1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn QUẢN lý HOẠT ĐỘNG tự học của học VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH sát NHÂN dân i

94 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của tự học đối với chất lượng của quá trình giáo dục đào tạo, Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong thời gian qua đã quan tâm tổ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

- -

LƯƠNG THỊ HỒNG DUYÊN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

CẢNH SÁT NHÂN DÂN I

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

- -

LƯƠNG THỊ HỒNG DUYÊN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng

Cảnh sát nhân dân I” được thực hiện từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 2 năm

2021 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đã được ghi rõ nguồn gốc, số liệu đã được phân tích, tổng hợp, xử lí và đưa vào luận văn đúng quy định

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là

do tôi thu thập được trong quá trình điều tra, khảo sát, lấy phiếu hỏi đối với cán bộ quản lý, giáo viên, học viên của Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ

rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 3 năm 2021

Tác giả luận văn

Lương Thị Hồng Duyên

Trang 4

MỤC LỤC

Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động tự học của học viên

trường cao đẳng cảnh sát nhân dân……… 8

1.1 Các khái niệm công cụ……… 8

1.2 Lí luận về hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân……… 13

1.3 Lí luận về quản lý hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân……… 19

1.4 Lí luận về các yếu tố ảnh ưởng tới quản lý hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân……… 24

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân I………

25 2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I………… 25

2.2 Khái quát khảo sát thực trạng……… 29

2.3 Thực trạng hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I……… 30

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I……… 38

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng cảnh sát nhân dân I……… 48

2.6 Điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân tác động tới công tác quản lý hoạt động tự học của học viên……… 49

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I……… 52

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý……… 52

3.2 Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I……… 53

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp……… 65

3.4 .Khảo nghiệm các biện pháp quản lý……… 66

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 73

PHỤ LỤC………

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG Trang

học gần đây

28

nhân dân i hệ chính quy trong 3 khóa học gần đây

29

nghĩa của tự học

31

viên Trường Cao đẳng CSND I

lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng CSND I

39

Cao đẳng CSND I

41

học viên Trường Cao đẳng CSND I

của HV Trường Cao đẳng CSND

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đang trở thành vấn đề cấp bách trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế được thông qua tại

Hội nghị Trung ương 8 (Khóa XI) nêu rõ: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ

về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra chủ trương đổi mới toàn diện giáo

dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: "Nâng cao chất lượng

giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung phương pháp dạy và học, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”.[18]

Thước đo chất lượng giáo dục và đào tạo chính là kết quả học tập của người học Kết quả học tập chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó, tự học là một trong những yếu tố cơ bản, là phương thức cơ bản để người học tiếp cận và

chiếm lĩnh tri thức Như Bác Hồ đã từng nói: “Cách học, phải lấy tự học làm

cốt”.[42] Hay cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ những năm 60 của thế kỷ 20 đã

nói “Tự học giúp người học phát huy trí tuệ, tư duy và óc thông minh”.[23]

Trong vấn vấn đề giáo dục nói chung và việc học rói riêng, tự học có một vai trò hết sức quan trọng Tự học giúp người học hiểu sâu, mở rộng, củng cố và ghi nhớ bài học một cách vững chắc nhờ vào khả năng tự phân tích, tổng hợp tài liệu, từ đó có khả năng vận dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết những nhiệm vụ học tập mới Đồng thời, tự học giúp người học hình thành được tính tích cực, độc lập tự giác trong học tập cũng như nề nếp làm việc khoa học.Từ đó quyết định sự phát triển các phẩm chất nhân cách và quyết định chất lượng học tập của người học

Trang 8

Ngày 13 tháng 08 năm 2007, Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành “Quy chế Công tác học viên, sinh viên” (Quyết định số 42/2007/QĐ - BGD & ĐT), trong

đó, đã xác định công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên là một trong những công tác trọng tâm ở trường cao đẳng, đại học, góp phần hướng tới việc giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, phát huy tốt nhất khả năng, tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân, sống tốt, làm việc hiệu quả, yêu gia đình, yêu tổ quốc, yêu đồng bào

Nhận thức được tầm quan trọng của tự học đối với chất lượng của quá trình giáo dục đào tạo, Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong thời gian qua đã quan tâm tổ chức quản lý tốt hoạt động tự học của

HV nhà trường Từ đó đã đem lại nhiều kết quả khả quan như nhiều HV đã biết nghiên cứu khoa học và đã có công trình đạt giải nghiên cứu khoa học do Bộ Công an tổ chức, đã có nhiều sáng kiến cải tiến trong học tập, kết quả học tập đã được nâng lên Tuy nhiên, quá trình tổ chức công tác quản lí hoạt đông tự học của học viên vẫn còn những khó khăn, hạn chế và bất cập, cần tìm ra những nguyên nhân, hướng giải quyết và thay đổi để không ngừng nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động tự học của học viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong thời gian tới, đáp ứng các yêu cầu đổi mới

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài "Quản lý hoạt động

tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I" để tiến hành

nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Ở Mỹ, ngay từ năm 1920 tại Trường Dalton đã đưa ra và áp dụng kế hoạch dạy học mới gọi là kế hoạch Dalton Theo kế hoạch này, GV chỉ có nhiệm

vụ vạch ra những công việc phải làm và ký hợp đồng thực hiện với người học Hoạt động học tập là sự tự học của người học trong các phòng thí nghiệm theo từng bộ môn và được kiểm soát bằng các lá phiếu Kế hoạch này sau đó bị phê phán là đã thu hẹp khoảng cách giữa GV và người học và tách rời giữa dạy học với giáo dục

Trang 9

Vào những năm giữa thế kỷ XX, ở các nước Âu, Mỹ, các nhà giáo dục đã quan tâm tìm kiếm phương pháp giáo dục mới dựa vào tư tưởng “Lấy học sinh làm nhân vật trung tâm”, do J Dewey đề xướng và đã đưa vào thực nghiệm như

“phương pháp tích cực”, “phương pháp hợp tác”… Các phương pháp đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy học sinh tự học Người thầy trở thành trọng tài, đạo diễn, thiết kế, tổ chức việc làm, giúp đỡ học sinh biết cách làm, biết cách học Tuy nhiên các phương pháp cũng có hạn chế là không thể áp dụng cho mọi loại tri thức, đồng thời các phương pháp đòi hỏi nhiều thời gian, trình

độ tổ chức, thiết kế chương trình của GV, năng lực và tính tự giác của người học

Ở Châu Á cũng có nhiều nhà giáo dục đã quan tâm, chú ý đến hoạt động

tự học của học sinh

Năm 1986, hai nhà giáo dục Ấn Độ S.D Shama và Shakti R.Ahmed đã có tác phẩm “Phương pháp dạy học ở đại học” Trong đó, hoạt động tự học được trình bày như một hình thức dạy học có hiệu quả cao, các nhiệm vụ nhận thức được thiết kế để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ dạy học đã được xác định.[50] Gần đây, R.R Singh đưa ra quan điểm người học phải là người tích cực tham gia vào quá trình học, là lực lượng chủ đạo trong quá trình học kiến thức và việc họ tự nhận ra các tiềm năng của bản thân trong quá trình đó là điểm tựa chủ yếu cho việc định hướng lại giáo dục Tuy nhiên, tác giả vẫn khẳng định GV giữ vai trò quyết định trong quá trình nhận biết, học, dạy.[61]

Như vậy, vấn đề tự học của người học đã được các nhà giáo dục nước ngoài đề cập đến ở nhiều khía cạnh khác nhau như: vai trò to lớn của tự học, tự nghiên cứu; vai trò, vị trí của người dạy, người học đối với hoạt động tự học, các

phương pháp tổ chức hoạt động tự học; cũng như những hạn chế của hoạt động đó

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động

tự học, quản lý hoạt động tự học:

- Mai Thị Hoa Hương (2020) trong bài viết trên trang Website Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I “Phát huy tinh thần tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I theo quan điển Hồ Chí Minh

Trang 10

- Nguyễn Thị Thu Trang (2020) trong bài biết trên Website trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I “Nâng Cao hiệu quả hoạt động tự học của học viên Trường cao đẳng Cảnh sát nhân dân I”

- Trần Bá Khiêm (2007) trong đề tài “Các biện pháp quản lý hoạt động

tự học của học viên trường Sĩ quan Lục quân 2” đã cung cấp những cơ sở xác

định mục tiêu đào tạo, xây dựng nội dung chương trình đào tạo, xác định

phương pháp giảng dạy của Trường Sĩ quan Lục quân 2 Đồng thời, tác giả đã

đề xuất hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên có tính khả thi cao, góp phần đổi mới phương pháp dạy học tại nhà trường

- Lê Văn Hải (2014), trong “Quản lý hoạt động tự học của sinh viên

trường Đại học Thủ Dầu 1, tỉnh Bình Dương”, đã làm rõ mục đích, nội dung,

các phương pháp, hình thức và đánh giá kết quả tự học của sinh viên Đồng thời, tác giả đã phân tích rõ thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại Trường Đại học Thủ dầu 1, từ đó đã đề xuất được 06 biện pháp có tính cần thiết

và khả thi cao áp dụng tại nhà trường

- Phạm Quang Bảo (2009), trong đề tài luận văn: “Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh Trường Văn hóa I - Bộ Công an”, đã đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tự học của học sinh Trường Văn hóa I - Bộ Công

an, và từ đó đã đề xuất các biện pháp phù hợp và khả thi

- Văn Thị Như Ý (2010), trong đề tài luận văn: “Biện pháp quản lý hoạt

động tự học của sinh viên trường Đại học An ninh nhân dân”, đã xác định cơ sở

lý luận quản lý hoạt động tự học của học viên, sinh viên, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại Trường Đại học An ninh nhân dân và

đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp

- Nguyễn Thanh Sơn (2016) trong nghiên cứu “Quản lý hoạt động tự học

của sinh viên tại các trường Đại học ngoài công lập phía Nam”, chỉ ra những

đặc trưng riêng của Quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại các trường đại học ngoài công lập phía Nam và đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này

Tóm lại, các công trình của nhiều tác giả khác nhau đã đề cập đến công

Trang 11

tác quản lý hoạt động tự học của người học ở nhiều góc độ khác nhau, và đã đề xuất được một số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động đó mang tính khả thi, phù hợp với từng đơn vị, địa phương khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân một cách có hệ thống, khoa học và toàn diện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng cảnh sát nhân dân I đề xuất các biện pháp, nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động tự học của học viên nhà trường trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân

- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động tự học của HV trường cao đẳng cảnh sát

nhân dân

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian

Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tự học của HV Trường Cao đẳng

Cảnh sát nhân dân I giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021

- Phạm vi về địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

- Phạm vi về khách thể nghiên cứu

Bao gồm: 100 HV, CBQL và giáo viên

Trang 12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Nguyên tắc tiếp cận mục tiêu: Tiếp cận theo mục tiêu là cách tiếp cận nhấn mạnh mục tiêu của đối tượng, coi mục tiêu là tiêu chí để lựa chọn nội dung, phương pháp, cách thức tiến hành và đánh giá kết quả Tiếp cận mục tiêu để phân tích làm rõ mục tiêu của quản lý hoạt động tự học của học viên; phân tích thực trạng thực hiện các nội dung quản lý trên cơ sở đó xây dựng nội dung và biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên cho khả thi

- Nguyên tắc tiếp cận chức năng quản lý: Quản lý hoạt động tự học của học viên luôn phải chú trọng tới việc quản lý dựa trên các chức năng cơ bản như: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học Các chức năng này cần phải được thể hiện xuyên suốt trong quá trình quản lý hoạt động tự học Chủ thể quản lý hoạt động tự học cần biết phối hợp một cách đồng bộ, hài hòa và chặt chẽ các chức năng quản lý trên trong quá trình quản

lý hoạt động tự học

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá các tài liệu liên quan đến quản lý, quản lý giáo dục, quản lý HĐTH và các văn bản pháp qui như Luật Giáo dục, Luật Công an, tham khảo các báo cáo tổng kết của nhà trường, các văn bản của ngành Công an

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử, phát hiện và khai thác những khía cạnh

mà các công trình nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến, hoặc đã đề cập nhưng

chưa rõ nét, qua đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo của tác giả

Trang 13

- Phương pháp phỏng vấn: Người nghiên cứu đưa ra những câu hỏi dùng để tìm hiểu, nghiên cứu sâu các vấn đề liên quan đến HĐTH của HV và quản lý HĐTH của CBQL, GV nhà trường Việc chọn ra một số khách thể phỏng vấn sâu được

thực hiện dựa trên kết quả của một số khách thể đã tham gia làm bảng hỏi trước đó

- Phương pháp điều tra điều tra bằng bảng hỏi (Phần phụ lục)

- Phương pháp chuyên gia: Trong khi nghiên cứu, tác giả đã xin ý kiến của người hướng dẫn khoa học, các CBQL giáo dục có chuyên môn, kinh nghiệm về HĐTH và quản

lý HĐTH để được góp ý về cách thu thập số liệu, xử lý kết quả điều tra

- Sử dụng phương pháp thống kê toán học như số trung bình cộng để định lượng kết quả nghiên cứu

- Phương pháp kiểm định giả thuyết để kiểm chứng tính đúng đắn, khoa học

và khả thi của các biện pháp đề xuất

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về

quản lý hoạt động tự học đặc trưng của HV Trường Cao đẳng Cảnh sát: Một số khái niệm công cụ, lý luận về hoạt động tự học của học viên, quản lý hoạt động

tự học của học viên và các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động tự học của học viên trường Cao đẳng cảnh sát nhân dân

- Về mặt thực tiễn: Luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà quản lý

các trường cao đẳng, đại học thuộc lực lượng Công an nhân dân trong việc quản lý hoạt động tự học của HV, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo

và phụ lục nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của HV Trường

Cao đẳng Cảnh sát nhân dân

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của HV Trường Cao

đẳng Cảnh sát nhân dân I

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của HV Trường Cao đẳng

Cảnh sát nhân dân I

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niện quản lý

Quản lý là hoạt động đặc biệt, một dạng lao động xuất hiện rất sớm trong lịch sử, là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động của nhiều người, yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển Xã hội càng phát triển thì vai trò của quản lý càng quan trọng, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay Có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về quản lý nhưng vẫn chưa có định nghĩa chung:

Trong tác phẩm “Cơ sở khoa học quản lý”, nhà nghiên cứu Nguyễn Minh

Đạo có viết: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ

thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản

lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo

ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.[21]

Trong tập “Những bài giảng về quản lý trường học” tác giả Hà Sỹ Hồ cho

rằng: “Quản lý là một hoạt động có định hướng, (có chủ đích) có tổ chức, lựa

chọn trong các hoạt động có thể có, dựa trên thông tin tình trạng của đối tượng, môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho

nó phát triển tới mục đích đã định”.[30]

Trong “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” của hai tác giả Đặng Vũ Hoạt

và Hà Thế Ngữ có nêu: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục

tiêu Quản lý là một hệ thống và là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái

mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”.[33]

Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, tuy nhiên có thể thống nhất:

Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định của chủ thể quản lý đến khách

Trang 15

thể quản lý, nhằm hướng dẫn, điều khiển các quá trình xã hội, các hành vi, hoạt động của con người để đạt tới những mục đích phù hợp với ý chí của nhà quản

lý và phù hợp với quy luật khách quan

Bản chất Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý, nhằm thực hiện mục tiêu nhất định đã đề ra

1.1.2 Khái niệm hoạt động

Theo A.N Lêônchiép: “hoạt động là quá trình thực hiện sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể - khách thể” (A.N Lêônchiép (được dịch ra tiếng Việt) 1989, tr.93) Nhà tâm lý học này cũng đề cập đến hai quá trình tâm lý cơ bản trong hoạt động: quá trình chuyển hóa của khách thể sang hình thức chủ quan, sang hình tượng; đồng thời, chuyển hóa tâm lý của chủ thể thành kết quả khách quan, thành sản phẩm của hoạt động

B.A Krucheski đưa ra định nghĩa về hoạt động như sau: hoạt động là tính tích cực của con người nhằm đạt mục đích được đặt ra một cách có ý thức, để thỏa mãn nhu cầu và hứng thú và nhằm thực hiện đòi hỏi của xã hội và đất nước đối với họ (B.A Krucheski, 1986)

Theo nhà tâm lý học này, hoạt động là phương thức tồn tại của con người, không có hoạt động, thì không có cuộc sống con người Hoạt động gồm hai quá trình tâm lý, đồng thời là hai chức năng chính của hoạt động: quá trình tạo ra điều kiện vật chất và các sản phẩm tinh thần cho cuộc sống con người, trong đó, con người thay đổi hiện thực bên ngoài, biến đổi thế giới xung quanh và quá trình hình thành và biến đổi chính bản thân (ý chí, tính cách, năng lực…)

Kruchexki cũng chỉ rõ một số đặc trưng của hoạt động của con người: thứ nhất, hoạt động của con người mang tính ý thức: con người biết được mục tiêu

và phương thức đạt mục tiêu, hình dung được kết quả hoạt động Thứ hai, hoạt động của con người gắn liền với việc chuẩn bị, việc sử dụng và bảo vệ dụng cụ lao động Thứ ba, hoạt động của con người mang tính xã hội Theo nguyên tắc,

nó được thực hiện trong tập thể và vì tập thể

Phạm Minh Hạc (2002) cho rằng, hoạt động là quá trình con người thực hiện các mối quan hệ giữa mình và thế giới bên ngoài, với người khác và với bản

Trang 16

thân Trong quá trình đó, một mặt, tâm lý của con người (năng lực, ý chí, mong muốn, tính cách) được bộc lộ ra bên ngoài; mặt khác, các thuộc tính của đối tượng được chuyển vào thế giới nội tâm của con người, tạo nên tâm lý, nhân cách của họ

tâm lý cơ bản:

- Quá trình đối tượng hóa (quá trình xuất tâm), chủ thể chuyển năng lực

và phẩm chất tâm lý của mình vào đối tượng, ghi dấu ấn của con người vào sản phẩm lao động Nhờ đó, tâm lý con người được bộc lộ, khách quan hóa trong quá trình tạo ra sản phẩm Trong quá trình này có sự xuất hiện và thể hiện hình ảnh tâm lý của con người (chủ thể) trong khách thể (sản phẩm hoạt động)

- Quá trình chủ thế hóa (còn gọi là quá trình nhập tâm): Thông qua các các

hoạt động, con người tiếp thu lấy tri thức, đúc rút được kinh nghiệm, phản ánh

những thuộc tính của đối tượng, phương tiện lao động, để làm giàu ý thức, tâm

lý của bản thân mình Trong quá trình này, con người khám phá, tiếp thu, lĩnh hội những đặc điểm của thế giới bên ngoài, rèn luyện những phẩm chất, năng lực, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm cần thiết cho bản thân

Từ đó, có thể đưa ra khái niệm hoạt động như sau:

Hoạt động là quá trình con người tác động đến thế giới bên ngoài, đến người khác và với bản thân, xuất phát từ những động cơ nào đó, nhằm đạt mục đích được đặt ra một cách có ý thức, để thỏa mãn nhu cầu và hứng thú của bản thân và đáp ứng đòi hỏi của tổ chức, của xã hội đối với họ

Như vậy, hoạt động của con người có những đặc điểm như:

- Được xuất phát từ những động cơ nào đó;

- Có mục đích được đặt ra trước;

- Gồm nhiều hành động làm thay đổi thế giới bên ngoài, thay đổi người khác và chính bản thân họ

1.1.3 Khái niệm hoạt động học tập

Học theo nghĩa phổ thông là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm, tạo ra

sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi của con người Học có thể diễn ra

Trang 17

theo nhiều cách thức: thông qua trải nghiệm trong cuộc sống, qua thực hành, qua truyền nghề, quan sát, điều chỉnh, rút kinh nghiệm Trong khi đó, hoạt động học tập là hoạt động được thực hiện theo phương pháp nhà trường, được tổ chức bài bản theo những nội dung và phương pháp được xác định trước, với các thiết chế nhất định Hoạt động học tập do người học thực hiện, dưới sự hướng dẫn của người dạy (người thầy), với mục đích lĩnh hội tri thức, khái niệm khoa học, cũng như hình thành những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, làm phát triển trí tuệ, năng lực, giúp con người giải quyết các nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra

Có thể nói, hoạt động học là hoạt động do người học thực hiện một cách

tự giác, dưới sự hướng dẫn của người dạy, nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và hoạt động mới, nhằm phát triển nhân cách của chính họ

Như vậy, hoạt động học tập là một hoạt động đặc thù của con người Hoạt động này hướng đến đối tượng là tri thức, hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, phương thức hành vi và hoạt động mới, nhằm thay đổi bản thân người học

Hoạt động học tập của người học thường gắn liền với hoạt động giảng dạy của người thầy Tuy nhiên, ở những thời điểm nhất định, hoạt động học của người học không chịu sự hướng dẫn trực tiếp của người thầy Đó là hoạt động tự học Sự kết hợp giữa hoạt động tự học và hoạt động học theo phương thức nhà trường là hết sức cần thiết, nhằm làm cho hoạt động học tập đạt hiệu quả cao nhất Vậy hoạt động tự học là gì?

1.1.4 Khái niệm hoạt động tự học

Tác giả Thái Duy Tuyên trong tác phẩm: Dạy tự học cho sinh viên trong

các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học viết “Tự học là

hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành

sở hữu của chính bản thân người học”.[56]

Trang 18

Tác giả Lê Khánh Bằng cho rằng tự học là việc bản thân người học phải huy động các năng lực phẩm chất trí tuệ của mình chiếm lĩnh những tri thức khoa học và biến những tri thức đó thành vốn kinh nghiệm của bản thân, theo tác

giả: "Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm

lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định".[4, Tr.3]

Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn lại cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy

nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào

đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”.[53, Tr.59]

Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: "Tự học là công việc tự giác của mỗi

người do nhận thức được đúng đắn vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ xã hội".[22, tr.1]

Tự học luôn đi cùng gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy Để có được, đạt tới hoàn thiện thì mỗi học sinh, sinh viên phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn, tự thân rèn luyện các kỹ năng, tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi, mọi lúc

Tự học giúp con người tìm ra những điều mới, tri thức mới, cách thức

học cũng góp phần hình thành kỹ năng, kỹ xảo và phát triển hoàn thiện nhân

hơn Tự học không chỉ là lĩnh hội tri thức khoa học mà còn bao gồm kinh nghiệm sống, lao động và học tập, chiếm lĩnh những giá trị văn hóa xã hội của nhân loại và dân tộc trong quá khứ, lịch sử và hiện tại, tự học là phương tiện và mục tiêu của quá trình đào tạo

Tự học độc lập là dạng tự học ở mức độ cao nhất nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết riêng, mở rộng tri thức ở bên ngoài Tự học độc lập đòi hỏi tính tự giác

Trang 19

cao của người học nên biện pháp quản lý tốt nhất là quản lý sản phẩm người học hoàn thành

Như vậy, hoạt động tự học là hoạt động do người học thực hiện một

cách tự giác, dưới sự hướng dẫn không trực tiếp của người dạy, với mục đích lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và hoạt động mới, nhằm phát triển nhân cách của chính họ để có thể giải quyết những nhiệm vụ của cuộc sống

Phạm vi của tự học rất rộng, tác giả chỉ quan tâm hoạt động tự học gắn với hoạt động học tập theo phương thức nhà trường Hơn thế, hoạt động tự học của người học gắn với hoạt động học tập theo phương thức nhà trường có thể diễn ra ở trong lớp học và ở ngoài lớp học Trong nghiên cứu này, tác giả chủ yếu tìm hiểu hoạt động tự học diễn ra ngoài thời gian lên lớp

1.1.5 Khái niệm quản lý tự học của học của học viên

Quản lý HĐTH là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng, là bộ phận cấu thành nên hệ thống quản lý quá trình giáo dục, đào tạo trong nhà trường Quản lý HĐTH của

HV bao gồm hai quá trình cơ bản là quản lý HĐTH trong giờ lên lớp và quản lý HĐTH ngoài giờ lên lớp, được tiến hành trên cả hai phương diện ở trường và ở nhà Tuy nhiên, đối với trường cao đẳng cảnh sát nhân dân thì công tác quản lý HĐTH của HV được diễn ra hoàn toàn trong môi trường nhà trường

Quản lý HĐTH đối với các trường trong lực lượng Công an nhân dân được thực hiện căn cứ các quy định của Bộ Công an và Bộ Giáo dục và Đào tạo

Cụ thể, Thông tư số 50/2009/TT-BCA(X11) ngày 01/9/2009 của Bộ Công an quy định về công tác quản lý, giáo dục HV các học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp Công an nhân dân ghi rõ nguyên tắc quản lý giáo dục HV là:

“kết hợp chặt chẽ các biện pháp quản lý với việc sử dụng các quy luật của hoạt

động giáo dục, coi trọng ý thức tự giác, tự quản của học viên, lấy giáo dục là biện pháp chủ yếu; phát huy sức mạnh tổng hợp của các đơn vị, đoàn thể, cá nhân và nhà trường trong công tác quản lý giáo dục học viên” Theo đó, nhà

Trang 20

trường luôn coi quản lý HĐTH là một nội dung cơ bản của quản lý giáo dục, luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất cho HĐTH góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo

Trong nghiên cứu này, quản lý hoạt động tự học của học viên được hiểu

là: sự tác động của cán bộ quản lý, các đơn vị chức năng liên quan, đội ngũ

giáo viên và các tổ chức đoàn thể khác đến quá trình tự học của học viên nhà trường, làm cho họ chủ động, tích cực lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và hoạt động mới và phát triển nhân cách của chính họ

để có thể giải quyết những nhiệm vụ nghề nghiệp và nhiệm vụ trong cuộc sống

1.2 Lí luận về hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân

1.2.1 Mục tiêu hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân

- Về kiến thức: HV củng cố những kiến thức đã được học, dưới sự hướng

dẫn trực tiếp của giáo viên trên lớp, đồng thời, tìm tòi thêm thông tin về kiến thức

có liên quan đến bài học ở các tài liệu tham khảo nhằm nắm vững kiến thức các môn học bắt buộc và môn học tự chọn trong chương trình giáo dục Đại học, Cao đẳng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như Bộ Công an

HV được khuyến khích tự học, học đăng kí học thêm một số môn học hoặc văn bằng, chứng chỉ của ngành học khác theo quy định của Bộ Công an và của nhà trường; được tạo điều kiện thuận lợi trong việc học tập, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác do bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an và nhà

theo sở thích cá nhân về các lĩnh vực như tự nhiên, xã hội, nghệ thuật, thể dục thể thao, võ thuật… để mở rộng kiến thức và phát triển phát triển, nâng cao thể

bản thân, nâng cao khả năng thích ứng, phục vụ yêu cầu công tác sau khi rời ghế nhà trường

Trang 21

- Về kĩ năng: Muốn có kết quả cao trong học tập, thì việc thực hành để biến

kiến thức lý luận thành kĩ năng của HV là vô cùng quan trọng Bởi lẽ kĩ năng tự học của HV giúp cho việc tự học trở nên hiệu quả, chất lượng hơn Để có kĩ năng

tự học, trước hết HV phải có kỹ năng làm việc độc lập, tự giác, phát huy tính tích cực để chiếm lĩnh hệ thống tri thức Nhận thức được điều này, nhà trường đã quán triệt tới toàn thể GV chủ nhiệm, và các GV bộ môn phối hợp giao bài và hướng dẫn kỹ năng tự học cho các em ngay từ những ngày đầu nhập trường, định kỳ trong các buổi thảo luận về phương pháp dạy và học của nhà trường đều có nội dung nâng cao kỹ năng tự học của HV Nhà trường luôn xác định kỹ năng tự học

là điều kiện tiên quyết biến động cơ, mục đích tự học thành kết quả cụ thể Việc rèn luyện kỹ năng tự học của HV được quan tâm thường xuyên và thực hiện một cách nghiêm túc ngay những ngày đầu HV vào trường

Đối với kĩ năng tự học, nhà trường trú trọng, quan tâm, bồi dưỡng tới ba kỹ năng cốt lõi sau: Kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá kết quả:

- Về thái độ:

Thái độ trong HĐTH có sự ảnh hưởng lớn tới mục tiêu và kết quả tự học của HV Nhận thức về mục tiêu, tầm quan trọng, ý nghĩa của HĐTH là tiền đề để HV có thái độ tích cực về HĐTH Thái độ tự học được thể hiện ở việc chủ động, độc lập sáng tạo, luôn mong muốn GV giao các nhiệm vụ học tập, hăng hái tìm tài liệu tham khảo, sách báo để củng cố, nâng cao và mở rộng kiến thức của mình

Nhà trường luôn mong muốn tạo cho các HV thái độ đúng đắn, nghiêm túc trong học tập, và đồng thời thái độ đối với HĐTH của các em cũng là căn

cứ để điều chỉnh việc quản lý HĐTH của nhà trường cho phù hợp Đối với những HV có thái độ đối với HĐTH thường có ý thức chuẩn bị bài trước giờ lên lớp, chú ý nghe giảng, hăng hái phát biểu ý kiến, hoàn thành các nhiệm vụ học tập được giao một cách đầy đủ, chất lượng Các em tự tạo cho bản thân

Trang 22

một kế hoạch tự học hợp lý, kiên trì theo đuổi mục tiêu đã đề ra và đạt kết quả học tập cao

1.2.2 Nội dung tổ chức hoạt động tự học của học viên Trường Cao

- Nội dung tự học cơ bản

HV phải hoàn thành theo chương trình dạy học trên lớp theo yêu cầu của

góp phần chuyển hóa quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của nhà

đúng nội dung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an đã đề ra Nội dung của HĐTH đối với Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I cơ bản bao gồm ba lĩnh vực chính là: Chuyên môn, pháp luật, nghiệp vụ

- Nội dung tự học mở rộng

Nội dung tự học mở rộng là những kiến thức, kỹ năng thiết thực để các

HV có thể vận dụng xử lý tốt công việc sau khi ra trường Nhà trường cũng có những gợi mở, định hướng thêm làm phong phú hơn cho nội dung tổ chức tự học Nội dung tự học mở rộng giúp người học củng cố, bổ sung kiến thức và

qua các kênh thông tin như sách tham khảo, sách nâng cao, đặc biệt thông qua

1.2.3 Hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân

Mỗi môn học đều có hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động tự học riêng Đối với HV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I, các môn học chủ yếu mang tính chất xã hội, nên việc tự học đòi hỏi cần có nhiều thời gian nghiên cứu giáo trình và có sự hướng dẫn giải đáp của thầy, cô giáo, hình

Trang 23

thức tự học phổ biến là tự học có sách, có GV hướng dẫn, bên cạnh đó còn có các hình thức tự học khác là tự học có sách nhưng không có GV, tự học không

có hướng dẫn…

- Tự học có sách, có thầy hướng dẫn được chia làm hai dạng tự học

có sách và không có thầy thường xuyên và tự học có sách và có thầy thường xuyên

Tự học có sách và không có thầy thường xuyên: HV chỉ gặp GV, người

hướng dẫn để nhận sự định hướng, gợi ý, giải đáp thắc mắc, phần lớn thời gian

HV tự học với sách và tài liệu Dạng tự học này phù hợp với các bộ môn nghiệp

vụ chuyên môn mang tính chất hàn lâm, đòi hỏi sự nghiên cứu tài liệu, tư liệu lịch sử, sách báo của HV Đối với hình thức tự học này, GV có vai trò là nhân tố

chủ thể của quá trình nhận thức tự giác, tích cực, tìm tòi và tự tham gia vào quá trình học tập Mối quan hệ giữa thầy và trò chính là mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, ngoại lực rất quan trọng nhưng chỉ là chất xúc tác, thúc đẩy nội lực phát triển

Tuy người học không thường xuyên gặp GV nhưng dưới sự hướng dẫn các nội dung chính yếu, cốt lõi người học phải phát huy tính tích cực, chủ động

hướng về nội dung, phương pháp tự học để HV thực hiện Dạng tự học này thường gặp ở cuối các kì học, môn học, khi GV giao nhiệm vụ viết bài tổng kết hoặc thu hoạch

Tự học có sách và có thầy thường xuyên: là hình thức tự học mà HV được

GV hướng dẫn, gợi mở nội dung học tập ở trên lớp và trên cơ sở đó các HV trao đổi, thảo luận với nhau hoặc về kí túc xá tự học Ví dụ như trong các buổi thảo luận chung, Semina, sau khi GV giao chủ đề các HV sẽ tự thảo luận nhóm nhằm hoàn thành nhiệm vụ, hoặc GV giao nhiệm vụ, hướng dẫn HV nghiên cứu trước tài liệu trước giờ lên lớp…Tự học có thầy hướng dẫn thường diễn ra trong các tiết học nghiệp vụ, các nhóm HV cùng trao đổi về tình huống nghiệp vụ

Trang 24

- Hình thức tự học có sách nhưng không có thầy bên cạnh được chia

thành 2 dạng, dạng tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy và

dạng tự học có thầy ở xa hướng dẫn

Tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy: thông qua giáo

trình, sách HV tự học, tự thẩm thấu các kiến thức để phát triển tư duy Hình thức

tự học này là mục tiêu mà mọi người phải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập, học tập suốt đời

Tự học có thầy ở xa hướng dẫn: việc trao đổi thông tin giữa thầy với trò

dưới dạng giải đáp thắc mắc, nhận xét, đánh giá,

Tự học không có hướng dẫn, người học tự mày mò, tự nghiên cứu theo sở

thích và hứng thú riêng biệt không có sách và không có sự hướng dẫn của GV Với hình thức tự học này, người học phải có một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới, đồng thời phải có một số nền tảng, trình độ nhất định Hình

thức này thường gặp ở các HV năm cuối và thường ở các nôm thể dục, võ thuật

Qua phân tích các hình thức và phương pháp tổ chức tự học luận văn nhận thấy: Mỗi hình thức tự học đều có những ưu, nhược điểm riêng, không có hình thức nào chiếm ưu thế tuyệt đối, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau Tùy từng môn học, trình độ, hoàn cảnh mà mỗi HV lựa chọn hình tự học phù hợp nhất, có thể lựa chọn một hình thức tự học hoặc kết hợp thêm các hình thức khác để đạt được hiệu quả tốt nhất

Trong phạm vi của đề tài, luận văn xin phép chỉ đề cập đến dạng tự học có sách, có GV hướng dẫn thường xuyên, để HV có thể tự học ngay trong giờ học trên lớp và tự học ngoài giờ lên lớp

1.2.4 Đánh giá kết quả tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân

Được sự quan tâm của nhà trường, kết quả tự học của HV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I đã thu được kết quả nhất định Phần lớn HV đã ý thức được tầm quan trọng của việc tự học, đề ra những mục tiêu cụ thể rõ ràng cho từng giai đoạn, các kế hoạch tự học sát với chương trình học tập của lớp, ngành học Các HV đã biết tự tổ chức, sắp xếp tranh thủ thời gian bám sát kế hoạch để

Trang 25

thực hiện các nội dung đã đề ra Ngoài thời gian tự học tại nơi ở, các HV đã thực hiện nghiêm túc các quy định của việc tự học tại thư viện Đi cùng hiệu quả việc

tự học của HV, nhờ đó chất lượng học tập của HV cũng đã được nâng cao rõ rệt

1.3 Lý luận về quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân

1.3.1 Các chủ thể quản lý hoạt động tự học của học viên trường cao đăng cảnh sát nhân dân

* Chủ thể quản lý hoạt động tự học của học viên gồm: Ban Giám hiệu, đứng đầu là Hiệu trưởng, người chịu trách nhiệm chỉ đạo các nội dung quản lý hoạt động tự học như tổ chức, quản lý, kiểm tra, đánh giá và giám sát công tác quản

lý hoạt động tự học của HV; các đơn vị chức năng liên quan bao gồm: Phòng Quản

lý học viên, Phòng Đào tạo, khoa bộ môn; đội ngũ giáo viên bao gồm GV chủ nhiệm và GV bộ môn, trong đó GV chủ nhiệm là người trực tiếp tham gia công tác

tổ chức và quản lý HĐTH của HV, cũng là người có vai trò và ảnh hưởng mạnh mẽ tới kết quả và chất lượng quản lý HĐTH; các tổ chức khác trong nhà trường như: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên, Các câu lạc bộ năng khiếu… tùy theo quy chế tổ chức hoạt động, các tổ chức này sẽ tham gia vào công tác quản lý và tổ chức HĐTH theo cách thức và vai trò khác nhau

* Khách thể quản lý hoạt động tự học của HV các trường cao đẳng cảnh sát là HV đang học tập tại các trường đó

* Phạm vi Quản lý HĐTH của HV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân: trong thời gian học tập tại các trường cao đẳng, đại học thuộc lực lượng công

an nhân dân, HV bắt buộc sống và học tập tại ký túc xá của nhà trường, do đó, quản lý hoạt động tự học của HÀNH VI được diễn ra hoàn toàn trong môi trường nhà trường và chủ yếu diễn ra ngoài giờ lên lớp

1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động tự học của học viên Trường cao đẳng Cảnh sát nhân dân

1.3.2.1 Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động tự học của học viên Trường cao đẳng Cảnh sát nhân dân

Trang 26

Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an và điều kiện thực tế của nhà trường, Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Phòng Quản lý học viên dự thảo kế hoạch công tác năm học của nhà trường theo từng năm học Dự thảo kế hoạch được lãnh đạo các phòng, bộ môn thảo luận, đóng góp ý kiến bổ sung trong giao ban lãnh đạo nhà trường với lãnh đạo các đơn vị Sau khi kế hoạch được thông qua, Hiệu trưởng nhà trường duyệt để thực hiện

Dựa vào kế hoạch quản lý HĐTH của nhà trường, trưởng các khoa, phòng, bộ môn lập kế hoạch chi tiết, trình Ban Giám hiệu phê duyệt, sau đó triển khai đến các tổ viên để thực hiện Các GV căn cứ vào kế hoạch của nhà trường, kế hoạch phòng, khoa và nhiệm vụ được giao để triển khai tổ chức thực hiện

Hiệu trưởng căn cứ vào kế hoạch chung của trường cũng như các khoa phòng để kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, của các thành viên trong nhà trường, đặc biệt vào thời điểm cuối năm học hoặc cuối học kỳ

Cán bộ xây dựng quản lý kế hoạch tự học phải bảo đảm về mục tiêu, yêu cầu, tính thống nhất cũng như tính khả thi của kế hoạch trước khi trình người chịu tránh nhiệm chung việc quản lý kế hoạch tự học là Hiệu trưởng

1.3.2.2 Tổ chức thực hiện hoạt động tự học của học viên Trường cao đẳng Cảnh sát nhân dân

- Tổ chức xác định nội dung tự học của học viên

Quản lý nội dung tự học của HV nhằm nâng cao chất lượng học tập của

HV phát huy hiệu quả thời gian ngoài giờ lên lớp, hướng HV tập trung vào những nội dung học tập mà nhà trường và bộ môn đã đề ra, đồng thời nâng cao trách nhiệm của GV bộ môn đối với HĐTH của HV Nội dung này luôn được Trường cao đẳng Cảnh sát nhân dân I hết sức coi trọng

Trang 27

Nhà trường luôn hướng dẫn nội dung tự học cho HV phù hợp mục tiêu, yêu cầu của môn, từng giai đoạn học Trong đó tập trung vào các nội dung tự học có tính chất bắt buộc do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an quy định và các nội dung tự học có tính chất mở rộng, nâng cao

- Quản lý việc bồi dưỡng phương pháp tự học

Trong điều kiện đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay, dưới tác động của nhiều yếu tố hiện đại như sự bùng nổ thông tin, tinh tế tri thức, nhà trường đã rất linh hoạt trọng hoạt động quản lý bồi dưỡng phương pháp tự học Theo

đó, nhà trường đã luôn đổi mới về biên soạn nội dung dạy học, cách dạy học

và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cũng như HĐTH, giúp cho HV khắc phục những hạn chế trong phương pháp học như, phương pháp tự học còn thụ động, thiếu tích cực, chưa nắm được thực chất nội dung lý luận

Về nguyên tắc, phương pháp tự học có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố của quá trình giáo dục và bị chi phối bởi các yếu tố đó, đặc biệt là phương pháp dạy Nhà trường đã luôn chú trọng việc đổi mới phương pháp dạy học, tác động thay đổi, định hướng phương pháp tự học cho HV

Song song với việc quản lý bồi dưỡng phương pháp tự học là bồi dưỡng động cơ, thái độ, trách nhiệm cho HV Hoạt động tự học phải được bắt đầu bằng động cơ, thái độ học tập đúng đắn, từ đó hình thành cách học, phương pháp, kỹ năng tự học phù hợp Do vậy, nhà trường đã luôn quan tâm hướng dẫn, bồi dưỡng và rèn luyện kỹ năng tự học cho HV từ những ngày đầu nhập trường từ đó xây dựng được phương pháp tự học HV có trách nhiệm xây dựng phương pháp tự học phù hợp cho bản thân làm động lực thúc đẩy nâng cao kết quả học tập GV chủ nhiệm, GV bộ môn, cán bộ lớp là người hướng dẫn và tạo điều kiện để HV xây dựng kế hoạch tự học và lựa chọn phương pháp tự học phù hợp

Việc quản lý bồi dưỡng phương pháp tự học cho HV là một vấn đề quan trọng, đã được nhà trường quan tâm, đẩy mạnh Tuyên truyền cho GV

Trang 28

trong nhà trường nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn cũng như thực tiễn

áp dụng trong giảng dạy giúp phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HV, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, phù hợp với đổi mới phương pháp giảng dạy

1.3.2.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động tự học của học viên Trường cao đẳng Cảnh sát nhân dân

Chỉ đạo việc xây dựng và quản lý kế hoạch tự học của HV Đây là khâu mấu chốt quan trọng giúp nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của HV Công tác xây dựng và quản lý kế hoạch phải được thực hiện theo nội dung, kết cấu chương trình học theo từng năm học Tùy theo điều kiện và nhu cầu đào tạo từng năm học, từng thời điểm, nhà trường có những chỉ đạo phù hợp như:

Chỉ đạo GV hướng dẫn, giúp đỡ HV xây dựng kế hoạch tự học

Chỉ đạo GV giúp HV thường xuyên điều chỉnh kế hoạch tự học phù hợp với thực tế

Quản lý việc thực hiện kế hoạch tự học của HV: đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, tuyên dương kịp thời những học sinh thực hiện tốt kế hoạch tự học

Quản lý nội dung tự học của HV như: GV bộ môn giao nội dung tự học cụ thể cho HV, tăng cường kiểm tra thực hiện nội dung tự học của HV

1.3.2.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học của học viên Trường cao đẳng Cảnh sát nhân dân

Việc kiểm tra đánh giá hoạt động học tập, tự học của HV được nhà trường thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như đánh giá của GV, sự đánh giá nhận xét của tập thể, sự đối chiếu so sánh với mục tiêu ban đầu và bản thân tự đánh giá Việc đánh giá hoạt động tự học của HV vừa là động lực thúc đẩy quá trình giảng dạy, vừa là cơ sở giúp GV kịp thời điều chỉnh phương pháp dạy học, giúp HV thay đổi phương pháp tự học, nâng cao chất lượng tự học

Trang 29

Nhà trường giao Phòng Khảo thí và kiểm định chất lượng phối hợp với các khoa, bộ môn chịu trách nhiệm kiểm tra và đánh giá kết quả tự học của

HV, qua đó nắm bắt được tình hình giảng dạy của GV và chất lượng học tập của HV để có những kế hoạch điều chỉnh kịp thời

Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học bao gồm kế hoạch ngắn hạn (hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng), kế hoạch dài hạn (theo học kỳ, theo năm học) của HV và thực hiện kế hoạch tự học theo mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ học tập nhằm phát hiện những sai lệch giúp HV kịp thời điều chỉnh kế hoạch

1.4.2 Vai trò của chủ thể quản lý

Quản lý HĐTH có phạm vi rất rộng, bản thân người quản lý chưa được đào tạo lĩnh vực quản lý HĐTH, quỹ thời gian dành cho quản lý HĐTH rất ít, không có văn bản, tài liệu hướng dẫn, người quản lý chủ yếu dựa trên kinh nghiệm bản thân

để quản lý hoạt động này

1.4.3 Đối tượng chịu tác động quản lý

Tự học đòi hỏi quá trình rèn thường xuyên, luyện lâu dài của mỗi cá nhân, xong bản thân người học chưa có nhu cầu, chưa xác định được mục đích học tập, còn có tâm lý đám đông, học tập theo phong trào, HV còn chịu nhiều tác động khách quan từ trường bên ngoài

Trang 30

Tiểu kết chương 1

Quản lý hoạt động tự học của HV có vị trí rất quan trọng trong quá trình dạy học Đây là vấn đề được các nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước nghiên cứu từ nhiều năm trước Quản lý HĐTH nhằm thúc đẩy HV tự giác, tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân

và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

Vì vậy, Bộ Công an cũng như Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I đã

có những đầu tư thích đáng cho HĐTH, chú trọng việc quản lý kế hoạch tổ chức HĐTH, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, tạo điều kiện cho HĐTH đạt kết quả tốt

Với phạm vi đề tài, trong Chương 1, luận văn tập trung làm rõ tính cấp thiết của đề tài; làm rõ mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Bên cạnh đó, luận văn đã trình bày nhận thức chung về quản lý, hoạt động

tự học, quản lý hoạt động tự học của HV… đồng thời đi sâu làm rõ một số nội dung chủ yếu như: quản lý hoạt động tự học của HV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I, một số vấn đề về hoạt động tự học của HV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I và nội dung quản lý hoạt động tự học của HV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

Những nội dung cơ bản trình bày ở Chương 1 là luận cứ định hướng cho việc khảo sát tình hình thực trạng ở Chương 2; đồng thời là cơ sở đánh giá kết quả quản lý HĐTH của HV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN I 2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

2.1.1 Lịch sử phát triển của nhà trường

Trụ sở chính đặt tại: xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I được hình thành và phát triển trên

cơ sở sáp nhập nhiều Trường của lực lượng cảnh sát nhân dân qua nhiều giai đoạn khác nhau Tiền thân của Trường là phân hiệu Cảnh sát nhân dân thuộc Trường Công an Trung ương (theo Quyết định số 155A-QĐ/BCA ngày 30/12/1965 của Bộ trưởng Bộ Công an) Tiền thân trực tiếp của trường là Trường Trung học Cảnh sát nhân dân I và Trường Trung học Cảnh sát nhân dân III

Trường Trung học Cảnh sát nhân dân I được thành lập theo Quyết định số 08/QĐ-BNV ngày 20/2/1989 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) trên cơ sở sáp nhập 3 Trường Cao đẳng: Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I, Cao đẳng Cảnh sát bảo

vệ và Cao đẳng Cảnh sát trại giam

Trường Trung học Cảnh sát nhân dân III được thành lập theo Quyết định

số 08/QĐ-BNV ngày 20/2/1989 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) trên cơ sở sáp nhập 2 Trường Trung học: Trung học Cảnh sát nhân dân thành phố Hà Nội

và Trung học Cảnh sát nhân dân thành phố Hải Phòng

Ngày 4/10/1993, Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ký Quyết định

số 402/QĐ-BNV sáp nhập Trường Trung học Cảnh sát nhân dân I và Trung học Cảnh sát nhân dân III thành Trường Trung học Cảnh sát nhân dân I

Ngày 25/12/2006, Bộ trưởng Bộ Công an ký Quyết định số 2012/2006/QĐ- BCA(X13) quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân I, tên Trường được đổi từ Trường Trung học Cảnh sát nhân dân I thành Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân I

Ngày 9 tháng 7 năm 2013, đồng chí Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng Bộ Giáo dục & đào tạo đã ký quyết định số 2509/QĐ - BGDĐT về việc thành lập Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I Trên cơ sở đó, ngày 2 tháng 8 năm 2013, đồng chí Đại tướng Trần Đại Quang, Bộ trưởng Bộ Công an ký quyết định số 4211/QĐ - BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

Trang 32

Thực hiện Quyết định số 391/QĐ-LĐTBXH Ngày 06/4/2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sáp nhập Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang,

Cơ sở 1 của Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân VI vào Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

Trải qua 55 năm xây dựng và phát triển, Trường cao đẳng Cảnh sát nhân dân I đã giảng dạy nhiều bậc học (cao đẳng, trung học, sơ học), nhiều loại hình đào tạo (tập trung, vừa làm vừa học, bồi dưỡng ) HV của Trường có mặt ở hầu hết các địa phương và các lĩnh vực công tác, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ An ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội của đất nước, bình yên của nhân dân

Đội ngũ giảng viên và CBQL giáo dục của Nhà trường đã trưởng thành về mọi mặt: luôn tích cực trong nghiên cứu khoa học, biên soạn giáo trình và tài liệu dạy học; thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học, gắn lý luận với thực tiễn công tác Công an; duy trì phong trào dạy tốt, học tốt và không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Trong quá trình xây dựng và phát triển, Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I luôn phấn đấu đạt nhiều thành tích xuất sắc trong công tác giảng dạy, đóng góp cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo của lực lượng Công an nhân dân nói chung và Cảnh sát nhân

Công an, Bộ giáo dục và Đào tạo tặng thưởng nhiều danh hiệu thi đua cao quý như: 01 Huân chương Hồ Chí Minh, 03 Huân chương Quân công các hạng, 02 Huân chương Chiến công các hạng, 03 Cờ thi đua của Chính phủ, 06 Cờ thi đua của Đảng ủy Công

an Trung ương, 21 Cờ thi đua của Bộ Công an, 05 Cờ thi đua của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 03 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ

Phát huy truyền thống, Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng các mặt công tác, cải tiến bộ máy tổ chức, trang bị cơ sở vật chất ngày càng hiện đại để xứng đáng là một trong những trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học hàng đầu của Ngành Công an và của cả nước

2.1.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Trường hiện tại

- Ban Giám hiệu: Gồm Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng

- Tổ chức bộ máy gồm 22 đơn vị: 08 Phòng chức năng; 05 Bộ môn cơ bản, cơ sở; 07 Khoa nghiệp vụ chuyên ngành và 02 Trung tâm

Trang 33

- Các phòng chức năng (8 đơn vị): Phòng Hành chính tổng hợp; Phòng Xây

dựng lực lượng; Phòng Hậu cần; Phòng Quản lý học viên; Phòng Quản lý nhà ăn; Phòng Quản lý đào tạo; Phòng Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học; Phòng Khảo thí

và bảo đảm chất lượng

- Các Bộ môn cơ bản, cơ sở (5 đơn vị): Bộ môn Khoa học chính trị - xã

hội; Bộ môn Pháp luật; Bộ môn Quân sự, Võ thuật, Thể dục thể thao; Bộ môn Ngoại ngữ - Tin học; Bộ môn Nghiệp vụ cơ sở

- Các Khoa nghiệp vụ chuyên ngành (7 đơn vị): Khoa nghiệp vụ Quản lý

hành chính về trật tự xã hội; Khoa nghiệp vụ Cảnh sát giao thông; Khoa nghiệp vụ Cảnh sát phòng, chống tội phạm hình sự; Khoa nghiệp vụ Cảnh sát phòng, chống tội phạm kinh tế; Khoa nghiệp vụ Cảnh sát phòng chống tội phạm về ma tuý; Khoa nghiệp vụ Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường; Khoa Kỹ thuật hình sự

- Các Trung tâm (02 đơn vị): Trung tâm Thông tin khoa học và tư liệu

giáo khoa; Trung tâm Dạy nghề và đào tạo lái xe

2.1.3 Đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường

Tổng số cán bộ, GV của Trường hiện có 652 người, trong đó có 531 người trong biên chế lực lượng Công an nhân dân Trong đó: 52,3% là GV, 15,03% là cán bộ QLGD và 32,67% là cán bộ tham mưu, phục vụ Về trình độ, có 02 đồng chí có trình độ tiến sĩ, 16 đồng chí đang nghiên cứu sinh, 87 đồng chí thạc sĩ và

86 đồng chí đang học cao học

Đa số GV trẻ chiếm tỷ lệ cao, số GV có thời gian làm GV trên 10 năm là

45 đồng chí (15,4%), từ 5 năm đến 10 năm là 78 đồng chí (26,6%), số GV dưới

10 năm là 91 đồng chí (42%) và số đang trong thời gian tập sự giảng dạy là 79 đồng chí (31.1%) Đội ngũ GV của trường luôn tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực và tư duy sáng tạo của HV Năm học 2010 - 2011, có 11 GV dạy giỏi cấp Bộ và 55 GV dạy giỏi cấp Trường; năm học 2011 - 2012, có 12 GV dạy giỏi cấp Bộ và 36 GV dạy giỏi cấp Trường, đặc biệt nhà trường luôn là đơn vị dẫn đầu trong các Hội thi GV dạy giỏi cấp Bộ khối các trường Trung cấp Công an nhân dân Với trình độ, năng lực và kinh nghiệm giảng dạy của đội ngũ GV hiện có, Nhà trường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ trung cấp theo chỉ tiêu Bộ giao

Trang 34

Về cán bộ QLGD

Cán bộ QLGD có 75 người, trong đó có 38,7% (29/75) cán bộ có trình độ trên đại học (01 tiến sĩ, 05 NCS, 13 thạc sĩ và 10 cao học)

2.1.4 Hoạt động đào tạo

2.1.4.1 Quy mô đào tạo

Trong thời gian gần đây, do chủ trương tinh gọn bộ máy, giảm biên chế trong lực lượng Công an nhân dân nên quy mô đào tạo của nhà trường có giảm hơn so với những năm trước, số lượng HV tuyển sinh hàng năm, các chuyên ngành đào tạo ngày càng thu hẹp

Bảng 2.1 Thống kê số lượng học viên và chuyên ngành đào tạo

trong 5 năm học gần đây

Trang 35

2.1.4.2 Kết quả học tập của học viên

Thống kê kết quả học tập của HV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

hệ chính quy trong 3 năm học gần đây cho ta kết quả như sau:

Bảng 2.2 Thống kê kết quả học tập của học viên Trường Cao đẳng

Cảnh sát nhân dân I hệ chính quy trong 3 khóa học gần đây

Khóa học

Năm học

Tổng

số học viên

2.2 Khái quát khảo sát thực trạng

2.2.1 Mục đích khảo sát

Đánh giá thực trạng HĐTH, thực trạng quản lý HĐTH của HV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I và những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng

2.2.2 Nội dung và phương pháp khảo sát

Thực trạng HĐTH của HV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I; Thực trạng quản lý HĐTH của HV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I; Nguyên

Trang 36

nhân của thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến HĐTH của HV ở Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

2.2.3 Địa bàn và khách thể khảo sát

Trưng cầu ý kiến của 100 CBQL, GV lãnh đạo nhà trường, trưởng, phó phòng quản lý HV, trưởng, bí thư và các phó bí thư đoàn trường, GV trực tiếp giảng dạy, GVCN và 100 HV của nhà trường

2.2.4 Quy trình khảo sát

Quan sát HĐTH của HV trong mối quan hệ với hoạt động giảng dạy và học tập, dựa vào kế hoạch quản lý HĐTH của nhà trường, Phòng Quản lý học viên, và GV chủ nhiệm, luận văn đã tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi, trao đổi với Ban Giám hiệu, GV chủ nhiệm, GV bộ môn và HV, sử dụng phương pháp thống kê để xử lý kết quả khảo sát

2.3 Thực trạng hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

Để nghiên cứu thực trạng HĐTH của HV Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I một cách khách quan, luận văn đã nghiên cứu các nội quy, quy định, các văn bản hướng dẫn của Ngành Công an, Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I, báo cáo sơ kết Đồng thời tiến hành quan sát HĐTH của HV, trao đổi với Ban Giám hiệu và các GV để có những nhận xét sơ bộ về HĐTH của HV

Trên cơ sở nhận xét sơ bộ về HĐTH của HV luận văn đã tiến hành hỏi ý

2.3.1 Nhận thức của học viên về vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết của hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

Tự học là một quá trình tự giác, tích cực và chủ động của mỗi HV, việc nhận thức đúng về vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết của HĐTH có ý nghĩa quyết định tới kết quả của HĐTH HV có nhận thức đúng, đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của

Để xác định thực trạng nhận thức của HV về vai trò, ý nghĩa của tự học, luận văn đã tiến hành khảo sát, đánh giá ý kiến với 9 câu hỏi, HV đánh dấu vào cột đồng ý hoặc không đồng ý; kết quả được thể hiện trong bảng 2.3

Trang 37

Bảng 2.3 Nhận thức của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân

dân I về vai trò, ý nghĩa của tự học

Ý kiến đánh giá Đồng ý

Giúp HV rèn luyện được cách

học tập, làm việc, tư duy khoa

Kết quả bảng 2.3 cho thấy, HV có nhận thức về vai trò, ý nghĩa của HĐTH ở các mức độ khác nhau Tất cả các HV tham gia khảo sát đều đồng ý với ý kiến HĐTH giúp HV có kết quả cao trong kiểm tra và các kỳ thi; điềunày hoàn toàn phù hợp với tâm lý chung của các HV, thường bị động trong học tập, sắp đến các kỳ thi, đợt kiểm tra mới tập trung vào việc học tập Tiếp

Trang 38

theo,tự học giúp HV củng cố kiến thức và hiểu bài sâu bài, mở rộng tri thức,

tự học giúp HV có thái độ tích cực lần lượt xếp ở vị trí thứ hai và thứ ba và thứ 4 Đối với quan điểm giúp HV rèn luyện hành vi, thói quen học tập liên tục, Giúp HV vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn tỉ lệ HV đồng ý rất ít chỉ

ở mức độ 45% và 40%

Qua phỏng vấn một số HV thì nhận thức của các em về vai trò, ý nghĩa

và sự cần thiết của HĐTH cũng ở các mức độ khác nhau: em Đ T.M (nam, 20 tuổi, HV năm thứ 2) - lớp Điều tra tổng hợp K54 cho rằng “Giúp HV phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập đồng thời giúp bản thân em rèn Giúp HV hình thành các kỹ năng phục vụ công tác sau này” Em H.M.H (nam, 19 tuổi, HV năm thứ 1) - lớp Phòng, chống tội phạm ma túy K54 cho rằng “Giúp HV hiểu sâu bài học và củng cố kiến thức và vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn”

Như vậy, HV của nhà trường đã có nhận thức tốt về vai trò, ý nghĩa của

tự học đối với bản thân HV Tuy nhiên, đa số HV mới chỉ nhận thức được vai trò của tự học có tính thực tế, trước mắt phục vụ các bài kiểm tra, bài thi, mà chưa nhận thức được tác dụng hiệu quả lâu dài của HĐTH đối với việc hình thành các kỹ năng; rèn luyện hành vi và phát huy tính sáng tạo, chủ động trong học tập

2.3.2 Mục đích, động cơ tự học của học viên Trường Cao đẳng

Cảnh sát nhân dân I

Tiến hành khảo sát, đánh giá về mục đích, động cơ tự học của HV

trong nhà trường, luận văn thu được kết quả như sau:

Trang 39

Bảng 2.4 Mục đích, động cơ tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

Kết quả cho thấy, đa số HV đều đồng ý với mục đích, động cơ học tập đúng đắn Tuy nhiên HV chỉ xác định được mục đích, động cơ tự học, đối với những mục tiêu trước mắt, ngắn hạn và có tác động ngay đến bản thân

- Tỷ lệ HV rất đồng ý với mục đích, động cơ tự học “Tự học để đạt điểm cao trong kiểm tra và các kỳ thi” và “Tự học để vui lòng thầy cô, cha

mẹ, người thân” lần lượt với tỉ lệ rất cao lần lượt là 72% và 64% Điều này cho thấy mục đích, động cơ tự học của HV chủ yếu vì những lợi ích cụ thể, trước mắt

- Với các mục đích, động cơ tự học, khi khảo sát với các nội dung “Tự học để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết rộng của bản thân”, “để có kiến thức vững vàng và tự khẳng định mình” tỉ lệ phần trăm đồng ý thấp hơn, tương ứng là 50% và 70% ở cấp độ rất đồng ý

Phỏng vấn trực tiếp một số HV như em H.T.T (nam, 20 tuổi, HV năm thứ 2)

- lớp Quản lý trật tự an toàn giao thông K54, em B.T.P (nam, 20 tuổi HV năm thứ

Tỉ

lệ (%)

Số

Trang 40

2) - lớp Cảnh sát phòng chống tội phạm kinh tế K54, em Đ.V.H (nam, 20 tuổi,

HV năm thứ 1) - lớp Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường K55,…cho biết các em chỉ thực hiện tự học theo yêu cầu của GV và để làm vui lòng cha mẹ, người thân chứ thực sự các em không thấy HĐTH có nhiều hữu ích, các em không thấy hứng thú khi tự học Tuy vậy vẫn còn một bộ phận nhỏ HV nhận thức chưa đúng đắn về mục đích, động cơ học tập, cụ thể 19% không đồng ý với quan điểm “Tự học để giúp ích cho công việc sau này” Số lượng HV Khóa K54 đồng ý quan điểm này cao hơn so với số lượng HV Khóa K55

Như vậy, chỉ còn số ít HV chưa ý thức rõ ràng về lợi ích, vai trò của tự học chưa có, động cơ, mục đích tự học chính đáng, việc tự học còn mang tính hình thức, học theo phong trào, chưa thể hiện tính tự giác Vì vậy, cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục hơn nữa về động cơ, mục đích tự học của HV để nâng cao nhận thức đến số HV trên, kịp thời khắc thục những sai lệch trong việc xác định thái độ, tư tưởng tự học của các HV, ảnh hưởng đến kết quả chung của HĐTH

2.3.3 Thực trạng lập kế hoạch tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

Qua khảo sát thực trạng việc lập kế hoạch tự học và mức độ thực hiện

kế hoạch tự học của HV, đã thu được kết quả thể hiện trong bảng 2.5 như sau:

Kết quả bảng 2.5 cho thấy: Tỷ lệ HV có kế hoạch từng ngày, từng tuần cao, đặc biệt 90% HV có kế hoạch từng ngày Đa phần HV đều đã lập

kế hoạch tự học, tuy nhiên tỷ lệ HV có kế hoạch tự học theo từng ngày, từng tuần chiếm tỉ lệ rất cao lần lượt là 90% và 69%, trong khi đó tỷ lệ HV

có kế hoạch tự học theo học kỳ, năm học rất thấp lần lượt là 38% và 25% Bên cạnh đó, tỷ lệ mức độ thực hiện kế hoạch tốt cũng chưa cao Như vậy,

kế hoạch tự học càng ngắn ngày thì việc thực hiện ở mức độ tốt và khá càng chiếm tỷ lệ cao

Ngày đăng: 18/06/2021, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w