Giáo dục trí tuệ là quá trình tác động sư phạm có tổ chức, có kế hoạch của nhà giáo dục đến trẻ nhằm hình thành cho trẻ một số biểu tượng đơn giản về thế giới xung quanh và phương thức h[r]
Trang 1Trường Cao Đẳng Sư Phạm Sóc Trăng Lớp: Mầm non 16B
Về Giáo dục học
Mầm non
Trang 21. Lý Thị Qual Nia
Sơn Thị Diệu Hạnh
Nh óm
4
Trang 3Hệ thống giáo dục quốc dân
GD Mầm non GD phổ thông GD nghề nghiệp GD đại học
Nhà trẻ, nhóm trẻ GD Tiểu học Trường TC dạy nghề GD Trung học CS Trường mầm non Trường CĐ nghề Trường lớp mẫu giáo GD Trung học PT Trình độ CĐ Đại học Thạc sĩ Tiến sĩ
Trang 4- GD theo nghĩa rộng: Là một quá trình hình thành nhân cách được tổ chức có mục đích và có kế
hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ
giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội loài người.
- GD theo nghĩa hẹp: GD là bộ phận của quá trình sư phạm, quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động
cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những
hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội
Trang 5- GD mầm non: thực hiện việc chăm sóc và giáo dục trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi Bậc học mầm non gồm 4 bậc học:
+ Nhà trẻ, nhóm trẻ: nhận trẻ từ 3 tháng tuổi đến 3 tuổi
+ Trường, lớp mẫu giáo: Nhận trẻ từ 3 tuổi đến 6
tuổi
+ Trường mầm non: là cơ sở kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo nhận trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi
Trang 6- Trước CM tháng 8/1945: nuôi dạy trẻ hoàn toàn do gia
đình phụ trách, những gia đình khá giả có vú nuôi, thời kỳ này có những trại nuôi dạy trẻ mồ côi hay trại tế
sinh, có lớp mẫu giáo phục vụ cho người Pháp và gia
Trang 7- Sau CM tháng 8/1945: Hiến pháp 1946 ghi rõ: “Nhà nước
bảo vệ quyền lợi của những bà mẹ và trẻ em Bảo đảm sự phát triển các nhà trẻ và vườn trẻ”.
Sắc lệnh 146/SL (1946) ghi rõ “bậc học ấu trĩ nhận giáo dục trẻ em dưới 7 tuổi và sẽ tổ chức tùy theo điều kiện do bộ
quốc gia ấn định”.
Năm 1950, có ban mẫu giáo chuyển thành phòng mẫu giáo
1962, ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương thành lập đứng
ra tổ chức chỉ đạo nhóm trẻ.
1966, phòng mẫu giáo chuyển thành vụ mẫu giáo thuộc Bộ GD.
1971, Ban bảo vệ bà mẹ chuyển thành Ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trực thuộc hội đồng chính phủ.
Trang 8- Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng:
1975, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đảm trách nhà trẻ, mẫu giáo
do Bộ GD đảm trách.
1977, Ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em nhập vào Bộ GD và từ đó Bộ GD chính thức thống nhất quản lý chỉ đạo.
Từ 1987-1994, chương trình chăm sóc giáo dục trẻ cải cách từ
không chính thức chuyển thành chương trình chính thức.
Từ 1995, những nghiên cứu mới về ngành học mầm non và sự hội nhập giáo dục quốc tế.
Từ 2000 đến nay, GD MN đang thực nghiệm chương trình mới
diện hẹp đến diện rộng và được nghiệm thu chính thức năm 2005, đến năm 2007 toàn quốc bắt đầu thực hiện chung 1 chương trình
Trang 9Trẻ hôm nay
Thế giới ngày mai
Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em
Trẻ em là niềm vui của gia đình, của xã hội, là
nhân tài là rường cột của đất nước sau này Trẻ em là đối tượng giáo dục quan tâm nhất Vì giáo dục mầm
non là bậc học nền tảng trong hệ thống GD quốc dân, là cơ sở ban đầu ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách sau này Nhiệm vụ ban đầu về nhân cách con
người mới, làm cho trẻ phát triển toàn diện hài hòa, cân đối, tạo điều kiện cho những bước phát triển mới sau
này
Trang 10Xác định cho mỗi đứa trẻ 1 nền tảng nhân cách vừa khỏe khoắn, vừa mềm mại, đầy sức sống về thể chất lẫn tinh thần.
Thực chất quá trình GD trẻ em là sự tổ chức khoa học các quá trình sư phạm nhằm giúp đỡ trẻ em hình thành và phát triển nhân cách
Ví dụ: ở trường mầm non qua việc tổ chức của cô giáo, quá trình giáo dục được diễn ra bằng hoạt động phù hợp với tâm lý của trẻ em trong độ tuổi (0-6 tuổi)
Trang 11GDH MN là 1 chuyên ngành của GDH, có có nhiệm vụ xây dựng và tổ chức khoa học quá trình GD trẻ em độ tuổi (0-6) trước tuổi đến trường phổ thông Dựa
trên sơ sở khoa học mang tính quy luật chung của
GDH và tính đến những đặc điểm, đặc trưng suông
của sự phát triển sinh lý và tâm lý trẻ em nói chung ở lứa tuổi này GDH MN có nhiệm vụ nghiên cứu, xác định mục tiêu quy đinh nội dung, chỉ định phương
pháp và hình thức tổ chức GD trẻ em ở lứa tuổi này 1 cách khoa học để đạt được hiệu quả tối ưu cho trẻ em trong độ tuổi trước đến trường phổ thông
Trang 13Các nhiệm vụ của giáo dục bao gồm:
Giáo dục thể chất
Giáo dục trí tuệ
Giáo dục đạo đức
Trang 14GD thể chất cho trẻ là quá trình sư phạm tác động chủ yếu vào cơ thể trẻ, tổ chức cho trẻ vận động,
rèn luyện cơ thể, giữ gìn vệ sinh, tổ chức sinh hoạt hợp lý nhằm bảo vệ cơ thể trẻ phát triển hài hòa, ân đối, sức khỏe tăng cường đạt đến trạng thái hoàn
thiện về thể chất, làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện nhân các của trẻ
Trang 15Bé tập thể dục
Trang 16Nhiệm vụ:
- Bảo vệ cơ thể, tăng cường sức khỏe, đảm bảo phát triển đúng đắn về thể chất, rèn luyện cơ thể, nâng cao khả năng thích ứng của trẻ với môi trường bên ngoài
- Hoàn thiện vận động, rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và những phẩm chất thể lực
- Giáo dục kỹ năng, kỹ xảo, thói quen vệ sinh, nếp sống văn hóa
Trang 17 Ý nghĩa:
- Làm cho trẻ phát triển hoàn thiện về mặt thể chất để tham gia vào các mặt của đời sống xã hội, thích ứng nhanh với môi trường bên ngoài
- Là cơ sở cho sự phát triển cơ thể trong suốt cuộc đời sau này của trẻ, ảnh hưởng trực tiếp tới tâm lý, nhân cách của trẻ
- GD thể chất có mối quan hệ khăng khít với các
mặt GD khác, góp phần hình thành và phát triển
nhân các toàn diện cho trẻ
Trang 18Giáo dục trí tuệ là quá trình tác động sư phạm có tổ chức, có kế hoạch của nhà giáo dục đến trẻ nhằm hình thành cho trẻ một số biểu tượng đơn giản về thế giới xung quanh và phương thức hoạt động trí tuệ sơ đẳng, góp phần phát triển những năng lực và nhu cầu hoạt động nhận thức của trẻ em
Trang 20 Nhiệm vụ:
- Phát triển các quá trình nhận thức và năng lực hoạt động trí tuệ ở trẻ.
- Mở rộng hiểu biết về thế giới khách quan cho trẻ.
- Phát triển tính ham hiểu biết và nhu cầu hứng thú nhận thức ở trẻ em.
- Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ.
Trang 21Giáo dục đạo đức là quá trình tác độ có mục đích, có kế hoạch nhằm trang bị cho trẻ những hiểu biết về những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ có những tình cảm và hành vi phù hợp với yêu cầu xã hội mà trẻ đang sống Trên cơ sở đó hình thành cho trẻ những phẩm chất đạo đức, những nét tính cách của con ngươi Việt Nam mới.
Trang 23 Nhiệm vụ:
- Phát triển cảm xúc lành mạnh, hình thành
những tình cảm đạo đức ban đầu.
- Hình thành và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thói quan hành vi đạo đức.
- Hình thành những biểu tượng đạo đức sơ đẳng.
Trang 24Ý nghĩa:
- Là động lực giúp trẻ phát triển và hành động đúng
hướng trong quá trình trưởng thành
- Có quan hệ mật thiết với các mặt GD khác:
+ Với trí dục: Là tiền đề cần thiết để mở rộng hiểu
biết về các quan hệ đạo đức Nhận xét, đánh giá thái độ, hành vi của mình và của người khác
+Với mỹ dục: Tình cảm, cảm xúc đạo đức tích cực, những hành vi văn minh là cơ sở để giáo dục thẩm mỹ + Với GD thể chất & GD lao động: có thói quan vệ
Trang 25Giáo dục thẩm mỹ là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống nhằm hình thành và phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ và nhận thức đúng đắn về
cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội và trong nghệ thuật; giáo dục trẻ lòng yêu cái đẹp và năng lực sáng tạo ra cái đẹp
Trang 27Nhiệm vụ:
- Phát triể tri giác thẩm mỹ, khái niệm thẩm mỹ và tình cảm thẩm mỹ cho trẻ
- Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho trẻ
- Phát triển hứng thú, khả năng sáng tạo và hoạt
động nghệ thuật
Ý nghĩa:
- Là bộ phận quan trọng của nền giáo dục toàn
diện đối với trẻ, cần được tiến hành ngay từ nhỏ.- GD
Trang 28- GD thẩm mỹ có liên quan mật thiết với các mặt GD nhân cách con người phát triển toàn diện:
+ Với trí dục: giúp trẻ cảm thụ sâu & nhận thức sắc
về cuộc sống xung quanh mở rộng tầm nhìn lòng ham hiểu biết Ngược lại những hiểu biết sâu sắc về
nghệ thuật, giúp trẻ hình thành cảm xúc, tình cảm thẩm mỹ tốt đẹp
+ Với đức dục: Những yếu tố thẩm mỹ tác động đến việc hình thành tình cảm thẩm mỹ ở trẻ
+ Với GD lao động và GD thể chất: Vẻ đẹp của hoàn
Trang 29Giáo dục lao động là quá trình giáo dục cơ bản có
chức năng hướng dẫn trẻ rèn luyện mình trong lao
động, nhằm giúp trẻ nắm được một số kỹ năng, kỹ xảo lao động đon giản phục vụ cho sinh hoạt và
chuẩn bị cho trẻ sau này dễ tham gia vào đời sống lao động Đồng thời cho trẻ hiểu được vai trò của lao động, có tình cảm trong sáng với lao động: yêu thích lao động, quý tọng người lao động,…
Trang 31 Nhiệm vụ:
- Giúp trẻ tìm hiểu lao động của người lớn, GD trẻ
tôn trọng người lao động
- Dạy trẻ nhũng kỹ năng, kỹ xảo lao động giản đơn, tự phục vụ bản thân, lao động trong sinh hoạt tập thể, lao động trong thiên nhiên, lao động thủ công
- Dạy trẻ lao động trong tập thể, cùng với tập thể,
hình thành các mối quan hệ tập thể trong lao động
Ý nghĩa:
- Lao động sản xuất là hoạt động cơ bản của con
người, góp phần to lớn trong sự tồn tạo và phát triển loài người
Trang 32- Góp phần chuẩn bị thái độ, phẩm chất, kỹ năng lao động Ảnh hưởng sâu sắc tới việc hình thành và phát triển nhân cách.
- GD lao động có ý nghĩa quan trọng đối với tất cả
các mặt GD khác và liên quan chặc chẽ với chúng:
+ Đối với đức dục: Góp phần hình thành ở trẻ những phẩm chất đạo đức của con người mới
+ Đối với trí dục: góp phần mở rộng hiểu biết xung quanh cho trẻ, phát triển năng lực trí tuệ, rèn luyện trí óc cho trẻ
+ Với GD thể chất: đem lại cho trẻ co thể khỏe
mạnh, hài hòa, cân đối
Trang 33Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới:
- Khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa
- Giàu lòng yêu thương, biết quan tâm, nhường nhịn, giúp đỡ những người gần gũi
- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong
muốn tạo ra cái đẹp xung quanh
- Thông minh, ham hiểu biết, khám phá, tìm tòi
Trang 34Cho trẻ tuổi vườn trẻ (từ 0-6 tuổi) tiếp xúc với đồ vật, có thể coi hoạt động với đồ vật là phương pháp tổ chức GD chủ yếu
ở vườn trẻ.
Phê phán biểu hiện sai lệch trong thực tiễn GD trẻ (0-3 tuổi) là chỉ quan tâm đến việc nuôi dạy trẻ trong các khâu ăn, ngủ… mà không quan tâm đến việc tổ chức cho trẻ được hoạt động với đồ vật, giao tiếp với người xung quanh.
Cho trẻ MG (3-5 tuổi) lấy vui chơi làm hoạt động chủ đạo, với phương thức “Học mà chơi, chơi mà học” ở đây giải quyết
Trang 35Trẻ em lứa tuổi MN sống chủ yếu = đời sống tình
cảm với sự xúc cảm rất cao trước mọi tác động của môi trường Vì thế cần coi trọng GD trẻ = tình cảm, = tấm gương
Những phương pháp giao tiếp không phù hợp với lứa tuổi, coi trẻ MN như HS phổ thông áp dụng hình thức và phương pháp GD trẻ nhu HS phổ thông (lý thuyết dài dòng, át đặt, nhồi nhét trẻ…) là sai lầm, là phản khoa học Những cách tiếp cận như vậy với trẻ MN không mang lại hiệu quả GD mà chỉ dẫn đến sự phản tác dụng của GD
Trang 36Do đặc điểm phát triển của trẻ, do tính chất xã hội hóa cao của công tác chăm sóc, GD trẻ trong lứa tuổi MN nên GD MN có những tính chất sau đây:
- Mang tính GD gia đình (GD trẻ suốt tuổi thơ 24/24h-1 ngày) GD = tấm gương, = môi trường GD trẻ ở mọi
nơi, luôn thống nhất với quá trình nuôi dạy trẻ; vừa
chăm sóc, vừa bảo vệ và GD trẻ
Vì thế ở trường cô giáo cũng là người mẹ, ở nhà thì
Trang 37Theo AX Macarenco: “Mỗi m2 là một môi trường giáo dục trẻ thơ”.
- Giáo dục mầm non mang tính chất xã hội hóa và tính tự nguyện cao Ai là người không qua tuổi thơ?
Ai là người không cần đến sự giáo dục ở lứa tuổi mầm non? Vì thế giáo dục con người ở lứa tuổi
mầm non là quyền lợi, là nhiệm vụ của mỗi người đối với xã hội, với cộng đồng Vì thế giáo dục
mầm non là trách nhiệm của toàn xã hội
Trang 38- Mẫu giáo cần phải lấy trẻ em làm trung tâm của mọi quá trình sư phạm Lý thuyết giáo dục và thực tiễn công tác giáo dục trẻ ở đây cần phải xuất
phát từ đặc điểm của đứa trẻ cần gì ở người lớn, ở xã hội, ở nhà giáo dục và toàn thể sư phạm Nếu không xuất phát từ đứa trẻ sẽ dẫn đến sai lầm là áp đặt giáo dục trẻ bằng ý chí của người lớn Việc làm này không có ý nghĩa giáo dục và phát triển trẻ, mà chỉ làm hại trẻ trong việc hình thành và
phát triển nhân cách của chúng
Trang 39Tóm lại: Trẻ em là một nhân cách đang hình
thành và hoàn thiện dần với tốc độ phát triển rất
nhanh ở tuổi MN Vì thế một mặt phải tôn trọng trẻ
em, mặt khác phải tổ chức cho trẻ phù hợp với láu tuổi, để trẻ phát triển đủ nhân cách của mình
Cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe.