Chương trình DS – KHHGĐ trong thời gian qua mới tập trung vàogiảm mức sinh thông qua KHHGĐ nhằm hạn chế tốc độ gia tăng quy mô dân số, chứ chưa chú trọng nhiều đến các khía cạnh khác của
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
-*** -Mai thị ngọc hà
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp
Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng tại Xã Đức Đồng Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh – Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh
Chuyên ngành: công tác xã hội
Vinh - 2011
Lời cảm ơn!
Trong quỏ trỡnh thực hiện bài luận văn tốt nghiệp chuyờn ngành cụng
tỏc xó hội với đề tài “Bỡnh đẳng giới trong việc sử dụng cỏc biện phỏp Kế
hoạch húa gia đỡnh của cỏc cặp vợ chồng tại Xó Đức Đồng – Huyện Đức
Trang 2Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh”, bên cạnh sự nổ lực của bản thân, tôi đã nhận đựơc sự
giúp đỡ, động viên nhiệt tình của thầy cô, gia đình và bạn bè.
Để hoàn thành bài luận tốt nghiệp này, trước tiên tôi xin đựơc gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Cô giáo, Thạc sỹ: ĐẶNG THỊ MINH LÝ đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện bài luận này.
Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn Nhà trường cùng các Thầy,
Cô giáo trong tổ bộ môn công tác xã hội, ban Lãnh đạo xã Đức Đồng, đặc biệt là UB DS – KHHGĐ xã đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thu thập tài liệu tại cơ sở
Khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Thầy cô, các bạn và những người quan tâm đến vấn đề này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2011
Sinh viên Mai Thị Ngọc Hà
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
DS – KHHGĐ : Dân số - Kế hoạch hóa gia đìnhUBDS : Uỷ ban dân số
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóaSKSS : Sức khỏe sinh sản
UBND : Uỷ ban nhân dân
CTV : Cộng tác viên
Trang 4MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC VIẾT TẮT 0
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Giả thuyết nghiên cứu 7
PHẦN 2: NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận 8
1.1.1.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng 8
1.1.1.2 Lý thuyết mâu thuẫn 10
1.1.1.3 Lý thuyết bình đẳng giới 11
1.1.2 Các khái niệm công cụ 13
1.1.2.1 Khái niệm bình đẳng giới 13
1.1.2.2 Khái niệm về KHHGĐ và các biện pháp KHHGĐ 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 15
1.2.2 Quan điểm của Đảng, Nhà Nước ta về bình đẳng giới, Kế hoạch hóa gia đình và bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp Kế hoạch hóa gia đình.18 1.2.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta về bình đẳng giới 18
1.2.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta về KHHGĐ 22
Trang 51.2.2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta về sự bình đẳng giới trong việc
sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng 241.2.3 Tầm quan trọng của bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện phápKHHGĐ của các cặp vợ chồng 261.2.4 Một vài nét khái quát về điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa của địabàn nghiên cứu 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHHGĐ Ở CÁC CẶP VỢ CHỒNG TẠI XÃ ĐỨC ĐỒNG 32
2.1 Thực trạng việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng tại
xã Đức Đồng 322.1.1 Mức độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng tại xã ĐứcĐồng 332.1.2 Kiến thức về các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng 362.1.3 Các dịch vụ cung cấp cho các cặp vợ chồng khi thực hiện KHHGĐ 382.1.4 Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng các biện pháp KHHGĐ củacác cặp vợ chồng 412.2 Thực trạng bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ củacác cặp vợ chồng tại xã Đức Đồng 432.2.1 Người sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng 442.2.2 Bình đẳng giới trong việc quyết định sử dụng các biện pháp KHHGĐcủa các cặp vợ chồng 472.2.3 Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợchồng thể hiện ở mức độ quan tâm, tìm hiểu bàn bạc để sử dụng các biện phápKHHGĐ phù hợp nhất với cả hai vợ chồng 49
Trang 62.2.4 Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng thể hiện ở mức độ chia sẽ khó khăn gặp phải khi sử dụng các biện pháp
KHHGĐ 50
2.2.5 Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng thể hiện ở thái độ phòng chống các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục cho vợ và chồng 53
2.3 Ảnh hưởng của thực trạng Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng tới gia đình, Nhà Nước và xã hội 54
2.4 Các nhân tố tác động đến thực trạng bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng 57
2.5 Các giải pháp nâng cao bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng tại xã Đức Đồng 65
2.5.1 Giải pháp trước mắt 65
2.5.1 Giải pháp lâu dài 69
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
3.1 Kết luận 72
3.2 Kiến nghị 73
3.2.1 Kiến nghị đối với gia đình 73
3.2.2 Kiến nghị đối với xã Đức Đồng 73
3.2.3 Kiến nghị với các tổ chức đoàn thể 74
3.2.4 Kiến nghị với cơ quan trung ương 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Phụ lục 76
Trang 7PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng trongchiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hộihàng đầu, là yếu tố nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, là mục tiêuhướng dẫn hàng đầu toàn Đảng, toàn dân, toàn dân tộc Với một đất nước hơn
80 triệu dân hiện nay thì đây không phải là vấn đề đơn giản, đặc biệt trong lúc
cả thế giới đang đứng trước nguy cơ bùng nổ dân số, vì vậy cần đặt ra mộtcâu hỏi lớn đòi hỏi sự quan tâm của tất cả mọi người, kêu gọi tất cả mọi ngườihãy thực hiện “ KHHGĐ” Đây là biện pháp hữu hiệu đối với chúng ta
Chúng ta đã biết hậu quả của sự bùng nổ dân số đã ảnh hưởng rất lớntới đời sống, kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, ảnh hưởng đến tất cả mọimặt của đời sống chúng ta, tới chất lượng cuộc sống, gây ra hậu quả bệnh tật,nghèo đói, thất học vv….Vì vậy thực hiện kế hoạch hóa gia đình là một biệnpháp có vai trò rất quan trọng nhằm làm giảm sức ép của sự gia tăng dân số
để sớm ổn định dân số ở mức hợp lý, việc giải quyết đồng bộ, từng bước và
có trọng điểm từng yếu tố của chất lượng, cơ cấu dân số và phân bố dân sốnhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đạihóa đất nước là mục tiêu chiến lược Dân số việt nam giai đoạn 2001 – 2010
Trong đó, chiến lược xác định : Cần xây dựng và thực hiện các chínhsách xã hội để nâng cao vị thế và quyền năng cho phụ nữ, khuyến khích namgiới chia sẽ trách nhiệm trong chăm sóc sức khỏe sinh sản,sử dụng các biệnpháp kế hoạch hóa gia đình Việc thu hút sự tham gia của nam giới vào cácvấn đề sức khỏe sinh sản đặc biệt là vào việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ
là hết sức quan trọng, nó góp phần quan trọng trong việc cùng với vợ trao đổi
và gánh vác trách nhiệm trong quyết định về các biện pháp KHHGĐ sử dụng,
Trang 8từ đó đi đến được việc điều tiết được số con, điều tiết sinh con, khoảng cáchsinh con, đảm bảo sức khỏe cho mọi người dân.
Tuy nhiên chúng ta biết hiện nay, vấn đề bất bình đẳng giới nam vàgiới nữ trong việc sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình còn có nhiềuvấn đề bất cập
Chương trình DS – KHHGĐ trong thời gian qua mới tập trung vàogiảm mức sinh thông qua KHHGĐ nhằm hạn chế tốc độ gia tăng quy mô dân
số, chứ chưa chú trọng nhiều đến các khía cạnh khác của vấn đề dân số như:
Sự tham gia của nam giới, bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện phápKHHGĐ, thực tế khi nói đến việc nam giới chia sẽ với phụ nữ trong việc sửdụng các biện pháp KHHGĐ không ít người cho rằng đó là “việc của chị em”,vai trò của người đàn ông trong vấn đề này dường như mờ nhạt, thậm chínhiều người nghĩ họ vô can
Trước đây để thực hiện bình đẳng giới trong việc sử dụng các biệnpháp KHHGĐ chưa được quan tâm đúng mực ngày nay, xã hội đã dành sựchú ý nhiều hơn tới vấn đề này Khoa học công nghệ đã không ngừng pháttriển tạo ra được các biện pháp KHHGĐ phong phú về các loại, hiện đại vềchức năng giúp cho cả nam và nữ giới sử dụng một cách dễ dàng và đem lạihiệu quả cao Tuy nhiên không phải mọi người dân đều nhận thức được vấn
đề đó, trên thực tế vẫn có khoảng cách về việc lôi cuốn nam giới chia sẽ vớiphụ nữ trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ Đặc biệt là địa bàn màchúng tôi đang tiến hành nghiên cứu, khảo sát : Xã Đức Đồng – Huyện ĐứcThọ - Tỉnh Hà Tĩnh Theo số liệu của Ban dân số Gia đình và trẻ em xã ĐứcĐồng đến tháng 12 năm 2010, toàn xã có 764 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh
đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai trong đó nam giới chỉ tham gia 18 cặp.Nhận thấy được thực trạng bất bình đẳng giới trong việc sử dụng các biệnpháp KHHGĐ ở địa bàn nghiên cứu rất bất cập, nhận thức của người dân về
Trang 9vấn đề này còn thấp Vì vậy cần đưa ra những giải pháp kịp thời và phù hợp đểnhằm nâng cao sự bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐhơn nữa Chúng ta biết bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện phápKHHGĐ là một yếu tố cơ bản góp phần thực hiện thành công chính sách dân
số, nâng cao chất lượng cuộc sống, tuy nhiên nó lại chưa được người dânHuyện Đức Thọ nói riêng và Tỉnh Hà Tĩnh nói chung quan tâm đúng mực
Chính vì xuất phát từ thực tế như vậy, tôi đã chọn đề tài: “ Bình đẳng
giới trong việc sử dụng các biện pháp Kế hoạch hóa gia đình của các cặp
vợ chồng tại Xã Đức Đồng – Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài
khóa luận của mình
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
gì, trong quá trình thực hiện các biện pháp KHHGĐ có những mâu thuẫn nào,
áp dụng lý thuyết Bình đẳng xem xét được vai trò, trách nhiệm và nhiệm vụcủa hai giới trong gia đình và trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ đểnghiên cứu bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ
Thứ hai, kết quả nghiên cứu góp phần hinh thành nên những quan niệmkhoa học về vấn đề bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ
Cụ thể là quan niệm về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ đều phải do cảnam giới và nữ giới cùng tham gia, chia sẽ với nhau trong việc sử dụng cácbiện pháp Đồng thời, nghiên cứu cũng giúp ta có những quan điểm mới mẻ
Trang 10trong việc áp dụng bình đẳng giới đối với các cặp vợ chồng trong việc sửdụng các biện pháp KHHGĐ Đây là một quan điểm quen thuộc đã hình thành
từ lâu ở trên thế giới, ở các nước phát triển song ở Việt nam nó còn mới mẻ
Thứ ba, kết quả nghiên cứu đã góp phần bổ sung thêm các tài liệu, kiếnthức về lĩnh vực bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐlàm tư liệu tham khảo cho các chuyên nghành như: chuyên nghành xã hội học
về giới, xã hội học gia đình
2.2 Ý nghĩa thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được thực trạng Bình đẳng giới trong việc
sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng tại Xã Đức Đồng –Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh
Kết quả nghiên cứu này góp phần nâng cao bình đẳng giới trong việc
sử dụng các biện pháp KHHGĐ tại xã Đức Đồng – Huyện Đức Thọ - Tỉnh HàTĩnh
Ngoài ra với kết quả nghiên cứu đã dưa ra được những giải pháp thiếtthực đối thực trạng này nhằm giảm bớt được những nguy cơ về bệnh tật, sứckhỏe sinh sản, nghèo đói, thất học mà do vấn đề dân số gây nên
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp Kế hoạch hóa gia đình
3.2 Khách thể nghiên cứu.
20 cặp vợ chồng độ tuổi 18- 45 tuổi đối với nữ và 20 – 50 tuổi đối vớinam, các tổ chức cơ quan, đoàn thể, chính quyền xã Đức đồng – Huyện ĐứcThọ - Tỉnh Hà Tĩnh
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Để nâng cao thực trạng bình đẳng giới trong việc sử dụng các biệnpháp KHHGĐ có hiệu quả, trong nghiên cứu này, cá nhân tôi với tư cáchngười nghiên cứu khoanh vùng phạm vi của đề tài về khía cạnh nghiên cứu:
Trang 11Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ cảu các cặp vợchồng tại xã Đức Đồng.
Phạm vi khảo sát:
- Không gian nghiên cứu: Xã Đức Đồng – Huyện Đức Thọ - Tỉnh HàTĩnh
- Thời gian nghiên cứu: 02/03/2011 đến 30/04/2011
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng và qua đó giúp cho các cặp vợ chồng trong độ tuổisinh để thấy được tầm quan trọng của việc bình đẳng giới trong việc sử dụngcác biện pháp KHHGĐ Từ đó nhằm nâng cao nhận thức của họ đối với vấn
đề này
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Mô tả được thực trạng sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình
Mô tả được thực trạng bình đẳng giới đang diễn ra trong việc sử dụng cácviện pháp kế hoạch hóa gia đình, những khó khăn hạn chế liên quan đến bìnhđẳng giới còn tồn tại trong việc sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình
Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng bình đẳng giới và những hạnchế, tồn tại liên quan đến bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp kếhoạch hóa gia đình
Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực đã đạt được
về bình đẳng giới và khắc phục những hạn chế còn tồn tại có liên quan đếnbình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học nền tảng làphương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử: Mọi hiện
Trang 12tượng, sự kiện trong báo cáo đều được phân tích, nhìn nhận dưới góc độ lịch
sử, đặt trong mối tương quan, liên hệ chặt chẽ với nhau
- Sử dụng biện pháp duy vật biện chứng: để nghiên cứu sự tác động qualại lẫn nhau của vấn đề bình đảng giới trong việc sử dụng các biện phápKHHGĐ là những thành công của chính sách dân số: để nghiên cứu sự tácđộng, vai trò trách nhiệm, sự tham gia của nam giới trong việc sử dụng cácbiện pháp KHHGĐ
- Sử dụng biện pháp duy vật lịch sử: Qua đó để nghiên cứu sự thay đổi
về cách thức, số lượng, hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp KHHGĐ,mức độ tham gia của nam giới trong công tác thực hiện KHHGĐ giữa namtrước và năm sau, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của lịch sử, kinh
tế, mức độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ cũng sẽ khác nhau
5.2 Các phương pháp cụ thể
5.2.1 Phương pháp phỏng vấn sâu
Trực tiếp phỏng vấn 20 cặp vợ chồng, 2cán bộ dân số, 2cán bộ y tế XãĐức Đồng - Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh để tìm hiểu được tâm lý, thái độđánh giá của họ như thế nào đối với vấn đề “bình đẳng giới trong công tácthực hiện KHHGĐ”
- Quan sát thực trạng vấn đề bình đẳng giới trong việc sử dụng các biệnpháp KHHGĐ ở xã Đức Đồng hiện nay như thế nào
- Quan sát thái độ sử dụng các dịch vụ, các biện pháp KHHGĐ của cáccặp vợ chồng tại xã Đức Đồng như thế nào
Trang 135.2.3 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong suốt quá trình làm bài khóa luận, phương pháp phân tích tài liệuđược sử dụng liên tục và rất cần thiết, quan trọng Nó đưa ra những số liệuchính xác – thống kê từ những nguồn tài liệu khác nhau để giúp phân tích tìnhhình để có thể lựa chọn cách giải quyết một cách phù hợp
Cụ thể là để tiến hành nghiên cứu này, rất nhiều loại và nhóm tài liệuđược sử dụng để phân tích:
Tài liệu khoa học: bao gồm những tài liệu khoa học đã được công nhậntrong và ngoài nước
Tài liệu nội bộ: Những nghiên cứu khoa học, báo cáo đánh giá, tổng kết
do ủy ban dân số gia đình và trẻ em xã Đức Đồng – Huyện Đức Thọ - Tỉnh
Hà Tĩnh lưu hành nội bộ
Những tài liệu trên được sử dụng phân tích và trích dẫn trong nội dungchính của nghiên cứu
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Nhận thức của các cặp vợ chồng về vấn đề Bình đẳng giới trong việc
sử dụng các biện pháp KHHGĐ còn nhiều hạn chế
- Hoàn cảnh kinh tế, phong tục tập quán, hệ thống các dịch vụ trợ giúpảnh hưởng đến vấn đề Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện phápKHHGĐ
- Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ chưa được
sự quan tâm đúng mức từ phía gia đình và người chồng
Trang 14PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận
Để đảm bảo tính khoa học trong nghiên cứu, bài khóa luận này sử dụngnhững lý thuyết làm cơ sở lý luận nghiên cứu đó là: Lý thuyết cấu trúc chứcnăng làm nền tảng để nhìn nhận và phân tích vấn đề
1.1.1.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lý thuyết cấu trúc chức năng hay còn gọi là lý thuyết chức năng, lýthuyết hệ thống, nó bao gồm nhiều bọ phận, nhiều cơ quan cùng liên kết chặtchẽ với nhau cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năngnhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấutrúc tương đối ổn định, bền vững
Trong thuyết chức năng có 4 loại tiểu hệ thống nhỏ khác nhau, mỗi tiểu
hệ thống đảm nhận thực hiện những chức năng phù hợp cụ thể:
- Tiểu hệ thống thích ứng ( được gọi là tiểu hệ thống kinh tế): có chứcnăng cung cấp các phương tiện, nguồn lực và năng lượng để thực hiện cácmục đích để xác định Tiểu hệ thống này bao gồm: các doanh nghiệp, cácchương trình kinh tế được tổ chức để thực hiện chức năng thích ứng của xãhội đối với môi trường khan hiếm các nguồn lực
- Tiểu hệ thống hướng đích ( được gọi là tiểu hệ thống chính trị): cóchức năng xây dựng các mục tiêu và định hướng cho toàn bộ hệ thống vàoviệc thực hiện mục đích đã xác định Tiểu hệ thống này bao gồm: các tổ chứcđảng phái, các cơ quan chính quyền trung ương và chính quyền địa phương
- Tiểu hệ thống liên kết ( được gọi là tiểu hệ thống pháp luật): thực hiệnchức năng gắn kết các cá nhân, các nhóm và tổ chức xã hội, đồng thời giám
Trang 15sát xã hội Tiểu hệ thống này bao gồm các cơ quan pháp luật, cơ quan hànhchính và bộ máy an sinh xã hội.
- Tiểu hệ thống bảo tồn ( được gọi là tiểu hệ thống văn hóa): thực hiệnchức năng kích thích, động viên các cá nhân và nhóm xã hội, đồng thời đảmnhận chức năng quản lý và bảo trì các khuôn mẫu hành vi, ứng xử của cácthành viên Tiểu hệ thống này bao gồm gia đình, nhà trường, tổ chức văn hóa,tôn giáo, khoa học…
Theo đó, chúng ta thấy gia đình nằm trong tiểu hệ thống văn hóa, và giađình thực hiện những chức năng cụ thể riêng
Theo như nhà xã hội học Murdock đã tiến hành một cuộc nghiên cứutrong 250 xã hội khác nhau và rút ra được kết luận: Gia đình thực hiện 4 chứcnăng cơ bản đó là:
- Chức năng tình dục: Đây là chức năng quan trọng, thỏa mãn nhu cầutâm lý – sinh lý tình cảm thể xác lẫn tinh thần giữa hai vợ chồng
- chức năng sinh sản: Đây là chức năng cơ bản và riêng có của gia đìnhvừa đáp ứng nhu cầu tự nhiên, tâm – sinh lý của con người và đồng thời mang
ý nghĩa xã hội
- Chức năng kinh tế: Đây là chức năng cơ bản của gai đình nhằm đápứng những nhu cầu cơ bản về vật chất cho các thành viên trong gia đình, thựchiện chức năng này còn là việc gia đình sử dụng nguồn thu nhập để mua sắmnhững sản phẩm phục vụ cho đời sống vật chất cho gia đình, góp phần thúcđấy nền sản xuất xã hội phát triển
- Chức năng giáo dục: Đây là những chức năng rất quan trong trong giađình Nội dung giáo dục gia đình là tương đối ổn định và toàn diện, cha mẹ cónghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng con cái, chăm lo việc học tập và sự pháttriển lành mạnh của con cái cả về thể chất lẫn tinh thần để con cái trở thànhnhững công dân có ích cho xã hội
Trang 16Khi áp dụng để phân tích vấn đề nghiên cứu bình đẳng giới trong việc
sử dụng các biện pháp KHHGĐ, chúng ta áp dụng cơ bản chức năng tình dục
và chức năng sinh sản của gia đình để xem xét mối liên hệ giữa chức năng màgia đình đó thực hiện là chức năng tình dục và chức năng sinh sản nó tácđộng, ảnh hưởng như thế nào tới sự bình đẳng giới trong việc sử dụng cácbiện pháp KHHGĐ
Xem xét khi gia đình thực hiện chức năng tình dục, thì trong quá trìnhthực hiện chức năng này có tác động ảnh hưởng tích cực hoặc hạn chế đến sựbình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ như thế nào?
Xem xét khi gia đình thực hiện chức năng sinh sản, nó có tác động, ảnhhưởng tới sự bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ nhưthế nào, tác động ảnh hưởng tới mức độ nào
Thực hiện Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐchính là thực hiện chức năng ổn định dân số và xã hội, thực hiện chức nănglàm giảm nguy cơ gây ảnh hưởng mà dân số gây ra, giúp xã hội ổn định hơn,giảm sự kìm hãm phát triển của đất nước
1.1.1.2 Lý thuyết mâu thuẫn
Lý thuyết mâu thuẫn được hình thành từ thế kỷ XIX bằng những côngtrình nghiên cứu của K Marx, lý thuyết này nó không nhấn mạnh tính ổnđịnh, trật tự, cân bằng mà nó nhấn mạnh sự mâu thuẫn, sự xung đột và biếnđổi xã hội, sự căng thẳng xã hội cùng với sự mâu thuẫn cạnh tranh, xung đột
nó nghiên cứu đến nhứng mâu thuẫn giữa các thành viên, cá nhân, nhómtrong xã hội với nhau Nguyên nhân là do sự khan hiếm các nguồn lực, do sựphân công lao động và sự bất bình đẳng trong phân bổ nguồn lực nên quan hệgiữa các cá nhân, các nhóm xã hội luôn nằm trong tình trạng mâu thuẫn, cạnhtranh với nhau vì lợi ích
Trang 17Vận dụng lý thuyết mâu thuẫn vào đề tài nghiên cứu: trong gia đìnhxảy ra những mâu thuẫn giữa các thành viên về mọi mặt, cụ thể là mâu thuẫngiữa vợ và chồng trong việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ, đó là mâuthuẫn về ai là người sử dụng các biện pháp KHHGĐ, mâu thuẫn ai là ngườiquyết định sử dụng các biện pháp nào, mâu thuẫn ai là người quyết định sinhcon, khoảng cách sinh con, mâu thuẫn trong việc chia sẻ khó khăn trong việc
sử dụng các biện pháp KHHGĐ, mâu thuẫn trong việc thực hiện các biệnpháp KHHGĐ, mâu thuẫn giữa việc lựa chọn các biện pháp KHHGĐ, cónhững biện pháp KHHGĐ này người vợ thích sử dụng nhưng người chồngkhông thích và ngược lại từ đó xảy ra mâu thuẫn
Ngoài ra còn có mâu thuẫn về lợi ích và nhu cầu của hai bên khi sửdụng các biện pháp KHHGĐ, mâu thuẫn về lợi ích sức khỏe, nhu cầu tâm lý,nhu cầu đáp ứng sinh lý Đó là mâu thuẫn khi sử dụng các biện pháp KHHGĐảnh hưởng đến lợi ích sức khỏe của người vợ hoặc người chồng, khi sử dụng
có thể gây những khó khăn như dị ứng hay không phù hợp cho vợ hoặc chồng
từ đó dẫn đến mâu thuẫn trong việc thực hiện các biện pháp Nó ảnh hưởngrất lớn tới công tác thực hiện bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện phápKHHGĐ của các cặp vợ chồng
Áp dụng lý thuyết mâu thuẫn vào phân tích, chúng ta nhận thấy đượcnếu như có sự mâu thuẫn giữa các cặp vợ chồng về việc sử dụng các biệnpháp KHHGĐ thì sẽ dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong việc sử dụng cácbiện pháp KHHGĐ, từ đó chúng ta rút ra được những kinh nghiệm, giải phápgiải quyết được những mâu thuẫn đó nhằm nâng cao bình đẳng giới trong việc
sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng
1.1.1.3 Lý thuyết bình đẳng giới
Bình đẳng giới đó là sự bình đẳng về cơ hội về quyền tham gia, quyềnthảo luận, quyền quyết định và quyền hưởng lợi từ các thành quả của sự phát
Trang 18triển, nam và nữ có thể trải nghiệm những điều kiện bình đẳng để phát huyđầy đủ các tiềm năng của họ, hưởng lợi như nhau.
Lý thuyết bình đẳng giới nhấn mạnh đến quyền bình đẳng của nam giới
và nữ giới ở tất cả mọi mặt trong đời sống xã hội, trong sự phân công laođộng, trong lĩnh vực gia đình vv
Nội dung lý thuyết chỉ rõ: nam và nữ giới tuy họ có cơ cấu sinh lý giớitính khác nhau song họ có quyền lợi ngang bằng nhau trong việc hưởng lợicác thành quả của sự phát triển, có quyền ngang bằng nhau trong việc tiếp cậncác cơ hội trong đời sống xã hội, cụ thể trong gia đình thì lý thuyết cho rằngphụ nữ và nam giới đều có quyền bình đẳng trong phân công lao động, tronggiáo dục con cái, trong vấn đề chăm sóc sức khỏe cả tinh thần lẵn thể chất,tham gia các hoạt động xã hội vv Và lý thuyết bình đẳng giới còn chỉ rõ cácvai trò, nhiệm vụ mỗi giới đảm nhận công bằng nhau trong mọi lĩnh vực
Áp dụng lý thuyết bình đẳng giới vào đề tài nghiên cứu đó là vận dụngxem xét các vai trò, chức năng, nhiệm vụ của nam giới và nữ giới trong việc
sử dụng các biện pháp KHHGĐ Cụ thể nam giới và nữ giới có vai trò, nhiệm
vụ, chức năng như thế nào trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ; namgiới và nữ giới có vai trò, nhiệm vụ, chức năng như thế nào trong việc quyếtđịnh sử dụng các biện pháp KHHGĐ nào; nam giới và nữ giới có vai trò,nhiệm vụ, chức năng như thế nào trong việc chia sẻ những khó khăn, thuậnlơi trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ; đó là xem xét mối quan hệ cácchức năng, vai trò, từ đó thấy được kết quả của việc nam giới và nữ giới bìnhđẳng thực hiện đúng vai trò nhiệm vụ của mình trong việc tham gia vào việcthực hiện bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ, thâyđược việc bình đẳng giữa nam và nữ trong việc sử dụng các biên phápKHHGĐ thì nó tác động, ảnh hưởng tới hậu quả của việc thực hiện KHHGĐ
Trang 19tốt hoặc xấu, nó tác động ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khỏe, tinh thần chomọi người như thế nào.
1.1.2 Các khái niệm công cụ
1.1.2.1 Khái niệm bình đẳng giới
Có những quan niệm khác nhau về bình đẳng giới, như một vài địnhnghĩa sau đây:
“ Một thuật ngữ phản ánh một sự chia sẻ bình đẳng về quyền lợi giữnam và nữ giới, trong sự tiếp cận bình đẳng của họ về giáo dục, sức khỏe,quản lý và lãnh đạo, bình đẳng về tiền lương, về số đại biểu quốc hội và vềnhững cái khác” ( World Food Programme, 2001: 32)
“ Bình đẳng giới … xem xét theo nghĩa bình đẳng về luật pháp, cơ hội– bao gồm sự bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn nhân lực, vốn và cácnguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong trả lương/ thù lao công việc vàtrong tiếng nói ( WB, 2001: tr.37)
“ Bình đẳng giới: Là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểmgiống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới Nam giới và phụ nữ có cùng vịthế bình đẳng và được tôn trọng nhu nhau Phụ nữ và nam giới cùng:
- Có điều kiện để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốncủa mình
- Có có hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồnlực của xã hội và quá trình phát triển
- Được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng
- Được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội”( Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam; 2004;2)
Bình đẳng giới: Là việc nam, nữ có vị trí vai trò ngang nhau, được tạođiều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng
Trang 20đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó( Điều 5, Luật Bình đẳng giới).
1.1.2.2 Khái niệm về KHHGĐ và các biện pháp KHHGĐ
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế hoạch hoá gia đình
- “Kế hoạch hoá gia đình là việc lập kế hoạch khi nào có trẻ em, và việc
sử dụng kiểm soát sinh sản và các kỹ thuật khác để thực hiện các kế hoạch đócác kỹ thụât khác thường được sử dụng gồm Giáo dục giới tính, ngăn chặn vàquản lý các bệnh lây chuyền qua đường tình dục, tư vấn trước khi mang thai, vàquản lý vô sinh
Kế hoạch hoá gia đình thỉnh thoảng được sử dụng như một thuật ngữđồng nghĩa với kiểm soát sinh sản, dù nó thường có nội hàm lớn hơn Nó chủyếu được áp dụng với một cặp nam - nữ muốn hạn chế số lượng trẻ em họ cóhay kiểm soát thời gian mang thai (cũng được gọi là giãn cách sinh sản)” ,(Theo khái niệm của tổng cục dân số Việt Nam: 2002; 18)
- “Kế hoạch hoá gia đình là nỗ lực của nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân,mỗi cặp vợ - chồng tự nguyện chủ động quyết định: Khi nào nên có con, khoảngcách giữa hai lần sinh, số con mong muốn, khi nào thì thôi không sinh nữa…nhằm bảo vệ sức khoẻ, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xãhội và điều kiện sống của mỗi gia đình
Mâu thuẫn về ai là nghười quyết định sinh con, quyết định khoảng cáchsinh con, ai là người chịu trách nhiệm thực hiện các biện pháp KHHGĐ,ngoài ra còn những mâu thuẫn về nhu cầu, lợi ích và việc sinh con như là chủtrương sinh 2 con nhưng do mâu thuẫn về nhu cầu, lợi ích của gia đình khácnhau, họ muốn sinh 3 con chẳng hạn, nó sẽ có ảnh hưởng tới công tác thựchiện KHHGĐ của các cặp vợ chồng”, (Theo Pháp lệnh dân số: 2005; 5)
Trang 21Khái niệm về các biện pháp KHHGĐ
“Các biện pháp Kế hoạc hóa gia đình là bao gồm các biện pháp ngăn ngừa,nhằm điều chỉnh các khoảng cách sinh con phù hợp, đáp ứng được nhu cầu tránhthai, kế hoạch hóa gia đình cho các cặp vợ chồng, bao gồm các biện pháp:
* Biện pháp dùng hooc môn như: uống thuốc tránh thai, thuốc tiêm tránhthai, cấy ghép dưới da
* Biện pháp không dùng hooc môn: dụng cụ tử cung, triệt sản tự nguyện,thắt và cắt ống dẫn tinh, thắt và cắt vòi dẫn trứng, dùng bao cao su
* Biện pháp tự nhiên: xuất tinh ngoài âm đạo, tính vòng kinh, đo thân nhiệt,theo dõi chất nhầy ở cổ tử cung”.( Bộ y tế, UBDS Gia đình và trẻ em; 2002; 61)
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ là vấn đề quantrọng, nó nằm trong chương trình kế hoạch hướng tới thực hiện tốt hơn mục tiêucủa chính sách dân số ở nước ta Do nó có ảnh hưởng tác động sâu sắc đến nhiềulĩnh vực như: công tác dân số, sự phát triển kinh tế, chăm sóc sức khỏe, sự pháttriển và hội nhập của đất nước Nên vấn đề này đang ngày càng thu hút được sựquan tâm đặc biệt của mọi người
Để hiểu được lịch sử vấn đề nghiên cứu, trong phần này xin tóm lược đếnnhững đề tài, báo cáo khoa học có liên quan đến vấn đề này
Đối với vấn đề: Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ
là một vấn đề còn khá mới mẻ, ít nghiên cứu chuyên sâu Những đề tài, báo cáokhoa học dưới đây có mức độ liên quan khác nhau tới đề tài của nghiên cứu này,hầu như không có đề tài nào trùng khớp hoàn toàn với đề tài mà nghiên cứu nàyđang triển khai, cụ thể:
Các giáo trình chuyên nghành khoa học xã hội quan tâm đến vấn đề nàynhư quyển: “ Xã hội học về giới” của tác giả Hoàng Bá Thịnh ( NXB, ĐHQG Hà
Trang 22Nội) Trong đó vấn đề Bình đẳng giới chiếm một mục nhỏ trong toàn bộ giáotrình, nó đề cập đến những đặc điểm, thực trạng, biện pháp khắc phục nâng caobình đẳng giới.
Đề tài nghiên cứu khoa học: “ Nghiên cứu về vấn đề bình đẳng giới trong
tổ chức cuộc sống gia đình ở Bình Định- Thực trạng và giải pháp”, của Thạc sỹNguyễn Thanh Thụy, Hội liên hiệp phụ nư Bình Định thực hiện trong năm 2002-
2003 Đề tài này đã đưa ra được 7 giải pháp nhằm thực hiện bìnhđẳng giới trong
tổ chức đời sống gia đình Trong đó nhấn mạnh đến vai trò công tác tuyên truyềnlàm chuyển biến nhận thức và nâng cao ý thức thực hiện bình đẳng giới trong giađình về mọi mặt trong đó có mặt về y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGĐ Giải pháp nêu rõ để tạo được sự bình đẳng giới trong việc thực hiện KHHGĐ cần
có sự truyền thông nâng cao nhận thức cho mọi người dân, giúp cho người dânnhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện KHHGĐ đối với gia đình, nhànước và xã hội
Nguyễn Thị Tuyết, 2007: “ Xây dựng chiến lược tăng cường bình đẳnggiới trong công tác thực hiện KHHGĐ ở Hà Nội” ( Tạp chí khoa học, ĐHQG Hànội, Khoa học xã hội và nhân văn, tập 23, số 3) Đề tài nghiên cứu đã đưa ra đượccác chiến lược quan trọng nhằm tăng cường sự bình đẳng giới trong công tác thựchiện KHHGĐ tại Hà Nội: Xây dựng các chiến lược cụ thể như: chiến lược pháttriển kinh tế làm đòn bẫy nâng cao bình đẳng giới trong công tác thực hiệnKHHGĐ, xây dựng chiến lược tuyên truyền, truyền thong nâng cao nhận thức vềvấn đề bình đẳng giới trong công tác thực hiện KHHGĐ ở Hà Nội
Trong báo cáo : “ Đánh giá tình hình giới ở Việt Nam ( 12/ 2006) đượcthực hiện bởi các nhà tài trợ như: Ngân hàng thế giói, Ngân hàng phát triển Châu
Á, cơ quan phát triển kinh tế Canada và vụ phát triển quốc tế Vương quốc Anh đã
có nhận định: “ Việt Nam có những chính sách phù hợp nhằm đảm bảo quyềnbình đẳng cho phụ nữ và nam giới và đã có những tiến bộ đáng kể nhằm giảm
Trang 23khoảng cách về giới trong lĩnh vực y tế, giáo dục cũng như cải thiện tình hình củaphụ nữ nói chung”.
“ Giới và bình đẳng giới trong chính sách dân số ở Việt Nam”, ( Hoàng BáThịnh, 2003, Tạp chí tư tưởng văn hóa số 11/ 2003) Nội dung của nghiên cứu nói
về đặc điểm thực trạng về vấn đề giới, bình đẳng giới trong các chính sách về dân
số ở Việt Nam, thực hiện rõ được sự bình đẳng giới trong các chính sách pháttriển dân số
Nghiên cứu: “ Tình trạng dân số thế giới năm 2005, lời hứa công bằng,bình đẳng giới, sức khỏe sinh sản và các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”( UNFPA – 2006) Với nghiên cứu này đã thể hiện được nội dung đưa ra của cácchiến lược nâng cao bình đẳng giới trong việc phát triển dân số, bình đẳng giớitrong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe sinh sản, đó là nội dung phát triển củathiên niên kỷ, nghiên cứu đã chỉ ra được tầm quan trọng của vấn đề bình đẳng giớitrong phát triển dân số
Pháp lệnh dân số: “ Quyền và nghĩa vụ về sức khỏe sinh sản của côngdân”( Hoàng Bá Thịnh, 2003, Tạp chí lý luận chính trị 7/2003) Trong nội dungnày đã làm nổi bật được quyền và nghĩa vụ của công dân về vấn đề sức khỏe sinhsản bao gồm những quy định về các quyền được thực hiện liên quan đến sức khỏesinh sản và nghĩa vụ phải thực hiện đối với vấn đề về sức khỏe sinh sản
Đánh giá tiến trình giới ở Việt Nam, Nghị Quyết số 11- NQ/TƯ của Bộchính trị về công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đạihóa đất nước, đã khẳng định: “ Phụ nữ được tôn trọng và bình đẳng hơn, địa vịcủa người phụ nữ trong xã hội và gia đình ngày càng được cải thiện Bình đẳnggiới ở Việt Nam được liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong thực hiện cácmục tiêu thiên niên kỹ”.( Báo Nhân dân 3/5/2007)
Tóm lại qua phần lịch sử vấn đề nghiên cứu, ta thấy được rằng đã có nhiềunghiên cứu, báo cáo… nghiên cứu về vấn đề bình đẳng giới, KHHGĐ, chăm sóc
Trang 24sức khỏe sinh sản Tuy nhiên những nghiên cứu về bình đẳng giới trong việc sửdụng các biện pháp KHHGĐ không nhiều Từ đó, ta nhận thấy rằng những nghiêncứu trên chỉ liên quan một phần đến đề tài nghiên cứu này Chưa có nghiên cứunào trùng khớp hoàn toàn về đề tài và phạm vi nghiên cứu Do đó nghiên cứu này
sử dụng những nghiên cứu trên như tài liệu tham khảo, cơ sở để so sánh, đối chiếuvới vấn đề thực thiễn nghiên cứu
Nghiên cứu về“ Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐcủa các cặp vợ chồng” là sự đóng góp trên một khía cạnh nhỏ phạm vi cấp địaphương là : Xã Đức Đồng – Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh về khía cạnh bìnhđẳng giới và khía cạnh bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ
1.2.2 Quan điểm của Đảng, Nhà Nước ta về bình đẳng giới, Kế hoạch hóa gia đình và bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp Kế hoạch hóa gia đình.
1.2.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta về bình đẳng giới
“ Bình đẳng giới: Là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểmgiống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới Nam giới và phụ nữ có cùng vịthế bình đẳng và được tôn trọng nhu nhau Phụ nữ và nam giới cùng:
- Có điều kiện để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốncủa mình
- Có có hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồnlực của xã hội và quá trình phát triển
- Được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng
- Được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội”( Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam; 2004;2)
Ngay từ khi mới thành lập, trong Luận cương chính trị của Đảng đãquan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ Quan điểm bình đẳng nam nữđược thực hiện xuyên suốt trong các giai đoạn cách mạng của dân tộc Kể từ
Trang 25Hiến pháp đầu tiên 1946 với tuyên ngôn: “ Đàn bà ngang quyền với đàn ôngtrên mọi phương diện” đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về chính sách, luậtpháp của Đảng về bình đẳng nam nữ và chống phân biệt đối xử với phụ nữ.Các văn bản tiếp theo đều kế thừa quan điểm về quyền bình đẳng của phụ nữ
so với nam giới từ hiến pháp đầu tiên
- Trong Hiến pháp nước CHXHCNVN 1992
Hiến pháp cũng đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta vềBình đẳng giới cụ thể tại:
Điều 63: của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 đã quy
định: Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử vớiphụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Nhà nước và xã hội tạo điều kiện đểphụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mìnhtrong xã hội
Điều này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền bìnhđẳng nam nữ trong xã hội Việt Nam
Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ vàbình đẳng giới được thực hiện xuyên suốt trong nghị quyết đại hội Đảng, cácchỉ thị nghị quyết của TƯ Đảng, Bộ Chính trị, Ban bí thư về công tác quầnchúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ phụ nữ Nhà nước đã banhành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúcđẩy bình đẳng giới Lần đầu tiên, trong các văn kiện của Đảng khi đề cập đếnvấn đề phụ nữ, thuật ngữ “ giới” chính thức được sử dụng trong văn kiện Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được nhắc đến hai lần “ Đối vớiphụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới” và thiết thựcchăm lo sự bình đẳng giới, sự tiến bộ của phụ nữ”,( NXB Chính trị QG, HN,
2001, tr.18) và được khẳng định lại trong đại hội đại biểu toàn quốc lần X : “
Trang 26Đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt trong đời sống vật chất, tinh thần,thực hiện bình đẳng giới” ( 2006; 120).
- Ngoài ra quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta về bình đẳng giới cònđược thể hiện rõ trong Luật bình đẳng giới:
Luật bình đẳng giới của quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 số73/2006/QH ngày 29/11/2006
Điều 18: Bình đẳng giới trong gia đình
Vợ - chồng bình đẳng nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khácliên quan đến hôn nhân gia đình
Vợ - chồng bình đẳng nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và
sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình phú hợp, sử dụng thời gian nghỉ,chăm sóc con ốm theo qui định của pháp luật
Con trai – gái được chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau đểhọc tập, lao động, vui chơi giải trí và phát triển
( Luật bình đẳng 2007; NXB Chính trị QG;2007; 16)
Việc xây dựng và ban hành luật bình đẳng giới nhằm đảm bảo quyềnlợi của phụ nữ một cách tập trung và đầy đủ trong gia đình mới là một biểuhiện của một bước tiến mới trong việc thực thi quan điểm Bình đẳng giới củaĐảng và Nhà nước
- Quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta về Bình đẳng giới còn được thể hiện ở trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Trong điều 2 - chương I - Những quy định chung thể hiện rõ về vấn đềBình đẳng giới tại:
Điều 2: Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình
1 Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bìnhđẳng
Trang 272 Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo,giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân ViệtNam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
3 Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá giađình
4 Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con,giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú
5 Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡcác bà mẹ thực hiện tốt các chức năng cao quý của người mẹ
Trong điều 19, chương 3 của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũngkhẳng định: “ Quan hệ giữa vợ và chồng – Bình đẳng về nghĩa vụ và quyềngiữa vợ và chồng Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngangnhau về mọi mặt trong gia đình”
( Luật hôn nhân và gia đình 2000, NXB Lao động; 2000; 16)
- Trong Pháp lệnh dân số 2003:
Theo điều 23: trong pháp lệnh dân số 2003 quy định về quyền bìnhđẳng giới:
1 Tuyên truyền về bình đẳng giới, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử dựa trên cơ sở giới tính, tạo điều kiện cho nữ giới chủ động thực hiệnchăm sóc SKSS, KHHGĐ và được tiếp cận bình đẳng giới về giáo dục đàotạo, nâng cao trình độ mọi mặt và tham gia các hoạt động xã hội, nam giớiphải có trách nhiệm thực hiện KHHGĐ
2 Loại bỏ mọi sự phân biệt đối xử với trẻ em gái, bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của trẻ em gái trong sinh hoạt, khám và chữa bệnh, học tập vuichơi, giải trí và phát triển toàn diện
( Pháp lệnh dân sơ; 2003; 19)
Trang 281.2.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta về KHHGĐ
Như chúng ta đã biết, thực hiện KHHGĐ tốt là một điều kiện, nhân tốthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy Đảng và Nhà Nước ta rất quantâm đưa ra các chủ trương, chính sách thực hiện thông qua các nghị quyết,pháp lệnh cụ thể là:
- Biện pháp thực hiện kế hoạch hoá gia đình bao gồm:
Tuyên truyền, tư vấn, giúp đỡ bảo đảm để mỗi cá nhân, cặp vợ chồngchủ động, tự nguyện thực hiện kế hoạch hoá gia đình
Cung cấp các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình bảo đảm chất lượng, thuậntiện, an toàn và đến tận người dân
Khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần, thực hiện các chính sáchbảo hiểm để tạo động lực thúc đẩy việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình sâurộng trong nhân dân
- Nhà nước hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiệncác chương trình, dự án về kế hoạch hoá gia đình; ưu tiên đối với vùng cóđiều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hộikhó khăn, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và người chưa đếntuổi thành niên
( Pháp lệnh dân số; 2003; 20)
Trang 29- Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Luật thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề KHHGĐ
cụ thể là tại:
Điều 19: vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạchhoá gia đình; cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xãhội; không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con; Nhà nước và xã hội cótrách nhiệm bảo vệ phụ nữ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện chức năngcao quý của người mẹ
quy định mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền và nghĩa vụ chăm sócsức khoẻ sinh sản, sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ)
( Luật hôn nhân và gia đình 2000, NXB Lao động; 2000; 18)
( Luật bình đẳng; NXB Chính trị QG;2007; 19)
- Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992:
Điều 40 của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyđịnh:
Trang 30Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ , chămsóc bà mẹ và trẻ em; Thực hiện tốt công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình.
1.2.2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước ta về sự bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng
- Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
Hiến pháp đã thể hiện rõ nội dung Bình đẳng giới trong việc sử dụngcác biện pháp KHHGĐ tại:
Điều 40 của Hiến pháp
1 Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chămsóc bà mẹ và trẻ em, thực hiện chương trình dân số và KHHGĐ
2 Nam giới và nữ phải có sự bình đẳng trong việc thực hiện các biệnpháp KHHGĐ, phải có sự tham gia của thành phần nam giới, nam giới chia sẽnhững khó khăn, lợi ích trong việc thực hiện các biện pháp KHHGĐ với nữgiới
Ngoài ra Hiến pháp còn nói rõ quan điểm về Bình đẳng giới trong việc
sử dụng các biện pháp KHHGĐ là: thực hiện các biện pháp KHHGĐ khôngchỉ là nhiệm vụ của chỉ riêng giới nam hoặc giới nữ mà là nhiệm vụ chungcủa cả hai giới, hai giới có nhiệm vụ chia sẽ, thực hiện các biện phápKHHGĐ
Và Hiến pháp còn quy định rõ những hình thức xử phạt đối với nhữngcặp vợ chồng không thực hiện đúng vai trò, nhiệm vụ của mình trong việctham gia thực hiện các biện pháp KHHGĐ
- Theo pháp lệnh dân số năm 2003
Tại điều 10 của pháp lệnh dân số quy định
Mỗi cặp vợ chồng có quyền: Quyết định về thời gian sinh con, số con
và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe,điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của các cặp
Trang 31vợ chồng trên cơ sở bình đẳng; Lựa chọn, sử dụng các biện pháp kế hoạchhoá gia đình; Đồng thời mỗi cặp vợ chông và cá nhân có nghĩa vụ: Sử dụngcác biện pháp tránh thai; Bảo vệ sức khoẻ và thực hiện các biện pháp phòngtránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đườngtình dục, HIV/AIDS; Thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến chăm sócsức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình.
Nghị định 104/2003/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hànhmột số điều của Pháp lệnh Dân số quy định về công bằng giới: Nghiêm cấmcác hành vi cản trở, cưỡng bức thực hiện KHHGĐ; cấm đe doạ, xúc phạmdanh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể người sử dụng biện pháp tránh thai,người sinh toàn con trai hoặc toàn con gái (Điều 9); nghiêm cấm các hành vilựa chọn giới tính thai nhi (Điều 10) Đặc biệt, Nghị định này đã dành hẳnmột điều quy định về quyền bình đẳng giới: Tuyên truyền về bình đẳng giới;xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới tính; tạo điều kiệncho nữ giới chủ động thực hiện chăm sóc sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ vàđược tiếp cận bình đẳng về giáo dục, đào tạo, nâng cao trình độ mọi mặt vàtham gia các hoạt động xã hội; nam giới có trách nhiệm thực hiện KHHGĐ;loại bỏ mọi sự phân biệt đối xử với trẻ em gái; bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của trẻ em gái trong sinh hoạt, khám bệnh, chữa bệnh, học tập, vui chơigiải trí và phát triển toàn diện
( Pháp lệnh dân số; 2003; 23)
- Luật bình đẳng giới
Luật đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta đói với vấn đềBình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ cụ thể tại:
Điều17.binh dang gioi trong y te
1 Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyềnthông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế
Trang 322 Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháptránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS vàcác bệnh lây truyền qua đường tình dục.
( Luật bình đẳng; NXB Chính trị QG;2007; 22)
- Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Theo điều 23 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã chỉ rõ quanđiểm của Đảng, Nhà nước ta về Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biệnpháp KHHGĐ
1 Mỗi cặp vợ chồng phải có trách nhiệm , quyền bình đẳng như nhautrong việc quết định sử dụng các biện pháp KHHGĐ
2 Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và KHHGĐ
3 Nam giới phải có trách nhiệm, nhiệm vụ chia sẽ, giúp đỡ nữ giớitrong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ
( Luật hôn nhân và gia đình 2000, NXB Lao động; 2000; 24)
1.2.3 Tầm quan trọng của bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chồng.
- Đối với gia đình.
Như chúng ta đã biết, việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ có ảnhhưởng rất lớn đến đời sống của các cặp vợ chồng về các lĩnh vực như: hoạtđộng xã hội, vai trò bình đẳng giới và kỹ năng tham gia các hoạt động xã hội.Đặc biệt là vấn đề bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ
có tầm quan trọng rất lớn đối với gia đình
Tầm quan trọng thứ nhất là nó ảnh hưởng đến sức khỏe của các thànhviên trong gia đình Bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐkhông chỉ có ý nghĩa đối với bản thân người thực hiện mà còn quan trọng đốivới tất cả các thành viên trong gia đình Đối với người vợ thì việc thực hiệnKHHGĐ sẽ giúp họ bảo vệ được sức khỏe sinh sản cả về thể chất lẫn tinh
Trang 33thần, còn người chồng khi sử dụng các biện pháp KHHGĐ ngoài việc tránhthai còn ngăn ngừa được những bệnh tật có thể lây lan qua đường tình dục.Nhu vậy chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của bình đẳng giới trong việc sửdụng các biện pháp KHHGĐ giúp cho cả vợ và chồng cùng có trách nhiệmhơn trong việc bảo vệ sức khỏe cho cả hai vợ chồng đảm bảo sức khỏe antoàn cho cả 2 vợ chồng, không những thế mà nó còn làm cho nam giới nhậnthức được vai trò và trách nhiệm của bản thân mình hơn đối với gia đình.
Việc thực hiện bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện phápKHHGĐ ở các cặp vợ chồng còn có ý nghĩa rất to lớn đến dời sống kinh tếgia đình Khi có sự tham gia chia sẽ của cả hai vợ chồng trong việc sử dụngcác biện pháp KHHGĐ sẽ giúp cho các cặp vợ chồng có nhiều thời gian, điềukiện, cơ hội để phát triển sự nghiệp hơn, tăng thêm thu nhập cho gia đình, cóthể tham gia nhiều lĩnh vực nghề nghiệp hơn
Ngoài ra thực hiện bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện phápKHHGĐ sẽ giúp cho các cặp vợ chồng có nhiều thời gian và điều kiện hơn đểchăm sóc con cái, tạo cho gia đình không khí vui vẻ, hạnh phúc
- Đối với Nhà Nước và xã hội:
Thực hiện bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐbên cạnh nó có vai trò rất to lớn trong đời sống gia đình của các cặp vợ chồngthì nó còn có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển của đất nước, nó liênquan đến toàn bộ công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc của chúng ta Thựchiện bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ chính là việcthực hiện chức năng ổn định dân số và xã hội, thực hiện chức năng làm giảmnguy cơ gây ảnh hưởng mà dân số gây ra, giúp xã hội ổn định hơn, giảm sựkìm hãm phát triển của đất nước nó là nhân tố góp phần hoàn thiện mục tiêuđảm bảo sự hài hòa giữa ổn định dân số và phát triển bền vững của đất nước
là cần đẩy để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 34Bên cạnh đó thực hiện bình đẳng giới trong việc sử dụng các biện phápKHHGĐ đó chính là thực hiện mục tiêu của Nhà Nước về vấn đề Bình đẳnggiới, Nhà nước ta đã đưa ra các mục tiêu giải quyết bình đẳng giới, thực hiện
DS – KHHGĐ nhằm tiến tới một xã hội dân chủ và văn minh, vì vậy giảiquyết tốt bình đảng giới trong việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ chính làgóp phần thực hiện thành công mục tiêu của Nhà Nước ta về hiệu quả dân số,phát triển các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ góp phần vào sự phát triển bềnvững của đất nước và nhân loại
Ngoài ra việc thực hiện bình đẳng giới trong việc sử dụng các biệnpháp KHHGĐ cũng là thể hiện một xã hội hiện đại, công bằng, dân chủ, vănminh
1.2.4 Một vài nét khái quát về điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa của địa bàn nghiên cứu.
Xã Đức Đồng – Huyện Đức Thọ - Tỉnh Hà Tĩnh là một xã thuộc khuvực miền núi, nằm cách trung tâm Hà Tĩnh khoảng 60 km về phía tây, cáchtrung tâm Huyện Đức Thọ khoảng 8 km về phía nam, cách thành phố Vinh –Tỉnh Nghệ An khoảng 30 km về phía bắc, với dân số là 7622 người bao gồm
Trang 35chất được xây dựng và củng cố góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội
Xã có lợi thế về sản xuất nông nghiệp với 53% số hộ sản xuất nôngnghiệp, cùng với một lực lượng lao động dồi dào, nguồn nhân lực trẻ, năngđộng sáng tạo, có sức khỏe và trình độ Kết cấu hạ tầng cơ sở tương đối đảmbảo, hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới tiêu Bên cạnh đó có sự đổi mới chínhsách nông nghiệp của Đảng và Nhà Nước góp phần rất lớn trong việc nângcao hiệu quả sản xuất và đòi sống của nhân dân
Trong những năm qua xã đã quan tâm đến việc sắp xếp, bố trí cơ cấukinh tế, phát triển nhiều nghành nghề đang có nhiều chuyển biến tích cực Đó
là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và hội nhập vào xu thế phát triểnchung của đất nước Từng bước đa dạng hóa các hoạt động sản xuất nôngnghiệp, nông thôn, giải quyết công ăn việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo,giải quyết tốt các vấn đề xã hội, từng bước nâng cao dân trí hướng tới sự pháttriển ổn định và bền vững
Địa bàn xã nằm dọc theo tỉnh lộ năm và có tuyến đường sắt Bắc Nam
đi qua, giao thông thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa và các loạidịch vụ Hơn nữa xã là địa bàn trung tâm của các xã lân cận, có chợ Đàng lànơi trao đổi hàng hóa của nhân dân cả 5 xã nên các nguồn thông tin được nắmbắt kịp thời, mở mang nâng cao dân trí, xóa bỏ những lạc hậu góp phần tíchcực trong công cuộc xây dựng nông thôn mới
Chính sách xã hội được đặc biệt quan tâm và người dân có thể vay vốnsản xuất kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau( Qũy xóa đói giảm nghèo,Ngân hàng Nhà Nước, Hội Phụ nữ, Hội nông dân…) Đức đồng là một xã điđầu trong toàn huyện trong phong trào rào xóa nhà tranh tre dột nát và ngóihóa nhà ở, tính đến cuối năm 2010 toàn xã đã có 100% hộ có nhà ngói Nền
Trang 36kinh tế đang được phát triển mạnh, tạo ra nguồn hàng hóa dồi dào phục vụ đờisống dân sinh.
Bên cạnh đó về mặt văn hóa xã hội: trong những năm qua văn hóa xãhội có nhiều chuyển biến tích cực được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủychính quyền nên đời sống về vật chất cũng như tinh thần ngày càng đượcnâng cao các hoạt động văn nghệ thể thao thường xuyên được tổ chức để giaolưu giữa các thôn này với các thôn khác, 98% số hộ có phương tiện nghenhìn, trong đó số hộ có tivi, truyền hình đã phân bổ rộng rãi trên toàn xã.Toàn xã đang hướng ứng phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa khu dân cư”, 79 % gia đình đạt gia đình văn hóa, 7/13 đơn vị đạt khudân cư tiên tiến, hai đơn vị được công nhận làng văn hóa Tiếp tục vận độngnhân dân đoàn kết, đẩy lùi các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu, bại trừ mêtín dị đoan
- Giáo dục: trong những năm qua nghành giáo dục xã nhà có nhiều cốgắng vượt bậc, đạt được những kết quả đáng phấn khởi duy trì lượng họcsinh đảm bảo không có học sinh bỏ học
Chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao, có nhiều phươngpháp đổi mới trong cách giảng dạy, đội ngũ cán bộ giáo viên ngày càng đượcnâng cao về chuyên viên nghiệp vụ, chuẩn hóa 100%
Trường trung học cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị dạy và họcđược đầu tư nên chất lượng dạy và học được đầu tư và ngày càng được nânglên Tỷ lệ học sinh được lên lớp 100%, được công nhận giáo dục phổ cậpvững chắc, đang từng bước xây dựng để đón nhận trường chuẩn quốc gia
- Y tế: được sự quan tâm của nghành y tế cấp trên, trong những nămqua Trạm y tế xã được đầu tư xây dựng về cơ sở vật chất nhà trạm và y cụ.Trạm có 5 y sỹ và đang cử 2 y sỹ đi học đại học
Trang 37Chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhândân được nâng lên rõ rệt, hàng tháng có bác sỹ của trung tâm y tế huyện vềkhám và chữa bệnh tại xã cho phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi thực hiện tốtcác chương trình quốc gia về y tế như: tiêm chủng được mở rộng, tiêm phòngcác loại được triển khai thường xuyên theo định kỳ xã có đội ngũ y tế thônđược tập huấn nghiệp vụ truyền thông nên công tác tuyên truyền cho nhândân ăn ở vệ sinh, phòng chống các loại dịch bệnh được triển khai thườngxuyên nên dịch bệnh trên địa bàn ít xảy ra, khi có dịch bệnh tập trung dậpdịch ó hiệu quả.
Năm 2010 đã tổ chức khám chữa bệnh cho 5350 lượt người, điều trị
242 bệnh nhân, tiêm phòng vác xin cho trẻ trong độ tuổi đạt 100% kê hoạch
Trạm y tế xã đang từng bước hoàn thiện về cơ sở vật chất để công nhậntrạm chuẩn quốc gia
Công tác KHHGĐ : cán bộ chuyên trách dân số KHHGĐ do UBND xã
cử và được giao trách nhiệm và nhiệm vụ cụ thể Tuyên truyền hướng dẫn chochị em trong độ tuổi sử dụng các biện pháp KHHGĐ có hiệu quả nên trong 3năm tỷ lệ tăng dân số hạ xuống dưới 1%
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHHGĐ Ở CÁC CẶP VỢ CHỒNG
TẠI XÃ ĐỨC ĐỒNG.
2.1 Thực trạng việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các cặp vợ chồng tại xã Đức Đồng.
Như chúng ta cũng biết công tác DS – KHHGĐ là một nhiệm vụ rấtquan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộcsống trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước Xã Đức Đồng trong những nămqua không ngừng phấn đấu tham mưu, triển khai và tổ chức thực hiện côngtác DS – KHHGĐ đã đạt được những kết quả quan trọng, tuy nhiên bên cạnh
đó vấn đang còn nhiều hạn chế, cụ thể theo thống kê báo cáo DS& KHHGĐcủa UBDS Xã Đức Đồng năm 2010 thì tổng số toàn xã chỉ có 764 cặp vợchồng thực hiện các biện pháp KHHGĐ trong đó sử dụng biện pháp KHHGĐchủ yếu là đặt vòng: 624 cặp, uống thuốc tránh thai 22 cặp, cấy 39 cặp, còncác biện pháp như dùng bao cao su chỉ có 16 cặp, triệt sản 30 cặp cho cả nam
và nữ giới vậy mà các cấp Đảng ủy, chính quyền đã ban hành những chỉ thị,nghị quyết liên quan đến công tác DS – KHHGĐ và từng bước tăng cườngđầu tư nguồn lực để thực hiện lĩnh vực này, sự tiến bộ và hạn chế trong lĩnhvực này được thể hiện ở thực trạng của việc sử dụng các biện pháp KHHGĐcủa các cặp vợ chồng tại xã Đức Đồng nó thể hiện ở các lĩnh vực như: mức
độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ, , kiến thức về các biện pháp KHHGĐ,các dịch vụ cung cấp cho các cặp vợ chồng và những thuận lợi, khó khăn khi
sử dụng các biện pháp KHHGĐ
Trang 39Những năm gần đây, đời sống của người dân dần được nâng cao đáng
kể, song vẫn còn đó những tư tưởng lạc hậu, sự nhận thức về việc sử dụng cácbiện pháp KHHGĐ vẫn còn rất nhiều hạn chế
Qua kết quả điều tra thu đượctừ phòng DS – KHHGĐ thuộc UB xãĐức Đồng năm 2010 vừa qua, qua những con số biết nói đã phán ánh đượcmức độ sử dụng các biện pháp KHHGĐ của các cặp vợ chông tại xã ĐứcĐồng nhìn chung vẫn còn thấp, số lượng các cặp vợ chồng tham gia sử dụngcác biện pháp KHHGĐ còn rất ít so với tổng số cặp vợ chông trong độ tuổisinh đẻ, chỉ có 764 cặp, số lượng các biện pháp sử dụng cũng hạn chế, cụ thể
là theo bảng thống kê báo cáo dân số và KHHGĐ của xã năm 2010
BÁO CÁO DÂN SỐ VÀ KHHGĐ CỦA XÃ ĐỨC ĐÔNG NĂM 2010
tính
Số lượng
Trong đó- số thay vòng tránh thai
Người Người
89 44
các biệnn pháp tránh thai tính đến cuối năm
Chia ra: - đặt vòng tránh thai
Trang 40- Thuốc trỏnh thai
22 13 39 20
6
Số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ hiện chưa sử dụng
cỏc biện phỏp trỏnh thai tớnh đến cuối năm
Trong tổng số: - Số cặp vợ chồng cú 2 con một bề
- Số cặp vợ chồng cú 3 con trở lờn
Cặp
25 5 4
7
Số nữ nạo hỳt thai trong năm
Trong tổng số :
- Do sử dụng biện phỏp trỏnh thai hiện đại thất bại
- Do khụng sử dụng cỏc biện phỏp trỏnh thai
Ngưũi
0 0 0
Bảng 1: Phòng dân số và KHHGĐ xã Đức đồng cung cấp năm 2010.
Kết quả thực hiện chỉ tiờu dõn số và KHHGĐ: mức giảm tỷ lệ sinh0,7%, tổ chức chiến dịch lồng ghộp dịch vụ KHHGĐ đạt 100% kế hoạchtrong năm, tỷ lệ sinh con thứ 3 là 9%, tỷ lệ phỏt triển tự nhiờn 0,8%