
nhau, dựa trên một thước đo là sự thỏa thuận của hai bên Về sau cùng với sự ra đời
của tiền tệ thì chợ không chỉ là nơi trao đổi mà diễn ra việc mua và bán hàng hóa - một
bên là những người có sản phẩm sẽ đem ra để bán, còn một bên là khách hàng dùng
tiền để mua các sản phẩm cần thiết cho mình hoặc các sản phẩm để đem bán lại
1.1.1.2 Ở Việt Nam 3
Vào thời nhà Hán, Việt Nam là một dân tộc đông dân, sự thống kê dân số do nhà
Hán tiến hành ở Giao Chỉ và Cửu Chân cho thấy dân số đã đạt gần một triệu người
Cho đến thế kỷ 11, dân số vẫn xấp xỉ như vậy và tăng dần lên cho đến thế kỷ 18 là
chừng 10 triệu người
Dân số tập trung và khi thoát khỏi tình trạng lệ thuộc tự nhiên, tự có nhu cầu trao
đổi, buôn bán Khi một số vùng sản xuất có tính chuyên canh, chuyên nghề thì đương
nhiên cần bán đi những sản phẩm của mình Thanh Hóa có nhiều mía đường, Nga Sơn
có nghề dệt chiếu, Bát Tràng làm gốm và gạch, Nam Định, Hà Đông có vải lụa, Phú
Thọ có sơn ta… Không thể khi nào cần hàng hóa thì đến nơi đó, cho nên sự buôn hàng
từ nơi này đến nơi kia và ăn chênh lệch giá là đều cần thiết
Trang 19Ngay từ thời nhà Lý, kinh đô Thăng Long đã có 4 chợ chính của 4 cửa thành Thăng Long: trong thành ngoài thị - đó là cấu trúc phân bố theo cư trú của người Việt Khu sinh sống chính của người Việt là lưu vực của các sông ngòi lớn nhỏ và rất
tự nhiên Cái chợ sẽ nằm tại các ngã ba nước để thuận tiện cho việc giao dịch trao đổi hàng hóa Sử Việt còn ghi dưới thời Thái sưTrần Thủ Độ,Việt Namcó khoảng 100 chợ quê Theo cấu trúc làng xã, Việt Nam còn có làng ven đồi và làng ven biển nữa Làng ven đồi người dân làm nhà ở phía nam dãy đồi để tránh gió bấc thì cái chợ sẽ nằm phía nam cuối làng nhưchợ Tam Canh-Vĩnh Phú Với làng ven biển, có chợ cá họp sát ngay mép sóng như chợ Báng, chợ Hàn ở Nha Trang Đến thế kỷ 16 xuất hiện giao lưu quốc tế nên có cảng thị Cảng biển cũng là cái chợ mở ra thông thương với bên ngoài mà thôi Sang thế kỷ 19, văn minh đường cái mở ra, lại thêm cái chợ đường cái họp nơi ngã ba đường như chợ Bần bán tương nổi tiếng Chung quy lại,chợViệt Namlàchợngã ba và phổ biến nhất, cổ truyền nhất là cái ngã ba nước
Giải thích về những cái tênchợ Xanh,chợ Rồngxuất hiện ở rất nhiều nơi, Giáo
sưTrần Quốc Vượngcho rằng nghề của dân Việt là trồng trọt và chài lưới, sản phẩm
là rau cỏ và tôm cá Chợ bán rau thì gọi làchợ Xanh(xanh như rau), chợ bán tôm cá gọi làchợ Rồng.Chợ Xanhđâu đâu cũng có (tiêu biểu như Chợ Xanh Định Công, Chợ Xanh Linh Đàm ởHà Nội; Chợ Xanh ởKhánh Thiện,Ninh Bình; Chợ Xanh ở xã Diễn Thành,Diễn Châu, Nghệ An,…), cònchợ Rồngthì thường xuất hiện ở những ngã ba sông lớn nhưchợ Rồng Hải Phòng,chợ Rồng Ninh Bình,chợ Rồng Nam Định, Chợ Rồng ở Nam Sách- Hải Dương ; chợ Rồng ởthị xã Quảng Yên,Quảng Ninh; chợ Rồng ở Nam Đàn,Nghệ An; chợ Rồng ở Thanh Oai,Hà Nội,… Đó chính là dấu ấn văn minh nông nghiệp
Giáo sưTrần Quốc Vượngcho rằng chợ không chỉ nằm trong phạm trù kinh tế đơn thuần, nó còn biểu hiện văn hóa rất đậm nét Yếu tố giao lưu tình cảm thì ai cũng
rõ rồi, đặc biệt với các chợ vùng cao như chợ tình Mường Khương,Sa Pado cư trú rải rác, buồn tẻ, hẻo lánh nên nhu cầu gặp gỡ, giao tiếp, giao duyên rất mạnh Nhưng phải thấy rằng Chợ - Chùa, chợ họp ở đình làng, chợ họp ở cầu, ở quán, cũng luôn gắn liền với các biểu tượngvăn hóa Việt Nam, gắn với nhu cầu tâm linh của người Việt
Trang 20Chợ không chỉ biểu thị mối quan hệ ứng xử giao đãi theo chiều ngang mà còn biểu thị mối quan tâm theo chiều dọc nội tâm nữa Đây là đặc điểm tự cân bằng, tự thích ứng rất mềm dẻo hài hòa của dân tộc Việt Nam Mọi việc mua bán sinh hoạt của người trần đều diễn ra dưới sự chứng giám của thần linh và của thiết chế xã hội
Theo khái niệm thường dùng trong lĩnh vực thương mại: chợ là loại hình thương nghiệp truyền thống phát triển khá phổ biến ở nước ta; chợ là hiện thân của hoạt động thương mại, là sự tồn tại của không gian thị trường mỗi vùng, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và tập trung nhiều nhất ở các vùng đô thị các thành phố lớn
Khái niệm về chợ truyền thống, chợ tự phát:
o Chợ truyền thống là chợ được xây dựng từ nhiều chục năm trước đây, đa phần
là theo quy hoạch phù hợp với dân số dân cư lúc bấy giờ
o Chợ tự phát là chợ buôn bán chiếm lòng lề đường đa số mới phát sinh trong khoảng từ năm 1999 đến nay Do dân số tăng nhanh, nhưng chủ yếu là do quản lý trật
tự lòng lề đường của phường, thành phố còn buông lỏng, thiếu cương quyết giải tỏa sắp xếp theo quy hoạch
Khái niệm về chợ theo quy định của Nhà nước:
o Theo thông tư 15-TM/CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương mại: “Chợ
là mạng lưới thương nghiệp hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội”
4
Theo Đại Từ điển tiếng Việt - NXB Từ điển Bách Khoa - 2003 (tr.138)
Theo Đại Từ điển tiếng Việt - NXB Văn hoá Thông tin - 2004 (tr.155)
Trang 21o Theo nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển
và quản lý chợ: “Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực
Từ những định nghĩa trên, ta có thể rút ra kết luận: Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông người mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ với nhau, được hình thành do yêu cầu của sản xuất, lưu thông và đời sống tiêu dùng xã hội và hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định
1.1.3 Những đặc trưng về chợ
Chợ là một nơi (địa điểm) công cộng để mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ của dân cư, ở đó bất cứ ai có nhu cầu đều có thể đến mua, bán và trao đổi hàng hóa, dịch vụ với nhau
Chợ được hình thành do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổi hàng hóa, dịch vụ của dân cư, chợ có thể được hình thành một cách tự phát hoặc do quá trình nhận thức tự giác của con người Vì vậy trên thực tế có nhiều chợ đã được hình thành từ việc quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ của các cấp chính quyền
và các ngành quản lý kinh tế kỹ thuật Nhưng cũng có rất nhiều chợ được hình thành một cách tự phát do nhu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa của dân cư, chưa được quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ
Các hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ tại chợ thường được diễn
ra theo một quy luật và chu kỳ thời gian (ngày, giờ, phiên) nhất định Chu kỳ họp chợ hình thành do nhu cầu trao đổi hàng hóa, dịch vụ và tập quán của từng vùng, từng địa phương quy định
Chợ thường ở những địa điểm có giao thông thuận lợi (thủy, bộ, đường sắt), có mặt bằng cao ráo (mưa không đọng nước, lụt ít ngập) hoặc gắn liền với nơi sản xuất nguồn hàng: chợ thủy sản, chợ gạo, chợ cà phê, chợ nông sản – Thường là chợ chuyên ngành, chợ Đầu mối
Trang 221.1.4 Các loại chợ
1.1.4.1 Phân theo quy mô 5
Chợ loại 1: là chợ do Thành phố quản lý, có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch; được đặt ở vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực và được họp thường xuyên; có mặt bằng phù hợp với quy mô hoạt động của chợ (chỉ tiêu sử dụng đất tối thiểu từ 12m2 đất trên một điểm kinh doanh theo tiêu chuẩn tại Quyết định số 13/2006/QĐ-BXD ngày 19/4/2006 của Bộ Xây dựng về việc ban hành TCXDVN 361:2006 “chợ - tiêu chuẩn thiết kế”; tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ; trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác;
Chợ loại 2: là chợ do cấp quận, huyện, thị xã quản lý; có từ 200 điểm kinh doanh đến 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố theo quy hoạch; được đặt ở vị trí trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực, được tổ chức họp chợ thường xuyên hoặc không thường xuyên; có mặt bằng phù hợp với quy mô hoạt động của chợ (chỉ tiêu sử dụng đất tối thiểu từ 15m2 đất trên một điểm kinh doanh theo tiêu chuẩn tại Quyết định số 13/2006/QĐ-BXD ngày 19/4/2006 của Bộ Xây dựng về việc ban hành TCXDVN 361:2006 “chợ-tiêu chuẩn thiết kế”; tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường, vệ sinh công cộng;
Chợ loại 3: là chợ do cấp xã, phường, thị trấn quản lý; có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư kiên cố hoặc bán kiên cố; chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hóa của nhân dân trong xã, phường và vùng phụ cận
1.1.4.2 Phân theo thời gian
Trang 23 Chợ lao động…
1.1.4.4 Phân theo tính chất
Chợ chuyên doanh: là chợ kinh doanh chuyên biệt một ngành hàng hoặc một số ngành hàng có đặc thù và tính chất riêng, là chợ chuyên kinh doanh một mặt hàng chính yếu, mặt hàng này thường chiếm doanh số trên 60% đồng thời có bán một số mặt hàng khác, các loại hàng khác có doanh số dưới 40% tổng doanh thu Nhiều chợ chỉ chuyên doanh một hoặc một nhóm mặt hàng nhất định, như chợ hoa tươi, chợ vật liệu xây dựng, chợ cá biển, chợ rau quả, chợ cây cảnh, chợ tôm, chợ giống, chợ bò sữa,…
Chợ tổng hợp: là chợ kinh doanh nhiều ngành hàng
Chợ bán sỉ (bán buôn): Các chợ này có doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng cao trên 60-70%, đồng thời vẫn có bán lẻ nhưng tỷ trọng nhỏ Thướng tập trung bán buôn
ở các chợ cấp vùng và cấp thành phố
Chợ bán lẻ: là chợ bán chủ yếu cho người tiêu dùng trực tiếp hàng ngày
Chợ bán tư liệu sản xuất (TLSX)
Chợ bán tư liệu tiêu dùng
Chợ cao cấp, chợ bình dân, chợ quý tộc, chợ lưu động, chợ trời…
Chợ biên giới: là chợ nằm trong khu vực biên giới trên đất liền (gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền) hoặc khu vực biên giới trên biển (tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo)
Trang 24 Chợ dân sinh: là chợ loại 3 (do xã, phường quản lý) kinh doanh những mặt hàng thông dụng và thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày của người dân
Chợ nông thôn: là chợ xã của cả huyện và ở khu vực ngoại thành, ngoại thị
Chợ miền núi: là chợ xã thuộc các huyện miền núi
Chợ cửa khẩu: là chợ được lập ra trong khu vực biên giới trên đất liền hoặc trên biển gắn các cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nhưng không thuộc khu kinh tế cửa khẩu
Chợ trong khu kinh tế cửa khẩu: là chợ lập ra trong khu kinh tế cửa khẩu theo các điều kiện, trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm
2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế
1.1.4.5 Phân loại theo cơ sở vật chất kỹ thuật
Chợ kiên cố: là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng trên 10 năm
Chợ bán kiên cố: là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng trên
Thôn, bản, ấp, khối, hợp tác xã, đội, tổ quản lý: chợ loại 3, chợ tạm
1.1.6 Vai trò của chợ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương
Trong những năm qua, mạng lưới chợ ở nước ta đóng vai trò rất quan trọng trong
sự phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là từ thập niên 80 và những năm đầu của thập niên 90 Đây là giai đoạn mà mạng lưới siêu thị và trung tâm thương mại chưa hình thành và phát triển, chợ vẫn là nơi tiêu thụ hàng hóa chủ yếu của các doanh nghiệp sản xuất cũng như là nơi mua sắm chủ yếu của người dân Tuy nhiên, hiện nay chợ vẫn giữ một vai trò rất quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
Trang 25 Về mặt kinh tế
Chợ là một bộ phận quan trọng trong cấu thành mạng lưới thương nghiệp xã hội:
Đối với vùng nông thôn: Chợ vừa là nơi tiêu thụ nông sản hàng hoá, tập trung
thu gom các sản phẩm, hàng hoá phân tán, nhỏ lẻ để cung ứng cho các thị trường tiêu thụ lớn trong và ngoài nước, vừa là nơi cung ứng hàng công nghiệp tiêu dùng cho nông dân và một số loại vật tư cho sản xuất nông nghiệp ở nông thôn
Ở khu vực thành thị: Chợ cũng là nơi cung cấp hàng hoá tiêu dùng, lương thực
thực phẩm chủ yếu cho các khu vực dân cư Tuy nhiên hiện nay đã xuất hiện khá nhiều hình thức thương mại cạnh tranh trực tiếp với chợ, vì thế bên cạnh việc mở rộng hay tăng thêm số lượng chợ chúng ta sẽ đầu tư nâng cấp chất lượng hoạt động của chợ và đầu tư nâng cấp chất lượng dịch vụ của chợ
Hoạt động của các chợ làm tăng ý thức về kinh tế hàng hoá của người dân, rõ nét nhất là ở miền núi, vùng cao từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, miền núi Trong các phiên chợ, các buổi chợ là cơ hội của người dân giao lưu trao đổi, mua bán, lưu thông hàng hoá của mình, cập nhật thông tin, ý thức xã hội, nó làm tăng khả năng phản ứng của người dân với thị trường, với thời thế và tự mình có thể ý thức được công việc làm ăn buôn bán của mình trong công cuộc đổi mới
Chợ là một nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước Mặc dù Nhà nước chưa có thể nâng cấp đủ hệ thống chợ ở nước ta, chưa đặc biệt quan tâm đầu tư phát triển, nhưng các chợ trong cả nước đã đem lại cho Ngân sách Nhà nước khoảng 300.000 triệu đồng mỗi năm (chưa kể các nguồn thu từ thuế trực tiếp)
Sự hình thành chợ kéo theo sự hình thành và phát triển các ngành nghề sản xuất Đây chính là tiền đề hội tụ các dòng người từ mọi miền đất nước tập trung để làm ăn, buôn bán Chính quá trình này làm xuất hiện các trung tâm thương mại và không ít số
đó trở thành những đô thị sầm uất
Về giải quyết việc làm
Chợ ở nước ta đã giải quyết được một số lượng lớn việc làm cho người lao động Hiện nay trên toàn quốc có hơn 2,3 triệu người lao động buôn bán trong các chợ và số người tăng thêm có thể tới 10%/năm
Trang 26Nếu mỗi người trực tiếp buôn bán có thêm 1 đến 2 người giúp việc (phụ việc bán hàng, tổ chức nguồn hàng để đưa về chợ, đưa hàng tới các mối tiêu thụ theo yêu cầu của khách…) thì số người lao động có việc tại chợ sẽ gấp đôi, gấp ba lần số lượng người chỉ buôn bán ở chợ, và như thế chợ giải quyết được một số lượng lớn công việc cho người lao động khi hoạt động
Về việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Có thể nói, chợ là một bộ mặt kinh tế - xã hội của một địa phương và là nơi phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của một vùng dân cư Tính văn hoá ở chợ được thể hiện rõ nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa
Đối với người dân: Đồng bào đến chợ ngoài mục tiêu mua bán còn lấy chợ làm nơi giao tiếp, gặp gỡ, thăm hỏi người thân, trao đổi công việc, kể cả việc dựng vợ
gả chồng cho con cái Chợ còn là nơi hò hẹn của lứa đôi, vì vậy người dân miền núi thường gọi là đi "chơi chợ" thay cho từ đi chợ mua sắm như là người dưới xuôi thường gọi Các phiên chợ này thường tồn tại từ rất lâu đời, và nó là những bản sắc văn hoá vô cùng đặc trưng của các dân tộc ở nước ta
Đối với chính quyền: ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa chợ là địa điểm duy nhất hội tụ đông người Tại chợ có đại diện của các lứa tuổi, tất cả các thôn bản và các dân tộc Vì thế, đã từ lâu, Chính quyền địa phương đã biết lấy chợ là nơi phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi tuyên truyền cảnh giác và đấu tranh với những phần tử xuyên tạc đường lối của Đảng Từ phong trào kế hoạch hoá gia đình đến kỹ thuật chăm sóc cây trồng vật nuôi, vệ sinh phòng dịch… đều có thể được phổ biến một cách hiệu quả ở đây Chính vì lý do đó, chợ miền núi hay miền xuôi đều được bố trí ở trung tâm cụm, xã (nhất là miền núi) Trong mỗi chợ đều giành vị trí trung tâm làm công tác tuyên truyền
Trên thực tế, một số chợ truyền thống có từ rất lâu đời đang trở thành một địa điểm thu hút khách du lịch (như Chợ Tình Sa Pa, chợ Cầu Mây ở Nam Định…) Nếu được đầu tư thoả đáng cả về cở sở vật chất cũng như sự quan tâm quản lý của Nhà nước, đây sẽ là các địa danh hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước, và nó
sẽ là tiềm năng về kinh tế du lịch quốc gia
Trang 27Hiện nay, khi mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng bán lẻ đã hình thành và phát triển mạnh, mặc dù vẫn có tầm quan trọng trong sinh hoạt của người dân, nhưng không vì thế mà chợ mất đi vai trò của mình mà có thể nói chợ đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình và sự phát triển mạng lưới chợ chính là sự hỗ trợ cho sự hình thành và phát triển của các loại hình kinh doanh mới, đó là siêu thị và trung tâm thương mại
1.1.7 Chức năng của chợ
Lưu thông hàng hóa, để thực hiện giá trị hàng hóa
Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước:
o Thuế
o Phí
o Các dịch vụ bằng cho thuê quầy sạp, vệ sinh, quảng cáo, trông coi tài sản hàng hóa ban đêm, giữ xe đạp, xe máy, ô tô, cho thuê kho, bãi
Phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống dân cư Thúc đẩy sản xuất phát triển
Ổn định đời sống dân cư
Các nhu cầu khác của xã hội: cung cấp thông tin, giới thiệu sản phẩm
Công trình kinh tế, công trình văn hóa xã hội, công trình phúc lợi xã hội
Ổn định giá cả thị trường, góp phần cân đối tiền hàng, hạn chế lạm phát
Tham mưu cho nhà sản xuất – dịch vụ
Giải quyết công ăn việc làm cho dân cư
Phục vụ khách du lịch, tham quan mua sắm
1.1.8 Một số mô hình tổ chức quản lý chợ hiện nay ở nước ta
1.1.8.1 Tổ chức quản lý chợ theo mô hình doanh nghiệp (Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ)
Khái niệm:
Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ là một doanh nghiệp được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh chợ, đăng ký kinh doanh và hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật
Trang 28Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ
Nhiệm vụ, quyền hạn của doanh nghiệp kinh doanh, khai thác và quản
lý chợ
Được tổ chức kinh doanh các dịch vụ tại chợ trong phạm vi doanh nghiệp quản lý
Đảm bảo công tác phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự
và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong phạm vi chợ
Xây dựng Nội quy trình Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt theo phân cấp quản lý chợ, tổ chức điều hành chợ hoạt động theo Nội quy chợ và xử lý các
Phòng Quản lý chợ
Tổ điện nước
Đội
vệ sinh môi trường
Đội bảo
vệ
Tổ quản lý ngành hàng
Trang 29 Ký kết hợp đồng với các thương nhân về việc thuê, sử dụng điểm kinh doanh tại chợ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật
Tổ chức thông tin kinh tế, phổ biến chính sách, quy định của pháp luật và nghĩa vụ đối với Nhà nước của thương nhân kinh doanh tại chợ theo hướng dẫn của cơ quan chức năng
Tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của chợ và báo cáo định kỳ cho các
cơ quan quản lý Nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Thương mại
Các khoản thu từ hoạt động chợ:
Thu về cho thuê, sử dụng địa điểm kinh doanh tại chợ; cung cấp dịch vụ, hàng hoá
Các loại phí theo quy định của Pháp lệnh Phí và lệ phí ngày 28 tháng 8 năm
Quản lý, sử dụng các khoản thu, chi ở chợ:
Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ được thu các khoản thu nêu trên
Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ phải xây dựng kế hoạch kinh doanh và phương án tài chính cho hoạt động của mình Việc xây dựng phương án tài chính dựa trên cơ sở các khoản thu để sử dụng chi cho các mục đích như hoàn trả vốn đầu tư xây dựng chợ, các chi phí cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp
Tuỳ thuộc vào loại hình tổ chức và quy mô hoạt động của các loại chợ, doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ được áp dụng với quy định hiện hành phù
Trang 30hợp với mỗi loại hình để tổ chức công tác kế toán, thống kê, quản lý và sử dụng các khoản thu, chi liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ phải thực hiện chế độ quyết toán và báo cáo tài chính doanh nghiệp theo quy định pháp luật
1.1.8.2 Tổ chức quản lý chợ theo mô hình hợp tác xã
Khái niệm:
Hợp tác xã chợ là một tổ chức kinh tế tập thể do những xã viên là pháp nhân, cá
nhân (bao gồm xã viên là thương nhân kinh doanh tại chợ, xã viên có quan hệ trao đổi
hàng hóa, dịch vụ và làm việc tại chợ) có nhu cầu, lợi ích chung, cùng tự nguyện góp
vốn, góp sức thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2003
Tổ chức bộ máy của hợp tác xã chợ theo qui định của điều lệ cụ thể của hợp tác xã được Đại hội xã viên thông qua, phù hợp với Nghị định số 77/2005/NĐ-CP ngày 09/6/2005 của Chính phủ về việc ban hành mẫu hướng dẫn xây dựng điều lệ hợp tác
xã Hợp tác xã tổ chức bộ máy hoạt động phù hợp, có thể tham khảo 2 trường hợp sau:
Trường hợp hợp tác xã đang hoạt động được giao quản lý chợ thì thành lập Ban Quản lý chợ là bộ phận trực thuộc hợp tác xã, Ban Quản trị hợp tác xã cử thành viên làm Trưởng ban Quản lý chợ
Trường hợp hợp tác xã chợ thành lập mới trên cơ sở Ban Quản lý chợ và trường hợp hợp tác xã chợ thành lập mới trên cơ sở huy động vốn của xã viên và các nguồn vốn hợp pháp khác để đầu tư xây dựng chợ thì Ban Quản trị hợp tác xã đồng thời là Ban Quản lý chợ
Căn cứ tính chất, đặc điểm, nội dung hoạt động, quy mô chợ, điều lệ của hợp tác
xã qui định tổ chức bộ máy quản lý chợ, ngoài bộ phận quản lý còn có bộ phận nghiệp
vụ, kế toán; các tổ khai thác nguồn hàng và bán hàng tại chợ; các tổ phụ trợ bảo đảm dịch vụ kho bãi, vận tải, bốc xếp, đóng gói, điện, nước, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ, trông giữ xe, an ninh trật tự…
Trang 31 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hợp tác xã quản lý chợ:
Hợp tác xã xây dựng nội quy của chợ trên cơ sở áp dụng Quyết định số 772/2003/QĐ-BTM ngày 24/06/2003 của Bộ Thương mại về việc ban hành nội quy mẫu về chợ
Hợp tác xã chợ tổ chức thực hiện các quy định tại Điều 9 Nghị định 02, bao gồm:
Tổ chức kinh doanh các dịch vụ tại chợ
Bảo đảm công tác phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật
tự và an toàn thực phẩm trong phạm vi chợ
Xây dựng Nội quy chợ theo quy định tại Điều 10 Nghị định 02 để trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt theo phân cấp quản lý chợ; tổ chức điều hành chợ hoạt động theo nội quy chợ và xử lý các vi phạm về nội quy chợ
Bố trí, sắp xếp các khu vực kinh doanh bảo đảm các yêu cầu về trật tự, vệ sinh, văn minh thương mại và phù hợp với yêu cầu của thương nhân kinh doanh tại chợ
Ký hợp đồng với các thương nhân về việc thuê, sử dụng điểm kinh doanh tại chợ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật
Tổ chức thông tin kinh tế; phổ biến chính sách, quy định của pháp luật và nghĩa vụ đối với Nhà nước của thương nhân kinh doanh tại chợ theo hướng dẫn của các cơ quan chức năng
Tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của chợ và báo cáo định kỳ cho các
cơ quan quản lý Nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Thương mại, đồng thời gửi báo cáo đến Liên minh Hợp tác xã tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Liên minh Hợp tác xã tỉnh)
Hợp tác xã chợ áp dụng cơ chế tài chính áp dụng cho doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ theo hướng dẫn của Thông tư số 67/2003/TT-BTC ngày 11/7/2003 của Bộ Tài chính
Hợp tác xã chợ được hưởng các ưu đãi theo Nghị định 02, Nghị định 88/2005/ NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác xã (sau đây gọi là Nghị định 88), và các quy định hiện hành của pháp luật
Trang 32 Các khoản thu từ hoạt động chợ:
(tương tự như mô hình doanh nghiệp quản lý chợ)
Quản lý, sử dụng các khoản thu, chi ở chợ:
(tương tự như mô hình doanh nghiệp quản lý chợ)
1.1.8.3 Tổ chức quản lý chợ theo mô hình ban quản lý
Khái niệm:
Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 về phát triển và quản lý
chợ: "Ban quản lý chợ là đơn vị sự nghiệp có thu, tự trang trải các chi phí hoạt động
thường xuyên, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và có tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý các hoạt động của chợ và tổ chức kinh doanh các dịch vụ tại chợ theo quy định của pháp luật"
Hình 1.2.Cơ cấu tổ chức Ban quản lý chợ
Tổ điện nước
Tổ vệ sinh môi trường
Tổ quản lý ngành hàng
Tổ kiểm định số lượng chất lượng
Trang 33Căn cứ vào tính chất, đặc điểm và quy mô của chợ, Uỷ Ban Nhân Dân các cấp có thẩm quyền quyết định lập và giao cho Ban quản lý chợ quản lý một hoặc một số chợ (liên chợ) trên địa bàn theo phân cấp quản lý Trường hợp lập Ban quản lý liên chợ thì
ở từng chợ có thể lập Ban hay tổ điều hành chợ
Ban quản lý chợ có trách nhiệm quản lý tài sản Nhà nước và các hoạt động trong phạm vi chợ của một hoặc một số chợ; thực hiện ký kết hợp đồng với thương nhân về thuê, sử dụng điểm kinh doanh; kinh doanh các dịch vụ tại chợ; tổ chức bảo đảm công tác phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và an toàn thực phẩm trong phạm vi chợ; xây dựng Nội quy của chợ trình Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt theo phân cấp quản lý chợ; tổ chức thực hiện Nội quy chợ và xử lý các vi phạm về Nội quy chợ; điều hành chợ hoạt động và tổ chức phát triển các hoạt động tại chợ; tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của chợ và báo cáo định kỳ cho các cơ quan quản lý Nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Thương mại
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban quản lý chợ:
Theo thông tư số 06/2003/TT-BTM ngày 15 tháng 8 năm 2003 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Ban quản lý chợ, Ban quản lý chợ có các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
Trình Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo phân cấp quản lý chợ quyết định:
Phê duyệt Phương án sử dụng địa điểm kinh doanh và bố trí, sắp xếp các ngành nghề kinh doanh tại chợ
Quy định cụ thể việc sử dụng, thuê, thời hạn với các biện pháp quản lý điểm kinh doanh tại chợ
Phê duyệt Nội quy chợ
Phê duyệt Phương án bảo đảm Phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và an toàn thực phẩm trong phạm vi chợ
Phê duyệt Kế hoạch sửa chữa lớn, nâng cấp cơ sở vật chất và phát triển các hoạt động của chợ khi có nhu cầu
Trang 34 Quyết định việc tổ chức đấu thầu theo quy định của Pháp luật để lựa chọn thương nhân sử dụng hoặc thuê địa điểm kinh doanh tại chợ theo Phương án đã được duyệt Trong trường hợp số thương nhân đăng ký ít hơn số điểm kinh doanh hiện có, Ban quản lý chợ được quyền quyết định việc lựa chọn thương nhân, không phải tổ chức đấu thầu
Ký hợp đồng với thương nhân sử dụng hoặc thuê điểm kinh doanh tại chợ theo Phương án đã được duyệt
Tổ chức quản lý, điều hành chợ hoạt động, tổ chức thực hiện Nội quy chợ và
xử lý các vi phạm Nội quy chợ
Phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn tổ chức đảm bảo phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và an toàn thực phẩm trong phạm vi chợ
Tổ chức kinh doanh, phát triển các dịch vụ hỗ trợ như: trông giữ phương tiện vận chuyển, bốc xếp hàng hoá, cho thuê kho bảo quản cất giữ hàng hoá, cung cấp thông tin thị trường, kiểm định số lượng, chất lượng hàng hoá, vệ sinh môi trường ăn uống, vui chơi, giải trí và các hoạt động khác trong phạm vi chợ phù hợp với các quy định của pháp luật và theo hướng ngày càng văn minh hiện đại
Tổ chức thu, nộp tiền thuê, sử dụng điểm kinh doanh của thương nhân và các loại phí, lệ phí về chợ theo quy định của pháp luật
Phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan, đoàn thể tổ chức thông tin kinh tế - xã hội, phổ biến hướng dẫn việc thực hiện các chính sách, các quy định của pháp luật và nghĩa vụ đối với Nhà nước của thương nhân kinh doanh tại chợ; tổ chức các hoạt động văn hoá xã hội tại chợ
Chịu trách nhiệm quản lý tài sản và kết quả tài chính của Ban quản lý chợ theo quy đinh của pháp luật
Tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh của chợ và báo cáo định kỳ cho các
cơ quan quản lý Nhà nước theo quy định của Bộ Thương mại
Trang 35 Về tổ chức:
Ban quản lý chợ có Trưởng ban và có một đến hai Phó trưởng ban Trưởng ban, Phó trưởng ban do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định việc bổ
nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng và kỷ luật
Trưởng Ban quản lý chợ chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền về toàn bộ hoạt động của chợ và của Ban quản lý chợ Phó trưởng ban có trách nhiệm giúp trưởng ban và chịu trách nhiệm trước Trưởng ban thực hiện một hoặc một
số nhiệm vụ do Trưởng ban phân công
Căn cứ tính chất, đặc điểm, khối lượng công việc và khả năng tài chính, Trưởng ban quản lý chợ quyết định việc tổ chức các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ giúp việc quản lý, điều hành chợ hoạt động và tổ chức các dịch vụ tại chợ; ký hợp đồng tuyển dụng lao động, các hợp đồng khác với các cơ quan, doanh nghiệp về đảm bảo vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy, an ninh trật tự… trong phạm vi chợ theo quy định của pháp luật
Các khoản thu từ hoạt động của chợ:
Ban quản lý chợ được thu các khoản sau:
Thu về cho thuê, sử dụng địa điểm kinh doanh tại chợ; cung cấp dịch vụ, hàng hoá:
Thu tiền thuê, sử dụng điểm kinh doanh tại chợ theo hợp đồng sử dụng, thuê điểm kinh doanh;
Thu từ việc cung cấp các dịch vụ bốc xếp hàng hoá, kho bãi để lưu giữ hàng hoá, dịch vụ bảo vệ theo hợp đồng cụ thể và các dịch vụ khác;
Thu khác: Thu được trích để lại theo hợp đồng uỷ nhiệm thu (thu phí, thu tiền điện, nước và các khoản có liên quan đến hoạt động kinh doanh tại chợ); thu tiền phạt, tiền bồi thường hợp đồng (nếu có) đối với các tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh tại chợ do vi phạm các quy định trong hợp đồng kinh tế ký kết với Ban quản lý chợ
Các loại phí theo quy định của Pháp lệnh Phí và lệ phí ngày 28 tháng 8 năm
2001, bao gồm:
Trang 36 Phí phòng cháy, chữa cháy
Quản lý, sử dụng các khoản thu, chi ở chợ:
Ban quản lý chợ được sử dụng các khoản thu ở trên để chi cho các nội dung sau:
Đối với chợ loại 1 và loại 2:
Chi hoàn trả vốn đầu tư xây dựng chợ
Chi cho người lao động: Chi tiền lương, tiền công, tiền ăn ca, các khoản phụ cấp lương, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định
Chi quản lý hành chính: Vật tư văn phòng, điện, nước, thông tin liên lạc, họp bàn, hội nghị tổng kết, sửa chữa thường xuyên cơ sở vật chất: nhà cửa, máy móc, thiết bị…
Chi cho các hoạt động tổ chức thu (kể cả thu theo hợp đồng uỷ nhiệm thu)
Chi cho các hoạt động cung ứng dịch vụ (kể cả chi nộp thuế, trích khấu hao tài sản cố định)
Chi khác
Ban quản lý chợ được thực hiện chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp
có thu
Đối với chợ loại 3:
Chi trả hoàn vốn đầu tư xây dựng chợ
Chi tiền công cho người lao động
Trang 37 Chi quản lý hành chính: Vật tư văn phòng, điện, nước, thông tin liên lạc, sửa chữa thường xuyên cơ sở vật chất: nhà cửa, máy móc, thiết bị…
Chi cho các hoạt động tổ chức thu (kể cả các hoạt động thu theo hợp đồng uỷ nhiệm thu)
Chi cho các hoạt động cung ứng dịch vụ (kể cả chi nộp thuế, khấu hao tài sản
cố định)
Chi khác
Ban quản lý chợ được sử dụng số thu để chi các khoản theo quy định, số thu còn lại nộp ngân sách Nhà nước theo quy định phân cấp quản lý ngân sách hiện hành
Quyết toán các khoản thu, chi hoạt động của Ban quản lý chợ:
Hàng năm, Ban quản lý chợ xây dựng dự toán, lập báo cáo quyết toán thu, chi kinh phí hoạt động trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo sự phân cấp quản lý chợ
Ban quản lý chợ thực hiện công tác kế toán, thống kê và báo cáo tài chính theo quy định của Nhà nước về chế độ kế toán, thống kê áp dụng cho các đơn vị hành chính
Về vệ sinh an toàn thực phẩm (dịch lợn tai xanh, dịch cúm gia cầm, thông tin
về chất tạo nạc cho heo xuất hiện dồn dập, lan rộng khiến người tiêu dùng hoang mang, lo sợ có dạo người tiêu dùng không còn chuộng thịt “nóng”, chuyển sang sử dụng gia súc, gia cầm giết mổ công nghiệp, được bảo quản trong điều kiện nhiệt độ phù hợp, kiểm soát chất lượng theo các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm
Trang 38 Bên cạnh đó, sức hút từ các cửa hàng tiện lợi và siêu thị đã khiến người tiêu dùng gần như bỏ chợ Công nhân viên chức, người có thu nhập khá đi siêu thị thường xuyên hơn đi chợ; người thu nhập thấp cũng chuyển sang mua sắm ở cửa hàng tiện lợi, siêu thị để “săn” hàng khuyến mãi
Không ít chuyên gia cho rằng, chợ truyền thống, chợ cóc… là nguyên nhân làm mất vẻ mỹ quan đô thị và mất an toàn thực phẩm, cho dù thực tế có nhiều nguyên nhân từ phiá quản lý, kiểm tra giám sát của chính quyền chưa hiệu quả Suy nghĩ chợ truyền thống là không gian chật hẹp, vệ sinh môi trường không phù hợp với thành phố hiện đại dẫn đến việc nâng cấp, đóng cửa một số chợ, xóa chợ cóc, chợ tạm là cần thiết
để bảo vệ mỹ quan đô thị…Tuy nhiên điều này làm xuất hiện các chợ tạm đường cái, những tuyến đường với người bán hàng rong, vì các chợ như thế đáp ứng ngay đòi hỏi thiết yếu của cộng đồng
Nhưng siêu thị hay TTTM vẫn chưa thể thay thế được chợ vì người dân vẫn giữ thói quen của mình Thực tế thì người dân sống tại các khu đô thị, khu tái định cư thì lại gặp một khó khăn là thiếu các công trình hạ tầng xã hội, trong đó có chợ Nguyên nhân là do quy hoạch không xác định đất xây chợ, vì với quan niệm đã là khu
đô thị phải làm siêu thị mới xứng, mới văn minh
Trong nhiều dự án, nhiều công trình nghiên cứu của Bộ Xây dựng và Viện khoa học Xã hội về chợ đô thị, thì hầu hết các TTTM và siêu thị đã, đang và sẽ được xây lên trên…đầu các ngôi chợ truyền thống với ý định thay thế
Do khan hiếm mặt bằng tài khu vực trung tâm thành phố nên một số chợ TT bị thay thế bằng chợ TT kết hợp với siêu thị, văn phòng cho thuê Theo mô hình đưa ra là: trong cao ốc hợp khối, chợ truyền thống thường được bố trí ở tầng hầm còn tầng 1, tầng 2 là TTTM, các tầng trên là văn phòng cho thuê Và hy vọng rằng: “Sự tái sinh của chợ truyền thống theo kiểu cấy ghép này sẽ tạo ra một mô hình bán lẻ hiện đại và tiện lợi
o Đầu tư kinh phí lớn là thế mà thực trạng cho một kết cục như con tàu
“TITANIC” ngay chuyến ra khơi đầu tiên đã va phải tảng băng chìm, “các chợ TT trong siêu thị-TTTM diễn ra cảnh mau bán heo hắt đìu hiu, nhiều gian hàng, hộ kinh doanh đã xin nghỉ vì quá vắng khách, quầy hàng thực phẩm, rau xanh trong chợ cũng
Trang 39không mấy người qua lại, vào đúng giờ các bà nội trợ đi mua sắm mà nhiều chủ hàng ngồi bó gối ngáp ngắn ngáp dài, lác đác vài người khách đi lại hỏi giá, các hộ kinh doanh còn rao cho thuê lại quầy hàng Những mâu thuẩn nảy sinh như kinh doanh rau xanh, thực phẩm tươi sống dưới tầng hầm siêu thị, TTTM thì giá phải cao hơn do cõng thêm chi phí điện nước, vệ sinh, thuê quầy, bảo vệ… dẫn đến tình trạng ế ẩm
o Trái ngược với cảnh mua bán heo hắt rong các chợ TT ở TTTM, chợ tạm, chợ cóc bủa vây xung quanh có tới hàng trăm quầy hàng thực phẩm rau quả tươi sống mà vẫn nườm nượp người mua chen chúc, ồn ã từ sáng tới chiều tối, khiến việc kinh doanh nhiều mặt hàng phục vụ dân sinh trong chợ TTTM như thực phẩm, rau quả lại càng bị tê liệt; các chợ bên đường càng cấm càng đông, hình thành nên một cuộc rượt đuổi của các đội quản lý và người bán rong trên đường phố đô thị Còn do thói quen mua bán của người dân (đặc biệt là dân nghèo) chưa thay đổi, hầu hết vẫn muốn mua bán gần nhà, dừng xe máy, xe đạp là có thể mua được thực phẩm, đồ ăn, trong khi vào siêu thị thì phải gửi xe, mất tiền và thời gian Mà, sau thời gian đi vào hoạt động, mô hình họp khối chợ TT, siêu thị, TTTM đã bộc lộ những bất hợp lý, câu nệ, dây chuyền chưa thực sự phù hợp, không đáp ứng được…
Các khu đô thị mới đã và đang xây dựng khang trang, đẹp đẽ với những chung
cư cao tầng, biệt thự, nhà liền kề thì lại thiếu các công trình hạ tầng xã hội đặc biệt là chợ TT, chợ dân sinh đã khiến cuộc sống của người dân xung quanh không mấy dễ dàng Thực tế các chợ dân sinh đang dần bị loại ra khỏi các bản quy hoạch của các khu
đô thị mới thay vào đó là các siêu thị và TTTM Người dân sống tại các khu đô thị, khu tái định cư đã phàn nàn nhiều về việc thiếu các công trình hạ tầng xã hội, trong đó rất cần thiết là chợ thức ăn, nhu yếu phẩm hàng ngày Người dân nghèo đô thị (những người được cho là có thu nhập thấp - chiếm tới 80%) vẫn phải đi chợ mua nông sản thực phẩm tươi sống hàng ngày cho gia đình với giá cả bình dân, những yêu cầu bức thiết này vẫn chưa mấy được đáp ứng Thí dụ như Khu Trung Hòa-Nhân Chính là khu
đô thị khá lớn, trước đây có chợ Trung Hoa cũ, nay đã phá dỡ để xây dựng trung tâm thương mại Hiện gần bốn vạn hộ dân sinh sống tại địa bàn nhưng chỉ duy nhất có một chợ Trung Kính Hạ Còn lại, là hàng chục các chợ dân sinh, chợ cóc tự phát rải rác mọc lên các con phố nhỏ trong phường
Trang 40 Chợ vẫn còn được xây dựng với lối tư duy cũ theo kiểu lên dự án – giải tỏa – xây – bán- lấy tiền lời trên mỗi sạp Khi đầu tư vào các dự án chợ, người ta đã không
để ý đến quy luật (vốn rất khắc nghiệt) trong việc hình thành các không gian chợ, kiến trúc chợ, phố chợ Họ không xác định được kẻ bán, người mua là ai để có những loại hàng hóa, dịch vụ phù hợp, trên cơ sở đó hình thành loại chợ phù hợp Họ cũng chưa quan tâm đến phố chợ tức là các dịch vụ quanh chợ Họ không biết rằng phố chợ này thường không thuộc dự án xây chợ nhưng không có nó thì chợ không thể “đông” được, phố chợ không hình thành cùng lúc với chợ mà cứ mọc dần, hoàn thiện dần theo quy luật ở đâu có đông người thì ở đó có dịch vụ
Giữa tháng 3/2011, hội thảo “Chợ dân sinh trong thành phố của các tập đoàn”
đã khẳng định chợ dân sinh vô cùng quan trọng đối với các thành phố có điều kiện sống tốt, nhiều thành phố ở các nước phát triển đang phải tốn kém nhiều tiền để khôi phục chợ dân sinh, chúng ta sẽ không lặp lại sai lầm khi xóa bỏ những ngôi chợ đậm chất văn hóa Việc duy trì mạng lưới chợ dân sinh vừa mang giá trị rất lớn về kinh tế
và cả văn hóa xã hội
1.2.2 Tình hình công tác quản lý chợ trên cả nước
Mặc dù Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ đã khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư, xây dựng và khai thác chợ nhưng hiện nay mô hình quản lý chợ ở hầu hết trên cả nước vẫn là Ban quản lý chợ Nhìn vào thực tế ta thấy mô hình Ban quản lý chợ đã bộc lộ nhiều hạn chế:
o Hình thức hạch toán: Theo quy định đối với đơn vị sự nghiệp có thu; được hưởng lương ngân sách; các khoản thu chi được định mức, hạn mức trong năm theo quy mô chợ dẫn đến thiếu chủ động cải tạo chỉnh trang chợ, không khuyến khích lao động làm việc tốt để có thu nhập cao;
o Chịu sự quản lý của chính quyền về nhân sự, và thu nhập của người lao động;
o Đầu tư theo kế hoạch và ngân sách nhưng mức hỗ trợ chỉ đạt đến 50%, còn lại tự huy động thông qua thương nhân trả trước tiền thuê sạp và đầu tư các dịch vụ để được quyền khai thác như điện, nước, xe, kho bãi, Tuy nhiên, quy trình đầu tư bằng vốn ngân sách qua nhiều tầng nấc và tỷ lệ thất thoát có thể cao hơn so với doanh nghiệp đầu tư