BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHNGÔ THỊ HỒNG NHUNG ẨN DỤ VỀ HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI VIỆT QUA TỤC NGỮ, CA DAO DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN CHUYÊN NGHÀNH: NGÔN NGỮ HỌC MÃ SỐ: 6
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGÔ THỊ HỒNG NHUNG
ẨN DỤ VỀ HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI VIỆT
QUA TỤC NGỮ, CA DAO DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
CHUYÊN NGHÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LÊ ĐÌNH TƯỜNG
NGHỆ AN - 2012
Trang 2Lời cảm ơn
Luận văn này được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn tận tìnhcủa
PGS.TS Lê Đình Tường, sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo phảnbiện, các thầy cô giáo trong bộ môn Ngôn ngữ và bạn bè đồng nghiệp.Nhân đây cho phép chúng tôi được gửi lời cảm ơn chân thành nhấtđến tất cả các quý thầy cô và các bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt làthầy giáo
Lê Đình Tường - người đã trực tiếp hướng dẫn và động viên chúng tôi thựchiện và hoàn thành luận văn
Luận văn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, vìvậy rất mong được sự góp ý chân thành của quý thầy cô và các bạn!
Vinh, tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Ngô Thị Hồng Nhung
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới của đề tài 5
6 Cấu trúc Luận văn 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Ngôn ngữ học tri nhận 6
1.1.1 Khái lược về ngôn ngữ học tri nhận 6
1.1.2 Những nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận 7
1.2 Ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận 11
1.2.1 Ý niệm là đơn vị của tư duy, là cơ sở nghiên cứu ngữ nghĩa và văn hóa 11
1.2.2 Ý niệm là đơn vị tinh thần, là đơn vị nội dung của bức tranh thế giới được phản ánh trong bộ óc con người 12
1.3 Ẩn dụ ý niệm 12
1.3.1 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống 13
1.3.2 Ẩn dụ ý niệm 14
1.4 Vài nét về tục ngữ và ca dao Việt Nam 17
1.4.1 Tục ngữ Việt Nam 17
1.4.2 Những đặc trưng cơ bản của tục ngữ Việt Nam 17
1.4.3 Ca dao Việt Nam 19
1.4.4 Những đặc trưng cơ bản của ca dao Việt Nam 20
1.5 Tục ngữ và ca dao về hôn nhân 22
1.5.1 Khái niệm hôn nhân 22
1.5.2 Tục ngữ và ca dao về hôn nhân 24
1.6 Tiểu kết 26
CHƯƠNG 2
Trang 4ẨN DỤ VỀ HÔN NHÂN CỦA NG ƯỜI VIỆT
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO
2.1 Hôn nhân là MỘT THỰC THỂ HOÀN CHỈNH 29
2.1.1 Hôn nhân là sự gắn kết hai thực thể thành một thực thể thống nhất và gắn bó với nhau 29
2.1.2 Hôn nhân là sự hấp dẫn của thực thể này với thực thể kia và ngược lại 31
2.2 Hôn nhân là MỘT ĐÔI, MỘT CẶP 32
2.2.1 Hôn nhân là sự kết hợp hai thực thể tách biệt thành một cặp 33 2.2.2 Hôn nhân là sự kết hợp hai thực thể tách biệt thành một cặp để cùng thể hiện chức năng, bổn phận 34
2.3 Hôn nhân là HAI MÀ LÀ MỘT, MỘT MÀ LÀ HAI 36
2.3.1 Vợ chồng là sự kết hợp giữa hai thực thể có mối quan hệ gắn bó 36 2.3.2 Vợ chồng là một đôi để cùng góp công, góp sức với nhau 38
2.3.3 Vợ chồng cùng nhau tạo nên giá trị chung 39
2.4 Hôn nhân là MỘT SỰ TÍCH HỢP CÁC GIÁ TRỊ 40
2.4.1 Hôn nhân là sự tích hợp các giá trị trong cuộc sống thường nhật 40 2.4.2 Hôn nhân là sự tích hợp các giá trị trong cuộc sống khi có biến cố 42
2.5 Hôn nhân là MỘT VẬT QUAY QUANH MỘT VẬT KHÁC 45
2.5.1 Hôn nhân là sự kết hợp hai thực thể có khả năng gắn kết 45
2.5.2 Hôn nhân là sự kết hợp hai thực thể bao bọc lấy nhau 46
2.5.3 Hôn nhân là sự kết hợp hai thực thể có bổn phận nâng giá trị cho nhau 47
2.6 Hôn nhân là SỰ SỞ HỮU 48
2.6.1 Sự sở hữu thể hiện ở việc thu nhận 48
2.6.2 Tính sở hữu được tri nhận như sự thiếu vắng, mất mát …… 51
2.7 Hôn nhân là SỰ CÂN ĐỐI HÀI HÒA 53
2.7.1 Sự cân đối về hình thể 53
2.7.2 Sự cân đối về phẩm chất, tinh thần 54
2.8 Tiểu kết 56
CHƯƠNG 3
Trang 5CƠ CHẾ ẨN DỤ Ý NIỆM VỀ HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI VIỆT
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO
3.1 Một thực thể gồm hai thực thể thành phần 59
3.1.1 Hôn nhân là sự kết hợp của hai thực thể khác loại 60
3.1.2 Hôn nhân là sự kết hợp của hai thực thể có mối quan hệ không thể tách rời 61
3.2 Hai thực thể tồn tại cùng nhau và ràng buộc nhau để tạo nên một giá trị 68
3.2.1 Hai thực thể tồn tại cùng nhau tạo nên giá trị 68
3.2.2 Hai thực thể ràng buộc để tạo nên một giá trị 70
3.3 Một thực thể hoàn chỉnh về hình thức và phẩm chất 78
3.3.1 Một thực thể hoàn chỉnh về hình thức 78
3.3.2 Một thực thể hoàn chỉnh về phẩm chất 81
3.4 Không hôn nhân là vật thể khiếm khuyết, là trái với lẽ thường 85
3.4.1 Một thực thể thiếu hoàn chỉnh 85
3.4.2 Một thực thể trái với sự tồn tại của nó mà người ta mong muốn 88
3.5 Tiểu kết 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Kho tàng tục ngữ ca dao người Việt thực sự là một tài sản vôgiá, nơi lưu giữ những "hòn ngọc quý" không dễ gì nhạt phai giá trị dù phảitrải qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian và thị hiếu của người thưởngthức Đến với tục ngữ, ca dao người Việt là đến với địa chỉ lưu giữ cái đẹp,đến với kho tàng lưu giữ trải nghiệm của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ.Đến với tục ngữ ca dao, ta hiểu thêm về điệu hồn, về nếp nghĩ của ngườibình dân lao động trải qua bao thời kì, bao hoàn cảnh được thể hiện, đượcgửi gắm nhờ tài năng sử dụng ngôn ngữ kì diệu của các tác giả dân gian
Tục ngữ ca dao là tiếng đàn muôn diệu của tâm hồn con người, nócất lên những giai điệu tươi vui rộn ràng và không ít những khúc nhạc buồnthương Đặc biệt hơn qua tục ngữ và ca dao thì hôn nhân được thể hiện mộtcách rõ nét và đặc sắc, qua đó nhân dân thể hiện được tình cảm, nỗi lòng,tâm trạng của mình Chính vì vậy, tìm hiểu tục ngữ ca dao nói chung, ẩn dụ
về hôn nhân của người Việt nói riêng là dịp để chúng ta tiếp tục tìm hiểu,khám phá giá trị, hiệu quả thẩm mĩ của tục ngữ ca dao về hôn nhân nóiriêng và tục ngữ ca dao Việt Nam nói chung
1.2 Ngữ nghĩa học cấu trúc, ngữ nghĩa học hình thức đã làm nhiệm
vụ như những tia sáng soi rõ các lớp nghĩa, giúp người đọc hiểu rõ các lớpnghĩa trong tục ngữ ca dao nói chung Cũng nhờ vậy, người tiếp nhậnkhông chỉ hiểu những nội dung ý nghĩa mà người bình dân muốn gửi gắmqua tục ngữ ca dao mà còn yêu thích, quý trọng hơn vốn di sản quý báu củadân tộc mình, càng tha thiết yêu hơn vẻ đẹp tâm hồn của người dân đấtViệt Tuy nhiên, là một sản phẩm được làm nên bởi những đặc trưng,những bản sắc văn hóa của dân tộc, tục ngữ ca dao người Việt ẩn chứa tiềmnăng vô tận về ý nghĩa, chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc
1.3 Ngôn ngữ học tri nhận tiếp tục công việc nghiên cứu, tìm hiểungôn ngữ ở một góc nhìn mới Đây là một khuynh hướng trong khoa học
Trang 7vê ngôn ngữ ra đời vào nửa sau thế kỉ XX có đối tượng đặc thù là mối quanhệ giữa ngôn ngữ và quá trình tư duy của con người trên cơ sở kinh nghiệmvà suy luận logic Ngôn ngữ học tri nhận là một khuynh hướng mới đangrất thịnh hành của ngôn ngữ học hiện đại trên phạm vi toàn thế giới nênviệc thể nghiệm nó để nghiên cứu thiết nghĩ là việc nên làm Ý niệm là mộttrong những phạm trù cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận, mang tính dân tộcsâu sắc Nó là một khâu trung gian để kết nối giữa ngôn ngữ và văn hóa.
Nếu G Lakoff và M Johnsen đặt tiêu đề cho quyển sách về tri nhậncủa mình là "chúng ta sống bởi ẩn dụ" (Metaphor we live by-) để khẳngđịnh vai trò của ẩn dụ trong đời sống ngôn ngữ, thì chúng ta cũng có thểnói chúng ta sống bởi tục ngữ và ca dao, để khẳng định được tầm quantrọng của tục ngữ, ca dao trong đời sống con người Kì thực tục ngữ, ca daođã thấm vào tiềm thức người Việt Từ tri nhận, tư duy đến dấu ấn trongngôn ngữ hay phản chiếu song hướng giữa tục ngữ ca dao với ngôn ngữ làmột hệ quả tất yếu Với lí do vừa trình bày trên, chúng tôi mạnh dạn tiếpcận tìm hiểu đề tài: "Ẩn dụ về hôn nhân của người Việt qua tục ngữ, ca daodưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận", nhằm phân tích, lí giải khám phá giátrị, hiệu quả thẩm mĩ, nét độc đáo của tư duy ngôn ngữ dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu ca dao vớinhững quy mô và hướng tiếp cận khác nhau Tìm đọc các công trình nghiêncứu về tục ngữ, ca dao, chúng tôi thấy có ba xu hướng chính:
- Nghiên cứu tục ngữ, ca dao dưới góc độ Văn học;
- Nghiên cứu tục ngữ, ca dao dưới góc độ Thi pháp học;
- Nghiên cứu tục ngữ, ca dao dưới góc độ Ngôn ngữ học
Việc nghiên cứu tục ngữ, ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học khôngcòn là một vấn đề mới Đã có rất nhiều thành tựu có giá trị liên quan đếnhướng tiếp cận này Đó là các công trình nghiên cứu của các tác giả ĐỗHữu Châu, Hoàng Văn Hoành, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Nhã Bản, Đỗ Thị
Trang 8Kim Liên, Nguyễn Thiện Giáp và nhiều chuyên luận, luận án Những nămgần đây có một số tác giả đã tiếp cận tục ngữ ca dao người Việt từ góc độ
ngôn ngữ học tri nhận như "Ý niệm của người Việt về hôn nhân và quan hệ
vợ chồng trong ca dao từ bình diện tri nhận" của thạc sĩ Lê Thị Thắm (Đại
học Vinh, 2008), "Ý niệm của người Việt về tình yêu lứa đôi trong ca dao từ
bình diện tri nhận" của Nguyễn Thị Hà (Đại học Vinh, 2008), "Quan niệm của người Nghệ về hôn nhân và quan hệ gia đình trong ca dao Nghệ Tĩnh"
của Nguyễn Thị Sắc (Đại học Vinh, 2010), "Quan niệm của người Nghệ về
tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh" của Vương Thị Hồng Sâm (Đại học Vinh,
2010) Đây là một con đường mới cho những ai yêu thích tiếp tục tìm hiểu
Với xu hướng lấy "tri nhận" tiếp cận ngôn ngữ học, chúng tôi muốntìm hiểu hôn nhân qua tục ngữ, ca dao Nguyễn Đức Dương từng dẫn trong
quyển Tìm về linh hồn tiếng Việt rằng: "Ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc".
Điều đó khẳng định vai trò của ngôn ngữ học tri nhận - tìm hiểu xem conngười đã hiểu thế giới khách quan ra sao và ý niệm hóa nó thế nào trongngôn ngữ
Ở Việt Nam đã biết đến tri nhận ở những năm cuối thế kỉ XX, tuy
nhiên đây là hướng nghiên cứu chỉ rộ lên trong những năm gần đây, nổi bật
và tiên phong có thể kể đến Lý Toàn Thắng với Ngôn ngữ học tri nhận
-từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn Tiếng Việt (2005); Trần Văn Cơ với Khảo luận ẩn dụ tri nhận (2007) - Ghi chép và suy nghĩ ( 2009), đây là
những cuốn sách Tiếng Việt cần thiết cho những ai muốn bước đầu đi vàotri nhận luận Song song đó là những công trình đi sâu chi tiết vấn đề tri
nhận như Võ Thị Dung với Tìm hiểu tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri
nhận (Luận văn thạc sĩ, 2003); Trần Trương Mỹ Dung với Tìm hiểu ý niệm
"buồn" trong tiếng Nga và tiếng Anh (Ngôn ngữ, 2005, số 9); Nguyễn Thị Ý
Nhi với Bước đầu khảo sát ẩn dụ tình yêu trong tiếng Anh và tiếng Việt (Ngữ học trẻ, 2006); Hà Thanh Hải với Hiện tượng ẩn dụ: nhìn từ các
quan điểm truyền thống và quan điểm tri nhận luận (bài báo 2007); Lê
Trang 9Đình Tường với Thử phân tích một bài ca dao hài hước từ bình diện ngôn
ngữ học tri nhận (Ngôn ngữ học, 2008, số 9); Phan Thế Hưng với Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (Luận án tiến sĩ, 2008); Gần đây nhất
có thể kể đến Nguyễn Thị Thanh Huyền với Ẩn dụ tri nhận mô hình ẩn dụ
cấu trúc trên cứ liệu ca từ Trịnh Công Sơn (Luận văn thạc sĩ, 2009).v v.
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác tuy không nhắc đến ngônngữ học tri nhận, nhưng tinh thần và vật chất nằm trong phạm vi trung tâm
chú ý của NNHTN Chẳng hạn, tác phẩm của Nguyễn Đức Tồn Tìm hiểu
đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (trong sự
so sánh với dân tộc khác), (Nxb ĐHQG, H, 2002), trong đó tác giả nghiên cứu sự phạm trù hóa hiện thực và bức tranh ngôn ngữ về thế giới, ngữ nghĩa các từ chỉ bộ phận cơ thể người, công trình nghiên cứu của Trần
Ngọc Thêm Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (Nxb Tổng hợp TP HCM,
2004) góp phần đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu tục ngữ, ca dao trên cảhai phương diện: lý thuyết và ứng dụng thực hành
Trên cơ sở kế thừa thành quả các công trình của những người đitrước về việc tiếp nhận tác phẩm văn học từ bình diện tri nhận là định
hướng cho chúng tôi đi vào nghiên cứu "Ẩn dụ về hôn nhân của người Việt
qua tục ngữ, ca dao dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận".
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khuôn khổ của mình, luận văn đi vào tìm hiểu ẩn dụ về hônnhân của người Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận trong tục ngữ, ca
dao dựa trên số liệu in trong cuốn "Kho tàng ca dao người Việt" (Nguyễn
Xuân Kính - Phan Đăng Tài - Nguyễn Thúy Loan - Đặng Diệu Trang biên
soạn, Nxb Văn hóa thông tin, 1995); và Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam
(Vũ Ngọc Phan, Nxb Văn hóa Sài gòn, 2008)
Qua việc tìm hiểu ẩn dụ về hôn nhân của người Việt qua tục ngữ, cadao dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận , luận văn bước đầu thực hiện hóanhững nội dung cơ bản nhất của lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận và góp
Trang 10phần kiến giải về vẻ đẹp của tục ngữ ca dao Việt Nam, đồng thời góp phầnvào việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy tục ngữ ca dao ở trường phổ thôngtừ một góc nhìn mới.
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ đề ra, chúng tôi đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau:
- Thu thập và thống kê số liệu: Khảo sát các bài tục ngữ ca dao vềhôn nhân của người Việt Nam; thống kê các lớp từ xuất hiện, hiện tượng cótần số xuất hiện cao nhất, thống kê cấu trúc nghĩa phản ánh đặc trưng củachúng
- Phân loại và miêu tả số liệu thu được theo đặc trưng ngữ nghĩa
- Từ số liệu, tổng hợp và khái quát kết quả miêu tả thành ý niệm
5 Đóng góp mới của đề tài
Luận văn tập trung tìm hiểu, nghiên cứu ẩn dụ ý niệm về hôn nhâncủa người Việt qua tục ngữ ca dao và cơ chế ẩn dụ của nó từ bình diệnngôn ngữ học tri nhận Với cái nhìn hệ thống, góp phần phân tích, lí giảicác nét độc đáo trong tư duy của cộng đồng sử dụng tiếng Việt Kết quảLuận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc tìm hiểu cácvấn đề ngôn ngữ, dạy học các bài tục ngữ ca dao về hôn nhân gia đình ởchương trình phổ thông
6 Cấu trúc Luận văn
Ngoài phần "Mở đầu", "Kết luận" và "Tài liệu tham khảo", nội dungchính của Luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Cở sở lí thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Ẩn dụ về hôn nhân của người Việt
Chương 3: Cơ chế ẩn dụ ý niệm về hôn nhân của người Việt trongtục ngữ, ca dao
CHƯƠNG 1
Trang 11NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Ngôn ngữ học tri nhận
1.1.1 Khái lược về ngôn ngữ học tri nhận
Ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive Linguitics) là một khuynh hướngtrong khoa học về ngôn ngữ ra đời vào nửa sau thế kỉ XX, gắn liền vớinhững tên tuổi đã trở nên quen thuộc như: G.Lakoff và M.Johnson,R.Langaker, L.Talmy, W.Chafe, R.Jackendoff, G.Fauconnier, Ch.Fillmore,U.Neisser, E.Rosch, A.Wierzbicka, Yu.Stepanov, N.Aruchiunova,V.Demiankov, E.Kubriakova, V.Maslova, A.Parchin Cũng như các phânngành khoa học khác, ngôn ngữ học tri nhận cũng có mối quan hệ vớinhững ngành học khác thuộc khoa học tri nhận Khoa học tri nhận bắt đầu
phát triển ở Mỹ vào những năm 60 của thế kỉ XX, nghĩa là song song với
một khuynh hướng rất mới của ngôn ngữ học thế giới lúc đó là ngữ pháp
cải biên - tạo sinh của Chomsky Hai xu thế này có ảnh hưởng lẫn nhau và
chính vì thế Chomsky được coi là một trong những nhà sáng lập khoa học
tri nhận Bản thân Chomsky từng thừa nhận rằng lí thuyết ngữ pháp tạo
sinh của ông được thực hiện trong khuôn khổ của cuộc cách mạng tri nhận
vốn đưa lại một cách hiểu mới về bản chất và hành vi của con người, ông
viết: " Cuộc cách mạng tri nhận thể hiện sự quan tâm đến các trạng thái
của trí não, đến việc chúng biểu hiện ra sao trong hành vi của con người,
đặc biệt trong các trạng thái tri nhận của nó: tri thức, sự thông hiểu, sự giảithích, niềm tin và.v.v Cách tiếp cận với tư duy và hoạt động của con ngườitrong những thuật ngữ như trên làm cho tâm lí học và một phân môn cấuthành nó - ngôn ngữ học biến thành một bộ phận của khoa học tự nhiên vốnnghiên cứu bản chất của con người và các biểu hiện của nó, mà điều chủyếu là bộ não"
[Chomsky, 1991 Dẫn theo 58, 4 - 5]
Trang 121.1.2 Những nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận
Ngôn ngữ học tri nhận là một trường phái mới của ngôn ngữ họchiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sựcảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức màcon người tri giác và ý niệm hóa các sự vật và sự tình của thế giới kháchquan đó Tuy nhiên, để có được sự hình dung đầy đủ về ngôn ngữ học trinhận, chúng tôi xin trình bày một số nguyên lí và quan điểm cơ bản của
ngôn ngữ học tri nhận dựa trên các công trình nghiên cứu: Ngôn ngữ học
tri nhận - từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (Lý Toàn Thắng), Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của tư duy và ngôn ngữ ở người Việt
(trong sự so sánh với các dân tộc khác) (Nguyễn Đức Tồn), Về khuynh
hướng ngữ nghĩa học tri nhận (Lê Quang Thiêm), Hệ hình nhận thức trong nghiên cứu ngôn ngữ (Nguyễn Hòa), Ngôn ngữ học tri nhận là gì? (Trần
Văn Cơ)
1.1.2.1 Ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự trị
Ngữ pháp tạo sinh cho rằng ngôn ngữ là một khả năng tri nhận tự trịhay một "module" biệt lập với các khả năng tri nhận phi ngôn ngữ, trongkhi đó ngôn ngữ học tri nhận cho rằng sự biểu hiện của trí thức ngôn ngữ
về cơ bản giống y như sự biểu hiện của các cấu trúc ý niệm khác, các quátrình trong đó tri thức được sử dụng không khác nhau về cơ bản với cáckhả năng tri nhận mà con người sử dụng ngoài lĩnh vực ngôn ngữ Nói cáchkhác không nên coi khả năng ngôn ngữ là bộ phận thiên bẩm hoàn toàn độclập với khả năng tri nhận phổ quát, cơ chế tri nhận ngôn ngữ chỉ là mộtphần của cơ chế tri nhận phổ quát Nguyên lí này có hai hệ luận quan trọng:
- Tri thức ngôn ngữ (tri thức về ý nghĩa và hình thức) về cơ bản là
cấu trúc ý niệm, và biểu hiện ý niệm Hơn nữa, theo các nhà ngôn ngữ họctri nhận, các biểu hiện về cú pháp, từ pháp và âm vị học về cơ bản cũngmang tính ý niệm, bởi vì các âm thanh và các phát ngôn phải được tạo sinh
ở đầu ra và nhận hiểu ở đầu vào của các quá trình tri nhận chi phối sự nói
Trang 13viết và sự nghe đọc - vốn là hai quá trình của giao tiếp ngôn ngữ đều liênquan tới trí não.
- Bên cạnh đó, sự tổ chức và trừu xuất tri thức ngôn ngữ không khácgì nhiều sự tổ chức và trừu xuất các tri thức khác trong trí não và nhữngkhả năng tri nhận mà chúng ta ứng dụng khi nói và viết cũng không khác gìnhững khả năng tri nhận mà chúng ta ứng dụng cho những nhiệm vụ trinhận khác như tri giác bằng mắt, hoạt động suy luận hay vận động Do đóngôn ngữ là một khả năng tri nhận của con người và theo quan điểm trinhận thì ngôn ngữ là sự tri giác thời gian thực và sự tạo sinh theo thời giancác chuỗi đơn vị biểu trưng phân lập được cấu trúc hóa
1.1.2.2 Ngữ nghĩa và ngữ pháp là sự ý niệm hóa
Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng không thể quy cấu trúc ý niệm vàosự tương ứng đơn giản về điều kiện chân nguy với thế giới, rằng mộtphương diện chủ yếu của khả năng tri nhận của con người là sự ý niệm hóakinh nghiệm để giao tiếp và sự ý niệm hóa các tri thức ngôn ngữ mà chúng
ta có được Cho nên cần nghiên cứu tất cả các phương diện của cấu trúc ýniệm như cấu trúc của các phạm trù, tổ chức của các tri thức và đặc biệt làvai trò chủ đạo của các biến tố và các kết cấu ngữ pháp trong việc cấu trúckinh nghiệm theo những cách riêng biệt; cũng như quá trình ý niệm hóa ởcác hiện tượng ngữ nghĩa từ vựng như đa nghĩa và một số quan hệ từ vựngngữ nghĩa khác Chính vì vậy, ý kiến, quan niệm của con người về nhữngvấn đề trừu tượng thường được biểu đạt bằng ngôn ngữ thông qua cácphương thức ẩn dụ và so sánh
1.1.2.3 Tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ việc sử dụng ngôn ngữ
Ngôn ngữ học tri nhận là một mô hình đầy đủ định hướng vào sự sửdụng và người sử dụng (ngôn ngữ), bao quát các bình diện chức năng, dụnghọc, tương tác và xã hội - văn hóa của ngôn ngữ trong sử dụng
Nếu đi vào những luận điểm chi tiết hơn, chúng ta còn có thể nêuthêm một số quan điểm sau của ngôn ngữ học tri nhận:
Trang 14- Ngôn ngữ học tri nhận có một mục đích nghiên cứu là nghiên cứumột cách bao quát và toàn diện chức năng tri nhận của ngôn ngữ Theocách tiếp cận này, ngôn ngữ vừa là sản phẩm vừa là công cụ của hoạt độngtri nhận của con người.
- Nếu trước đây ngôn ngữ học truyền thống quan niệm ngôn ngữ mở
ra cho ta cánh cửa đi vào thế giới khách quan quanh ta thì bây giờ ngônngữ học tri nhận cho rằng ngôn ngữ là cánh cửa để đi vào thế giới tinh thầncủa con người, đi vào trí tuệ của nó, là phương tiện để đạt đến những bímật của các quá trình tư duy Với cách tiếp cận mới, các hình thức ngônngữ (các đơn vị, các phạm trù ) cần phải được nghiên cứu trong các mốitương liên của chúng với các cấu trúc tri nhận và sự giải thích mang tính trinhận Đồng thời, cần phải chuyển trọng tâm nghiên cứu từ tư duy sang ýthức trong cách hiểu ý thức như là nơi tập trung tất cả vốn kinh nghiệm tinhthần mà một con người tích lũy được trong suốt đời mình và nó phản ánhnhững ấn tượng, những cảm giác, những biểu tượng và những hình ảnhdưới dạng các ý niệm của một hệ thống ý niệm thống nhất Ý thức ngônngữ như là một bộ phận của ý thức nói chung, giống như tư duy chỉ là mộtbộ phận bao hàm các quá trình tinh thần được thực hiện trong ý thức.Chính trong khi nghiên cứu ý thức người ta phải khảo sát mối liên hệ củanó với hiện thực được lĩnh hội qua các ý niệm và khảo sát bản chất của cácý niệm đặc trưng cho ý thức này; nói cách khác, người ta phải quan tâmđến các quá trình ý niệm hóa và phạm trù hóa thế giới khách quan - lànhững lĩnh vực được nghiên cứu kĩ lưỡng nhất và thành công nhất củangôn ngữ học tri nhận nói chung và ngữ nghĩa học tri nhận nói riêng
- Ngữ nghĩa không phải được xây dựng trên cơ sở các điều kiệnkhách quan có giá trị chân nguy, nó không hề đối ứng với thế gới kháchquan bên ngoài mà đối ứng với thế giới phi khách quan được phóng chiếulại trong ý thức và đồng thời nó có quan hệ trực tiếp với cấu trúc ý niệm
Trang 15được ước định trong đó Sự hình thành các cấu trúc ý niệm này có quan hệchặt chẽ với kinh nghiệm và các chiến lược tri nhận của con người.
- Ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngônngữ mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong quátrình con người và thế giới tương tác với nhau, và từ tri thức và hệ thốngniềm tin của con người, vì thế trong nghiên cứu ngữ nghĩa không nên hoàntoàn tách rời tri thức ngữ nghĩa "đời thường" với tri thức bách khoa
- Vì chức năng cơ bản của ngôn ngữ là chuyển tải ý nghĩa nên nhữngsự khác biệt về hình thức phải phản ánh những sự khác biệt về ngữ nghĩa
Ngôn ngữ học tri nhận phân ra ba hướng chính trong cách tiếp cậnnghiên cứu những vấn đề trên:
Cách tiếp cận thứ nhất, thường được coi là có tính "kinh nghiệm",người ta chủ yếu tìm hiểu xem khi người nói tạo sinh (và nghe hiểu) các từvà câu thì cái gì xẩy ra trong trí óc anh ta, anh ta sẽ miêu tả ra sao các thuộctính của sự vật và những liên tưởng, những ấn tượng của anh ta về sự vậtấy Người ta nhận thấy rằng, những thuộc tính được người nói miêu tảdường như có phản ánh cái cách thức mà anh ta tri nhận về thế giới xungquanh và tương tác với thế giới ấy; những kinh nghiệm tích lũy được củachúng ta về thế giới cũng được tàng trữ trong ngôn ngữ hàng ngày và dovậy những kinh nghiệm ấy có thể thu lượm được từ cái cách thức mà chúng
ta diễn đạt các tư tưởng của mình
Cách tiếp cận thứ hai, chủ yếu quan tâm đến mức độ "nổi trội" củacác cấu trúc ngôn ngữ, cụ thể là việc các thông tin được lựa chọn và sắpxếp trong câu như thế nào
Cách tiếp cận thứ ba, chủ yếu quan tâm đến mức độ "thu hút sự chúý" của các yếu tố và các bình diện khác nhau của một sự tình
Sự thống nhất cao độ của ngôn ngữ và con người đang hành độngtrong thế giới hiện thực, con người suy nghĩ và nhận thức là vấn đề trungtâm của ngôn ngữ học tri nhận Nếu ngôn ngữ học trước đây, trong việc
Trang 16nhận thức ngôn ngữ, đã xuất phát từ những đối tượng ngôn ngữ như từ vàhình thái của nó, câu, văn bản thì dụng học ngôn ngữ dựa vào ngôn ngữhọc tri nhận xuất phát từ con người với những nhu cầu, động cơ, mục đích,ý định của nó, từ những hành động giao tiếp thực tiễn, từ những tình huốnggiao tiếp, trong đó con người phát huy vai trò chủ thể của mình.
1.2 Ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận
Theo Ju.X.Xtepanov: "Ý niệm tựa như một khối kết đông của nềnvăn hóa trong ý thức con người; dưới dạng của nó nền văn hóa đi vào thếgiới ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đócon người bình thường, không phải là "người sáng tạo ra những giá trị vănhóa"; và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hóa" [14,
này Ý niệm là đơn vị của tư duy, là yếu tố của ý thức Việc nghiên cứu mối
quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và văn hóa sẽ không đầy đủ nếu thiếu khâutrung gian này Ý niệm khác với quan niệm Theo Trần Trương Mỹ Dung(tr 62), ý niệm và quan niệm khác nhau ở những nội dung cơ bản sau:
- Ý niệm là sự kiện của lời nói, được hiện thực hóa qua lời nói Ýniệm gắn chặt với người nói và luôn định hướng đến người nghe Ngườinghe và người nói là hai bộ phận cấu thành nên ý niệm
- Ý niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng của "bứctranh thế giới", nó phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thứcngôn ngữ dân tộc Do đó, ý niệm mang tính dân tộc một cách sâu sắc
Trang 17- Ý niệm là đơn vị của tư duy (ý thức) của con người Hai thuộc tínhkhông thể tách rời nhau của ý niệm là trí nhớ và trí tưởng tượng Ý niệmkhông chỉ mang đặc trưng miêu tả, mà còn cả đặc trưng tình cảm, ý chí vàđặc trưng hình ảnh (hình tượng) Ý niệm không chỉ suy nghĩ mà còn cảcảm xúc Nó là kết quả của sự tác động qua lại của một loạt những nhân tốnhư truyền thống dân tộc, sáng tác dân gian, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinhnghiệm sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc và hệ thống giá trị Ý niệmtạo ra một lớp văn hóa trung gian giữa con người và thế giới Nó được cấuthành từ tri thức tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo lý, luật pháp, phong tục tậpquán và một số thói quen mà con người tiếp thu được với tư cách là thànhviên xã hội.
1.2.2 Ý niệm là đơn vị tinh thần, là đơn vị nội dung của bức tranh thế giới được phản ánh trong bộ óc con người.
Nói rộng ra, ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng
ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của ngônngữ bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí conngười Các ý niệm quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được vàtưởng tượng về một cái gì đó thống nhất, đưa chúng ta vào một hệ thống vàcho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới
Ý niệm sử dụng trong Luận văn chúng tôi đồng nhất với nghĩa quanniệm Vì vậy, chúng tôi đã sử dụng quan niệm có nghĩa là nó được soichiếu từ góc độ ý niệm của ngôn ngữ học tri nhận
1.3 Ẩn dụ ý niệm
1.3.1 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống
Ẩn dụ, theo truyền thống văn học và tu từ học, thường được coi làmột trong những kiểu chính của phép dùng từ theo nghĩa bóng, được xâydựng trên những khái niệm về sự tương tự và sự so sánh giữa nghĩa đen vànghĩa bóng của từ ngữ Ẩn dụ bao giờ cũng mang tính quy ước do được tạothành trong một cộng đồng văn hóa - ngôn ngữ và được từ vựng hóa trong
Trang 18các hình thức từ ngữ Và như vậy, trong quan niệm truyền thống, ẩn dụ làmột phương cách biểu thị các tư tưởng bằng ngôn ngữ.
Gần đây các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng, ẩn dụ còn là mộtcông cụ tri nhận hữu hiệu để con người ý niệm hóa các loại trừu tượng Ẩn
dụ, do vậy không chỉ là một phương thức diễn đạt ý nghĩa bằng ngôn ngữmà còn là một phương thức để tư duy về sự vật
Cho đến nay, giới ngôn ngữ học phân chia ra ba loại ẩn dụ như sau:
ẩn dụ từ vựng, ẩn dụ tu từ và ẩn dụ ý niệm (còn gọi là ẩn dụ tri nhận)
Ẩn dụ từ vựng là phương thức phát triển nghĩa mới của từ dựa trênnguyên tắc ẩn dụ, trong đó nghĩa mới tạo thành là một ý nghĩa từ vựng ổn
định loại ẩn dụ này có chức năng từ vựng hóa là chủ yếu Thí dụ: từ miệng
vốn là tên gọi của " bộ phận hình lỗ trên mặt người hay ở phần trước củađầu động vật, dùng để ăn; thường được coi là biểu tượng của việc ăn uống
hay nói năng của con người Ngậm miệng Há miệng chờ sung Do được
chuyển nghĩa theo ẩn dụ, miệng cũng được sử dụng để gọi phần trên cùng,
chỗ mở ra thông với bên ngoài của vật có chiều sâu Miệng bát Miệng
giếng Mở rộng miệng túi Vết thương sắp kín miệng [51, tr 610].
Ẩn dụ tu từ là một phương thức tu từ trong ngôn ngữ và văn học, nóchỉ là cách sử dụng từ ngữ lâm thời một cách có hình ảnh để nói về một sựvật hiện tượng khác, tức là chỉ có nghĩa tu từ mà không tạo ra ý nghĩa từvựng của từ Nó có chức năng quy ước hóa là chủ yếu Do vậy mới có khảnăng cùng chỉ một đối tượng nhưng với mỗi người lại có thể có cách diễnđạt bằng hình ảnh ẩn dụ khác nhau trong các ngữ cảnh khác nhau
Ví dụ khi nói về các đôi trai gái yêu nhau, hay đang tìm hiểu nhau,
ca dao đã dùng nhiều hình ảnh ẩn dụ khác nhau:
- Đò ơi có nhớ bến không?
Bến thì chực tiết thu đông đợi đò.
- Đến đây mận mới hỏi đào,
Trang 19Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa:
Vườn hồng có lối, nhưng chưa ai vào.
Khác với ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ, ẩn dụ ý niệm (ẩn dụ tri nhận),ngoài chức năng từ vựng hóa và quy ước hóa còn có chức năng ý niệm hóa,thể hiện cách tư duy tri nhận về sự vật của người bản ngữ theo nhữngphương thức nhất định
1.3.2 Ẩn dụ ý niệm
Ẩn dụ là một hiện tượng vô cùng thú vị và phức tạp của ngôn ngữhọc Nó là phương thức tư duy quan trọng nhất trong đời sống hàng ngàycủa chúng ta, là hiện tượng ngôn ngữ chính tắc Ẩn dụ là quá trình tri nhậnphổ biến nhất, nổi trội nhất nhằm liên kết khái niệm với ngôn ngữ, nókhông tồn tại trong bản thân ngôn ngữ mà trong chính tâm trí của chúng ta.Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng này Tuynhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu nhìn ẩn dụ dưới góc nhìn của truyềnthống từ vựng học và tu từ học, tức là chỉ xem ẩn dụ như một phương thứcphát triển nghĩa mới của từ (ẩn dụ từ vựng) hay là một phương pháp tu từ(ẩn dụ tu từ) Ở Việt Nam chưa có nhiều đề tài khảo sát và đánh giá hết tầmquan trọng của ẩn dụ trong ngôn ngữ đời thường hàng ngày và nhất là mộtcông cụ tri nhận mạnh mẽ để ý niệm hóa các phạm trù trừu tượng
Ẩn dụ ý niệm là một hướng nghiên cứu mới trong ẩn dụ học, có thểgiúp chúng ta tìm hiểu được mô hình tri nhận đã tác động đến cấu trúc vàtính hệ thống của ẩn dụ Trên cơ sở đó, ẩn dụ không chỉ thuộc phạm trùngôn ngữ mà còn thuộc phạm trù tri nhận, giải thích được ý nghĩ và hànhđộng của chúng ta qua ngôn ngữ hàng ngày Ẩn dụ là hiện tượng ngôn ngữchính tắc, là quá trình tri nhận phổ biến nhất, nổi trội nhất nhằm liên kếtkhái niệm với ngôn ngữ, nó không tồn tại trong bản thân ngôn ngữ màtrong chính tâm trí chúng ta Ngôn ngữ ký gửi tên ẩn dụ và là hướng đạosinh của ẩn dụ
Trang 20Dưới góc nhìn tri nhận luận, chúng tôi thấy rằng việc khảo sát,nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) là một việc làm hết sứccần thiết và có ý nghĩa trong việc nghiên cứu tri nhận cũng như ý niệm hóacác phạm trù, đặc biệt là các phạm trù của thế giới khách quan Tuy nhiên,đây là một việc làm đòi hỏi nhiều thời gian và công sức Trong đề tài củamình, chúng tôi chỉ dừng ở bước khảo sát về ẩn dụ gần gũi với cuộc sốnghàng ngày đó là ẩn dụ về hôn nhân.
Theo Reldy (1979), phần lớn ngôn ngữ chúng ta sử dụng hàng ngàymang tính ẩn dụ, trọng tâm ẩn dụ không phải là bản thân ngôn ngữ thể hiệnmà là ý nghĩ hay tư tưởng đằng sau đó [30, tr.12] Do vậy ẩn dụ là mộtphương thức chính yếu, không thể tách rời cuộc sống hàng ngày mang tínhquy ước khi chúng ta thường xuyên ý niệm hóa thế giới xung quanh ta vàcách xử thế của chúng ta hàng ngày phản ánh cách chúng ta hiểu biết mangtính ẩn dụ và các trải nghiệm của chúng ta
Lakoff và Johson (1980) cho rằng đối với nhiều người, ẩn dụ là mộtcông cụ trong thơ ca và là một biện pháp tu từ, vấn đề thuộc về ngôn ngữbậc cao chứ không thuộc về ngôn ngữ hàng ngày Hơn nữa, ẩn dụ thườngchỉ được xem là vấn đề ngôn ngữ thuần túy, vấn đề của từ ngữ hơn là vấn
đề thuộc phạm trù của tư tưởng và hành động " Chúng tôi nhận thấy rằng
ẩn dụ tỏa khắp đời sống hàng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà cả trong
tư tưởng và hành động Xét về cách chúng ta suy nghĩ và hành động, hệ thống khái niệm thông thường của chúng ta về bản chất mang tính ẩn dụ"
[30, tr.14]
Thật vậy, các từ ngữ con người sử dụng để mô tả các khái niệm trừutượng như thời gian, ý tưởng, cảm xúc, tình yêu hay thù ghét đều biểu hiệnqua từ ngữ ẩn dụ Nhiều nhà ngôn ngữ học từ lâu đã nhận thấy rằng ngônngữ ẩn dụ không chỉ biểu hiện qua việc sử dụng từ vựng để mô tả các kháiniệm mà còn tập trung vào một số chủ đề mang tính ẩn dụ Chẳng hạn, để
Trang 21diễn tả những khát khao về một mái ấm gia đình, một hạnh phúc riêng tư,tác giả dân gian đã tạo ra những mối tương quan mang tính ẩn dụ:
- Bao giờ cho hương bén hoa, Khăn đào bén túi cho ta bén mình, Thuyền không đậu bến Giang Đình,
Ta không, ta quyết lấy mình làm đôi.
- Bao giờ cho gạo bén sàng, Cho trăng bén gió cho nàng bén anh.
Mối tương quan giữa tình yêu, hôn nhân và các sự vật, hiện tượngnhư "gạo - sàng", "trăng - gió", "hương - hoa", "thuyền - bến" không chỉlà hình thức dùng ngôn ngữ để diễn tả tình cảm mà còn là cấu trúc thuộc vềtrí não mà Lakoff gọi là ẩn dụ ý niệm
Ẩn dụ ý niệm là loại ẩn dụ được dùng chủ yếu với chức năng trinhận sự vật, hiện tượng Dưới góc nhìn tri nhận luận, Black (1962) đã coi
ẩn dụ như là "công cụ tri nhận", nghĩa là nó không chỉ là một phương cáchbiểu thị các tư tưởng bằng ngôn ngữ mà còn là một phương cách để tư duy
về các sự vật Lakoff và John (1980) cũng chỉ rõ rằng "hệ thống ý niệm đờithường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của nó chúng ta suy nghĩ và hànhđộng, về bản chất là ẩn dụ" và do đó ẩn dụ không thể chỉ được xem xét ởriêng phạm vi từ ngữ mà phải ở phạm vi từ ngữ và hành động Chúng takhông chỉ dùng các ẩn dụ được quy ước hóa và từ vựng hóa và nhất lànhững ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) một cách thuần túy ngôn ngữhọc mà thực sự là chúng ta có suy nghĩ hay ý niệm hóa phạm trù "đích"thông qua phạm trù "nguồn" [48, tr 223]
Như vậy, từ góc độ tri nhận luận, ẩn dụ ý niệm là một sự "chuyển di"(transfer) hay một "sự đồ họa" (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tạicủa một lĩnh vực hay mô hình tri nhận nguồn (source) sang một lĩnh vựchay mô hình tri nhận đích (target) [48, tr 223]
Trang 221.4 Vài nét về tục ngữ và ca dao Việt Nam
1.4.1 Tục ngữ Việt Nam
Tục ngữ là một câu tự nó diễn tả trọn vẹn một ý, một nhận xét, mộtkinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán
Hầu hết tục ngữ đều do nhân dân sáng tác, nhưng cũng có một số ítcâu rút ở những thi phẩm đã được phổ biến sâu rộng trong dân gian và cũngcó những câu rút ở ca dao dân ca ra Như vậy, tục ngữ được cấu tạo trên cơ
sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, về sản xuất trong lâu đời, nó là nhữngcâu đúc kết, những nhận xét đã được nhiều người thừa nhận, để hướng dẫncon người ta trong sự nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc đời Tóm lại, tụcngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một số ý kiến dựa theokinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người và vũtrụ Văn học nghệ thuật nói chung đều là những hiện tượng ý thức xã hội vàtục ngữ (một trong nhiều thể loại của văn học dân gian) cũng là một hiệntượng ý thức xã hội
1.4.2 Những đặc trưng cơ bản của tục ngữ Việt Nam
1.4.2.1 Đặc điểm về nội dung
Quá trình lao động là quá trình phát triển khoa học và văn nghệ.Trong lao động, lý trí của con người phát triển cảm quan thẩm mỹ được tôiluyện; những sáng tác dân gian truyền miệng sản sinh trên cơ sở của laođộng sản xuất Lao động nhằm biến thiên nhiên phục vụ cho mình, nên conngười phải có những hiểu biết tối thiểu về quy luật của thiên nhiên Thờixưa tuy chưa có khoa học, nhưng bằng kinh nghiệm, tổ tiên chúng ta cũngnắm được trong một chừng mực nhất định quy luật của thiên nhiên Nhữngkinh nghiệm ấy thông qua tập thể, được đúc kết bằng những câu xuôi taihoặc vần vè và được phổ biến trong dân gian Đó là những câu tục ngữ vềthời tiết, về cày cấy, về trồng trọt, về chăn nuôi Trong quan hệ xã hội, giữangười với người, xuất hiện những câu tục ngữ rút ở sinh hoạt, có tính chất
Trang 23nhận xét, giải thích, khuyên răn, theo một luân lý và một thế giới quan nhấtđịnh.
Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở thực tế, do lý trí nhiều hơn là docảm xúc, tư tưởng biểu hiện trong tục ngữ là tư tưởng đanh thép, sắc bénrút ở cuộc đời Ở tục ngữ, tính chất phản phong là tính chất mạnh hơn cả.Tục ngữ còn là những câu do thói quen mà nói; nó là những câu thông tục.Tóm lại, về nội dung thì tục ngữ là những sự nhận định sau kinh nghiệmcủa con người ta về lao động, về sản xuất, về cuộc sống trong gia đình,cuộc sống trong xã hội Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nóđược đúc kết qua nhiều thế hệ của con người
Như về khí tượng có những câu:
- Quá mù ra mưa
- Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa
Về việc đời có những câu:
- Vở quýt dày, có móng tay nhọn
- Cõng rắn cắn gà nhà
Về lao động và sản xuất, có những câu sau:
- Lúa dé là mẹ lúa chiêm
- Nắng tốt dưa, mưa tốt lúaNhững nhận xét, những kinh nghiệm trên cũng không thể một ngàymà có; phải sau một thời gian nào đó mới ổn định thành một thứ phươngchâm Có những câu tục ngữ chỉ có ý nghĩa ở một địa phương, nhưng lại cónhững câu được truyền rộng với đường giao thông phát triển, nên nó đượcsự sữa chữa của nhiều người, trở nên những câu giáo huấn, chỉ đạo chongười đời
1.4.2.2 Hình thức nghệ thuật
Tục ngữ là những câu đã được nhiều người sửa chửa, truyền đi nhiềuđịa phương và chọn lọc qua nhiều thế hệ nên mới đầu nó có thể chỉ lànhững câu xuôi tai, hợp lý, sau mới trở nên những câu gọn gàng, cân đối
Trang 24hay vần vè Ở tục ngữ, những câu không vần vè là số ít; hầu hết tục ngữđều có vần, và vần rất phong phú Ở những câu tục ngữ ngắn, vần thườnglà vần lưng nghĩa là vần ở giữa câu và vần cách.
Khi phân đoạn thành những câu riêng lẽ, người ta thấy vần ở tục ngữrất phong phú, có khi vần ở chữ đầu câu dưới, vần ở chữ thứ hai câu dưới,
ở chữ thứ ba câu dưới Lối gieo vần ở tục ngữ đã làm khuôn mẫu chonhiều thể thơ Cả những lối đối chữ, đối nghĩa, tục ngữ cung cấp cho cácnhà thơ những hình thức phong phú có thể làm cho nội dung câu thơ nổihơn hết Như vậy, thể thơ lục bát và song thất lục bát của ta đã bắt nguồn từlối gieo vần của tục ngữ, ca dao
Xét về cả hai mặt nội dung và hình thức, tục ngữ là một loại văn họcdân gian đã phát triển trước ca dao Vì những lí do sau đây: tục ngữ lànhững câu ngắn, có câu chỉ là một lời nói xuôi tai, không vần vè, có nhiềucâu có thể xuất hiện vào thời tiếng nói của ta chưa phát triển mấy
1.4.3 Ca dao Việt Nam
Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt, xuất hiện vào khoảng cuối thế
kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX để chỉ các câu hát thôn dã đã được các nhà Nhosưu tầm biên soạn thành sách Trước khi có từ ngữ này, ca dao đã từng tồntại trong dân gian những từ khác để chỉ các hoạt động văn nghệ dân giannhư ca, hò, ví, hát, lý, ngâm, kể Kho tàng ca, hò, ví, hát dân gian dần dầnđược lưu ý hơn, ghi chép biên soạn lại một cách hệ thống hơn Và cũng từđó, tên gọi ca dao với nội hàm rộng hơn, phạm vi phản ánh đa dạng hơn, đãđược sử dụng rộng rãi thay cho tên gọi phong dao
Ca dao, theo "Từ điển tiếng Việt", là loại: "1 Thơ ca dân gian truyềnmiệng dưới hình thức những câu hát, không theo một điệu nhất định 2 Thểloại văn vần, thường làm theo thể lục bát, có hình thưc giống như ca dao cổtruyền" [52, 96]
Trang 25Các nhà nghiên cứu thống nhất rằng: Ca dao là một thể thơ dân gianđược quần chúng sáng tác để hát, để đọc theo thể lục bát trữ tình là chủyếu.
Ca dao không có ranh giới rõ rệt với dân ca Nó là phần lời thơ củacác bài dân ca - những sáng tác kết hợp thơ với nhạc Đây là loại vănchương truyền khẩu được sáng tác và diễn xướng trong môi trường laođộng và sinh hoạt tập thể Người ta không thể tìm được tác giả từng đơn vị
ca dao Có thể lúc đầu chỉ do một người sáng tác, nhưng trong quá trình lưutruyền bằng miệng từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệkhác, nó trở thành sản phẩm của cả cộng đồng Có thể nói, muốn hiểu biết
về tình cảm của nhân dân ta dồi dào, sâu sắc, thắm thiết đến mức độ nào thìkhông thể không nghiên cứu ca dao Việt Nam mà hiểu biết được
1.4.4 Những đặc trưng cơ bản của ca dao Việt Nam
1.4.4.1 Đặc điểm về nội dung
Người bình dân Việt Nam thời xưa rất ưa dùng ca dao - dân ca để thổlộ tâm tình và nói lên những suy nghĩ về cuộc sống Khi nói chuyện vớinhau, cùng với các câu tục ngữ, thành ngữ, họ cũng hay dẫn những câu cadao có ý nghĩa sâu sắc để lời nói thêm đậm đà và tăng sức thuyết phục.Nhưng chỉ khi ca hát họ mới bộc lộ được đầy đủ đời sống nội tâm củamình Rất nhiều hình thức ca hát đã trở thành những tập quán lâu đời gắnliền với những sinh hoạt lao động, sinh hoạt gia đình và sinh hoạt cộngđồng của người bình dân thời xưa Trong các sinh hoạt ca hát này, đã có rấtnhiều bài ca dao ra đời, diễn tả những suy nghĩ sâu sắc, những tâm trạng,những tình cảm và cảm xúc tiêu biểu của người bình dân đối với lao động,đời sống gia đình và xã hội
Bên cạnh nội dung diễn tả niềm vui lao động, tư tưởng đề cao laođộng, ca dao hay nói đến những nỗi vất vả trong lao động, những nổi đắngcay, buồn tủi vì cuộc sống nghèo khó, làm không đủ ăn Đời sống vật chấtthấp kém, cộng với những nỗi cực nhục mà những người dân "thấp cổ bé
Trang 26họng" phải chịu đựng trong một xã hội đầy rẫy những bất công do sự lộnghành của những kẻ có của và có quyền gây nên, đó là đề tài cho hàng loạtbài ca dao có tính chất than thân phản kháng, thể hiện sự bất bình, nói lênnhững đòi hỏi về dân chủ, nhân đạo của người bình dân thời xưa.
Một mảng nội dung lớn và hầu như bao quát toàn bộ các đề tài của
ca dao Việt Nam ấy là niềm khao khát sống đậm tình nặng nghĩa, có đạo lí,hiếu trung Nó được thể hiện trực tiếp qua:
- Tình yêu quê hương làng xóm
- Tình cảm gia đình
- Tình yêu nam nữ
- Tình thầy trò, tình bạn bè
Tình cảm những thành viên sống trong cùng một cộng đồng (làng nước)
1.4.4.2 Hình thức nghệ thuật
- Về thể thơ: Ca dao thường được sáng tác theo hai thể thơ truyền thống làthể lục bát và song thất lục bát Ngoài ra còn có thể nói lối (nói bằng vănvần, mỗi câu gồm từ hai, ba, bốn đến nhiều tiếng)
Mỗi thể thơ nói trên đều có những quy định về số tiếng trong câu, vềcách gieo vần và về thanh điệu (luật bằng - trắc) Nếu bài ca dao sáng tácđúng theo những quy định ấy thì ta có dạng nguyên thể Nhưng ca daothường hay sử dụng các dạng biến thể Phần lớn dạng biến thể là dạng củathể thơ trong đó các qui định tối thiểu về số lượng và trật tự của các vần vàcác thanh điệu thì vẫn được tuân theo, song số lượng các tiếng trong câu thìthay đổi
- Về cách diễn đạt ý và lập ý: Ca dao thường diễn đạt ý bằng các hình ảnh
so sánh và ẩn dụ: thường lập ý bằng hình thức đối đáp, hình thức mở đầubằng cách miêu tả khung cảnh thiên nhiên hoặc khung cảnh sinh hoạt, hìnhthức điệp ngữ
Trang 27- Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ thơ, song vẫn không cách xavới ngôn ngữ của lời nói hàng ngày, từ cách dùng từ tới cách đặt câu Tácgiả Mai Ngọc Chừ trong bài nghiên cứu về ngôn ngữ ca dao Việt Nam đã
khẳng định: "Ngôn ngữ ca dao đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt
vời nhất của Tiếng Việt Nó có cả những đặc điểm tinh túy của ngôn ngữ văn học đồng thời nó còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại vào một loại ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ" Thật vậy, ngôn ngữ ca dao có rất
nhiều những từ sinh động của lời ăn tiếng nói dân gian, những thành ngữ,tục ngữ, những lối chơi chữ dí dỏm và táo bạo Tính chất phương ngữ thểhiện trong ca dao rất rõ, in đậm dấu ấn phong cách nói năng của từng cộngđồng người ở mỗi vùng miền trên đất nước ta
1.5 Tục ngữ và ca dao về hôn nhân
1.5.1 Khái niệm hôn nhân
“Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ làm chồng
[Hoàng Phê chủ biên, (1998), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển học,Nxb Đà Nẵng, 416]
Theo truyền thống, hôn nhân người Việt có những đặc điểm sau:
a) Hôn nhân chỉ tồn tại giữa hai người khác nhau về giới tính
Thực chất và ý nghĩa của hôn nhân là mục đích xây dựng gia đình,thể hiện việc sinh đẻ, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, đáp ứng lẫn nhaunhững nhu cầu vật chất và tinh thần trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy hônnhân là sự liên kết giữa những người khác giới tính là một đặc điểm vừamang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội
b) Tính chất một vợ một chồng
Trong xu thế tiến bộ xã hội, sự khẳng định cá nhân con người ngàycàng lớn, đạo đức mới của con người không những phủ nhận kiểu hôn nhânmột chồng nhiều vợ, hoặc một vợ nhiều chồng như trước mà đòi hỏi tìnhyêu nam nữ phải biểu hiện trong mối quan hệ thủy chung một vợ, một
Trang 28chồng Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam coi một vợ một chồng làmột trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình XHCN làmột trong các điều kiện để thừa nhận việc kết hôn hợp pháp.
c) Chịu sự quy định theo một thể chế nào đó
Với vị trí là một thiết chế xã hội, hôn nhân có vai trò là cơ sở xâydựng gia đình - tế bào của xã hội Điều đó không chỉ có ý nghĩa riêng tư màcòn có ý nghĩa xã hội Bởi vì, trên cơ sở phát sinh quan hệ vợ chồng, cácquan hệ thân thuộc trong gia đình và các quan hệ thân thuộc được thiết lậpvà làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ đạo đức, pháp lý giữa các chủ thểtrong gia đình
d) Nhằm sức sản sinh
Hôn nhân đó là sự chung sống với nhau giữa hai người khác giới,đặc biệt là giữa họ có sự sản sinh, nhằm duy trì nòi giống và tạo chỗ dựavững chắc cho tương lai
e) Tính tự nguyện của hôn nhân
Hôn nhân là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, do đó việc thể hiện ýchí ưng thuận giữa các bên trong hôn nhân là một trong các điều kiện cănbản để hôn nhân có hiệu lực Hiện nay, pháp luật về hôn nhân và gia đìnhcủa các nước đều ghi nhận: không có hôn nhân khi không có sự tự nguyện
g) Tính bền vững (tính chất suốt đời) của hôn nhân
Tính bền vững của hôn nhân có thể xuất phát từ đạo đức truyềnthống và văn hóa của người phương Đông coi trọng tình nghĩa vợ chồng vàyếu tố bền vững trong hôn nhân, gia đình Tính bền vững của gia đình đảmbảo cho sự liên kết hạnh phúc, bền vững trong hôn nhân, hôn nhân có bềnvững thì gia đình và xã hội mới ổn định và phát triển
1.5.2 Tục ngữ và ca dao về hôn nhân
Thời phong kiến, nhân dân lao động Việt Nam sống một đời cơ cực,thiếu ăn, thiếu mặc và đành chịu dốt nát Trong số những người bị áp bứcbóc lột ấy, một nửa phần còn sống cực khổ hơn; nửa phần ấy là phụ nữ Sự
Trang 29cực khổ tăng thêm ấy mà phụ nữ phải chịu là do chế độ phong kiến gâynên, một chế độ trao quyền "gả bán" trong việc hôn nhân vào tay người giatrưởng và đặt người phụ nữ vào cương vị kẻ thành niên suốt đời, nhiều khinhư một món hàng đem bán vào tay ai cũng được.
Người phụ nữ Việt Nam đã đem sức lao động và kinh nghiệm củamình đóng góp rất nhiều vào công việc sản xuất và kiến thiết xóm làng, đấtnước, vậy không phải vì người đàn bà không làm được những việc như đànông mà họ phải ở vào địa vị thấp kém trong xã hội Lý do chính là chế độhôn nhân đã xây dựng trên cơ sở kinh tế của xã hội cũ, đặt người phụ nữvào một địa vị thấp kém Người phụ nữ tuy có lao động, có sản xuất, nhưngkhông có hưởng thụ Đồng thời, theo đạo "tam tòng" họ luôn luôn phải lệthuộc vào cha anh hay chồng con Trong chế độ phong kiến, việc quy địnhtài sản đối với phụ nữ là rất khắt khe Việc quy định ấy, chủ yếu làm chophụ nữ không bao giờ được độc lập về kinh tế, dù chính phụ nữ đã gópphần xây dựng kinh tế gia đình:
- Hỡi cô cắt cỏ đồng mầu!
Chăn trâu cho khéo làm giàu cho cha.
Trong thời phong kiến, người phụ nữ nông thôn hay cả nhân dân laođộng nói chung, nhiều lúc cũng tin ở số phận, cũng yên phận tạm thời trongviệc cưới gả Họ đã thốt ra những câu:
- Số giàu, lấy khó cũng giàu, Số nghèo, chín đụn mười trâu cũng nghèo.
Tục ngữ, ca dao hướng nhiều vào việc phản ánh các quan hệ tìnhcảm trong gia đình, đặc biệt là tình cảm vợ chồng Tình cảm vợ chồngđược tục ngữ và ca dao diễn tả bằng nhiều câu rất đặc sắc:
- Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi, Giậm ra nát ván thuyền thì long đanh Đôi ta lên thác xuống ghềnh
Em ra đứng mũi để anh chịu sào.
Trang 30Tục ngữ, ca dao về tình cảm vợ chồng, phần nhiều là lời của ngườivợ Những người vợ đảm đang, chung thủy, giàu lòng vị tha, đức hi sinh đã
để lại nhiều lời ca chân thực và có sức cuốn hút lạ thường:
- Vì chàng thiếp phải bắt cua, Những như thân thiếp, thiếp mua ba đồng
Vì chàng thiếp phải long đong, Những như thân thiếp, cũng xong một bề.
Hay:
- Vì chuôm cá phải tới đìa,
Vì chàng thiếp phải sớm khuya cõi này.
Có nhiều bài tục ngữ, ca dao nói về công sức, trách nhiệm và tìnhcảm của người vợ đối với sự học tập, thi cử của người chồng:
- Thiếp thì canh cửi việc nhà, Chàng thì đi học, đỗ ba khoa liền Khoa trước thì đỗ giải nguyên, Khoa sau tiến sĩ đỗ liền ba khoa Vinh quy bái tổ về nhà, Để thiếp trông thấy thiếp hòa mừng thay
Công thiếp lo liệu bấy chầy, Chàng đi ngựa thắm, thiếp nay võng đào.
- Xin chàng kinh sử học hành, Để em cày cấy, cửi canh kịp người Mai sau xiêm áo thảnh thơi
Ơn trời lộc nước đời đời hiển vinh.
Ngay cả trong những trường hợp người chồng có sai lầm (cờ bạcrượu chè…) thì người vợ trong tục ngữ, ca dao vẫn kiên trì chịu đựng,khuyên giải và lo liệu cho chồng:
- Chồng em nó chẳng ra gì,
Trang 31Tổ tôm xóc đĩa, nó thì chơi hoang Nói ra thì xấu thiếp hổ chàng Nó giận nó phá tan hoang cửa nhà,
Nói đây có chị em nhà Còn dăm ba thúng thóc với một vài cân bông
Em bán đi trả nợ cho chồng Còn ăn hết nhịn cho thỏa lòng chồng con.
Bên cạnh đó còn có những bài phản ánh trường hợp vợ chồng khôngxứng đôi vừa lứa, khiến cho người ta cảm thấy vợ chồng là gánh nặng, làcái nợ đời phải trả:
- Chồng gì anh, vợ gì tôi, Chẳng qua là cái nợ đời đó thôi.
Ca dao là tiếng đàn muôn diệu của đời sống tâm hồn quần chúng,biểu hiện nhiều mặt của tâm hồn nhân dân, nhất là tâm tư tình cảm Ca daolà tấm gương bức xạ hiện thực khách quan của dân tộc với lối sống, điềukiện sống và những phong tục tập quán riêng Hình ảnh về thiên nhiên,cuộc sống, về truyền thống dân tộc, quan hệ xã hội được phạm trù hóa theonhững cách khác nhau, bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau
1.6 Tiểu kết
Tục ngữ, ca dao là sản phẩm tinh thần vô giá, là sản phẩm nghệ thuậtngôn từ của người dân Việt Nó mang những nét chung trong mạch nguồncủa dân tộc, với những đặc thù về thiên nhiên, con người và truyền thốngvăn hóa, cũng như mang bản sắc của những người dân Việt Nam
Ngôn ngữ là phương tiện của giao tiếp, là công cụ của tư duy vànhân thức Với tư cách vừa là sản phẩm, vừa là công cụ trong hoạt động trinhận của con người, ngôn ngữ đã phản ánh quan niệm của cộng đồng sửdụng ngôn ngữ về từng vấn đề trong các lĩnh vực cụ thể Tục ngữ, ca dao
Trang 32chủ đề về hôn nhân đã cho chúng ta thấy được quan niệm của người dân
về vấn đề đó Ý niệm về hôn nhân được phản ánh bằng nhiều phương tiệnngôn ngữ khác nhau như từ, cấu trúc nghĩa biểu hiện, trường từ vựng ngữnghĩa…bằng các phương thức khác nhau như ẩn dụ, so sánh…
Quan niệm của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ phản ánh mối quan hệmật thiết giữa ngôn ngữ - văn hoá - tư duy Nó chính là kết quả của quátrình trải nghiệm và nhận thức và cũng là cách nhìn thế giới của con người.Quan niệm được hiện thực hoá qua ngôn ngữ thông qua các phương tiệnkhác nhau: từ, ngữ, câu, văn bản, thể hiện qua các phương thức so sánh, ẩn
dụ Vì vậy, muốn xác định quan niệm của một cộng đồng ngôn ngữ - vănhoá nào đó, không thể không xuất phát từ việc tìm hiểu phương tiện ngônngữ
Tục ngữ, ca dao từ ngàn đời nay được mọi thế hệ yêu mến và chấpnhận Nó được nhìn nhận trên hai phương diện đồng đại và lịch đại Tuynhiên, trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ nghiên cứu tục ngữ ca dao ởphương diện tính đồng đại, để có thể thấy được ẩn dụ về hôn nhân ngườiViệt qua tục ngữ ca dao
CHƯƠNG II
ẨN DỤ VỀ HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI VIỆT
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO
Trang 33Xuất phát từ cách hiểu về ẩn dụ ý niệm như đã trình bày ở chương 1,
chúng tôi cho rằng ẩn dụ về hôn nhân là một loại ẩn dụ mà trong đó hônnhân được hình dung như một sự vật, trạng thái hay sự kiện không có mốiliên quan gì với nó trong thực tế Nếu ta phân tích theo cơ cấu của một ẩn
dụ ý niệm, thì ở đây, hôn nhân với tư cách là ý niệm "đích", được ý niệmhóa thông qua ý niệm "nguồn" là những sự vật, hiện tượng thuộc một phạmtrù hoàn toàn khác, không có mối liên hệ gì với nó trong thực tế kháchquan
Với quan niệm nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm là một việc làm hết sứccần thiết và có ý nghĩa trong việc nghiên cứu sự tri nhận cũng như ý niệmhóa các phạm trù, đặc biệt là các phạm trù trừu tượng của thế giới kháchquan
Dựa vào mối quan hệ giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích về ẩn dụ
hôn nhân người Việt trong Kho tàng ca dao người Việt (Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên, Nxb Văn hóa - Thông tin, 2003) và Tục
ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Vũ Ngọc Phan, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2008),
chúng tôi nhận thấy, người Việt ý niệm hóa hôn nhân bằng các kiểu ẩn dụsau:
- Hôn nhân là một thực thể hoàn chỉnh
- Hôn nhân là một đôi, một cặp
- Hôn nhân là hai mà là một, một mà là hai
- Hôn nhân có giá trị tích hợp
- Hôn nhân là một vật quay quanh một vật khác
- Hôn nhân là sự sở hữu
- Hôn nhân là sự cân đối, hài hòa
2.1 Hôn nhân là MỘT THỰC THỂ HOÀN CHỈNH
Trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng, đó là quy luật tự nhiên của conngười và dường như đó là điều mà mỗi chúng ta ai cũng phải thực hiện
Trang 34Hôn nhân được diễn ra trên cơ sở và nền tảng của tình yêu, và kết hôn cũngchính là để duy trì và nuôi dưỡng tình yêu đó bền vững Hôn nhân là phảicó hai người, nếu thiếu đi một thì không thể có hôn nhân.
2.1.1 Hôn nhân là sự gắn kết hai thực thể thành một thực thể thống nhất và gắn bó với nhau
Mọi sự vật, hiện tượng trong xã hội đều có những mối liên hệ vớinhau Những mối liên hệ này được hình thành trên sự tương tác qua lại.Nhưng sự tương tác này không phải ngẫu nhiên, mà nó tương tác có mụcđích Hai đối tượng, hai thực thể riêng biệt nhưng khi kết hợp lại nó sẽ tạonên một sự hoàn chỉnh, đặc biệt tục ngữ và ca dao đã rất thành công khivận dụng sự tương tác đó
- Ai làm cho ách xa cày,
Trâu xa chạc mũi, đôi ta rày xa nhau
- Ai làm cho bến xa thuyền,
Cho trăng xa cuội, bạn hiền xa ta Ách là một sợi dây, thường được dùng để kết nối con trâu với cày Ách nhỏ bé, có phần giản đơn nhưng lại đóng vai trò hết sức quan trọng.
Nếu không có ách thì cày không có giá trị, ngược lại cày không có ách thì
cày cũng không có tác dụng Trâu và chạc mũi phải đi liền với nhau thì mới
phát huy hết tác dụng của công việc cày bừa
Thuyền là phương tiện giao thông nhỏ trên mặt nước, hoạt động bằng
sức người, sức gió Vì thế, thuyền cần một điểm dừng chân, đó chính là
bến Bến là nơi quy định cho tàu thuyền dừng lại để hành khách lên xuống,
xếp dỡ hàng hóa
Nếu thuyền không có bến thì thuyền không có điểm dừng chân, bến không có thuyèn thì bến không có tác dụng
- Ai làm cho chỉn (chỉ) lìa kim,
Cho bèo dạt sóng, cho em phong trần
Trang 35Kim và chỉ là những vật biểu trưng cho sự nhỏ bé, nhưng khi chúng
kết hợp lại với nhau thì tạo thành một cặp Kim muốn phát huy được tác dụng của mình thì kim cần có chỉ, và chỉ cũng cần có kim thì chỉ mới có giá
trị
Kinh nghiệm cuộc sống cho thấy, ách không có cày thì không sử dụng được, nó cũng chỉ là vật dụng vô nghĩa, thuyền không bến thì thuyền mãi lênh đênh, bến không thuyền thì không còn là bến đậu, hay chỉ lìa kim
thì nó cũng chỉ là những vật vô dụng
Những thực thể ách cày, trâu chạc mũi, bến thuyền, chỉn (chỉ)
-kim là những thực thể riêng biệt nhưng khi được kết hợp với nhau thì nó
sẽ thể hiện sự cân xứng, phù hợp gắn bó khăng khít, tạo thành một thực thểthống nhất để phát huy hết chức năng và công dụng của mình
Khi lấy các thực thể trong thế giới tự nhiên để thay thế cho conngười, thì chàng trai nào, người chồng nào cũng có thể là thuyền (trong mốiquan hệ với bến), là kim (trong mối quan hệ với chỉ), là mõ (trong mốiquan hệ với đình) Ngược lại cô gái nào, người vợ nào cũng có thể làthuyền (trong mối quan hệ với bến), là kim (trong mối quan hệ với chỉ), làmõ (trong mối quan hệ với đình) Đó chính là sự tác động qua lại, kết hợpgiữa hai thực thể mà thiếu thực thể này thì thực thể kia không tồn tại
- Gặp em cám cảnh cho em,
Đôi ta như rượu với men mặn nồng
Cũng giống như thuyền - bến, kim - chỉ thì rượu với men cũng là hai thực thể riêng biệt có mối quan hệ gắn bó với nhau Cần phải có men thì mới nấu thành rượu được, nếu rượu không có men thì không được xem là
rượu ngon Tác giả so sánh đôi ta như rượu với men để thể hiện sự cần
thiết có nhau và nhằm tôn giá trị cho nhau
Hôn nhân là sự gắn kết hai cá thể thành một thực thể thống nhất vàgắn bó với nhau Trong thế giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội, cáchình ảnh, hiện tượng luôn tồn tại trong mối quan hệ qua lại, tác động và
Trang 36ràng buộc nhau Hai yếu tố đó khi ở ngoài câu ca dao không quan hệ vớinhau nhưng ở trong câu ca dao thì tạo thành một cặp hoàn hảo.
Rõ ràng các thành tố trên nếu không được kết hợp với nhau thì sẽkhông tạo nên giá trị, công dụng và chức năng nào
2.1.2 Hôn nhân là sự hấp dẫn của thực thể này với thực thể kia và ngược lại
Bằng những trải nghiệm của mình, người Việt coi hôn nhân là mộtthứ kết dính hữu hình và cũng có thể vô hình, ràng buộc hai thực thể đếnvới nhau
Sự hấp dẫn, lôi cuốn manh mẽ của hai thực thể khi đến với nhau thật
khó cưỡng lại một khi đã dính vào nó Sự lôi cuốn, cám dỗ mạnh mẽ của
tình yêu khiến cho hai thực thể bất chấp mọi khó khăn, trở ngại để đến vớinhau:
- Chỉ điều ai khéo vấn vương, Mỗi người một xứ mà thương nhau đời
Chữ tình ai bứt cho rời
Tơ hồng đã định, ai dời đặng đâu.
Dù mỗi người một xứ, nhưng tình yêu thương họ dành cho nhau là
thương nhau đời Hơn nữa, tơ hồng đã định rồi thì không ai có thể chia
cách được chữ tình ai bứt cho rời.
Sự ràng buộc tình yêu của hai người có thể là do cơ trời định đoạt:
Hai ta tốt lứa đẹp đôi, Rồng mây cá nước duyên trời đã xe.
Khi họ gặp được người hòa hợp, gắn bó với nhau trong quan hệ yêuđương là bám như keo:
- Phải duyên thì bám như keo, Trái duyên trái kiếp như kèo đục vênh.
Để đến được với người mình yêu, là một cuộc hành trình đầy giannan thử thách Người bạn đời được xem là người bạn đồng hành, cùng đi
Trang 37trên một con đường và sẻ chia, gánh vác mọi công việc trong cuộc hànhtrình vô vàn khó khăn Khi anh và em, chàng và nàng đã gắn bó với nhau,chính là đi đến đích cuối cùng của cuộc hành trình
Khi tình yêu đơm hoa kết trái, hai người đến được với nhau, thì sợidây kia đã buộc hai người lại:
- Trăm năm xe sợi chỉ hồng, Buộc người tài sắc vào trong khuôn trời.
- Ai đưa mận đến với đào,
Ai đưa tình ấy buộc vào tình đây.
Khi cuộc hành trình trắc trở vì lý do nào đấy khiến hai người phảichia tay nhau, là lúc sợi dây gắn kết kia bị cắt đứt:
- Hai ta đang nhớ đang thương,
Ai về phân quế, rẽ hương cho đành
- Hai ta đang nối dây dài
Ai cầm dao sắc cắt hai dây lìa.
Như vậy, hành trình đến được với người mình yêu không phải dễdàng Họ phải vượt qua bao nhiêu sóng gió với bao nhiêu vất vả trên bướcđường tình Tuy thế, khi đã đến được với nhau thì họ là những thực thể gắnkết với nhau, không gì có thể ngăn cách được
2.2 Hôn nhân là MỘT ĐÔI, MỘT CẶP
Nói tới hôn nhân là nói tới sự kết hợp của hai thực thể Qua khảo sát,
ta thấy từ đôi cặp có tần số sử dụng cao, nó có cả một nhóm cấu tạo từ:
"đôi ta", ''tốt đôi", và những cấu trúc mang tính thành ngữ "có đôi có lứa",
"vừa đôi phải lứa" Ngoài ra từ đôi còn được sử dụng nhiều trong tư duy ngôn ngữ hàng ngày: đẹp đôi, tốt đôi, vừa đôi Như vậy, nếu phân tích theo
cơ cấu của một ẩn dụ ý niệm thì trong loại ẩn dụ này, hôn nhân và quan hệvợ chồng với tư cách là ý niệm đích, mà ở đây là ý niệm về đôi cặp được ýniệm hóa thông qua ý niệm nguồn là những sự vật, hiện tượng thuộc mộtphạm trù hoàn toàn khác, không có gì liên hệ với nó trong thực tế khách
Trang 38quan Dựa trên mối quan hệ giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích của các loại
ẩn dụ thu thập được, và phân tích cụ thể tài liệu thực tế, chúng tôi quy tụthành các luận cứ của cặp đôi
2.2.1 Hôn nhân là sự kết hợp hai thực thể tách biệt thành một cặp
Cặp là "tập hợp gồm hai vật, hai cá thể cùng loại đi đôi với nhau
thành một thể thống nhất"[52, 119]
Vợ và chồng vốn là hai thực thể tách biệt, khi họ đến với nhau, đếnvới hôn nhân thì họ tạo thành một cặp Nếu không có chồng thì người vợkhông được gọi là vợ, và không có vợ thì người chồng không được gọi làchồng Trong tư duy người Việt, trai gái đến tuổi trưởng thành thì lập giathất, và dường như điều đó đã ăn sâu trong tiềm thức của mỗi con người.Chức năng của người đàn ông, người phụ nữ trong gia đình là làm cha, làmmẹ Cũng như vợ và chồng thì khóa với chìa cũng là hai thực thể tách biệt:
- Đôi ta như khóa với chìa
Trọn niềm chung thủy, đừng lìa mới hay
- Đôi ta như gậy chống rèm,
Vừa đôi thì lấy, ai dèm mặc ai
- Đôi ta như cúc với khuy,
Như kim với chỉn (chỉ) may đi cho rồi
"Khóa", "gậy", "cúc" là những vật dụng được sử dụng hàng ngày trong
cuộc sống, tuy nhiên nó là những thực thể chỉ có giá trị khi có sự kết hợp
với thực thể còn lại Khóa phải kết hợp với chìa, gậy phải kết hợp với rèm,
cúc phải kết hợp với khuy, thì chúng mới có giá trị còn khi tách chúng ra
thành những thực thể riêng lẻ thì chúng không còn giá trị nữa
- Đôi tay nâng lấy cơi trầu, Miếng trầu không là vợ miếng cau là chồng
Ăn trầu mà không có miếng cau thì ai goi là ăn trâù, và nó cũngkhông tạo nên hương vị gì, không kết hợp trầu với cau thì chúng chỉ là
Trang 39những miếng trầu, miếng cau không hơn không kém Nói đến khóa với
chìa, gậy với rèm, cúc với khuy, cau với trầu cũng chính là nói đến vợ và
chồng:
- Đôi ta như vợ với chồng Chỉ hiềm một nỗi, ông tơ hồng chưa xe.
Với người Việt, mỗi cá nhân đều có ý thức xây dựng cuộc sống riêng
tư cho bản thân mình khi đến tuổi trưởng thành Vì thế, thành đôi là khátvọng thôi thúc mạnh mẽ:
- Cô kia cắt cỏ một mình, Cho anh cắt với chung tình làm đôi.
Nói đến hôn nhân, là nói đến sự kết hợp của hai thực thể khác loại,thể hiện sự mong muốn, khao khát tìm được người bạn đồng hành trongcuộc hành trình ấy:
- Anh như chỉ gấm thêu cờ,
Em như rau má dọc bờ giếng khơi, Dù anh mà chửa có nơi,
Em xin vượt bể qua vời theo anh.
Khi họ đến được với nhau, đó chính là đã có một sợi dây kết dính,ràng buộc họ lại với nhau:
- Giữa trời cây cả bóng cao, Nhân duyên đã định xây vào cho anh.
Hôn nhân cần sự gắn kết của hai thực thể thành một cặp và có sự hòaquyện, đồng điệu trong tâm hồn Sự hòa hợp giữa vợ và chồng là sự hài hòatương thích, có nhau và suốt đời vì nhau
2.2.2 Hôn nhân là sự kết hợp hai thực thể tách biệt thành một cặp để cùng thể hiện chức năng, bổn phận
Hai thực thể tách biệt thì chúng không có giá trị gì, nhưng khi kếthợp với nhau thì chúng thực hiện chức năng, bổn phận của mình:
- Dâu kia hết lá vì tằm
Trang 40Tình ta với bạn trăm năm đợi chờ
- Đôi ta như cúc với khuy,
Như kim với chỉn (chỉ) may đi cho rồi
- Đôi ta như gậy chống rèm,
Vừa đôi thì lấy ai dèm mặc ai
Các cặp dâu - tằm, cúc - khuy, gậy - rèm mỗi thành tố không thể
nào thực hiện được chức năng của mình nếu không kết hợp với các thành tố
còn lại Dâu mà không có tằm thì lá dâu cũng trở nên vô nghĩa, tằm mà không có dâu thì cũng không thể tạo thành tơ Mối quan hệ vợ chồng là
mối quan hệ của các thành tố trong hệ thống với nhau để thực hiện mộtchức năng nhất định:
- Đôi ta như bộ con cờ Trước ơn cha mẹ, sau thờ phận duyên
- Đôi ta như bộ con bài, Đã bắt thì bén, chớ nài thấp cao
Hơn thế, trong một bộ bài, bộ cờ mỗi con cờ, con bài giữ một chứcnăng và vị trí khác nhau, nó có tầm quan trọng nhất định Nếu thiếu bất cứmột con cờ, con bài nào thì không thành bộ bài, bộ cờ, và đặc biệt ngườichơi không thể chơi được
- Đôi ta như khóa với chìa,
Trọn niềm chung thủy đừng lìa mới hay.
Khóa không có chìa thì khóa không có chức năng khóa, chìa không
có khóa thì chià không còn chức năng mở Khóa và chìa là hai thực thể
tách biệt, nếu không kết hợp với nhau thì chúng là những vật vô dụng, nếukhông kết hợp với nhau thì không thực hiện được chức năng của nó Tácgiả dân gian đã khéo léo khi lựa chọn những mối tương quan mang tính