Lý do chọn đề tài Trong những năm qua, đặc biệt sau khi Trung Quốc chính thức công bố yêu sách “đường lưỡi bò” lên Liên hợp quốc năm 2009, chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông đã
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
-
VŨ DUY THÀNH
CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI BIỂN ĐÔNG
TỪ SAU ĐẠI HỘI 18 ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 9310206
HÀ NỘI – 2021
Trang 2HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
-
VŨ DUY THÀNH
CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI BIỂN ĐÔNG
TỪ SAU ĐẠI HỘI 18 ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Quan hệ quốc tế
Trang 3kết quả và thông tin nêu trong luận án này là trung thực Những kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Vũ Duy Thành
Trang 4Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn GS TS Nguyễn Vũ Tùng và GS TS Phạm Quang Minh đã trực tiếp hướng dẫn và động viên tôi hoàn thành chặng đường nghiên cứu nhiều gian nan nhưng cũng rất thú vị này Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới GS TS Nguyễn Thái Yên Hương vì đã luôn đồng hành, tạo động lực và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập từ chương trình Thạc sỹ đến Tiến sỹ Tôi xin cảm ơn Khoa sau Đại học, Học viện Ngoại giao, nhất là TS
Đỗ Thị Thanh Bình và Thạc sỹ Hà Huyền Trang đã giúp đỡ nhiệt tình, tích cực
và dành nhiều khích lệ tinh thần để tôi hoàn thành Luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn các Giáo sư, thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu, chuyên gia, học giả công tác tại Học viện Ngoại giao, các trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Nghiên cứu Trung Quốc - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Quan hệ quốc tế - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã chia sẻ, cho tôi nhiều kiến thức, kinh nghiệm và góp ý rất quý báu
Về phía Bộ Ngoại giao, tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè tại các Vụ Đông Bắc Á, Vụ Châu Mỹ, Viện Nghiên cứu Chiến lược và Viện Biển Đông (Học viện Ngoại giao), nhất là TS Đỗ Thanh Hải và TS Đỗ Nam Trung Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bố mẹ hai bên nội ngoại và đặc biệt là vợ tôi Nguyễn Thị Nguyệt Minh và hai con Thành Trung, Minh Khuê đã luôn ở bên tôi những lúc vất vả, khó khăn và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi yên tâm làm việc, nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả
Vũ Duy Thành
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH
CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI BIỂN ĐÔNG TỪ SAU ĐẠI HỘI 18 16
1.1 Cơ sở lý luận 16
1.1.1 Nền tảng lý thuyết về quan hệ quốc tế của thế giới và các tư tưởng của Trung Quốc 16
1.1.1.1 Chủ nghĩa hiện thực 16
1.1.1.2 Chủ nghĩa tự do 19
1.1.1.3 Chủ nghĩa kiến tạo 20
1.1.1.4 Tư tưởng kinh điển và văn hóa chiến lược của Trung Quốc 21
1.1.2 Cách tiếp cận và khung phân tích chính sách 25
1.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Những nhân tố bên trong 28
1.2.1.1 Sự mở rộng phạm vi lợi ích cùng đà gia tăng sức mạnh tổng thể 28
1.2.1.2 Thể diện và uy thế nước lớn 31
1.2.1.3 Sự gia tăng của chủ nghĩa dân tộc 32
1.2.1.4 Các chủ thể tác động đến chính sách của Trung Quốc về vấn đề Biển Đôngsau Đại hội 18 34
1.2.2 Những nhân tố bên ngoài 41
1.2.2.1 Mỹ và các cường quốc khác ở khu vực 41
1.2.2.2 Phản ứng của các bên tranh chấp liên quan 48
1.2.2.3 Phản ứng của cộng đồng quốc tế 50
Tiểu kết 51
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI BIỂN ĐÔNG TỪ SAU ĐẠI HỘI 18 ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC 53
2.1 Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông giai đoạn trước Đại hội 18 53
Trang 62.1.2.1 Cách giới lãnh đạo Trung Quốc nhìn nhận, xác định lợi ích của
Trung Quốc ở Biển Đông 55
2.1.2.2 Mục tiêu và yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông 61
2.1.2.3 Cách thức triển khai chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông 63 2.2 Những điều chỉnh quan trọng nhất của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18 đến nay 67
2.2.1 Những điều chỉnh ở tầm chiến lược 67
2.2.2 Những điều chỉnh ở tầm chiến thuật 71
2.2.2.1 Về phương châm triển khai 71
2.2.2.2 Về chính trị - ngoại giao 73
2.2.2.3 Về hành động trên thực địa 75
2.2.2.4 Về pháp lý, thông tin tuyên truyền và tâm lý chiến 79
2.2.3 Nguyên nhân điều chỉnh chính sách 83
2.3 Kết quả triển khai chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18 86
2.3.1 Những thuận lợi đạt được 86
2.3.1.1 Trên thực địa 86
2.3.1.2 Vềthúc đẩy hợp tác với các bên tranh chấp 88
2.3.1.3 Về chính trị - ngoại giao 89
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 91
Tiểu kết 101
CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM 103
3.1 Dự báo chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông đến năm 2030 103
3.1.1 Những nội hàm chính sách dự kiến tiếp tục được kế thừa 104
3.1.2 Khả năng tiếp tục điều chỉnh chính sách 107
3.1.3 Những biến số nằm ngoài dự đoán 109
Trang 73.2.2 Mục tiêu của Việt Nam ở Biển Đông 112
3.3 Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam 116
3.3.1 Tác động không thuận 116
3.3.2 Tác động thuận 121
3.3.3 Những lựa chọn chính sách khó khăn của Việt Nam 124
3.4 Một số gợi ý chính sách 133
3.4.1 Gợi ý cách tiếp cận mới đối với vấn đề Biển Đông 134
3.4.2 Gợi ý về phương châm và cách thức triển khai chính sách 137
3.4.3 Một số biện pháp cụ thể 140
3.4.3.1 Về chính trị - ngoại giao 140
3.4.3.2 Về pháp lý 141
3.4.3.3 Hoạt động hợp tác trên thực địa 142
3.4.3.4 Về quân sự 143
3.4.3.5 Về thông tin, truyền thông đối nội và đối ngoại 143
Tiểu kết 144
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 181
Trang 8Từ viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
ADMM ASEAN Defence Ministers
ASEAN The Association of Southeast
DOC Declaration on Conduct of the
Parties in the South China Sea
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
EAS East Asia Summit Hội nghị Cấp cao Đông Á EEZ Economic Exclusive Zone Vùng đặc quyền kinh tế
EU European Union Liên minh Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FONOP Freedom of Navigation
Operation Tuần tra tự do hàng hải GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
ICJ International Court of Justice Tòa án Công lý Quốc tế
Trang 9ITLOS International Trubunal for the
Law of the Sea Tòa án Quốc tế về Luật Biển
MOU Memorandum of
Understanding Bản ghi nhớ PCA Permanent Court of Arbitration Tòa Trọng tài Thường trực PLA People‟s Liberation Army Quân Giải phóng Nhân dân PPP Purchasing Power Parity Ngang giá sức mua
RIMPAC The Rim of Pacific Exercise Tập trận Vành đai Thái Bình
Dương
SEANWFZ Southeast Asia Nuclear
-Weapon - Free Zone Treaty
Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân
SCO Shanghai Cooperation
Organization Tổ chức Hợp tác Thượng Hải
TAC Treaty of Amity and
Cooperation in Southeast Asia
Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác tại Đông Nam Á
UN United Nations Liên hợp quốc
UNCLOS United Nations Convention on
the Law of the Sea
Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển
UNSC United Nations Security
Council Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc
ZOPFAN Zone of Peace, Freedom and
Neutrality in Southeast Asia
Tuyên bố về Khu vực Hòa bình,
Tự do và Trung lập ở Đông Nam Á
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, đặc biệt sau khi Trung Quốc chính thức công bố yêu sách “đường lưỡi bò” lên Liên hợp quốc năm 2009, chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông đã trở thành một trong những chủ đề nghiên cứu “nóng” nhất của giới học giả quốc tế và Việt Nam Từ góc độ khoa học, nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông giai đoạn sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc (sau đây gọi tắt là “Đại hội 18”) là đóng góp quan trọng vào quá trình nghiên cứu quy luật hành xử của một cường quốc trỗi dậy Bởi lẽ, cách triển khai chính sách của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông tiêu biểu cho cách hành xử ngày càng quyết đoán về đối ngoại của Trung Quốc từ sau cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 - 2009 Từ góc độ thực tiễn, giai đoạn từ sau Đại hội 18 (năm 2012) đến nay (năm 2021) là khoảng thời gian có nhiều sự kiện mang tính bước ngoặt trong cục diện Biển Đông do các hành vi quyết đoán của Trung Quốc Do đó, việc nghiên cứu thấu đáo vấn đề này với cách tiếp cận khách quan, cân bằng là rất cần thiết, hữu ích đối với quá trình tham mưu, đề xuất chính sách của Việt Nam
Các văn kiện chính sách quan trọng của Đại hội 18, nhất là Báo cáo Chính trị đã lần đầu tiên chính thức khẳng định mục tiêu chiến lược đưa Trung Quốc trở thành “cường quốc biển”.Trung Quốc đã chọn Biển Đông làm đột phá khẩu
để triển khai chiến lược này Với các hành động tôn tạo đảo quy mô lớn tại Trường Sa và quân sự hóa Biển Đông, trong nhiệm kỳ Đại hội 18, Trung Quốc
đã phá vỡ nguyên trạng Biển Đông, gây nguy cơ mất cân bằng chiến lược ở khu vực Điều này khiến vấn đề Biển Đông đã thực sự trở thành một trong những tâm điểm của cạnh tranh chiến lược nước lớn, nhất là giữa Trung Quốc và Mỹ, ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, thậm chí ở khu vực rộng lớn hơn là Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương
Cuộc tranh luận học thuật thời gian qua về nguyên nhân thực sự khiến Trung Quốc hành xử quyết đoán hơn ở Biển Đông từ sau Đại hội 18 đến thời điểm hiện nay (2021) vẫn chưa ngã ngũ Cơ bản có hai luồng quan điểm chính:
Trang 11luồng thứ nhấtlập luận sức mạnh tổng thể của Trung Quốc gia tăng trong khi Mỹ suy yếu tương đối đã khiến Trung Quốc tự tin hơn và hành xử ngày càng quyết đoán ở Biển Đông; luồng quan điểmthứ hai thiên về các nguyên nhân bên trong, cho rằng chính sự bất an bên trong đã khiến Trung Quốc ứng xử hung hăng hơn
ở bên ngoài, đặc biệt ở Biển Đông
Là quốc gia có vị trí địa - chiến lược quan trọng ở một khu vực thường xuyên diễn ra cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đồng thời lại có nhiều tranh chấp biển đảo chưa được giải quyết với Trung Quốc, Việt Nam có nhu cầu cấp bách đánh giá đúng bản chất chính sách Biển Đông của Trung Quốc, từ đó mới đề ra đối sách phù hợp để bảo vệ các lợi ích chính đáng của mình
Lịch sử tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các bên liên quan cho thấy Việt Nam là đối tượng hàng đầu mà Trung Quốc muốn khuất phục Trong
số các bên có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, Việt Nam cũng là nướcduy nhất trở thành đối tượng của các lần Trung Quốc sử dụng vũ lực trên Biển Đông đến nay qua các cuộc xung đột quân sự vào các năm 1974 (Hoàng Sa) và 1988 (Trường Sa) Giai đoạn sau Đại hội 18, vụ giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014
là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất, đẩy quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam rơi vào trạng thái xấu nhất từ sau khi bình thường hóa năm 1991 Sau đó chỉ vài năm, vụ tàu Hải Dương 08 của Trung Quốc tiến hành thăm dò trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ tháng 7-10/2019cho thấy chu kỳ hành xử cứng rắn của Trung Quốc trên Biển Đông nhằm vào Việt Nam có xu hướng ngày càng tăng về tần suất và tính chất
Vấn đề Biển Đông đã, đang và sẽ tiếp tục là một trong những thách thức an ninh và phát triển hàng đầu mà Việt Nam phải xử lý Do đó, nghiên cứu về chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18 và những vấn đề đặt
ra đối với Việt Nam rất cần thiết cả từ góc độ thực tiễn và khoa học
Luận án này tìm cách giải đáp một câu hỏi đặt ra đối với Việt Nam từ chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông: Điều gì đóng vai trò quyết định khiến Trung Quốc có những điều chỉnh chính sách theo hướng ngày càng cứng rắn trong vấn đề Biển Đông từ sau Đại hội 18 đến nay?
Trang 12Để góp phần giải đáp câu hỏi nghiên cứu đó, Luận án sẽ tập trung lý giải một số câu hỏi liên quan: Sự gia tăng mức độ quyết đoán trong cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông từ sau Đại hội 18 mang tính chủ động hay là phản ứng đối với các bước đi của các bên khác? Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ Đại hội 18 đến nay có những điểm nào giống và khác với các giai đoạn trước? Vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là gì và Việt Nam có thể làm gì để bảo vệ hữu hiệu các lợi ích chính đáng của mình ở Biển Đông?
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ khi tranh chấp Biển Đông bắt đầu nóng lên đầu những năm 1970 đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị của các học giả, chuyên gia có
uy tín quốc tế về chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông
Về những nhân tố tác động lên chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18, giới học giả có một số cách luận giải khác nhau nhưng
nhìn chung tập trung vào hai hướng là các nhân tố mang tính hệ thống, cấu trúc bên ngoài và các nhân tố bên trong Trung Quốc
Đa số học giả, nhất là các nhà hiện thực chủ nghĩa, đánh giá các nguyên nhân mang tính cấu trúc liên quan thay đổi trong phân bổ quyền lực trong hệ thống quốc tế, nhất là sau khủng hoảng toàn cầu 2008 - 2009 đã khiếnTrung Quốc hành xử quyết đoán hơn ở Biển Đông Các sản phẩm nghiên cứu của các học giả phương Tây có đặc điểm là tương đối toàn diện, thực chất, có nhiều giá trị khoa học, song cũng bị ảnh hưởng tương đối mạnh bởi quan điểm của phương Tây, nhất là của Mỹ Đa số học giả phương Tây có cái nhìn tiêu cực về chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông, cho rằng Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành ao nhà để trở thành cường quốc số 1 Châu Á và hất Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương, từ đó vươn lên trở thành cường quốc thế giới Nhiều học giả phương Tây cho rằng tham vọng khoanh vùng khu vực ảnh hưởng của một cường quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ đã thúc đẩy Trung Quốc tìm cách kiểm soát Biển Đông Các học giả này ví hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông hiện nay cũng hệt như cách Mỹ đã làm đối với biển Caribe trong thế kỷ XIX khi mới bắt
Trang 13đầu trỗi dậy khẳng định vai trò cường quốc ở khu vực Châu Mỹ Tiêu biểu có thể
kể đến cuốn sách “The South China Sea: The Struggle for Power in Asia” của Bill Hayton (2014) Trong đó, Hayton cho rằng bản chất chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là một phần của cuộc tranh giành quyền lực ở Châu Á giữa cường quốc trỗi dậy là Trung Quốc với cường quốc tại vị là Mỹ Hayton nhận xét rằng Biển Đông là khu vực đầu tiên mà tham vọng của Trung Quốc đối đầu với quyết tâm chiến lược của Mỹ Tương tự, trong bài viết “When China Rules the Seas” đăng trên tạp chí Foreign Policy (2015), James Holmes cho rằng Trung Quốc muốn khoanh vùng ảnh hưởng ở Biển Đông và không muốn Mỹ và các cường quốc khác tự do tiến hành các hoạt động trinh sát, do thám, tự do hàng hải tại vùng biển sát sườn của mình
Cùng có quan điểm về nguyên nhân mang tính cấu trúc ở cấp độ hệ thống quốc tế, song đại đa số các học giả Trung Quốc và các học giả phương Tây thân Trung Quốc cho rằng việc Mỹ can dự sâu hơn vào khu vực qua chính sách “tái cân bằng” ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương dưới thời Barack Obama và chiến lược
“Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” dưới thời Donald Trump là nguyên nhân chính khiến vấn đề Biển Đông ngày càng nóng lên, buộc Trung Quốc phải phản ứng lại Chẳng hạn, Sam Bateman, Mark Valencia, Greg Austin… đã lý giải chính sách Biển Đông của Trung Quốc theo hướng thiên về ủng hộ quan điểm của Trung Quốc Các học giả này có xu hướng cho rằng sự quyết đoán trong hành
xử của Trung Quốc ở Biển Đông là phản ứng tự nhiên và dễ hiểu trước việc Mỹ triển khai các chính sách để kiềm chế chiến lược Trung Quốc Tiêu biểu là bài viết
“Why Beijing‟s South China Sea moves makes sense now” của Greg Austin đăng trên tạp chí The National Interest (2015), bài viết “No need to rock the boat in the South China Sea” của Sam Bateman đăng trên tạp chí East Asia Forum (2018), bài viết “The US dream of South China Sea hegemony will only lead to conflict with Beijing” đăng trên báo South China Morning Post (2020)…
Tác giả Thiệu Kiến Bình trong bài viết “Xu hướng tranh chấp Biển Đông
và lựa chọn chính sách của Trung Quốc” đăng trên tạp chí “Nghiên cứu kinh tế
Trang 14Ấn Độ Dương” của Trung Quốc (6/2018) thừa nhận rằng tình hình Biển Đông xấu đi trong những năm gần đây là biểu hiện của sự thay đổi tương quan sức mạnh giữa Trung Quốc và Mỹ
Nhiều học giả Trung Quốc có xu hướng quy sự gia tăng tính quyết đoán trong hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông cho việc Mỹ tăng cường can dự vào khu vực nói chung và Biển Đông nói riêng Trong bài viết “Đối đầu lạnh - trạng thái bình thường mới trong cuộc đọ sức Trung - Mỹ tại Biển Đông” đăng trên tạp chí “Tri thức Thế giới” của Trung Quốc (9/2019), tác giả Trần Tương Miếu cho rằng Mỹ muốn duy trì thế áp đảo tại Biển Đông để giữ vai trò “người bảo vệ trật
tự khu vực” Trong bài viết “Đọ sức Trung - Mỹ ở Biển Đông” đăng trên tạp chí
“Nghiên cứu an ninh và biển Châu Á-Thái Bình Dương” của Trung Quốc (4/2019), các tác giả Ngô Sỹ Tồn và Trần Tương Miếu nhận xét rằng Nam Hải (Biển Đông) đã trở thành điểm khởi đầu quan trọng để Mỹ điều chỉnh bố cục chiến lược, cụ thể là triển khai chính sách “xoay trục về Châu Á” hay “tái cân bằng” của chính quyền Obama Trong bài viết “Tình hình Biển Đông năm 2020” đăng trên tạp chí “Tri thức thế giới” của Trung Quốc (1/2020), Ngô Sỹ Tồn cũng cho rằng Mỹ lợi dụng vấn đề Biển Đông để kiềm chế Trung Quốc
Bên cạnh yếu tố mang tính cấu trúc, cũng có nhiều học giả cho rằng các nguyên nhân bên trong của Trung Quốc cũng là yếu tố quan trọng lý giải vì sao Trung Quốc quyết đoán hơn trong vấn đề Biển Đông từ sau Đại hội 18 Trường phái này cho rằng Trung Quốc tỏ cứng rắn hơn trong cách hành xử ở Biển Đông chủ yếu là bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc, và chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông cũng nhằm góp phần cố kết nội bộ Trung Quốc Trong bài viết “Về sự thay đổi chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông” đăng trên tạp chí
“Nghiên cứu an ninh biển và Châu Á-Thái Bình Dương” của Trung Quốc (2/2019), tác giả Ngô Kiến Thụ chỉ ra 3 yếu tố thúc đẩy sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc về Biển Đông: Một là, sức ép đến từ hệ thống quốc tế đơn cực; hai là, phản ứng của người dân trong nước và dư luận truyền thông; ba là, quyết tâm “dám nghĩ dám làm” của thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc đứng đầu là
Trang 15Tập Cận Bình Nguyễn Hùng Sơn và Đặng Cẩm Tú trong bài viết “Bàn về chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc sau Đại hội 18 đăng trên Tạp chí Nghiên cứu quốc tế (2014) cũng cho rằng quyết tâm, tham vọng và tầm nhìn chiến lược của nhiều thế hệ lãnh đạo Trung Quốc, nhất là thế hệ lãnh đạo thứ năm như Tập Cận Bình, đã thúc đẩy Trung Quốc theo đuổi chủ trương, chính sách quyết đoán hơn trên biển nói chung và ở Biển Đông nói riêng
Về nội hàm chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông sau Đại hội
18, bên cạnh khía cạnh tranh giành quyền lực nước lớn, cũng nhiều công trình
nghiên cứu phân tích cách ứng xử của Trung Quốc với các nước tranh chấp ở Biển Đông Cuốn sách “Great Powers, Grand Strategies: The New Game in the South China Sea” (2018) do Anders Corr chủ biên đánh giá mục tiêu chiến lược chứ không phải là tính toán kinh tế mới là nền tảng quan trọng nhất trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông Chẳng hạn, trong phần viết của Bill Hayton tại cuốn sách này, Hayton cho rằng dù Trung Quốc có đạt tất cả các yêu sách và khai thác toàn bộ số dầu ở Biển Đông, lợi ích kinh tế thu được chỉ bù đắp lại được 1/10 chi phí mà Trung Quốc đã bỏ ra cho chiến dịch tôn tạo đảo và quân sự hóa Biển Đông Về chính sách của Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á, trong cuốn sách “Dividing ASEAN and Conquering the South China Sea” (2018), Daniel C O‟Neill cho rằng chiến thuật “chia để trị” là lối hành xử rất phổ biến của Trung Quốc.Cũng không ít học giả Trung Quốc và quốc tế cho rằng việc các nước tranh chấp trong ASEAN “khiêu khích” và xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông đã khiến Trung Quốc gia tăng mức độ cứng rắn Chẳng hạn, bài viết của học giả Nong Hong có tựa đề “A Dangerous Game
in the South China Sea” đăng trên tạp chí The Strait Times (2014) chĩa mũi nhọn vào Việt Nam, đổ lỗi cho Việt Nam gây căng thẳng trong vụ HD-981 Bài viết của hai tác giả Phó Oánh và Ngô Sỹ Tồn “South China Sea: How We Got to this
Stage” đăng trên tạp chí The National Interest (2016) diễn giải nguồn gốc các căng
thẳng ở Biển Đông theo hướng quy trách nhiệm cho các nước tranh chấp, nhất là Việt Nam và Philippines cũng như cường quốc bên ngoài khu vực là Mỹ Tác giả
Trang 16Diêm Nham trong bài viết “Biển Đông sau 3 năm phán quyết của Tòa Trọng tài” đăng trên trang mạng của “Viện Nghiên cứu Nam Hải” Trung Quốc (22/7/2019) cho rằng các nước như Việt Nam, Philippines đã lấy phán quyết làm cơ sở để gia tăng các hành động đơn phương thách thức chủ quyền của Trung Quốc
Về chủ trương xử lý các tranh chấp lãnh thổ, biển đảo ở Biển Đông từ sau Đại hội 18, tiêu biểu nhất là các sản phẩm nghiên cứu của Ngô Sỹ Tồn, Giám đốc Viện Nghiên cứu Nam Hải, cổ xúy mạnh cho quan điểm “chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác tranh chấp cùng khai thác” mà Trung Quốc luôn thúc đẩy, chẳng hạn qua cuốn sách “Solving Disputes for Regional Cooperation and Development in the South China Sea” (2013), bài viết “Maritime Dispute and the Reformation of Maritime Administrative Control: Some Thoughts to Cope with the South China Sea Issue” (2012) Carlyle Thayer trong bài viết “Vietnam, China and the Oil Rig Crisis: Who Blinked?” đăng trên tạp chí The Diplomat (2014) cho rằng không phải lúc nào chính sách cứng rắn kiểu chính trị cường quyền của Trung Quốc cũng phát huy tác dụng, nhất là đối với các nước tranh chấp luôn có thái độ kiên quyết như Việt Nam Cuốn sách “The South China Sea: A Crucible for Regional Cooperation or Conflict-Making Sovereignty Claims” (2016) của C J Jenner và Trần Trường Thủy phân tích rằng Trung Quốc ngày càng lộ rõ quyết tâm khẳng định “lợi ích cốt lõi” ở Biển Đông và sử dụng quan hệ kinh tế chặt chẽ với các nước Đông Nam Á để hạn chế việc triển khai chiến lược của Mỹ ở khu vực
Bên cạnh phần lớn học giả Trung Quốc có quan điểm “diều hâu” như trên, cũng
có một số trường hợp hãn hữu học giả Trung Quốc có quan điểm cân bằng, khách quan, ôn hòa về vấn đề Biển Đông như Lý Lệnh Hoa, Ngô Kiến Dân, Trương Quang Nhuệ, Tiết Lý Thái Chẳng hạn, có thể kể đến bài viết “Vì sao Trung Quốc nên từ bỏ đường 9 đoạn” của Trương Quang Nhuệ đăng trên trang mạng Sina hay một số bài trả lời phỏng vấn của Lý Lệnh Hoa chỉ trích yêu sách “đường 9 đoạn”
Về vấn đề đặt ra đối với Việt Nam từ chính sách Biển Đông của Trung Quốc sau Đại hội 18, nghiên cứu của các học giả quốc tế và Việt Nam cũng có
Trang 17nhiều công trình có giá trị.Hầu hết các học giả quốc tế và Việt Nam đều chia sẻ nhận định rằng chính sách quyết đoán hơn của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18 sẽ khiến các nhân tố bất ổn, thậm chí nguy cơ xung đột ngày càng gia tăng Robert Kaplan, tác giả cuốn sách “Asia‟s Cauldron: the South China Sea and the End of a Stable Asia - Pacific” của (2015) đã so sánh Biển Đông như một “chảo lửa” ở Châu Á - Thái Bình Dương Kaplan dự báo chính sách của Trung Quốc sẽ khiến tình hình Biển Đông ngày càng căng thẳng hơn và chạy đua vũ trang sẽ gia tăng không chỉ giữa Trung Quốc và Mỹ mà cả các quốc gia khác ở khu vực, mặc dù có thể không nhất thiết sẽ xảy ra chiến tranh, xung đột Tuy nhiên, cũng có nhiều học giả cho rằng chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông sau Đại hội 18 sẽ không dẫn đến cuộc đối đầu theo kiểu “bẫy Thuycidides” giữa hai cường quốc Tuy nhiên, bên cạnh các quan điểm tương đối “diều hâu” nói trên, cũng có những học giả Trung Quốc cũng cho rằng mâu thuẫn lợi ích Trung - Mỹ ở Biển Đông không phải là mâu thuẫn mang tính đối kháng kiểu một mất một còn Trong bài viết “Va chạm quân sự giữa Trung Quốc
và Mỹ trên Biển Đông” đăng trên trang mạng của “Viện Nghiên cứu Nam Hải” của Trung Quốc (9/11/2018), Lưu Hiểu Bái khẳng định tranh chấp tự do hàng hải giữa Trung Quốc và Mỹ ở Biển Đông hiện nay không liên quan đến lợi ích cốt lõi, và Trung Quốc và Mỹ không nên leo thang nó thành đối đầu quân sự toàn diện Tác giả Chu Phương trong bài viết “Chính sách Biển Đông của Donald Trump và thách thức an ninh biển giữa Mỹ và Trung Quốc” đăng trên tạp chí “Bình luận nước Mỹ đương đại” của Trung Quốc (2018) cho rằng Trung Quốc không muốn thách thức sự hiện diện và ảnh hưởng manh tính lịch sử của
Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, thậm chí còn cho rằng trên thực tế Trung Quốc và
Mỹ có lợi ích an ninh chung ở Biển Đông
So với nghiên cứu của các học giả quốc tế, các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam chủ yếu tập trung vào tác động đối với Việt Nam cũng như những hàm ý chính sách.Gần đây, số lượng công trình nghiên cứu có giá trị của các học giả, chuyên gia Việt Nam về Biển Đông như Trần Công Trục, Trần
Trang 18Trường Thủy, Nguyễn Thị Lan Anh, Đỗ Thanh Hải, Hà Anh Tuấn, Hoàng Việt, Trương Minh Huy Vũ, Dương Danh Huy, Vũ Hồng Lâm (Alexander Vuving), Hoàng Anh Tuấn, Lê Hồng Hiệp, …có xu hướng tăng, xuất hiện nhiều trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước Tiêu biểu có thể kế đến cuốn sách
“Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” của Trần Công Trục (2014), cuốn “Tìm kiếm giải pháp hòa bình và công lý ở Biển Đông” của Đặng Đình Quý (2016), cuốn
“Vietnam and the South China Sea: Politics, Security and Legality” của Đỗ Thanh Hải (2017); bài viết “Tứ Sa - Chiến thuật pháp lý mới của Trung Quốc ở Biển Đông” của Nguyễn Thị Lan Anh đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế (2018), bài viết “Đường 9 đoạn và yêu sách Tứ Sa của Trung Quốc” của Nguyễn Hồng Thao đăng trên báo Vietnam.net (2020),bài viết “China‟s Big Strategic Mistake in the South China Sea” của Hà Anh Tuấn đăng trên tạp chí National Interest (2014), bài viết “Trung Quốc: Chiến lược để trở thành cường quốc biển” của nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Hoành đăng trên trang mạng nghiencuuquocte.org (2015)… Các công trình nghiên cứu này nhìn chung đề cập rất nhiều đến yếu tố pháp lý, khẳng định vai trò quan trọng của luật pháp quốc tế đối với Việt Nam trong các lựa chọn chính sách ở Biển Đông
Qua phân tích các tài liệu nói trên, có thể thấy đại đa số các học giả Trung Quốc (trong nước) có xu hướng bị ảnh hưởng mạnh bởi quan điểm chính thống của Nhà nước, khiến nội dung các sản phẩm nghiên cứu mang nặng tính tuyên truyền, phiến diện và thiếu khách quan, không khoa học Chỉ có số ít học giả gốc Hoa có uy tín nhưng sống và làm việc ở nước ngoài như Lý Minh Giang (Li Mingjiang), Lý Thành (Cheng Li), Bùi Mẫn Hân (Min Xinpei) mới có những nghiên cứu tương đối thực chất, khách quan về chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông, chẳng hạn bài viết “Chinese Debates of South China Sea Policy: Implications for Future Developments” của Li Mingjiang đăng trên tạp chí RSIS (2012) hay bài viết “Will China‟s Economic Collapse Save the South China Sea” của Minxin Pei đăng trên tạp chí The National Interest (2015)… Những công trình nghiên cứu này nhìn chung khách quan hơn nghiên cứu của các học giả Trung Quốc trong nước do không phải chịu sự kiểm duyệt khắt khe của chính quyền
Trang 19Nghiên cứu của các học giả Việt Nam có ưu điểm là phân tích rất cặn kẽ những tác động bất lợi từ chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông đối với Việt Nam.Tuy nhiên, do phần nào bị chi phối bởi quan điểm, lợi ích của Việt Nam, thậm chí bởi tình cảm dân tộc chủ nghĩa, trong đó phần nào có định kiến và tâm lý
“bài Hoa” của một bộ phận không nhỏ người Việt Nam, nên tính khách quan, cân bằng trong các nhận định, đánh giá, kết luận của các công trình nghiên cứu nói trên
về chính sách Biển Đông của Trung Quốc vẫn là điều cần tranh luận
Qua việc điểm lại một số công trình nghiên cứu tiêu biểu nói trên, có thể thấy nghiên cứu của quốc tế rất phong phú, đa dạng, song cũng có những giới hạn nhất định do nhiều yếu tố Thứ nhất, đặc tính tập trung, thiếu minh bạch trong hệ thống chính trị và quy trình hoạch định chính sách của Trung Quốc khiến việc tiếp cận thông tin gốc, thông tin thực chất từ bên trong hệ thống chính trị và bộ máy hoạch định chính sách của Trung Quốc khó khăn hơn nhiều so với các nước phương Tây Thứ hai, nghiên cứu quốc tế, nhất là của các học giả phương Tây, bị ảnh hưởng nhất định bởi lăng kính chưa thực sự khách quan trong đánh giá về sự trỗi dậy và vai trò mới của Trung Quốc trong cục diện thế giới mới Nhiều học giả các nước Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ… chủ yếu nhìn nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc và chính sách của quốc gia này đối với Biển Đông như mối đe dọa an ninh đến từ tham vọng mở rộng ảnh hưởng, bành trướng lãnh thổ và yêu sách biển
Như vậy, chỉ có nghiên cứu với quan điểm khoa học, chúng ta mới đánh giá đúng bản chất, xác định rõ được các giới hạn hành động của Trung Quốc ở Biển Đông Do đó, vẫn còn dư địa cho việc nghiên cứu về chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18 theo hướng thực sự khách quan, lý tính và công bằng, tránh rơi vào việc phân tích dựa trên cảm xúc dân tộc chủ nghĩa
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của Luận án là phân tích, làm rõ những thay đổi, điều chỉnh trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc từ sau Đại hội 18 và những hệ lụy nhiều mặt của nó đối với Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam để ứng phó hiệu quả với những vấn đề đặt ra Với mục đích đó, Luận án tập trung vào một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Trang 20Thứ nhất, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn giải thích cho chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18
Thứ hai, tìm ra những đặc điểm nổi bật nhất, đặc biệt là những điểm mới, những điều chỉnh trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc từ sau Đại hội 18
so với các giai đoạn trước đó
Thứ ba, phân tích những tác động của việc Trung Quốc triển khai chính sách Biển Đông đối với các lợi ích an ninh, phát triển và ảnh hưởng của Việt Nam, từ đó gợi ý, đề xuất một số đối sách
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là chính sách của Trung Quốc đối với Biển
Đông từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc đến nay (năm 2020)
Phạm vi nghiên cứu: về phạm vi thời gian, Luận án tập trung vào giai đoạn
từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc (2012) đến nay (năm 2021) nhưng
có tính đến yếu tố kế thừa, bởi chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông sau Đại hội 18 có sự tiếp nối nhiều nội hàm quan trọng của các giai đoạn trước
đó Lý do Luận án chọn Đại hội 18 làm mốc thời gian nghiên cứu là bởi theo đánh giá chung của giới học giả trong nước và quốc tế, Đại hội 18 đánh dấu những điều chỉnh chính sách quan trọng của Trung Quốc về đối ngoại nói chung
và về Biển Đông nói riêng theo hướng quyết đoán hơn hẳn giai đoạn trước Đây
là giai đoạn Trung Quốc đã phá vỡ nguyên trạng Biển Đông, đặc biệt qua việc tôn tạo quy mô lớn các cấu trúc chiếm đóng trái phép ở quần đảo Trường Sa và triển khai quân sự hóa Biển Đông
Về nội dung, Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông, nhưng chủ yếu tập trung vào khía cạnh tranh chấp chủ quyền biển đảo và tranh giành quyền kiểm soát biển trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18 Luận án sẽ không đi vào các khía cạnh khác trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc, chẳng hạn môi trường biển, nghề cá, nghiên cứu khoa học biển, du lịch biển…
Trang 215 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong Luận án bao gồm: Phương pháp phân tích chính sách đối ngoại, phân tích văn bản, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp dự báo và phương pháp lấy ý kiến chuyên gia Ngoài ra, trong quá trình triển khai, một số phương pháp khác như phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích - tổng hợp, hệ thống, tra cứu cũng sẽ được áp dụng tùy từng vấn đề cụ thể Đồng thời, Luận án cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình để đi sâu phân tích một số
vụ việc nổi bật trong triển khai chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18, cụ thể là các vụ giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014 và phản ứng của Trung Quốc đối với vụ kiện của Philippines
Về mặt lý thuyết, để lý giải cách triển khai chính sách Biển Đông của Trung Quốc, đến nay các học giả thường sử dụng hai trường phái chủ yếu của chủ nghĩa hiện thực là chủ nghĩa hiện thực tấn công (offensive realism), chủ nghĩa hiện thực phòng thủ (defensive realism) và chủ nghĩa tự do mới (neo-liberalism) Bên cạnh các lý thuyết nói trên, luận án này sẽ tham khảo các tư tưởng kinh điển của Trung Quốc (như Khổng giáo, Binh pháp Tôn Tử…) Về cách tiếp cận, luận án sẽ sử dụng một cách chọn lọc 5 mô hình chủ yếu là mô hình chủ thể có lý trí, mô hình tiến trình tổ chức, mô hình chính trị quan liêu, mô hình chính trị liên ngành và mô hình tiến trình chính trị
Về cấp độ phân tích, Luận án sẽ áp dụng cách tiếp cận 3 cấp độ phân tích là cấp độ hệ thống quốc tế, cấp độ quốc gia và cấp độ cá nhân Ở cấp độ quốc tế, sự thay đổi so sánh lực lượng nhanh chóng giữa các cường quốc, nhất là giữa Trung Quốc và Mỹ từ sau khủng hoảng toàn cầu 2008 - 2009 đã khiến cạnh tranh chiến lược Trung - Mỹ ngày càng quyết liệt, thể hiện rõ bản chất quan hệ mang tính đối kháng giữa một cường quốc trỗi dậy và một cường quốc tại vị Điều này khiến cọ xát giữa hai bên trong các vấn đề an ninh khu vực ngày càng gay gắt, thể hiện rất rõ trong vấn đề Biển Đông Ở cấp độ quốc gia, việc Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra khẩu hiệu “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” với
Trang 22“Hai mục tiêu trăm năm” và sự gia tăng chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc lý giải
vì sao Trung Quốc có những điều chỉnh chính sách theo hướng chủ động, quyết đoán hơn đối với Biển Đông Ở cấp độ cá nhân, chính sách đối ngoại Trung Quốc nói chung và chính sách Biển Đông nói riêng từ sau Đại hội 18 chịu sự chi phối mạnh bởi tư duy, tính cách, thiên hướng ra quyết định chính trị… của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình với tư cách “Lãnh đạo hạt nhân” Mức độ tập trung quyền lực rất cao vào cá nhân Chủ tịch Tập Cận Bình và quan hệ rất gần gũi giữa ông và giới quân sự cũng góp phần lý giải vì sao tính quyết đoán trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18 đến nay lại tăng mạnh so với các giai đoạn trước
Nhóm thứ hai là các cuộc trao đổi, phỏng vấn, tọa đàm khoa học mà nghiên cứu sinhđã thực hiện hoặc tham dự có nội dung liên quan về vấn đề Biển Đông Chẳng hạn, nghiên cứu sinh đã có điều kiện phỏng vấn, trao đổi với một số chuyên gia trong và ngoài nước về Trung Quốc như cố Giáo sư Đỗ Tiến Sâm (nguyên Viện
Trang 23trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc), GS Diêm Học Thông (Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc), cựu Thẩm phán Tòa án Tối cao Philippines Antonio Carpio, các học giả, chuyên gia về Trung Quốc và Biển Đông như TS Bonnie Glaser và Gregory Poling thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS), TS Tôn Vân (Yun Sun) thuộc Trung tâm Stimson (Stimson Center), GS Paul Wolfowitz (cựu Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ trong chính quyền Bush con), Tiến sĩ Andrew Chubb (Chương trình nghiên cứu Trung Quốc của Đại học Columbia)…
Nhóm thứ ba là các tài liệu thứ cấp gồm sách, bài viết tạp chí, bài báo về chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông của các chuyên gia, học giả có uy tín về Trung Quốc Đây là nguồn tư liệu rất phong phú, đa chiều, có nhiều giá trị khoa học Nhóm thứ tư là các nguồn thông tin trên mạng Internet, trong đó nghiên cứu sinh chủ yếu tham khảo các trang thông tin chính thức và có độ tin cậy cao của các tổ chức, viện nghiên cứu có uy tín
7 Đóng góp của Luận án
Luận án là công trình nghiên cứu một cách khoa học về chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc đến thời điểm hiện nay là năm 2021
Về mặt khoa học, Luận án sẽ đóng góp vào quá trình nghiên cứu chính sách đối ngoại của Trung Quốc nói chung và chính sách biển nói riêng Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ nhiều khía cạnh khác nhau, song nghiên cứu sinh hy vọng rằng luận án này, sau khi hoàn thành, sẽ là một đóng góp nhỏ vào quá trình nghiên cứu, tìm hiểu bản chất chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông
Về mặt thực tiễn, Luận án có thể là một tài liệu tham khảo hữu ích, có giá trị nhất định đối với các cán bộ nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách hoặc những cán bộ ngoại giao của Việt Nam tham gia vào quá trình xử lý quan hệ với Trung Quốc nói chung và những tranh chấp biển, đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc ở Biển Đông nói riêng
Trang 248 Bố cục của Luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục của Luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18: gồm 2 phần là cơ sở lý luận và cơ sở thực
tiễn Trong đó phần cơ sở lý luận gồm các mục: (i) Nền tảng lý thuyết về quan
hệ quốc tế của thế giới và các tư tưởng kinh điển của Trung Quốc; (ii) Cách tiếp cận và khung phân tích chính sách Phần cơ cở thực tiễn gồm các mục: (i) Nhóm nhân tố bên trong; (ii)Nhóm nhân tố bên ngoài; Tiểu kết
Chương 2: Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc: gồm các mục: (i) Những nội hàm căn bản
trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông giai đoạn trước Đại hội 18; (ii) Những điều chỉnh quan trọng nhất của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18; (iii) Kết quả triển khai chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội 18; Tiểu kết
Chương 3: Những vấn đề đặt ra cho Việt Nam: gồm (i) Dự báo chính sách
của Trung Quốc đối với Biển Đông thời gian tới; (ii) Tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam; (iii) Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam; (iv) Một số gợi ý, đề xuất đối với Việt Nam; Tiểu kết
Xin chân thành cảm ơn./
Trang 25CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH CỦA
TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI BIỂN ĐÔNG TỪ SAU ĐẠI HỘI 18
đó, với đặc thù lịch sử của Trung Quốc, một số tư tưởng kinh điển của Trung Quốc cũng có thể được sử dụng như một công cụ bổ sung cho khung phân tích chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông
1.1.1.1 Chủ nghĩa hiện thực
Trong các lý thuyết quan hệ quốc tế, chủ nghĩa hiện thực, nhất là thuyết hiện thực tấn công (offensive realism) được sử dụng nhiều nhất để lý giải cho hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông những năm vừa qua Các lý thuyết này cho rằng do tình trạng vô chính phủ của hệ thống quốc tế, một cường quốc trỗi dậy
sẽ tìm cách bành trướng lãnh thổ và mở rộng ảnh hưởng, và chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông cũng không nằm ngoài quy luật đó Đúng như Robert Gilpin đã phân tích, “khi quyền lực tương đối tăng lên, một quốc gia đang trỗi dậy sẽ cố gắng thay đổi các luật lệ của hệ thống hiện hành”[89; tr 201] Thật vậy, lịch sử cho thấy các cường quốc trỗi dậy như Anh, Mỹ, Liên Xô trước đây hay Trung Quốc ngày nay đều hành xử theo đúng quy luật đó
Nhìn từ góc độ chủ nghĩa hiện thực, khía cạnh xung đột, tranh giành quyền lực và trò chơi “kẻ được người mất” (zero-sum game) là những thành tố quan
Trang 26trọng nhất để phân tích chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông Cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông liên quan mật thiết với cuộc tranh giành ngôi bá chủ khu vực và bá chủ thế giới giữa Trung Quốc và Mỹ trong thế kỷ XXI Graham Allison, một học giả hiện thực chủ nghĩa cho rằng Trung Quốc và
Mỹ sẽ không tránh khỏi xung đột, bởi thực tiễn khoảng 12 trong 16 lần chuyển giao quyền lực giữa cường quốc trỗi dậy và cường quốc tại vị trên thế giới trong
500 năm qua đã kết thúc bằng chiến tranh, xung đột, chỉ có 4 lần chuyển giao quyền lực hòa bình[43] John Mearsheimer, học giả nổi tiếng thuộc trường phái hiện thực tấn công, đã khẳng định: “một Trung Quốc giàu mạnh sẽ không hài lòng với nguyên trạng mà sẽ tìm cách giành cho được bá quyền khu vực”[172; tr.1-6] Trong trao đổi với Nhóm Khủng hoảng quốc tế (ICG), một số quan chức chính quyền và học giả giấu tên trong nội bộ Trung Quốc cũng thừa nhận rằng Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn ở Biển Đông là bởi “giờ đây chúng tôi có tiền, có công nghệ và có khả năng làm như vậy”[124] Mức độ quyết đoán trong cách hành xử của quốc gia này ở Biển Đông khiến nhiều cựu quan chức và học giả Mỹ như Robert Blackwill và Ashley Tellis cho rằng Trung Quốc đang cố gắng soán vai trò cường quốc chi phối Châu Á.[51]
Từ cách nhìn của chủ nghĩa hiện thực, nhiều học giả chia sẻ nhận định rằng Biển Đông là một trong những tâm điểm trong cuộc tranh giành quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ ở Châu Á-Thái Bình Dương Phân tích về lợi ích và chính sách của các cường quốc như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Nga và Ấn Độ ở Biển Đông, nhiều học giả cho rằng chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là một phần của cuộc tranh giành quyền lực giữa các cường quốc[56; tr.139-156] Tương tự, Bill Hayton cho rằng việc Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành ao nhà về bản chất cũng không khác gì ý đồ của Mỹ khi áp dụng “Học thuyết Monroe” đối với biển Ca-ri-bê trong thế kỷ XIX.[104]
Nhiều học giả Việt Nam cũng có cách lý giải tương tự Đỗ Thanh Hải và Nguyễn Thùy Linh lập luận rằng tính quyết đoán trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông tăng lên theo đà gia tăng sức mạnh của cường quốc này
Trang 27[20; tr.32] Theo các tác giả trên, sự quyết đoán của Trung Quốc trong chính sách đối với Biển Đông đã gia tăng đáng kể từ năm 2007 và ngày càng thể hiện
rõ hơn từ sau Đại hội 18 (2012) và Trung Quốc dần từ bỏ phương châm “giấu mình chờ thời” để chuyển sang giai đoạn tự tin, quyết đoán hơn về đối ngoại Trong đó, bên cạnh yếu tố tranh chấp chủ quyền, tài nguyên thì cạnh tranh chiến lược nước lớn giữa Trung Quốc với các cường quốc khác, nhất là Mỹ là một trong những động cơ quan trọng nhất để lý giải cho cách hành xử ngày càng quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông
Cũng gần tương tự như chủ nghĩa hiện thực tấn công, từ góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực phòng thủ, nhiều học giả lý giải sự gia tăng tính quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông là nhằm đối phó với các đe dọa an ninh, nhất là từ phía
Mỹ Các học giả thuộc trường phái này thường lập luận rằng hành động hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông chủ yếu là nhằm phản ứng lại các bước đi của các bên khác Chẳng hạn, Lyle Goldstein cho rằng việc Mỹ tăng cường can
dự vào vấn đề Biển Đông kéo theo phản ứng quyết liệt hơn của Trung Quốc, và hậu quả là môi trường chiến lược ở khu vực sẽ bất ổn hơn.[92; tr.343]
Tương tự, Leszek Buszynski chỉ ra các nguyên nhân chính khiến Trung Quốc muốn kiểm soát Biển Đông: Một là góp phần ngăn chặn Đài Loan tuyên bố độc lập và ngăn chặn Mỹ triển khai lực lượng hải quân hỗ trợ Đài Loan trong trường hợp có xung đột; Hai là bảo vệ và kiểm soát các tuyến hải lộ huyết mạch
mà có đến 80% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải đi qua; Ba là triển khai khả năng tấn công hạt nhân lần hai trên biển tại Tây Thái Bình Dương.[56; tr.145] Nhìn chung, chủ nghĩa hiện thực là lý thuyết có nhiều yếu tố logic nhất để
lý giải hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông Tuy nhiên, trường phái này không
lý giải được một cách thỏa đáng nguyên nhân vì sao những lần Trung Quốc sử dụng vũ lực ở Biển Đông như các năm 1974, 1988 hay 1995 đều diễn ra khi sức mạnh tổng thể của Trung Quốc cũng như hải quân Trung Quốc đều yếu hơn giai đoạn hiện nay rất nhiều Liệu Trung Quốc càng mạnh lên thì xu hướng sử dụng
vũ lực để thúc đẩy các yêu sách ở Biển Đông ngày càng tăng? Rõ ràng sự phụ
Trang 28thuộc lẫn nhau và những lợi ích chung của hợp tác giữa Trung Quốc và các nước khác ở Biển Đông vẫn là các nhân tố quan trọng trong việc kiềm chế hành vi của Trung Quốc Vì vậy, vẫn cần các lý thuyết khác ngoài chủ nghĩa hiện thực để phân tích lối hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông, nhất là từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc
1.1.1.2 Chủ nghĩa tự do
Từ góc nhìn của chủ nghĩa tự do, các thành tố như mối quan hệ giữa chính trị trong nước với chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của các quốc gia, lợi ích chung từ hợp tác và vai trò của các thể chế quốc tế có giá trị quan trọng trong việc phân tích chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông
Trong khi các học giả theo trường phái hiện thực chủ nghĩa nhấn mạnh sự gia tăng tính quyết đoán trong cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông thì các nhà tự do chủ nghĩa có xu hướng cho rằng Trung Quốc vẫn tương đối kiềm chế Chẳng hạn, Taylor M Fravel lập luận rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế với các nước khu vực sẽ khiến Trung Quốc thấy lợi ích đạt được từ bành trướng lãnh thổ, trong đó có Biển Đông, là không bù đắp được các tổn hại đi kèm[85; tr.505-532] Fravel cho rằng Trung Quốc sẽ chỉ tăng cường năng lực biển của mình, nhất là khả năng chống tiếp cận, chứ không đánh chiếm các đảo hiện do các nước khác kiểm soát Jason Blazevic lập luận rằng cả Trung Quốc và Việt Nam sẽ cùng có lợi khi thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông, và minh chứng cụ thể cho quan điểm này là trước đây hai nước đã thành công trong việc ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ[53] Học giả Trung Quốc Zhou Fangyin một mặt thừa nhận rằng cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông đã cứng rắn và quyết đoán hơn từ năm 2012, mặt khác cho rằng cùng với thời gian sẽ dần ôn hòa và mang tính kiềm chế hơn[261; tr.869-890] Fangyin dự đoán trong tương lai những cuộc đối đầu giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines ở Biển Đông có thể sẽ ít
đi, và các bên sẽ áp dụng cách tiếp cận ôn hòa hơn để xử lý các tranh chấp ở Biển Đông Trong một lĩnh vực cụ thể là hợp tác nghề cá, học giả Hongzhou Zhang cho rằng sau phán quyết Biển Đông của Tòa Trọng tài Thường trực, Trung Quốc đã
Trang 29thúc đẩy hơn khía cạnh hợp tác qua các cuộc đàm phán với Philippines, Indonesia, Malaysia và Việt Nam về việc chia sẻ nguồn tài nguyên cá và dầu khí tại các vùng biển tranh chấp.[257; tr.67-76]
Tuy nhiên, nhìn tổng thể, những diễn biến thực tế ở Biển Đông từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc đến thời điểm hiện nay (năm 2020) cho thấy cách tiếp cận theo chủ nghĩa tự do trong phân tích chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông đang gặp nhiều thách thức Điều đáng chú ý là thời gian vừa qua, ngay cả một số nhà tự do chủ nghĩa như Adam Liff và John Ikenberry cũng gần như đi đến chấp nhận quan điểm rằng xung đột chắc chắn sẽ xảy ra giữa Trung Quốc và Mỹ với tư cách là cường quốc đang lên và cường quốc tại vị, và một trong những nơi đầu tiên nổ ra xung đột có thể là Biển Đông.[152; tr.52-91]
1.1.1.3 Chủ nghĩa kiến tạo
Từ góc nhìn của chủ nghĩa kiến tạo, yếu tố “bản sắc quốc gia” là cơ sở hợp
lý nhất để góp phần lý giải hành vi của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông Trong suốt chiều dài lịch sử, Trung Quốc luôn có xu hướng nhìn nhận mình không chỉ là “trung tâm” của thế giới mà còn là “bá chủ” của khu vực Châu Á, trong đó Đông Nam Á và Biển Đông đương nhiên được xem là “sân sau” Trung Quốc muốn kiểm soát Biển Đông không chỉ bởi các lợi ích to lớn về an ninh, chiến lược và kinh tế mà còn bởi tâm thức không chấp nhận được việc một khu vực “sân sau” như Biển Đông lại tuột khỏi quỹ đạo ảnh hưởng của mình
Cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông những năm qua cũng là một phần của những nỗ lực định hình hay tái định hình bản sắc quốc gia của Trung Quốc Các học giả Trung Quốc thường nhấn mạnh yếu tố Khổng giáo và lịch sử đau thương của Trung Quốc để giải thích lý do vì sao hiện nay Trung Quốc buộc phải hành xử kiên quyết hơn ở Biển Đông[182] Giáo sư Nie Wenjuan thuộc Học viện Quan hệ quốc tế, Đại học Ngoại giao Trung Quốc cho rằng “bản sắc kép” của Trung Quốc với tư cách một quốc gia bình thường và một cường quốc đang trỗi dậy ảnh hưởng rất nhiều tới chính sách của Trung Quốc về Biển Đông, nhưng khía cạnh “cường quốc trỗi dậy” sẽ ngày càng mang tính chi phối so với khía cạnh “quốc gia bình thường”.[236; tr.188-204]
Trang 30Học giả Hiroaki Ataka lập luận rằng hành động quyết đoán hơn của Trung Quốc ở Biển Đông thể hiện nỗ lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc xây dựng hình ảnh của mình với tư cách là người thống nhất đất nước và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền của Trung Quốc[45; tr.77-95] Cũng tương tự với quan điểm này, Nick Bisley cho rằng đối với Trung Quốc, vấn đề Biển Đông không chỉ liên quan đến lợi ích kinh tế và chiến lược mà còn gắn liền với bản sắc quốc gia mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đã dày công tạo dựng trong hàng chục năm qua[50]
Đa số người dân Trung Quốc đã được tuyên truyền bởi Nhà nước trong hàng chục năm qua với luận điệu rằng, để các cường quốc bên ngoài như Mỹ và các nước tranh chấp khác ở Đông Nam Á “chiếm đoạt” Biển Đông cũng là một sự kéo dài của “thế kỷ ô nhục”
1.1.1.4 Tư tưởng kinh điển và văn hóa chiến lược của Trung Quốc
Ngoài các trường phái lý thuyết nói trên, một số trường phái tư tưởng kinh điển của Trung Quốc, nhất là binh pháp Tôn Tử, tư tưởng Khổng giáo cũng có ảnh hưởng quan trọng lên chính sách đối ngoại của Trung Quốc
Trước hết, binh pháp Tôn Tử chi phối rất mạnh đến tư duy chiến lược và tư duy quân sự của Trung Quốc.Đặc biệt, binh pháp Tôn Tử rất tôn thờ chiến thuật
“chia để trị” và phương châm “không đánh mà thắng”
Theo dõi cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông, có thể thấy Trung Quốc áp dụng rất khéo léo chiến thuật “chia để trị” ở cả cấp độ: giữa các nước không có nhiều lợi ích với các nước có lợi ích chiến lược ở Biển Đông, giữa các nước có tranh chấp trong ASEAN với nhau (ASEAN-4 gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei) và giữa các lực lượng hoặc phe phái có các luồng quan điểm khác nhau trong nội bộ từng nước tranh chấp với Trung Quốc
Do ASEAN hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận, chỉ sự phản đối của một nước thành viên là có thể vô hiệu hóa được các tuyên bố hoặc hành động chung của ASEAN Hiểu rõ thực trạng đó, Trung Quốc càng đẩy mạnh chiến thuật
“chia để trị” trong vấn đề Biển Đông Do đó, Trung Quốc đã tranh thủ rất mạnh một số nước thành viên, nhất là Campuchia để thao túng chương trình nghị sự
Trang 31của ASEAN về Biển Đông Không ít nhà ngoại giao của ASEAN đã đánh giá Campuchia gần như đã trở thành “người phát ngôn” của Trung Quốc trong ASEAN về vấn đề Biển Đông và việc Trung Quốc luôn biết những gì được thảo luận trong ASEAN nhờ Campuchia đã phá vỡ đoàn kết ASEAN.[179]
Phù hợp với tư duy của Binh pháp Tôn Tử, người Trung Quốc thường tìm cách để “không đánh mà thắng”.Điều đóđược phản ánh rất rõ trong cách hành xử của Trung Quốc trên Biển Đông Theo đó, Trung Quốc rất ưa thích “chiến thuật vùng xám”, chỉ gây hấn ở mức vừa đủ, dưới ngưỡng xung đột, gặm nhấm theo kiểu
“tằm ăn dâu” khiến đối tượng bị vi phạm không đủ quyết tâm đáp trả Trung Quốc một cách cực đoan Tuy nhiên, cùng với thời gian, sự tích lũy về lượng dẫn đến thay đổi về chất, khiến cục diện Biển Đông dần nghiêng về phía Trung Quốc
Dĩ nhiên sức mạnh tổng hợp của tất cả 4 nước tranh chấp trong ASEAN cộng lại cũng không đọ được với Trung Quốc, song nếu ASEAN đoàn kết, đồng thuận thì Trung Quốc sẽ rất khó chi phối vấn đề Biển Đông Trong số các nước
có tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông, Việt Nam cũng là một nước có tiềm lực quân sự đáng kể và truyền thống quân sự rất mạnh, đã từng đánh thắng rất nhiều lần các cuộc chiến tranh xâm lược của nước láng giềng khổng lồ phía Bắc
từ trước đến nay Trong khi đó, mặc dù là một nước lớn nhưng truyền thống quân sự của Trung Quốc không mấy ấn tượng: lịch sử tất cả những lần Trung Quốc đưa quân ra bên ngoài cho thấy Trung Quốc thua nhiều hơn thắng
Vì vậy, phương châm “không đánh mà thắng” và chiến thuật “chia để trị” được Trung Quốc kết hợp với nhau rất nhuần nhuyễn Theo đó, Trung Quốc phân hóa ngay giữa các nước có tranh chấp với nhau cũng như phân hóa nhóm nước có tranh chấp với các nước không có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc Quan sát các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông, có thể thấy hiếm khi nào Trung Quốc gây hấn đồng thời với hai nước tranh chấp trở lên, mà thường áp dụng chiến thuật
“bẻ đũa”, gây sức ép với từng nước một để tránh phải đối đầu với việc các nước tranh chấp hoặc toàn khối ASEAN cùng hợp lực lại để đối đầu với Trung Quốc
Trang 32Bên cạnh Binh pháp Tôn Tử, tư tưởng Khổng giáo có ảnh hưởng rất lớn đối với tư duy đối ngoại của Trung Quốc Tư tưởng này cũng phản ánh rõ qua cách diễn giải nội hàm “Ngoại giao láng giềng” của Trung Quốc sau Hội nghị Trung ương về công tác ngoại giao láng giềng cuối năm 2013, đó là khẩu hiệu “thân, thành, huệ, dung” Hàm ý sâu xa của khẩu hiệu này là nếu các nước láng giềng xung quanh chấp nhận một trật tự lấy Trung Quốc làm trung tâm thì Trung Quốc
sẽ hành xử như một cường quốc “nhân từ” theo kiểu “Vương đạo”, chứ không theo đuổi “Bá đạo”
Cùng với đó, tư tưởng Khổng giáo cổ xúy cho cách nhìn mang tính thứ bậc trong xã hội theo kiểu vua - tôi, cha - con, phu - thê, theo đó những kẻ bị xem là thấp kém hơn có nghĩa vụ phải chấp nhận tôn ti trật tự do kẻ mạnh hơn áp đặt Thế giới quan của Trung Quốc cũng bị chi phối mạnh bởi tư duy này, nhất là trong cách nhìn nhận các nước nhỏ yếu hơn trong khu vực Như nhà nghiên cứu
Đỗ Thị Thủy đã lập luận, Trung Quốc coi mình là cường quốc trung tâm, còn các nước láng giềng xung quanh đơn giản là các vệ tinh có nghĩa vụ phải chấp nhận ý chí của “thiên triều”[33] Tư duy này là một trong những đặc tính xuyên suốt trong văn hóa chiến lược của Trung Quốc từ thời xưa đến nay Thực tế đó thể hiện rất rõ qua phát biểu công khai của Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì với các nước ASEAN tại Hội nghị ARF-17 tháng 7/2010 tại Hà Nội: “Trung Quốc
là một nước lớn còn các nước khác là nước nhỏ Đó là một thực tế”[160] Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông cũng chịu ảnh hưởng bởi tư duy chiến lược kinh điển nói trên của Trung Quốc
Những đặc thù lịch sử nói trên đã định hình văn hóa chiến lược của Trung Quốc
- một yếu tố rất quan trọng góp phần lý giải hành vi chính sách đối ngoại của quốc gia này Đúng như Alastair Ian Johnston, một học giả nổi tiếng nghiên cứu về văn hóa chiến lược Trung Quốc đã từng nhận xét: “Không thể hiểu được hành vi của Trung Quốc nếu không nghiên cứu lịch sử và văn hóa Trung Quốc”.[132; tr 216-268] Văn hóa chiến lược Trung Quốc chịu sự tác động của các yếu tố đặc thù lịch
sử, văn hóa, tư duy chiến lược, đặc điểm tâm lý… mang tính xuyên suốt của người
Trang 33Trung Quốc trong hàng nghìn năm qua Cách hành xử của Trung Quốc không chỉ chịu tác động của các quy luật thông thường trong quan hệ quốc tế mà còn phản ánh những đặc tính sâu xa từ văn hóa chiến lược của quốc gia này.[197]
Thứ nhất là tư tưởng “Hoa tâm”, coi Trung Quốc là trung tâm thiên hạ và các nước xung quanh có nghĩa vụ phải “thần phục” Trung Quốc, nói cách khác
là chấp nhận một trật tự lấy Trung Quốc làm trung tâm Điều này cũng ảnh hưởng mạnh đối với cách nhìn nhận của Trung Quốc về Biển Đông Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị khẳng định Trung Quốc sẽ rộng lượng với các
“nước nhỏ hơn” ở khu vực Biển Đông, nhưng cũng nói rõ: “chúng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận đòi hỏi vô lý từ các nước nhỏ.”[245]
Thứ hai là tư duy “Vương đạo”, theo đó, Trung Quốc tự coi mình là cường quốc “nhân từ”, là “nạn nhân” của các nước nhỏ bất kính Mặc dù là một nước lớn với sức mạnh tổng thể lớn gấp nhiều lần các bên tranh chấp khác ở Biển Đông, song Trung Quốc luôn có xu hướng tô vẽ bản thân như một “nạn nhân” của các nước khác Tuyên truyền của nhiều thế hệ lãnh đạo luôn lặp đi lặp lại luận điệu rằng các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia đã cướp đảo của Trung Quốc tại Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là “Nam Sa”) Thậm chí Trung Quốc còn có cách lập luận tương đối ngược đời khi những năm 1990 đô đốc Lưu Hoa Thanh nhiều lần nói với người đồng nhiệm Mỹ rằng ở Biển Đông có tình trạng
“nước nhỏ bắt nạt nước lớn” Ngoại trưởng Vương Nghị cũng nhiều lần lặp lại các nội dung tương tự.[259]
Khi Trung Quốc chính thức đệ trình yêu sách “đường chín đoạn” lên Liên hợp quốc tháng 5/2009, Thứ trưởng Ngoại giao Phó Doanh và Viện trưởng Viện nghiên cứu Nam Hải Ngô Sỹ Tồn cũng cho rằng nguyên nhân chính là việc Việt Nam và Malaysia đã đệ trình báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa lên Liên hợp quốc, do đó vi phạm chủ quyền của Trung Quốc.[246]
Thứ ba là xu hướng đề cao “mưu kế”[166] Binh pháp Tôn Tử, cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ chiến lược gia Trung Hoa, từng cổ xúy tư duy
“binh bất yếm trá”, nghĩa là trong chiến tranh thì không ngại việc lừa dối, miễn
Trang 34là đạt được mục đích Lối hành xử coi trọng mưu kế và lừa gạt này hằn sâu trong
tư duy chiến lược của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông và thể hiện rất rõ qua cách Trung Quốc chiếm Scarborough từ tay Philippines Khi cuộc khủng hoảng Scarborough lên đỉnh điểm giữa năm 2012, Mỹ đứng ra làm trung gian hòa giải giữa hai bên với thỏa thuận rằng cả Trung Quốc và Philippines đều rút tàu khỏi bãi cạn này Tuy nhiên, sau khi Philippines rút tàu theo đúng thỏa thuận, Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì tàu chấp pháp biển tại Scarborough và giành quyền kiểm soát bãi cạn này từ đó đến nay Trong chuyến thăm Mỹ năm 2015, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã khẳng định với Tổng thống Mỹ Obama là Trung Quốc “không có ý định quân sự hóa Biển Đông”[241], song việc Trung Quốc ráo riết quân sự hóa vùng biển này thời gian không lâu sau đó cho thấy Trung Quốc hoàn toàn đi ngược lại những gì đã cam kết ở cấp cao nhất
Thứ tư là khả năng tính toán dài hạn Trung Quốc nổi tiếng về sự kiên nhẫn chiến lược, sẵn sàng chờ đợi khi thời cơ đến Theo so sánh của Alexander Vuving, Trung Quốc hành xử theo kiểu “cờ vây”, nghĩa là đi từng bước tiệm tiến để cuối cùng đạt mục đích, không giống như kiểu đánh “cờ vua” của phương Tây[227] Điều này khác hẳn với các cường quốc phương Tây Đối với Trung Quốc, việc tạo
“thế” còn quan trọng hơn sử dụng “lực” để giành thắng lợi kiểu “tốc chiến”
1.1.2 Cách tiếp cận và khung phân tích chính sách
Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là một bộ phận trong tổng thể chính sách đối ngoại của Trung Quốc.Vì vậy, cách tiếp cận và khung phân tích chính sách đối ngoại của Trung Quốc cũng là một trong những nền tảng quan trọng nhất để phân tích chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông Nhìn chung, như Baris Kesgin đã chỉ ra, phương pháp phân tích chính sách đối ngoại của một quốc gia thường dựa vào 3 cấp độ phân tích: cấp độ hệ thống quốc tế, cấp độ quốc gia và cấp độ cá nhân lãnh đạo[146; tr.336-345] Áp dụng vào trường hợp Trung Quốc, Nien-chung Chang Liao lý giải rõ hơn về ba cấp độ phân tích sự quyết đoán của Trung Quốc và đi đến kết luận rằng chính sách đối ngoại quyết đoán hơn của Trung Quốc kể từ năm 2009 chủ yếu là do nhận thức của giới tinh hoa và sự lựa chọn của lãnh đạo Trung Quốc.[61; tr.817-833]
Trang 35Thứ nhất, ở cấp độ hệ thống, sự quyết đoán gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt nguồn từ những thay đổi sâu sắc trong phân bổ quyền lực quốc tế, đặc biệt là trong so sánh lực lượng Trung - Mỹ từ sau cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 - 2009 Việc Trung Quốc vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới năm 2010 và nhận định của Trung Quốc rằng Mỹ đang suy yếu tương đối khiến Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn trong việc bắt đầu thách thức hệ thống trật tự quốc tế do Mỹ chi phối, trước tiên là ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông Cuốn sách “Trung Hoa mộng” của đại tá quân đội Trung Quốc Lưu Minh Phúc xuất bản năm 2010 là minh chứng rõ nhất cho hình ảnh một Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ tìm cách soán ngôi một nước Mỹ đang có dấu hiệu đi xuống[266] Hành động chính thức công bố yêu sách “đường lưỡi bò” lên Liên hợp quốc năm 2009 cho thấy rõ Trung Quốc không còn chấp nhận một trật tự khu vực với sự chi phối của Mỹ
Thứ hai, ở cấp độ quốc gia, các yếu tố trong nước như đặc thù thể chế chính trị - xã hội, cơ cấu nhà nước, mức độ quyền lực của các chủ thể trong bộ máy hoạch định chính sách, các xu thế đang nổi lên trong xã hội Trung Quốc… cũng tác động mạnh lên chính sách đối ngoại nói chung và chính sách đối với Biển Đông nói riêng Đặc biệt, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc lý giải
vì sao Chính phủ theo đuổi cách tiếp cận ngày càng cứng rắn hơn trong chính sách về biên giới lãnh thổ, biển đảo Aaron Friedberg, Giáo sư khoa Chính trị và các vấn đề quốc tế thuộc Đại học Princeton nhận định rằng “thế kỷ ô nhục” càng kích động chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc, tâm lý tổn thương trước việc bị các cường quốc phương Tây xâu xé suốt hơn 100 năm khiến người Trung Quốc càng quyết tâm tìm kiếm quyền lực[87; tr.21] Học giả Li Mingjiang nhận xét rằng cuộc tranh luận trong nội bộ giới tinh hoa Trung Quốc về chiều hướng chính sách đối ngoại cũng diễn biến theo hướng có lợi hơn cho phe chủ trương theo đuổi chính sách đối ngoại cứng rắn hơn, nhất là trong vấn đề Biển Đông.[155]
Trang 36Thứ ba, ở cấp độ cá nhân, sự quyết đoán gia tăng của Trung Quốc trong chính sách đối với Biển Đông phản ánh những thay đổi trong nhận thức và lựa chọn quyết sách của những lãnh đạo cầm quyền, đặc biệt là Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình Không phải ngẫu nhiên mà khi Tập Cận Bình lên cầm quyền tại Đại hội 18, ông đã đề ra khẩu hiệu “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” Đúng như học giả Oriana Skylar Mastro đã nhận xét: “bản thân Tập Cận Bình đã tuyên bố các chính sách cứng rắn hơn liên quan đến vấn đề tranh chấp lãnh thổ, và sự quyết đoán của Trung Quốc tăng lên đáng kể dưới thời Tập Cận Bình”.[170]
Nếu mô hình hóa các tình huống mà các nhà hoạch định chính sách gặp phải nói chung cũng như các kịch bản lựa chọn chính sách của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông nói riêng thì có thể khái quát hóa một cách tương đối qua bảng sau:
Bảng A: Các tình huống nhà hoạch định chính sách gặp phải.[38; tr.39]
NƯỚC MẠNH Tình huống tốt nhất Tình huống thường gặp nhất
NƯỚC YẾU Tình huống tốt Tình huống xấu nhất
Bảng B: Một số kịch bản Trung - Mỹ ở Biển Đông
TRUNG QUỐC MẠNH Trung Quốc và Mỹ giằng
co quyết liệt ở Biển Đông
Trung Quốc độc chiếm Biển Đông
TRUNG QUỐC YẾU Trung Quốc ở thế dưới
so với Mỹ ở Biển Đông
Trung Quốc và Mỹ không cọ xát nhiều ở Biển Đông
Bảng A và Bảng B cho thấy một số kịch bản lựa chọn chính sách đối ngoại của Trung Quốc nói chung và trong vấn đề Biển Đông nói riêng, nhất là trong tương quan với Mỹ - nhân tố mà Trung Quốc phải tính đến nhiều nhất
Trang 37Khung phân tích chính sách nói trên có thể là một khuôn khổ hữu ích để phân tích, đánh giá, phán đoán và dự báo các động thái chính sách của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một cơ sở tham chiếu không nên bị tuyệt đối hóa Thực tiễn quan hệ quốc tế cũng như thực tiễn cuộc sống luôn không ngừng biến động và chịu ảnh hưởng của nhiều biến số, ẩn số
mà không một khuôn khổ lý thuyết nào, dù khoa học và hợp lý đến đâu, có thể giải thích triệt để Vì vậy, bên cạnh cơ sở lý luận và khung lý thuyết phân tích chính sách thì việc tìm hiểu cơ sở thực tiễn của chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là hết sức quan trọng
ở Trung Quốc và vai trò cá nhân của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng tác động rất mạnh đến cách hành xử của Trung Quốc ở khu vực nói chung và ở Biển Đông nói riêng từ sau Đại hội 18 đến nay
1.2.1 Những nhân tố bên trong
1.2.1.1 Sự mở rộng phạm vi lợi ích cùng đà gia tăng sức mạnh tổng thể
Theo quy luật, khi sức mạnh tổng thể của một cường quốc gia tăng thì phạm vi lợi ích cũng được mở rộng Khi Trung Quốc còn yếu và đối mặt với nhiều nguy cơ bên và bên ngoài trong giai đoạn từ 1949 đến trước khi phát động công cuộc cải cách mở cửa năm 1978, Trung Quốc chưa bộc lộ nhiều tham vọng
và cũng không có khả năng theo đuổi các lợi ích vượt ra ngoài lãnh thổ của mình Tuy nhiên,sau hơn 40 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc từ chỗ chỉ chiếm khoảng 2% GDP thế giới ở thời điểm năm 1978 nay đã trở thành nền kinh tế lớn
Trang 38thứ hai thế giới với quy mô GDP chiếm tới 16-17% GDP toàn cầu Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc khiến cách nhìn nhận lợi ích của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông cũng thay đổi, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để Trung Quốc thúc đẩy những lợi ích đó
Về kinh tế, Trung Quốc trỗi dậy nhanh hơn nhiều so với các dự báo của phương Tây Ở thời điểm bắt đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc mới chỉ là nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới, nhưng năm 2010 Trung Quốc đã vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, năm 2013 trở thành cường quốc thương mại lớn nhất thế giới và vượt Mỹ về quy mô GDP tính theo ngang giá sức mua (PPP) năm
2014 Đây là lần đầu tiên trong 140 năm qua, Mỹ bị một nước khác vượt qua về quy mô kinh tế (tính theongang giá sức mua - PPP)
Trong khi đó, ảnh hưởng của Mỹ về kinh tế - thương mại trên thế giới và ở khu vực Đông Nam Á ngày càng giảm so với Trung Quốc.Năm 1993, Trung Quốc chỉ chiếm 2% thương mại hàng hóa với ASEAN, còn Mỹ chiếm 18%; nhưng đến năm 2013, tỷ lệ này đảo ngược thành 14% của Trung Quốc và 8,2% của Mỹ Năm 2013 cũng đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc vượt Mỹ với tư cách cường quốc ngoại thương lớn nhất thế giới với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 3.870 tỷ USD (của Mỹ là 3.820 tỷ USD) Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của hầu hết các nước khu vực, kể cả các nước đồng minh thân cận của
Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc…
Về quân sự, từ vị thế một nước với quân đội lạc hậu yếu kém như đã lộ rõ trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 với Việt Nam, sau nhiều thập kỷ liên tục hiện đại hóa quân đội, Trung Quốc đến thời điểm từ Đại hội 18 (năm 2012) tới nay đã trở thành cường quốc quân sự số 1 ở Châu Á Chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc bằng 48% của toàn khu vực, tương đương tổng chi tiêu của 24 nước Đông Á và Đông Nam Á cộng lại (ngân sách công bố là 147 tỷ USD năm 2016, nhưng thực chi khoảng 215 tỷ USD) Theo báo cáo của Viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), con số thực chi cho ngân sách quân sự của Trung Quốc trong giai đoạn từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc, cụ
Trang 39thể là từ 2012 - 2019 tăng từ 168 tỷ USD lên 261 tỷ USD, cao hơn nhiều so với con số công bố chính thức của Chính phủ Trung Quốc Tại kỳ họp Lưỡng Hội đầu năm 2021, Trung Quốc công bố ngân sách quốc phòng cho năm 2021 là 209
tỷ USD, song các nhà nghiên cứu đánh giá con số thực chi lớn hơn nhiều so với con số công bố Trong khi đó, mặc dù ngân sách quốc phòng của Mỹ lớn gấp khoảng 3 lần Trung Quốc (năm 2012 là 670 tỷ USD, đến năm 2021 là khoảng
740 tỷ USD) song lực lượng của Mỹ bị căng mỏng trên phạm vi toàn cầu còn Trung Quốc có điều kiện tập trung hầu hết lực lượng ở khu vực Đông Á, trong
đó có Biển Đông Nhìn chung, ở phạm vi toàn cầu, Trung Quốc chưa đủ khả năng thách thức sức mạnh của Mỹ, song ở tầm khu vực và nhất là tại các vùng biển gần như Biển Đông thì Trung Quốc hoàn toàn có đủ khả năng thách thức vai trò và hiện diện quân sự của Mỹ
Tàu
sân
bay
Tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân trang bị tên lửa đạn đạo
Tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân trang bị tên lửa hành trình
Tàu ngầm thông thường chạy bằng động cơ diesel
Tàu tuần dương
Tàu khu trục
Tàu khu trục cỡ nhỏ
335 tàu chiến lớn nhỏ còn hải quân Mỹ có 296 tàu Thêm vào đó, sức mạnh của hải
Trang 40quân Mỹ bị căng mỏng ra nhiều khu vực và điểm nóng trên toàn cầu, song Trung Quốc có lợi thế có thể tập trung gần như toàn bộ lực lượng hải quân ở khu vực Đông Á, nhất là các vùng biển gần như Biển Đông Sự thay đổi nhanh chóng tương quan lực lượng Trung - Mỹ như phân tích ở trên khiến Trung Quốc có cả quyết tâm
và năng lực kiểm soát Biển Đông để phục vụ các ý đồ chiến lược Do đó, giai đoạn
từ sau Đại hội 18 là khoảng thời gian Trung Quốc có rất nhiều điều kiện thuận lợi
cả chủ quan và khách quan để thực hiện chính sách quyết đoán hơn trong vấn đề Biển Đông Đó cũng là lý do ở thời điểm năm 2010, Trung Quốc vẫn giữ thái độ mập mờ, không phủ nhận và cũng không khẳng định khi báo chí phương Tây đưa thông tin Trung Quốc coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, nhưng đến nhiệm kỳ Đại hội Đảng 18, cụ thể là trong năm 2017 thì Trung Quốc đã chính thức khẳng định một cách không cần úp mở rằng Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của mình
1.2.1.2 Thể diện và uy thế nước lớn
Vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc không chỉ đơn thuần là lợi ích địa - chiến lược hay địa - kinh tế Từ góc nhìn của giới hoạch định chính sách đối ngoại Trung Quốc, vấn đề Biển Đông còn là vấn đề lịch sử và chính trị.[199] Việc Trung Quốc muốn kiểm soát Biển Đông cũng xuất phát từ một đặc tính thâm căn cố đế trong tư duy chiến lược của Trung Quốc: Đó là Trung Quốc tự coi mình là “cường quốc trung tâm”, là cái rốn của vũ trụ, còn các nước nhỏ yếu xung quanh chỉ đơn giản là các vệ tinh hay “chư hầu” có nghĩa vụ chấp nhận một trật tự lấy Trung Quốc làm trung tâm “Thế kỷ ô nhục” kéo dài từ 1839 đến 1949 khi bị các cường quốc phương Tây xâu xé càng khiến Trung Quốc ngày nay quyết tâm
“rửa hận” Đối với Trung Quốc, thể diện nước lớn rất quan trọng Sâu thẳm trong tư duy của các chiến lược gia Trung Quốc, nếu không “bình định” được khu vực “sân sau” là Đông Nam Á và khống chế được Biển Đông thì Trung Quốc không thể vươn lên trở thành siêu cường lãnh đạo thế giới Edward Luttwak đã nhận xét về tâm lý “tự kỷ nước lớn”, theo đó Trung Quốc tự cảm thấy nhục nhã khi bị các nước nhỏ yếu hơn thể hiện quan điểm trái chiều - điều mà các cường quốc phương Tây khác xem như thực tế rất bình thường trong quan hệ quốc tế.[163]