1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả điều trị ung thư âm hộ di căn hạch bằng phẫu thuật kết hợp xạ trị gia tốc

165 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Kết Quả Điều Trị Ung Thư Âm Hộ Di Căn Hạch Bằng Phẫu Thuật Kết Hợp Xạ Trị Gia Tốc
Tác giả Lê Trí Chinh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Tuyên
Trường học Trường Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Ung Thư
Thể loại luận án tiến sĩ y học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN (13)
    • 1.1. Đặc điểm giải phẫu (13)
      • 1.1.1. Hình thể ngoài (13)
      • 1.1.2. Mạch máu (15)
      • 1.1.3. Thần kinh (15)
      • 1.1.4. Cấu trúc bạch huyết (16)
    • 1.2. Dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh ung thư âm hộ (18)
      • 1.2.1. Dịch tễ học (18)
      • 1.2.2. Các yếu tố nguy cơ (20)
      • 1.2.3. Tiến triển tự nhiên của ung thư âm hộ (21)
    • 1.3. Chẩn đoán bệnh ung thư âm hộ (21)
      • 1.3.1. Triệu chứng lâm sàng (21)
      • 1.3.2. Triệu chứng cận lâm sàng (22)
      • 1.3.3. Chẩn đoán xác định (22)
      • 1.3.4. Chẩn đoán giai đoạn (22)
    • 1.4. Đặc điểm giải phẫu bệnh học (25)
      • 1.4.1. Phân loại mô bệnh học (25)
      • 1.4.2. Đặc điểm mô bệnh học ung thư biểu mô vảy ở âm hộ (26)
      • 1.4.3. Phân độ mô học (28)
    • 1.5. Điều trị ung thư âm hộ di căn hạch bẹn (0)
      • 1.5.1. Phẫu thuật (29)
      • 1.5.2. Xạ trị (33)
      • 1.5.3. Hóa trị (39)
      • 1.5.4. Biến chứng trong quá trình điều trị (41)
    • 1.6. Các yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân ung thư âm hộ (0)
      • 1.6.1. Kích thước khối u âm hộ (42)
      • 1.6.2. Độ sâu xâm lấn mô đệm (43)
      • 1.6.3. Độ mô học khối u âm hộ (44)
      • 1.6.4. Diện cắt khối u âm hộ (44)
      • 1.6.5. Tình trạng di căn hạch bẹn (45)
      • 1.6.6. Các yếu tố khác (46)
    • 1.7. Các nghiên cứu về ung thư âm hộ di căn hạch bẹn tại Việt Nam và trên thế giới (0)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (49)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (50)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (50)
      • 2.3.1. Phương pháp nghiên cứu (50)
      • 2.3.2. Tính cỡ mẫu (50)
      • 2.3.3. Phương pháp tiến hành và quy trình thực hiện nghiên cứu (50)
      • 2.3.4. Các chỉ số, biến số trong nghiên cứu (58)
    • 2.4. Thu thập, phân tích, xử lý số liệu (64)
    • 2.5. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (64)
    • 2.6. Sơ đồ nghiên cứu (65)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (66)
    • 3.1. Đặc điểm của bệnh nhân trong nghiên cứu (66)
      • 3.1.1. Tuổi (66)
      • 3.1.2. Nghề nghiệp (67)
      • 3.1.3. Chỉ số toàn trạng (67)
      • 3.1.4. Triệu chứng lâm sàng (68)
      • 3.1.5. Tiền sử bệnh tật của bệnh nhân (71)
    • 3.2. Kết quả điều trị (71)
      • 3.2.1. Kết quả điều trị phẫu thuật (71)
      • 3.2.2. Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ (73)
      • 3.2.3. Phân loại giai đoạn bệnh sau mổ (76)
      • 3.2.4. Kết quả điều trị tia xạ (76)
      • 3.2.5. Đặc điểm tái phát, di căn (77)
      • 3.2.6. Thời gian sống thêm (80)
    • 3.3. Một số yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân ung thư âm hộ di căn hạch (0)
      • 3.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tái phát (82)
      • 3.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống thêm toàn bộ (86)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (97)
    • 4.1. Đặc điểm của bệnh nhân trong nghiên cứu (97)
      • 4.1.1. Tuổi mắc bệnh (97)
      • 4.1.2. Nghề nghiệp (98)
      • 4.1.3. Chỉ số toàn trạng (98)
      • 4.1.4. Triệu chứng lâm sàng (99)
      • 4.1.5. Tiền sử bệnh tật của bệnh nhân (104)
    • 4.2. Kết quả điều trị (104)
      • 4.2.1. Kết quả điều trị phẫu thuật (104)
      • 4.2.2. Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ (107)
      • 4.2.3. Phân loại giai đoạn bệnh sau mổ (114)
      • 4.2.4. Kết quả điều trị xạ trị (115)
      • 4.2.5. Đặc điểm tái phát, di căn (119)
      • 4.2.6. Thời gian sống thêm (122)
    • 4.3. Một số yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân ung thư âm hộ di căn hạch (0)
      • 4.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tái phát u âm hộ (123)
      • 4.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tái phát hạch bẹn (128)
      • 4.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống thêm toàn bộ (130)
  • KẾT LUẬN (137)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (141)
  • PHỤ LỤC (158)

Nội dung

TỔNG QUAN

Đặc điểm giải phẫu

1.1.1 Hình thể ngoài Âm hộ bao gồm gò mu, môi lớn, môi bé, âm vật, các tuyến tiền đình và tiền đình âm đạo

Hình 1.1 Đáy chậu và âm hộ [17]

Gò mu là một tổ chức nổi bật trước khớp mu, được che phủ bởi lông mu, nằm giữa hai nếp bẹn và phía trên môi lớn Dưới lớp da ở vùng gò mu, có một lớp mỡ dày cùng với các sợi tận cùng của dây chằng tròn và dây chằng treo âm vật, cũng như các sợi đàn hồi của môi lớn.

Môi lớn là hai nếp da lớn kéo dài từ gò mu ra sau, kết thúc ở đáy chậu, tạo thành giới hạn bên của âm hộ với kích thước khoảng 7-9 cm chiều dài và 2-4 cm chiều rộng Phía ngoài của môi lớn tiếp xúc với mặt trong đùi, trong khi phía trong được ngăn cách với môi nhỏ bởi rãnh gian môi Hai môi lớn gặp nhau ở phía trước tạo thành mép môi trước và ở phía sau là mép môi sau Da của môi lớn có sắc tố và chứa nang lông, tuyến mồ hôi và tuyến bã.

Môi bé là hai nếp da nhỏ, dài khoảng 5cm và rộng từ 0,5-1cm, nằm bên trong môi lớn, chia thành hai nếp trên và dưới, với nếp trên vòng quanh âm vật và nếp dưới tạo thành hãm âm vật Da của môi bé không có tổ chức mỡ, nang lông và ít tuyến mồ hôi, nhưng lại giàu tuyến bã Âm vật, một tạng nhỏ hình trụ nằm phía trên tiền đình, bao gồm da, mạc âm vật và vật hang, với hai vật hang được cơ ngồi hang bao bọc, tạo thành đầu âm vật được phủ bởi nếp da của môi bé.

Tiền đình âm đạo là khu vực trung tâm của âm hộ, được giới hạn bởi mặt trong của môi bé hai bên, với âm vật ở phía trước và hãm môi âm hộ ở phía sau Khu vực này chứa nhiều thành phần quan trọng.

Lỗ niệu đạo: dưới lỗ niệu đạo có chỗ lồi lên gọi là củ niệu đạo

Lỗ âm đạo: là một khe dọc hình bầu dục, phía trên là củ niệu đạo, phía dưới là hố thuyền nằm trước mép sau môi bé

Màng trinh: là một lá chắn ngang đầu ngoài âm đạo gồm hai lá niêm mạc gấp nếp lại, ở giữa có lỗ thủng

Hành âm đạo là cấu trúc nằm hai bên lỗ niệu đạo và âm đạo, có kích thước dài 3,5 cm, cao 1,5 cm và rộng 1 cm Hai hành âm đạo được kết nối với nhau ở phía trên thông qua các tĩnh mạch.

Tuyến Skene nằm dưới lớp niêm mạc, với ống Skene chạy song song và cách niệu đạo khoảng 1-1,5 cm Lỗ tiết của ống này mở vào tiền đình, nằm ở phía sau ngoài của lỗ niệu đạo.

Tuyến Bartholin là tuyến tiết nhầy nhỏ nằm trong tổ chức dưới da ở phần sau môi lớn, hai bên âm đạo, với ống tuyến đổ vào phần sau ngoài của tiền đình trong rãnh giữa màng trinh và môi nhỏ Đáy chậu sinh dục đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn cách giữa tiền đình âm đạo và hậu môn, tạo nên giới hạn sau của âm hộ.

1.1.2 Mạch máu Động mạch cấp máu cho vùng âm hộ gồm: Động mạch thẹn ngoài: tách từ động mạch đùi, cấp máu cho vùng gò mu, môi lớn, môi bé Động mạch thẹn trong: tách ra từ động mạch chậu trong, cho các nhánh đáy chậu nông, nhánh hang và nhánh mu âm vật cấp máu cho âm vật, hành tiền đình và các tuyến tiền đình

Tĩnh mạch: đổ vào tĩnh mạch mu nông, mu sâu rồi đổ vào các đám rối tĩnh mạch để về tĩnh mạch thẹn trong và tĩnh mạch thẹn ngoài [17], [18], [20]

Thần kinh gò mu và môi lớn được tạo thành từ các nhánh sinh dục của dây thần kinh chậu bẹn và thần kinh sinh dục đùi, cùng với các nhánh đáy chậu của thần kinh thẹn Ngoài ra, còn có một số sợi giao cảm và thực vật từ đám rối hạ vị đi vào hành tiền đình, tuyến tiền đình và vật hang âm vật.

Bạch huyết của âm hộ chảy vào các hạch bẹn nông, sâu và hạch chậu ngoài Hệ bạch huyết này được Way mô tả vào năm 1948, tiếp theo là nghiên cứu của Parry - John vào năm 1963 Nghiên cứu của Iversen và Aas cũng đã đóng góp đáng kể cho việc điều trị liên quan đến hệ bạch huyết này.

Nghiên cứu về việc tiêm technetium phóng xạ vào vùng môi lớn, môi nhỏ, âm vật và đáy chậu trước mổ cho thấy không có sự khác biệt trong đường dẫn bạch huyết tới hạch bẹn và hạch chậu Chỉ có âm vật và đáy chậu có sự lưu thông bạch huyết với bên đối diện, điều này giải thích tại sao di căn hạch bẹn hai bên có thể xảy ra ở những khối u khu trú một bên âm hộ Di căn hạch bẹn đối bên rất hiếm khi hạch bẹn cùng bên chưa bị di căn Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bạch huyết từ niệu đạo, âm đạo và đáy chậu đều đổ vào hạch chậu qua bạch huyết của âm hộ.

Hình 1.2 Vị trí hạch bẹn nông và hạch bẹn sâu [17]

Hạch lympho vùng bẹn, bao gồm hạch bẹn nông và hạch bẹn sâu, nằm trong tổ chức dưới da của tam giác đùi, còn được gọi là hạch đùi Các mạch bạch huyết thường chạy song song với các tĩnh mạch, và chúng được sắp xếp thành các nhóm hoặc các chặng, liên quan chặt chẽ với hệ thống tĩnh mạch.

+ Hạch bẹn nông: nằm dưới cân Camper và ở trên cân sàng, có 8-20 hạch xếp thành 4 nhóm

- Nhóm hạch tĩnh mạch hiển: nhận bạch huyết của chi dưới

- Nhóm hạch tĩnh mạch mũ chậu nông: nhận bạch huyết phía sau ngoài của đùi và mông

- Nhóm hạch tĩnh mạch thượng vị nông: nhận bạch huyết của thành bụng dưới và phía trên mu

- Nhóm hạch tĩnh mạch thẹn ngoài nông: nhận bạch huyết của cơ quan sinh dục ngoài, phần dưới âm đạo, đáy chậu và vùng quanh hậu môn

Hạch bẹn sâu bao gồm từ 1 đến 4 hạch, nằm dưới cân sàng dọc theo bó mạch đùi, ngay phía trên và dưới vị trí tĩnh mạch hiển đổ vào tĩnh mạch đùi Trong số đó, hạch Cloquet, còn gọi là hạch Rosenmuler, là hạch nằm ở vị trí cao nhất trong các hạch bẹn sâu.

Hạch chậu đóng vai trò quan trọng trong việc nhận bạch huyết từ vùng bẹn và các cơ quan trong chậu hông Hạch chậu ngoài, nằm xung quanh bó mạch chậu ngoài, tiếp nhận bạch huyết từ cơ quan sinh dục ngoài, hạch bẹn, phần sâu của thành bụng, tử cung và nhóm hạch hạ vị Hạch chậu được chia thành 3 nhóm chính.

- Nhóm hạch trước trên: liên quan trực tiếp với động mạch chậu ngoài

- Nhóm giữa: nằm giữa động mạch và tĩnh mạch

- Nhóm sau trong (nhóm bịt): liên quan với tĩnh mạch chậu ngoài

Hạch bẹn nông thường là nhóm hạch đầu tiên bị di căn trong ung thư âm hộ, tiếp theo là hạch bẹn sâu và cuối cùng là hạch chậu ngoài.

Dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh ung thư âm hộ

Ung thư âm hộ là loại ung thư hiếm gặp đứng hàng thứ tư trong các loại ung thư phụ khoa Theo GLOBOCAN năm 2018, tại Mỹ, ước tính có

Mỗi năm, có khoảng 6190 ca mới mắc ung thư âm hộ và khoảng 1350 ca tử vong do bệnh này Độ tuổi trung bình mắc bệnh ở Mỹ là 68 tuổi Hầu hết bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn khu trú tại chỗ, với tỉ lệ u khu trú tại âm hộ khoảng 59% Khoảng 30% khối u xâm lấn các cơ quan lân cận hoặc di căn hạch vùng, trong khi chỉ có khoảng 6% bệnh nhân có di căn xa.

Nghiên cứu từ Mỹ và Châu Âu chỉ ra rằng tỉ lệ ung thư âm hộ xâm lấn vẫn ổn định, trong khi tỉ lệ ung thư tại chỗ đã tăng gần gấp đôi kể từ đầu những năm 1970, đặc biệt ở phụ nữ trẻ dưới 55 tuổi Sự gia tăng này có thể liên quan đến tỉ lệ nhiễm HPV tăng cao ở khu vực âm hộ.

Ung thư âm hộ hiện nay được phân thành hai nhóm tuổi đặc trưng: nhóm thứ nhất thường gặp ở người trẻ (35 – 55 tuổi) có liên quan đến nhiễm virus HPV, trong khi nhóm thứ hai thường gặp ở người lớn tuổi (55 – 85 tuổi) với tình trạng mãn kinh lâu năm, liên quan đến các rối loạn biểu mô do viêm nhiễm mãn tính và xơ teo âm hộ.

Ung thư xâm lấn âm hộ có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu gặp ở người cao tuổi Khoảng 15% trường hợp ung thư này xảy ra ở phụ nữ dưới 40 tuổi, và tình trạng này rất hiếm gặp ở phụ nữ đang mang thai.

[33], [34] Ung thư tại chỗ của âm hộ xảy ra ở lứa tuổi trẻ hơn, tuổi trung bình là 44 [35]

Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ mắc ung thư âm hộ ở một số nước trên thế giới [36]

1.2.2 Các yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân gây ung thư âm hộ vẫn chưa được xác định rõ ràng, tuy nhiên có một số yếu tố nguy cơ có thể góp phần vào sự phát triển của loại ung thư này.

- Yếu tố nội tiết: thường gặp ở phụ nữ chậm thấy kinh, sớm mãn kinh

- Nhóm phụ nữ có mức sống kinh tế xã hội thấp

- Thuốc lá và chế độ ăn

- Bệnh đái đường, cao huyết áp

DNA của virus gây u nhú ở người (HPV) đã được phân lập từ các khối u ở vùng âm hộ và cổ tử cung, trong đó typ 16 và 18 là phổ biến nhất, tiếp theo là typ 6.

Virus Herpes simplex (HSV) týp 2 cũng có liên quan đến các khối u của âm hộ và cổ tử cung [43], [44]

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng sự bất thường của gen PRAD1, một gen kiểm soát chu kỳ tế bào trên nhiễm sắc thể 11p13, cùng với đột biến của gen p53, một gen ức chế sự phát triển u trên nhiễm sắc thể 17, có liên quan đến ung thư âm hộ.

Ung thư âm hộ thường xuất hiện cùng với một số tổn thương lành tính của âm hộ, tuy nhiên, mối quan hệ nhân quả giữa chúng vẫn chưa được xác định rõ ràng.

Nghịch dưỡng âm hộ: gồm 3 loại tăng sản, lichen xơ hoá và dạng hỗn hợp Condylome sùi

Bạch sản âm hộ là một tình trạng có thể dẫn đến ung thư âm hộ trong tương lai Nghiên cứu của Taussig cho thấy trong 155 trường hợp ung thư âm hộ, có đến 50% bệnh nhân mắc bạch sản âm hộ.

1.2.3 Tiến triển tự nhiên của ung thư âm hộ

Ung thư âm hộ thường phát triển chậm tại chỗ, nhưng theo thời gian, khối u có khả năng xâm lấn vào các cấu trúc lân cận như âm đạo, niệu đạo, hậu môn, bàng quang, trực tràng, da quanh đùi và xương mu.

 Lan tràn tới hạch vùng

Di căn hạch vùng có thể xảy ra ở giai đoạn sớm của bệnh do tế bào ung thư lan rộng qua tắc nghẽn bạch huyết Các tổn thương gần đường giữa có khả năng di căn tới hạch bẹn hai bên, trong khi tổn thương ở âm vật và tuyến Bartholin có thể di căn trực tiếp tới hạch bẹn sâu Mặc dù tổn thương ở âm vật và niệu đạo có thể lan tới hạch chậu, nhưng việc di căn hạch chậu khi hạch bẹn chưa bị ảnh hưởng là rất hiếm gặp, với chỉ một vài trường hợp được báo cáo về di căn hạch bẹn sâu khi hạch bẹn nông vẫn còn bình thường.

Ung thư âm hộ hiếm khi di căn qua đường máu nếu hạch bẹn chưa bị di căn Tuy nhiên, khi số lượng hạch bẹn bị di căn tăng lên, nguy cơ di căn xa đến gan, phổi và xương cũng sẽ tăng theo.

Chẩn đoán bệnh ung thư âm hộ

Ung thư biểu mô tế bào vẩy là loại ung thư âm hộ phổ biến nhất, chiếm hơn 90% các trường hợp Các triệu chứng lâm sàng của ung thư này cần được mô tả rõ ràng để nhận diện và chẩn đoán kịp thời.

- Tổn thương thường gặp ở môi lớn và bé, chiếm 70%, ở âm vật 10-15%, ở đáy chậu 4-5%, các vị trí khác hiếm gặp, dưới 1% [54]

Ngứa âm hộ là triệu chứng phổ biến, có thể kéo dài từ nhiều tháng đến nhiều năm trước khi được chẩn đoán Các triệu chứng đi kèm bao gồm đau rát vùng u và cảm giác đau khi đi tiểu do kích thích từ nước tiểu Ngoài ra, chảy máu và chảy dịch có mùi hôi thường xuất hiện ở những u lớn bị hoại tử hoặc nhiễm trùng.

Đa số bệnh nhân đến khám do có u sờ thấy ở âm hộ, với hình thái u có thể sùi như súp lơ hoặc loét, nhiễm cứng Hạch bẹn có thể sờ thấy, đôi khi lớn đến mức vỡ loét ra da hoặc chèn vào đường bạch huyết, tĩnh mạch đùi, gây phù bạch mạch và viêm tĩnh mạch huyết khối mãn tính Trong trường hợp u tiến triển, nếu lan rộng và xâm lấn vào niệu đạo, bàng quang, vách âm đạo, trực tràng, có thể gây ra các lỗ rò như bàng quang - âm đạo hoặc rò trực tràng - âm đạo.

1.3.2 Triệu chứng cận lâm sàng

- Sinh thiết: Bấm sinh thiết u giúp chẩn đoán xác định

- Hạch bẹn nghi ngờ hoặc tổn thương di căn cần chọc hút làm tế bào học hoặc sinh thiết kim

- Soi bàng quang, soi trực tràng: nên làm với những tổn thương rộng, tổn thương gần niệu đạo, hậu môn

- Chụp hệ bạch huyết trước mổ: đánh giá tình trạng hạch bẹn, hạch chậu nhưng không đặc hiệu

Chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ vùng chậu với thuốc tiêm có khả năng đánh giá sự lan rộng của u và các hạch bẹn, hạch chậu Tuy nhiên, phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu tương đối thấp.

- Chụp X – quang phổi, siêu âm ổ bụng: đánh giá di căn xa [2], [43], [54]

Tất cả các tổn thương nghi ngờ ở âm hộ đều cần thực hiện sinh thiết để chẩn đoán chính xác và phân loại mô bệnh học Bệnh phẩm sinh thiết cần được lấy đủ sâu đến lớp hạ bì để đánh giá mức độ xâm lấn của mô đệm Đối với các tổn thương có kích thước dưới 1cm, việc cắt bỏ u để thực hiện chẩn đoán mô bệnh học là cần thiết.

Ung thư âm hộ được phân loại theo giai đoạn dựa trên hệ thống của Liên đoàn sản phụ khoa quốc tế (FIGO) sửa đổi năm 2009 và theo phân loại TNM của Ủy ban ung thư Hoa Kỳ năm 2017.

Tx Không đánh giá được tổn thương

T0 Không có bằng chứng u nguyên phát

T1 I Khối u giới hạn ở âm hộ và/hoặc tầng sinh môn

T1a IA Kích thước u lớn nhất là 2cm, giới hạn ở âm hộ và/hoặc đáy chậu và độ sâu xâm lấn mô đệm không quá 1mm

T1b IB Kích thước u lớn hơn 2cm hoặc bất kì kích thước có độ sâu xâm lấn mô đệm lớn hơn 1mm, giới hạn ở âm hộ và/hoặc đáy chậu

T2 II Khối u có kích thước bất kì và có xâm lấn các cấu trúc thuộc tầng sinh môn (1/3 dưới niệu đạo, 1/3 dưới của âm đạo, trực tràng)

T3 IVA là giai đoạn của khối u có kích thước bất kỳ, xâm lấn vào các cấu trúc như 2/3 trên niệu đạo, 2/3 trên âm đạo, niêm mạc bàng quang, niêm mạc trực tràng hoặc có thể cố định vào xương chậu.

Nx Không đánh giá được hạch vùng

N0 Không có bằng chứng di căn hạch vùng

N0 (i+) Ổ tế bào di căn hạch có kích thước < 0,2mm

N1 III Di một hoặc hai hạch vùng với kích thước 5mm

N2 Di căn từ ba hạch vùng trở lên với kích thước không quá

5mm, hoặc di căn ít nhất hai hạch với kích thước từ 5mm trở lên hoặc hạch di căn phá vỡ vỏ

N2a IIIB đề cập đến tình trạng di căn từ ba hạch trở lên với kích thước không vượt quá 5mm N2b IIIB xác định di căn ít nhất hai hạch có kích thước từ 5mm trở lên N2c IIIC liên quan đến hạch di căn đã phá vỡ vỏ.

N3 IVA Hạch vùng di căn cố định hoặc vỡ loét

M0 Không có di căn xa

M1 IVB Di căn xa (bao gồm di căn hạch chậu)

Phân loại giai đoạn theo AJCC

IVB T bất kỳ N bất kì M1

Đặc điểm giải phẫu bệnh học

1.4.1 Phân loại mô bệnh học

Phân loại mô bệnh học ung thư âm hộ đã được Hiệp hội các bác sĩ giải phẫu bệnh phụ khoa quốc tế cập nhật với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Năm 2014, WHO đã công bố bảng phân loại mới cho ung thư âm hộ, bao gồm một số thay đổi quan trọng.

Các u biểu mô và các tổn thương liên quan

Các tổn thương biểu mô vảy

Tổn thương nội biểu mô vảy

Tổn thương nội biểu mô vảy độ thấp Tổn thương nội biểu mô vảy độ cao Tân sản nội biểu mô âm hộ typ mất biệt hóa

Ung thư biểu mô tế bào vảy 8070/3

Sừng hóa Không sừng hóa Dạng đáy

Ung thư biểu mô tế bào đáy 8090/3

U xuất phát từ tuyến Bartholin và các tuyến sinh dục hậu môn đặc biệt khác

Ung thư biểu mô tuyến Bartholin

Ung thư biểu mô tuyến Ung thư biểu mô tế bào vảy Ung thư biểu mô dạng tuyến nang

Ung thư biểu mô tuyến vảy Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp

8560/3 8120/3 Ung thư biểu mô tuyến typ tuyến vú

Ung thư biểu mô nguồn gốc tuyến Skene

8500/3 8140/3 9020/3 Ung thư biểu mô tuyến loại khác

Ung thư biểu mô tuyến typ tuyến mồ hôi

Ung thư biểu mô tuyến typ ruột

Ung thư biểu mô thần kinh nội tiết độ cao

Ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tế bào nhỏ Ung thư biểu mô thần kinh nội tiết tế bào lớn

Các u trung mô ác tính

1.4.2 Đặc điểm mô bệnh học ung thư biểu mô vảy ở âm hộ

Ung thư biểu mô tế bào vảy là loại ung thư duy nhất có sự biệt hóa thành tế bào vảy Nó được phân chia thành hai nhóm chính: ung thư biểu mô tế bào vảy xâm nhập bề mặt và ung thư biểu mô xâm nhập sâu, vượt qua giới hạn của ung thư biểu mô tế bào vảy xâm nhập bề mặt.

Ung thƣ biểu mô tế bào vảy xâm nhập, bề mặt

Là loại ung thư biểu mô với độ xâm nhập 1mm và đường kính 2cm

Độ sâu xâm nhập được đo từ vùng nối biểu mô – mô đệm của nhú trung bì gần bề mặt nhất đến điểm xâm nhập sâu nhất, trong khi bề dày khối u được xác định từ bề mặt hoặc lớp hạt nếu có bề mặt sừng hóa Một số tác giả đo độ sâu, trong khi số khác đo bề dày, và lý tưởng là nên đo cả hai nếu có thể Đặc điểm vi thể giúp chẩn đoán phân biệt giữa ung thư biểu mô tế bào vảy xâm nhập và tân sản nội biểu mô âm hộ bao gồm: (1) Xâm nhập đặc trưng bởi các tế bào vảy riêng biệt trong mô đệm; (2) Các tế bào vảy xâm nhập thường có bào tương ưa acid tăng và hạt nhân rõ; (3) Trong ung thư biểu mô xâm nhập có loạn sừng và hình thành cầu sừng; (4) Phản ứng mô đệm trong trung bì đặc trưng bởi sự xơ hóa hoặc phù nề tại vùng xâm nhập; (5) Nhuộm hóa mô miễn dịch dương tính với laminin bao quanh các ổ tân sản nội biểu mô âm hộ, trái ngược với sự liên tục quanh các ổ biểu mô xâm nhập.

Ung thƣ biểu mô vảy xâm nhập

Loại sừng hóa phổ biến nhất thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi và không liên quan đến nhiễm virus u nhú ở người (HPV) Đặc trưng của ung thư biểu mô xâm nhập sâu hơn là các dây tế bào u có đường kính lớn hơn 1mm, và các khối u xâm nhập sâu này có thể ảnh hưởng đến sự di căn hạch Những khối u có mô u xếp chặt hoặc đè đẩy ít có khả năng di căn hạch hơn so với các u xâm nhập lan tỏa và có hình dáng như ngón tay.

Ung thư biểu mô tế bào vảy với các tế bào khổng lồ u là một biến thể không sừng hóa của ung thư biểu mô tế bào vảy, đặc trưng bởi sự hiện diện của các tế bào khổng lồ nhiều nhân Các tế bào này thường có nhân đa hình và bào tương rộng ưa acid Mặc dù khối u có thể giống với u hắc tố, nhưng các tế bào u lại âm tính với các dấu ấn của u hắc tố khi được nhuộm bằng hóa mô miễn dịch.

Ung thư biểu mô tế bào vảy hình thoi là một loại khối u được hình thành từ các tế bào hình thoi dài tương tự như sarcoma Mô đệm của khối u này chứa các tế bào hình thoi, dễ bị nhầm lẫn với carcinosarcoma Tuy nhiên, các tế bào ung thư này có đặc điểm dương tính với keratin, cho thấy nguồn gốc biểu mô của chúng.

Ung thư biểu mô tế bào vảy tiêu gai là một loại khối u đặc trưng với các vùng hình thành giả tuyến, liên quan đến sự tiêu gan tế bào Khối u này không chứa chất nhầy, nhưng lại có sự hiện diện của glycogen trong các tế bào tiêu gai Ngoài ra, các chất ưa acid vô bào trong vùng giả tuyến cho thấy sự đặc trưng hóa mô với thành phần acid hyaluronic cao.

Ung thư biểu mô tế bào vảy dạng đáy là một loại ít phổ biến hơn, thường gặp ở phụ nữ trẻ mắc HPV Nốt sần nhỏ cũng là một dạng của bệnh này, cần được chú ý để phát hiện và điều trị kịp thời.

Ung thư biểu mô tế bào vảy dạng sần là một loại ung thư phổ biến, phát triển chậm và có tiên lượng tốt Đặc điểm của ung thư này là giống như một mụn cóc lớn, do đó, sinh thiết là cần thiết để xác định chắc chắn rằng nó không phải là một khối u lành tính.

Nhóm ung thư phụ khoa (GOG) đã phân loại ung thư biểu mô tế bào vảy dựa trên tỷ lệ phần trăm các tế bào u không biệt hóa Những tế bào này có kích thước nhỏ, bào tương hẹp và thể hiện ít hoặc không có dấu hiệu biệt hóa, đồng thời có khả năng xâm nhập vào mô đệm hoặc hình thành các dây dài và cụm nhỏ Hệ thống phân loại này được chia thành 3 độ.

Điều trị ung thư âm hộ di căn hạch bẹn

- Độ 2: các khối u có tế bào không biệt hóa chiếm < 1/2 khối u

- Độ 3: các khối u có tế bào không biệt hóa chiếm > 1/2 khối u

Các khối u độ 1 có ít nguy cơ di căn hạch vùng; nguy cơ cao hơn khi độ mô học tăng

Các nghiên cứu giải phẫu bệnh lâm sàng đã chỉ ra rằng một số đặc điểm liên quan đến tiên lượng bệnh, bao gồm: (1) độ sâu xâm nhập tính bằng milimet, (2) bề dày khối u cũng tính bằng milimet, (3) sự hiện diện hoặc vắng mặt của mô u xâm nhập lòng mạch, (4) đường kính khối u đo từ bệnh phẩm tươi hoặc cố định, và (5) đo đường kính khối u trên lâm sàng khi có s n.

1.5 Điều trị ung thƣ âm hộ di căn hạch bẹn Điều trị ung thư âm hộ di căn hạch bẹn là điều trị đa mô thức trong đó phẫu thuật đóng vai trò quan trọng nhất Phẫu thuật cắt âm hộ toàn bộ kèm theo xạ trị bổ trợ sau mổ chỉ định cho những trường hợp có nguy cơ tái phát cao như di căn nhiều hạch bẹn, diện cắt khối u tiệm cận là phác đồ phổ biến Trường hợp bệnh nhân có khối u xâm lấn rộng vào các cơ quan xung quanh (âm đạo, trực tràng, bàng quang, niệu đạo ) mà chưa có di căn xa, cân nhắc xạ trị đơn thuần/hóa xạ trị tiền phẫu kết hợp phẫu thuật hoặc hóa xạ trị triệt căn [2], [54], [48]

Phương pháp phẫu thuật truyền thống cho ung thư âm hộ là cắt toàn bộ âm hộ và vét hạch bẹn hai bên theo phương pháp Taussig, nhằm loại bỏ hoàn toàn mô mềm giữa âm hộ và hạch bẹn để ngăn ngừa tái phát, được áp dụng từ đầu thế kỷ XX đến năm 1980 Tuy nhiên, từ năm 1981, Hacker và cộng sự đã phát triển một phương pháp phẫu thuật ít tàn phá hơn, thực hiện cắt âm hộ và vét hạch bẹn qua các đường riêng biệt Phương pháp này không chỉ mang lại tỷ lệ sống thêm tương đương mà còn giảm đáng kể nguy cơ biến chứng sau mổ như toác vết mổ, nang bạch huyết và phù bạch huyết ở chi dưới.

Phẫu thuật cắt âm hộ triệt căn, mặc dù được xem là tiêu chuẩn, nhưng có nhược điểm gây ra rối loạn chức năng và tâm lý tình dục Vì vậy, nhiều tác giả chỉ áp dụng phương pháp này cho những tổn thương T1 kèm theo tổn thương VIN.

Phẫu thuật lấy rộng u triệt căn là một phương pháp an toàn và hiệu quả, vượt trội hơn so với cắt toàn bộ âm hộ nhờ vào khả năng bảo tồn các cấu trúc lành mạnh của âm hộ.

Tỉ lệ tái phát của phương pháp này không cao hơn các phương pháp khác, miễn là diện cắt đủ rộng Phương pháp này phù hợp cho các tổn thương ở phía ngoài và phía sau âm hộ, giúp bảo tồn âm vật Đối với tổn thương ở âm vật hoặc gần âm vật, việc cắt bỏ có thể ảnh hưởng đến tâm lý tình dục và gây phù ở phần sau âm hộ Do đó, cần xem xét điều trị bằng tia xạ để bảo tồn âm vật, đặc biệt là ở những bệnh nhân trẻ.

Phẫu thuật lấy u triệt căn yêu cầu cắt rộng và sâu, với diện cắt nên cách bờ u ít nhất 2cm, mặc dù điều này có thể khó thực hiện ở vùng âm hộ và đáy chậu Việc cắt bỏ cần đạt đến lớp cân dưới của hoành niệu dục, và khâu lại diện mổ nên được thực hiện theo hai lớp.

Việc vét hạch bẹn có thể dẫn đến nhiều biến chứng như nhiễm trùng, toác vết mổ và phù chi dưới mãn tính Mặc dù các phương pháp vét hạch hiện đại đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm trùng và toác vết mổ, nhưng vấn đề phù chi vẫn tiếp tục là một thách thức lớn trong điều trị.

Tổn thương T1a, với mức xâm lấn mô đệm dưới 1mm, thường không yêu cầu vét hạch bẹn hệ thống do tỷ lệ di căn hạch rất thấp Tuy nhiên, nếu phát hiện hạch bẹn sờ thấy, cần tiến hành vét hạch tại vị trí liên quan.

- Tổn thương T1b (xâm lấn mô đệm >1mm): vét hạch bẹn được đặt ra với tất cả các trường hợp

Vấn đề đặt ra là liệu có cần vét hạch bẹn đối bên khi u chỉ khu trú ở một bên mép âm hộ Nghiên cứu của Way cho thấy tỉ lệ di căn hạch bẹn hai bên là 20%, nhưng chỉ 5% có di căn hạch đối bên khi hạch cùng bên âm tính Một nghiên cứu khác trên 95 bệnh nhân chỉ ra rằng di căn hạch đối bên không xảy ra khi u không liên quan đến âm vật hoặc chưa vượt quá đường giữa Do đó, có quan điểm rằng việc vét hạch bẹn nên được giới hạn đối với các tổn thương từ sau T1b.

Nếu tổn thương ở vị trí cách đường giữa ≥ 2cm và không sờ thấy hạch bẹn, cần tiến hành vét hạch bẹn cùng bên và thực hiện sinh thiết ngay trong quá trình mổ Nếu phát hiện có di căn, tiếp tục vét hạch bên đối diện.

- Nếu tổn thương cách đường giữa < 2cm: vét hạch bẹn 2 bên

Kiểm soát hạch bẹn dương tính là rất quan trọng trong điều trị Nếu chỉ có một hạch dương tính, tiên lượng sẽ tốt và cần theo dõi sát Tuy nhiên, khi có trên hai hạch dương tính, nguy cơ tái phát tại hạch sẽ tăng cao, do đó cần tiến hành điều trị tia xạ vào hạch bẹn, hạch chậu cùng bên và hạch bẹn đối bên.

Phẫu thuật được áp dụng là cắt âm hộ triệt căn và vét hạch bẹn hai bên

- Phẫu thuật cắt âm hộ và vét hạch bẹn thành một khối: Marshall và

Phương pháp cắt hình cánh bướm do Parry-Johns mô tả bao gồm việc cắt từ gai chậu trước hai bên, lấy trên xương mu 2cm và đi dọc theo bờ ngoài môi lớn đến đáy chậu, đồng thời loại bỏ tổ chức đáy chậu và phía trên hậu môn Tuy nhiên, phương pháp này có tỷ lệ biến chứng nhiễm trùng và toác vết mổ rất cao, dao động từ 40 - 80%.

- Phẫu thuật cắt âm hộ và vét hạch bẹn bằng các đường riêng rẽ: được

Kehree được mô tả lần đầu tiên vào năm 1918 và hiện nay đã trở thành phương pháp phổ biến Kỹ thuật vét hạch bao gồm việc cắt theo đường song song hoặc ngang mức dưới dây chằng bẹn, cách gai chậu trước trên 3cm, nhằm lấy hết tổ chức mỡ và hạch giữa cân Camper và cân sàng (hạch bẹn nông) Qua lỗ mở của cân sàng, cần loại bỏ toàn bộ tổ chức mỡ và hạch quanh bó mạch đùi (hạch bẹn sâu) Đường cắt âm hộ được thực hiện từ gò mu dọc theo bờ ngoài môi lớn đến đáy chậu, với đường rạch phía trong vòng quanh lỗ âm đạo tới phía trên lỗ sáo niệu đạo Trong một số trường hợp, có thể cắt một phần niệu đạo để đạt được diện cắt rộng rãi.

Nghiên cứu của Hacker và cộng sự về 100 bệnh nhân phẫu thuật cho thấy không có trường hợp nào tái phát tại tổ chức cầu nối da giữa vùng mu và bẹn, trong khi tỷ lệ toác vết mổ chỉ xảy ra ở 14% bệnh nhân.

Các yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân ung thư âm hộ

Sau khi điều trị xạ trị, 20-30% bệnh nhân có thể gặp phải tình trạng sẹo hoặc xơ hóa ở vùng da bẹn đùi và âm hộ Phù bạch huyết ở chi dưới xảy ra trong 10-12% trường hợp, thường là biến chứng dai dẳng và khó kiểm soát, đặc biệt ở bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật và xạ trị bổ trợ Ngoài ra, các biến chứng nghiêm trọng khác có thể bao gồm loét vùng chiếu xạ, áp xe, hoại tử xương mu, hẹp niệu đạo và hẹp trực tràng Các tình trạng xơ hóa, tăng sắc tố và giãn mao mạch cũng có thể xuất hiện sau khi điều trị bằng tia xạ.

1.6 Các yếu tố tiên lƣợng ở bệnh nhân ung thƣ âm hộ

Các yếu tố tiên lượng trong ung thư biểu mô vảy âm hộ đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, bao gồm đặc điểm khối u như kích thước, độ sâu xâm lấn mô đệm và độ mô học, cùng với tình trạng di căn hạch bẹn về số lượng, kích thước và tính chất phá vỡ vỏ Giai đoạn bệnh theo phân loại FIGO cũng đóng vai trò quan trọng Nghiên cứu cho thấy tình trạng nhiễm HPV gây tổn thương nội biểu mô vảy âm hộ (VIN), khối u xâm lấn khoang mạch bạch huyết (LVSI), độ tuổi bệnh nhân và các tổn thương lichen xơ hóa là những yếu tố tiên lượng kết quả điều trị cho bệnh nhân ung thư âm hộ.

1.6.1 Kích thước khối u âm hộ

Ung thư biểu mô vảy âm hộ thường tiến triển chậm, thông thường mất

Khối u có thể phát triển từ 1-2 năm để đạt kích thước 1-2 cm, do đó, kích thước lớn của khối u cho thấy bệnh diễn biến lâu hơn và tăng nguy cơ xâm lấn mô đệm cũng như di căn hạch bẹn đùi Nghiên cứu của tác giả G Baiocchi (2015) trên 205 bệnh nhân ung thư biểu mô vảy âm hộ cho thấy có 84 bệnh nhân với khối u nhỏ hơn 4 cm và 115 bệnh nhân với khối u lớn hơn.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống thêm 5 năm không bệnh ở bệnh nhân có kích thước u 4cm lần lượt là 86,8% và 76,6% (p=0,0059) Khi phân nhóm theo kích thước u, tỷ lệ sống thêm 5 năm không bệnh giảm dần từ 87,5% ở u không quá 2cm, 83,8% ở u từ 2cm đến 4cm, và 76,6% ở u trên 4cm (p=0,098) Nghiên cứu của Ying Long (2019) cũng chỉ ra rằng thời gian sống thêm toàn bộ của nhóm bệnh nhân có u âm hộ 4cm cao gấp 3,43 lần so với bệnh nhân có u lớn hơn 4cm (95% CI= 1,36-8,65, p=0,009).

1.6.2 Độ sâu xâm lấn mô đệm Độ sâu xâm lấn mô đệm là yếu tố tiên lượng quan trọng không chỉ trong ung thư biểu mô vảy âm hộ mà còn trong nhiều bệnh khác như ung thư lưỡi, ung thư khoang miệng, ung thư cổ tử cung…Bệnh nhân có độ sâu xâm lấn mô đệm khối u âm hộ 1 mm được xếp giai đoạn IA gần như không có di căn hạch bẹn, khuyến cáo điều trị bằng cắt rộng khối u mà không cần vét hạch Kết quả điều trị cũng rất khả quan với tỉ lệ sống thêm toàn bộ 5 năm là

Theo nghiên cứu của Li-Qun Xu (2013) và Brian J Yoder (2008), tỉ lệ di căn hạch chậu ở bệnh nhân giai đoạn IA được điều trị bằng phẫu thuật là 0%, không có bệnh nhân tái phát, và tỉ lệ sống thêm toàn bộ đạt 100% Trong khi đó, khối u xâm lấn mô đệm hơn 1mm được phân loại là giai đoạn IB, và nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng độ xâm lấn mô đệm càng lớn thì tỉ lệ di căn hạch bẹn càng cao, đồng thời khả năng tái phát và thời gian sống thêm giảm Cụ thể, theo Homesley HD, tỉ lệ di căn hạch bẹn khoảng 7-8% nếu độ sâu xâm lấn mô đệm từ 1-3mm, nhưng tăng lên 26-34% khi độ sâu xâm lấn vượt quá 3mm Nghiên cứu trên 215 bệnh nhân ung thư biểu mô vảy âm hộ cho thấy tỉ lệ sống thêm 5 năm không bệnh của nhóm có độ sâu xâm lấn mô đệm lần lượt là 1mm, 2-3mm và 4-5mm.

>5mm giảm dần tương ứng 90,9%; 93,3%; 78,0%; 48,5% (p

Ngày đăng: 18/06/2021, 15:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w