1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn sau 1975

117 1,2K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975
Tác giả Văn Thị Nga
Người hướng dẫn GS.TS. Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu hành động hỏi qua lời thoại nhân vật nữ trong truyệnngắn sau 1975 giúp chúng ta hiểu được đặc trưng giới tính của một kiểu hành độnghỏi, cũng như bổ sung lý thuyết về hàn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VĂN THỊ NGA

BIỂU THỨC NGỮ VI THỂ HIỆN HÀNH ĐỘNG HỎI CỦA NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN SAU 1975

(Trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn sau 1975)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

VINH - 2009

Trang 2

Lời cảm ơn!

Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi nhận được sự hướng dân tận tình của GS.TS Đỗ Thị Kim Liên, sự dạy dỗ và động viên của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn, sự giúp đỡ chân thành của bạn bè và người thân.

Nhân dịp này, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến cô giáo Đỗ Thị Kim Liên, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè và người thân.

Vinh, ngày 29 tháng 12 năm 2009

Tác giả

Văn Thị Nga

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU ……… 1

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài ……… …….….… 8

1.1 Xung quanh vấn đề hội thoại……….…… 8

1.2 Xung quanh vấn đề hành động ngôn ngữ……….… 20

1.3 Giới và quan niệm về giới trong ngôn ngữ……… … 27

1.4 Vài nét về truyện ngắn Việt Nam sau 1975……… 28

1.5 Tiểu kết chương 1……… 30

Chương 2: Vai xã hội và cách sử dụng từ xưng hô của nhân vật nữ thể hiện qua hành động hỏi trong truyện ngắn sau 1975 ………… 31

2.1 Nhận diện biểu thức thể hiện hành động hỏi ……… 31

2.2 Thống kê, phân loại vai xã hội của nhân vật nữ ……… …… 33

2.3 Vai xã hội của nhân vật nữ thể hiện qua hành động hỏi trong truyện ngắn sau 1975……… 36

2.4 Cách sử dụng từ xưng hô của nhân vật nữ thể hiện qua hành động hành động hỏi trong truyện ngắn sau 1975 ……….……… 49

2.5 Tiểu kết chương 2 ……….……….………….… 60

Chương 3: Nội dung và chiến lược giao tiếp của nhân vật nữ thể hiện qua

hành động hỏi trong truyện ngắn sau 1975 ……….61

3.1 Nội dung hành động hỏi qua lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 ……… 61

3.2 Chiến lược giao tiếp của nhân vật nữ thông qua hành động hỏi trong truyện ngắn sau 1975……… 67

3.3 Tiểu kết chương 3……….……… 89.

KẾT LUẬN ……….………… 90.

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….……… 32.

TƯ LIỆU KHẢO SÁT ……… 95.

BẢNG PHỤ LỤC CÁC PHÁT NGÔN HỎI ……….……… 96.

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Truyện ngắn là một thể loại trong những năm gần đây đã được sự quantâm, đón nhận của rất nhiều độc giả cũng như các nhà phê bình nghiên cứu Khinghiên cứu về truyện ngắn, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận ở nhiều bình diện vàgóc độ khác nhau Dưới góc độ ngôn ngữ, lời thoại nhân vật trong truyện ngắn làđối tượng được các nhà nghiên cứu quan tâm với nhiều thành tựu đáng ghi nhận

Đi theo xu hướng này, chúng tôi đi vào tìm hiểu đặc điểm lời thoại nhân vật nữ quahành động hỏi trong một số truyện ngắn sau 1975 Thực tế, đã có một số công trìnhtập trung nghiên cứu ngôn ngữ giới tính nhân vật nữ qua các hành động nói chung,trong đó có hành động hỏi nhưng chưa có tác giả nào kháo sát hành động hỏi ởtrong truyện ngắn sau 1975

1.2 Việc nghiên cứu hành động hỏi qua lời thoại nhân vật nữ trong truyệnngắn sau 1975 giúp chúng ta hiểu được đặc trưng giới tính của một kiểu hành độnghỏi, cũng như bổ sung lý thuyết về hành động ngôn ngữ trong giảng dạy và nghiêncứu phần lý thuyết hội thoại

1.3 Hành động hỏi là một hiện tượng có tính chất phổ quát trong đời sống,giao tiếp ngôn ngữ của con người Đây là một kiểu hành động có tính phức tạp, đadiện nhưng khá thú vị, người nói thực hiện hành động hỏi không chỉ nhằm mụcđích tìm hiểu “điều chưa biết”, “chưa rõ”, mà ẩn chứa trong hành động hỏi là néttruyền thống văn hóa, tâm lí, nét ứng xử của giới, phong tục tập quán…

Vì vậy, đề tài của chúng tôi đi vào tìm hiểu hành động hỏi của nhân vật nữtrong truyện ngắn sau 1975

2 Lịch sử vấn đề

Điểm lại lịch sử vấn đề nghiên cứu câu, chúng tôi thấy có các khuynh hướng sau:

a Nghiên cứu câu hỏi theo hướng truyền thống

Các nhà ngữ pháp học truyền thống, do mục đích và nhiệm vụ của ngành họcquy định, chủ yếu chỉ tập trung chú ý vào các phạm trù riêng của nó như thànhphần câu, mô hình cấu trúc câu…, trừu tượng hoá ở mức độ cao khỏi ý nghĩa vàcác hoàn cảnh giao tiếp hiện thực Việc miêu tả các câu hỏi dường như chỉ còn làcông việc chỉ ra các kiểu phương tiện hình thức mà ngôn ngữ vốn có đó là khoác

Trang 5

lên những mô hình câu đã được miêu tả kỹ lưỡng với các tình thái thích hợp, gắnvới những thao tác cải biến cú pháp Tình hình nghiên cứu câu hỏi trong tiếng Việtsuốt một thời gian dài cũng như vậy Các công trình miêu tả hệ thống tiếng Việtđều đề cập đến phạm trù câu này với những đặc điểm chung về cấu tạo, kiểu loại

và ý nghĩa của nó Nghiên cứu câu hỏi theo hướng truyền thống có các tác giả vớicác công trình tiêu biểu sau:

- Lê Cận, Cù Đình Tú, Hoàng Tuệ, Giáo trình Việt ngữ, tập 1, Nhà xuất bản

Giáo Dục, Hà Nội, 1962

- Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam,

Viện đại học Huế, 1963

- Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Tập 1, Nhà xuất

bản khoa học, 1963

- Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Tập 2, Nhà xuất

bản khoa học, 1964

- Bùi Đức Tịnh, Văn phạn Việt Nam giản dị và thực dụng, Sài Gòn 1966

- Hoàng Trọng Phiến, Ngữ pháp tiếng Việt: Câu, Nhà xuất bản Đại học và

Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980

- Hữu Quỳnh, Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà

Nội, 1980

Câu hỏi chỉ được xem xét ở bình diện tĩnh tại, đặt trong khuôn khổ nhữngcâu tách khỏi ngữ cảnh, chưa chú ý tới những nhân tố thuộc phạm vi ngữ dụng

b Nghiên cứu câu hỏi theo hướng chức năng

Một số nhà ngôn ngữ học và lôgíc học cũng đã quan tâm đến bình diện logíc

- ngữ nghĩa của các câu hỏi Nhưng trong một thời gian dài, việc nghiên cứu cáccâu hỏi lại chịu những ảnh hưởng rất sâu đậm của logíc hình thức Nội dung củacác câu hỏi thường được trình diễn bằng những khái niệm, công thức logíc Kếtquả là, tuy có phát hiện ra được những thuộc tính logíc nhất định của các câu hỏi,nhưng lại rơi vào chỗ có phần đơn giản hoá, thậm chí, đôi khi còn xa lạ với thực tế.Câu hỏi theo quan niệm của các nhà ngữ pháp chức năng thường bị đóng khungbằng những khái niệm, những công thức logíc nhất định để xác định tính đúng củacác thao tác logíc, nhằm vào việc lựa chọn và kết hợp các thành phần của phánđoán (chủ từ, hệ từ, vị từ) mà bỏ qua những đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng thựcthụ Chẳng hạn, Jespersen cho rằng, khi đặt ra một câu hỏi toàn bộ là người nói

Trang 6

muốn tìm cách để biết xem đặt một chủ từ như thế, gắn với một vị từ như thế, là cóđúng hay không [dẫn theo 10, tr.5] Hay như L.Tesniere cũng đưa ra cách phân tíchcác câu hỏi toàn bộ tương tự như vậy Theo ông, khi đặt một câu hỏi toàn bộ,

chẳng hạn như: Alfred chanter - 1 – til une chanson? thì, cái điều mà ta muốn biết

là ba khái niệm này (Alfred, chanter, chanson) có thể nối kết với nhau được hay

không, giữa chúng có tồn tại những mối liên hệ cú pháp hay không [dẫn theo 10,tr.6] Những cách lý giải này cũng gần gũi với quan điểm của nhà logíc họcR.Wately Tác giả này cho rằng, tất cả các câu hỏi toàn bộ, trên thực tế đều là câuhỏi để biết một vị từ nào đó áp dụng được hay không áp dụng được với một chủ từnào đó Và, vì các phán đoán đều có thể quy về hai dạng (A) là (B), hoặc (A)không / không phải / là (B), tức là bao gồm hai thành phần nối với nhau bởi một hệ

từ, cho nên, nội dung của các câu hỏi này có thể diễn đạt như sau: Hệ từ nào nốichủ từ (A) và vị từ (B)? Các công trình nghiên cứu câu hỏi theo hướng chức năngđáng chú ý:

- Wately.R, E’lements de logique, Paris, 1966

- Jespersen.O, Laphilosophie de la gramaire, Paris, 1971.

- Lyons.J, Se’mantique linguistique, Paris, 1980.

Rõ ràng, câu hỏi đã bị biến thành một thứ công cụ siêu ngôn ngữ của logíchọc, chứ không phải là hiện tượng của ngôn ngữ tự nhiên trong giao tiếp hàng ngàynữa Song với những kết quả đã đạt được theo hướng nghiên cứu này đã có nhiềuhữu ích trong việc tạo tiền đề cần thiết để có thể đi sâu hơn ở bình diện ngữ nghĩa -ngữ dụng của câu hỏi, mà về cơ bản vẫn còn là ô trống cần nghiên cứu

c Nghiên cứu câu hỏi theo hướng ngữ dụng học

Mấy chục năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành ngữdụng học, vấn đề nghiên cứu các câu đã có những bước phát triển quan trọng vàmới mẻ Trên cơ sở quan tâm sâu sắc đến nhân tố con người trong ngôn ngữ, xemgiao tiếp ngôn ngữ là một dạng hoạt động của con người, ý nghĩa của câu đượcxem xét gắn liền với các hành động ngôn ngữ mà người nói thực hiện vào lúc nói,bằng cách phát ra câu nói đó Như vậy, đối tượng mà ngữ nghĩa - ngữ dụng quantâm đến không chỉ là nội dung mệnh đề, cái lõi miêu tả của câu gắn với một phânđoạn thực tế bên ngoài, mà còn là trình bày ngữ nghĩa - ngữ dụng của nó trongthành phần của hành động ngôn ngữ Bởi lẽ, các hành động ngôn ngữ, trong đó,người nói là trung tâm, là hạt nhân của hệ thống ngôn ngữ [dẫn theo 10, tr.7]

Trang 7

Quan tâm tới mối quan hệ ngữ nghĩa - ngữ dụng giữa các câu với tư cách lànhững hành động ngôn ngữ hiện thực, thực hiện ý đồ giao tiếp, chiến lược giao tiếpcủa các chủ thể nói trong quá trình tương tác chủ thể Chú ý tới cả những yếu tốhiển ngôn, yếu tố hàm ẩn và tiền giả định Tư tưởng nghiên cứu câu hỏi theohướng ngữ nghĩa - ngữ dụng đã được một nhà nghiên cứu Liên Xô (cũ) vạch ra gầnnhư đồng thời với những tư tưởng lý thuyết chung về hành động ngôn ngữ của

J.Austin Trong một bài báo có tính chất đặt vấn đề đăng trên tạp chí Những vấn đề ngôn ngữ học (1955), phê phán những ảnh hưởng nặng nề của logíc hình thức cổ

điển trong việc nghiên cứu các câu hỏi, tác giả này viết: “Những đặc trưng bênngoài của câu vốn được coi là đặc trưng làm gốc trong miêu tả truyền thống hoá ralại chưa đủ để xác định ý nghĩa được truyền đạt trong quá trình giao tiếp” “Trongcâu hỏi có thể đan bện vào nhau những thành phần ý nghĩa phong phú”, “và do đó,khi nghiên cứu nó, cần phải chú ý tới cả những nhân tố như tư tưởng hay hệ tưtưởng được phát biểu trong câu, hành động lời nói, tức là cái mà người nói làm khinói, tức là các hành vi giao tiếp không trùng lặp cụ thể” [dẫn theo 10, tr.9]

Lý thuyết chung về hành động ngôn ngữ của J.Austin cũng đã đi vào nghiên

cứu câu hỏi gắn với ngữ nghĩa - ngữ dụng trong công trình How to do things with words công bố năm 1962.

Phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng đối với câu hỏi được đẩy mạnh kể từ sau lýthuyết về các hành động ngôn ngữ của J Austin ra đời và được bổ sung, phát triểnbởi hàng loạt tác giả J.Searle, O.Ducrot, Wierzbieka…

Ở Việt Nam, nhiều tác giả cũng đi theo hướng này với những công trìnhnghiên cứu đáng ghi nhận như Đỗ Hữu Châu với hàng loạt công trình:

- Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động, Ngôn ngữ số 3, 1982

và số 1, 1983, tr.18 - 33, 12 - 26

- Các yếu tố dụng học của tiếng Việt, Ngôn ngữ số 3, 1985, tr 15 -16.

- Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụng học hiện nay, Ngôn ngữ số

1, 1992 và Ngôn ngữ số 2, 1992, tr 1 - 12, 6 - 13

Ngoài ra còn có các công trình của Nguyễn Đức Dân, Logíc - ngữ nghĩa - cú pháp Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà nội, 1987 Lê Đông, Vai trò của tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ dụng của câu hỏi, Ngôn ngữ số 2, 1994, tr 41 - 47; Ngữ nghĩa - ngữ dụng câu hỏi chính danh, Luận án tiến

sỹ, Hà Nội, 1996

Trang 8

Việc chúng tôi điểm lại các công trình nghiên cứu đi trước là nhằm khẳngđịnh tính cấp thiết của đề tài, đây là một vấn đề rất được quan tâm, nghiên cứu trênthế giới, nhưng còn là lĩnh vực khá mới mẻ ở Việt Nam Bên cạnh đó, đề tài chúngtôi hướng vào phạm vi các tác phẩm văn học, nơi mà các nhà nghiên cứu ngôn ngữViệt Nam còn chưa có dịp cụ thể đi sâu, mà mới chỉ dừng lại ở góc độ lý thuyết hộithoại trong ngữ dụng học, vì thế đây là một khoảng trống trong nghiên cứu đặcđiểm ngôn ngữ nữ giới trong tác phẩm văn chương.

3 Đối tượng nghiên cứu

- Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên), Truyện ngắn Việt Nam 1930 - 1945

(2004), Nxb GD

- Hồ Anh Thái, Mảnh vỡ của đàn ông (2006), Nxb Hội nhà văn.

- Truyện ngắn 05 tác giả nữ (2007), Nxb Văn học.

- Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (2003), Nxb Văn học.

- I am đàn bà (2007), Nxb Phụ nữ.

- Đàn bà xấu thì không có quà (2007), NXb Văn học.

Trong các tập truyện ngắn chúng tôi chỉ xem xét hành động hỏi, nhưngkhông phải tất cả, mà nhằm vào những hành động hỏi dựa trên lời thoại của nhânvật Từ phái chủ thể hỏi, chỉ xem xét đối tượng hành động hỏi là nữ giới (khôngphân biệt lứa tuổi) có đối chiếu với lời đáp của nhân vật tham gia hội thoại, để có thểphân tích, nhận xét, đánh giá vai xã hội, cách sử dụng từ xưng hô, cách thức và chiếnlược giao tiếp cũng như văn hoá ứng xử của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để triển khai đề tài, chúng tôi cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Đưa ra một số cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài: vấn đề hội thoại, vấn đềhành động ngôn ngữ, quan niệm về giới trong ngôn ngữ

- Tìm hiểu vai xã hội và cách sử dụng từ xưng hô của nhân vật nữ thể hiệnqua hành động hỏi trong một số truyện ngắn sau 1975

- Chỉ ra các giá trị nội dung và các chiến lược giao tiếp của nhân vật nữtrong một số truyện ngắn sau 1975

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi áp dụng cácphương pháp sau:

Trang 9

5.1 - Phương pháp thống kê phân loại: Đề tài chúng tôi sử dụng phươngpháp thống kê, phân loại câu hỏi do nhân vật nữ thực hiện.

5.2 - Phương pháp phân tích: Trên cơ sở ngữ liệu các câu hỏi chúng tôi phântích các phát ngôn hỏi đặt trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, để chỉ ra đặc điểmriêng về ngôn ngữ nhân vật nữ

5.3 - Phương pháp so sánh đối chiếu: Để có được kết quả khái quát, kháchquan, chúng tôi sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh như cách sử dụng từ xưng

hô, vai xã hội giao tiếp của nhân vật nữ trước 1945 và sau 1975 từ đó rút ra néttương đồng và khác biệt về địa vị cũng như đặc điểm sử dụng ngôn ngữ

5.4 - Phương pháp tổng phân hợp: Sử dụng phương pháp này trên cơ sở líthuyết hành động hỏi, lý thuyết ngôn ngữ học xã hội…để nhận xét đặc điểm ngônngữ của nhân vật nữ trên cứ liệu hành động hỏi

6 Cái mới của đề tài

Đây là đề tài đầu tiên đi sâu nghiên cứu lời thoại của nhân vật trong hàngloạt truyện ngắn sau 1975 dưới ánh sáng của lí thuyết ngữ dụng học có kết hợp vớimột số kiến thức lí luận có tính chất liên ngành Qua việc đánh giá về đặc điểm vai

xã hội, cách sử dụng từ xưng hô và cách thức trong chiến lược giao tiếp của nhânvật, đề tài sẽ góp phần tích cực đối với dạy học tác phẩm văn học trong nhà trường,

đồng thời đề tài cũng cung cấp nguồn tư liệu cho việc giảng dạy những bài Vai xã hội, Từ xưng hô, Hành động nói trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở.

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văngồm ba chương:

Chương 1 Một số cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài

Chương 2 Vai xã hội và cách sử dụng từ xưng hô của nhân vật nữ thể hiện

qua hành động hỏi trong truyện ngắn sau 1975

Chương 3 Nội dung và chiến lược giao tiếp thể hiện qua hành động hỏi của

nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975

Trang 10

Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 XUNG QUANH VẤN ĐỀ HỘI THOẠI

1.1.1 Khái niệm hội thoại

Hội thoại là một hoạt động rất thường xuyên, rất quen thuộc trong đời sốngcủa mỗi người Trong xã hội, con người luôn luôn có nhu cầu giao tiếp, mà tronggiao tiếp, ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất Giao tiếp bằng ngôn ngữ có nhiềudạng thức: chỉ do một cá nhân (đơn thoại), giữa hai cá nhân với nhau (song thoại)

và giữa nhiều cá nhân (đa thoại)

- Đơn thoại: Đây là dạng thức do lời của một nhân vật phát ra hướng đếnngười nghe nhưng không có lời đáp trực tiếp Nhân vật đối tác tiếp nhận nội dunglời thoại được phản hồi bằng hành động, ánh mắt, cử chỉ được tác giả trực tiếphoặc không trực tiếp miêu tả Dạng đơn thoại thể hiện rõ nhất ở kiểu lời trần thuậtcủa nhân vật, có nghĩa là lời nói của nhân vật có xen một yếu tố kể của mình, củangười Ngoài ra, nó còn thể hiện ở kiểu giao tiếp song thoại mà trong đó một cánhân khi giao tiếp không có hoặc không trao lời thoại mà chỉ duy trì cuộc thoạibằng các yếu tố phi ngôn ngữ như biểu thị bằng ánh mắt, bàng hành động…Chẳnghạn, những lời nói của “thị” (người giúp việc) với ông chủ trong cuộc thoại sau: “Ấy là khi thị bước vào, hai con ngươi trong mắt ông chủ nó hướng về phía thị:

- A, thì ra mắt cu cậu có tinh rồi Nhận ra nhau rồi phải không? Thế để chịxoa bóp cho nhé Hôm nay chị sẽ xoa kĩ vùng đầu Cái đầu là quan trọng lắm đấy

Bộ chỉ huy đây Biết đâu hai năm chị làm ở đây thì cu cậu đứng dậy đi được đấy.Khi ấy phải thưởng to cho chị để chị xây cái nhà mái bằng nhé.”

[IV, tr.15]

Ở cuộc thoại trên, ta thấy chỉ có một mình nhân vật “thị” phát ngôn, còn “cucậu” (ông chủ) thì không nói năng gì, chủ yếu biểu lộ bằng ánh mắt, chính vì thếchị giúp việc đã rất thoải mái, gần gũi đến thân thuộc từ hành động đến cách xưng

hô Dường như khoảng cách về thân phận và vị thế của hai nhân vật không còn tồntại, chỉ còn là lòng thương yêu, sự dỗ dành chân thành của người đàn bà dành chongười không may mắn

Trang 11

- Song thoại: Đây là dạng thoại chủ yếu và được quan tâm nhiều nhất của lýthuyết hội thoại Song thoại là cơ sở cho việc nghiên cứu đa thoại Theo NguyễnĐức Dân: “Nếu không có chú thích gì đặc biệt thì thuật ngữ hội thoại được hiểu làsong thoại” [7, tr.77] Song thoại là lời của người trao hướng đến người nghe và có

sự đáp lại bằng hành vi ngôn ngữ hay còn gọi là hành vi trao lời và hành vi đáplời Ở dạng thoại này, nhân vật trực tiếp đưa lời nói của mình vào hội thoại, đảmbảo yếu tố trao lời và đáp lời của nhân vật, đảm bảo nguyên tắc luân phiên lượt lờihội thoại Hầu hết, các truyện ngắn đều có dạng thức song thoại giữa nhân vật với

nhau, chỉ có những truyện ngắn mang tính chất tự sự như tập truyện ngắn Tự sự

365 ngày của nhà văn Hồ Anh Thái là ít hoặc hầu như không sử dụng hình thức

này mà thôi Chính vì thế, đây cũng là dạng thoại được chọn làm ngữ liệu nhiều vàđược tập trung phân tích trong các đề tài nghiên cứu về hội thoại cũng như cáchành động nói năng cụ thể

- Đa thoại: Đây là lời của nhiều nhân vật đan xen vào nhau trong một ngữcảnh hội thoại cụ thể Đây là dạng thức mà lý thuyết hội thoại đang bắt đầu nghiêncứu Ban đầu có thể xác định số lượng nhân vật tham gia vào hội thoại được coi là nhânvật đám đông mà ở đó nhân vật không được miêu tả rõ nét và nằm trong mối quan hệnào chỉ có xuất hiện lượt lời cùng với lượt lời của người khác trong đám đông

Trong hội thoại, khi hoạt động phản hồi nảy sinh, vai trò của hai người thamgia cuộc thoại đã thay đổi Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên

nghe mà G.Yule gọi là tương tác (interaction) Thuật ngữ tương tác ứng với nhiều

kiểu tiếp xúc và trao đổi trong xã hội tuỳ vào bối cảnh giao tiếp Ngưng cấu trúc cơ

bản của của cuộc thoại sẽ là anh nói – tôi nói – anh nói – tôi nói…mà chúng ta đã

sử dụng một cách quen thuộc Và như vậy, hội thoại là một sự nỗ lực hợp tác giữacác bên tham thoại Hội thoại cũng có thể có ba bên hoặc nhiều hơn Tuy nhiên, trongkhuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ xem xét đến hội thoại hai bên (song thoại)

Lý thuyết hội thoại, từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và có rấtnhiều cách quan niệm về hội thoại Theo Wardhaugh, hội thoại là một hoạt động

mang tính điều chỉnh (tuned activity) [dẫn theo 30, tr.8] Hoạt động này kéo theo một thoả hiệp (trade-off) giữa lợi ích chung và quyền lợi cá nhân Những người

tham thoại buộc phải tuân theo hoạt động này Còn theo GS Đỗ Hữu Châu (2001),các cuộc thoại có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh: như thời gian, không gian, nơichốn; số lượng người tham gia; về cương vị tư cách của người tham gia cuộc thoại;

Trang 12

về tính chất cuộc thoại; về vị thế giao tiếp; về tính có đích hay không có đích, tínhhình thức hay không hình thức; về ngữ điệu hay động tác kèm lời.v.v…Những yếu

tố này không tách rời nhau mà liên kết nhau, tạo thành một khối thống nhất hữuquan trong hội thoại, chi phối và điều hòa cuộc thoại để đạt đến đích cuối cùng củamỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định

Ở đây, chúng tôi chọn cách quan niệm về hội thoại của GS Đỗ Hữu Châulàm cơ sở tiền đề cho đề tài của mình

1.1.2 Các nhân tố chi phối hội thoại

1.1.2.1 Nhân vật và đặc điểm nhân vật nữ trong giao tiếp

a Khái niệm nhân vật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, nhân vật trong tác phẩm văn học là “con

người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học” [14, tr.198] Nhân vật cùng vớicốt truyện là một trong những yếu tố cơ bản của tác phẩm tự sự Nhân vật chính lànhân tố để chuyển tải nội dung, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm Tính cách, phongcách và phông văn hoá của nhân vật được thể hiện qua lời kể, hành động, cách sửdụng từ xưng hô cũng như ứng xử ngôn ngữ của chính bản thân nhân vật

Cũng theo Từ điển thuật ngữ văn học “nhân vật văn học là một nhân vật

nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đờisống” [3, tr.198] Một nhân vật văn học thành công cũng như một con người sinhđộng ở ngoài đời vậy Tuy nhiên, nhân vật văn học không phải là những con người

cụ thể ở ngoài đời mà nó là “con đẻ”, là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sỹ.Nhân vật là kết quả của một quá trình khám phá, chiêm nghiệm, là sản phẩm từ sựtổng hợp nhào nặn do đó, nhân vật vừa mang những đặc tính phổ quát của conngười nói chung vừa mang dấu ấn cá nhân của người sáng tạo ra nó “Nhân vật làphương tiện khái quát các tính cách, số phận con người và các quan niệm vềchúng” [27, tr.279] Giá trị của nhân vật văn học chỉ có được trong hệ thống mộttác phẩm cụ thể Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xemxét khuynh hướng sáng tác, quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn

Nhân vật văn học mang ý nghĩa lịch sử Mỗi một nhân vật văn học ra đờitrong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể nên nó mang giá trị và đặc điểm của từng giaiđoạn lịch sử nhất định

Trang 13

b Đặc điểm nhân vật nữ trong giao tiếp

Ngôn ngữ nữ giới (phong cách ngôn ngữ nữ tính, phong cách nữ tính, phong

cách ngôn ngữ nữ giới) là một thuật ngữ được xác lập trong mối quan hệ tương

quan so sánh với phong cách ngôn ngữ nam tính Như vậy có thể hiểu “Phong cách ngôn ngữ nữ giới là cách thức sử dụng ngôn ngữ mang đặc trưng phong cách của nữ giới, tạo nên vẻ riêng, khác biệt với nam giới”

[dẫn theo 28, tr.44] Trong hoạt động giao tiếp để trao đổi thông tin và bày tỏ tình cảm thì cảnam và nữ đều phải sử dụng phương tiện ngôn ngữ Tuy nhiên, giữa nam và nữtrong quá trình giao tiếp đã hình thành nên phong cách chung về giới rất đặc trưng.Nhân vật nữ trong giao tiếp do đặc tính tâm sinh lí cũng như ảnh hưởng của quan niệmtruyền thống quy định nên có những đặc điểm riêng trong cách sử dụng ngôn ngữ Theo các tài liệu trắc nghiệm thì sự xuất hiện phong cách ngôn ngữ của mỗigiới chỉ xuất hiện từ tuổi thứ năm, thứ bảy trở lên Ở dưới lứa tuổi này chúng tathấy bế trai sử dụng ngôn ngữ như bé gái do ảnh hưởng từ cách dạy nói của các bà

mẹ Đó là cả bé trai và bé gái đều xưng em với các đối tượng giao tiếp, đều sử

dụng các từ mang sắc thái nũng nịu như: cơ, ứ, ạ…

Khi nói về đặc điểm ngôn ngữ nữ tính R.Lakoff cho rằng:

- Nữ giới thích sử dụng các câu có thêm thành phần phụ cho câu hỏi

- Nữ giới thích dùng ngữ điệu để nói các câu trần thuật

- Nữ giới thường dùng các từ do dự như: sort of, I guess, I think,…

- Nữ giới thường dùng các từ tăng cường đề nhấn mạnh như: so, very, really,

- Nữ giới thường dùng nhiều cách nói mang tính lịch sự: please, thanhk you,…

- Nữ giới thường dùng từ chỉ màu sắc hơn nam giới

- Nữ giới thích sử dụng các hình thức tu từ

Tác giả Nguyễn Văn Khang trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội, cũng đã chỉ ra

một số kết luận cơ bản sau:

- Cùng một vấn đề thì nam giới diễn đạt mạnh mẽ hơn nữ giới Khi trả lờinam giới thường sử dụng cách khẳng định, phủ định một cách mạnh mẽ, dứt khoát,trong khi đó nữ giới lại dùng các từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa Chẳng hạn để từ

Trang 14

chối trước một lời đề nghị nào đó, nam thường trả lời dứt khoát “không đi” nhưng

nữ lại thường từ chối mềm mỏng hơn “lỡ hẹn công chuyện mất rồi”

- Nam thích dùng các câu khẳng định, yêu cầu, ra lệnh, nữ giới ít khi ra lệnhthẳng thắn như nam, mà ra lệnh một cách lịch sự Nữ giới sử dụng đối thoại nhiềuhơn nam và lặp đi lặp lại vấn đề bằng nhiều hình thức diễn đạt khác nhau

- Phong cách ngôn ngữ của nữ giới chịu sự tác động rất mạnh mẽ của cácnhân tố xã hội, và được bộc lộ trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể

- Ngày nay, phụ nữ có xu hướng sử dụng phong cách nói năng gần vớiphong cách nam giới và ngược lại (cắt nghĩa điều này, một trong những nhân tố màtác giả đề cập đến là sự vận động của xã hội, bình đẳng giới, hệ thống quan niệmgiá trị…)

Từ góc độ ngôn ngữ trong tiếng Nhật, tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh khẳngđịnh: “ngôn ngữ của phụ nữ Nhật “mềm mại” hơn, “chuẩn” hơn ngôn ngữ đần ông.Tính mềm mại, tính chuẩn mực, cái đặc trưng cho giới tính của phụ nữ là đặc điểmquan trọng nhất để phân biệt ngôn ngữ nữ giới với ngôn ngữ của nam giới” [dẫntheo 30, tr 45]

Như vậy, qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu đi trước về đặc điểmngôn ngữ của nhân vật nữ, các tác giả bước đầu đều ủng hộ và khẳng định quanđiểm nhân vật nữ trong giao tiếp có khả năng sử dụng và diễn đạt ngôn ngữ tốt hơnnam giới, lịch sự hơn nhân vật nam, đồng thời nữ mềm mỏng hơn, nhẹ nhàng hơnnam giới Chẳng hạn, các nghiên cứu về tâm lí học đã chứng minh rằng: xã hộithwòng biểu hiện sự khoan dung hơn đối với nam giới khi họ sử dụng những từngữ thô tục hoặc cấm kị Còn nữ giới ít sử dụng hơn những từ ngữ thô tục, vì nhưthế sẽ hạ thấp vai trò, vị thế của họ

Liên quan đến vấn đề này Shih (1984) đã tổng kết: giọng nam tiêu chuẩn có

xu hướng chậm và nặng, dày và vang, trong khi giọng nữ tiêu chuẩn lại mang xuhướng trẻ trung và non nớt, ấm áp và cung kính, đôi khi còn pha cả sự thẹn thùng

và nũng nịu Chính những đặc điểm này khiến người ta cảm nhận được sự thânthiện và gần gũi, thậm chí có chút yếu đuối trong chất giọng của phái nữ Ngượclại, giọng nói chậm và sâu, cứng rắn và trầm tĩnh của phái nam lại thường đem đếnnhững ấn tượng về quyền lực, tự tin và có tính chất quyết định Mặt khác tác giảcũng dẫn ra xu hướng khác nhau trong việc thể hiện cách yêu cầu của hai giới Nữgiới hay thêm vào lời nói của mình những câu hỏi nghi vấn, hoặc những lời gián

Trang 15

tiếp Câu nghi vấn thường được thêm vào sau câu trần thuật, biểu hiện sự do dự,nghi ngờ với sự thật, hoặc quan điểm được đề cập đến trong câu Họ hay các câu

hỏi đuôi kiểu như: “đúng không?” để tìm kiếm sự đồng tình của đối phương đối

với quan điểm của mình đưa ra Họ thích sử dụng các cách biểu đạt kiểu như

“tương đối”, “có (đôi) chút”, thậm chí là “có thể tôi nói không đúng, nhưng…” để

biểu diễn sự do dự Cách biểu đạt như vậy làm cho nữ giới thường bị đánh giá là

không dứt khoát, loằng ngoằng “kiểu đàn bà”

Một số tác giả khác cũng cho rằng:

- Trong giao tiếp nam - nữ, lượng nói của nam nhiều hơn nữ

- Nam nắm quyền chủ động trong nói năng, nói xen và ngắt lời người khác,thỉnh thoảng thích thay đổi chủ đề giao tiếp

Lí giải điều này, chúng ta thấy chức năng thiên bẩm của mình, nữ giới luônđảm nhận vai trò nuôi dạy con cái nên trong việc nói năng hàng ngày người mẹluôn phải gương mẫu, dùng ngôn ngữ chuẩn để làm gương cho con Chúng ta thấy,một người mẹ khi đi cùng con mà gặp một người lớn tuổi hoặc những người hàng

xóm quen biết của gia đình, bao giờ mẹ cũng đóng vai con để chào như “Cháu chào cụ ạ!”, “Cháu chào chú ạ!”…Việc người mẹ chào mẫu như thế để đứa trẻ

chào theo và dần dần tạo cho đứa trẻ thói quen chào hỏi lễ phép đối với mọi ngườixung quanh trong cuộc sống hàng ngày

Tuy vậy, bên cạnh xem xét đặc điểm ngôn ngữ theo giới thì cần đặt vấn đềnày trong mối liên hệ với các yếu tố xã hội khác như: quyền thế, khoảng cách,nghề nghiệp, tuổi tác, nhận thức, văn hoá vùng miền,… đây là một hướng nghiêncứu còn mới mẻ, giúp chúng tôi rút ra được những nhận xét, đánh giá mức độ, cáchthức hành vi hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 Từ đó làm cơ sở để

đi vào lí giải đặc trưng về vai xã hội, cách sử dụng từ xưng hô, nội dung cũng nhưchiến lược giao tiếp của các tuyến nhân vật nữ trong truyện ngắn của các tác giả trẻsau 1975

1.1.2.2 Nguyên tắc hội thoại

a Nguyên tắc cộng tác hội thoại

Theo P.Grice, nguyên tắc cộng tác trong hội thoại làm cho “cuộc hội thoại đúng như mục đích hay phương hướng mà cuộc hội thoại đòi hỏi” [7, tr.130].

Nguyên tắc cộng tác này có hiệu quả đặc biệt với cả người nói và người nghe Khi

Trang 16

nói, tham thoại phải quan sát và thực hiện nguyên tắc cộng tác rheo phương châmnhất định Nguyên tắc cộng tác có vai trò trung tâm trong lý thuyết hội thoại Haibên tham gia giao tiếp cùng cố gắng để đối tác của mình hưởng ứng, phát triểncuộc thoại Nguyên tắc này gồm các phương châm: lượng, chất, cách thức và quan

hệ Tuy nhiên, thực tế giao tiếp đã nảy sinh những tình huống vi phạm nguyên tắccộng tác hội thoại do sự khác biệt trình độ, về văn hóa, về kinh nghiệm ngôn ngữ

và vốn hiểu biết cuộc sống dù một bên tham gia cuộc thoại vẫn cố gắng tuân theonguyên tắc cộng tác Chúng ta phải căn cứ vào ngữ cảnh, gắn phát ngôn với hoàncảnh giao tiếp và mối quan hệ liên nhân để nhận rõ những vi phạm nguyên tắccộng tác Trong hội thoại, những nền văn hóa khác nhau quy ước những nghi thứcgiao tiếp khác nhau Nói khác đi, nguyên tắc cộng tác thay đổi theo chiều sâu vănhóa của từng cộng đồng ngôn ngữ Khi bắt đầu nói chuyện, phần lớn những ngườitham thoại đều cho rằng họ đang đảm nhận nhiệm vụ duy trì cuộc thoại Bởi vậy,nếu họ không muốn tiếp tục cuộc thoại, họ sẽ phải tìm cách thực hiện điều đó mộtcách lịch thiệp Ngay cả khi muốn thực hiện hành động hỏi với những người lần đầutiên nói chuyện, người hỏi cũng phải đưa ra những lời nói mang tính nghi thức trong

giao tiếp như: xin lỗi, làm ơn, tôi hỏi khí không phải, tôi hỏi khí vô phép, cảm phiền…

b Nguyên tắc lịch sự

Có thể xem xét lịch sự như là một khái niệm cố định, như trong khái niệm

hành vi xã hội lịch sự “hay nghi thức xã giao, bên trong một nền văn hóa” [38,

tr.118] Có rất nhiều nhà ngôn ngữ như P.Brown và S.Levinson, G.N.Leech,G.Kasper, R.Scollon, và S.B.K Scollon, D.Tannen, A.Wierzbicka nghiên cứu vềlĩnh vực lịch sự và lịch sự đã trở thành mối quan tâm lớn của dụng học

Lịch sự trong giao tiếp bằng ngôn từ thể hiện rõ nhất trong các cuộc hội

thoại quy thức (formal) và cuộc thoại phi quy thức (informal) Muốn cuộc thoại

thành công mỗi bên tham thoại cần tuân thủ không chỉ nguyên tắc cộng tác

(cooperativeb principle) đã trình bày, mà còn phải tuân thủ nguyên tắc lịch sự (principle of politeness) Những nguyên tắc này có tác động tới cuộc hội thoại, làm

rõ hàm ý mà người nói thể hiện trong mỗi lượt lời với hình thức ngôn từ và cấutrúc phát ngôn trong tình huống giao tiếp cụ thể Để xem xét vấn đề lịch sự chi

Trang 17

phối thế nào tới hành động hỏi, chúng tôi dựa vào lý thuyết về lịch sự trong giaotiếp bằng ngôn ngữ của một số tác giả dưới đây.

* Quan điểm về lịch sự của R.Lakoff với ba quy tắc:

Quy tắc 1: Không áp đặt (don’t impose) Theo quy tắc này, người nói sẽ

tránh hoặc giảm nhẹ tính áp đặt trong phát ngôn của mình khi mong muốn hỏi mộtđiều gì đó dù là trực tiếp hay gián tiếp Ví dụ:

(A) - Con có biết là mẹ đang rất bận không?

(B) - Con phải biết là mẹ đang rất bận, nghe không?

Phát ngôn hỏi (A) có tính lịch sự cao hơn vì lời hỏi có “có biết” Phát ngôn (B) tính mệnh lệnh cao hơn, thể hiện sự gắt gỏng của người hỏi vì có “phải biết”.

Quy tắc 2: Để ngỏ sự lựa chọn (Offer option) Thực hiện quy tắc này, người

nói phải diễn đạt làm sao cho lời hỏi của mình dễ được chấp nhận nhất mà khôngảnh hưởng đến mối quan hệ giữa người hỏi và người nghe Quy tắc này hoạt độngkhi những người tham thoại có quan hệ hòa đồng

Ví dụ: - Cậu ngừng đọc mình làm phiền chút được không?

Lời hỏi này được tăng thêm tính lịch sự khi người hỏi dùng các từ “làm phiền” các từ có tính lựa chọn “được không?” làm cho người được hỏi vui vẻ,

thoái mái hơn khi nghe câu hỏi dẫu có bị làm phiền

Quy tắc 3: Tăng cường tình cảm bằng hữu (Encourage feelings of camaraderie) Với quy tắc này, chúng tôi có nhận xét: vấn đề lịch sự có thể được

nhìn nhận rộng hơn dưới góc độ xã hội học Chúng ta quen với quan niệm lịch sựthuộc phạm trù đạo đức, thuộc một góc nhìn chuẩn mực nhất định trong giao tiếp.Nhưng thực tế cho thấy, lịch sự còn phải thỏa mãn được tính phù hợp với bối cảnhxảy ra trong cuộc thoại Ví dụ:

(A) - Mẹ ơi, hôm nay bố về phải không?

(B) - Mẹ ơi, làm ơn xin cho con biết có phải hôm nay bố về không?

Lời hỏi (A) thể hiện mối quan hệ thân tình gần gũi giữa mẹ và con Còn nếuđứng trên góc độ lịch sự thuần túy, lời hỏi (B) mang tính lịch sự cao hơn nhưngkhông hợp với ngữ cảnh và mối quan hệ tình cảm giữa những người tham thoại.Lời hỏi lịch sự này hoặc trở thành lố bịch, hoặc có thể gây cảm giác không tốt vềmối quan hệ giữa những người tham thoại

Quan hệ trong xã hội vô cùng phong phú và người nói đóng những vai giaotiếp khác nhau Với mỗi vị thế xã hội, người nói phải có cách ứng xử lịch sự phùhợp với vai giao tiếp của mình Ứng với một từ politeness, người Việt ngoài khái

Trang 18

niệm lịch sự chung còn tuân theo những khái niệm nhỏ hơn phù hợp với từng cảnhhuống và vai giao tiếp xã hội, đó là lễ độ, lễ nghĩa và lễ phép.

* Quan điểm về lịch sự của P.Brown và S.Levinson

Quan điểm về lịch sự được P.Brown và S.Levinson phát triển, mở rộngnguyên tắc coi trọng thể diện và phân biệt hai phương diện của thể diện: tích cực

(positive face) và tiêu cực (negative face) Trong diễn biến ngôn ngữ, các hành

động ngôn ngữ tiềm ẩn sự đe dọa thể diện cả người nói và người nghe được gọi là

hành động đe dọa thể diện (Face Threatening Acts - FTA) P.Brown và S.Levinson

coi các FTA thuộc dạng bi quan, xem con người trong xã hội là những sinh thểluôn bị bao vây bởi các FTA Bởi vậy, cần điều chỉnh mối quan hệ xã hội bằng mô

hình FFA (Face Flattering Acts) có tính tích cực – các hành động tôn vinh thể

diện Như vậy, tập hợp các hành động ngôn ngữ được chia thành hai nhóm lớn:nhóm có hiệu quả tiêu cực và nhóm có hiệu quả tích cực Chúng tôi tán thành quanđiểm về lịch sự của P.Brown và S.Levinson vì tính cụ thể của nó bởi phép lích sựtiêu cực có tính chất bù đắp hay né tránh Đó là sự né tránh các FTA hoặc giảmnhẹ bằng một số biện pháp khi buộc lòng phải dung một FTA nào đó để hỏi như:

+ Dùng từ xưng hô lịch sự (bác, ngài, ông, bà, anh…trỏ ngôi thứ hai khi đối

thoại trực tiếp) Ví dụ:

- Bác làm ơn cho em hỏi đường được không ạ?

Từ xưng hô có tính chất nhún nhường (bác - em) với cả người trạc tuổi

nhằm tăng thêm tính lịch sự với mong muốn người hỏi sẽ nhiệt tình chỉ đường nơimình muốn đến

+ Sử dụng dạng giả định Ví dụ:

- Tại sao bác không nói cho em sớm hơn?

Giả định nếu nói sớm hơn thì tình huống sẽ khác đi, chắc chắn người hỏi sẽ

có cách giải quyết hài lòng hơn so với tình trạng hiện tại

+ Dùng hành vi xin lỗi, đưa đẩy Ví dụ:

- Xin lỗi, mình đang bận quá Lúc khác mình gọi lại cho bạn được không?

Xin lỗi vì không thể trả lời và nói chuyện với bạn được lúc này do đang bận việc.+ Yêu cầu thông cảm Ví dụ:

- Xin lỗi, phiền anh có thể không hút thuốc lá ở đây được không?

Trang 19

Yêu cầu thông cảm khiến cho người được hỏi hiểu và hợp tác với lời đề nghịcủa người nói.

Nhìn chung, mối người tham gia giao tiếp phải có trách nhiệm thực hiệnnguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự Thực hiện những nguyên tắc này khôngchỉ là nội dung lời nói, cấu trúc phát ngôn mà còn là cả thái độ, cử chỉ, ánh mắt…thể hiện sự thân thiện và lịch sự Một bên vi phạm nguyên tắc hội thoại, hoặc giữanhững người tham thoại không có sự đồng cảm…đều có thể là nguyên nhân phá vỡcuộc thoại

1.1.2.3 Ngữ cảnh giao tiếp

Trong hội thoại, ngoài các nhân vật trực tiếp tham gia giao tiếp thì các thamthoại bao giờ cũng trao đổi trong một ngữ cảnh nhất định Vì thế, khi phân tích hộithoại chúng ta không thể tách rời khỏi ngữ cảnh giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp làhoàn cảnh xã hội và tâm lý mà trong đó ở một thời điểm nhất định người ta sửdụng ngôn ngữ, nó bao gồm những hiểu biết xã hội và những quy ước bất thànhvăn của những người tham gia giao tiếp

Cách thức hỏi trong hội thoại thường xuất hiện trong những ngữ cảnh đượcxác định Ngữ cảnh bao gồm tình huống ngôn ngữ và ngữ cảnh tự nhiên xungquanh, đoạn thoại trước và sau đó, các quy tắc ứng xử, các khía cạnh liên quan nhưquan hệ quyền lực hay hoà đồng, phục trang của những người tham thoại, địađiểm/thời gian diễn ra cuộc thoại, nội dung của cuộc thoại mà hành động hỏi cóliên quan.v.v…Tất cả các yếu tố được gọi là ngữ cảnh ấy cùng tham dự vào cuộcthoại, quy định cách thức tiến hành cuộc thoại, giúp người tham thoại nắm diễnbiến của cuộc thoại và nhận diện hành động hỏi Ngữ cảnh tạo nên khả năng giảinghĩa cho các phát ngôn hỏi khi chúng xuất hiện trong những cảnh huống riêng biệt Ngữ cảnh giao tiếp có quan hệ mật thiết với quá trình giao tiếp của lời nóinhân vật, chi phối cách thức tiến hành cuộc thoại, đó là:

- Ngữ cảnh có chức năng chế ước và “cưỡng chế” việc sử dụng ngôn ngữ củanhân vật giao tiếp

Ví dụ: “Cái đĩ vừa trông thấy bà, mừng rối rít Nó cười rồi nó khóc chẳng biết

vì sao cả Nhưng đôi mắt khoằm khoặm của bà phó Thụ dội nước vào lòng nó Nó

tự nhiên ngượng nghịu Nó không dám xoắn xuýt bà nó nữa Nó tự cúi đầu, khẽ hỏi:

Trang 20

- Bà đi đâu đấy?”

[I, tr 632]Đáng lẽ ra, trong tình huống bà cháu xa cách lâu ngày gặp gỡ, cái đĩ phảinhảy lên vui mừng sung sướng và hỏi han bà ríu rít nhưng trong hoàn cảnh thái độkhó chịu của bà chủ khi thấy bà lão lên thăm cháu biểu hiện qua “đôi mắt khoằmkhoặm” nên đứa bé phải “khẽ hỏi” bà một câu hết sức xã giao “Bà đi đâu đấy?”

- Ngữ cảnh có chức năng hỗ trợ việc lí giải ngôn ngữ Ví dụ:

“- Gì đấy mẹ? - Nó hỏi, mắt tròn xoe

Tôi lặng người nhìn nó Xong thật rồi Con gái tôi thành đàn bà thật rồi Cáimặt nó ngây dại vì hạnh phúc, và ánh mắt nó như người có lỗi Ngượng ngùng và

đờ dẫn Đấy là ánh mắt của tôi mười mấy năm về trước.”

[II, tr.167]Nhân vật người con gái trong đoạn trên nói chuyện với mẹ sau cuộc đi chơivới bạn trai về Chính vì đang ngất ngây trong niềm hạnh phúc thiên đường nên côgái không hề nghe thấy hàng loạt câu hỏi của mẹ, không tập trung đối thoại nênđáng lẽ phải trả lời mẹ, cô lại hỏi lại đầy ngạc nhiên “Gì đấy mẹ?”

- Ngữ cảnh giúp cho việc chuyển tải lượng thông tin và ý nghĩa của lời thoạitrở nên rõ ràng hơn Ví dụ: “Một năm ông say khoảng mười một tháng Có lần say,ông còn rủ bạn về, chọn một ông cũng say khướt gả cho bà - tức là gả bạn cho vợmình Ông nhìn thấy bà bế cô vào, lè nhè: “Cái gì đấy? Ở đâu ra đấy?”

Quan tâm đến ngữ cảnh giao tiếp của các nhân vật trong một số truyện ngắnsau 1975 sẽ góp phần đánh giá được đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật nữ thể hiệnqua hành động hỏi

1.1.2.4 Tương tác trong hội thoại

Trang 21

Trong hội thoại, các tham thoại giao tiếp sẽ có sự ảnh hưởng lẫn nhau, tácđộng qua lại và biến đổi lẫn nhau Trước cuộc hội thoại nhân vật còn có thể có sựkhác biệt về tính cách, quan điểm, tình cảm… Bắt đầu cuộc thoại có thể cũng đang

ở mức thăm dò lẫn nhau nhưng trong quá trình hội thoại, nhân vật sẽ tự hoà phốivới nhau để đi đến sự thoả hiệp thống nhất, hoặc phát triển cao hơn và có thể đẩycuộc thoại lên căng thẳng, xung đột Sự điều phối lẫn nhau trên đây chính là tươngtác trong hội thoại Theo Đỗ Hữu Châu, tương tác hội thoại có thể hiểu: “Các nhânvật giao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau; tác động lẫn nhau đến cách ứng xử của từngngười trong quá trình hội thoại” [2, tr.42] Hội thoại giữa các nhân vật trong tácphẩm văn học quá trình tương tác sẽ xảy ra theo nhiều chiều hướng khác nhau:Thứ nhất, tương tác tạo điều kiện cho tâm trạng của nhân vật bộc lộ, đẩy cuộcthoại đến đích là khai thác để biết thông tin tình cảm của đối phương như cuộcthoại giữa người mẹ và con gái:

“- Vào nhà đi mẹ Con xin lỗi đã làm mẹ buồn

- Con yêu người con trai ấy lắm phải không? - Tôi hỏi Im lặng Rồi một lúc,

Thứ hai, tương tác để tạo ra sự thỏa thuận có lợi giữa các nhân vật, ví dụ như

cuộc tranh cãi giữa hai vợ chồng về trách nhiệm nuôi con sau khi ly hôn:

“- Đã sáng đâu? Bao giờ đến ngày toà hẹn?

- Bảy ngày nữa, nhưng em không chịu đâu Nuôi nó bây giờ tốn kém Nólớn, nhiều nhu cầu Bao giờ có thằng nào rước đi mới coi là xong

- Thì anh nuôi Mỗi tháng em chi nguyên lương ra! - Tiếng bố

- Thế em sống bằng khí giời à?-Mẹ nói

Trang 22

- Thời buổi này, có ai sống bằng lương đâu Anh có lấy lương của em cho

nó thì cũng lõm hai băng nữa Em còn ngon hơn.”

[II, tr.196]Thứ ba, tương tác làm cho hội thoại thêm căng thẳng và đi đến xung đột, ví

dụ cuộc hội thoại giữa hai vợ chồng đang trong tình trạng sắp tan vỡ nhưng vẫnsống chung dưới một mái nhà:

“ - Không gặp mẹ trẻ à?- mẹ hỏi vóng sang

- Thế đấy Bà đây không đi thì ở nhà nhìn chúng mày đú à?

- Mày xưng bà với ai đấy? Bà tao đang ngồi trên bàn thờ kia kìa Mày thíchlàm bà thì trèo lên đấy đi…”

[II, tr.191] Như vậy, từ vận động trao lời và đáp lời của từng nhân vật tạo nên sự hoàphối tương tác lẫn nhau nhịp nhàng để đẩy cuộc thoại đến đích nhất định theo ý đồcủa những người tham gia giao tiếp với nhau

1.2 XUNG QUANH VẤN ĐỀ HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ

1.2.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ

Tác giả đầu tiên đưa ra lý thuyết hành động ngôn ngữ là Austin (1962) trong

công trình nghiên cứu How to do things with words đã đưa ra tiêu chí phân biệt các

hành động ngôn ngữ Theo ông, trong cùng một hành động ngôn ngữ có hành động

ở lời, hành động tạo lời và hành động mượn lời Nhờ đưa ra tiêu chí phân biệt này,Austin đã điều chỉnh một cách sâu sắc mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói

Hành động lời nói cũng gắn với lý thuyết hành động ngôn từ do J.Austin đềxướng vào những năm 60 của thế kỷ XX, về sau được các nhà ngôn ngữ kế tụcthành công trong đó, tiêu biểu là J.Searle Tác giả này đã chỉ ra hạn chế trong lýthuyết của Austin là chưa phân biệt được sự khác nhau giữa hành động ngôn ngữ

và động từ biểu hiện ngôn ngữ Trong cuốn Speech Acts (các hành động nói)

[1969], J Saerle đã đưa ra những tiêu chí cơ bản làm nền tảng cho sự phân biệt các

Trang 23

hành vi ở lời và trên cơ sở đó, ông đã nêu ra tới mười hai phương diện

(dimensions) mà các hành động có thể khác nhau Trong các tiêu chí đó, ông chọn

ba tiêu chí cơ bản để phân loại các hành vi tại lời:

- Đích của hành động ngôn trung

- Hướng của sự ăn khớp giữa lời-hiện thực

- Trạng thái tâm lí được biểu hịên

Xu hướng nghiên cứu hiện nay chấp nhận lý thuyết và cách phân loại củaJ.Searle nhiều hơn cả Hành động ngôn ngữ là một phạm trù phổ quát mang tínhnhân loại và hành động hỏi cụ thể cũng mang tính phổ quát Đề tài của chúng tôichọn cách quan niệm về hành động ngôn ngữ của J.Searle làm cơ sở tiền đề để đivào tìm hiểu các hành động hỏi trong lời thoại nhân vật nữ trên cứ liệu lời thoạitrong truyện ngắn sau 1975

1.2.2 Phân loại hành động ngôn ngữ

Hành động lời nói bao gồm các loại hành vi: hành động tạo lời (Locutionary acts), hành động tại lời (Illocutionary acts) và hành động mượn lời (Perlocutinary acts)

1.2.2.1 Hành động tạo lời

Theo Austin hành động tạo lời là hành động của “nói một cái gì đó”, là hànhđộng bao gồm (đại thể) các tiểu loại: hành vi ngữ âm, hành vi cấu âm và hành vitạo nội dung mệnh đề, tức hành vi sử dung các từ có khái niệm và sở chỉ ở mộtchừng mực nào đó có tính xác định

1.2.2.3 Hành động mượn lời

Hành động mượn lời là hậu quả của hành động tạo lời và hành động tạo lời

(by saying something we do something) Khi thực hiện một hành động tại lời,

“chúng ta luôn luôn tạo ra những hậu quả với các mức độ khác nhau, trong đó, một

Trang 24

số không thuộc ý muốn của người nói” [7, tr.107] Nếu như đặc trưng của hànhđộng tại lời là tính quy ước thì đặc trưng của hành động mượn lời là luôn đề cậpđến một hậu quả nào đó.

1.2.3 Các loại hành động ngôn ngữ

Việc phân loại hành động ngôn ngữ căn cứ vào phản ứng qua lại của những

người tham gia giao tiếp Đây chính là cơ sở để nhận ra hành động ở lời Có nhiềucách phân chia khác nhau giữa các nhà ngôn ngữ về hành động ngôn ngữ

1.2.3.1 Phân loại của Austin

Austin chia các loại hành động ngôn ngữ thành năm phạm trù: phán xử,hành xử, cam kết, trình bày và ứng xử Bảng phân loại các hành động ngôn ngữcủa Austin chủ yếu dựa trên các động từ ngôn hành trong tiếng Anh

1.2.3.2 Phân loại của Wierzbicka

Wierzbicka đã dùng ngôn ngữ ngữ nghĩa để giải nghĩa 270 động từ nói năngtrong tiếng Anh và qui chúng về 37 nhóm

1.2.3.3 Phân loại của Yule

Theo Yule, hành động ngôn ngữ được phân thành năm nhóm; Tuyên bố,biểu hiện, bộc lộ, điều khiển, ước kết

1.2.3.4 Phân loại của J.Searle

J.Searle đã liệt kê 12 điểm được dùng làm tiêu chí phân loại hành động ngônngữ, từ đó phân lập được năm loại hành động ở lời: Tái hiện, điều khiển, cam kết,biểu cảm, tuyên bố J.Searle đã xếp hành động hỏi vào nhóm cầu khiến

Bảng 1 Bảng phân loại năm loại hành động ở lời của J.Searle

Các loại hành động ở lời (1)

Tái hiện

(2) điều khiển

(3) Cam kết

(4) Biểu cảm

(5) Tuyên bố

thông báo cầu khiến thoả thuận xin lỗi từ chối

Trang 25

hỏi

[dẫn theo 30, tr.22]

1.2.4 Biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi

1.2.4.1 Khái niệm biểu thức ngữ vi

Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn gây hiệu lực ở lời nhất định Phát ngôn ngữ vimang một hiệu lực ở lời nào đó thì chúng có cấu trúc hình thức ấy, hay còn gọi là

cấu trúc đặc trưng “Chúng ta gọi một kiểu cấu trúc đặc trưng ứng với một phát ngôn ngữ vi là biểu thức ngữ vi” [26, tr.76] Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng có một cách định nghĩa tương tự: “Phát ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc trưng cho hành vi ở lời tạo ra nó Kết cấu lõi đó được gọi là biểu thức ngữ vi” [2, tr.76]

Với quan niệm về biểu thức ngữ vi như trên, chúng tôi nhận thấy để biểu thịbiểu thức ngữ vi hỏi có các dạng sau:

rõ ràng, dứt khoát, hoặc, khi mà trước đó có một ý kiến, một sự chờ đợi rằng sự việckhông, chưa xảy ra, nhưng vào lúc nói lại thấy cần phải kiểm tra lại Chẳng hạn:

“- Con nhớ anh ấy lắm phải không?

- Vâng ạ!”

Các câu hỏi dùng các cặp phụ từ biểu thị sự lựa chọn giữa những mặt đối lậpthống nhất mang tính tương liên (khẳng định / phủ định)

Tác giả Lê Đông trong công trình Ngữ nghĩa - ngữ dụng câu hỏi chính danh

đã lược đồ hoá mô hình dạng thức của biểu thị biểu thức ngữ vi này như sau:

Trang 26

(Ký hiệu ? (V) = Hỏi lựa chọn) [10, tr.103]

c Dùng quan hệ từ: hay / hoặc / hay là

Những quan hệ từ này cũng thuộc dạng câu hỏi lựa chọn Dạng thức nàykhông yêu cầu người đối thoại khẳng định hay phủ định nội dung thông tin trongcâu hỏi mà yêu cầu người đối thoại phải đưa ra phương án lựa chọn của bản thântrong từng tình huống giao tiếp cụ thể Ví dụ :

“- Anh đi hay là tôi?

- Dĩ nhiên là cả hai rồi.”

d Dùng ngữ điệu (gắn với ngữ cảnh và động từ)

e Dùng một số từ tình thái kiểu như: à, ư, hử, hả, liệu (Liệu giờ này tàu đã chạy chưa anh?), đã(Anh có thực lòng không đã?), kia / cơ (Quyển sách nào cơ?),

ấy trong sự kết hợp với với các tiểu từ hỏi à, ư, hở (Mai anh ấy đi à?); Một số từ

phụ trợ khác mà trong câu hỏi bắt đầu mang chức năng của những từ tình thái:

đây, đấy, thế này…; Một số thành ngữ của nghi thức lời nói: (tôi) hỏi khí không phải, (tôi) hỏi khí vô phép, (tôi) hỏi thật v.v…

Ở phạm vi đề tài này, chúng tôi khảo sát và tìm hiểu các dạng biểu thức ngữ

vi của câu hỏi, đặc biệt chú ý đến các dạng biểu thức ngữ vi có chứa các phươngtiện thông tin ngữ dụng bổ trợ

Trước nay, ý nghĩa và chức năng giao tiếp của những kiểu phương tiện nêutrên đối với phạm trù câu hỏi thường chỉ được nhắc chung chung, sơ lược, hoặc bị

Trang 27

bỏ qua Trên thực tế, tham gia chủ yếu vào modus của câu, nằm trong thành tố tìnhthái của cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ dụng của nó, những phương tiện đang xét cónhững vai trò đa dạng và quan trọng hơn nhiều Việc nghiên cứu các quá trìnhngôn từ hoá và hiểu lời nói đối thoại mà không nghiên cứu các phương tiện thôngtin ngữ dụng bổ trợ đó là bỏ qua một bộ phận rất quan trọng xét cả trên bình diệnchất và lượng của hội thoại Những phương tiện thông tin ngữ dụng nói trên, có thểxuất hiện ở những kiểu câu hỏi khác nhau, hoặc chỉ xuất hiện ở một kiểu câu hỏinào đó, nhưng đều có một chức năng chung là làm phương tiện bổ trợ để người hỏichính xác hoá vị trí của mình trong hệ thống những mối quan hệ sinh động, thựchiện có hiệu quả mục đích giao tiếp Chúng góp phần làm nên tính sinh động, uyểnchuyển và chính xác của câu hỏi như một hành động ngôn ngữ hiện thực Nếu tínhđến nhu cầu đó của giao tiếp thì việc nghiên cứu ngữ nghĩa - ngữ dụng của mộtloại hình câu theo mục đích thông báo không thể không xét đến những kiểu ýnghĩa ngữ dụng đặc biệt mà chúng đưa vào câu Không nắm được các kiểu thôngtin ngữ dụng đặc biệt, chủ yếu đó, nhiều khi không thể giao tiếp hoặc ít ra cũng làgiao tiếp không có hiệu quả Quan sát hoạt động trong đối thoại của một số hư từ,

X.O.Karxepxki nhận xét một cách đúng đắn rằng, chúng nhiều khi “rất gần với các yếu tố cảm thán về sắc thái đánh giá và thực hiện một vai trò tương tự như vai trò của khoá nhạc quy định thanh tính của câu nhạc vậy” [Dẫn theo 10, tr.71].

1.2.4.2 Biểu thức ngữ vi tường minh và biểu thức ngữ vi hàm ẩn

Biểu thức ngữ vi có thể có động từ ngữ vi hay không có động từ ngữ vi trên

bề mặt câu chữ

Nếu biểu thức ngữ vi có chứa động từ ngữ vi trên bề mặt câu chữ thì đó làbiểu thức ngữ vi tường minh

Ví dụ:- Tôi mong anh sẽ đến

- Mời cụ xơi nước

- Tôi cấm anh không được nói xấu cô ấy

- Anh hứa sẽ đến đúng hẹn

- Tôi cam đoan mọi người sẽ đến

- Tôi hỏi người ấy

Trang 28

Nếu biểu thức ngữ vi không có các động từ ngữ vi trên bề mặt câu chữ thì đó

là biểu thức ngữ vi hàm ẩn hay còn gọi là biểu thức ngữ vi nguyên cấp

Một động từ được xem là động từ ngữ vi khi có đủ ba điều kiện sau:

- Vai đưa ra phát ngôn phải là ngôi thứ nhất, số ít và người tiếp nhận hành vi

ở lời phải ở ngôi thứ hai

- Động từ luôn ở thì hiện tại

- Trước động từ không có các phụ từ tình thái như: không, chưa, chẳng, chả,

đã, sẽ, vừa, mới, chỉ…

Ví dụ: Tôi hỏi bây giờ là mấy giờ?

c Động từ ngữ vi hỏi và điều kiện để thực hiện hành động hỏi

Khi gặp một sự việc, một tình huống có vấn đề khó khăn hay không hiểu,hay muốn kiểm tra, người nói thường đưa ra hành động hỏi Để thể hiện hành động

này, người nói thường dùng động từ: hỏi, thắc mắc, chất vấn, băn khoăn…

Các điều kiện thực hiện hành động hỏi:

- Sự trải nghiệm của người nói: người nói chưa hiểu, chưa rõ, chưa xác địnhmột điều gì đó

- Nội dung và hiệu lực đối với người nghe: người nói đưa ra nội dung làmong muốn có sự hồi đáp làm sáng tỏ sự nghi vấn đó và hiệu lực là người nghe trảlời bằng ngôn ngữ

- Thái độ và sự phản ứng của người nghe: người nghe có thể trả lời đúnghoặc sai

Ví dụ: Hỏi thế này khí không phải, sao cô không đến chơi sớm hơn một chút?

Trang 29

Ở đây người hỏi sử dụng thành ngữ của nghi thức lời nói “Hỏi thế này khí không phải” để rào đón rằng điều mà tôi nói ra đây có đều gì đó không thích hợp

với phép lịch sự thông thường, mong được thông cảm bỏ qua mà trả lời cho biết,đừng có phản ứng gì khác

1 3 GIỚI VÀ QUAN NIỆM VỀ GIỚI TRONG NGÔN NGỮ

1.3.1 Khái niệm về giới (sex)

Giới tính (Sex), là một thuật ngữ để chỉ sự khác biệt về mặt sinh lí học giữa

nam giới và nữ giới Từ điển tiếng Việt [47, tr.341] cho rằng giới tính chỉ “Đặc

điểm cấu tạo cơ thể và của tâm lý làm cho có chỗ khác nhau giữa nam và nữ, giữagiống đực và giống cái” Sex- chỉ sự khác biệt về mặt thể chất (tức sinh lý học)giữa nam giới và nữ giới “Sự khác biệt này, chủ yếu liên quan đến chức năng táisản xuất giống nòi và do các yếu tố di truyền tự nhiên (sinh học) quy định” [TrầnThị Vân Anh - Lê Ngọc Hùng, 2000, tr.21] Giới tính là thuật ngữ của ngànhsinh học nhưng lại liên quan đến nhiều mặt của đời sống con người trong đó cóngôn ngữ

Giới (Gender) “Chỉ mối quan hệ xã hội, mối tương quan giữa địa vị xã hội

của nam và nữ trong bối cảnh xã hội cụ thể” [dẫn theo 28, tr.16] Khi nói đến giới

là nói đến điều kiện và xã hội qui định, vai trò và hành vi xã hội của mỗi giớikhông phải là bất biến mà thay đổi khi các điều kiện qui định về chúng thay đổi

1.3.2 Giới trong ngôn ngữ

Chính vì có sự chi phối của giới tính đến ngôn ngữ đã dẫn đến sự kỳ thị giớitrong ngôn ngữ Theo tác giả Nguyễn Văn Khang, kỳ thị giới trong ngôn ngữ là

“sự phân biệt đối xử về giới tính theo quan niệm “nam tôn nữ ti” còn đậm dấu ấn trong ngôn ngữ” [20, tr.51] Còn tác giả Trần Xuân Điệp lại định nghĩa “kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ là sự đối xử không bình đẳng giữa nam giới và nữ giới thể hiện trong việc dùng ngôn ngữ” [12, tr.37] Tổng kết các quan niệm trên, chúng tôi

đúc kết cách hiểu kỳ thị giới tính là sự đánh giá cao giới này, hạ thấp giới kia vàngược lại Kỳ thị giới nhằm vào cả hai giới nhưng thực tiễn, sự kỳ thị hướng vào

nữ giới là mạnh hơn

Từ những năm đầu thế kỷ XX, mối quan hệ giữa giới và ngôn ngữ cũng nhưnhững sự khác biệt trong ngôn ngữ giới tính đã được nhiều nhà ngôn ngữ học tập

Trang 30

trung nghiên cứu như E.d.Sapir, R Lakoff, O.Jersperson…Các nhà ngôn ngữ họctrong các công trình nghiên cứu của mình đã đưa ra những nhận xét về đặc điểmngôn ngữ giới trên nhiều bình diện khác nhau của ngôn ngữ Cụ thể như đặc điểm

sử dụng từ vựng, giới trên bình diện ngữ pháp, giới trên bình diện ngữ dụng

Ở Việt Nam đi theo xu hướng nghiên cứu này một số công trình cũng tậptrung đánh giá sự khác biệt của ngôn ngữ hai giới như: Bùi Thị Minh Yến (1990),

Vũ Thị Thanh Hương (1999), Nguyễn Thị Thanh Bình (2000, 2003), Lương Văn

Hy (2000), Vũ Tiến Dũng (2002), Trần Xuân Điệp (2001, 2002, 2003) trong đó

phải kể đến công trình Ngôn ngữ học xã hội những vấn đề cơ bản (1999) của tác

giả Nguyễn Văn Khang Trong giáo trình này, tác giả khẳng định, mối quan hệgiữa giới tính và ngôn ngữ không chỉ dừng lại xem xét trong nội bộ ngôn ngữ vớicác bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, mà phải nhìn theo cách tiếp cận ngônngữ học xã hội, liên quan đến nhiều vấn đề như: sinh học, địa vị xã hội, vị thế giađình…Tác giả cũng nhấn mạnh, sở dĩ có sự khác nhau của ngôn ngữ mỗi giới là donhững nguyên nhân căn bản sau:

- Có sự khác nhau trong cấu tạo cơ thể người như vị trí của phần “chứa”ngôn ngữ ở trong não cũng như đặc điểm sinh lý cấu âm giữa nam và nữ

- Mỗi giới có những lớp từ ngữ riêng chỉ dùng cho giới này mà không dùngcho giới kia

- Cách sử dụng ngôn ngữ của mỗi giới

Tóm lại, sự tồn tại yếu tố giới tính trong ngôn ngữ là có thực, nó tồn tại từhai chiều: chiều tác động của giới tính đến lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp, vàchiều thông qua giao tiếp yếu tố giới tính được bộc lộ Người phụ nữ luôn đượcxem là “phái yếu”, “phái đẹp” cùng với thiên chức làm mẹ trong gia đình, điều đó,khiến cho nữ giới luôn phải ăn nói nhẹ nhàng, lịch sự và chuẩn mực Nét đặc trưngtrong việc sử dụng ngôn ngữ của nữ giới bên cạnh bộc lộ qua lời ăn tiếng nói hàngngày còn được phản ánh rõ nét qua lời thoại của nhân vật trong tác phẩm văn họctrong đó có hành động hỏi

1.4 MỘT VÀI NÉT VỀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

Trong sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của nền văn học, có thể khẳngđịnh trong dòng văn xuôi thì truyện ngắn là thể loại có nhiều thành tựu đậm nét cả

về số lượng và chất lượng Với dung lượng ngắn gọn, truyện ngắn là một thể tài

Trang 31

gắn với báo chí, để có mặt kịp thời trước sự chuyển biến của đời sống Hàng thế kỷqua, đời sống của dân tộc đã trải qua bao nhiêu biến chuyển to lớn, phong phú.Truyện ngắn rất thích hợp để nhà văn nhanh chóng tìm hiểu, phản ánh và nêu ýkiến trước những vấn đề mới, nóng bỏng, đang đặt ra trước xã hội Nó ít khi quay

về với những giai đoạn đã qua (mà dù có lấy đề tài ở quá khứ thì thường cũng làmột cách tiếp cận với những vấn đề của ngày hôm nay như những truyện ngắn củaNguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái ) Có thể nói truyện ngắn là thể tài “xung kích”giàu tính năng động, một người trinh sát trên các bước chuyển của đời sống vănhọc Chính vì thế, xã hội Việt Nam sau 1975 có nhiều sự biến chuyển to lớn đãđược truyện ngắn bắt nhịp và phản ánh chân thực Có thể nói, kế thừa những thànhcông của truyện ngắn trong những giai đoạn trước, thể loại này một lần nữa lạikhẳng định vị trí của mình trong một giai đoạn mới của sự phát triển đất nước Saunăm 1975, nhất là những năm 80, truyện ngắn Việt Nam đánh dấu sự “thay máu”bằng hàng loạt sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Chu Lai, Thái BáLợi, Ma Văn Kháng, Lê Lựu v.v…Tác tác giả đã tập trung thể hiện xã hội thời hậuchiến với những lo toan của cuộc sống đời thường, hướng đến khám phá sâu vào

sự đấu tranh giằng xé trong nội tâm của nhân vật trong cái nhìn đa chiều, đa diệnhơn Trong quan niệm nghệ thuật về con người cũng có sự thay đổi lớn lao Khôngcòn là con người chiến tranh đầy màu hồng với bao chiến công hiển hách, conngười của ý thức cộng đồng, con người sau 1975 được bộc lộ trong muôn mặt đờithường của nó Những thân phận người, đời sống nội tâm phong phú, phức tạp, ýthức trách nhiệm của cá nhân, những quan niệm đạo đức mới và nhân cách conngười trong giai đoạn mới…thể hiện ở nhiều góc cạnh khác nhau Bên cạnh nhữngđổi mới lớn lao về nội dung phản ánh, truyện ngắn sau 1975 còn có những cách tân

về nghệ thuật đó là cách xây dựng nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ…Kế tiếp nhữngthành công của thế hệ đàn anh đi trước, thế hệ nhà văn giai đoạn tiếp theo đã tiếpbước khá chững chạc với những gương mặt tiêu biểu như Nguyễn Huy Thiệp, HồAnh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban… là thế hệ tác giả sống trong một giaiđoạn giao thời của xã hội và của văn học Chính đặc điểm này đã đem đến chotruyện ngắn những năm 90 và nhất là những năm cuối thế kỷ XX có những biếnđổi về nội dung cũng như hình thức thể hiện Cuối cùng là truyện ngắn của nhữngnhà văn trẻ sinh ra trong thời đại mới đang dần dần khẳng định phong cách trongsáng tác như Đỗ Bích Thuý, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh…

Trang 32

Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 mở ra nhiều bình diện khám phá mới mẻ.Đây là mảnh đất màu mỡ để các nhà phê bình, các nhà nghiên cứu tập trung tìmhiểu Những công trình nghiên cứu về truyện ngắn sau 1975 trong sự đối chiếu vớitruyện ngắn những giai đoạn trước sẽ đưa ra được những nhận định xác đáng vềthành tựu cũng như hạn chế của một giai đoạn văn học mới của đất nước.

1.5 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Ở chương 1, chúng tôi đã trình bày một số vấn đề lý thuyết làm cơ sở tiền đề

để đi vào chương 2, chương 3:

- Vấn đề hội thoại

- Vấn đề hành động ngôn ngữ

- Quan niệm về giới và giới trong ngôn ngữ

- Một vài nét về truyện ngắn Việt Nam giai đoạn sau 1975

Trên cơ sở những tiền đề lý thuyết đó, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu vai xãhội, từ xưng hô cũng như nội dung và chiến lược giao tiếp của nhân vật nữ thể hiệnqua hành động hỏi trong truyện ngắn sau 1975

Trang 33

Chương 2 VAI XÃ HỘI VÀ CÁCH SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ CỦA NHÂN VẬT NỮ

THỰC HIỆN HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG

Khi nghiên cứu về hành động ngôn ngữ, trong đó có hành động hỏi, người taphân biệt hai kiểu hành động tại lời: hành động tại lời trực tiếp và hành động tại lờigián tiếp Hành động tại lời trực tiếp là hành động ngôn ngữ được biểu hiện, đượccảm nhận một cách trực tiếp nhờ vào các phương tiện hay dấu hiệu tại lời riêngvốn có trong ngôn ngữ, chẳng hạn, dùng các hình thức hỏi để biểu hiện ý hỏi Ví

dụ: Bây giờ là mấy giờ?, đặc trưng hình thức của câu hỏi này là sử dụng các

phương tiện, dấu hiệu của câu hỏi và hiệu lực của nó là người nghe phải trả lời

hướng vào trọng điểm hỏi để trả lời cho phù hợp: Bây giờ là 8 giờ Hành động

ngôn ngữ gián tiếp là kiểu hành động ngôn ngữ được biểu hiện và cảm nhận mộtcách gián tiếp qua một câu nói chứa những dấu hiệu tại lời vốn gắn với một kiểuhành động ngôn ngữ khác, và như vậy, muốn tri nhận phải thông qua sự suy luậndựa vào hoàn cảnh, ngữ cảnh cụ thể Đó chẳng hạn là một lời chào, lời yêu cầu …

được thể hiện thông qua việc đặt một câu hỏi như: Anh có thể không hút thuốc được không? Đây là hành động ở lời hỏi trên bề mặt nhưng hiệu lực của nó là muốn người hút thuốc phải trả lời là: Xin lỗi, tôi sơ ý quá.

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu cả hai loại hànhđộng hỏi, đó là hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp trong lời thoạicủa nhân vật

Trang 34

Mô hình khái quát đặc điểm nhận diện hành động hỏi

Các đặc điểm nhận diện hành động hỏi

Căn cứ vào từ ngữ cấu tạo hành động hỏi Căn cứ vào nội dung và

hiệu lực ở lời

Có sử dụng đại từ nghi vấn: ai, gì, nào … Hành động hỏi trực tiếp: Có sự

tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn

bề mặt với hiệu lực ở lời

Có sử dụng phụ cặp phụ từ chỉ sự lựa chọn

như: có…không, đã… chưa,…

Có sử dụng ngữ điệu (gắn với ngữ cảnh và

động từ)

Hành động hỏi gián tiếp: Không

có sự tương ứng giữa cấu trúc phátngôn trên bề mặt với hiệu lực ở lời

Có sử dụng các từ tình thái: à, ư, hả, hở…;

Một số từ phụ trợ mang chức năng của từ

tình thái: đây, đấy, thế này…; Một số thành

ngữ thuộc nghi thức lời nói: hỏi khí không

phải, hỏi khí vô phép…

Nhận diện hành động hỏi trên cứ liệu lời thoại của nhân vật nữ trong một sốtruyện ngắn sau 1975, ngoài việc dựa vào nội dung, hình thức, chúng tôi còn căn

cứ vào các dấu hiệu cơ bản sau:

a/- Hành động hỏi được thể hiện qua lời đối thoại trực tiếp của nhân vật nữvới các nhân vật khác trong tác phẩm

b/- Hành động hỏi được tái hiện trong suy nghĩ, hồi tưởng của nhân vật.c/- Hành động trình bày, kể lể của nhân vật về lời nói của người khác hoặccủa chính mình

Các ví dụ cho mỗi nhóm trên

Cho (a): hành động hỏi được bộc lộ qua lời thoại trực tiếp của nhân vật:

(1) - Chị theo cô Kiều lâu chưa? Vợ ông làm quan hỏi vợ ông tội phạm.

- Ba năm rồi đấy Cả trăm lần xem chưa sai lần nào Còn chị?

- Một năm Cũng đúng cả - Vợ ông làm quan thở dài

[II, tr.208]Đoạn thoại trên là cuộc trò chuyện hỏi han thông tin của hai người phụ nữtrong việc bói toán

Cho (b): (2) …Mẹ ơi, ngày sau con có phải khổ như mẹ không? Mẹ có khổ đâu! Có, mẹ có khổ, đêm nào con cũng thấy mẹ khóc? Ừ, mẹ buồn mẹ khóc! Bố làm mẹ buồn à? Con đừng nhắc đến người đàn ông khốn nạn ấy nữa Không, đấy

là bố con, lúc nào con cũng đợi bố về…Con ơi, con ở đâu Sao khổ thế hả con, aicứu con tôi bây giờ, ai giúp tôi lôi nó ra khỏi cái thiên đường địa ngục đó bây giờ?

[II, tr.175]

Trang 35

Những suy nghĩ của người mẹ về cuộc nói chuyện của hai mẹ con trong quákhứ, tâm trạng hoang mang, bế tắc khi nhìn thấy con gái đang lặp lại nỗi đau củachính bản thân mình.

Cho (c): (3) Tôi bảo: “Ông tệ với bà thế sao bà không bỏ ông đi?” Bà cười

nhệch nhạc: “Thời bà, ít có sự lựa chọn như các cháu sau này Bảo lấy ai thì lấy.Bảo làm gì thì làm Ước mơ không nhiều, tham vọng chẳng có Được yên ổn là

sướng lắm rồi” Tôi cãi: “Thời là gì hả bà? Cháu nghĩ tại bà thôi”.

[II, tr.145] Nhân vật tôi (nữ) đã kể lại cuộc trò chuyện và tranh luận của hai bà cháu về

số phận và vị thế của người phụ nữ trong những hoàn cảnh xã hội khác nhau, đồngthời biểu lộ cả quan niệm, cách nghĩ của chính họ về thân phận của mình

2.2 CÁC VAI XÃ HỘI CỦA NHÂN VẬT NỮ THỰC HIỆN HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG TRUYỆN NGẮN GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 VÀ GIAI ĐOẠN SAU 1975

2.2.1 Thống kê vai xã hội của nhân vật nữ thực hiện hành động hỏi trong truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945.

Bảng 2 1 Bảng thống kê các vai xã hội của nhân vật nữ thực hiện hành động

hỏi trong một số truyện ngắn hiện thực phê phán 1930 -1945

Qua khảo sát tập Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn giai đoạn 1930 - 1945 do

nhóm tác giả Nguyễn Hoành Khung chủ biên, chúng tôi khảo sát được 185 hànhđộng hỏi của nhân vật nữ Trên cơ sở kết quả thống kê được, chúng tôi tiến hànhphân loại và chia nhân vật theo phạm vi sinh sống; từ đó phân cách thành các tuyếnnhân vật cụ thể

Thứ nhất: Nhân vật nữ thành thị.

Trang 36

- Nhân vật nữ là người có quyền lực, địa vị, giàu có (mẹ, vợ, con, chị em nhàquan lại, tiểu thương,…)

- Nhân vật nữ là những người có địa vị thấp (thợ thuyền, gái bán hoa, giúpviệc…)

Thứ hai: Nhân vật nữ nông thôn.

- Nhân vật nữ là người có địa vị, giàu có (mẹ, vợ, con, chị em nhà địa chủ,cường hào…)

- Nhân vật nữ nông dân địa vị thấp (người vợ lệ thuộc, người mẹ nghèo khổ,người chị tần tảo…)

Kết quả cho thấy, ở tuyến nhân vật nữ có địa vị, quyền lực, giàu có chỉ có 31hành động hỏi chiếm 16,7%,; trong khi đó ở tuyến nhân vật nữ địa vị thấp, nghèokhổ gồm 128 hành động hỏi, chiếm đến 83,3% Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấytuy phạm vi khảo sát đều ở nông thôn và thành thị nhưng hành động hỏi ở nhân vật

nữ nông thôn chiếm số lượng lớn hơn (80,5%) so với nhân vật nữ thành thị(19,5%) Với kết quả thống kê này và kết quả của một số đề tài đi trước khảo sát vềtruyện ngắn giai đoạn 1930-1945, chúng tôi có thể khẳng định rằng truyện ngắnhiện thực phê phán hướng về thể hiện và miêu tả nhiều về người phụ nữ nông thôn

mà chủ yếu là những người phụ nghèo khổ, bị áp bức bóc lột, bị phụ thuộc, thânphận thấp hèn Trên cơ sở thống kê hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyệnngắn giai đoạn 1930 - 1945, chúng tôi lấy làm cơ sơ, căn cứ để đối chiếu so sánhvới hành đồng hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn giai đoạn sau 1975, từ đóthấy được nét tương đồng và sự khác biệt trong đặc điểm ngôn ngữ của nhân vật

nữ trong giai đoạn lịch sử xã hội khác nhau của đất nước

2.2.2 Thống kê vai xã hội của nhân vật nữ thực hiện hành động hỏi trong truyện ngắn sau 1975

Xã hội Việt Nam sau 1975 có nhiều biến đổi mạnh mẽ, các mối quan hệ củacon người trong cuộc sống trở nên đa diện, nhiều chiều hơn bao giờ hết, con ngườitrong tác phẩm văn học cũng được các nhà văn tái hiện một cách phong phú, sinhđộng Cùng với sự phản ánh đó, nhân vật nữ sau 1975, bên cạnh những vai xã hộitruyền thống đã xuất hiện các tuyến nhân vật với nhiều vị thế mới mẻ

Trang 37

Thứ nhất, nữ thành thị xuất hiện nhiều tầng lớp và nghề nghiệp phong phúnhư: trí thức, văn nghệ sỹ, công nhân viên chức, nghề tự do…

Thứ hai, nữ nông thôn chủ yếu là thuần nông, giúp việc (ô sin), tiểu thương…

Bảng 2.2. Thống kê các vai xã hội của nhân vật nữ thực hiện hành động hỏi

trong một số truyện ngắn sau 1975

Nghề tự do Thuần

nông

Giúp việc(ô sin)

Qua bảng 2.2, chúng tôi thống kê được 356 hành động hỏi, kể cả hành độnghỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp So với nhân vật nữ trong truyện ngắntrước 1945, nhân vật nữ thể hiện qua hành động hỏi trong truyện ngắn sau 1975được chia làm nhiều tuyến khác nhau khá phong phú Ở phạm vi nhân vật nữ thànhthị, có 315 hành động hỏi chiếm 88,5% có thể chia chúng thành các tuyến như: tríthức, văn nghệ sỹ, công nhân viên chức nhà nước, nghề tự do (tiếp thị, gái bánhoa…)…Ở phạm vi nhân vật nữ nông thôn chỉ có 41 hành động hỏi chiếm 11,55%gồm các tuyến nhân vật nữ nông dân, nữ buôn bán nhỏ, nữ giúp việc…

Như vậy, qua đối chiếu, chúng tôi thấy rằng nếu như truyện ngắn giai đoạn1930-1945 hướng nhiều về số phận của những người phụ nữ nông dân trong cảnh

áp bức, nô lệ thì truyện ngắn sau 1975 lại tập trung phản ánh đời sống bộn bề củangười phụ nữ ở thành thị với nhiều vị trí và nội dung mới mẻ Sở dĩ chúng tôi chianhỏ các tuyến nhân vật ở các phạm vi đề tài khác nhau là thấy rõ hơn đặc trưng vềvai xã hội, cách sử dụng từ xưng hô cũng như chiến lược giao tiếp của nhân vật nữthể hiện qua hành động hỏi trong truyện ngắn sau 1975

TRONG TRUYỆN NGẮN SAU 1975

Trang 38

2.3.1 Khái niệm vai xã hội

Xã hội gồm rất nhiều mối quan hệ giữa người với người Trong rất nhiềumối quan hệ đó, mỗi người có một vị trí riêng Một cô giáo chẳng hạn, ở trường là

cô giáo; ở nhà là cháu ông bà, là con bố mẹ, là vợ của chồng, là mẹ các con; trênđường đi, cô giáo cũng như mọi người khác đi đường, phải tuân theo luật giaothông; …Như vậy, mỗi người phải sắm rất nhiều vai trong cuộc sống

Theo nhóm tác giả Bùi Tất Tươm “Vai xã hội là vị trí của người tham gia hội thoại đối với người khác trong cuộc thoại” [37, tr.170]

Quan hệ cá nhân giữa những tham thoại cũng có tầm quan trọng đặc biệttrong tương tác hội thoại Đó là những nhân tố sẵn có trước cuộc tương tác dochúng nằm ngoài tương tác Chúng liên quan tới quan hệ thân - sơ, quan hệ vị thế

xã hội, tuổi tác, quyền lực…và được thể hiện khác nhau ở từng cộng đồng người.Theo Nguyễn Đức Dân (1998), quan hệ cá nhân được xem xét dưới các góc độ:

- Quan hệ ngang (quan hệ thân - sơ)

- Quan hệ dọc (quan hệ vị thế)

a Quan hệ ngang (quan hệ thân sơ)

Quan hệ ngang chỉ rõ mối quan hệ gần gũi, thân cận hay xa cách giữa nhữngngưòi tham gia giao tiếp Mối quan hệ này có thể thay đổi và điều chỉnh trong quátrình hội thoại, từ sơ đến thân hoặc ngược lại Hình thức có thể đối xứng hoặc phiđối xứng Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ ngang: dấu hiệu bằng lời, dấu hiệu

cử chỉ điệu bộ hoặc dấu hiệu kèm lời Người nói có nhiều công cụ để lựa chọn khimuốn thể hiện quan hệ này một cách phù hợp

Những dấu hiệu bằng lời như hệ thống đại từ xưng hô, dùng từ thưa gửi,cách sử dụng từ tình thái…mang sắc thái quan hệ cá nhân rất rõ ràng Trong tiếngAnh, các ngôi xưng hô ít và sử dụng khá đơn giản hơn so với tiếng Việt Cụ thể ở

ngôi thứ nhất có “I” (số ít), “we” (số nhiều); ngôi thứ hai có “you”, ngôi thứ ba có

“It”, “she”, “he” (số ít), “they” (số nhiều).Thực tế trong giao tiếp hội thoại, người Anh sử dụng chủ yếu hai đại từ nhân xưng “I” và “you” trong mọi ngữ cảnh giao

tiếp và với mọi đối tượng không phân biệt vai và lứa tuổi Chẳng hạn ở trong haiđoạn hội thoại sau sẽ cho chúng ta thấy rõ cách sử dụng đó trong những tình huốnggiao tiếp khác nhau:

(A) “- Do you want a drink?

Trang 39

- Yes, please.

- Tea or coffee?

- Coffee please I do not like tea.”

Trong đoạn hội thoại (A) là lời mời dùng đồ uống giữa hai người bạn trao đổi

với nhau và họ dùng hai đại từ nhân xưng “I - you” để xưng hô với nhau.

(B) “- Dad! Do you want a drink?

-Hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú đa dạng như sắc thái của

từ tự xưng: tôi, tao, tớ, mình, ông, đây…, hay cách gọi người đối thoại trực tiếp là ông (bà) , anh (chị), ngài, cậu, mày, ấy…chỉ rất rõ mối quan hệ thân - sơ, trọng -

khinh giữa những người tham gia cuộc thoại Cách gọi tên tục, biệt hiệu hay đầy

đủ họ tên, thậm chí nói trống ngôi nhân xưng cũng thể hiện rõ quan hệ này Việcdùng đúng từ xưng hô phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp thể hiện vốn văn hoá, sựhiểu biết, tính lịch thiệp, mức độ tôn trọng nhau trong giao tiếp Vấn đề sử dùng từxưng hô, chúng tôi sẽ đề cập cụ thể hơn nữa ở phần sau

lộ rõ quan hệ vị thế Các hành động ngôn ngữ và hành động hội thoại cũng như sựthể hiện phép lịch sự, những từ tình thái, từ đi kèm hành động ngôn ngữ đều thểhiện quan hệ vị thế Những vị thế này đã được ngôn từ hoá thành các từ ngữ và cáccấu trúc ngôn ngữ

Trang 40

Liên quan đến mối quan hệ giữa những người tham thoại, chúng tôi không

thể không nhắc đến quan hệ quyền lực (power) và quan hệ hoà đồng (solidarity)

mà thực chất là quan hệ dọc và quan hệ ngang theo quan niệm của P.Brown vàS.Levinson

Theo Tannen, quan hệ quyền lực và quan hệ hoà đồng là vấn đề cơ bản củahội thoại [dẫn theo 30, tr.12] Quyền lực và hoà đồng có ảnh hưởng nhiều đến lờinói trong hội thoại trong đó biểu hiện khá rõ ở hành động hỏi

2.3.2 Nhận diện khái quát vai xã hội của nhân vật nữ thực hiện hành động hỏi trong truyện ngắn sau 1975

Qua bảng thống kê 2.2, chúng tôi nhận thấy, nhân vật nữ sau 1975 so vớinhân vật nữ trong truyện ngắn hiện thực phê phán đã tham gia ở nhiều lĩnh vựckhác nhau trong đời sống xã hội Nếu như nữ giới trong truyện ngắn trước cáchmạng chỉ là những người phụ nữ luôn gắn liền với phạm vi gia đình, với công việcnội trợ, đồng áng hay buôn bán nhỏ thì nữ giới trong các truyện ngắn đương đạiđứng ở nhiều vai xã hội phong phú thậm chí xuất hiện nhân vật nữ với vị thế mạnh

Cụ thể, ngoài những vai quen thuộc, truyền thống, nhân vật nữ trong truyện ngắnsau 1975 đã có mặt trong những vai trò mới như: nữ trí thức khoa học 46 hànhđộng, chiếm 12,9%; nữ là văn nghệ sỹ 30 hành động hỏi chiếm, 8,4%; nữ côngnhân viên chức nhà nước 17 hành động hỏi, chiếm 4,8%

Để nhận diện vai xã hội của nhân vật nữ thể hiện qua hành động hỏi trongmột số truyện ngắn sau 1975, chúng tôi căn cứ vào các dấu hiệu sau:

- Dựa vào quan hệ xã hội của nhân vật nữ khi tham gia giao tiếp với cácnhân vật khác

- Dựa vào ngôn ngữ được sử dụng trong hành động hỏi

- Dựa vào nội dung của hành động hỏi

- Dựa vào cung cách xưng hô của nhân vật nữ với nhân vật khác trong cuộc thoại

- Dựa vào điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt, trang phục… của nhân vật (thông quangôn ngữ miêu tả của người kể chuyện)

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2002), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2002
2. Đỗ Hữu Châu (1996), Giản yếu về ngữ dụng học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu về ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
3. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
4. Lê Thị Sao Chi (2001), Ngôn ngữ độc thoại của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Luận văn thạc sỹ Ngữ văn, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ độc thoại của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Lê Thị Sao Chi
Năm: 2001
5. Nguyễn Phương Chi (2004), Một số đặc điểm ngôn ngữ - Văn hoá ứng xử của hành vi từ chối trong tiếng Việt (có sự đối chiếu với tiếng Anh), Luận án Tiến sỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm ngôn ngữ - Văn hoá ứng xử của hành vi từ chối trong tiếng Việt (có sự đối chiếu với tiếng Anh)
Tác giả: Nguyễn Phương Chi
Năm: 2004
6. Nguyễn Văn Chiến (1992), Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á, ĐHSP Ngoại Ngữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 1992
7. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
8. Vũ Tiến Dũng (2003), Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính, Luận án Tiến sỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính
Tác giả: Vũ Tiến Dũng
Năm: 2003
9. Lê Đông (1991), Vai trò của thông tin tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa sử dụng của câu hỏi, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của thông tin tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa sử dụng của câu hỏi", Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1991
10.Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa - Ngữ dụng câu hỏi chính danh, Luận án Tiến sỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa - Ngữ dụng câu hỏi chính danh
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1996
11.Nguyễn Văn Độ (2004), Tìm hiểu mối liên hệ ngôn ngữ và văn hoá, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu mối liên hệ ngôn ngữ và văn hoá
Tác giả: Nguyễn Văn Độ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
12.Trần Xuân Điệp (2002), Sự kỳ thị giới tính qua cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt, Luận án Tiến sỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự kỳ thị giới tính qua cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt
Tác giả: Trần Xuân Điệp
Năm: 2002
13.Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2003), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2003
14.Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1992
15.Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm (1998), Ngữ pháp chức năng, quyển 1, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
16.Nguyễn Chí Hoà (1992), Thử tìm hiểu phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương tác lẫn nhau giữa chúng trên bình diện giao tiếp, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương tác lẫn nhau giữa chúng trên bình diện giao tiếp", Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Chí Hoà
Năm: 1992
17.Lương Văn Hy (chủ biên), và nhóm tác giả (2000), Ngôn từ giới và nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn từ giới và nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt
Tác giả: Lương Văn Hy (chủ biên), và nhóm tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
18.V.B.Kasevich (1998), Những yếu tố cơ sở của ngôn ngữ học đại cương, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố cơ sở của ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: V.B.Kasevich
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
19.Nguyễn Văn Khang (1998), Ứng xử ngôn ngữ trong gia đình người Việt, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử ngôn ngữ trong gia đình người Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 1998
20.Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội những vấn đề cơ bản, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 .1 Bảng thống kê các vai xã hội của nhân vật nữ thực hiện hành động - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn sau 1975
Bảng 2 1 Bảng thống kê các vai xã hội của nhân vật nữ thực hiện hành động (Trang 35)
Bảng 2.2.      Thống kê các vai xã hội của nhân vật nữ thực hiện hành động hỏi   trong một số truyện ngắn sau 1975 - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn sau 1975
Bảng 2.2. Thống kê các vai xã hội của nhân vật nữ thực hiện hành động hỏi trong một số truyện ngắn sau 1975 (Trang 37)
Bảng 2.3. Thống kê từ xưng hô của nhân vật nữ thực hiện hành động hỏi  trong  truyện ngắn sau 1975 - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn sau 1975
Bảng 2.3. Thống kê từ xưng hô của nhân vật nữ thực hiện hành động hỏi trong truyện ngắn sau 1975 (Trang 53)
Bảng 3.1. Bảng thống kê nội dung hành động hỏi của nhân vật nữ trong  truyện ngắn sau 1975 - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn sau 1975
Bảng 3.1. Bảng thống kê nội dung hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 (Trang 65)
Bảng 3.3. Bảng thống kê, phân loại chiến lược giao tiếp của tuyến nhân vật nữ   trí thức và văn nghệ sỹ - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn sau 1975
Bảng 3.3. Bảng thống kê, phân loại chiến lược giao tiếp của tuyến nhân vật nữ trí thức và văn nghệ sỹ (Trang 72)
Bảng 3.5.  Bảng thống kê, phân loại chiến lược giao tiếp của tuyến nhân vật nữ   có vị thế - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn sau 1975
Bảng 3.5. Bảng thống kê, phân loại chiến lược giao tiếp của tuyến nhân vật nữ có vị thế (Trang 78)
Bảng 3.6. Bảng thống kê tổng số hành động hỏi của tuyến nhân vật nữ nông dân - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn sau 1975
Bảng 3.6. Bảng thống kê tổng số hành động hỏi của tuyến nhân vật nữ nông dân (Trang 80)
Bảng 3.9. Bảng thống kê, phân loại chiến lược giao tiếp của tuyến nhân vật nữ   làm nghề tự do - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động hỏi của nhân vật nữ trong truyện ngắn sau 1975 trên cứ liệu lời thoại nhân vật trong truyện ngắn sau 1975
Bảng 3.9. Bảng thống kê, phân loại chiến lược giao tiếp của tuyến nhân vật nữ làm nghề tự do (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w