1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giam sat danh gia trong truong hoc

198 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 281,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN VỀ GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ (0)
    • I. KHÁI NIỆM VỀ GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ (8)
      • 1. Giám sát (8)
      • 2. Đánh giá (9)
    • II. GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC (12)
      • 1. Khái niệm (12)
      • 2. Các chức năng của giám sát, đánh giá trong giáo dục (12)
      • 3. Mục đích của giám sát, đánh giá trong giáo dục (13)
      • 4. Đối tượng, tiêu chí và các chuẩn mực đánh giá (13)
        • 4.1. Đối tượng đánh giá (13)
        • 4.2. Tiêu chí và chuẩn mực đánh giá (14)
        • 4.3. Nguồn thông tin dữ liệu dùng cho đánh giá (15)
      • 5. Hệ thống các Chỉ số đánh giá (0)
      • 6. Các bước trong đánh giá (19)
      • 7. Các loại hình đánh giá trong giáo dục (20)
    • III. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRƯỜNG HỌC (20)
      • 1. Hình thức tổ chức trường học và tác động của nó (21)
      • 2. Các yếu tố có vai trò quan trọng trong giáo dục (21)
    • IV. THANH TRA (23)
      • 1. Giám sát trên cơ sở thanh tra trường học (24)
      • 2. Các hệ thống thanh tra trường học (25)
  • Chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ SỐ GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ TRƯỜNG HỌC 28 1. Sử dụng chỉ số ở các cấp (0)
    • 2. Chỉ số đánh giá cấp trung ương (29)
    • 3. Chỉ số giáo dục cấp trường (30)
  • Chương 3: HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG TRƯỜNG HỌC (0)
    • 1. Mục đích tự đánh giá (32)
    • 2. Các phương pháp tự đánh giá (33)
      • 2.1 Đánh giá dựa trên ý kiến của trường (33)
      • 2.2. Báo cáo thực trạng tổ chức (34)
      • 2.3. Các hệ thống giám sát học sinh (34)
      • 2.4. Kiểm toán trường học (34)
      • 2.5. Đánh giá giáo viên (34)
    • 3. Các vấn đề kỹ thuật (0)
    • 4. Gợi ý về thang điểm tự đánh giá (36)
  • Chương 4: HỆ THỐNG CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆU TRƯỞNG (0)
    • I- Vai trò trách nhiệm của hiệu trưởng trong trường học (140)
      • 1.1 Năng lực Xác định tầm nhìn, sứ mạng và mục tiêu chiến lược của trường (142)
      • 1.3 Năng lực theo dõi, đánh giá tiến độ thực hiện mục tiêu (143)
      • 1.4 Năng lực Xây dựng và duy trì một môi trường giáo dục theo định hướng kết quả (144)
      • 1.5 Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo chuyên môn (145)
      • 2.1 Năng lực định hướng hoạt động của nhà trường tập trung vào việc học tập vì sự tiến bộ của tất cả học sinh (147)
      • 2.2 Năng lực tạo dựng và đảm bảo một môi trường học tập an ninh, an toàn (147)
      • 2.3 Năng lực thiết lập quan hệ hợp tác và huy động cộng đồng chăm lo cho giáo dục (148)
      • 2.4 Năng lực thiết lập và duy trì bầu không khí làm việc tích cực trong nhà trường 114 Nhóm năng lực số 3: Lãnh đạo và quản lý nguồn nhân lực (148)
      • 3.1 Năng lực phát triển đội ngũ (149)
      • 3.2 Năng lực khơi dậy sự sáng tạo, tận tụy của cán bộ giáo viên (150)
      • 3.3 Năng lực khuyến khích giáo viên và những người khác làm lãnh đạo (151)
      • 4.1 Năng lực Quản lý tài chính, cơ sở vật chất và trang thiết bị (151)
      • 4.2 Năng lực Quản lý và ứng dụng công nghệ (152)
      • 4.3 Năng lực thực hiện nhiệm vụ Quản lý hành chính.................upload.123doc.net Phụ lục: NĂM BƯỚC THIẾT LẬP HỆ THỐNG QUẢN LÝ THEO KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ (152)
      • 1. Đặc trưng của một HTQLTKQ (182)
      • 2. Xây dựng Hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động (153)

Nội dung

Louis và Smith 1990 định nghĩa 7 chỉ tiêu chất lượng trong công việc: Sự tôn trọng: của những nhà quản lý, lãnh đạo ở trường và ở địa phương, cha mẹ học sinh và cộng đồng nói chung; Sự [r]

TỔNG QUAN VỀ GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ

KHÁI NIỆM VỀ GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ

Giám sát là hoạt động liên tục sử dụng hệ thống công cụ để thu thập, cập nhật, so sánh và phân tích dữ liệu trong quá trình thực hiện Hoạt động này giúp các nhà quản lý đánh giá tiến độ triển khai và kết quả đạt được, đồng thời cung cấp thông tin về tình trạng của chính sách, chương trình hoặc dự án tại một thời điểm cụ thể so với các chỉ tiêu và kết quả mong đợi.

Giám sát là một quy trình quan trọng nhằm theo dõi và phân tích tiến độ hoạt động để đạt được kết quả mong muốn Quá trình này bao gồm việc thu thập và phân tích thông tin thường xuyên để kiểm tra hiệu quả của các hoạt động trong chương trình Điều này bao gồm việc làm rõ mục tiêu, liên kết các hoạt động và nguồn lực với các mục tiêu cụ thể, và chuyển đổi chúng thành các chỉ số đánh giá kết quả Cuối cùng, dữ liệu thực tế sẽ được so sánh với các chỉ tiêu đã đề ra, và báo cáo tiến độ sẽ được gửi đến các nhà quản lý để thông báo về tình hình và cảnh báo các vấn đề phát sinh.

Việc giám sát thường được tiến hành trong nội bộ do những người có trách nhiệm quản lý tiến hành, họ cần biết:

• các hoạt động có được tiến hành theo kế hoạch không? Có hoàn thành không? và như thế nào; và

• các đầu ra có được tạo ra như mong đợi hay không.

Mục đích của giám sát là để :

- hỗ trợ công tác quản lý;

Việc theo dõi tiến độ thực hiện giúp người quản lý đánh giá xem các hoạt động có diễn ra đúng kế hoạch hay không, từ đó có thể điều chỉnh và cải tiến quy trình thực hiện một cách hiệu quả.

- giúp người quản lý xác định các dấu hiệu của sự chậm trễ và nguyên nhân của nó;

- cảnh báo về các điều chỉnh cần thiết phải tiến hành nhằm đảm bảo sự thành công;

Giúp người quản lý xác định các hành động cần thiết nhằm đảm bảo quá trình thực hiện đi đúng hướng theo kế hoạch đã định, đồng thời đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về số lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật theo mục tiêu đã đề ra.

Hệ thống giám sát hiệu quả cung cấp thông tin đa dạng về tiến độ, kết quả hoạt động, và nguyên nhân thành công hoặc thất bại Giám sát giúp nhận diện chậm trễ và nguyên nhân, hỗ trợ nhà quản lý trong việc đưa ra quyết định tiếp theo Quá trình giám sát được thực hiện theo các bước cụ thể, sử dụng phương pháp và công cụ chuyên dụng.

Nguồn thông tin và dữ liệu phục vụ giám sát bao gồm các tài liệu chuyên môn nội bộ như báo cáo nhiệm vụ, báo cáo tháng hoặc quý, hồ sơ đào tạo và biên bản các cuộc họp.

2 Đánh giá Đánh giá là việc xem xét, rà soát một cách có hệ thống và khách quan về một chính sách/ chương trình/dự án đang triển khai hoặc đã hoàn thành Đánh giá giúp làm rõ việc tuân thủ, thực hiện trách nhiệm giải trình và phát hiện những khó khăn, vướng mắc nảy sinh nhằm tìm biện pháp khắc phục hoặc phòng ngừa Quá trình đánh giá cung cấp các thông tin đáng tin cậy và hữu ích, cho phép rút ra các bài học kinh nghiệm trong việc ra quyết định của cơ quan quản lý nguồn lực Đánh giá đôi khi được dùng để bao hàm cả việc giám sát nhưng thường thì người ta sử dụng đánh giá theo nghĩa hẹp hơn là việc kiểm tra toàn diện các đầu ra và tác động của một chương trình/dự án, việc nó đóng góp vào vào mục dích và mục tiêu của chương trình/dự án đó như thế nào. Đánh giá cung cấp bằng chứng về các chỉ tiêu và kết quả thực hiện, tìm cách giải quyết các vấn đề trên cơ sở quan hệ nhân quả và tập trung chú ý vào kết cục và tác động Đánh giá trả lời các câu hỏi:

(i) "Vì sao?", tức là cái gì đã gây ra các thay đổi đang được giám sát;

(ii) "Như thế nào?" tức là tiến trình nào đã dẫn đến các kết quả thành công hay thất bại;

Việc tuân thủ và trách nhiệm trong các hoạt động đã lên kế hoạch được đánh giá nhằm kiểm tra định kỳ 5 tiêu chí: tính thích hợp, hiệu suất, hiệu quả, tác động và tính bền vững của chương trình/dự án Đánh giá này phân tích sự tương quan giữa kết quả thực tế và mục tiêu đã phê duyệt, đồng thời xác định các hành động khắc phục và giải pháp phòng ngừa hiệu quả Ngoài ra, nó đảm bảo tuân thủ quy trình quản lý, cung cấp thông tin cho các bên liên quan về kết quả và tác động của chương trình/dự án, và rút ra bài học cho việc lập kế hoạch tương lai Cuối cùng, đánh giá tạo điều kiện cho trách nhiệm giải trình và thông tin công khai Quy trình đánh giá được thực hiện qua các bước cụ thể, sử dụng các phương pháp và công cụ đặc trưng, có thể diễn ra ở cấp vĩ mô, cấp hoạch định chính sách và cấp cơ sở.

* 5 tiêu chí của quá trình thực hiện

Tính thích hợp của chương trình, chính sách hoặc dự án được đánh giá dựa trên khả năng giải quyết các mục tiêu và yêu cầu đã được xác định Đồng thời, sự chấp nhận của sản phẩm từ các chương trình và chính sách này cũng là một yếu tố quan trọng cần xem xét.

Hiệu suất là yếu tố quan trọng để đánh giá việc sử dụng nguồn lực Chúng ta cần xem xét liệu có đang khai thác nguồn lực sẵn có một cách thông minh và hiệu quả hay không Đồng thời, cần kiểm tra xem số lượng nguồn lực được sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm có vượt quá các tiêu chuẩn quy định hay không.

Để đánh giá hiệu quả, cần xem xét liệu các đầu ra mong muốn có được đạt được hay không Điều này bao gồm việc xác định xem chương trình, chính sách hoặc dự án có thực sự đạt được các kết quả đã đề ra Ngoài ra, cần phân tích xem mục tiêu hoặc kết quả mong muốn có đạt được ở mức cao nhất với chi phí thấp nhất hay không.

Những mục tiêu rộng hơn có thể đạt được qua việc theo đuổi và thực hiện các thay đổi tích cực đối với cá nhân và cộng đồng Sự ảnh hưởng này không chỉ mang lại hiệu quả cho cộng đồng mà còn cho xã hội và môi trường, tạo ra những tác động lâu dài và bền vững.

Tính bền vững của chương trình, chính sách hoặc dự án được đánh giá qua ảnh hưởng và tác động mà chúng tạo ra Điều quan trọng là xác định liệu các cơ cấu và quy trình đã được thiết lập có khả năng tồn tại lâu dài hay không Ngoài ra, cần xem xét liệu những lợi ích và thay đổi tích cực từ chương trình hoặc dự án có thể được duy trì sau khi chương trình kết thúc hay không.

Các hoạt động đánh giá có thể được phân loại dựa trên bản chất của chương trình và mục đích của việc đánh giá, tùy thuộc vào các tiêu chí phân định khác nhau.

Nếu dựa vào đối tượng tiến hành việc đánh giá, ta có thể phân thành:

Đánh giá nội bộ, hay còn gọi là đánh giá trong, là quá trình đánh giá một chương trình hoàn toàn diễn ra trong cơ quan hoặc tổ chức Quá trình này được thực hiện bởi những người cùng cơ quan với các nhà quản lý chương trình, và đôi khi có sự hợp tác từ những đánh giá viên bên ngoài.

GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC

Giám sát trong giáo dục là quá trình theo dõi hoạt động giáo dục thông qua việc xem xét sự tiến bộ, sử dụng nguồn lực và so sánh kết quả đầu ra dựa trên các chỉ số hoạt động, nhằm cung cấp phản hồi cho các nhà quản lý và bên liên quan Hoạt động này là cần thiết để xác định hiệu quả thực hiện các mục tiêu lâu dài và hỗ trợ cho quá trình đánh giá Đánh giá trong giáo dục liên quan đến việc xác định chất lượng của các đối tượng như cơ sở giáo dục, cá nhân, chương trình hay chính sách, thông qua việc thu thập thông tin hệ thống để phục vụ cho quyết định và rút ra bài học kinh nghiệm.

Hệ thống GS-ĐG trong giáo dục sử dụng bộ tiêu chí và chỉ số để đo lường các lĩnh vực hoạt động giáo dục Bộ công cụ này giúp đánh giá và đo lường các điều kiện đảm bảo chất lượng, chất lượng giáo dục, cũng như hiệu quả hoạt động giáo dục.

Việc GS-ĐG chất lượng giáo dục phục vụ các mục đích khác nhau như: xếp hạng, khuyến khích tài chính và kiểm định công nhận

2 Các chức năng của giám sát, đánh giá trong giáo dục

2.1 Kiểm định và cấp chứng chỉ

Chức năng đánh giá chứng nhận cho phép các cơ quan, tổ chức xác nhận rằng cơ sở giáo dục hoặc cá nhân như học sinh, sinh viên, giáo viên đã đạt được các chuẩn mực một cách chính thức và hợp pháp Điều này bao gồm việc xác định mức độ chất lượng của trường học hoặc việc cấp bằng tốt nghiệp/chứng chỉ cho học sinh sau khi hoàn thành khóa học.

Chức năng thanh tra cho phép các cơ quan quản lý cấp trên kiểm tra chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục hoặc cơ quan quản lý cấp dưới Qua đó, họ có thể đánh giá việc tuân thủ các quy định về nghĩa vụ và quyền hạn, cũng như phát hiện những hoạt động chưa hiệu quả Chức năng này thường do thanh tra các cấp thực hiện.

2.3 Rút ra bài học kinh nghiệm để cải thiện tình hình

Trong chức năng đánh giá định hình, GS&ĐG cung cấp thông tin thực trạng cần thiết cho việc hoạch định chính sách và điều chỉnh chương trình Ví dụ, kết quả kiểm tra chất lượng đầu vào giúp xác định điểm yếu của học sinh để hỗ trợ, thay vì chỉ để quyết định cấp chứng chỉ Đánh giá giáo dục được xem như một hoạt động phân tích từ phương tiện đến mục đích, tương tự như phân tích nguyên nhân và kết quả, nhấn mạnh rằng đánh giá không chỉ dừng lại ở việc phân tích nguyên nhân.

3 Mục đích của giám sát, đánh giá trong giáo dục

Giám sát, đánh giá có nhiều mục đích, có thể qui lại thành một số mục đích lớn dưới đây:

3.1 Điều chỉnh định mức chất lượng và chất lượng phục vụ

Việc tổ chức kỳ thi có vai trò quan trọng trong việc đánh giá học sinh, phản ánh không chỉ kết quả học tập của từng cá nhân mà còn cho thấy chất lượng của hệ thống giáo dục ở các cấp độ khác nhau, từ tỉnh, huyện cho đến trường học.

Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào đại học là một chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng chương trình học và hiệu quả giảng dạy tại các trường, bên cạnh một số chỉ số bối cảnh khác.

Các hệ thống kiểm soát chất lượng được triển khai nhằm đảm bảo các điều kiện chất lượng thông qua việc quản lý giáo dục và quy trình quản lý tại các cơ sở giáo dục.

3.2 Thực hiện trách nhiệm giải trình của hệ thống giáo dục

Các cơ sở giáo dục cần phải chịu trách nhiệm giải trình trước các cơ quan quản lý và cộng đồng về nghĩa vụ của người học trong quá trình học tập.

+ Đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực chi cho các hoạt động giáo dục

Để đảm bảo chất lượng giáo dục, cần tổ chức và thực hiện hiệu quả các hoạt động, đồng thời vượt qua các yêu cầu đề ra Chất lượng của các hoạt động giáo dục có thể liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau.

 Việc lựa chọn đúng đắn các mục tiêu giáo dục,

 Việc đạt được các mục tiêu giáo dục,

 Việc phân bổ công bằng và đồng đều các nguồn lực giáo dục,

 Việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực.

3.3 Là cơ chế kích thích nâng cao chất lượng giáo dục

Kết quả giám sát và đánh giá là căn cứ quan trọng cho việc sửa đổi và cải thiện tình hình Qui trình đánh giá, phản hồi và hành động tạo ra cơ chế cho quá trình ‘học tập tổ chức’, đồng thời khuyến khích tự học và nâng cao năng lực tại các cơ sở giáo dục.

Học hỏi từ những bài học kinh nghiệm, đặc biệt là từ các hoạt động không thành công, rất quan trọng trong việc điều chỉnh và thiết kế lại các chương trình giáo dục.

4 Đối tượng, tiêu chí và các chuẩn mực đánh giá

Trong lĩnh vực giáo dục, việc đánh giá có thể áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau như hệ thống giáo dục quốc gia, các tỉnh, trường học, nhóm trường hoặc các chương trình cụ thể Các nhà nghiên cứu mô tả tổ chức, bao gồm cả nhà trường, như một "hộp đen", nơi diễn ra quá trình chuyển hóa đầu vào thành đầu ra Đầu vào bao gồm các nguồn lực vật chất, tài chính, cũng như đặc tính của các cấu trúc tổ chức Đầu ra là kết quả học tập của học sinh, được đo lường qua các kỳ kiểm tra Đánh giá chất lượng của "hộp đen" này thực chất là đánh giá sản phẩm đầu ra, với hiệu suất được tính bằng tỉ lệ giữa đầu ra và đầu vào, trong đó đầu ra phản ánh chất lượng sản phẩm trong giới hạn cho phép, và đầu vào bao gồm cả nguồn tài chính và cơ sở vật chất.

Để xác định quá trình hiệu quả nhất nhằm đạt được đầu ra mong muốn, sơ đồ hiện tại chưa đủ Khi so sánh hiệu quả chi phí giữa các trường có tỷ lệ học sinh khá giỏi tương đương nhưng khác nhau về ngân sách chi tiêu trên đầu học sinh, không thể kết luận ngay rằng trường chi tiêu ít hơn sẽ có hiệu quả kinh tế tốt hơn Kết luận này không chính xác vì cần xem xét tỷ lệ học sinh/lớp, đặc biệt ở các trường miền núi với tỷ lệ học sinh/lớp nhỏ hơn sẽ yêu cầu chi phí cao hơn Chất lượng đầu vào của học sinh cũng ảnh hưởng đến quá trình giảng dạy Do đó, cần có các chỉ số bối cảnh để đánh giá hiệu quả chi phí trong giáo dục Để đánh giá chính xác hơn về chất lượng và hiệu quả hoạt động của tổ chức, các nhà khoa học đề xuất mô hình đánh giá bao gồm bốn phương diện: Đầu vào, Quá trình, Đầu ra và Bối cảnh.

Sơ đồ dưới đây giúp xác định đầy đủ các đối tượng đánh giá, bao gồm các yếu tố đầu vào, quá trình thực hiện, đầu ra và bối cảnh Việc đánh giá có thể phân chia theo từng phương diện, trong đó đánh giá quá trình và đầu ra là phổ biến nhất Đối với đánh giá đầu ra, nguồn lực tài chính cho hệ thống giáo dục quốc gia sẽ được xem xét để đảm bảo tính khả thi trong vận hành Các chỉ số thực hiện được đánh giá bằng cách so sánh với các khái niệm về chất lượng giáo dục tốt, trong khi đầu ra được xem xét dựa trên các chuẩn mực đã định.

Sơ đồ 1 : Mô hình các hệ thống cơ bản

4.2 Tiêu chí và chuẩn mực đánh giá

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRƯỜNG HỌC

Dưới góc độ kinh tế, hiệu quả và hiệu suất liên quan mật thiết đến quá trình sản xuất của tổ chức, trong đó quá trình sản xuất là sự chuyển đổi “đầu vào” thành sản phẩm.

Đầu vào của một trường học bao gồm học sinh, tài chính và nguồn hỗ trợ vật chất, trong khi đầu ra phản ánh thành tích của học sinh sau quá trình học tập Quá trình chuyển đổi trong trường học liên quan đến các phương pháp giảng dạy, lựa chọn chương trình học và điều kiện tổ chức ban đầu, giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả Các kết quả dài hạn của quá trình này thường được gọi là kết quả.

Hiệu quả là mức độ đạt được đầu ra mong muốn, trong khi hiệu suất là mức độ đạt được đầu ra với chi phí thấp nhất Nói cách khác, hiệu suất không chỉ bao gồm hiệu quả mà còn yêu cầu đạt được kết quả với chi phí tối ưu.

Hiệu quả hoạt động của trường học được đánh giá dựa trên mức độ đạt mục tiêu so với chuẩn quốc gia và so sánh với các trường tương đồng về số lượng và chất lượng học sinh Trong phân tích kinh tế, giá trị đầu vào và đầu ra cần được đo bằng tiền, với đầu vào bao gồm tài liệu giảng dạy và lương giáo viên Việc xác định hiệu suất tài chính tương tự như phân tích chi phí - lợi ích Lợi ích từ giáo dục trung học có thể được đo qua số học sinh đỗ vào các trường đại học, với sản phẩm là số học sinh học lên cao hơn Ngoài ra, hiệu quả cũng có thể được đánh giá qua điểm số thi cử của học sinh Tóm lại, có nhiều phương pháp để đo lường hiệu quả hoạt động của trường học.

1 Hình thức tổ chức trường học và tác động của nó

Phần này phân tích các đặc điểm của chức năng trường học nhằm đạt hiệu quả tối ưu Để nâng cao hiệu quả, cần có cái nhìn tổng quát về các yếu tố và khía cạnh của tổ chức và hoạt động trường học Các yếu tố dưới đây sẽ được sử dụng làm khung cơ bản để phân biệt các nhân tố và khía cạnh này.

 Cấu trúc của đơn vị

 Cấu trúc của các thủ tục

 Các quy trình hoạt động của tổ chức

 Môi trường trong tổ chức

Sơ đồ 2 : Hiệu quả hoạt động trường học

Trong mô hình này, mục đích đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả hoạt động của tổ chức Câu hỏi đặt ra là liệu tổ chức đã chọn đúng mục đích và mục tiêu hay chưa, cũng như cách thức đạt được các mục tiêu đó Lựa chọn mục đích chính xác có thể xem như công cụ đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan, đặc biệt là trong môi trường giáo dục, nơi yêu cầu này đến từ cộng đồng địa phương và hội cha mẹ học sinh Cuối cùng, nhà trường cần đảm bảo rằng mục đích và mục tiêu được hình thành từ sự đóng góp của đội ngũ giáo viên.

Hiệu quả hoạt động của trường học chủ yếu liên quan đến quản lý nhà trường, trong đó các mẫu hình phân cấp và tập trung hóa quản lý của từng quốc gia đóng vai trò quan trọng Các cấp quản lý hành chính cấp trên có trách nhiệm xem xét các điều kiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của trường, điều này có thể khác nhau tùy thuộc vào từng chức năng giáo dục, chẳng hạn như quản lý tài chính và quản lý chương trình học.

Trong lập kế hoạch giáo dục cấp quốc gia, việc xem xét phân cấp hoặc tập trung hóa chức năng là rất quan trọng Cần xác định, dựa trên điều kiện chính sách, cơ cấu và văn hóa, liệu có nên trao quyền hoàn toàn cho các trường để nâng cao hiệu quả hay vẫn cần có sự chỉ đạo và thúc đẩy từ cấp trên.

2 Các yếu tố có vai trò quan trọng trong giáo dục o Chính sách hướng tới thành tích/ mục tiêu cao

Các điều kiện ban đầu của tổ chức trường học

Các tác động của trường học bao gồm sự đồng thuận giữa cán bộ và giáo viên, chất lượng chương trình giảng dạy, và hệ thống hóa việc dạy và học Môi trường trường học và lớp học đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra thời gian học hiệu quả Ngoài ra, việc tiến hành và sử dụng kết quả đánh giá cũng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Sự tham gia của cha mẹ học sinh và cơ chế lãnh đạo, quản lý trong hệ thống giáo dục là những yếu tố không thể thiếu để nâng cao hiệu quả giáo dục.

Theo xu hướng quản lý hiện đại, khái niệm về chất lượng trong các mô hình trường học hiệu quả sẽ là:

- Đầu ra là tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng giáo dục

Để đánh giá chính xác đầu ra giáo dục, cần điều chỉnh các thành tích đạt được dựa trên thành tích trước đó và các đặc điểm đầu vào của học sinh Phương pháp này cho phép xác định giá trị gia tăng từ hoạt động giáo dục và giảng dạy tại trường.

Khi lựa chọn tiêu chí và chỉ số đánh giá, cần chú ý đến các nhân tố tương ứng với "được gia tăng giá trị" để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quá trình đánh giá.

Các tiêu chí đánh giá hiệu quả tổ chức

Quinn và Rohrbaugh (1983) đã phát triển mô hình hiệu quả tổ chức, gọi là mô hình mục đích hợp lý, trong đó hiệu suất và hiệu quả là tiêu chí trung tâm Mô hình này được thể hiện qua hai chiều: một chiều thể hiện tính linh hoạt và sự kiểm soát, trong khi chiều còn lại phân biệt giữa định hướng nội bộ và bên ngoài Từ khung này, có thể xây dựng các chỉ tiêu quá trình cho chức năng trường học Tuy nhiên, mô hình không chỉ ra mục tiêu giáo dục cụ thể nào là phù hợp Hai nhóm mục tiêu giáo dục quan trọng cần được xem xét là sự phát triển xã hội, tình cảm và đạo đức, cùng với sự phát triển các kỹ năng nhận thức chung.

Mô hình quan hệ con người trong hệ thống mở nhấn mạnh tầm quan trọng của tính nhất quán và tinh thần trong đầu vào, đồng thời yêu cầu sự linh hoạt và sẵn sàng để thích ứng Đầu ra của mô hình này không chỉ tập trung vào phát triển nguồn nhân lực mà còn hướng tới việc đạt được tăng trưởng bền vững và tối ưu hóa nguồn lực.

Mô hình quá trình nội bộ với mục đích hợp lý bao gồm các đầu vào như quản lý thông tin và liên lạc, lập kế hoạch và đặt mục tiêu Các đầu ra của mô hình này phản ánh tính ổn định và sự kiểm soát, đồng thời nâng cao hiệu suất và hiệu quả trong hoạt động.

Tính ổn định, sự kiểm soát

Mô hình quan hệ con người tập trung vào sự phát triển nguồn nhân lực và mức độ hài lòng trong công việc của giáo viên Theo Louis và Smith (1990), có bảy chỉ tiêu chất lượng trong công việc được định nghĩa.

- Sự tôn trọng: của những nhà quản lý, lãnh đạo ở trường và ở địa phương, cha mẹ học sinh và cộng đồng nói chung;

- Sự tham gia vào quá trình đưa ra quyết định, làm tăng thêm nhận thức của giáo viên về ảnh hưởng hay sự kiểm soát ở môi trường;

- Sự trao đổi chuyên môn thường xuyên và hào hứng với các đồng nghiệp (ví dụ: quan hệ hợp tác trên công việc/đồng nghiệp) trong trường;

THANH TRA

Hoạt động thanh tra trường học được thực hiện bởi các thanh tra viên, bao gồm việc rà soát nhiều chức năng khác nhau của trường Các thanh tra viên sẽ làm việc trực tiếp với cán bộ quản lý, dự giờ và trò chuyện với học sinh để đánh giá chất lượng giáo dục.

- Đi thanh tra các trường trong cả nước theo định kỳ (ví dụ: 2 năm một lần);

- Xây dựng các chuẩn thanh tra;

Sử dụng các phương pháp có hệ thống trong việc thu thập dữ liệu là rất quan trọng, chẳng hạn như thực hiện quan sát trường học và lớp học một cách có tổ chức Điều này giúp đảm bảo rằng thông tin thu thập được chính xác và có giá trị cho việc phân tích và cải tiến giáo dục.

Thanh tra trong giáo dục có hai chức năng chính: báo cáo kết quả cho các cơ quan quản lý và tư vấn cho trường học Vị trí của cơ quan thanh tra khác nhau ở mỗi quốc gia, phụ thuộc vào việc chuyển giao quyền quyết định từ trung ương xuống địa phương, tạo điều kiện cho các trường có nhiều quyền tự chủ hơn Việc định nghĩa tiêu chí và chuẩn mực thanh tra là một vấn đề kỹ thuật phức tạp, khác với quan sát hệ thống của các thanh tra viên Thanh tra không chỉ chú trọng đến chỉ số đầu ra mà còn xem xét chỉ số đầu vào và quy trình hoạt động của trường, điều này đặt ra thách thức trong việc đánh giá mối quan hệ giữa đầu ra và quá trình thực hiện.

Thách thức lớn nhất là tích hợp các quy trình hệ thống và chuẩn hóa trong việc thu thập dữ liệu với các kết luận chuyên môn từ thanh tra trường học Các báo cáo thanh tra cần phải bao gồm cả phân tích định tính lẫn định lượng để đảm bảo tính toàn diện và chính xác.

Thanh tra trường học đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục, yêu cầu đội ngũ cán bộ giáo dục có kinh nghiệm và hiểu biết vững vàng về các phương pháp thu thập dữ liệu hệ thống cũng như các phương pháp đánh giá tổng quát.

Thanh tra giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, nhưng việc định nghĩa tiêu chí thanh tra và thống nhất mô hình thanh tra trường học gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về văn hóa và mục tiêu giáo dục giữa các vùng miền Khi xây dựng mô hình thanh tra, cần xem xét các yếu tố xã hội, văn hóa và bối cảnh giáo dục Quan trọng hơn, các nhà hoạch định chính sách và các bên liên quan cần kết hợp thanh tra với mục tiêu đảm bảo mọi trường học đều có khả năng cung cấp dịch vụ giáo dục chất lượng cho tất cả học sinh và trẻ em trong xã hội.

1 Giám sát trên cơ sở thanh tra trường học

Trong các phần trước, chúng ta đã khám phá những khái niệm cơ bản và phương pháp đánh giá giáo dục Bây giờ, chúng ta sẽ áp dụng những khái niệm và phương pháp này vào thực tiễn để phục vụ cho công tác giám sát và thanh tra.

Thanh tra trường học là công cụ quan trọng trong việc giám sát và nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời đặt ra các tiêu chuẩn cho các cơ sở giáo dục Các nhà hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm đến những thách thức và trách nhiệm trong công tác thanh tra, cũng như sự quốc tế hóa trong lĩnh vực này Đặc biệt, giá trị cốt lõi của thanh tra là tạo ra ảnh hưởng tích cực đến trải nghiệm học tập của học sinh Do đó, việc thanh tra không chỉ dừng lại ở việc lập báo cáo mà còn cần phải có những đánh giá sâu sắc nhằm thúc đẩy sự cải thiện liên tục trong chất lượng giáo dục.

Một đặc điểm quan trọng trong quá trình phát triển hệ thống thanh tra là mối quan hệ giữa đánh giá bên ngoài và đánh giá nội bộ Thanh tra bên ngoài được coi là cần thiết cho một hệ thống giáo dục lành mạnh, nhằm ngăn chặn việc tự đánh giá của các trường trở thành tự lừa dối hoặc tự mãn Nhiều hệ thống giáo dục cho phép các trường linh hoạt hơn trong việc quyết định các tiêu chí chất lượng cụ thể, phù hợp với bối cảnh của từng trường.

Một số ý kiến cho rằng đánh giá ngoài có thể làm phân tán sự chú ý của nhà trường và giáo viên khỏi nhiệm vụ giảng dạy và học tập Nghiên cứu cho thấy tác động của thanh tra bắt đầu từ giai đoạn chuẩn bị và kéo dài trong suốt quá trình thanh tra, sau đó giảm dần trong vòng 18 tháng Tác động của thanh tra rất khác nhau, phụ thuộc vào thái độ của cán bộ, giáo viên đối với công tác thanh tra, chất lượng của công tác thanh tra và phản hồi từ thanh tra viên.

Cần nhớ rằng có nhiều cách tiếp cận khác nhau cho các nhiệm vụ đánh giá bên ngoài và nội bộ, tùy thuộc vào bối cảnh quốc gia Ở Anh, tự đánh giá của trường học được coi trọng hơn, và việc công nhận giá trị của tự đánh giá là một phần quan trọng trong quá trình thanh tra Mức độ thanh tra được xác định dựa trên các bằng chứng về thành công của trường học.

Trong quá trình thanh tra trường học, có hai thành tố quan trọng cần chú ý: đầu tiên là tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục, và thứ hai là phương pháp tiến hành thanh tra Tiêu chí này liên quan đến khái niệm về chất lượng giáo dục, trong khi phương pháp thanh tra tập trung vào việc thu thập bằng chứng và dữ liệu để đánh giá chất lượng giáo dục cũng như hiệu quả của công tác thanh tra.

2 Các hệ thống thanh tra trường học

Hệ thống thanh tra trường học có thể được phân biệt theo 4 đặc điểm cụ thể

- Trọng tâm của hoạt động thanh tra

- Kết quả hay đầu ra của quá trình thanh tra

- Độ dài và mức độ của quá trình thanh tra

- Vị trí và chỗ đứng của thanh tra trong hệ thống giáo dục.

Hoạt động thanh tra tập trung vào mục tiêu kiểm tra các cá nhân như giáo viên và hiệu trưởng, các cơ quan hoặc đơn vị, toàn bộ hệ thống giáo dục địa phương, các bộ phận trong trường học, và thực hiện thanh tra theo các chuyên đề cụ thể.

Các quốc gia như Vương quốc Anh, Flanders, Bắc Ireland, Scotland, Cộng hòa Séc và Hà Lan áp dụng thanh tra trường học theo cách tiếp cận tổng thể, trong khi Pháp và Hy Lạp tập trung vào thanh tra cá nhân (giáo viên) Mỗi quốc gia có sự chú trọng khác nhau trong việc thanh tra, tùy thuộc vào bối cảnh giáo dục cụ thể Kết quả thanh tra cũng khác nhau, bao gồm đánh giá theo tiến trình và đánh giá kết thúc Đánh giá theo tiến trình nhấn mạnh chức năng tham vấn, trong khi đánh giá kết thúc tập trung vào trách nhiệm giải trình Gần đây, có tranh luận về việc tất cả các hệ thống thanh tra cần cung cấp kết quả độc lập và có trách nhiệm với công chúng, đảm bảo tính giá trị và đáng tin cậy.

Quá trình thanh tra giáo dục ở các quốc gia khác nhau có mục đích và giả định khác nhau, dẫn đến các kết quả và tiêu chí đánh giá chất lượng giảng dạy và giáo viên khác nhau Chất lượng thanh tra phụ thuộc vào giá trị, tính đáng tin cậy và sự rõ ràng của báo cáo, sử dụng cả thông tin định tính và dữ liệu định lượng Các quốc gia như Cộng hòa Séc, Hà Lan và Anh đã phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu thanh tra, trong đó Anh có cơ sở dữ liệu tiên tiến nhất ở châu Âu Độ dài và mức độ của quá trình thanh tra được điều chỉnh dựa trên hiệu quả hoạt động của trường và các đánh giá trước đó, với khoảng thời gian thanh tra thường từ 3-5 năm, ngắn hơn cho các trường có hiệu quả cao hơn.

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ SỐ GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ TRƯỜNG HỌC 28 1 Sử dụng chỉ số ở các cấp

HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG TRƯỜNG HỌC

HỆ THỐNG CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆU TRƯỞNG

Ngày đăng: 18/06/2021, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w