1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu công cuộc cải cách hành chính ở gia định dưới triều minh mạng (1820 1840)

88 1,3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước đầu tìm hiểu công cuộc cải cách hành chính ở Gia Định dưới triều Minh Mạng (1820 - 1840)
Tác giả Phan Thị Hơng Giang
Trường học Trường Đại học S phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 196,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở đây, quy tắc làm việc, lề lối làm việc và chuyên trách làm việc cáccơ quan của con ngời thời Nguyễn - Minh Mạng chính là cái ta bàn đến.Bởi vì vấn đề hành chính “là hoạt động của các t

Trang 1

* Dẫn luận 1

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu 5

* Nội dung

Chơng 1: Một số vấn đề về bộ máy nhà nớc từ sơ khởi đến thời Gia Long

1.1 Các cuộc cải cách hành chính trớc thời nhà Nguyễn 71.2 Bộ máy hành chính thời Gia Long 15

Chơng 2: Vài nét về công cuộc cải cách hành chính dới triều Minh Mạng

(1820-1840)

2.1 Tiểu sử, t tởng chính trị nổi bật của Minh Mạng 23

2.1.1 Tiểu sử vua Minh Mạng (1791 - 1841) 232.1.2 Sự lên ngôi của Minh Mạng 262.1.3 T tởng chính trị nổi bật của Minh Mạng 292.2 Công cuộc cải cách hành chính của Minh Mạng (1820 - 1840) 37

2.2.1 Cải cách hành chính ở Trung ơng 372.2.2 Cải cách hành chính ở địa phơng: 45

Chơng 3: Cuộc cải cách hành chính ở Gia Định dới triều Minh Mạng

Trang 2

cố đất nớc cha đợc bao lâu, bối cảnh thời đại ập đến, “bắt ”nhà Nguyễn phải

“hứng chịu” trong khi không có kinh nghiêm ứng phó Cuối cùng, sự chấmdứt nhà nớc Nguyễn với t cách là vai trò đứng đầu một đất nớc thống nhất

và nớc ta rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp

Nghiên cứu lịch sử triều Nguyễn có nhiều vấn đề nổi cộm, đan xenphức tạp Chính vì vậy mà nhiều cuộc tranh luận lịch sử về triều đại này vẫntiếp tục diễn ra Có những vấn đề chỉ xét riêng các vua Nguyễn và cũng cónhững vấn đề triều Nguyễn chịu sự chi phối đặc điểm chung của “phongcách nho giáo ” và “quỹ đạo châu á” lúc bấy giờ

Học lịch sử Việt Nam cận hiện đại, giai đoạn 143 năm tồn tại củatriều Nguyễn Để lý giải tất cả các vẫn đề xảy ra trong quá trìng đó,thậtkhông phải là một vấn đề đơn giản Nhng hiện nay trong thời kỳ đầu, tứcthời gian nhà Nguyễn tồn tại với t cách thống lĩnh nớc Việt trong 81 năm,các nhà nghiên cứu đã có những nhìn nhận khách quan, đúng đắn, khoa học

để đánh giá đúng công lao đóng góp nhà Nguyễn cho đất nớc

Ngày nay, khi nhắc đến những thành tựu của nhà Nguyễn trong thời

kỳ đó ngời ta thờng kể đến các mặt: sự nghiệp thống nhất đất nớc, nhữngtác phẩm đồ sộ về văn chơng, sử học gặt hái nhiều thành công và trở thànhngành khoa học riêng biệt có cơ quan chuyên trách Ngoài ra, còn có thànhtựu về học thuật, t tởng Dù cho có còn nhiều ý kiến nhận xét, phê phán về

Trang 3

triều Nguyễn thì những thành tựu dới triều Nguyễn là điều không thể phủnhận và ngời ta thờng nói nhà Nguyễn “đợc mùa về văn hoá”

Nhng có lẽ vẫn còn tồn tại một số ngời cha suy luận một cách lôgícrằng những thành tựu đạt đợc đó là hệ quả của cơ cấu tổ chức quản lý - một

bộ máy hành chính vận hành có hiệu quả đợc cải cách hoàn thiện dới triềuMinh Mạng (1820-1840) Bộ máy hành chính đó nh là bệ đỡ cho “dạng vậtchất đầu tiên” để “sản sinh” ra các dạng vật chất khác

ở đây, quy tắc làm việc, lề lối làm việc và chuyên trách làm việc cáccơ quan của con ngời thời Nguyễn - Minh Mạng chính là cái ta bàn đến.Bởi vì vấn đề hành chính “là hoạt động của các tổ chức xã hội điều hànhtoàn bộ công việc của hệ thống Nhà nớc trên tất cả các lĩnh vực, là sự thựcthi pháp luật bằng các văn bản pháp quy, các thiết chế, các quy trình và thủtục một cách hợp lý và có hiệu quả; là một hệ thống quản lý bảo đảm choxã hội phát triển có kỷ cơng nền nếp theo yêu cầu của giai cấp cầmquyền”[38,11] Thế nên, cải cách nền hành chính quốc gia thực chất là điềuchỉnh và đổi mới cơ cấu và sự vận hành của bộ máy quản lý về phơng diện

tổ chức và thiết chế nhằm thúc đẩy tính hiệu quả của tổ chức để đáp ứngyêu cầu của thực tế khách quan và đạt đợc nhanh chóng những mục tiêuphát triển đất nớc theo ý thức của nhà cầm quyền

Công cuộc cải cách hành chính dới triều Minh Mạng (1820-1840), đã

đặt ra những thiết chế mới và có sự đổi mới trong việc quản lý đất nớc tanửa đầu thế kỷ XIX Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, việc tổ chức bộ máyhành chính nh chia đặt tỉnh, các công việc quản lý huyện, xã việc thanh tra,giám sát quan lại dới triều Minh Mạng, trong chừng mực nào đó vẫn cònmang tính thời sự và không kém phần cần thiết cho các nhà quản lý hànhchính hiện nay

Bớc sang thời hiện đại, có một thời kỳ, có lẽ do rải qua chiến tranhtàn khốc quyết liệt, chúng ta đã không biết kế thừa những cuộc cải cáchhành chính trong lịch sử mà sát nhập một vài tỉnh lại với nhau Thực tế đó

Trang 4

nhà nớc phải có chính sách điều chỉnh lại Hiện nay, chúng ta đang đặt vấn

đề cải cách hành chính dới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX,không chỉ lànhu cầu hiểu biết,nhiệm vụ của ngời muốn nghiên cứu khoa học mà còngóp phần giúp những ngời quan tâm nhất là những ngời làm cơ quan quản

lý hành chính có cái nhìn cụ thể và vấn đề có tính khoa học vừa có tính thựctiễn này

Hiện nay,việc nghiên cứu lịch sử vùng đất “Gia Định xa” đặc biệt

đ-ợc chú trọng,có lẽ vì Nam Bộ ngay nay có tầm quan trọng mang tính đầucầu đối với chiến lợc phát triển của quốc gia Nhất là trong những năm cuốicùng của thế kỷ trớc(thế kỷXX), đất nớc kỷ niệm “300 năm Sài Gòn - Gia

Định ” (1698-1998) “Gia Định xa ”đợc viết “rầm rộ” trên các báo, tạp chí,các sách có liên quan đến lịch sử Nam Bộ đợc tái bản lại hoàn toàn.Tuynhiên, trong tất cả các tài liệu trên phần cải cách hành chính ở Gia Định cha

có tài liệu nào lý giải một cách toàn diện thấu đáo trong khi cuộc cải cách

đó có ỹ nghĩa thực tiễn rất lớn đối vói sự phát triển của đất nớc Đại Nam

Khi học tập lịch sử triều Nguyễn giai đoạn này, chúng tôi muốnnghiên cứu cuộc cải cách hành chính dới triều Minh Mạng(1820-1840), đặcbiệt là ở Gia Định.Nh vậy, không có nghĩa là chúng tôi nghiêng về xu hớng

đề cao nhà Nguyễn.Đấy chính là sự phiến diện trong cơ hội nhìn nhận lại vềlịch sử nhà Nguyễn mà là chúng tôi muốn nghiên cứu để hiểu thấu hơn bảnthân một vấn đề lịch sử.Hơn nữa, trong chơng trình phổ thông thì viêcnghiên cú nghiêm túc đề tài không những nâng cao tầm hiểu biết mà conphục vụ cho việc dạy học về sau Vì tất cả những lý do trên mà tôi đã chọn

đề tài”Bớc đầu tìm hiểu công cuộc cải cách hành chính ở Gia Định dới triềuMinh Mạng (1820-1840)” để nghiên cứu

2 Lịch sử đề tài

“Cải cách hành chính dới triều Minh Mạng (1820-1840) không phải

là một đề tài mới Trớc khi xuất hiện những t liệu nghiên cứu về cuộc cảicách về bộ máy nhà nớc Nguyễn đã có những bộ sử đề cập đến Bộ “ViệtNam sử lợc” của Trần Trọng Kim, xuất bản năm 2000 Nh tính sử lợc của

Trang 5

nó, cải cách hành chính của Minh Mạng đợc nhắc qua trong số những sựnghiệp khác của vua Nguyễn Quyển “Lịch sử Việt Nam” (Từ nguồn gốc

đến thế kỷ XIX), in năm 1956 của Đào Duy Anh cũng chỉ dùng bảy dòngnói đến cuộc cải cách đó Năm 1960 bộ sách “ Lịch sử chế độ phong kiếnViệt Nam” tập 3, do Phan Huy Lê chủ biên cũng chỉ dành mời trang trìnhbày bộ máy chính quyền Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX

Do tính chất giáo trình của các tài liệu trên mà cải cách hành chính

d-ới triều Minh Mạng là một vấn đề điểm qua mang tính thông sử

Tháng 6/1993, trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử - Tập chuyên san vềnhà Nguyễn có bài của PGS Nguyễn Danh Phiệt với tiêu đề “Suy nghĩ về :

Bộ máy Nhà nớc quân chủ trung ơng tập quyền Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX”,nhng đây chỉ là bài tạp chí nhận xét bộ máy Nhà nớc quân chủ Nguyễn trong

xu thế phát triển của lịch sử Đầy đủ nhất về cuộc cải cách hành chính củaMinh Mạng là Luận án PTS bảo vệ năm 1994 của Nguyễn Minh Tờng và tiếp

đó là t liệu “Tổ chức bộ máy Nhà nớc triều Nguyễn 1802-1884”, xuất bảnnăm 1997 do Đỗ Bang chủ biên Đến nay cha có t liệu nào viết về cải cáchhành chính dới triều Minh Mạng vợt tầm hai t liệu trên Trong quyển củaNguyễn Minh Tờng, ông nghiên cứu cuộc cải cách của Minh Mạng từ trung -

ơng đến địa phơng, còn quyển sách do Đỗ Bang chủ biên nghiên cứu chứcnăng, nhiệm vụ và các thay đổi của các cơ quan

Tất cả nguồn tài liệu nghiên cứu trên, cha có tài liệu nào đề cập mộtcách đầy đủ, toàn diện cũng nh ý nghĩa về cuộc cải cách ở Gia Định

Đợc sự đồng ý của các thầy cô giáo, đặc biệt là giáo viên hớng dẫnTS.Trịnh Thị Thuỷ, tôi mạnh dạn lấy cuộc cải cách hành chính ở Gia Định

làm đề tài khoá luận tốt nghiệp: “Bớc đầu tìm hiểu công cuộc cải cách hành chính ở Gia Định dới triều Minh Mạng (1820-1940)”, với mong

muốn rằng sự nỗ lực hết mình đóng góp khôi phục cuộc cải cách hànhchính ở Gia Định một cách đầy đủ, toàn diện Ngoài ra, chúng tôi còn cómột ý muốn dù hết sức nhỏ nhoi đó là góp một phần công lao trong giới

Trang 6

nghiên cứu sử học đánh giá lại vị trí của vơng triều Nguyễn, nhất là dớitriều vua Minh Mạng (1820-1840) trong tiến trình lịch sử của dân tộc

Do hạn chế của bản thân và nguồn t liệu, chắc chắn đề tài còn chứa

đựng những thiếu sót Rất mong các thầy cô giáo cùng bạn bè góp ý để bảnthân tiến bộ hơn nữa trong con đờng làm quen với nghiên cứu khoa học -khoa học lịch sử

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tợng nghiên cứu là công cuộc cải cách hành chính ở Gia Định

d-ới triều Minh Mạng Do đó phạm vi mà nó xem xét trong công cuộc cảicách hành chính của Minh Mạng (1820-1840) Chính vì thế trớc khi đi sâuvào cuộc cải cách ở Gia Định phải tìm hiểu vài nét về công cuộc cải cáchcủa Minh Mạng trên phạm vi cả trung ơng và địa phơng

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

Tài liệu nghiên cứu chủ yếu dựa vào các bộ chính sử của triềuNguyễn: Đại Nam thực lực chính biên đệ nhị kỷ, xuất bản từ 1962-1964;

Đại Nam hội điển sự lệ, xuất bản năm 1993; Minh Mệnh chính yếu, xuấtbản năm 1972-1974; Đại Nam nhất Thống Chí - Lục tỉnh Nam Việt, 1973;Gia Định xa và nay, 1973; Gia Định Thành thông chí, 1998; Cải cách hànhchính dới triều Minh Mạng, 1996; Tổ chức bộ máy Nhà nớc triều Nguyễn1802-1884, 1997; Tạp chí Xa và nay Kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - Gia Định

từ năm 1997 - 1999; Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 1999

Nhìn lại tiến trình phát triển lịch sử Việt Nam một cách tổng quátchúng ta sẽ thấy một đặc điểm nổi trội nhất, đó là cứ mỗi lúc lịch sử khẩnthiết đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ phải giải quyết thì xã hội Việt Nam cũng lạixuất hiện những nhân vật xuất chúng đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử ấy: Đinh

Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, Lý Thờng Kiệt với cuộc kháng chiến chốngTống, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi

Trang 7

Nh thế, ta không phải nghiễm nhiên đặt Minh Mạng đứng nganghàng với các vị anh hùng dân tộc Bởi trong bối cảnh khác nhau họ giảiquyết yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau và tầm dân tộc của các nhân vật xâydựng đất nớc thời bình so sánh với thời chiến chắc hẳn có sự chênh lệchlớn Song có thể nói trong hoàn cảnh lịch sử yêu cầu lúc đó thì họ cũng đãhoàn thành nhiệm vụ của mình khá xuất sắc và về một mặt nào đó có thểcoi vua Minh Mạng cũng là nhân vật mà lịch sử giao phó những trọng trách.

Sự nghiệp của Minh Mạng không dừng lại của sự nghiệp vị vua kế ngôidòng họ Nguyễn mà đánh dấu sự phát triển t tởng chính trị - văn hoá củadân tộc Việt Nam

ở đây, chúng tôi muốn lu ý đến vấn đề trong trờng hợp nhất định, cánhân có vai trò quan trọng với bớc tiến của lịch sử Lịch sử cải cách nóichung, lịch sử t tởng cải cách hành chính nói riêng đến triều Minh Mạng đãthực sự đẩy lên một bớc cao hơn phù hợp với mục đích và yêu cầu của nhàcầm quyền cũng nh bối cảnh chung của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ

Trong đề tài khoá luận, chúng tôi sử dụng nghiên cứu tổng hợp nhiềungành khoa học Trong đó phơng pháp lịch sử kết hợp với phơng pháplô gíc giữ vai trò chủ yếu Đề tài cũng sử dụng phơng pháp đặc thù của cáckhoa học khác nh nghiên cứu địa danh học, lịch sử, thống kê v.v để hỗ trợcho t liệu sử học giải quyết những vấn đề khoá luận đặt ra

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần dẫn luận và kết luận, nội dung của khoá luận chia làm

Trang 8

Nội dungChơng 1 Một số vấn đề về bộ máy nhà nớc từ sơ khởi

đến thời Gia Long

1.1 Các cuộc cải cách hành chính trớc thời nhà Nguyễn.

Nghiên cứu các cuộc cải cách hành chính trong tổ chức bộ máy Nhànớc của lịch sử trung đại phong kiến Việt Nam, đầu tiên ta phải kể đến cuộccải cách hành chính của Khúc Hạo năm 907 Nghiên cứu về cuộc cải cáchhành chính của Khúc Hạo ta không cốt lấy bề dày của thời gian mà ta tìm ở

đây một t tởng canh tân, một t duy mới thay đổi, cải tạo cái cũ khi yêu cầulịch sử đòi hỏi, đặt ra rất sớm ngay từ buổi đầu dựng nền tự chủ Song nữa,

ta còn tìm thấy cái nền móng của bộ máy hành chính cho ngôi nhà trung

đại phong kiến Việt Nam đợc gây dựng mầm mống bắt đầu từ đây Đó mới

là cái gốc rễ để ta hiểu toàn bộ các cuộc cải cách hành chính dới các triều

đại nói chung và công cuộc cải cách hành chính của Minh Mạng nói riêng

Trải qua hơn 1.000 năm dới ách đô hộ của các triều đại phơng Bắc,vào năm 905, vị hào thổ đất Hồng Châu(1) là Khúc Thừa Dụ đã nhanh chóngkhởi binh, đánh tan quân đô hộ, buộc triều định nhà Đờng trong thế sụp đổ

đã phải cách chức tiết độ sứ Độc Cô Tổn, chấm dứt nền đô hộ của mình trên

đất Tĩnh Hải Họ Khúc đã trở thành ngời chủ của An Nam và đầu năm 906,vua Đờng buộc phải phong thêm "cho Tĩnh Hải quân tiết Độ sứ Khúc Thừa

Dụ chức đồng bình chơng sự" Lúc đó, những ngời đứng đầu đất nớc chathành lập vơng triều nhng thật sự "thời Bắc thuộc" đã chấm dứt vĩnh viễn,

đất nớc chuyển sang một thời đại mới, thời đại độc lập, tự chủ dới chế độphong kiến

Trong hơn một thiên niên kỷ xâm lợc và đô hộ, các triều đại phơngBắc ngoài chính sách bóc lột tô thuế, sai dịch cống nạp và các sản phẩm

Trang 9

quý hiếm, chính quyền đô hộ không chỉ dừng lại ở những chính sách vơ vétcớp bóc tàn bạo đó, mà còn ráo riết thực hiện chính sách đồng hoá nhằmHán hoá Việt tộc , vĩnh viễn xoá bỏ sự tồn tại của quốc gia Âu Lạc và dântộc Việt, biến đất nớc Âu Lạc thành quận, huyện của Trung Quốc Để xâydựng và bảo vệ chính quyền vừa mới giành đợc, lịch sử yêu cầu họ Khúcphải thực hiện những cải cách về hành chính, chính trị xã hội để xoá bỏ dầnnhững ảnh hởng sâu sắc và hậu quả nặng nề do thời Bắc thuộc để lại, khắcphục tính phân tán của quyền lực thủ lĩnh địa phơng, xây dựng một chínhquyền dân tộc thống nhất từ Trung ơng đến các làng xã

Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con ông là Khúc Hạo lên kế vị, tiếptục sự nghiệp và tinh thần tự chủ của cha mình Ông đợc nhà Hậu Lơng(1)

phong chức "An Nam đô hộ tiết độ sứ" Từ đó dựa vào sự ủng hộ của nhândân, Khúc Hạo đã thực hiện một cuộc cải cách về nhiều mặt nhằm xâydựng một quốc gia độc lập, tự chủ trong đó có cải cách hành chính - một bộphận rất quan trọng trong cuộc cải cách của Khúc Hạo

Trong cuộc cải cách , Khúc Hạo bãi bỏ bộ máy hành chính, chínhquyền đô hộ của nhà Đờng để thành lập một bộ máy quản lý đất nớc riêngcủa mình Chính quyền cũ của phơng Bắc từ An Nam đô hộ phủ đến châu,huyện rồi đến hơng, xã (An Nam đô hộ phủ châu  huyện  xã) Theosách "An Nam chí nguyên" của Cao Hùng Trng(2) thì hơng do chính quyền

đô hộ nhà Đờng đặt ra gồm có 2 loại tiểu hơng (từ 70 đến 150 hộ) và đại

h-ơng (160 - 540 hộ) Hh-ơng là một đơn vị hành chính gồm số xã có địa d gầnnhau Xã gồm có tiểu xã (10-30 hộ) đại xã (40-60 hộ) Trên thực tế, chínhquyền đô hộ chỉ quản lý cấp châu, huyện và một phần cấp hơng, chứ khôngthể vơn tay đến làng xã cổ truyền của dân Việt

Khúc Hạo tổ chức lại bộ máy quản lý Nhà nớc từ Trung ơng đến cấpxã nhằm xây dựng một chính quyền dân tộc thống nhất Ông chia cả nớcthành những đơn vị hành chính các cấp : lộ, phủ, châu, giáp xã (Đơn vị h-

ơng trớc đó đợc đổi thành giáp) Đứng đầu giáp là quản giáp và phó tri giáp

Trang 10

Ngoài những hơng cũ đổi thành giáp Khúc Hạo còn chia đặt thêm nhiềugiáp mới; tổng cộng 314 giáp (thời chính quyền đô hộ của nhà Đờng ở nớc

ta có 159 hơng) Lãnh thổ thuộc quyền cai quản của chính quyền mới đợc

mở rộng hơn trớc ở các giáp , Khúc Hạo còn cho đặt các chức lệnh trởng,tá lệnh trởng và giáp trởng trông coi nhằm tăng cờng sự quản lý trực tiếpcủa chính quyền Trung ơng đối với các đơn vị hành chính cơ sở, đồng thờixác lập quyền tự chủ của đất nớc

Kế đó, để nắm đợc số dân trong nớc, Khúc Hạo đã cho lập sổ hộkhẩu bắt dân đinh phải " kê rõ họ tên, quê quán" và giao cho giáp trởng coigiữ Nh sử cũ đã ghi, bấy giờ "chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị"khiến cho "nhân dân đều đợc yên vui"

Cộng với một số cải cách kinh tế, những cải cách của Khúc Hạo nóitrên đã tạo điều kiện cho chính quyền địa phơng trong nớc, góp phần quantrọng củng cố sự thống nhất lãnh thổ, bớc đầu xoá bỏ chế độ bóc lột , ápbức nặng nề của chính quyền đô hộ, tạo điều kiện cho nhân dân ta sống vàsản xuất "yên vui", ổn định, tránh đợc mọi sự hạch sách, cõng bức của bọnquan lại đô hộ trớc đây, đồng thời cũng tạo cơ sở thuận lợi cho nhân dân tagia tăng sức lao động sáng tạo, nâng cao dần cuộc sống của mình Cuộc cảicách của Khúc Hạo tuy dựa trên những thiết chế đã có của thời thuộc Đờngnhng đã vợt qua những hạn chế của nó, thể hiện rõ tinh thần của một quốcgia độc lập, có quyền tự chủ của mình Những cải cách đó cũng nhận đợc

sự ủng hộ của nhân dân và thực sự đáp ứng đợc những mong muốn củanhân dân khi đã giành lại đợc độc lập

Với những ý nghĩa đó, cuộc cải cách của Khúc Hạo có vị trí lịch sử

to lớn, mở đầu cho lịch sử t tởng cải cách và các cuộc cải cách nói chungcải cách hành chính nói riêng trong lịch sử trung đại Việt Nam

Bộ máy hành chính quốc gia Đại Việt trởng thành dần qua các triều

đại Đinh - Lê -Lý - Trần Qua các thời kỳ lịch sử bộ máy hành chính nớcViệt vẫn đơn giản do một quy mô quản lý còn hạn hẹp và xã hội cha nảysinh những nhiệm vụ đặt ra cho nó Cuối thời nhà Trần khi vấn đề quý tộc

Trang 11

làm “quẩn chân” bớc tiến của lịch sử thì xuất hiện Hồ Quý Ly với cuộc cảicách khá quy mô trong đó có cải cách hành chính Song cải cách Hồ Quý

Ly phần vì dở dang , thất bại lại thực hiện trong hoàn cảnh quá khắc nghiệtcả bên trong lẫn bên ngoài.Chính vì thế ngời ta chỉ phân hiểu tầm cỡ của nóchứ không thể xếp vào thế u thúc đẩy bộ máy hành chính thêm một bớc, cóchăng đó là sự đóng góp về mặt t tởng nhen mầm cho cuộc cải cách hànhchính dới triều vua Lê Thánh Tông

Nếu nh, cải cách hành chính của Khúc Hạo đặt cơ sở cho sự tồn tại

và phát triển của chế độ phong kiến, thì cải cách hành chính của Lê ThánhTông đa chế độ phong kiến đến đỉnh cao, là biểu hiện của sự xác lập vàphát triển chế độ phong kiến Việt Nam về mặt thợng tầng kiến trúc Cuộccải cách Lê Thánh Tông vừa thể hiện sự tiến triển của bộ máy tổ chức hànhchính của quốc gia Đại Việt vừa phù hợp và đáp ứng yêu cầu của lịch sửViệt Nam bấy giờ

Công cuộc cải cách của Lê Thánh Tông bắt nguồn từ sự dựng nghiệpcủa nhà Lê, mà trực tiếp nhất là từ chính bản thân Nhà nớc Lê sơ trongnhững năm đầu từ năm 1428 đến năm 1460

Quá trình khởi nghiệp của họ Lê gắn liền với cuộc khởi nghĩa LamSơn diễn ra trong 10 năm ròng Giặc Minh sang xâm lợc và đô hộ nớc ta,sau sự thất bại giặc Minh do Nhà Hồ lãnh đạo nhân dân ta rời vào cảnhcùng cực, lầm than Bởi thế, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo

nó không những làm rạng danh những trang anh hùng hào kiệt mà còn thểhiện ý chí bất khuất của cả dân tộc Việt Đó chính là bối cảnh thuận lợi đểnhà Lê tập trung sức động viên của quân và dân để xây dựng Nhà nớc mới,vơng triều mới đạt đến đỉnh cao và phát triển thịnh vợng trên tất cả các mặt:kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục…

Song, cũng trong quá trình khởi nghĩa đuổi quân xâm lợc Minh, nớc

Đại Việt chịu bao tang thơng, mất mát Hệ thống hành chính quốc gia thời

Lý - Trần - Hồ bị xoá bỏ và thay vào đó là chế độ đô hộ với tổ chức t ơng tự

Trang 12

dài và mở rộng thêm từ Nam Thuận Hoá đến núi Thạch Bi (giáp Phú 1471) Tình hình mới đó lại chất thêm sức nặng trên đôi vai của vơng triềumới.

Yên-Lê Lợi lên ngôi vua, sáng lập triều đại mới Yên-Lê Thái Tổ cha thể xâydựng ngay đợc một hệ thống hành chính hoàn toàn khác trớc, và cùngkhông thể học tập tổ chức Nhà nớc của nhà Minh ở Trung Quốc Do đó, nhmột bớc quá độ phải tạm thời lập lại các thiết chế chính trị của Nhà nớc thờiTrần - Hồ với một số cải biến Chính vì lẽ này mà Nhà nớc phong kiến Lêsơ trong nững năm đầu còn nhiều vấn đề tồn tại

Thứ nhất, đó là cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà nớc và hànhchính mang tính phân tán, quyền lực của Nhà nớc quân chủ quan liêu Trung

ơng tập quyền bị hạn chế

Đứng đầu triều đình là vua, sau vua là chức Tả hữu tớng quốc kiểmhiệu bình chơng quân quốc trọng sự, rồi đến các chức Tam Thái, TamThiếu, Tam T Các trọng chức của đại thần văn võ chỉ trao cho các thânthuộc nhà vua và bầy tôi có công Dới là hai ngạch ban văn và ban võ Banvăn có chức "đại hành khiển" đặt theo qui chế nhà Trần "Lịch triều hiến ch-

ơng loại chí" chép : "Triều Lê lúc mới lên, theo quan chế của Triều Trần,chia đặt chức Đại hành khiển và hành khiển 5 đạo, cho chia giữ các việc sổsách, kiện tụng về quân dân, những chức ấy đều ở đầu ban văn, ngang với tểtớng ”[4,468]

Sau Đại hành khiển là Thợng th đứng đầu Bộ, bấy giờ mới chỉ có haiBộ: Bộ Lại và Bộ Lễ, bên cạnh đó có một số cơ quan chuyên trách nh: Nộimật viện, Ngũ bình viện, Bí th giám, Ngự sử đài, Hàn lâm viện Quốc tửgiám v.v Ban võ có các chức Đại tổng quản, Đại đô đốc, Đô tổng quản.Những chức này chỉ huy quân thờng trực ở kinh thành và các vệ quân ở các

đạo, dới có các chức võ tớng cao cấp khác nh: Điện tiền, Kiểm hiệu, Đô chỉhuy sứ, Phó sứ và tứ sơng chỉ huy sứ, chức Tổng binh quản lĩnh

Trang 13

ở địa phơng, cả nớc chia làm năm đạo do Hành khiển đứng đầu Dới

đạo là 24 lộ do An phủ sứ phụ trách Các lộ về mặt quy mô không đồng

đều Dới lộ là huyện, châu, xã

Nhìn chung, bộ máy Nhà nớc những năm đầu thời Lê sơ đã có bớctiến về mức độ tập trung chính quyền song chủ yếu vẫn dựa vào quy chế tổchức bộ máy Nhà nớc của các triều đại trớc Thiết chế chính trị nh vậy rõràng còn cha chặt chẽ, cha hoàn chỉnh và mang tính phân tán Nhợc điểmnày đã bộc lộ ngay từ nửa sau thế kỷ XIV và từ đó đã đặt ra yêu cầu cảicách Bây giờ, trong tình hình mới mà vẫn duy trì thiết chế đó tất yếu sẽkìm hãm sự phát triển của đất nớc, của xu thế lịch sử

Thứ hai, đó là một chính quyền Trung ơng cha mạnh, nội bộ vơngtriều mâu thuẫn, tranh giành địa vị, quyền lực Sau khi vị vua đầu triều qua

đời, các vua kế vị thờng còn ít tuổi Thái Tông lên ngôi vua lúc 10 tuổi,Nhân Tông lên ngôi lúc 2 tuổi, không đủ khả năng kiềm chế tình trạng mâuthuẫn nội bộ, giết hại lẫn nhau các công thần khai quốc lần lợt bị giết nhTrần Nguyên Hãn, Lu Nhân Chú, Nguyễn Trãi … Tình trạng lộng quyền,tham những, ăn chơi xa hoa phổ biến khắp nơi, sau này Lê Thánh Tôngnhận xét "Khoảng năm Thái Hoà, Diên Ninh (thời Thái Tổ, Nhân Tông)trên thì tể tớng, dới đến trăm quan, mu lợi lẫn nhau, bừa bãi hối lộ" Thựctrạng đó càng làm cho Nhà nớc tập quyền suy yếu Để xây dựng một Nhànớc quân chủ trung ơng tập quyền mạnh, đòi hỏi phải chấn chỉnh lại kỷ c-

ơng phép nớc, phải cải cách cả về thiét chế chính trị, cả về cơ chế vận hànhcủa bộ máy hành chính từ Trung ơng đến các địa phơng khắc phục tìnhtrạng bất cập giữa tập trung và phân tán

Thứ ba, đó là cơ cấu kinh tế - xã hội Nhà nớc quân chủ quan liêu cha

đợc vững chắc đòi hỏi phải có những chủ trơng, chính sách về kinh tế - xãhội mang ý nghĩa cải cách Tiến trình phát triển của quốc gia Đại Việt trảiqua các vơng triều Ngô, Đinh, Tiền , Lê, Lý, Trần (TKX - XIV), là cả quátrình phong kiến hoá ngày càng mạnh mẽ, nhng chịu sự tác động của phơngthức sản xuất mang đặc trng của Phơng Đông Các làng xã là cơ sở hành

Trang 14

chính của Nhà nớc quân chủ còn mang nặng tính tự trị, tự quản,vẫn trực tiếpnắm quyền quản lý và phân chia ruộng đất công theo tập tục của làng, mặc

dù phải chịu dới quyền sở hữu của Nhà nớc.Nhà nớc Lê sơ từ Lê Thái Tổ

đến Lê Nghi Dân (1428 - 1460) tuy đã thực hiện một số chính sách và biệnpháp nhằm xác lập quyền sở hữu ruộng đất công của Nhà nớc, tăng cờngviệc quản lý làng xã, nhng vai trò quản lý của Nhà nớc Trung ơng tập quyền

đối với ruộng đất và sản xuất nông nghiệp, với làng xã, củng cố quyền lựckinh tế của vơng triều thông qua việc pháp chế hoá thống nhất trong phạm

vi cả nớc quyền sở hữu tối cao của Nhà nớc về ruộng đất vẫn cha đợc tăngcờng, quan hệ sản xuất địa chủ - nông dân lệ thuộc vẫn cha hoàn toàn đợcxác lập, cha trở thành quan hệ kinh tế chủ đạo thống trị trong xã hội Do đó,chế độ quân chủ quan liêu vẫn cha có cơ sở vững chắc để đợc xác lập Đểhoàn hành quá trình phong kiến hoá, để xác lập chế độ quân chủ quan liêu,

để xây dựng một Nhà nớc tập quyền mạnh phải cải cách đồng bộ, toàn diện

mà nhất là trong lĩnh vực chính trị, chính quyền

Lê Thánh Tông là một trong những vị vua ở ngôi tơng đối lâu (1460 1497), đồng thời triều đại này cũng có những đóng góp to lớn vào đời sốngmọi mặt của quốc gia Đại Việt Trong thời gian ở ngôi, Lê Thánh Tông đã

-đề ra và thực hiện nhiều chính sách, biện pháp mang ý nghĩa cải cách thúc

đẩy sự phát triển mọi mặt của đất nớc Trong những chính sách ấy có côngcuộc cải cách hành chính là bớc tiến quan trọng trong việc cải tổ bộ máychính quyền từ Trung ơng đến địa phơng, đánh dấu mốc quan trọng tronglịch sử cải cách của lịch sử phong kiến Việt Nam

Trong lời hiệu định quan chế ban hành ngày 26 tháng 9 năm Hồng Đức ,thứ 2 (1471) vua nói rõ: "Đồ bản đất đai ngày nay, so với thời trớc đã khác xa

Ta cần phải tự mình giữ quyền chế tác, hết đạo biến thông [4,482]

Từ mục đích xuất phát của cuộc cải cách là nhằm khắc phục nhữnghạn chế, yếu kém của bộ máy hành chính và thực trạng tình hình chính trị

để có đợc một nhà nớc tập quyền mạnh, có năng lực, tập trung đợc quyềnlực của chính quyền trung ơng, Lê Thánh Tông đã đơn giản hoá một số cơquan giúp việc, bãi bỏ các quan chức và cơ quan trung gian giữa vua và bộ

Trang 15

phận thừa hành đó là thợng th sảnh, trung th sảnh, môn hạ sảnh, khu mậtviện cùng các viên quan cao cấp nhất nh Tớng quốc, Đại hành khiển, Tảhữu bộc xạ … Vua trực tiếp nắm toàn quyền kể cả quyền tổng chỉ huy quân

đội, chỉ đạo mọi công việc trọng yếu và quan hệ làm việc trực tiếp với cácquan thừa hành Giúp vua bàn bạc và chỉ đạo công việc khi cần thiết có các

đại thần nh Thái s, Thái phó, Thái bảo, Thái uý, Thiếu s, Thiếu bảo

Dới vua, quyền cai trị tập trung vào 6 bộ tại triều định (Lại, Lễ ,Binh, Hình, Công, Hộ - do Thợng th đứng đầu) là những cơ quan chính phụtrách mọi mặt công việc của triều đình Bên cạnh đó có các cơ quan phụ tá

cụ thể nh Tự, Viện Hàn Lâm, Viện Quốc sử, Quốc tử giám, Bí th giám,Thái y viện, T Thiên giám v.v

Hệ thống hành chính từ cấp trung gian đến cấp cơ sở là xã cũng cónhững cải cách cơ bản quan trọng Năm 1466, LêThánh Tông bãi bỏ các

đơn vị trung gian lớn là 5 đạo, thống nhất chia cả nớc làm 12 đạo thừatuyên (Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá, Thiên Trờng, Nam Sách, QuốcOai, Bắc Giang, An Bang, Hng Hoá, Tuyên Quang, Thái nguyên, Lạng Sơn

và phủ Trung Đô) Năm 1471, đặt thêm đạo thừa tuyên thứ 13 là QuảngNam Dới đạo thừa tuyên là phủ, châu, huyện xã Bỏ đơn vị trấn và lộ, đổi

Bộ phận thanh tra quan lại đợc tăng cờng và cải tổ khá chặt chẽ từTrung ơng đến các địa phơng ở Trung ơng có cơ quan ngự sử đài, bên cạnh

Trang 16

việc giám sát chung còn có 13 cai đạo giám sát ngự sử (nằm trong ngự sử

đài) chuyên giúp đỡ, cộng tác với các hiến ty trong việc giám sát quan chức

ở các đạo thừa tuyên, lại có 6 khoa, ở đạo thừa tuyên có hiến ty

Cải cách hành chính của Lê Thánh Tông đã tạo ra đợc hệ thống hànhchính thống nhất từ trên xuống dới, từ Trung ơng đến địa phơng, cấp cơ sởtrong phạm vi cả nớc Một bộ máy gọn gàng, chặt chẽ, nhất quán, đảm bảo

đợc sự chỉ đạo và quyền lực tập trung của Trung ơng Đây là mô hình tiêntiến nhất của chế độ quân chủ phong kiến tập quyền đơng thời, là một biểuhiện rõ nét của sự xác lập chế độ quân chủ liêu Đại Việt đơng thời Có thểnói, cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông đã thức đẩy cho quá trìnhphong kiến hoá trong xã hội Đại Việt hoàn thành, chế độ quan chủ quanliêu đợc xác lập, đúng nh mong muốn của ngời cải cách: "Các chức lớn nhỏcùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng gìn giữ nhau Lẽ phải của nớc không

bị chuyện riêng, việc lớn của nớc không đến lung lay, khiến mọi ngời cóthói quen tốt làm hợp đạo, đúng phép."

Những u điểm của công cuộc cải cách hành chính thời Lê sơ là lý dokhiến nó đợc duy trì suốt đến cuối thế kỷ XVIII (Mặc dù từ thế kỷ XVI -XVIII tình thế có thay đổi do sự tranh chấp của các thế lực phong kiến)song đó vẫn là cái khung cơ bản, cốt lõi nhất để sau này dới triều Nguyễn,Minh Mạng tiến hành một cuộc cải cách trong tình thế mới với quy mô lớnhơn

1.2 Bộ máy hành chính thời Gia Long

T tởng chính trị, lý tởng, mục đích phấn đấu và hớng đến xây dựngquốc gia thái bình thịnh trị, trong đó quyền lực tập trung dới tay mình caiquản, để củng cố, thống nhất đất nớc một cách thực sự trong thực tiễn toàncõi Đại Nam từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau Đó chính là vấn đề cốtlõi nung nấu, đặt ra cho Minh Mạng phải hoàn thành trong thời gian trị vì từ

1820 - 1840 Đồng thời đây cũng là bớc chuyển tiếp các cuộc cải cáchtrong lịch sử

Trang 17

Song, cuộc cải cách hành chính mà Minh Mạng tiến hành lại bắtnguồn trực tiếp chính từ bộ máy hành chính thời Gia Long với nhiều tồn tạivới những vấn đề bất cập, các cơ quan còn cha hoàn thiện, yêu cầu MinhMạng phải có giải pháp hợp lý cho tình trạng này Bởi thế, ta tìm hiểu bộmáy hành chính thời Gia Long cũng chính tìm phần nguyên nhân khả quantrọng dẫn đến công cuộc cải cách hành chính của ông.

Trong tình thế và cơ hội thuận lợi, Nguyễn ánh khôi phục thế lực lật

đổ nhà Tây Sơn là Cảnh Thịnh - Nguyễn Quang Toản vừa non yếu lại đangchồng chất bao nỗi khó khăn của nạn ly tán, loạn lạc kéo dài nhiều thế kỷ.Nguyễn ánh lên ngôi , lập ra triều đại mới với niên hiệu Gia Long 1802.Gia Long lên ngôi đã thừa hởng đợc một đất nớc thống nhất dài Song , nềnthống nhất đó chỉ mới thực trên phơng diện lãnh thổ địa lý và quân sự, còntrên bình diện chính trị, tổ chức hành chính thì đang trong tình trạng lỏnglẻo, rời rạc

Nhng cũng từ thực tế phát triển của đất nớc lúc bấy giờ mà xem xét,hẳn không thể đòi hỏi Gia Long vào đầu thế kỷ XIX cũng nh Quang Trungtrớc đó, xây dựng một Nhà nớc kiểu khác ngoài Nhà nớc quân chủ Trung -

ơng tập quyền đã đợc định hớng từ thế kỷ X và dần hoàn thiện vào thế kỷ

XV Nớc Việt cha có cơ sở kinh tế - xã hội làm tiền đề và điều kiện để đẩynhanh bớc tiến của lịch sử

Bắt tay vào xây dựng một Nhà nớc quân chủ trung ơng tập quyềnquản lý có hiệu lực quốc gia thống nhất, ngay từ đầu vơng triều Gia Long

đã phải đơng đầu với quá nhiều khó khăn Trớc hết phải kể đến tình trạngyếu kém phân cát về chính trị với nhiều phe phái thù địch kéo dài trongnhiều năm Đó là các tập đoàn Lê, Trịnh, Nguyễn trong đó đáng kể nhất làtập đoàn phong kiến Lê mặc dù bị họ Trịnh biến thành h vị, nhng “vầng hàoquang” dựng nghiệp của họ Lê in đậm trong tâm t, tình cảm nhiều ngời, đặcbiệt với cựu thần nhà Lê, đông đảo nho sĩ và các thế gia vọng tộc có tầm cỡ

ở Bắc Hà Không phải vô cớ các chúa Nguyễn, chúa Trịnh và Tây Sơn từngphải giơng cao ngọn cờ "Phù Lê" Trên thực tế Gia Long giành chính quyền

Trang 18

từ nhà Tây Sơn, không can hệ đến triều Lê - Trịnh, mà dờng nh còn "trảmón nợ" cho triều Lê - Trịnh, nhng dới tầng sâu của nền chính trị ở Bắc Hà,

ông hiểu rõ tinh thần "hoài Lê" là cản trở rất lớn đối với ông

Trong khi đó, lãnh thổ nớc ta do nhiều năm bị chia cắt, chịu ảnh

h-ởng của nhiều thế lực, không có đợc một sự phát triển đồng đều ở Bắc Hà,

từ sông Gianh trở ra thuộc khu vực ảnh hởng của vua Lê - chúa Trịnh trảiqua loạn lạc triền miên vẫn quen nếp cũ, chủ cũ Từ sông Gianh đến cựcNam Trung bộ là đất lập nghiệp mở mang của các chúa Nguyễn nhng lạinghèo và là đất phát tích, từng chịu ảnh hởng của nhà Tây Sơn Đã thế khiQuang Trung - Nguyễn Huệ dập tắt tình trạng Trịnh - Nguyễn phân tranh,xoá ranh giới sông Gianh thống nhất đất nớc, thì bản thân chính quyền TâySơn lại tự chia sẻ quyền hành tạo thành những cục diện phân liệt mới trongthế đối đầu với Nguyễn ánh.Một tình trạng chính trị thực tế của nhà TâySơn đó là các địa phơng chuyên quyền, pháp lệnh thì bất nhất, tổ chức caitrị mỗi nơi một khác

Vùng Gia Định đợc mở mang thêm từ cuối thế kỷ XVII, đây là nơihứa hẹn nhiều tiềm năng, nhng lại là nơi hội tụ nhiều tộc ngời, Việt , Hoa,Chăm, Khơ Me … khác nhau về nhiều phơng diện, không dễ quản lý Và có

lẽ quan trọng hơn cả là tình trạng nội chiến triền miên đã để lại một hậu quảbao trùm : Tổ chức quản lý lỏng lẻo, phân tán khá phổ biến

Tóm lại, Gia Long đã bắt đầu quản lý một quốc gia với nhiều di sảnkhá nặng nề Thế mà, với tham vọng của vị Hoàng Đế khai sáng một triều

đại, một đất nớc rộng lớn nhất từ trớc đến lúc đó, Gia Long phải cố gắngbằng mọi cách xây dựng một cơ sở chính trị, kinh tế, quân sự … vững vàngcho triều đại mới Trong khi đó, cận thần thân tín của ông có lẽ đủ mu lợcchinh chiến nhng lại thiếu kinh nghiệm tổ chức quản lý đất nớc Song việcxây dựng một nhà nớc quân chủ Trung ơng tập quyền vẫn là mục tiêu phấn

đấu của Gia Long sau khi lật đổ nhà Tây Sơn, đồng thời cũng là tráchnhiệm của ông trớc một đất nớc độc lập, thống nhất có chủ quyền

Trang 19

Trớc những khó khăn chồng chất đó, Gia Long đã chọn Phú Xuân,dặt dinh Quảng Đức tách từ trấn Thuận Hoá làm kinh đô Trên cơ sở các

đơn vị hành chính đã có, Gia Long sắp đặt lại Lấy Phú Xuân làm trungtâm, Gia Long đặt miền Trung từ Thanh Hoa ngoại đến Bình Thuận dớiquyền trực tiếp quản lý của triều đình Phía Bắc từ Sơn Nam hạ trở ra baogồm 11 trấn gọi là Bắc Thành (đặt 1802) phía Nam từ Trấn Biên trở vàogồm 5 dinh, Trấn gọi là Gia Định Thành (1808), do một viên võ quan đạithần đứng đầu với chức danh Tổng trấn, có Hiệp trấn, phó Tổng trấn giúpviệc thay mặt nhà vua quản lý mọi mặt Ngoài ra ở mỗi thành có ba tào :Binh, Hộ, Hình chia nhau chuyên trách từng phần kiêm cả lại, lẽ, công

Nh thế, Nhà nớc quân chủ Trung ơng tập quyền Nguyễn, Gia Long

đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu quản lý toàn bộ đất nớcthống nhất và sự bất cập của triều đình trung ơng bằng cách chấp nhận mộtbớc quá độ, tạm thời phân quyền Nhà vua phải san sẻ quyền lực cho các võquan tổng trấn đại thần đợc quan niệm nh là một thứ "quan chính" ở hai đầuNam, Bắc của đất nớc Đây chính là biện pháp khôn khéo, linh hoạt của GiaLong trong buổi đầu nhằm thực hiện việc quản lý đất nớc, đồng thời bảo

đảm sự tồn tại an toàn của vơng triều

Cấp hành chính ở Trung ơng là Triều đình do vua đứng đầu Dới thờiGia Long tiếp theo quy chế nhà Lê đặt đủ 6 bộ: Lệ, Hộ, Lê, Binh, Hình,Công Đứng đầu mỗi bộ có Thợng th, bên cạnh,có tả, hữu tham tri, giúpviệc , bên dới có các chức thiêm sự, câu kê, cai hợp … ới mỗi bộ có một D

số cơ quan chuyên trách trực thuộc Ngoài 6 bộ còn có 2 tự do Tự khanh

đứng đầu Ngoài ra ở triều đình trung ơng còn đặt những cơ quan phụ tráchcông việc chuyên môn.Đó là Nội hàn viện, Quốc Tử giám, Khâm thiêngiám, Thái y viện … ới thời Gia Long, cơ quan giúp việc quan trọng cho dhoàng đế là Thị th viện Thị Th viện giữ việc văn th, sổ sách, thảo các văn

án, luật lệ

Lúc này, công việc kiểm soát và xét xử thuộc phiên nhiệm của bộhành Đây là cơ quan xét xử những vụ trọng án, hoặc các vụ án có vấn đề

Trang 20

nghi ngờ hay khó phân giải Bộ hình còn có nhiệm vụ nhận các đơn khiếunại của quan, dâng lên nhà vua ở Kinh kỳ hoặc khi vua đi tuần du Thờigian này, cha có một cơ quan chuyên trách kiểm sát, thanh tra hành chính.

ở cấp hành chính địa phong thời Gia Long gần nh giữ nguyên theocách tổ chức cũ của các chúa Nguyễn và của triều Lê - Trịnh Ngoài đấtKinh kỳ bao gồm 4 doanh là Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức và QuảngNam, còn lại toàn bộ đất nớc chia thành 23 doanh trấn Trong đó miềnTrung và miền Nam chia thành các doanh, là các đơn vị hành có từ thời cácchúa Nguyễn ở miền Bắc vẫn giữ nguyên đơn vị hành chính triều Lê -Trịnh là trấn Đứng đầu mỗi doanh là một Lu Thủ, có các chức cai bạ, và

Ký lục phụ tá, đứng đầu mỗi trấn là Trấn Thủ có các chức Hiệp trấn, Thamhiệp giúp việc

Năm 1808, Gia Long sắp xếp, thay đặt lại : từ ba ty Đô, Thừa, Hiếnthời Lê thành hai ty: Tả thừa ty và Hữu thừa ty - Tả thừa ty có 3 phòng:Binh, hình, công; Hữu thừa ty có 3 phòng: Lại, hộ, lễ Đứng đầu ty là chứcThông phán, Kinh Lịch; thuộc viên có câu kê: 1 ngời cai hợp : 1 ngời; thủhợp : 3 ngời và 25 th lại (chánh bát, cửu phẩm th lại và vị nhập lu th lại)cách tổ chức hành chính tại các trấn ở miền Bắc, miền Trung mô phỏngtheo hình thức tổ chức các doanh của miền Nam Mỗi trấn, doanh gồmnhiều phủ , mỗi phủ chia thành từ 4 đến 7 huyện, mỗi huyện chia thành từ 8

đến 14 - 15 xã Riêng đối với vùng dân tộc thiểu số miền núi và vùng biêngiới vẫn chia thành các châu nh trớc kia và giao cho các tù trởng thiểu sốnắm giữ ở mỗi phủ có tri phủ, huyện có tri huyện, châu có Tri châu, tạimỗi xã có một xã trỏng giữ việc cai trị

Riêng về các việc binh dịch và thuế khoá cũng tơng tự nh thế, cácviên quan đứng đầu Gia định Thành và Bắc Thành chỉ chịu trách nhiệm vớitriều đình vế số lợng tổng quát Trên cơ sở đó, căn cứ vào tình hình cụ thểcủa địa phơng các quan đứng dầu các thành phân bổ về các trấn

Tổng trấn đợc giao quyền cất nhắc hoặc bãi miễn quan lại trongphạm vi trấn mình phụ trách, song triều đình vẫn giữ nguyên quyền bổ

Trang 21

nhiệm các viên quan tòng sự tại các trấn, từ chức tri huyện trở lên đến chứctrấn thủ Trên nguyên tắc thì mọi việc thuyên chuyển, thay đổi các viênquan thuộc các trấn cả miền Nam và miền Bắc vẫn thuộc về quyền ở Hoàng

đế Thế nhng, thực tế thì lại khác, đối với các trấn Bắc Thành, có lẽ phầnnhiều là để thu phục nhân tâm, nhất là lôi kéo số sĩ phu cũ của triều Lê -Trịnh, trong một thời gian dài, Gia Long đã bổ nhiệm nhiều ngời trong số

họ cai trị ở các phủ, huyện của 5 nội trấn Với 6 ngoại trấn đa số là vùngdân tộc thiểu số, Gia Long vẫn duy trì chính sách cũ dùng thổ tù để cai trị

Có thể khẳng định rằng suốt thời gian trị vì của mình, Gia Long cha thểnắm đợc 11 trấn Bắc Thành, đặc biệt là các trấn miền núi thì dờng nh bỏngỏ Với 5 trấn của Gia Định Thành, tình trạng cũng không khá hơn Trớctình thế đó, Gia Long chấp nhận san sẻ quyền lực, cho Tổng trấn quyền tựtrị

Nh vậy, tổ chức bộ máy hành chính từ triều đình đến địa phơng dớithời Gia Long biểu hiện những hạn chế, bất cập đó là tính chất đơn giản,lỏng lẻo trong thiết chế, tính chất phân quyền trong việc quản lý Tronghoàn cảnh mới lại có nhiều vấn đề nảy sinh, thêm một bớc nữa lại đặt ranhiều yêu cầu cha đợc hoàn thiện Đó là nhiều cơ quan hành chính ở triều

đình cha đợc thiết lập một cách đầy đủ và còn giản lợc Chẳng hạn cha cócơ quan chuyên trách kiểm sát, thanh tra hành chính mà kiêm vào bộ hình,cha có bộ phận chịu trách nhiệm biên soạn quốc sử v.v Mặt khác, nhữngquan lại đứng đầu các cơ quan hành chính tại triều đình phần lớn là võquan Tính phổ biến của nó thể hiện ở chỗ không những ở triều đình mà ởcác trấn, tổng trấn các viên trấn thủ, cai quản hầu nh là những võ quan và

võ quan cao cấp

Đây là điều dễ hiểu bởi họ là những "công thần khai quốc" của dòng

họ Nguyễn trong quá trình tranh chấp giữa các thế lực phongkiến Vì thếkhi họ Nguyễn yên vị dựng nghiệp rồi họ cần phải có vị trí xứng đáng vớicông lao mà họ đóng góp Chỉ có điều, tình trạng đó nó chỉ cho ta thấy một

Trang 22

tình hình thực tế, đó là bộ máy hành chính, nhất là ở các địa phơng, dới thờiGia Long mang nặng tính chất quân sự

Bởi bị chi phối tính chất quân sự, lại đợc san sẻ quyền lực nên các vịTổng trấn có quyền lực thực rất lớn Ngoài ra có khi còn có thêm yếu tố họcai trị cả một dải đất rộng lớn hơn do với quyền trực tiếp của triều đìnhtrung ơng nh Tổng trấn Bắc Thành Chính vì thế mà cũng nảy sinh thêmmột mầm hoạ, đó là thế lực ngấm ngầm chống lại triều đình Ví nh, bài thơngông của Nguyễn Văn Thuyên con trai Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn VănThành trong đó có câu : "(Thử hồi, nhợc đắc sơn trung tể Tá ngã kinh luânchuyển hoá cơ Nghĩa là : Trong núi có ai là tể tớng Ra tay giúp đỡ chuyểncơ trời) Hay là một sự ly khai, tách riêng nếu không nói là phản nghịch nhtrờng hợp Lê Văn Khôi con nuôi Tổng trấn Gia Định Thành Lê Văn Duyệtdới thời Minh Mạng

Nh vậy, những hạn chế , bất cập của tổ chức bộ máy quản lý Nhà nớcthời Gia Long nhất là thiếu một cơ quan chuyên trách thanh tra, giám sát.Hạn chế lớn nhất chính là hệ quả của việc giao quyền quá lớn cho các viênquan đứng đầu mỗi trấn và hai Tổng trấn Bắc Thành và Gia Định Thành -hai đơn vị hành chính trung gian lớn nhất trực thuộc trung ơng, có đầy đủcác bộ máy cai quản nh một triều đình thu nhỏ Thời kỳ quá độ này kéo dài

đến 30 năm, trong suốt thời Gia Long và hơn 10 năm đầu thời Minh Mạng

Nó đã có hiệu lực tạo cho vơng triều Nguyễn đủ sức vợt qua những khókhăn ban đầu để tồn tại, phát triển, tiếp tục thực hiện quyền quản lý đất nớc.Tuy nhiên thời kỳ quá độ này cũng đã bộc lộ những mặt yếu, cản trở xu h -ớng tập trung quyền lực của Nhà nớc quân chủ chuyên chế phơng Đông vàvơng triều Nguyễn kiên trì theo đuổi Đó là một bộ máy hành chính cầnphải hoàn thiện, phải cải cách cải tổ

Có thể nói, nếu nh Gia Long tiếp nghiệp một di sản khá nặng nề củaCảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) để lại thì xét trên bình diện bộ máyhành chính quản lý đất nớc, Minh Mệnh cũng đợc chuyển giao một di sảncũng không kém phần khó khăn Gia Long lại nhận thức rất rõ tình trạng

Trang 23

đó Điều này thể hiện rõ nhất trong việc truyền ngôi của Gia Long cho ngời

kế vị là Minh Mạng

Trang 24

Chơng 2 Vài nét về công cuộc cải cách hành chính

dới triều Minh Mạng (1820-1840)

2.1 Tiểu sử, t tởng chính trị nổi bật của Minh Mạng.

2.1.1 Tiểu sử vua Minh Mạng (1791 - 1841)

Minh Mạng (1791 - 1841), tên huý là Phúc Đảm, còn có tên là Hiệu

Ông sinh ngày 25/5/1971 (23/4/ năm Tân Hợi) Mẹ ông họ Trần, là con gáiThọ quốc công Trần Hng Đạt (Tham tri bộ lễ thời Gia Long) quê huyện H-ong Trà, phủ Thừa Thiên Bà mấn năm Thiệu Trị thứ sáu(1846)

Năm 1791 ,Minh Mạng đợc sinh ra ở thôn Hoạt Lệ, thuộc Gia Định.Vào năm 1793, Phúc Đảm đợc vua cha giao cho bà cả họ Tống nuôi cùngvới 3 đứa con của bà là Hoàng Tử Cảnh, Hoàng Hai Hy, Hoàng Ba Tuấn

Từ đó Hoàng tủ thứ t Phúc Đảm thờng vào chầu ở Đại Nội, làm con củaHoàng hậu họ Tống, thờng gọi bà là mẹ Đến khi Hoàng Tử Cảnh, HoàngHai Hy và Hoàng Ba Tuấn nuối nhau qua đời, theo thứ tự Hoàng tử T Phúc

Đảm đợc coi là lớn nhất

Năm Gia Long thứ 13 (1814) tháng hai, Hoàng Hậu Tống Thị qua

đời, thọ 54 tuổi Gia Long đã quyết định cho Hoàng T Phúc Đảm đứng làmchủ tế, thay vì Hoàng Tôn Đán, con trai cả Hoàng Tử Cảnh

Hoàng Tử Đảm bớc vào tuổi học hành dùi mài kinh sử, cũng là thời

kỳ chiến tranh phong kiến chấm dứt, sự nghiệp của vua cha và dòng họ đivào trang sử mới Nh vậy, nếu so với 3 ngời anh của mình, Hoàng Tử Đảm

có điều kiện học hành đến nơi đến chốn hơn Và theo cách nói dân gian thì

ông thật may mắn, đúng là số mệnh trời sinh

Thời còn trẻ , Minh Mạng đợc Gia Long chọn Đặng Đức Siêu làmthầy dạy Đặng Đức Siêu là một trong những nho sĩ Nam Hà nổi tiếng họchành sâu rộng và một trong số ít những cố vấn thân cận đầu triều Nguyễn

Trang 25

và các vấn đề chính trị, văn hoá - xã hội Giới nho sỹ, Nam Hà nói chung

và Đặng Đức Siêu nói riêng chịu ảnh hởng khá mạnh của t tởng Minh Nho

Về tài năng và vị trí của Đặng Đức Siêu, sách "Đại Nam nhất thốngchí" viết nh sau : "Siêu đợc sung việc dạy bảo hoàng thân, giúp ích rất nhiềuvào việc bồi dỡng hoàng tử … Nhà Siêu theo dạo Gia Tô Siêu bỏ đạo đihọc, đức hạn và tiết tháo nổi tiếng, đứng đầu nhân vật bản triều"[36,51].Chính bản thân Minh Mạng cũng thừa nhận ảnh hởng của Đặng Đứuc Siêutrong việc hình thành năng lực của ông Minh Mạng từng nói rằng : "Thợng

th bộ lễ Đặng Đức Siêu, trớc đã phụng mệnh Hoàng Khảo Thế tổ Cao hoàng

đế ta, dạy ta đọc sách, mấy năm dẫn dụ hiểu biết đợc nhiều, thực là khôngthẹn với chức phận " [23,128]

Minh Mạng là một ông vua thông minh, quyết đoán, ham học hỏi vàcần chính trong mọi công việc Kể cả lúc còn là hoàng tử và sau này chínhthức lập làm Thái tử (1816), ông luôn hiểu rõ chỗ đứng của mình và có ýthức tự tu dỡng chuẩn bị để sẵn sàng gánh vác trách nhiệm lớn Chính vì thế

mà Minh Mạng cần mẫn tham bái nhiều sách vở dạy về trị quốc, yêu dân.Sách "Đại Nam thực lục chính biển (đệ nhị kỷ) cho biết Minh Mạng đọc

Đại Minh hội điển, Đại thanh hội điển, Hồng đức luật lệ … chính sử triềuNguyễn cho biết : "Vua (Gia Long) từng cùng Hoàng thái tử bàn về đạo trịnớc xa nay Hoàng Thái Tử nhân đa sách Đại thanh hội điển tiến vua xem "[26, 363] Hoặc cho biết bớc chuẩn bị của Gia Long đối với Minh Mạng;

"Vua thung dung cùng Hoàng Thái tử bàn về chính sự các đế vơng các đời,

đến khi mặt trời xế bóng mới thôi [26,369]

Cần chính là một tác phong chính trị bộc lộ rất rõ ở Minh Mạng khắpmọi lúc Đó cũng là quá trình tự hoàn thiện tài năng mà Minh Mạng tiếp tụcduy trì kể cả khi đã lên ngôi hoàng đế trị vì đất nớc Hằng ngày ông thờngtham bác các sách vở cổ điển của Việt Nam và Trung Quốc, ông tự bạch

"Trẫm từ ngày lên ngôi dến giờ, mỗi khi coi chầu, xét xử chính sự, mãi tớilúc mặt trời xế bóng mới nghĩ, dẫu ở trong cung vẫn mở xem hết các chơng

sớ bốn phơng đa đến Bởi vì ta nghĩ, siêng năng thì muôn việc mới thành,cho nên không dám nhàn rỗi [30,230]

Trang 26

Trên cơng vị tối cao của triều đình, Minh Mạng vẫn tỏ rõ một conngời siêng năng làm việc Ông sợ một ngày kia, không giữ đợc một phongcách của một nhà vua cần chính, không giữ đợc bản lĩnh của một hoàng đếtrớc cám dỗ của sắc dục, lấy gơng Đờng Minh Hoàng vì Dơng Quý Phi màtriều chính nghiêng ngả

Lúc đầu ở ngôi, Minh Mạng đợc các vị đại thần giúp đỡ, đóng góp ýkiến Trong các vị cố vấn đó, Trịnh Hoài Đức có nhiều ảnh hởng lớn đến

ông Trịnh Hoài Đức là một trong những nhân vật uyên bác lỗi lạc trongnho sỹ Nam Hà thời Nguyễn, cùng với Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnhtạo nên thanh thế của "Gia Định tam gia" nổi tiếng Trịnh Hoài Đức hiệnlên là con ngời học vấn rộng, tài văn thơ và nhân cách cao thợng Sách "ĐạiNam nhất thống chí" viết về Trịnh Hoài Đức: " … còn trẻ dốc chí chămhọc, có tài kênh bang tế thế, bắt đầu làm Hàn lâm viện chế cáo, sang chứcThị giảng ở đông cung… chết tặng thiếu báo, cần chính điện đại học sĩ,thuỵ là Văn Khác " [27, 230]

Một hoài bão đáng kính của Minh Mạng là muốn làm một "Lê ThánhTông" của triều Nguyễn Điều này đồng nghĩa với việc Minh Mạng muốntrở thành ngời lập ra pháp chế, điểm chơng cho các triều vua về sau Chính

sử triều Nguyễn ghi lại thái độ của Minh Mạng khi ông nghiên cứu về LêThánh Tông biểu hiện rõ niềm ấp ủ của ông: "Vua thờng xem quốc sử , bảo

Hà Quyền và Trơng Đăng Quế rằng : Các vua đời trớc nớc ta, nh Lê ThánhTông cũng có thể gọi là vua hiền, trẫm vẫn hâm mộ" [30,16] Hình ảnh LêThánh Tông nh một mẫu hình, một tấm gơng về một trang "hùng tài, đại l-ợc", là cái đích hớng tới nung nấu trong ý nghĩ của Minh Mạng

Chính vì đặt ra một nghĩa sống nh vậy, nên cũng giống nh Lê ThánhTông, Minh Mạng rất nhiều trớc thuật Hiện nay, th viện Viện nghiên cứuHán Nôm còn lu giữ hơn 5000 trang in một bản thơ chữ Hán của ông Thơcủa Minh Mạng là thứ thơ theo ông quan niệm đó là : "… mình tự dạy mình

về đạo kính trời,yêu dân, so sánh lúc tạnh lúc ma để xem thời tiết, không cólời hoa hoè chải chuốt để cho ngời ta thích nghe Không nh cái học của thsinh, tìm từng chơng, trích từng câu mà muốn đua tranh hay với các văn

Trang 27

nhân, mặc khách đâu … Huống chi vua chúa không phải lấy việc hay thơlàm chức vụ " [30,202].

Bản lĩnh chính trị của Minh Mạng còn thể hiện ở chỗ, ông có thái độhết sức cứng rắn và quyết đoán kèm theo một khí chất ghét lời xu nịnh đãlàm nhà vua nghiêm khắc đến lạnh lùng Có lẽ, vừa là ý niệm không thoảmãn với bản thân vừa là để tránh những lời xng tụng ca ngợi mà ông nghĩrằng đằng sau đó che dấu một mục đích không mấy tốt đẹp Nhân lễ "Tứtuần vạn thọ" của Minh Mạng ,thị lang nội các là Phan Thanh Giản và Tr-

ơng Đăng Quế dâng bài "Tụng Đại Khánh" thuật các công việc tự lúc vualên ngôi đến nay siêng lo chính trị làm gốc để đợc phúc hởng thọ MinhMạng bèn phê vào bài tụng rằng :'' làm bài văn vô dụng này đối với lầm lỗi

có bổ ích gì ? Trẫm có thích nịnh ngoài mặt đâu ? Vậy ném trả lại và truyềnchỉ quở mắng" [ 30,56-60]

Nhận xét về tài năng và cách làm việc của vua Minh Mạng , sách

"Đại Nam thực lục chính biên" viết : "Vua sáng suốt cẩn thận vè chính thể.Nhng chơng sớ trong ngoài tâu lên, nhất nhất xem qua, dụ tận mặt cho cácnha nghĩ chỉ phê phát Việc quan trọng thì phần nhiều vua tự nghĩ soạn,hoặc thảo ra, hoặc châu phê Có bản phê bắt đầu từ đây " [27,57]

Nh vậy, có thể khẳng định rằng qúa trình hình thành và hoàn thiệnnăng lực, nhân cách của ông vua Minh Mạng, đó là cả quá trình phấn đấu

có ý thức, là sự tự rèn luyện, tu dỡng hoàn chỉnh nhân cách và bản lĩnhchính trị của một quốc vơng - một mẫu hình lý tởng của vị vua thời phongkiến

2.1.2 Sự lên ngôi của Minh Mạng :

Vấn đề lên ngôi của Minh Mạng, cũng là cả quá trình đấu tranh củaGia Long với các cận thần về ý tởng của mình và nguyên tắc truyền ngôimang tính chất truyền thống Chúng tôi trình bày việc lựa chọn ngời nốingôi vua để thấy đợc ý đồ trớc mắt và lâu dài mà Gia Long chờ ở ngời kếnhiệm

Trang 28

Tháng 12 năm 1819, Gia Long băng hà cũng ngay cuối tháng đóPhúc Đảm lên ngôi vua đặt niên hiệu là Minh Mạng Việc lên ngôi củaMinh Mạng không tuân theo nguyên tắc quân chủ phơng Đông là : trọngnam, trọng đích và trọng trởng Trong thực tế lịch sử phong kiến Việt Nam

đây cũng không phải hoàn toàn là một sự kiện lạ Song sự thật thì Gia Longcũng phải trải qua một quá trình dàn xếp với triều thần và dòng họ khi nhậnthức rõ về ngời con của mình

Trớc hết, đối với việc chọn ngời kế vị, Gia Long không vội vàng lậpThái tử Điều đó có lẽ do tình hình đối nội và đối ngoại khá phức tạp nên

ông thận trọng Hoặc đúng hơn là ông muốn hoàng tử ra sức học tập tu õng hoàn thiện nhân cách năng lực và tài năng, đồng thời không để nhữngthầy dạy hoàng tử hay quan đại thần nào "bảo hộ" thái tử nhân cơ hội làmcàn, lấn lớt quyền hành Chính vì thế năm 1805, các đình thần tâu xin lậpHoàng Thái tử, ông đã gạt đi và cho biết ý định của mình: "… Các hoàng

d-tử, hoàng tôn còn nhỏ, ta đơng giao cho các s phó dạy bảo cho đặng thanh

đức, rồi sẽ lựa chọn ngời hiền lập làm thái tử, cũng cha lấy gì làm muộn "[ 5]

Vào năm 1814 , bà cả họ Tống của Gia Long qua đời, ông không chỉHoàng Tôn Đán con trai của Hoàng tử Cảnh làm chủ tế mà thay vào đó làHoàng T Phúc Đảm Lúc này, Phúc Đảm đã 23 tuổi rồi, việc này cũng cónguyên do rằng Phúc Đảm tự tay bà nuôi nấng, song nguyên do lớn nhất đó

là sự ngầm định của Gia Long tạo thế chính thống vị trí con trởng cho MinhMạng khi Gia Long đã có đích trởng là Hoàng Tôn Đán

Một sự kiện nữa vào năm 1815, đó là Nguyễn Văn Thành một trongnhững đại thần có công lớn trong việc khai sáng triều đại Gia Long, đề caothuyết "Đích tôn thừa trọng" xin lập con trai của Đông cung Cảnh là HoàngTôn Đán làm Hoàng Thái tử , để sau này nối ngôi Nhng lại một lần nữa bịGia Long gạt đi và phán rằng : "Nớc nhà mới yên phải chọn ngời lớn tuổicầm quyền, chẳng nên dùng kẻ ấu thơ" [26,207] Nh vậy, vào thời gian nàytrong t tởng của mình Gia Long đã chính thức lựa chọn Hoàng tử là Phúc

Trang 29

Đảm để chuyển giao ngôi thứ Chính sử triều Nguyễn cho biết rằng : "Mùathu tháng 7 năm Gia Long thứ 14 (1815), vua tuổi đã cao mà cha định ngờinối ngôi Hoàng tử thứ t hiền và lớn hơn cả, vua đã để ý … bầy tôi đều cólòng theo Riêng một Nguyễn Văn Thành là ngời ngạo mạn, kiêu căng,muốn đợc vua nhỏ tuổi, không thích vua lớn tuổi" Sách "Đại Nam thực lụcchính biên" cho biết thái độ của Gia Long khi biết đợc ý đồ của NguyễnVăn Thành: "Hắn muốn dựng vua nhỏ để dễ khống chế, ngày sau có thểchẹt họng, vỗ lng chăng Ta hoá tối tăm lầm lẫn, không biết đắn đo nênchăng, vội nghe lời hắn mà không vì xã tắc chọn ngời sao!"[26,267].

Tháng 3 năm Gia Long thứ 15 (1816) nhà vua chính thức thiết triềutại điện cần chánh, sách lập Nguyễn Phúc Đảm làm Hoàng thái tử , banchiếu dự cho trong ngoài biết Gia Long chính thức phủ dụ các bầy tôi:

"Trẫm nay làm việc đã mỏi, rất lo đến kế lớn của xã tắc Thái tử là ngôitrừ nhị của nớc cần phải sách lập để trọng chính thống mà giữ bền gốc mới"[26,267] Sau đó, Gia Long triệu thợng th bộ lại là Trịnh Hoài Đức đến trớcgiờng ngự, sai viết" Lập hoàng tử hiệu làm Hoàng thái thái tử" , đa cho bầytôi xem , và nói : "Ai đồng ý thì ký vào" Mọi ngời đều đồng thanh nói : "ýthánh định trớc, thực là phúc không cùng của xã tắc Bọn thần xin noi theomệnh lệnh" [26,267] Ngay sau đó, Gia Long cho đúc ấn, sách vàng, chế

mũ áo và dựng cung điện riêng cho Hoàng Thái tử ở phía đông hoàngthành, gọi tên là điện Thanh Hoà

Nh vậy, Minh Mạng lên ngôi chính là qúa trình đấu tranh của GiaLong với cả hoàng thân quốc thích cùng với các đại thần tín cẩn của mình

và cũng là cả qúa trình trởng thành của bản thân Minh Mạng nữa Theochúng tôi ,điều quan trọng hơn cả khiến Gia Long chọn Phúc Đảm chính làbởi quá trình hoàn thiện năng lực, nhân cách của Minh Mạng Gia Longnhìn thấy con ngời tài năng của Minh Mạng, nhãn quan và bản lĩnh chínhtrị vững vàng của Minh Mạng đúng nh ý niệm tìm kiếm của ông - đủ trí vàlực để ông gửi gắm tất cả những vấn đề tồn tại, nảy sinh dới thời cai trị của

Trang 30

mình giao phó cho Minh Mạng giả quyết Trong thực tế, xét theo ý tởng củaGia Long trên nhiều lĩnh vực Minh Mạng đã hoàn thành khá xuất sắc.

2.1.3 T tởng chính trị nổi bật của Minh Mạng.

Tìm hiểu t tởng chính trị của Minh Mạng để chúng ta hiểu rõ hơn vềcon ngời Minh Mạng nhất là công cuộc cải cách hành chính mà ông tiếnhành dới triều đại của mình

Gia Long là vị vua khai sáng triều đại, cũng nh Minh Mạng là ngờitiếp nối đều gạt bỏ ảnh hởng của t tởng của Minh Nho, quay về lấy TốngNho làm t tởng chính thống Đề cao Nho Giáo và pháp trị đó là đặc điểmchung của hai vị vua này Điều này có thể hiểu nh sau: Nho giáo (nhất TốngNho), là hệ t tởng hoàn chỉnh nhất của chế độ phong kiến trung ơng tậpquyền của chế độ phong kiến trung ơng tập quyền trên nớc Đại Nam thốngnhất Vì thế, ngay từ buổi đầu dựng nghiệp đế vơng nhà Nguyễn khôi phục

địa vị độc tôn của nho giáo làm bệ đỡ t tởng cho chế độ Một yêu cầu nữa

đó là nhà Nguyễn - bắt đầu từ Gia Long - thực sự có nhu cầu và có ý chí bótchết các âm mu và hành động chống đối dù là của nhân dân hay là của cácthế lực phong kiến khác Một mặt thì phải tranh thủ lòng dân, ổn định xãhội, một mặt thì tín ngỡng thờ cúng tổ tiên và chữ "Hiếu" vốn là tín ngỡngtruyền thống của Việt Nam lại là một trong những phạm trù đạo đức chínhyếu cuả Khổng giáo Việc Gia Long xây thái miếu thờ tổ tiên, Minh Mạngdựng miếu thế tổ thờ Gia Long và đúc cửu đỉnh ghi công và thờ cúng dòng

họ Nguyễn, nhìn từ góc độ tôn giáo là thể hiện sự chân thành của họ đối vớitín ngỡng cổ truyền của dân tộc "Nhìn từ góc độ chính trị, việc duy trì và

Trang 31

v-ơng triều và đất nớc Bởi vậy, khi cha thể phủi tay quá nhanh, thì ông ta đãgiao việc chống đạo và trục xuất các sĩ quan da trắng cho ngời kế vị làMinh Mạng Nói riêng về việc chống đạo thì đơng thời chỉ có Nho giáo vànho sĩ mới có một hệ thống lý thuyết, một quyết tâm và một uy tín xã hội

để đảm đơng việc thực hiện ý định của nhà vua và vơng triều Điều nàycũng lý giải đợc chính sách cấm đạo gay gắt dới triều Minh Mạng

Vị vua Minh Mạng có khuynh hớng và cố gắng xây dựng hệ t tởngriêng lấy nho giáo làm nòng cốt Ông là ngời đặt cơ sở t tởng và thể chế củatriều Nguyễn Tác phẩm "Minh Mệnh chính yếu" là cơ sở t tởng và thể chế

mà nhà vua xây dựng cho triều đại mình và để lại cho các vua nối nghiệp

đời sau Chính vì vậy, cả Thiệu Tự và Tự Đức đều đã giao cho Quốc sửQuán chịu trách nhiệm hoàn chỉnh bộ sách, đích thân chỉ đạo và "kính cẩn

đọc duyệt " các bản biên soạn đợc đệ trình

Trong lịch sử và lịch sử t tởng nớc ta, trớc Minh Mạng cha từng cótác phẩm nào có giá trị là nền tảng t tởng và đề cập đến gần nh là tất cả vấn

đề quan trọng nhất là việc trị nớc "Minh Mệnh chính yếu", tuy vẫn lấynho giáo làm nòng cốt, nhng đã đề cập đến một cách toàn diện hơn, tậptrung hơn, chú trọng cả những t tởng chỉ đạo lẫn thực tế tình hình và cácviệc làm, biện pháp cụ thể đã đợc tiến hành Những trang dới đây sẽ khônggiới thiệu toàn bộ các vấn đề đã đợc nêu lên trong " Minh Mệnh chính yếu"

mà chỉ lọc ra từ tập ấy mấy vấn đề cơ bản xuyên suốt t tởng của ông Đó là :

Đạo làm vua, Đạo làm ngời trên cơ sở nền tảng t tởng củng có nền thốngnhất quốc gia và lòng thơng dân, yêu nớc, yên dân

Theo Minh Mạng đạo làm vua là ở chỗ xem vua là gốc của phonghoá, phải làm gơng cho thiên hạ: "Ta là vua cả, vẫn nghĩ sâu sắc rằng mình

là gốc của phong hoá, phải làm gơng cho thiên hạ" [32,11] Minh Mạng đã

có ý thức rất rõ rệt trong việc giải quyết vấn đề vô vi hay hữu vi của bảnthân Với sự góp của Trịnh Hoài Đức, lúc bấy giờ là Thợng th bộ lại, vấn đề

đó đã đợc giải quyết một cách hoàn chỉnh về mặt lý luận Nhà vua từng nóirằng: "Gần đây có kẻ dâng sớ khuyên Trẫm nên theo phép (cung kỷ vô tri)

Trang 32

của các đế vơng xa, nghĩa là ngồi khoanh tay mà mọi việc đều tốt đẹp

Nh-ng Trẫm Nh-nghĩ khôNh-ng an tâm đợc, vì triều chính có rất nhiều việc, mà chỉngồi rủ áo khoanh tay, đúng là đời thái bình thịnh trị, vô vi, Trẫm không

đành lòng" [24,10]

Minh Mạng đã nhận thức và phổ biến khái niệm vô vi theo hớng tíchcực, và trong suốt cuộc đời đế vơng của mình, ông luôn luôn nêu một tấmgơng làm việc bền bỉ, không mệt mỏi Sách "Đại Nam thực lực" ghi rõ về

ông: "Vua là bậc nhất thợng thành, nối ngôi đại định, cố gắng mu tính thiệntrị, tô điểm cảnh tợng thái bình, tra cứu điểm xa; sửa sang lễ nhạc; cẩn thậnviệc cân lờng; xem xét đến phép độ; đặt khoa cử để lấy học trò; cày tịch

điền để khuyên làm ruộng; cử hành việc đi tuần thú có thời để xem xétphong tục các địa phơng; định việc sát hạch tại kinh kỳ để xem xét côngquá các quan lại; giảng tập việc vũ, cẩn thận ở khi mùa xuân duyệt binh; xét

xử việc hình, cẩn thận ở khi mùa thu xét lại … ở ngôi 21 năm, chăm lo mọicông việc thờng nh một ngày Phàm tất cả các lời phê bảo dụ, chỉ , chế, cáo

đều tự làm ra … " [34,389]

Minh Mạng tin rằng giữa trời và vua có mối quan hệ gắn bó Ông coiquan hệ ấy cũng tơng tự nh quan hệ giữa vua và bầy tôi Ông nói : "Vuaphải kính trời Bởi lẽ, trời đối với vua cũng nh vua đối với bầy tôi Vua có

đức xấu, trời sẽ giáng tai hoạ để răn dạy, nếu vua biết sợ hãi sửa mình thìban cho điều tốt Bầy tôi có lỗi, vua phải giáng phạt để trừng trị, nếu bầy tôibiết hổ thẹn, cố gắng đổi lỗi, thì lại liệu cất nhắc hơn lên Việc dẫu có khác,

lẽ cũng là một [34,70] Điều đáng chú ý lại không phải ở điểm trời có ng ờicách mà là ở những kết luận tích cực đợc ông rút ra về mặt đạo đức vàchính trị mà nhà vua và quan lại phải thực hiện: Mỗi lần có thiên tai, nhàvua đều tự kiểm tra xem mình có phạm lỗi lầm gì không, và đều ban huệnào đó cho thần dân

Tin rằng có trời, Minh Mạng cũng tin rằng có số mệnh Nhng ông đòingời làm vua không đợc đổ lỗi cho số mệnh về các tai hoạ mà nhân dân và

đất nớc phải gánh chịu Ông nói : "Trẫm từ khi lên ngôi đến giờ , tai hoạ

Trang 33

th-ờng xảy, dân chúng ít thoả, phàm trăm dều lo ấy, trẫm vẫn để bụng khôngquên, há chẳng phải số mệnh khiến cho nh thế sao ! Song đã là vua thìkhông nên nói đến số mệnh; cũng bởi việc ngời có lầm lỗi thế nào đó thôi "[29,85]

Ta bắt gặp trong t tởng của ông yếu tố đảm bảo cho việc giải quyếtmâu thuẫn t tởng ông đó là một sự đòi hỏi nghiêm khắc đối với cá nhân ng-

ời làm vua trong việc thờng xuyên tự tu dỡng và tự đòi hỏi một tinh thầntrách nhiệm cao nhất

Trong tất cả các điều đã đợc ông phát biểu về đạo đức của ngời đứng

đầu đất nớc,Ming Mạng thờng nhấn mạnh đến "cần" :"Đức của ngời làmvua là ở chỗ không nhàn rỗi" Tính "Không nhàn rồi" [28,29] và thái độcủa ông với những lời tâng bốc xu nịnh đã đợc trình bày ở phần hoàn thiệnnhân cách và bản lĩnh chính trị của Minh Mạng (mục 2.1) ở đây chỉ bổsung thêm quan niệm đạo đức của ngời làm vua của ông về tính kiệm vàthái độ với quần thần

Theo ông, trớc hết là tiết kiệm của công trong việc tiêu dùng cho cánhân và trong việc dùng của công ban thởng cho hàng thân quốc thích vàcác cận thần Một lần, khi ban thởng cho con cả là Kiến An công hai ngànquan tiền và dụ rằng : "Bổng lộc của ngơi là dầu mỡ của dân Ngơi nên nghĩcách kiệm ớc để nối nghiệp nhà, cẩn thận chớ có xa xỉ mà làm hại đức tính

Ta vì thiên hạ giữ gìn của cải, sao có thể thờng dùng của công trong kho đểban ơn huệ riêng" [26,100] Nhân nói về việc phải tiết kiệm trong xâydựng, khánh tiết, nhà vua đã nói nh sau: "Trong giữa đại cung có khắc câuthơ : Nhất nhân thụ mệnh tri thiên hạ, thiên hạ nguyên phi phụng bất nhân-Một ngời chịu mệnh trời trị thiên hạ, thiên hạ vốn không phải cung phụngmột ngời … Ngời ta ở đời, cốt phải làm việc ích lợi cho dân sinh, đó chẳngphải là t tởng rất hay khi gắn kiệm với việc "phải làm việc lợi ích cho dânsinh hay sao ?” [25, 108]

Đối với quần thần , Minh Mạng coi "Vua tôi nh một thân thể " , vua

Trang 34

nếu ai bị đau ốm thì phải báo ngay cho ông biết, để ông cho ngự y điều trị :

"Phàm vua mà mở lòng dung nạp, thì tài trí của thiên hạ đều là tài trí củamình Ví bằng thánh nh Nghiêu Thuấn nếu không biết nghe ngời nói, nạplời căn ngăn, bỏ ý riêng theo ngời, thì dẫu có các quan nh Tứ nhạc, cửu mụcthì có ai ra sức trung hành với mình" [28,12]

Có thể coi Minh Mạng tổng kết về đạo làm vua nh sau: "Thờng tình,ngời ta chỉ biết đầy đủ một mình, còn ngời khác vui buồn thì không quantâm đến chút nào Thế cho nên tự quên lỗi của mình mà chỉ chăm chămtrách ngời Phàm ngời làm vua, giàu có bốn biển, nếu chỉ cầu cái thích củamình thì lo gì chả đợc, nhng nghĩ đến nhân dân cùng túng và ngời goá bụasống không đợc thoả thuê, mà chỉ cốt thoả thích ý muốn của mình chẳngqua chỉ làm lụy cho mình và làm đau dớn cho thiên hạ, nào có ích gì ? …Phàm mình ở cảnh yên vui, nghĩ đến cảnh ngời ta khó nhọc, mà biết điềuvui không nên cùng cực, lòng muốn không nên phóng túng, thì có thể khiénngời ta không oán mà mình đợc yên vui lâu dài " [28,85]

Trong di sản t tởng của Minh Mạng có những t tởng về dùng ngời.Năm Minh Mạng thứ 18(1836), nhân ra xem thợ xây dựng điện Phụng Tiên,nhà vua đã chỉ vào cái rờng điện mà bảo thị thần rằng : "Rờng điện tất phải

có cái trụ gõ đội lên, cũng nh trong nớc có ngời hiền tài giúp sức mới thờnggiữ đợc yên lành Ngời xa nói : Ngời hiền tài là rờng cột của quốc gia là thế

đó" [24,183]

Nhận thức về vị trí và vai trò ngời hiền tài đối với quốc gia , nhà vua

đã nêu lên thái độ hết sức trân trọng ngời hiền tài, coi ngời ấy là tài sản quýbáu nhất Năm Minh Mạng thứ 8, vua Ai Lao hiến ngọc báu; vua khớc từ,nhân xuống dụ cho thị thần rằng : "Quốc gia chỉ quý ngời hiền tài, dù

có hạt châu mình nguyệt, hòn ngọc chiêu thặng cũng không đángquý"[24,174]

Vấn đề nhận thức đi đôi với việc làm , trong 21 năm ở ngôi, nhà vua

đã bốn lần hạ chiếc cẩu hiền vào các năm Minh Mạng thứ nhất (1820) thứ

ba (1822) thứ tám (1827) và thứ mời một (1830) Ngoài ra, hầu nh năm nào

Trang 35

cũng có những chỉ dụ cho quan lại thực hiện việc tiến cử T tởng chỉ đạocho việc dùng ngời trớc hết là phải tận dụng chỗ mạnh của mỗi ngời: "Triều

đình dùng ngời nh thợ giỏi dùng gỗ, không nên vì một tấc mà bỏ mất cây

gỗ to vừa ngời ôm" [25,205] Nhng cũng phải rất thạn trọng "Về việc dùngngời Trẫm vẫn luôn luôn để ý, mỗi khi cất nhắc một ngời tất phải xem lờinói, việc làm” [24,173]

Ngoài ra, ông còn bác bỏ t tởng định kiến, hẹp hòi Ông đòi không

đ-ợc giữ định kiến mãi đối với những ngời từng mắc lỗi lầm: "Phàm ngời ta aikhông có điều lầm lỗi; lầm lỗi mà biết sửa đổi thì cũng có thể bỏ đợc vếtxấu mà dùng " [28,234] Nh vậy , ông đã vạch ra một cách toàn diện t tởngchỉ đạo đối với việc dùng ngời từng mắc lỗi lầm Một mặt thì không địnhkiến, nhng mặt khác, ngời từng mắc lỗi lầm phải sửa mình Nghĩa là , t tởngcủa Minh Mạng về đạo làm vua hàm chứa t tởng nhân đạo chủ nghĩa rất

đậm đà

Thứ hai , về đạo làm ngời : Có thể khẳng định trong lịch sử nớc ta, từtrớc đến Hồ Chí Minh chỉ có vài ba ngời đứng đầu quốc gia - trong đó cóMinh Mạng - quan tâm đến việc đề ra những tiêu chuẩn đạo đức cụ thể vàtruyền bá chúng vào toàn thể nhân dân Điều này cũng bởi Minh Mạng làngời đặt nền móng thực cho triều Nguyễn

Chính vì vậy mà năm Minh Mạng thứ 15 (1834), ông ban bố khắp cảnớc 10 điều huấn dụ : Cùng với mời điều huấn dụ, có lần nhà vua đã phátbiểu một câu có ý nghĩa tổng quát về đạo làm ngời : "Ngời ta không lo xa

đã đành là không nên, nhng quá lo cũng lại không đợc Chỉ nên vui đạo trời,yên số mệnh, đến lúc làm việc thì nên giữ gìn nh lợi trên nớc sâu, đi trênván mỏng mới đợc " [31,28]

Nh vậy là, hồi nửa đầu thế kỷ XIX, con ngời Việt Nam đã phải họcmời điều vua Minh Mạng dạy Phải nói rằng đó là những điều hay lẽ phảithích ứng với yêu cầu xây dựng xã hội cần đợc ổn định và con ngời cần phảihớng thiện vào lúc bấy giờ.Một xã hội nh vậy và một mẫu ngời nh vậy

Trang 36

chẳng những là nhu cầu cho sự bền vững của triều đại mà cũng là nhu cầucho dân tộc và xã hội lúc đơng thời.

Cuối cùng là t tởng yên dân, củng cố nền thống nhất quốc gia T tởngnày thể hiện trong quan niệm của ông về nhân chính về vai trò và sức mạnhcủa nhân dân và vấn đề quốc phòng

Vào một lần, thàn "Dân là gốc nớc - Dân không yêu mến thì ngơi cóthể hởng giàu sang đợc mãi không ? [31,6] Có thể thấy rõ dấu ấn của Nhogiáo trong câu trên khi nói về vị trí của dân và sức mạnh của dân Nhà vua

đã từng nói về quan hệ giữa vua với dân nh sau : "Ngời làm chính trị khôngthể trái ý muốn của dân" và "ôi ! Vua đối với dân, cũng nh cha hiền đối với

đứa trẻ vậy, cha lạnh đã nghĩ đến áo mặc, cha đói đã nghĩ đến cho ăn no, hálại đợi đến lúc khóc hu hu rồi mới cho ăn hay sao ? [25, 42] Và liền ngaysau khi đề ra t tởng nh trên, nhà vua chỉ thị giảm thuế Nghĩa là với ông, lờinói đi đôi với việc làm Trong câu chữ trên ta bắt gặp thái độ ân cần chu đáocủa ngời đứng đầu đất nớc đối với nhân dân

Điều đó cũng rất hợp logic với : "Vơng giả vui với thiên hạ thì vui gìbằng Phàm mặc áo gấm, ăn thức ăn ngon vẫn là vui vẻ, nhng chợt có mấtmùa, dân gian đói kém thì vui với ai ? " [25,42]

Minh Mạng hiểu sâu vai trò và vị trí của quan lại đối với đời sốngnhân dân Ông đã chỉ rõ bản chất của bọn quan lại tham nhũng và trongviệc làm, ông đã trừng phạt hết sức nghiêm khắc những kẻ cậy quyền thế ứchiếp nhân dân: "Quan lại tham nhũng là giặc sâu mọt của dân mà trộm c ớpnổi lên cũng vì đó vậy" [25,69]

Việc Mên Phú con trai ông có ngời lính là Vân trong một lần chạyngựa làm một bà già bị chết Miên Phú bị tớc áo mũ, cắt lơng bổng, tênVân bị chém và Phú phải đa ngời chết 200 lạng bạc Điều này chứng tỏ ôngrất đề cao pháp trị thởng phạt phân minh với chính con ruột của mình Qua

cử chỉ lời nói và việc làm của ông, ta thấy rõ cả t tởng lẫn tác phong củaMinh Mạng Ông đặt rất rõ trách nhiệm của bộ máy Nhà nớc là phải đảm

Trang 37

bảo cho dân đợc yên : "Dẹp kẻ ác đẻ yên dân là việc trớc nhất của chính trị"[33,139].

Tóm lại, Minh Mạng đã để lại những mệnh đề t tởng có giá trị, thểhiện một lòng yêu thơng nhân dân đáng trân trọng và có thể đợc coi lànhững cống hiến vào truyền thống nhân ái của dân tộc Điều rất đáng ghinhận là t tởng thân dân ấy đã đợc thể hiện thành những chính sách, biệnpháp cụ thể nhằm ổn định lòng dân và giảm nỗi đau khổ cho dân T tởng ấythực sự đã định hớng cho lý tởng của nhà vua và chính sách dùng ngời của

ông Đó là t tởng chủ đạo của triều đại mà ông trị vì Cũng là t tởng mà ông

đòi các vua nối nghiệp ông phải thực hiện

Về quốc phòng, dới thời ông trị vì, Minh Mạng thờng xuyên phải đốiphó với các cuộc bạo loạn bên trong Để tăng cờng việc phòng thủ , ông đãcho bồi đắp hầu hết các thành trì các tỉnh từ Nam đến Bắc, xây dựng nhiềupháo đài mới ở một số cửa biển, tập trung vào việc bảo vệ kinh thành Còntrang bị đổi mới cho quân đội thì sự thật ông cha nghĩ tới

Nh vậy, qua việc trình bày t tởng chính trị nổi bật của Minh Mạngqua tập " Minh Mệnh chính yếu" ta thấy rằng Minh Mạng đúng là ngời có ýthức xây dựng hệ t tởng chính thống của vơng triều họ Nguyễn Đó là một

hệ t tởng hoàn chỉnh, đợc sáng tạo để đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đấtnớc và vơng triều, có tham khảo đến một mức nào đó các kinh nghiệm lịch

sử của dân tộc và Bắc sử Trớc ông, trong lịch sử t tởng nớc ta cha từng có

ai trình bày một cách hoàn chỉnh và có hệ thống hệ t tởng phong kiến chínhthống của một vơng triều Việt Nam nh ông đã thực hiện Ông là một trongnhững nhà t tởng lớn của nớc ta trong thời phong kiến, chính t tởng này đãchi phối cuộc cải cách hoàn chỉnh do ông tiến hành trên đất nớc Đại Nam

2.2 Công cuộc cải cách hành chính của Minh Mạng (1820 - 1840) :

Cũng là vấn đề cải cách hành chính, nhng đến thời Minh Mạng đất

n-ớc khác xa với yêu cầu lịch sử thời Khúc Hạo, thời Lê Thánh Tông Bấygiờ, nổi trội vấn đề hơn vấn đề thống nhất đất nớc, nó không chỉ là về mặt

Trang 38

danh nghĩa một tôn chủ, một nền cai trị thoả hiệp chấp thuận sự phân tán

mà là cả trong thực tế của cuộc sống, một nền thống nhất thực sự nó hợppháp hoá tất cả chủ quyền mà phần nào đó ta chứng thực về mặt thực tiễn

Điều đó cũng nh ta hiểu yêu cầu đó là một trong những việc lấy lòng dântrăm họ, là quy phục thiên hạ về mặt giềng mối

2.2.1 Cải cách hành chính ở Trung ơng

Công cuộc cải cách hành chính dới triều Minh Mạng đợc tiến hànhdần dần từ trung ơng, sau đó mới tới các thể chế hành chính của địa phơng.Cải cách hành chính ở trung ơng nhằm tập trung mọi quyền lực cao nhấtvào tay Hoàng đế Minh Mạng

Đối với các cơ quan trực thuộc Hoàng đế, ta thấy rằng năm đầu lênngôi (1820), Minh Mạng liền cải tổ Tam Nội viện thời Gia Long làm văn

th phòng phụ trách côngviệc giấy tờ văn th, có "ấn quan phòng" xác định

đây là một cơ quan độc lập của triều đình Và xem tầm quan trọng của nó :

"Văn th phòng nơi khu mật của nhà nớc, không ngời ngời giữ việc cấmkhông đợc vào " [27,42]

Năm 1822, Minh Mạng lập Hàn Lâm Viện để lo việc soạn thảo vănbản, gánh một phần trách nhiệm của Văn th phòng; nhng đến năm 1826, lạigiao nhiệm vụ quan trọng trong việc điều hành bộ máy hành chính trung -

ơng cho văn th phòng là lu giữ châu bản của triều đình Năm 1826, MinhMạng cho lập Đông các, thì các nhân viên văn th phòng túc trực thờngxuyên để đội lệnh sai phái Đó là bớc chuẩn bị cho việc tập quyền triệt đểcủa chơng trình cải tổ dới triều Minh Mạng

Năm 1829, Minh Mạng cho lập nội các trên cơ sở của văn th phòng

để tăng chức trách và nhiệm vụ cho nó: "Nhà nớc ta sau khi đại định, đứcHoàng Khảo thế tổ cao Hoàng đế ta đặt thị th viện Khi Trẫm mời thânchính đổi làm văn th phòng danh sắc dẫu khác cũng đều là để giữ sổ sách

và theo hầu hai bên Nay nghĩa văn th phòng tên gọi cha thoả nên đổi làmnội các"[23, 43]

Trang 39

Thời Minh, Thanh (Trung Quốc) cơ quan nội các có quyền lực đứngtrên các bộ, phẩm hàm của các viên quan đứng đầu nội các là chính nhấtphẩm, còn dới triều Minh Mạng, các viên quan này chỉ có hàm tam phẩm,

tứ phẩm Triều Nguyễn Minh Mạng đã cơ cấu một nội các có vai trò quantrọng nhng chức phận văn dới 6 bộ, chủ yếu đảm nhận công việc hànhchính , nghiệp vụ cho triều đình, giám sát và khống chế cả 6 bộ và các cơquan ngang bộ Cơ quan nội các gồm có 4 tào (thợng bảo, ký chủ, đồ th vàBiểu hạ )

Nh vậy, thức chất nội các là cơ quan văn phòng trung ơng mở rộng vềnhiệm vụ và chuyên sâu về chức năng chứ không phải là một tổ chức hội

đồng chính phủ nắm quyền hành pháp nh nội các Trung Quốc Với chứcnăng đó, nội các triều đình Huế đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị mà triềuNguyễn đã đặt ra, là một thành công của Minh Mạng trong cuộc cải cáchhành chính , đảm bảo đợc tính hiệu năng và tính an toàn cho chế độ

Công cuộc cải cách hành chính và bộ máy quản lý nhà nớc triềuMinh Mạng có nhiều ý nghĩa thực tiễn nhng tạo nên bận rộn cho triều đìnhtrung ơng, nhất là khi bỏ cấp thành, lại thêm nhiều cuộc khởi nghĩa nôngdân cùng giặc Xiêm ngấp nghé Chính vì vậy năm 1834 , nhà vua quyết

định thành lập Viện cơ mật với nhiệm vụ: "Dự bàn những việc cơ mu trọngyếu giúp đỡ việc quân" [18,44] Cơ quan này Minh Mạng phỏng theo chế

độ viện khu mật của đời Tống và quân cơ sứ của nhà Thanh

Đứng đầu cơ mật viện là 4 quan đại thần do nhà vua trực tiếp bổnhiệm trong hàng ngũ quan lại cao cấp từ tam phẩm trở lên Đây cũng lànhân sự trong cấp cơ mật đại thần Còn cấp cơ mật hành tẩu thì nhân viênsát hạch trong các bộ, nha ở kinh đô và đợc biên chế vào 8 ngời Lúc mớithành lập, Minh Mạng chia cơ mật viện làm hai kinh: Nam chơng kinh phụtrách các tỉnh từ Quảng Bình vào Nam và việc đối ngoại phía Nam Bắc ch -

ơng kinh phụ trách các tỉnh từ Hà Tĩnh ra Bắc và việc đối ngoại về phíaBắc Viện có mật t vấn cho nhà vua nắm chắc lục bộ và các địa phơng trong

Trang 40

toàn quốc Năm 1837, đổi làm Nam Ty và Bắc Ty và giữ nguyên chính sáchnày về sau

Nh vậy , sở mật viện là hội đồng tối cao về an ninh, chính trị ra đờitrong hoàn cảnh đất nớc có chiến tranh và đã hoàn thành đợc các trọngtrách trớc hoàng đế

Với các bộ, cải cách của Minh Mạng là quá trình hoàn thiện hànhpháp 6 bộ của triều Nguyễn Lúc mới kiến tạ bộ máy Nhà nớc, Gia Long đã

đặt 6 Bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình và Bộ Công nhng cha có ấn triện và cha

đặt chức thợng th, đến năm 1804 nhà vua cho đúc ấn triện của 6 bộ

Theo "Đại Nam điển là toát yếu" trong 6 bộ, Bộ Lại là quan trọngnhất phụ trách về kinh tế, tài chính Bộ Lễ phụ trách về văn hoá, giáo dục,ngoại giao, Bộ binh phụ trách về quân đội, quốc phòng Bộ Hình phụ trách

về pháp luật, hình án Bộ Công phụ trách và kiến thiết, xây dựng trên toànquốc

Dới thời Gia Long, chức danh nhân viên 6 bộ vẫn theo cách gọi trớcnh: Thợng th, tham tri, thiêm sự, câu kê, cai hợp, thủ hợp Ngoài ra còn cónhân viên sai phái lệnh Sứ Ty và Bổn Ty Năm 1821, Minh Mạng đổi lệnh

Sứ Ty là Thanh lại Ty đặt thêm các chức lang trung, chủ sự, tự vụ, năm sau

bỏ chức cai hợp, thủ hợp Năm 1826, lại bỏ chức thiêm sự và thay bằng langtrung, đặt thêm chức thị lang Rồi đến năm 1837, mỗi bộ đợc lập thêm mộtphòng gọi là ấn Tào nh là văn phòng của Bộ

Mỗi bộ đầu có một xứ trực và tuỳ theo công việc mà lập từ 3 - 6thanh lại Ty chuyên trách để theo dõi công việc của bộ mình (Bộ Lại : 4thanh Lại Ty, Bộ Hộ : 6 Thanh Lại Ty, Bộ Binh : 5 Thanh Lại Ty, Bộ Hình

4 Thanh Lại Ty và Bộ Công 3 Thanh Lại Ty) Ban lãnh đạo bộ có 5 quanchức, đứng đầu là thợng th, 2 tham tri ( tả và hữu), hai thị lang (tả và hữu)

Đó là những ngời học cao đức trọng, có năng lực chính trị để đảm nhiệmcông vụ và có uy tín trong hàng ngũ quan chức của triều đình, đợc vua tindùng theo quan chế của triều Nguyễn, các viên quan đứng đầu lục bộ hợp

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1956), Lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX), Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX)
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1956
2. Đỗ Bang (1997), Tổ chức bộ máy nhà nớc triều Nguyễn (1802-1884), Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bộ máy nhà nớc triều Nguyễn (1802-1884)
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1997
3. Đỗ Bang (2001), Chân dung các vua Nguyễn, tập 1. Nxb Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung các vua Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 2001
4. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chơng loại chí. Nxb KHXH, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1992
5. Cao Xuân Dục (1962), Quốc triều chính biên toát yếu. Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều chính biên toát yếu
Tác giả: Cao Xuân Dục
Năm: 1962
6. Phan Đại Doãn (1998), Một số vấn đề quan chế triều Nguyễn. Nxb Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quan chế triều Nguyễn
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1998
7. Trịnh Hoài Đức (1998), Gia Định Thành thông chí. Nxb Giao dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định Thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Nhà XB: Nxb Giao dục
Năm: 1998
8. Trơng Minh Đạt (2001), Họ Mạc trong thời kỳ đấu khai sáng đất Hà Tiên. NCLS, số 2 (III-IV) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Họ Mạc trong thời kỳ đấu khai sáng đất Hà Tiên
Tác giả: Trơng Minh Đạt
Năm: 2001
9. Lê Quý Đôn (1977), Phủ biên tạp lục. Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1977
10.Nguyễn Hữu Hiếu (2002), Chúa Nguyễn và các giai thoại mở đất phơng Nam. Nxb Trẻ, T.P Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúa Nguyễn và các giai thoại mở đất phơng Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiếu
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2002
11.Nguyễn Văn Kiệm (2001), Sự du nhập của đạo Thiên chúa vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX. Hội KHLS Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự du nhập của đạo Thiên chúa vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Văn Kiệm
Năm: 2001
12.Trần Trọng Kim (2001), Việt Nam sử lợc. Nxb VHTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử lợc
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb VHTT Hà Nội
Năm: 2001
13.Phan Huy Lê (1960), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 3. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1960
14.Huỳnh Minh (1973), Gia Định xa và nay. Vụ văn hoá đặc trách, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định xa và nay
Tác giả: Huỳnh Minh
Năm: 1973
15. Nguyễn Phúc Nghiệp (2000), Quá trình đợc khai hoang lập làng ở Tiền Giang thế kỷ XVII đến XVIII. NCLS, số 1 (I-II) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình đợc khai hoang lập làng ở Tiền Giang thế kỷ XVII đến XVIII
Tác giả: Nguyễn Phúc Nghiệp
Năm: 2000
17.Sơn Nam (1997), Đất Gia Định xa, Nxb trẻ T.P Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Gia Định xa
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: Nxb trẻ T.P Hồ Chí Minh
Năm: 1997
18.Nội các triều Nguyễn (1993), Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb Thuận Hoá, HuÕ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam hội điển sự lệ
Tác giả: Nội các triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1993
19. Lê Kim Ngân (1963), Tổ chức chính quyền dới thời Lê Thánh Tông (1460-1497). Bộ QG Giáo dục xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính quyền dới thời Lê Thánh Tông (1460-1497)
Tác giả: Lê Kim Ngân
Năm: 1963
20. Nguyễn Danh Phiệt (1993), Suy nghĩ về bộ máy nhà nớc quân chủ trung ơng tập quyền Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX. NCLS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về bộ máy nhà nớc quân chủ trung "ơng tập quyền Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Danh Phiệt
Năm: 1993
21.Nguyễn Phan Quang (1998), Góp thêm t liệu Sài Gòn - Gia Định 1859- 1945. Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp thêm t liệu Sài Gòn - Gia Định 1859-1945
Tác giả: Nguyễn Phan Quang
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w