Mục lụcPhần mở đầu 1 Phần nội dung 5 Chơng 1: Khái quát chính sách của Mỹ đối với khu vực Trung Đông trong thời kỳ chiến tranh lạnh 5 Chơng 2: Bớc đầu tìm hiểu chính sách của Mỹ đối với
Trang 1Mục lục
Phần mở đầu 1 Phần nội dung 5 Chơng 1: Khái quát chính sách của Mỹ đối với khu vực Trung Đông
trong thời kỳ chiến tranh lạnh 5
Chơng 2: Bớc đầu tìm hiểu chính sách của Mỹ đối với những vấn
đề căn bản ởTrung Đông thời kỳ hậu chiến tranh lạnh 17
Chơng 3: Những kết quả đạt đợc và triển vọng của các chính sách đó 39
Chính vì thế, Trung Đông sớm trở thành mục tiêu chiến lợc hàng đầucủa các nớc lớn trên thế giới trong đó có Mỹ
Trang 2Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, sự tranh giành ảnh hởng của các nớc lớn
đã tạo nên một Trung Đông luôn bất ổn định với đầy rẫy những mâu thuẫn
đan xen nh: Xung đột giữa các nớc ả Rập - Israel; các xung đột mâu thuẫn vềsắc tộc, tôn giáo hay các hoạt động khủng bố của các nhóm tổ chức Hồi giáocực đoan
Chiến tranh lạnh đã kết thúc với sự sụp đổ của Liên Xô và các nớc
Đông Âu - XHCN, tình hình quốc tế, khu vực có những thay đổi Vậy chínhsách của Mỹ đối với Trung Đông thời kỳ hậu chiến tranh lạnh có khác gì sovới thời kỳ chiến tranh lạnh hay không ?
Về các vấn đề nh lịch sử Trung Đông; Mâu thuẫn về sắc tộc tôn giáo;chính sách của các nớc lớn đối với Trung Đông thòi kỳ chiến tranh lạnh đã đ-
ợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc nghiên cứu tơng đối đầy đủ Tìnhhình Trung Đông trong bối cảnh lịch sử hiện nay đặc biệt là chính sách của
Mỹ đối với những vấn đề căn bản ở Trung Đông đang thu hút sự quan tâm củacác giới nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nớc, cho nên tôi mạnh dạn chọn đề
tài: "Bớc đầu tìm hiểu chính sách của Mỹ đối với những vấn đề căn bản ở Trung Đông thời kỳ hậu chiến tranh lạnh" làm đề tài nghiên cứu Hy vọng
của chúng tôi là làm sáng tỏ những vấn đề trên một cách khoa học, đồng thờigóp phần nắm vững tình hình Trung Đông trong bối cảnh lịch sử hiện nay
2 Lịch sử vấn đề:
Trung Đông xa nay luôn là khu vực nóng bỏng do sự tranh giành, mâuthuẫn giữa các cờng quốc trong chiến tranh lạnh nên bớc sang thời kỳ hậuchiến tranh lạnh Trung Đông vẫn tiếp tục bất ổn định với những vấn đề nổicộm nh xung đột Israel - ả Rập; chủ nghĩa khủng bố; sự đối đầu Mỹ - Iraqhay quan hệ Nga - EU đối với khu vực này Những vấn đề này đã đợc các tácgiả trong và ngoài nớc lý giải tơng đối rõ ràng Tuy nhiên, để hiểu chính sáchcủa Mỹ đối với những vấn đề này thì cha có tác giả nào đề cập và giải quyếttrọn vẹn, khoa học (cha có công trình khoa học nào chuyên về vấn đề này).Vấn đề này chủ yếu đợc nêu và giải quyết rải rác ở một số công trình nghiêncứu về các vấn đề cụ thể của từng nớc hay quan hệ giữa các nớc trong khu vực
nh nghiên cứu về vai trò trung gian của Mỹ trong tiến trình hoà bình Trung
Đông; sự đối đầu Mỹ - Iraq qua hai cuộc chiến tranh, một số công trìnhnghiên cứu có tính chất tổng hợp về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sauchiến tranh hoặc một số bài nghiên cứu đăng trên các báo, tạp chí
Trang 3"Cuộc xung đột Israel - ả Rập" NXB Thông tấn Hà Nội- 2002 Mới
chỉ trình bày diễn biến của tiến trình hoà bình Trung Đông với vai trò trunggian của Mỹ
"Cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai" NXB Thông tấn Hà Nội
-2003 chỉ nêu lên nguyên nhân, mục đích, quá trình Mỹ vận động chuẩn bị tấncông Iraq
Nguyễn Thị Th - Nguyễn Hồng Bích - Nguyễn Văn Sơn "Lịch sử Trung
cận Đông" NXB Giáo dục - 2000 Tác phẩm đề cập khái quát tiến trình lịch sử
của các nớc khu vực Trung Đông cũng nh đã đề cập đến chính sách của Mỹnhng chỉ đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX
"Mỹ - Iraq cuộc đối đầu hai thế kỷ" NXB Thông tấn Hà Nội - 2002
trình bày quan hệ Mỹ - Iraq từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh đến khi để chuẩn
bị tấn công Iraq lần thứ hai
Mới đây có các tác phẩm: " Ông chủ thứ 43 của nhà trắng" NXB Lao
động Hà Nội - 2003 Tác phẩm cho chúng ta hiểu rõ thực chất "nền dân chủMỹ"; những bớc đi của Bush cùng những gì Mỹ đang tính toán trên bàn cờQuốc tế
Hay tác phẩm "Thế giới trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI" của Nguyễn
Duy Quý (chủ biên) Tác phẩm đã trình bày diện mạo thế giới trong nhữngthập niên đầu thế kỷ XXI; chiến lợc cũng nh quan hệ giữa các nớc lớn vớinhau
Tạp chí thông tin công tác lý luận t tởng có nhiều bài viết đề cập đếnnhững sự kiện nóng bỏng của Trung Đông trong giai đoạn hiện nay
Bên cạnh đó còn có một số học giả nớc ngoài nh Randall B Riplei vàJames M.Lindsay (chủ biên) với tác phẩm "Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳsau chiến tranh lạnh" Tuy nhiên tác phẩm này chỉ đi vào nghiên cứu sự thay
đổi trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ nh thế nào nhằm đáp ứng yêu cầucủa thời đại mới
Tóm lại, trên cơ sở kế thừa những công trình đã nghiên cứu cùng với
nguồn tài liệu thu thập đợc, chúng tôi cố gắng bổ sung phần còn thiếu hoặc
cha đợc nghiên cứu để hoàn thành đề tài "Bớc đầu tìm hiểu chính sách của
Mỹ đối với những vấn đề căn bản ở Trung Đông thời kỳ hậu chiến tranh lạnh".
3 Phạm vi - Nhiệm vụ đề tài:
Trang 4Từ đó rút ra một số nhận xét sơ bộ, tổng hợp về tình hình Trung Đôngtrong bối cảnh hiện nay.
4 Bố cục đề tài:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, đề tài gồm 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát chính sách của Mỹ đối với khu vực Trung Đông
trong thời kỳ chiến tranh lạnh
Chơng 2: Bớc đàu tìm hiểu chính sách của Mỹ đối với những vấn dề
căn bản ỏ Trung Đông thời kỳ hậu chiến tranh lạnh
Chơng 3: Những kết quả đạt đợc và triển vọng của các chính sách đó.
5 Phơng pháp nghiên cứu:
Phơng pháp chủ yếu mà chúng tôi sử dụng khi nghiên cứu đề tài này làphơng pháp logic - lịch sử, trên cơ sở những tài liệu đã thu thập đợc với việcphân tích - tổng hợp - so sánh để lý giải, chứng minh vấn dề đã nêu trong quátrình nghiên cứu những ý kiến đánh giá của một số nhà nghiên cứu đợc chúngtôi sử dụng làm cơ sở cho định hớng nội dung đề tài
Trang 5ơng, ấn Độ Dơng và Thái Bình Dơng) Vì vậy, yếu tố địa lý có ý nghĩa đặcbiệt lớn trong lịch sử khu vực này.
Những yếu tố địa lý đã tạo ra mọi vấn đề chiến lợc liên quan đến sựliên lạc giữa các vùng, giữa các Châu lục và giữa các đại dơng thông qua việckiểm soát các eo biển và các hòn đảo chiến lợc trên Địa Trung Hải
Các nhà chinh phục vĩ đại trong lịch sử thế giới đều có quan điểmchung về ý nghĩa chiến lợc của Trung Đông Pieer Đại đế và NapoléonBonaparte đều đánh giá "Ai kiểm soát đợc Trung Đông ngời đó cai trị đợc thếgiới"
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã dẫn tới những thay đổi căn bảntrong tơng quan lực lợng quốc tế Điều đó thể hiện trớc hết trong sự xuất hiện
hệ thống xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô và sự suy yếu của chủ nghĩa
đế quốc Trong khi đó Mỹ đã vơn lên địa vị cầm đầu hệ thống t bản chủ nghĩa,phát động chiến tranh lạnh hòng đảo ngợc tình thế Những điều này đã có ảnhhởng quyết định đến nội dung của quan hệ quốc tế sau chiến tranh nói chung
và quan hệ quốc tế ở khu vực Trung Đông nói riêng
Những mâu thuẫn chằng chéo giữa hai hệ thống xã hội trên thế giới
đứng đầu là Liên Xô và Mỹ, giữa Mỹ và Anh, giữa ngời ả Rập và và ngời DoThái, mâu thuẫn trong nội bộ các nớc ả Rập đã làm cho tình hình chính trị ởkhu vực Trung Đông từ sau chiến tranh thế giới thứ hai luôn ở trong tình trạngxung đột, căng thẳng
Trang 6Trong những mâu thuẫn nói trên, mâu thuẫn quan trọng nhất, có tínhchất quyết định đối với những diễn biến của các sự kiện ở khu vực này đó là
sự tranh giành ảnh hởng và đối đầu giữa hai cờng quốc Xô - Mỹ
Tình trạng căng thẳng ở Trung Đông chắc chắn đã không thể kéo dàivới những diễn biến phức tạp đến nh vậy nếu nh khu vực này không có ýnghĩa chiến lợc "sống còn " đối với cả hai cờng quốc Liên Xô và Mỹ thời kỳsau chiến tranh thế giới II
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ đánh giá cao vị trí chiến lợc củaTrung Đông trong cuộc đối đầu với Liên Xô Trung Đông - khu vực tiếp giápvới sờn phía nam của Liên Xô, đe doạ trực tiếp đến sự "sống còn " của LiênXô Chính vì thế, Mỹ đã đa ra những chính sách và các biện pháp lôi kéo, ràngbuộc các nớc trong khu vực nhằm phục vụ cho ý đồ của mình
ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, phong trào đấu tranh vũ trang do Đảng cộngsản lãnh đạo dâng lên mạnh mẽ " ngày 12/3/1947, Tổng thống Mỹ Truman đã
đọc một bài diễn văn trong hội nghị liên tịch của Thợng, Hạ nghị viện Quốchội Mỹ trong bài diễn văn đó Truman công khai đa ra việc ngăn chặn Liên Xô
và lực lợng cộng sản trên toàn thế giới, trớc mắt thực hiện việc cung cấp việntrợ quân sự và kinh tế cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ" [15;72]
Truman nhận định, nếu HyLạp và Thổ Nhĩ Kỳ đang bị cộng sản thôntính và nếu nh thế thế lực của Liên Xô sẽ tràn xuống Địa Trung Hải và Trung
Đông, khống chế đợc cả khu vực "rốn" dầu hoả của thế giới Chính vì vậy,tổng thống Truman đã đề nghị Quốc Hội thông qua một khoản viện trợ chohai nớc này là 400 triệu USD để giúp Chính phủ nớc này giữ vững thể chế của
họ
Bên cạnh việc "giúp đỡ" HyLạp và Thổ Nhĩ Kỳ thì Mỹ cũng tìm cáchlôi kéo và ràng buộc các nớc ả Rập khác băng biện pháp viện trợ kinh tế vàquân sự
Nhìn chung, nhằm ngăn chặn "sự bành trớng của chủ nghĩa cộng sản"nên trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ tìm mọi cách khống chế, thao túng khuvực Trung Đông ý đồ của Mỹ là biến các nớc của khu vực này thành các nớc
lệ thuộc vào Mỹ Xây dựng những căn cứ quân sự và sử dụng các nớc này làmbàn đạp chiến lợc nhằm bao vây khống chế Liên Xô
Không chỉ dừng lại đó, Mỹ còn có âm mu sâu xa hơn đó là mở rộng ảnhhởng và thế lực của mình trên toàn thế giới giữ vị trí chủ đạo trên vũ đài chính
Trang 7trị Quốc tế Mặt khác, Trung Đông không chỉ là "bàn đạp chiến lợc" bao vâykhống chế liên Xô mà Mỹ luôn nhận thức đợc rằng nếu nắm đợc khu vực nàythì nhiều khă năng Mỹ sẽ "cai trị đợc thế giới" Eisenhower từng nói: "không
có vùng nào trên thế giới quan trọng hơn Trung Đông về mặt chiến lợc"
Trong chiến lợc toàn cầu của Mỹ, Trung Đông luôn chiếm một vai tròtrọng yếu không những về vị trí chiến lợc mà còn vì nguồn tài nguyên phongphú của khu vực này là dầu lửa
Với u thế về trữ lợng dầu lửa, Trung Đông là khu vực khai thác dầu lửalớn nhất Trong khi đó, Mỹ lại là một trong những nớc tiêu thụ dầu nhiều nhấtvới 1/4 lợng tiêu thụ dầu mỏ của thế giới Trong hoàn cảnh nh vậy, bất kỳ một
sự giảm sút sản xuất và cung cấp dầu lửa nào của các nớc Trung Đông cũng
đều ảnh hởng sâu sắc đến toàn bộ nền kinh tế của Mỹ cũng nh những nớc tiêuthụ dầu nhiều nhất Cuộc khủng hoảng năng lợng diễn ra trong giới t bản saucuộc chiến tranh ả Rập - Israel tháng 10/1973 là một bằng chứng hùng hồn vềmức độ phụ thuộc nghiêm trọng của thế giới t bản vào dầu lửa Trung Đông
"ngời Nhật hiểu rõ nếu Trung Đông" hắt hơi", nền kinh tế Nhật sẽ bị "cảmcúm".[28]
Và ngời Mỹ cũng hiểu đợc rằng dầu mỏ là yếu tố chủ chốt trong hệthống kinh tế thế giới và về lâu dài chi phối mối tơng quan lực lợng giữa cáccờng quốc Ai có khả năng tác động đợc vào các khâu sản lợng, vận chuyển
và giá dầu, ngời đó có thể lái hệ thống kinh tế thế giới đi theo ý mình Vì thế
"không ngẫu nhiên mà Mỹ trở thành tâm điểm của các mạng lới khống chếcác vùng có dầu mỏ kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay " [2;15]
Điều đó chứng tỏ rằng dầu mỏ Trung Đông đóng vai trò khá quan trọngtrong nền kinh tế Mỹ Chính vì vậy Mỹ buộc phải dùng các biện pháp nh việntrợ kinh tế và quân sự để lôi kéo các nớc ả Rập đồng nghĩa với việc Mỹ cũngkhông thể áp dụng đồng loạt chính sách thù địch với tất cả các quốc gia thuộckhu vực này
Mỹ thực hiện các biện pháp chính sách đó đối với Trung Đông một mặt
sử dụng Trung Đông làm bàn đạp chiến lợc bao vây khống chế Liên Xô và mởrộng ảnh hởng của mình sang các khu vực khác, một mặt Mỹ muốn có đợc
ảnh hởng nhất định ở Trung Đông để tìm kiếm nguồn lợi to lớn về dầu lửa
Mặc dù trong chiến lợc toàn cầu của mình Mỹ đánh giá rất cao vị tríchiến lợc của Trung Đông, Mỹ tăng cờng can thiệp về quân sự, gây sức ép về
Trang 8chính trị, ràng buộc về kinh tế nhng nhìn chung Mỹ vẫn cha kiểm soát đợcTrung Đông và Trung Đông tromg thời kỳ chiến tranh lạnh luôn là sự giànhgiật lẫn nhau giữa Liên Xô và Mỹ.
1.2 Khái quát chính sách của Mỹ đối với Trung Đông trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Với những u thế về vị trí chiến lợc cũng nh về kinh tế, Trung Đông luôn
đợc sự quan tâm "đặc biệt'" của các nớc lớn trên thế giới
Sau chiến tranh Thế giới II, với u thế về mọi mặt Mỹ muốn vơn lên vịtrí "lãnh đạo thế giới" Một trong những khu vực mà Mỹ đánh giá cao đóchính là Trung Đông, chính vì thế Mỹ đã đa ra những chính sách mang tínhchất chiến lợc đối với khu vực này
Chính sách của Mỹ ở khu vực Trung Đông thời kỳ chiến tranh lạnh đợcquyết định bởi 3 yếu tố:
Thứ nhất: tầm quan trọng của khu vực này trong cuộc đối đầu giữa Mỹ
với Liên Xô và các phong trào giải phóng dân tộc chống Đế quốc
Thứ hai: Dầu lửa đóng vai trò hết sức quan trọng trong chính sách của
Mỹ ở khu vực này Những thu nhập từ việc khai thác dầu mỏ ở Trung Đông
do các công ty Mỹ tiến hành là một nhân tố quan trọng góp phần ổn định nềnkinh tế Mỹ
Từ cuối những năm 60 đến đầu những năm 70 lợi nhuận do khai thácdầu mỏ ở các nớc ả Rập đợc chuyển về Mỹ ớc tính khoảng 1,7 tỉ đô la mỗinăm, cha kể Mỹ còn nhận đợc số lợng lớn từ các nớc này dới dạng cho vayngắn hạn, dài hạn và qua con đờng buôn bán
Năm 1975, Mỹ phải nhập từ các nớc ả Rập 80% lợng dầu, do đó t bản
độc quyền Mỹ đã và đang hết sức quan tâm đến việc đa ra những điều kiệnchính trị ở Trung Đông cho phù hợp với quyền lợi tối đa của Mỹ
Thứ ba: Giới tài phiệt Do Thái ở Mỹ cũng là một trong những nhân tố
quan trọng quyết định đến chính sách của Mỹ ở khu vực Trung Đông có thếlực lớn trong tổ hợp quân sự - công nghiệp và trong các phơng tiện truyềnthông Mỹ Có khả năng thực sự gây ảnh hởng đối với cả hai viện trong Quốchội Mỹ và tác động theo hớng có lợi cho Israel trong việc thảo luận các dự ánpháp luật ở cơ quan dự án tối cao này "những cái tên nh Karl Marx; AlbertEinsteins; Henry Kissinger; Dick Cheney là những cái tên góp phần làm rung
Trang 9chuyển lịch sử thế giới Hàng ngàn ngời nh họ đều có trong mình dòng máu
Do Thái Quốc gia Israel là một nhà nớc đặc biệt: nó chỉ có 7 triệu dân thế
nh-ng ở Hoa Kỳ lại có tới 10 triệu nh-ngời Mỹ gốc Do Thái Khônh-ng ít tronh-ng số 10triệu ngời đó là những doanh nhân giàu có hoặc những học giả xuất sắc Thậm
chí có những ngời đóng vai trò "bộ óc" của nớc Mỹ nh Zbignew Brzezinky
-tác giả của học thuyết xói mòn (Hollowness); H Kissinger - kiến trúc s của
Học thuyết Nixon Đây là một trong những cơ sở để lý giải vì sao Hoa Kỳ lại
hậu thuẫn nhiều đến thế cho chính quyền Israel " [28].
Xuất phát từ vị trí chiến lợc và kinh tế cực kỳ quan trọng của Trung
Đông sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã biến khu vực này thành địa bànchính cho các hoạt động chống Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới
Đồng thời Mỹ cũng sử dụng các giới phản động ả Rập và đặc biệt là Israel đểchống lại sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc, ngăn chặn ảnh hởngcủa Liên Xô, củng cố và phát triển đại vị của mình ở khu vực này
Chiến lợc đầu tiên Mỹ áp dụng ở Trung Đông là "chủ nghĩa Truman".Năm 1949, Mỹ đa ra "chơng trình 4 điểm" của Truman với nội dung chủ yếu
là dùng viện trợ kinh tế, kỹ thuật để xâm nhập vào các nớc Trung Đông Saukhi giúp bọn phản động ở Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ đàn áp phong trào dân chủ ởtrong nớc, Mỹ biến hai nớc này thành bàn đạp chiến lợc để mở rộng ảnh hởngcủa Mỹ ra toàn khu vực Năm 1951, Mỹ đa Thổ Nhĩ Kỳ tham gia vào NATO
và đã xây dựng ở đây những căn cứ quân sự lớn, có cả căn cứ tên lửa, biến ThổNhĩ Kỳ thành căn cứ quân sự khổng lồ của khối này
Trong những năm 50, cơ sở của chính sách quân sự của Mỹ là chiến lợc
"trả đũa ào ạt" Chính sách này xuất phát từ quan điểm chuẩn bị cho chiếntranh hạt nhân tổng lực chống Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa Để phục
vụ cho mục đích này, Mỹ âm mu biến Trung Đông thành một mắt xích quantrọng của hệ thống các khối quân sự nhằm bao vây Liên Xô Mục tiêu số mộtcủa Mỹ thời kỳ này là lập khối liên minh quân sự với sự tham gia của các nớc
ả Rập "năm 1951, Mỹ cùng Anh, pháp và Thổ Nhĩ Kỳ đa ra dự án thành lập
"Bộ chỉ huy quân sự Trung Đông" Ngày 24/2/1955, Bộ ngoại giao Mỹ đạt
đ-ợc việc ký kết liên minh quân sự Thổ Nhĩ Kỳ - Iraq, đđ-ợc gọi là khối Hiệp ớcBaghad (sau này thành khối quân sự trung tâm - CENTO); tháng 4/1955, Anh
và sau đó tháng 11/1955 Pakixtan và Iran chính thức gia nhập khối này.[10;323]
Trang 10Mỹ đã tìm mọi cách để lôi kéo các nớc ả Rập, đặc biệt là Ai Cập thamgia vào khối quân sự mới đợc thành lập nói trên Vì vậy sau thắng lợi của cuộccách mạng năm 1952, lật đổ vua Pharuk tiến hành chính sách thù địch ngayvới cả chính thể mới Âm mu của Mỹ là dùng viện trợ quân sự, kinh tế để tróibuộc Ai Cập nhng không đạt đợc kết quả.
Đến những năm 50, phái của Tổng thống Nasser đã thắng thế hoàntoàn Nasser không những lên án kịch liệt khối quân sự Baghdad, mà còn dùngchính sách và toàn bộ ảnh hởng của mình trong thế giới ả Rập để chống lạikhối này
Để đối lập với khối Baghdad, Ai Cập đã tiến hành ký hiệp định quân sựvới Syria và ả Rập Xê út Tháng 2/1955, Mỹ yêu cầu Syria không ký liênminh phòng thủ nhng bị phía Syria bác bỏ, quan hệ Mỹ - Syria căng thẳng,
đén ngày 20/10/1955, Syria vẫn ký liên minh phòng thủ với Ai Cập sau đó làvới ả Rập Xê út
Trớc tình hình đó, Mỹ quay sang sử dụng Irael để buộc các nớc ả Rậpphải quy phục Mỹ hỗ trợ mọi mặt cho Irael, đồng thời Mỹ cũng từ chối bán
vũ khí cho Ai Cập Để đối phó lại, tháng 9/1955 Ai Cập đã ký hiệp định vớiLiên Xô và Tiệp Khắc về việc hai nớc này cung cấp vũ khí cho Ai Cập Tiếptục chính sách chống Ai Cập, tháng 7/1956 Mỹ, Anh từ chối không viện trợtài chính cho Ai Cập để hoàn thành việc xây dựng đập Asuan nh đã hứa trớc
đó Trả lời hành động trên của Mỹ, Anh, ngày 26/7/1956, Nasser tuyên bốquốc hữu hoá Công ty kênh đào Xuyê
Với mục đích lật đổ chính thể tiến bộ của của Nasser, Mỹ đã bật đènxanh cho Anh, Pháp, Israel tiến hành cuộc xâm lợc tay ba chống lại Ai Cập.Trớc sức ép của d luận quốc tế Mỹ giữ thái độ hai mặt trên lời nói, Mỹ lên áncuộc xâm lợc và dờng nh tách khỏi các đồng minh của mình, nhng trong thực
tế Mỹ ủng hộ bọn xâm lợc không những về mặt chính trị mà cả về mặt kinh tếnữa Tuy nhiên với lập trờng kiên quyết của Liên Xô - đe doạ dùng vũ lực để
đập tan bọn xâm lợc và khôi phục lại hoà bình ở Trung Đông Cuối vùng Anh,Pháp phải chấm dứt chiến tranh
Do kết quả của khủng hoảng Xuy-ê, phong trào giải phóng dân tộc ởTrung Đông phát triển mạnh, uy tín của Ai Cập lên cao trong khi ảnh hởngcủa Anh và Pháp ở khu vực này xuống đến mức thấp nhất
Trang 11Tiếp theo Ai Cập và Syria, nhiều nớc ả Rập, kể cả những nớc vốn cótruyền thống thân Phơng Tây nh Jordan, Iraq, ả Rập Xê út đã cắt đứt quan hệngoại giao với Anh, Pháp.
Trong điều kiện nh vậy, Mỹ đa ra "học thuyết Eisenhower" (Văn kiện
của Tổng thống Mỹ Eisenhower trình bày trớc Quốc hội Mỹ ngày 5/1/1957)
Học thuyết Eisenhower đánh dấu những thay đổi căn bản cả về nội dung lẫn
hình thức trong chính sách của Mỹ ở Trung Đông
Điểm mấu chốt của học thuyết Eisenhower là thuyết lấp chỗ trống với
lập luận sau: trong điều kiện đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa cái gọi là thếgiới "tự do" với các nớc xã hội chủ nghĩa, tất cả những gì nằm ngoài phạm vicủa cuộc đấu tranh này, trong đó có phong trào giải phóng dân tộc của các dântộc phơng Đông không có quyền tồn tại một cách độc lập: hoặc là ảnh hởngcủa thế giới "tự do"(chủ nghĩa Đế quốc), hoặc là ảnh hởng của "chủ nghĩacộng sản quốc tế" hay nói một cách khác, khi ảnh hởng của một trong nhữngnớc thuộc địa thế giới tự do bị mất thì phải thay thế bằng ảnh hởng của một n-
ớc khác thuộc thế giới đó Trong trờng hợp Trung Đông, nớc đó là nớc Mỹ
Trung tâm của học thuyết Eisenhower là sử dụng các cuộc xung đột nội
bộ để lấy cớ can thiệp vũ trang Chiến thuật mới của Mỹ đối với các nớc cóchủ quyền trong thế giới ả Rập nh sau: Khi một nớc ả Rập bị buộc tội là "chhầu của Liên Xô" liền có tin đồn nớc này đang đe doạ các nớc láng giềng củamình; bớc tiếp theo là làm sao để các nớc láng giềng của nớc "ch hầu của LiênXô" yêu cầu đợc Mỹ bảo vệ bằng quân sự
Đỉnh cao của việc áp dụng học thuyết Eisenhower là việc Mỹ cho quân
đổ bộ vào LiBăng tháng 7/1958, tiến hành can thiệp quân sự công khai chốngcác lực lợng khởi nghĩa nhằm cứu vãn chế độ thân Mỹ ở LiBăng do Samuncầm đầu
Cuộc can thiệp dới chiêu bài LiBăng bị đe doạ từ phía Ai Cập một nớcchịu ảnh hởng của "chủ nghĩa cộng sản quốc tế" Phối hợp với Mỹ, Anh cùngmột lúc cho quân đổ bộ vào Jordan hòng thủ tiêu thắng lợi cuộc cách mạngchống đế quốc ở Iraq (4/1958) Bị d luận xã hội tiến bộ trên thế giới phản đối,Mỹ- Anh buộc phải rút quân đội khỏi Syria và Libăng Chính phủ mới ởLiBăng tuyên bố không thừa nhận học thuyết Eisenhower
Sau thất bại của chiến thuật sử dụng các mâu thuẫn giữa các nớc ả Rập
để củng cố địa vị của mình chống lại phong trào cách mạng trong khu vực,
Trang 12Mỹ chuyển sang dựa hẳn vào Israel, coi đó là lực lợng chủ yếu có khả năng
đánh bại chủ nghĩa Nasser và kìm hãm sự phát triển của phong trào chống đếquốc trong thế giới ả Rập
Vào đầu những năm 60, để thay thế cho học thuyết Eisenhower đã phásản, Mỹ đa ra chiến lợc "phản ứng linh hoạt" (1961) sau này đợc thay bằng cáigọi là thuyết Guam (hay học thuyết Nixơn), dự định tăng cờng vai trò của cácchế độ bù nhìn bản xứ trong cuộc đấu tranh chống phong trào giải phóng dântộc
ở Trung Đông, Mỹ tăng cờng viện trợ quân sự cho Israel, đồng thời để
đảm bảo u thế tuyệt đối về quân sự cho Israel, Mỹ tìm mọi cách ngăn chặnviệc cung cấp vũ khí từ phía Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa khác cho AiCập và các nớc ả Rập đối đầu với với Israel
Chính sách trên của Mỹ đã làm cho cuộc xung đột Israel - ả Rập ngàycàng căng thẳng và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc chiến tranh ả Rập -Israel lần thứ 3 (6/1967) Để đảm bảo cho thắng lợi của Israel Mỹ đã cung cấpthông tin tình báo cho Israel, đánh lạc hớng ả Rập Trong thời gian chiếntranh, đại diện Mỹ ở Liên hiệp quốc đã tìm mọi cách ngăn cản việc thông quacác nghị quyết lên án cuộc xâm lợc, trì hoãn việc ngừng bắn để tạo điều kiệncho quân đội Israel sau khi đánh bại quân đội Ai Cập ở Sinnai, giải quyếtnhiệm vụ, ở mặt trận phía đông - chiếm cao nguyên Gôlan của Syria
Sau cuộc chiến tranh tháng 6/1967, Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ quân sự vàtài chính cho Israel nhằm giúp Israel duy trì sự chiếm đóng các đất đai ả Rập
và tình trạng "không chiến tranh không hoà bình" có lợi cho Mỹ
Từ đầu những năm 70, Mỹ buộc phải thừa nhận sự cân bằng lực lợngquân sự - chiến lợc giữa Mỹ và Liên Xô và chuyển sang áp dụng một chiến l-
ợc mới - "kiềm chế thực tế", tức là tiến hành những biện pháp "răn đe" nhằmtránh xảy ra những thay đổi trái với ý muốn của Mỹ trên trờng quốc tế Đờnglối "đe doạ" và "đàm phán trên thế mạnh" đợc coi là những hình thức cơ bản,
sử dụng gián tiếp sức mạnh quân sự của Mỹ trong giai đoạn này Đối với các
đồng minh Mỹ áp dụng chính sách "chia sẻ trách nhiệm" Trong các kế hoạchchiến lợc của Mỹ, Trung Đông vẫn tiếp tục đóng vai trò hết sức quan trọng.Vấn đề tơng quan lực lợng trong khu vực này đợc các chính khách Mỹ xemxét dới góc độ đối đầu Mỹ - Xô, Mỹ và phong trào giải phóng dân tộc Trọngtâm của chính sách Trung Đông của Mỹ giai đoạn này là lợi dụng tối đa
Trang 13những thay đổi kinh tế, chính trị diễn ra vào đầu những năm 70 ở các nớc ảRập để lái các nớc này vào guồng máy chính trị của Mỹ; phát triển các mâuthuẫn giữa các nớc ả Rập gây chia rẽ kích động các cuộc xung đột trong nội
bộ khối ả Rập
Vào đầu những năm 70, Mỹ đã viện trợ vũ khí với số lợng lớn cho mộtloạt các nớc trong khu vực vịnh Ba T, khu vực quan tâm "đặc biệt" đối với Mỹtrớc hết là Iran và ả Rập Xê út
Trong những năm 1972 - 1973, Mỹ tiến hành các biện pháp thăm dò.Sau chiến tranh ả Rập - Israel lần thứ t (10/1973), Mỹ đa ra chính sách "hoàgiải từng phần", thực chất là nhằm ký kết các hiệp định riêng rẽ giữa Israel vớitừng nớc ả Rập, chia rẽ thủ tiêu mặt trận chung của các nớc ả Rập chốngIsrael, làm suy yếu quan hệ ả Rập đối với Liên Xô Để đạt đợc những mục
đích trên, ngoại trởng Mỹ Kissinger đã tiến hành một chiến dịch "ngoại giaocon thoi" Mục tiêu đầu tiên Mỹ nhằm vào là Ai Cập Lợi dụng nhữung thay
đổi về kinh tế, chính trị ở Ai Cập sau khi Nasser từ trần (9/1970), Mỹ đã lôikéo nớc này vào con đờng thoả hiệp
Ngày 17/9/1978, tổng thống mới của Ai Cập là SaoLat đã ký thoả hiệptrại Davit với Mỹ và Israel Sau đó, ngày 20/3/1979 ký hiệp định hoà bìnhriêng rẽ với Israel
Cũng trong giai đoạn này Mỹ và Israel đã kích động các mâu thuẫn tôngiáo ở Libăng, gây ra cuộc xung đột đẫm máu kéo dài ở nớc này từ 1975 -1989; Chiến tranh Iran - Iraq (1980 - 1988); chiến tranh vùng vịnh (1990) vàvô số những cuộc xung đột qui mô nhỏ khác Tình hình đó đã ảnh hởngnghiêm ttọng đến sự ổn định của khu vực, làm chậm tiến trình giải quyết cuộcxung đột ả Rập - Israel và gây nhiều tổn thất khó khăn cho cuộc đấu tranhgiành độc lập dân tộc của nhân dân Palestin
Những chính sách, biện pháp mà Mỹ đã áp dụng ở Trung Đông thời kỳchiến tranh kạnh không phải để điều hoà Trung Đông thành khu vực hoà bình,
ổn định mà ngợc lại đã đa đến một Trung Đông bất ổn định với đầy rẫy nhữngmâu thuẫn đan xen Đó là sự xuất hiện những mầm mống của chủ nghĩakhủng bố; Sự xung đột mâu thuẫn trong quan hệ giữa các nớc ả Rập - Israel.Chính sách của Mỹ cũng đa đến sự phản đối, bất hợp tác của một số nớc trongkhu vực đối với Mỹ
Trang 14Nhìn chung, chính sách của Mỹ đã để lại hậu quả nặng nề cho Trung
Đông, đó là một Trung Đông luôn xung đột, mâu thuẫn và bất ổn định
Chơng 2
Bớc đầu tìm hiểu chính sách của Mỹ đối với những vấn đề căn bản ở Trung Đông thời kỳ hậu chiến
tranh lạnh.
2.1 Những yếu tố mới tác động đến chính sách của Mỹ đối với những vấn
đề căn bản ở Trung Đông thời kỳ hậu chiến tranh lạnh
Chiến tranh lạnh đã kết thúc, thế giới bớc sang một thời kỳ mới - thời
kỳ hậu chiến tranh lạnh Sự kết thúc chiến tranh lạnh cũng đồng nghĩa với việc
Trang 15xuất hiện các yếu tố mới, đó là sự thay đổi các mối quan hệ trong từng khuvực, từng quốc gia.
Những yếu tố này đã góp phần quyết định đến chính sách của Mỹ đốivới những vấn đề căn bản của Trung Đông thời kỳ hậu chiến tranh lạnh
Chiến tranh kết thúc với sự sụp đổ hoàn toàn của Liên Xô, cũng từ đây
sự đối đầu căng thẳng giữa hai khối chính trị, quân sự Đông - Tây do Liên Xô
và Mỹ cầm đầu không còn nữa Điều này có nghĩa rằng: Trung Đông sẽ giảmbớt các cuộc xung đột quân sự nhng không có nghĩa Trung Đông sẽ trở thànhkhu vực hoà bình ổn định
Cục diện chính trị thế giới trong thời đại mới vẫn còn diễn biến cực kỳphức tạp, tuy có phần khác so với thời kỳ chiến tranh lạnh "hình thức chủ yếucủa sự đọ sức giữa các nớc lớn và động lực cơ bản của những biến đổi về sosánh lực lợng quốc tế trong thòi đại mới là cuộc chạy đua quốc lực tổng hợplấy kinh tế, kỹ thuật là chính " [15;589]
Sự thay đổi tiêu chí đánh giá vị thế của một cờng quốc đó là kinh tế kỹ thuậtchứ không phải là sức mạnh quân sự khiến cho Mỹ không thể không thay đổichính sách đối với Trung Đông Những chính sách đó sẽ mang lại nguồn lợilớn về kinh tế cũng nh thực hiện ý đồ của Mỹ trong việc tạo ảnh hởng nhất
định ở Trung Đông
Chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ vẫn coi Trung Đông là một trong 3 khuvực trọng điểm chiến lợc Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế có sự thay đổi, vì thếquan hệ giữa các nớc, các khu vực cũng có sự thay đổi Các nớc ở khu vựcTrung Đông bớc vào thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, không còn phải chịu ở thếgiằng co giữa các siêu cờng nữa Do đó, lập trờng quan điểm giữa các nớc này
đối với Mỹ ít nhiều cũng có thay đổi
ở khu vực Trung Đông Mỹ có một đồng minh trung thành nhất làIsrael, còn những nớc còn lại liên tục có sự thay đổi lập trờng trong quan hệvới Mỹ tuỳ vào từng điều kiện lịch sử cụ thể
Sau chiến tranh cùng vịnh (1991), ảnh hởng và thế lực của Mỹ ở khuvực Trung Đông đợc tăng cờng hơn trớc, uy tín cũng đợc nâng lên rất cao, lậptrờng của thế giới ả Rập đối với Mỹ đã có sự thay đổi lớn Các nớc vùng vịnh
nh ả Rập Xê út, Cô-oét phải dựa vào Mỹ về mặt quân sự Xiri vì mất đồngminh Liên Xô trớc đây nên đang muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế với
Mỹ và các nớc phơng Tây, nên căn bản thay đổi thái độ đối với Mỹ
Trang 16Gioocđani cũng tìm sự giúp đỡ của Mỹ để khắc phục khủng hoảng kinh tế vàchính trị.
Đối với ả Rập Xê út, nếu nh năm 1991 Mỹ không còn đồng minh nàotrung thành và kiên tâm hơn thì sau sự kiện 11/9 mối quan hệ giữa Mỹ và đấtnớc mà ngời Mỹ vốn quen coi là "đối tác chiến lợc" của mình, nếu không phải
là đối tác đáng tin cậy nhất trong thế giới ả Rập cũng đã thay đổi
ả Rập Xê út "tuyên bố không cho phép sử dụng căn cứ quân sự củamình để tấn công ngời ả Rập và hồi giáo" Bất chấp những "ngời ả Rập và hồigiáo" này có tội hay không có tội trong việc phá sập 2 toà tháp ở NewYor vàcái chết của 500 ngời [18;94]
Hay tờ "Washingtơn Post" mô tả ngời đồng minh Ai Cập nh một " chế
độ chuyên chính đang hết hơi chính trị và khủng hoảng về tinh thần".Moubark đang đi trên con đờng chật hẹp không thể đứng hẳn về phíaWashingtơn cũng không thể phớt lờ sự hỗ trợ của một ngời bảo trợ hàng nămrót cho mình 2 tỷ đô-la viện trợ.[18;84]
Điều đó cho thấy, Mỹ sẽ phải thay đổi chính sách của mình ở Trung
Đông, vì đây không còn là thời kỳ Mỹ áp đặt "lối sống" cho các nớc khu vựcTrung Đông bằng chính trị và quân sự nữa Mỹ sẽ phải thực hiện chính sáchmềm dẻo đối với các nớc trong khu vực để có đợc nguồn lợi to lớn về dầu mỏ
và những đồng minh trung thành
Tham vọng duy trì địa vị một cờng quốc chi phối thế giới luôn là t tởngthống trị của chính giới Hoa Kỳ, là quy định hoạt động lâu dài của nhà nớcHoa Kỳ
Với thắng lợi trong chiến tranh lạnh, Mỹ trở thành siêu cờng duy nhất,
vị trí và vai trò tăng tới mức tối đa trong cộng đồng quốc tế Vị trí đó đợc củng
cố thêm nhờ kinh tế liên tục tăng trởng từ giữa thập kỷ 90 Vì thế Mỹ muốn áp
đặt "lối sống" cho phần còn lại của thế giới Điều này thể hiện rõ qua các bàiphát biểu của Tổng thống Mỹ "Cựu Tổng thống Bin Clinton trong diễn văn tr-
ớc Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã nói rõ: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có ý địnhduy trì về lời cam kết và lãnh đạo sự lãnh đạo của Hoa Kỳ là không thể thaythế đợc" [9;180] Hay nh lời phát biểu của Bush cũng lộ rõ điều này:"thế giớimong đợi sự lãnh đạo của Hoa Kỳ, mong đợi sự lãnh đạo từ một nớc mà cácgiá trị chính là tự do, công lý và bình đẳng Hoa Kỳ không thể rút về bên trongcác đờng biên của mình"
Trang 17Tuy nhiên Mỹ cũng gặp phải những khó khăn trong việc thực hiệnchiến lợc quốc gia đó là những đối sách và sự thay đổi trong các cơ quan đầunão của Hoa Kỳ nh Hội đồng An ninh quốc gia, Bộ ngoại giao, Bộ quốcphòng
Có thể dẫn một ví dụ về việc ký kết Hiệp ớc cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện(CTBT) "Ngày 13/10/1999, với số phiếu 51/48 (có một phiếu trắng), Thợngviện Hoa Kỳ đã bác bỏ (không thông qua) Hiệp ớc mà Hoa Kỳ đã tham giaphác thảo từ năm 1996" [8;182]
Điều đó cho thấy quyền lực tối cao của Tổng thống Hoa Kỳ bị hạn chế
Đồng thời nó cũng tạo ra một thông lệ nguy hiểm cản trở tiến trình phê chuẩncác hiệp định
Việc Thợng viện Hoa Kỳ bác bỏ Hiệp ớc CTBT cho thấy mối bất đồngnhiều mặt trong nội bộ Hoa Kỳ, đặc biệt giữa ngành hành pháp và ngành lậppháp, đây là một tác nhân gây bất ngờ đối với việc thực hiện chiến lợc toàncầu của Hoa Kỳ
Sự xuất hiện của các yếu tố mới đã khẳng định một điều thế giới đã đổithay và quan hệ quốc tế trong bối cảnh mới cũng đã thay đổi Đối với Mỹ bêncạnh những thuận lợi nhất định thì cũng còn vô số những khó khăn Chínhnhững khó khăn đó có tác động trực tiếp đến chính sách của Mỹ, đặc biệt là
đối với các nớc Trung Đông - Khu vực mà giờ đây Mỹ đánh giá là trọng điểmchiến lợc thứ ba sau Châu Âu và Châu á Thái Bình Dơng
2.2 Bớc đầu tìm hiểu chính sách của Mỹ đối với những vấn đề căn bản ở Trung Đông thời kỳ hậu chiến tranh lạnh.
Chiến tranh lạnh đã kết thúc với những diễn biến đầy ngạc nhiên từ năm
1989 đến năm 1991 Do bức tờng Berlin đã sụp đổ và tiêu vong nên ngời tabàn nhiều về việc định hình lại chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ để đáp ứngnhững đòi hỏi của một thời đại mới
Trung Đông thời kỳ hậu chiến tranh lạnh không còn là một khu vực
đóng vai trò trọng yếu của Mỹ nhằm ngăn chặn "sự bành trớng của chủ nghĩacộng sản" nữa Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Mỹ vẫn tiếp tục theo
đuổi ý đồ sâu xa của mình là tạo vị thế quan trọng ở Trung Đông
Với những chính sách thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ đã để lại những hậuquả nặng nề cho Trung Đông Đó là một Trung Đông phức tạp với đầy rẫy
Trang 18những xung đột và mâu thuẫn đan xen Để có đợc vị thế nhất định ở Trung
Đông thì Mỹ cần phải giải quyết những vấn đề nh: dàn xếp mâu thuẫn giữa ảRập và Israel; thủ tiêu chủ nghĩa khủng bố; gạt bỏ những đối thủ "bất hảo"(Iraq, Iran, Libya); loại bỏ ảnh hởng của Nga, EU (Liên minh Châu Âu)
Vậy để đạt đợc mục đích của mình thì chính sách mà Mỹ đề ra nhằmgiải quyết những vấn đề này là gì ? Dới các thời Tổng thống nh Bush (cha);Bin Clinton; Bush (con) các chính sách đề ra vẫn thực hiện nhất quán ý đồ sâu
xa của Mỹ nhng biện pháp và mức độ tiến hành dới các thời kỳ có sự khácnhau
Dới sức ép của cộng đồng quốc tế, Mỹ buộc phải đứng ra làm trunggian cho tiến trình hoà bình Trung Đông: dàn xếp mâu thuẫn giữa các nớc ảRập với Israel (chủ yếu là giữa Palestin và Israel)
Mỹ luôn thể hiện chính chất 2 mặt: một mặt tích cực đóng vai trò trunggian hoà giải cho tiến trình hoà bình Trung Đông Mặt khác, tiếp tục dung d-ỡng, ủng hộ Irael - đồng minh trung thành nhất của Mỹ ở Trung Đông
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, ngày 30/10/1991 Mỹ và Nga đứng ra
đồng bảo trợ cho hội nghị hoà bình Trung Đông tại Madrit Các bên tham gia
có đoàn của Israel, một phái đoàn chung của Palestin và Gioocđani Xiri,Libăng, còn các bên khác nh Liên Hợp Quốc, EU, Tổ chức hợp tác vùng Vịnh
và Ai Cập đợc mời với t cách quan sát viên để nhằm tìm ra một giải phápchính trị toàn diện cho khu vực này, đặc biệt giải pháp đôi bên cho cuộc xung
đột ở Trung Đông Đây là cái mốc quan trọng trong tiến trình hoà bình Trung
Đông Đồng thời đó là một đột phá quan trọng của Mỹ trong việc "lập trật tựmới" sau chiến tranh lạnh ở khu vực Trung Đông
Trong đàm phán hoà bình ả Rập - Israel, Mỹ luôn tỏ ra là ngời hoà giải,không gây sức ép với bất kỳ nớc nào, nhng trên thực tế ảnh hởng của Mỹ vẫntồn tại Trong tình hình đó Mỹ mềm dẻo tác động vào các bên, đạt đợc nghịquyết về quyền tự trị hạn chế của ngời Palestin đối với lãnh thổ bị chiếm vớimức độ Israel có thể chấp nhận đợc, đồng thời cũng đạt đợc mục đích của Mỹ
là xây dựng một căn cứ quyền lực cho ngời Palestin tại chỗ, độc lập với tổchức giải phóng Palestin
Trên vấn đề cao nguyên Gôlan, hai bên Xiry - Israel đều cần có nhữngnhợng bộ nhất định Israel thừa nhận chủ quyền cao nguyên Gôlan của Xiri,vừa làm cho Xyri bảo đảm phi quân sự hoá cao nguyên Gôlan hoặc có những
Trang 19bảo đảm khác làm cho Israel vừa lòng và một hiệp nghị về lãnh thổ và hoàbình giữa Xiri và Israel có thể đạt đợc Nhng đàm phán ả Rập Israel đạt đợcbất kỳ thành công nào đều là kết quả của những nhợng bộ nào đó của phía ảRập Vì mặc dù "phía ả Rập gửi gắm hy vọng vào Mỹ có thể gây sức ép nhất
định đối với Israel, thúc đẩy Israel có những nhợng bộ nào đó Nỹ suy tính
đến lợi ích chiến lợc lâu dài của họ, cũng không thể làm gì trớc vấn đề Trung
" Hơn 3.000 quan khách, trong đó có Tổng thống Mỹ Billclintơn, Bộ ởng Ngoại giao Nga Cordep, hai cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carte và GeogeH.Bus, Bộ trởng Ngoại giao NaUy, Chủ tịch uỷ Ban Châu Âu, Bộ trởng ngoạigiao Bỉ, đại diện cho cộng đồng Châu Âu (EC) tham dự lễ ký" [1;61]
tr-Điều này cho thấy Nga - Mỹ đã đạt đợc những thoả thuận nhất định và
đặc biệt Mỹ đã có những đóng góp to lớn trong việc dàn xếp, giải quyết một
số vấn đề khu vực
Những điểm chủ yếu của Hiệp định hoà bình Gada - Giêricô là traoquyền tự trị tạm thời cho ngời Palestin ở dải Gada và Bờ Tây; đàm phán vềnhững quy chế cuối cùng gồm những vấn đề nh Giêzaxaben, ngời tị nạn, khu
định c, đờng biên giới
Với những thoả thuận này, cho thấy vị thế của PLO đợc nâng cao trêntrờng quốc tế cũng nh quan hệ Israel - PLO đã bớt phần căng thẳng "lần đầutiên trong lịch sử, Israel và PLO đã ngồi vào bàn đàm phán đối thoại trực tiếpvới nhau và đạt đợc những thoả thuận bớc đầu, tạo cơ sở cho việc giải quyếtvấn đề Palestin cũng nh các vấn đề khác ở Trung Đông" [1;63-64]
Sau hiệp định Gada - Giêricô thì Mỹ đã có những hành động tích cực
đối với tiến trình hoà bình Trung Đông nh "Mỹ đã điều chỉnh chính sách vớiPLO, Washingtơn đã tuyên bố bác bỏ các điều luật cấm PLO mở các vănphòng đại diện trên đất Mỹ, Chủ tịch Arafat đã đợc đón tiếp trọng thể tại các
Trang 20nớc mà ông tới thăm Địa vị của PLO đợc nâng cao trên trờng quốc tế" 67].
[1;66-Sau nhiều lần đàm phán và lui thời hạn, mãi cho đến ngày 24/9/1995,PLO và Israel mới ký tắt đợc hiệp định mở rộng quyền tự trị cho ngời Palestin
ở Bờ Tây sông Tordan tại Jaba (Ai Cập) và đến ngày 28/9/1995 hai bên chínhthức ký hiệp định này tại Washingtơn Đây là một bớc tiến quan trọng trongquá trình thiết lập hoà bình ở Trung Đông
Nhờ những cố gắng của Israel và PLO, những hoạt động ngoại giao conthoi của Mỹ và Ai Cập nên quá trình hoà bình Trung Đông vẫn tiến lên phíatrớc với những bớc đi nhanh hơn
Tháng 10 năm 1998, Hiệp định Oairivơ đợc ký kết với nội dung quy
định Israel trao thêm 10% khu Bờ Tây cho ngời Palestin và tiến hành các biệnpháp nhằm mở rộng quyền tự trị của ngời Palestin
Ngày 4/9/1999 với sự chứng kiến của Tổng thống Ai Cập H.Mularak,Vua Gioocđani Apdulle và thủ tớng Israel E Barak đã ký thoả thuận thực thihiệp định hoà bình Oairivơ "Tổng th ký Liên Hiệp Quốc K.Annan và Tổngthống Mỹ Binclintơn tỏ ý hoan ngênh thoả thuận (còn đợc gọi là Hiệp ớcOairivơ 2) này và coi đây là một bớc tiến quan trọng tới việc ký các thoả thuậnhoà bình mới nhằm "kiến tạo một nền hoà bình lâu dài và hiểu biết" cho cảkhu vực Trung Đông, bao gồm cả Xiri và Libăng" [1;83-84]
Tháng 6/2000, Tổng thống Binclintơn dự định tổ chức một hội nghị ợng đỉnh giữa Palestin và Israel do Mỹ làm trung gian tại trại Davit tháng9/2000
th-Tuy nhiên, cuộc đàm phán hoà bình tay ba giữa Mỹ - Israel - Palestin
đã kết thúc vào hồi 3 giờ 15 sáng 25/7/2000 sau 15 ngày đàm phán căng thẳngtại trại Davít mà không đạt đợc thoả thuận nào, chủ yếu do bế tắc về quyềnkiểm soát Jerusalem mà cả Israel và Palestin đều nhận là thủ đô của mình bấtchấp sự can thiệp ráo riết của tổng thống Mỹ Binclintơn
Dù rất tích cực trong việc đứng ra làm trung gian hoà giải cho tiến trìnhhoà bình Trung Đông nhng Mỹ một mặt vẫn giữ mối quan hệ "hợp tác chiến l-ợc" với Istael, một mặt ngầm gây sức ép đối với các nớc ả Rập còn lại Vì thế
"đợc hỏi về lý do thất bại của ông Y.Arafat trong chuyến đi vận động sự ủng
hộ quốc tế cho việc tuyên bố một nhà nớc Palestin độc lập vào ngày 13/9/2000
Trang 21tới, Ashravi nói Bà tin rằng "một số nớc rất chú trọng tới lời khuyên thậm chíchỉ thị của ngời Mỹ" [1;129].
Nếu nh Tổng thống Binclintơn - ngời đợc coi là thực sự tiến tới mộthiệp định hoà bình cuối cùng ở Trung Đông thì với Tổng thống Bush (con) lại
có phần ngợc lại
Đầu năm 2001, khi lên nắm chính quyền Bush (con) cho rằng đối vớikhu vực Trung Đông không cần dính líu quá sâu nh chính quyền Binclintơn đãlàm, mà chỉ cần duy trì sự khống chế đối với khu vực này, đồng thời dàn xếpmột nền hoà bình ở Trung Đông, trên cơ sở một nhà nớc Israel an toàn, tiếptục chính sách ngăn chặn Iraq và Iran, khi cuộc xung đột Israel - Palestin nổ ra
có nguy cơ vợt khỏi sự kiểm soát thì Mỹ mới quyết định có sự can thiệp nhất
định
Quan điểm của chính quyền Bush (con) là nớc Mỹ chỉ hành động khiquyền lợi hay lợi ích của mình bị đe doạ, điều này đã khiến cho Washingtonlạnh nhạt với vai trò "ngời bảo trợ tiến trình hoà bình Trung Đông"
"Về thực chất Mỹ đã thay đổi lập trờng "trung lập" trớc đây và thiên vị
rõ ràng về Israel, khiến Palestin có "cảm giác bị thất bại" và"không ai giúp
đỡ", làm cho "tiến trình hoà bình Trung Đông" bị thay đổi đột ngột và trởthành nguyên nhân quan trọng làm xung đột Israel - Palestin không ngừng leothang một năm qua" [22]
Tuy nhiên, với sự kiện ngày 11/9/2001 thì mọi thứ tự u tiên trong chínhsách đối ngoại của chính quyền Bush (con) đã bị đảo lộn Để đạt đợc nhữngthành công trong chiến dịch chống "chủ nghĩa khủng bố" chính quyền đã thay
đổi quan điểm đối với Palestin - Washingtơn đang muốn có hoà bình ở Trung
Đông để lôi kéo các quốc gia Hồi giáo ở đây vào liên minh chống khủng bố.Chính vì thế, việc làm dịu bạo lực Israel - Palestin đã trở thành u tiên của Mỹ
"ở Trung Đông xung đột leo thang và bạo lực giữa Israel và Palestin đã cùnglàm cho Chính phủ Bush cảm thấy tính cấp bách về tiến trình đàm phán hoàbình Trung Đông" Và Mỹ cho rằng "có thể phát huy tác dụng" làm ngời hoàgiải trung thực, không thiên vị, tìm kiếm phơng án hoà bình giữa Israel -Palestin "không chỉ là yêu cầu để đối phó chống khủng bố mà còn phù hợptiêu chuẩn đạo đức của Mỹ" [22]