1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất ở đồng bằng sông cửu long (1992 2008

283 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 283
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách, pháp luật về đất đai của Đảng, Nhà nước về cơ bản là đúng nhưng cũng còn có hạn chế, nhất là khi triển khai thực hiện ở ĐBSCL, như nhiều vấn đề lý luận về chính sách đất đai,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN ĐĂNG KẾ

QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (1992 – 2008)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2015

Trang 2

-

TRẦN ĐĂNG KẾ

QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (1992 – 2008)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam cận hiện đại

Mã số: 62.22.54.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS VÕ VĂN SEN Phản biện độc lập

1 PGS TS Đinh Quang Hải

Trang 3

BẢN ĐỒ PHÂN BỐ CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÁNH CẤP TỈNH

VÀ VỊ TRÍ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Ở VIỆT NAM

Nguồn:

http://www.jayavarmancruise.com/useful_information_detail_18_Maps_49_M ekong_Delta_Maps.html

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập do chính tác giả thực hiện Các số liệu sử dụng trong luận án là trung thực Các chú thích đều có nguồn trích dẫn tài liệu tham khảo rõ ràng Các phân tích, đánh giá, kiến nghị và kết luận được đưa ra dựa trên cơ sở nghiên cứu của tác giả luận án, không có sự sao chép từ bất kỳ công trình khoa học nào khác đã công bố

TRẦN ĐĂNG KẾ

Trang 5

DẪN LUẬN 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10

3.1 Đối tượng nghiên cứu 10

3.2 Phạm vi nghiên cứu 10

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU SỬ DỤNG 11

4.1 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 11

4.2 Nguồn tài liệu sử dụng 12

5 NHỮNG LUẬN ĐIỂM CHÍNH VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 12

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN 14

Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIỆN, LỊCH SỬ, KINH TẾ - XÃ HỘI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT GIAI ĐOẠN TRƯỚC 1992 15

1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN CƯ VÀ QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 15

1.1.1 Điều kiện tự nhiên đồng bằng sông Cửu Long 15

1.1.2 Cư dân đồng bằng sông Cửu Long 20

1.1.3 Sơ lược lịch sử phát triển đồng bằng sông Cửu Long 21

1.2 TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRƯỚC NĂM 1992 24

1.2.1 Giai đoạn trước năm 1954 24

1.2.2 Giai đoạn 1954 – 1975 27

Trang 6

1.2.3 Giai đoạn 1986 – 1992 38

Tiểu kết chương 1 45

Chương 2

QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN 1992 - 2002 47

2.1 BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

GIAI ĐOẠN 1992 - 2002 47

2.2 LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 1993 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT Ở

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 50

2.2.1 Luật đất đai 1993 và chính sách ruộng đất của Đảng, Nhà nước

ĐAI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN 1992 - 2002 67

2.3.1 Tình hình tranh chấp, khiếu kiện 67

2.3.2.Việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại về quản lý, sử dụng đất đai

giai đoạn 1992 - 2002 75

2.4 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT ĐỐI VỚI PHÁT

TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

GIAI ĐOẠN 1992 - 2002 87

2.4.1 Thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội 87

2.4.2 Hình thành Việc tích tụ, tập trung ruộng đất 90

2.3.3 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân

tầng xã hội 99

Trang 7

Chương 3

QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN 2003 - 2008 108

3.1 BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN 2003 - 2008 108

3.2 LUẬT ĐẤT ĐAI 2003 VÀ TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN 2003 - 2008 110

3.2.1 Luật đất đai năm 2003 và chính sách ruộng đất của Đảng, Nhà nước giai đoạn 2003 - 2008 110

3.2.2 Những vấn đề ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long 2003 - 2008 124

3.3 TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP RUỘNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2003 - 2008 138

3.3.1 Tình hình tranh chấp ruộng đất 138

3.3.2 Giải quyết tranh chấp ở các địa phương 140

3.4 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG GIAI ĐOẠN 2003 - 2008 144

3.4.1 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 144

3.4.2 Tác động mạnh mẽ đến kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2003 - 2008 154

Tiểu kết chương 3 171

KẾT LUẬN 175

TÀI LIỆU THAM KHẢO 184

PHỤ LỤC 201

TÀI LIỆU BẢO VỆ CẤP TRƯỜNG 275

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Phụ lục 1 Tình hình ruộng đất giai đoạn trước 1992 (Từ bảng 1.1 đến

Trang 10

DẪN LUẬN

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), ngay từ đầu Đảng ta

đã xác định ruộng đất là vấn đề rất quan trọng Giải quyết “vấn đề ruộng đất” không những đem lại ruộng đất cho người nông dân, mà còn tổ chức cho nông dân sử dụng tư liệu sản xuất có hiệu quả, nâng cao không ngừng đời sống vật chất và tinh thần của họ, đưa nông dân đi lên sản xuất lớn XHCN, góp phần giữ vững ổn định vùng nông thôn

Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề ruộng đất, để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, góp phần giải quyết tốt vấn đề nông dân và nông thôn Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quan tâm lãnh đạo, đề ra chính sách ruộng đất phù hợp với từng thời kỳ, như thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930

- 1945), kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), kháng chiến chống

Mĩ, cứu nước (1954 - 1975), nhờ có chính sách ruộng đất đúng đắn như vậy, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, tạo tiền đề quan trọng cho cả nước đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH) và hiện nay đang tiếp tục công cuộc đổi mới thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bàng, văn minh

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với diện tích trên 40.000ha, đã cung cấp hơn 50% sản lượng lương thực của

cả nước Vì vậy, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước, việc giải quyết tốt vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL sẽ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao không chỉ cho nhân dân trong vùng, mà

Trang 11

còn đảm bảo an ninh lương thực của cả nước, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, tăng trưởng GDP (tổng sản phẩm quốc nội)

Xác định ĐBSCL có vị trí quan trọng về kinh tế - xã hội, do đó sau năm

1975, Đảng đã chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền các tỉnh, thành ở ĐBSCL cùng nhân dân tập trung giải quyết tốt chính sách về ruộng đất, như điều chỉnh ruộng đất; hàn gắn vết thương chiến tranh; thực hiện cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, góp phần tạo ra những chuyển biến về kinh tế -

xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Những thành tựu đạt được trong những năm đầu đi lên xây dựng CNXH và nhất là thời kỳ đổi mới đã góp phần đưa nông thôn ĐBSCL không ngừng phát triển ổn định về chính trị, xã hội, quốc phòng - an ninh; góp phần tăng trưởng giá trị xuất khẩu gạo, nông sản hàng hóa, Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tại những hạn chế, đó là: một bộ phận quần chúng nhân dân và cán bộ ở cơ sở trình độ còn thấp, chưa nhận thức hết tầm quan trọng và tác dụng của việc thực hiện chính sách ruộng đất cũng như Luật đất đai; còn lúng túng trong việc triển khai thực hiện các chính sách về ruộng đất Chính sách, pháp luật về đất đai của Đảng, Nhà nước về cơ bản là đúng nhưng cũng còn có hạn chế, nhất là khi triển khai thực hiện ở ĐBSCL, như nhiều vấn đề lý luận về chính sách đất đai, những vấn đề liên quan đến đất đai chưa được tổng kết rút kinh nghiệm; quan hệ sở hữu, sử dụng ruộng đất qua từng giai đoạn lịch sử chưa được giải quyết thỏa đáng; từ “Khoán 100” (năm 1981) đến “Khoán 10” (1988) và việc thực hiện Luật đất đai 1993, 2003 còn nhiều lúng túng, chưa cụ thể để trao quyền sử dụng ruộng đất ngày càng nhiều hơn cho nông dân, xây dựng kinh tế nông hộ thực sự là đơn vị tự chủ Cơ chế quản lý ruộng đất, quản lý nông nghiệp triển khai thực hiện ở ĐBSCL còn nhiều khiếm khuyết Một bộ phận cán bộ, cá nhân lợi dụng sự thiếu sót, sơ hở trong tổ chức thực hiện chính sách ruộng đất

để thao túng ruộng đất, làm giàu cho cá nhân, xây dựng lợi ích nhóm; gây

Trang 12

mâu thuẫn ở cơ sở; kích động, lôi kéo quần chúng tranh chấp đất đai, khiếu kiện, tố cáo kéo dài ở tỉnh, thành ĐBSCL,

Trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội, việc giải quyết vấn đề ruộng đất là nội dung, nhiệm vụ hàng đầu đối với cấp ủy, chính quyền các tỉnh, thành ở ĐBSCL Thực hiện chỉ đạo của Đảng, Nhà nước từ năm 1992 đến nay, nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu tổng kết lý luận và thực tiễn trên các phương diện về tình hình ruộng đất, tình hình phát triển công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến sở hữu ruộng đất, tranh chấp ruộng đất, Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã góp phần cùng Đảng, Nhà nước và các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương ĐBSCL bước đầu tháo gỡ những khó khăn, để tiếp tục triển khai thực hiện chính sách ruộng đất phù hợp hơn Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nội dung còn riêng biệt, chủ yếu gắn liền với từng tỉnh, thành địa phương, song chưa có công trình nghiên cứu về quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất giai đoạn 1992 - 2008 Từ nhận thức về ĐBSCL là nơi cung cấp lương thực chủ yếu, vừa xuất khẩu vừa góp phần dự trữ bảo đảm an ninh lương thực, nên việc đình đốn sản xuất ở đây sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh lương thực của cả nước; ĐBSCL những năm 1992 - 2008 có nhiều tranh chấp liên quan đến “Vấn đề ruộng đất” và ảnh hưởng không nhỏ đến chính trị - xã hội trong

vùng,…do đó Nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Quá trình giải quyết vấn đề

ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long (1992 - 2008)” làm luận án tiến sĩ,

chuyên ngành Lịch sử Việt Nam

1.2 Mục đích nghiên cứu

Luận án hướng tới mục đích làm rõ quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất

ở ĐBSCL từ năm 1992 đến 2008, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc giải quyết vấn đề ruộng đất nói chung và việc giải quyết vấn đề ruộng đất

ở ĐBSCL nói riêng

Trang 13

2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL, trước và sau năm 1992 có nhiều tác giả tham gia nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau, liên quan đến ruộng đất, như:

2.1 Những công trình nghiên cứu về lý luận và pháp luật ruộng đất

Các tác phẩm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Văn kiện Đảng: cung cấp những vấn đề lý luận mang tính kinh điển về vấn đề

ruộng đất, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nhất là quan điểm của Lênin về “tự nguyện” của người nông dân khi vào hợp tác xã; tư tưởng, đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng CSVN về vấn đề ruộng đất, thực hiện

“người cày có ruộng”

Các tác giả Qua Ninh (Trường Chinh) và Vân Đình (Võ Nguyên Giáp) với tác phẩm “Vấn đề dân cày” đã đặt vấn đề lớn, quan trọng là tại sao phải bàn đến vấn đề dân cày? dân cày là hạng người như thế nào? Tình cảnh hiện nay của dân cày, vấn đề dân cày thiếu ruộng? vấn đề cần nghiên cứu về đời sống dân cày, đồng thời phê phán những nhận thức, quan điểm sai lầm đối với dân cày và vạch rõ vị trí của dân cày trong quá trình phát triển cách mạng Việt Nam

Những năm cuối của cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp và trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cũng như sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, để tiếp tục thực hiện “người cày có ruộng” Đảng đã đề ra các nghị quyết về thực hiện cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp, cải tạo XHCN đối với các thành phần kinh tế Thực hiện chủ trương của Đảng, các nhà xuất bản đã xuất bản các tác phẩm là văn kiện, bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước giới thiệu, cụ thể hóa nghị quyết và vận dụng vào thực tiễn giải quyết vấn đề ruộng đất, vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân

Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng việc nghiên cứu

“vấn đề ruộng đất” được tư duy theo hướng đề xuất với Đảng, Nhà nước từng

Trang 14

bước hoàn chỉnh chính sách ruộng đất và gắn chính sách ruộng đất với pháp luật đất đai Viện nghiên cứu địa chính, Trung tâm nghiên cứu chính sách pháp luật đất đai (2005), phối hợp với Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản cuốn

“Các chủ trương, văn bản quy phạm pháp luật mới về chính sách quản lý sử dụng đất đai”, là công trình tập thể, các tác giả của viện đã tổng hợp giới

thiệu chủ trương của Đảng, Nhà nước về quản lý, sử dụng đất đai; nội dung các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai trong thời kỳ triển khai Luật đất đai năm 1993, 2003; PGS.TS Trần Quốc Toản - Ban chủ

nhiệm Chương trình KX-08-02, với tác phẩm “Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai lý luận và thực tiễn”; TS Đinh Xuân Thảo với tác phẩm “Hoàn thiện chế định sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay”, đã có những luận

chứng khoa học và các giải pháp thực tiễn làm sáng tỏ chính sách, pháp luật đất đai cho việc đổi mới quan hệ sở hữu đất đai ở nước ta

Ngoài ra, trong thời gian này còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí, với nội dung nghiên cứu về lý luận và pháp luật ruộng đất ở những khía cạnh

khác nhau, như Nguyễn Tấn Phát: “Chính sách đất đai ở Việt Nam trong thời

kỳ đổi mới”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 332 - tháng 1-2006; Nguyễn Thị Phượng: “Những bất cập trong quản lý nhà nước về đất đai hiện nay”, Tạp chí Quản lý Nhà nước số tháng 3-2007; Phạm Hữu Nghị: “Những quan điểm mới của Luật đất đai 2003”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 14 tháng 7- 2004; Minh Huệ: “Sở hữu ruộng đất, vấn đề lớn cần giải quyết”, Tạp chí Kinh tế nông thôn, số 7 tháng 7-2008; Trần Đăng Kế: “Một số bất cập trong luật đất đai năm 2003”, Tạp chí Công an nhân dân, số 8-2011, tr.65, tháng 8

năm 2011

Các công trình khoa học và bài viết của các tác giả nêu trên đã chỉ rõ những vấn đề lý luận về chính sách đất đai và pháp luật đất đai của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ đổi mới cần có tư duy đổi mới theo hướng đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước phải được pháp luật hóa Việc giải quyết vấn đề

Trang 15

ruộng đất trong giai đoạn này còn có những bất cập trong hệ thống pháp luật

về đất đai, đó chính là những trở ngại lớn trong chính sách ruộng đất của Đảng, Nhà nước, là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng tranh chấp ruộng đất ở nông thôn Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng Bên cạnh đó, các tác giả cũng trình bày một số nội dung thể hiện quan điểm, cách nhìn nhận về vấn đề sở hữu ruộng đất, trên cơ sở tổng kết quá trình thực hiện Luật đất đai năm 1993, 2003 và những vấn đề mới phát sinh

Năm 2002 còn có công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Sinh Cúc:

“Nghiên cứu về nông nghiệp nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986 - 2002” Tác giả đã trình bày một cách cơ bản về vấn đề nông nghiệp, một số

vấn đề liên quan đến chính sách ruộng đất và những chuyển biến về tình hình ruộng đất trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới Tuy nhiên, tác giả chỉ khái quát chung tình hình cả nước chưa đi sâu vào vùng ĐBSCL

Những công trình nghiên cứu về lý luận và pháp luật ruộng đất khá phong phú, cung cấp những thông tin rất cần thiết để nghiên cứu sinh vận dụng nghiên cứu vào thực tiễn ĐBSCL và từ thực tiễn tình hình ruộng đất ở ĐBSCL sẽ rút ra những vấn đề lý luận bổ sung hoàn thiện chính sách, pháp luật về ruộng đất

2.2 Những công trình nghiên cứu về ĐBSCL trong giai đoạn cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI

Có nhiều công trình nghiên cứu về ĐBSCL nói chung trong giai đoạn

cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI trên các lĩnh vực về kinh tế, chính trị, xã hội,

văn hóa, đời sống, như nhà báo Phan Quang với tác phẩm: “Đồng Bằng sông Cửu Long” (1981), Nxb Văn hóa, Hà Nội; PGS Huỳnh Lứa: “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ” (1987), Nxb thành phố Hồ Chí Minh; Viện khoa học

xã hội Việt Nam: “Báo cáo nghiên cứu bước đầu về vùng đất Nam Bộ trong lịch sử” (2004) và “Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam” (2006), Nxb Thế

giới, Hà Nội Các tác phẩm trên không chỉ cung cấp những nguồn tư liệu quý

Trang 16

về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội, vùng đất con người ĐBSCL mà còn được coi là những tác phẩm chính thống để tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân

và thế giới về lãnh thổ, chủ quyền quốc gia của Việt Nam ở phía Nam

Các bài viết liên quan đến người Khmer ở ĐBSCL, như GS Mạc Đường:

“Vấn đề dân cư và dân tộc ở ĐBSCL vào những năm đầu thế kỉ XX”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4-1982; Ngô Đức Thịnh: “Người Khmer ĐBSCL là thành viên của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lịch

sử, số 3-1984; các tác giả đi sâu giới thiệu những vấn đề liên quan đến đời sống văn hóa, tinh thần của người Khmer ĐBSCL nhất là phong tục, tập quán, người Khmer ĐBSCL đã định cư lâu dài cùng người Việt, là thành viên đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa, vùng đất con người ĐBSCL

Những công trình nghiên cứu về ĐBSCL trong giai đoạn cuối thế kỷ

XX, đầu thế kỷ XXI khá toàn diện trên các mặt kinh tế - xã hội, văn hóa và đời sống Song chưa xác định rõ những tác động của quá trình giải quyết vấn

đề ruộng đất đối với kinh tế - xã hội, văn hóa và đời sống ở ĐBSCL, đây là nội dung luận án cần làm rõ

2.3 Những công trình nghiên cứu về vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL

Tác giả PGS, TS Phan An: “Vài nét về ruộng đất nông thôn của người Khmer ở ĐBSCL”(1980), trong (Sưu tầm dân tộc học 1979) và “Một số vấn

đề kinh tế - xã hội vùng nông thôn Khmer ĐBSCL”, “Vấn đề Dân tộc học ở ĐBSCL” (1981), Nxb Khoa học xã hội Hà Nội; Phương Ngọc Thạch: “Những biện pháp thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL” (1987), Nxb thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Luật: “Suy nghĩ về tích tụ ruộng đất ở ĐBSCL” (2007), Nxb thành phố Hồ Chí Minh; Lê

Du Phong: “Hộ nông dân không đất và thiếu đất ở ĐBSCL”, Tạp chí Nghiên

cứu Kinh tế, số 243/8-1998, các tác giả đã nghiên cứu khá sâu về tình hình tích tụ, tập trung ruộng đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở ĐBSCL và mặt trái của nó là những hộ không đất, thiếu đất sản xuất dẫn đến

Trang 17

những hệ lụy phân tầng xã hội trong giai đoạn 1992 - 2008 và mối quan hệ giữa tích tụ, tập trung ruộng đất với tổ chức sản xuất

Nghiên cứu về tác động của chính sách ruộng đất đối với chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, tăng trưởng kinh tế, về mô hình tổ chức sản xuất trong việc sử dụng đất đai có: nhóm các tác giả Phạm Thị Cầm - Vũ Văn Kỷ - Nguyễn Văn

Phúc: “Kinh tế hợp tác xã trong nông nghiệp ở Việt Nam”(2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Hoàng Liên: “Một dạng kinh tế hàng hóa ở nông thôn”, Báo nhân dân số ra ngày 13-11-1980; Phạm Bảo Dương: “Xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp trong nông nghiệp nông thôn”, Tạp chí Kinh tế

và Dự báo, số 9-2004, Trong những bài viết trên, các tác giả đã phân tích thực trạng chuyển dịch tích cực trong sản xuất nông nghiệp dưới tác động của chính sách ruộng đất; tình hình tăng trưởng kinh tế với đóng góp quan trọng của sản xuất nông nghiệp; nêu những hạn chế, khó khăn trong tổ chức sản xuất nông nghiệp có liên quan đến giải quyết vấn đề ruộng đất; nêu lên một số định hướng về phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL theo hướng công nghiệp hóa; những kinh nghiệm, mô hình hớp tác sản xuất mới trong nông nghiệp phù hợp với ĐBSCL

Thời kỳ 1992 - 2008, là thời gian cả nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới

do Đảng lãnh đạo, chính sách ruộng đất của Đảng, Nhà nước thể hiện qua Luật đất đai năm 1993, 2003, các luật đất đai sửa đổi và các chỉ thị, nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống; ở nông thôn nhất là nông thôn ĐBSCL lợi ích của ruộng đất mang lại rất lớn, chính vì vậy tình hình khiếu kiện, tố cáo, tranh chấp ruộng đất ở ĐBSCL diễn ra phức tạp Việc giải quyết vấn ruộng đất lúc này phải gắn với giải quyết khiếu kiện, tố cáo và tranh chấp ruộng đất Giải pháp cho việc giải quyết khiếu kiện, tố cáo, tranh chấp ruộng đất, nhiều tác

giả đã đi sâu nghiên cứu, như: Trần Đăng Kế: luận văn thạc sĩ “Vấn đề tranh chấp đất đai sản xuất của đồng bào Khmer ở ĐBSCL 1988 - 2006”; TS Nguyễn Văn Nghệ: đề tài khoa học cấp Bộ “Giải quyết tranh chấp đất đai với

Trang 18

vấn đề đảm bảo an ninh trật tự ở ĐBSCL - Thực trạng và giải pháp” (2006); Trần Đăng Kế: “Về việc giải quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL từ 1992-2003”

và “Vài nét về tình hình quản lý và sử dụng ruộng đất ở ĐBSCL 2008)”,

(2003-Các công trình này bước đầu tổng kết diễn biến tình hình tranh chấp ruộng đất diễn ra ở ĐBSCL, rút ra những bài học, những kinh nghiệm giải quyết tranh chấp, khiếu kiện, tố cáo về vấn đề ruộng đất Ngoài việc nghiên cứu tình hình tranh chấp ruộng đất nói chung các tác giả còn đi sâu nghiên cứu vấn đề tranh chấp ruộng đất đã và đang ảnh hưởng lớn đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, tình hình tổ chức sản xuất ở ĐBSCL; nghiên cứu về

âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề ruộng đất cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội ở ĐBSCL

Những năm gần đây, khi Đảng và Nhà nước ta có chủ trương sửa đổi Hiến pháp năm 1992, tổng kết rút kinh nghiệm thực hiện Luật đất đai năm

1993, sửa đổi ban hành luật đất đai mới, nhiều công trình đã xuất hiện, như

cuốn sách Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai - Lý luận và thực tiễn Những nội

dung, kết quả nghiên cứu chủ yếu của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà

nước về Chính sách ruộng đất ở nông thôn (KX-08-02), thuộc chương trình khoa học nhà nước Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn (KX-08),

giai đoạn 1991-1995 do PGS, TS Trần quốc Toản chủ biên đã có những bàn luận xác đáng về chế độ sở hữu đất đai ở nước ta, về vai trò và quyền năng của Nhà nước, về các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Nhìn chung, các công trình khoa học nghiên cứu về ĐBSCL có liên quan đến vấn đề ruộng đất được công bố ở nhiều khía cạnh khác nhau từ năm 1992 đến năm 2008 khá phong phú, đã cung cấp nguồn tư liệu quan trọng định hướng cho luận án

Kế thừa thành quả nghiên cứu khoa học của TS Lâm Quang Huyên về

“Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam”; PGS, TS Võ Văn Sen: “Vấn

Trang 19

đề ruộng đất ở ĐBSCL của Việt Nam 1954 - 1975”; Nguyễn Thành Nam trong Luận án tiến sĩ “Việc giải quyết vấn đề ruộng đất trong quá trình đi lên

sản xuất lớn ở ĐBSCL giai đoạn 1986 - 1992” và những công trình mà tác

giả tiếp cận, nghiên cứu đã được công bố nói trên, cùng với những tài liệu tác giả trực tiếp khảo sát nghiên cứu tại các đơn vị địa phương, các trung tâm lưu trữ của Trung ương, thư viện các trường Đại học để hoàn thành luận án Làm sáng rõ thực trạng tình hình ruộng đất và quản lý sử dụng ruộng đất ở ĐBSCL

từ năm 1992 đến 2008

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là Quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL thời kỳ 1992 - 2008 Nội dung bao gồm: tình hình thực

hiện chính sách, pháp luật đất đai của Đảng, Nhà nước thời kỳ triển khai Luật đất đai năm 1993, 2003, các luật sửa đổi, bổ sung và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề ruộng đất; thực trạng tình hình ruộng đất ở ĐBSCL, những chuyển biến vấn đề quyền sở hữu, quyền sử dụng ruộng đất; tình hình và việc giải quyết tranh chấp, khiếu kiện, tố cáo về ruộng đất; tác động của việc giải quyết vấn đề ruộng đất đối với phát triển kinh tế - xã hội; rút ra những đặc điểm, những vấn đề có tính quy luật của quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL

Là công trình lịch sử kinh tế, luận án không đi sâu phân tích “vấn đề ruộng đất” dưới góc độ kinh tế, kỹ thuật mà tập trung tái hiện một cách khách quan diễn biến quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất trong tiến trình lịch sử, triển khai thực hiện chính sách pháp luật đất đai thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khẳng định xu hướng vận động của việc giải quyết vấn đề ruộng đất gắn với hoàn thiện pháp luật đất đai

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 20

- Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình giải quyết vấn đề

ruộng đất giới hạn từ năm 1992 đến năm 2008, tức là thời điểm triển khai Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1991; triển khai Hiến pháp 1992 và chuẩn bị triển khai Luật đất đai 1993, quá trình triển khai Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VII, 1993), Luật đất đai 2003

và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

- Phạm vi không gian: Địa bàn nghiên cứu là toàn vùng ĐBSCL gồm

13 tỉnh, thành phố: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau

và thành phố Cần Thơ, trong đó tập trung nhất là các tỉnh có nhiều nội dung liên quan đến mục đích nghiên cứu của luận án, đó là: Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Trà Vinh và thành phố Cần Thơ

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU SỬ DỤNG

4.1 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu về quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất trong thời kỳ lịch

sử hiện đại là một việc hết sức khó khăn khi nhiều vấn đề lịch sử, vấn đề lý luận chưa được tổng kết đánh giá đúng mức Do đó, để nghiên cứu luận án áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau

Về phương pháp luận, luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề ruộng đất, vấn đề nông thôn, nông dân Quan điểm của Đảng qua các Cương lĩnh và văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc

Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic để nghiên cứu các vấn đề cụ thể trong quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất qua thực hiện Luật đất đai năm 1993, 2003 và các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng phương pháp

Trang 21

tổng hợp, phương pháp thống kê để tổng hợp đánh giá những đặc điểm, những vấn đề có tính quy luật trong giải quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL

Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn, nhằm rút ra những ưu điểm, những thiếu sót trong chính sách ruộng đất thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phân tích các giải pháp đã được thực hiện trong giải quyết về vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL từ 1992 đến 2008

4.2 Nguồn tài liệu sử dụng

Nguồn tài liệu chính sử dụng gồm các tài liệu điều tra, báo cáo, lưu trữ ở các cơ quan lãnh đạo, quản lý và lưu trữ của Đảng, Nhà nước như văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Văn phòng Chính phủ, các Ban của Trung ương Đảng như Ban Tuyên giáo, Tổng cục Thống kê, các báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề, tài liệu lưu trữ của Tỉnh ủy, Thành ủy và Ủy ban nhân dân, các sở ban ngành, đặc biệt là sở thống kê của tỉnh, thành ĐBSCL, Nguồn tài liệu này có ưu điểm lớn là cung cấp tư liệu gốc cho quá trình nghiên cứu, cho việc tiếp cận sát với các quá trình lịch sử Tuy nhiên, hạn chế lớn của nguồn tài liệu này là thiếu tính hệ thống, tính thống nhất trong các số liệu cơ bản cũng như những khái niệm khoa học cơ bản, do đó tác giả đã hệ thống hóa, so sánh và chỉnh sửa nếu cần thiết, để có nguồn tư liệu cần thiết cho công tác nghiên cứu

Bên cạnh nguồn tài liệu nói trên, luận án còn kế thừa các công trình nghiên cứu khác, để tham khảo, đối chiếu đảm bảo tính chính xác, đó là những tác phẩm, đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, những bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành, nguồn tài liệu này cung cấp cho luận án những kinh nghiệm nghiên cứu về vấn đề ruộng đất trên phương diện lý luận, cũng như thực tiễn Tuy nhiên, phần lớn nguồn tài liệu này chỉ đề cập đến vấn đề ruộng đất nói chung, chưa nghiên cứu về giải quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL thời kỳ 1992 - 2008

Trang 22

5 NHỮNG LUẬN ĐIỂM CHÍNH VÀ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Để thực hiện nội dung luận án, những luận điểm chính cần giải quyết:

- Để giải quyết tốt vấn đề ruộng đất, Đảng, Nhà nước và các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương phải bám sát và thực hiện đúng chính sách, pháp luật về ruộng đất đã đề ra; cơ sở khoa học cho quá trình giải quyết vấn

đề ruộng đất là phải được thể hiện bằng luật

- Luật đất đai năm 1993, năm 2003 và các luật đất đai sửa đổi, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước là sự thể hiện việc Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở ĐBSCL

- Những bất cập của hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai với các luật khác, các chính sách kinh tế - xã hội; sự yếu kém trong công tác tổ chức thi hành pháp luật về đất đai; sự thiếu gương mẫu, suy thoái

về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức có tác động đến các tranh chấp, khiếu kiện, tố cáo về ruộng đất ở ĐBSCL

- Chuyển biến về sở hữu ruộng đất với hai quyền: quyền sở hữu, quyền

sử dụng ruộng đất là yếu tố khách quan có tác động đến tích tụ, tập trung ruộng đất và việc hình thành các mô hình tổ chức sản xuất mới, sự phân tầng

xã hội ở ĐBSCL Vì vậy, việc giải quyết vấn đề ruộng đất phải gắn với tổ chức lại sản xuất, giải quyết việc làm

- Quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL đã xuất hiện các mối quan hệ mới giữa nông thôn - nông nghiệp - nông dân theo nguyên tắc tự nguyện là một tất yếu, gắn với sự phân tầng xã hội, sự chuyển dịch kinh tế, sự liên kết tổ chức lại sản xuất

Luận án hoàn thành, có những đóng góp khoa học sau:

- Luận án là một công trình nghiên cứu về lịch sử kinh tế thời kỳ cận, hiện đại liên quan đến ĐBSCL, đóng góp quan trọng của luận án là làm sáng

rõ thực trạng tình hình ruộng đất và quản lý sử dụng ruộng đất ở ĐBSCL từ

Trang 23

năm 1992 đến 2008; qua đó sẽ giúp nhân dân ta hiểu rõ hơn những thuận lợi

và khó khăn về một vùng đất có vai trò, vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa của nước ta

- Luận án phản ánh quá trình vận dụng vào thực tiễn từ chính sách, pháp luật đất đai của Đảng ở ĐBSCL; tình hình giải quyết vấn đề ruộng đất và những tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế-xã hội thời kỳ 1992-2008

- Luận án giúp cho đội ngũ cán bộ và nhân dân ta hiểu rõ thêm những quan hệ có tính quy luật giữa hai quyền: quyền sở hữu, quyền sử dụng ruộng đất trong từng trường hợp cụ thể của ĐBSCL; thấy được một số mô hình sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL và hiệu quả của nó đối với phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn trong thời kỳ đổi mới

- Luận án tổng hợp và cung cấp những tư liệu khoa học phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy liên quan đến ruộng đất ở ĐBSCL

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Luận án gồm 5 phần:

- Phần dẫn luận - gồm 6 mục

- Phần kết quả nghiên cứu - nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội về đồng bằng

sông Cửu Long và tình hình ruộng đất giai đoạn trước 1992

Chương 2: Quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất ở đồng bằng sông

Cửu Long giai đoạn 1992 - 2002

Chương 3: Quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất ở đồng bằng sông

Cửu Long giai đoạn 2003 - 2008

- Phần kết luận

- Phần danh mục tài liệu tham khảo

- Phần phụ lục

Trang 24

Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, LỊCH SỬ, KINH TẾ - XÃ HỘI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT

GIAI ĐOẠN TRƯỚC 1992

1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN CƯ VÀ QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1.1.1 Điều kiện tự nhiên đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hay còn gọi là khu vực Tây Nam

Bộ hiện nay gồm có 12 tỉnh và một thành phố: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ Có diện tích tự nhiên gần 40.602,3km2, chiếm 12,8% diện tích cả nước, dân số trên 17.695 người [146; tr.11], [174], [175] Có đường biên giới Tây Nam giáp Vương quốc Campuchia trải dài qua các tỉnh Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Long An Phía Đông Bắc giáp các tỉnh Đông Nam Bộ: Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh Phía Đông giáp biển Đông với đường biển dài trên 700 km với khoảng 360.000 km2 khu vực đặc quyền kinh tế, phía Tây giáp vịnh Thái Lan ĐBSCL với diện tích đất nông nghiệp 26.500km2 [150; tr.24], [175] Đất đai có ba loại chủ yếu: đất phù sa ven sông chiếm 30% diện tích, nằm dọc sông Tiền và sông Hậu; đất phèn tập trung ở vùng Đồng Tháp Mười, Hà Tiên, Hậu Giang; đất mặn ven biển duyên hải Gò Công, Bến Tre, Cà Mau; đất phù

sa chưa được khai thác chiếm khoảng 67 vạn ha

ĐBSCL có hai hệ thống sông chính: hệ thống sông Cửu Long và Vàm

Cỏ Sông Cửu Long (sông MêKông) dài 4.200km, là một trong những con sông dài nhất thế giới, nhận và phân nước trên 800.000km2; phần hạ lưu chảy vào Việt Nam khoảng 250km, theo hai nhánh là sông Tiền và sông Hậu Sông Tiền chảy men theo Đồng Tháp Mười qua Châu Đốc, Sa Đéc, Vĩnh Long, Mỹ

Trang 25

Tho, Bến Tre, Trà Vinh; từ Vĩnh Long sông chia thành nhiều nhánh chảy ra sáu cửa: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu Sông Hậu chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng và chảy ra biển bằng ba cửa: cửa Đình An, cửa Bát Xác và cửa Tranh

Đề, giữa sông Tiền và sông Hậu có nhiều sông rạch nối liền chảy qua một vùng châu thổ rộng lớn độ dốc từ chân dốc ra đến biển là 4m, nên sông chảy chậm bề ngang rộng có nơi từ 2-3 km, uốn quanh nhiều khúc, tạo nên nhiều bãi phù sa gọi là cù lao Hai con sông tạo ra một nguồn thuỷ hải sản lớn, ở các cửa sông hàng năm có thể đánh bắt 100.000 tấn cá Sông Cửu Long là một hệ thống giao thông đường thủy quan trọng, có giá trị kinh tế cao, bắt nguồn từ Tây Tạng -Trung Quốc chảy qua các nước Lào, Mianmar, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam [92], [113]

Ngoài ra còn có sông Vàm Cỏ (chảy qua địa phận Long An), sông Giang Thành, sông Cái Lớn, sông Cái Bé (chảy qua địa phận Kiên Giang), sông Ông Đốc (chảy qua địa phận Cà Mau), vừa tạo ra cảnh quan môi trường thuận lợi cho phát triển du lịch sông nước, phát triển nông nghiệp, thuỷ hải sản vừa điều hòa khí hậu ở ĐBSCL

ĐBSCL nằm ở những vĩ tuyến thấp (từ 110 trở xuống) trong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng của khí hậu xích đạo, nên có nhiệt độ, độ ẩm cao đều trong năm ĐBSCL có hai mùa (mùa mưa và mùa khô), được phân biệt rõ rệt tương ứng với hai thời kỳ gió mùa; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng

10 dương lịch hàng năm, trùng với mùa gió Tây Nam và mùa khô từ tháng 11 hàng năm đến tháng 4 năm sau, trùng với khoảng thời gian có gió mùa Đông Bắc ở phía Bắc

Nhiệt độ trung bình trong năm không chênh lệch nhiều; nhiệt độ bình quân vào khoảng 26 - 270, nhiệt độ chênh lệch tháng nóng nhất và tháng thấp khoảng 3 - 40; Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1500 - 1900mm, ở Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang có khi lên tới 2000mm Mùa mưa cao điểm từ

Trang 26

tháng 6 đến tháng 9, lượng mưa cao nhất vào khoảng 300 đến 350mm/tháng Chế độ mưa thất thường có khi giữa mùa mưa vẫn có hạn, mưa quá nhiều gây ngập lũ ảnh hưởng đến trồng trọt

Vùng ĐBSCL ít bị ảnh hưởng của bão, tuy nhiên trong lịch sử cũng đã

có những cơn bão đổ bộ vào và gây tổn thất lớn, như các cơn bão năm 1918,

2001 Theo Tổng cục thống kê Việt Nam từ năm 1918 đến năm 2009 có 93 cơn bão hình thành trên biển Đông nhưng chỉ có 11 cơn bão có ảnh hưởng đến Nam Bộ, trong đó có 7 cơn bão vào ĐBSCL

ĐBSCL có hệ sinh thái tự nhiên rất độc đáo, đó là hệ sinh thái rừng ngập nước ngọt (Vườn quốc gia Tam Nông, rừng Trà Sư, vùng Đồng Tháp Mười), hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển (Vườn quốc gia U Minh Thượng, Vườn quốc gia U Minh Hạ), hệ sinh thái nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên Đặc biệt, hệ sinh thái rừng ngập mặn ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, có vai trò quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, giữ cân bằng môi trường sinh thái

ĐBSCL là một vịnh nông được phù sa bồi đắp, địa hình nhìn chung bằng phẳng Phía Đông Bắc có nền đất tương đối cao hơn các nơi khác của đồng bằng, nhưng đổ về phía biển, mặt đất thấp, sông ngòi và kênh rạch chằng chịt, đầm lầy nước đọng, phù hợp sinh trưởng của rừng ngập mặn với các loại cây bầu, cây đước, cây tràm Ngoài những cồn cát ven biển cao đến 5m, độ cao trung bình của đồng bằng châu thổ là từ 1-2m trên mực nước biển, hơi cao ở phía biên giới Việt Nam - Campuchia và thấp dần về phía biển Đông với độ dốc rất nhỏ (1cm/1km) Suốt dọc duyên hải từ huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh; huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang, đến huyện Gành Hào, tỉnh Bạc Liêu còn có nhiều giồng đất, đó là những dải đất rất hẹp, hơi cao, nằm song song nhau, dấu tích của bờ biển ngày xưa; những vùng đất ven sông, giồng đất duyên hải là những nơi cao ráo, nằm giữa vùng đất thấp ngập nước, rất thuận lợi cho việc cư trú và trồng trọt

Trang 27

Bên cạnh những giồng đất cao ráo, quá trình bồi đắp còn để lại trên mặt đồng bằng châu thổ nhiều vùng đất trũng rất rộng lớn; đồng Tháp Mười là một vùng trũng mênh mông, nằm giữa sông Vàm Cỏ Tây và sông Tiền, vào mùa nước lũ trở thành một biển nước và mùa khô thì nứt nẻ Ở phía Nam sông Hậu, khu tứ giác Long Xuyên nằm giữa thị xã Châu Đốc, thành phố Long Xuyên, Rạch Giá - Hà Tiên, vùng Phụng Hiệp, vùng U Minh cũng là những vùng trũng thấp rộng lớn[92], [113], [174], [175]

ĐBSCL là đồng bằng châu thổ đất phù sa mới, phần lớn diện tích (khoảng 1.000.000ha) là đất phù sa lắng tụ trong môi trường nước ngọt, độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc canh tác lúa và nhiều loại cây trồng khác Bên cạnh đó có khoảng 1,1 triệu ha đất phèn không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nằm ở vùng Đồng Tháp Mười, khu tứ giác Long Xuyên và vùng trung tâm bán đảo Cà Mau Ngoài ra, ở các vùng ven sông, ven biển nhất là các cửa sông diện tích đất bị nhiễm mặn khoảng 400ha

Do sự phân bố tự nhiên về đất đai nên nguồn tài nguyên chủ yếu của vùng châu thổ sông Cửu Long là lúa gạo Với diện tích đất nông nghiệp 26.500km2 /40.602,3km2, đại bộ phận (trên 92%) là đất trồng lúa có độ màu

mỡ cao (1/3 vào loại tốt bậc nhất) Thu hoạch toàn vùng hàng năm hiện nay khoảng trên 20 triệu tấn Hiện nay diện tích canh tác toàn vùng khoảng 2,6 triệu ha, phần lớn diện tích làm 2 vụ, có một số phần nhỏ làm 3 vụ

Ngoài lúa gạo, nuôi trồng và đánh bắt hải sản cũng chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế ĐBSCL; theo các tài liệu của tổ chức lương thực thế giới FAO Liên hợp quốc sản lượng, cá tôm ở bờ biển ĐBSCL ước tính vào khoảng 490.000 tấn/năm Vùng rừng ngập mặn với diện tích khoảng 350.000ha ở Cà Mau, Bạc Liêu, Rạch Giá, Hà Tiên còn cung cấp một nguồn lớn lâm sản tràm, đước, sú vẹt và động vật rừng Ở ĐBSCL còn có vỉa than bùn rộng lớn khoảng 80.000ha, dày trung bình 2m ở rừng U Minh, đó là

Trang 28

nguồn nhiên liệu quí đồng thời là nguồn phân bón có giá trị đối với nông nghiệp

ĐBSCL được bao phủ bởi mạng lưới sông ngòi, kênh rạch dày đặc; theo các tài liệu của Tổng cục thống kê Việt Nam chiều dài các kênh đào ở Nam

Bộ vào khoảng 2.500km, trong đó các sông rạch tự nhiên dài 2.400km Do đặc điểm địa hình nên rất phong phú và phức tạp về thủy tính, trừ các tháng mưa nước đổ mạnh xuống các sông ra biển còn lại cả năm dòng nước trên các sông xuôi êm và thủy triều có ảnh hưởng lớn đến vùng đất ven sông với chế

độ bán nhật triều, thủy triều hàng ngày lên xuống hai lần với biên độ lớn (3,5m - 4,2m); chu kỳ của thủy triều ảnh hưởng lớn đến lưu thông đường thủy, cũng như việc sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của nhân dân Ở vùng duyên hải, thủy triều đưa nước biển xâm nhập vào sông rạch; ở các huyện vùng biển Gò Công (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri (Bến Tre), vùng bán đảo

Cà Mau độ mặn nước dâng lên đến 35g/lít, ngang với nước biển Nước mặn xâm nhập khoảng 4g/lít bao trùm toàn bộ các khu vực Cà Mau, Hà Tiên, một phần Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An với trên 1.000.000ha[92], [113], [174], [175]

Với những yếu tố điều kiện tự nhiên nêu trên và lịch sử cấu tạo của đồng bằng cho chúng ta thấy ĐBSCL có nhiều yếu tố thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp Đặc biệt do đất đai màu mỡ, thời tiết ôn hoà nên ĐBSCL là vùng trọng điểm trồng lúa của Việt Nam và khu vực Song ĐBSCL cũng gặp phải không ít chướng ngại do thiên nhiên gây ra, như đất đai màu mỡ thuận lợi cho trồng trọt nhưng cũng thuận lợi cho cỏ dại phát triển; nhiều vùng ngập úng, chua phèn, nhiễm mặn, các loại chuột, sâu bệnh có điều kiện phát triển, vì vậy các thế hệ người nông dân định cư ở đây rất chú trọng đến các yếu tố kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi và tổ chức định cư trong quá trình khai phá và chinh phục

Trang 29

1.1.2 Cư dân đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSCL là một vùng đất màu mỡ, rất thuận lợi cho sự cư trú và phát triển của con người “Đất lành chim đậu”, ĐBSCL là nơi cư trú khá sớm của nhiều thành phần dân cư có nguồn gốc, nhiều tôn giáo và hình thức tín ngưỡng khác nhau trong đó có, người Việt, người Chăm, người Khmer, người Hoa

Trước thế kỷ XVIII, người Khmer và văn hóa của họ có ảnh hưởng lớn ở vùng đất này, nhưng từ thế kỷ XVIII đến nay cư dân người Việt và văn hóa vượt trội của họ đã trở thành nền tảng căn bản cho toàn bộ vùng ĐBSCL

Về đặc điểm phân bố dân cư, ĐBSCL có tốc độ tăng dân số nhanh, nhất

là những năm gần đây, đây là khu vực dân cư đông đúc thứ hai của cả nước sau đồng bằng sông Hồng Dân số toàn vùng năm 2007 là 17.524.000 người, chiếm 20,6% dân số cả nước Mật độ cư trú là 432 người/km2, gấp 1,7 lần mật

độ bình quân cả nước Dân cư sinh sống tập trung vùng ven triền sông Hậu và sông Tiền và thưa hơn ở các vùng sâu xa trong nội đồng như vùng U Minh, vùng Đồng Tháp Mười,… [92], [113], [146; tr.15], [174], [175]

Về quy mô dân số, tỉnh An Giang dẫn đầu khu vực với 2.231.000 người, thấp nhất là tỉnh Hậu Giang với 798.800 người Về mật độ dân cư, thành phố Cần Thơ có mức độ tập trung dân cư đông nhất với 824 người/km2;

kế đến là các tỉnh Vĩnh Long, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre; thấp nhất là Cà Mau, chỉ với 233 người/km2 Số dân thành thị năm 2007 là 3.717.000 người, chiếm khoảng 21,2% dân số toàn vùng, điều này cho thấy rõ tính chất nông thôn ở ĐBSCL [146; tr.14]

Tỷ lệ dân số ở ĐBSCL liên tục tăng: năm 1989 là 14,4 triệu, năm 1999

là 16,13 triệu người Tỷ lệ tăng giữa 2 cuộc điều tra 1979 và 1989 là 3,02%, giữa 1989 và 1999 là 2,01%, tỷ lệ tăng bình quân (2001 - 2005) là 1,1% Số người trong độ tuổi lao động (2004) là 9,28 triệu, chiếm 51% dân số, trung bình mỗi năm (2001 - 2005) tăng thêm 300 nghìn Năm 1996 chỉ có 7,4% số

Trang 30

người trong độ tuổi lao động được đào tạo chuyên môn từ sơ cấp trở lên, năm

2000 là 9,8% và 2004 là 14,6% [92], [146; tr.37], [113], [174], [175]

Về thành phần dân tộc, dân cư sinh sống ở vùng ĐBSCL bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có 4 dân tộc chính là: Kinh (Việt), Hoa, Chăm và Khmer Người Kinh chiếm đại đa số, sống ở hầu hết các nơi trong vùng Người Hoa tập trung nhiều ở các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau Người Chăm sống chủ yếu ở An Giang Người Khmer có mặt ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL và tập trung đông đúc nhất ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang [9; tr.45]

Tóm lại, nghiên cứu điều kiện tự nhiên và lược sử hình thành ĐBSCL

ta thấy các yếu tố vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất, khí hậu, nhất là đặc điểm cư dân và định cư của họ có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chuyển biến sở hữu ruộng đất; vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước trong giải quyết vấn đề ruộng đất Trong cộng đồng các dân tộc sống ở ĐBSCL khi giải quyết vấn đề ruộng đất cần đặc biệt chú ý đến những đặc điểm định cư và

các yếu tố chính trị văn hóa - xã hội của người người Khmer

1.1.3 Sơ lược lịch sử phát triển đồng bằng sông Cửu Long

Công cuộc định cư khai phá đất đai ở ĐBSCL, qua các tư liệu sử học, khảo cổ học, địa lý cho thấy người Khmer có mặt ở nơi này từ rất sớm Nhưng qua các di tích để lại ở vùng ĐBSCL, thì sự xuất hiện của con người ở đầu Công nguyên lại gắn liền với Vương quốc Phù Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ

VI, điều đó cho thấy cư dân Phù Nam có mặt ở đây trước người Khmer Những dấu tích được khai quật ở Óc Eo (Ba Thê - An Giang), nền Chùa (Kiên Giang), đã minh chứng điều đó Song trong quá trình phát triển và biến mất của Vương quốc Phù Nam thì còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ, nhưng nếu căn cứ vào sự biến đổi của tự nhiên, với hiện tượng lũ lụt luôn xảy

ra, sự chôn vùi của thị thành Óc Eo sau hàng ngàn năm thì có thể đó là một

Trang 31

trong những nguyên nhân dẫn đến sự biến mất của vương quốc này[174], [175]

Khi Vương quốc Phù Nam diệt vong, vùng đất ĐBSCL ngập trong nước nhiều thế kỷ Từ thế kỷ thứ VIII và kéo dài trong nhiều thế kỷ, cư dân của nhiều nước lân cận như Chiêm Thành ở phía Bắc, Chân Lạp quốc gia phía Tây Nam, đã đến định cư ở vùng đất này do nhiều nguyên nhân Đến thế kỷ XVII, số dân ở Nam Bộ có khoảng 20 vạn người, trong đó người Khmer cổ chưa phải là đa số, công cuộc khai phá ĐBSCL, ta thấy có công lao của người Khmer, nhưng bên cạnh đó còn có công lao của người Việt và người Hoa, nhất là người Việt đã đến chinh phục vùng đất này từ rất sớm

Cũng theo các tư liệu lịch sử còn để lại, khoảng năm 1622, Mạc Cửu ở Lôi Châu (Trung Quốc) vượt biển chạy sang Chân Lạp lánh nạn, được vua Chân Lạp cho khai phá vùng đất Sài Mạc (Hà Tiên), sau đó mở rộng ra Phú Quốc, Rạch Giá, Cà Mau Về sau, Mạc Cửu thấy chúa Nguyễn có uy thế nên

về hàng phục chúa Nguyễn, được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên; vùng đất này được sát nhập vào bản đồ Đàng trong của chúa Nguyễn, Mạc Cửu cho xây dựng thành lũy, nhà cửa, mở mang phố phường nên dân các nơi kéo về ngày càng đông, chẳng bao lâu trấn Hà Tiên trở thành một vùng sầm uất, phát triển thịnh vượng

Năm 1679, khoảng 3.000 quan quân nhà Minh không chịu khuất phục Mãn Thanh, do tổng binh thành Long Môn (Quảng Tây) là Dương Ngạn Địch

và Trần Thượng Xuyên cầm đầu, vượt biển vào Đà Nẵng xin hàng chúa Nguyễn, được chúa Nguyễn cho vào lập nghiệp ở vùng Sài Gòn, Đồng Nai,

Mỹ Tho, họ làm ruộng, làm nhà, lập ra phố phường, làm cho vùng đất Đông Nam Bộ ngày càng hưng thịnh [174], [175]

Người Khmer và người Hoa, người Việt tới ĐBSCL lập nghiệp, khai khẩn đất hoang chính họ đã cùng với người Khmer lao động đẩy lùi rừng hoang, đầm lầy, chinh phục đất bồi ven biển, để ổn định cuộc sống mới

Trang 32

Đặc biệt, khi nhà Nguyễn thực thi chính sách mở rộng bờ cõi xuống phía Nam thì làn sóng người Việt đến ĐBSCL khai hoang lập ấp ngày càng nhiều Năm

1620, vua Chân Lạp là Chây Chất muốn tìm triều đình Phú Xuân của chúa Nguyễn làm chỗ dựa, đã xin cưới công chúa Ngọc Vạn làm hoàng hậu Chúa Nguyễn Phúc Nguyên thuận gả con gái cho vua Chân Lạp, đổi lại Chân Lạp cho người Việt vào làm ăn buôn bán, khai khẩn đất đai, đó là điều kiện thuận lợi giúp cho chúa Nguyễn thực thi được chính sách mở rộng bờ cõi của mình Chính vì hoàn cảnh suy yếu, nhất là khi nội chiến liên tục diễn ra nên Chân Lạp phải dựa vào chúa Nguyễn để ổn định tình hình đất nước Biết ơn Chúa Nguyễn, Chân Lạp thường cắt đất nhường cho chúa Nguyễn, dẫn đến đất đai của Chân Lạp thu hẹp lại, còn đất đai và bờ cõi của chúa Nguyễn thì ngày càng được mở rộng ra và về cơ bản đến năm 1757, những phần đất còn lại của ĐBSCL đã thuộc quyền cai quản của Chúa Nguyễn [175, tr.28-29]

Khi bờ cõi được mở rộng, chúa Nguyễn đã thực thi công cuộc khai phá đất đai ở đây với quy mô và tổ chức ngày càng lớn, tiến hành đưa dân từ miền Trung vào vùng đất mới khai khẩn đất hoang, thi hành chính sách khuyến khích đặc biệt đối với việc khai phá đất hoang, cho phép người dân biến ruộng đất khai hoang được thành sở hữu tư nhân đồng thời mở mang các công trình thủy nông dẫn nước Giữa thế kỷ XVIII, về cơ bản chúa Nguyễn đã nắm giữ toàn bộ vùng ĐBSCL, thành lập bộ máy hành chính các cấp để quản lý, đặt ra các chức quan và điều hành mọi công việc của cư dân ở đây [92], [113], [174], [175]

Chúa Nguyễn chia vùng đất Nam bộ thành 3 trấn: Biên Hòa, Gia Định,

Hà Tiên Đến đời Minh Mạng, nhà Nguyễn chia thành 6 tỉnh gọi là Nam kỳ lục tỉnh: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, tiếp tục khai phá ĐBSCL với quy mô ngày càng lớn Trong thời gian này có nhiều công trình được xây dựng có giá trị lớn như: kênh Tam Khê (Thoại Hà)

Trang 33

dài 31.7km năm 1817-1918; kênh Vĩnh Tế dài 90km xây dựng từ năm 1920 đến năm 1924, nối liền từ Châu Đốc đến Hà Tiên [175]

Người Chăm đến sinh sống ở ĐBSCL vào khoảng thế kỷ XVIII, chủ yếu theo đạo Hồi Người Chăm ở ĐBSCL là cư dân Chăm ở các tỉnh miền Trung di cư đến Chân Lạp và sau đó đến định cư ở khu vực Châu Đốc (An Giang) Hiện nay còn một bộ phận định cư ở Công Pong Chàm (Campuchia) Người Chăm sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu, sản phẩm thủ công nổi tiếng của họ là thổ cẩm; dân số người Chăm hiện nay ở ĐBSCL vào khoảng 12.500 người

Tất cả những vấn đề trên cho thấy, nửa sau thế kỷ XIX là mốc lịch sử kết thúc cơ bản thời kỳ hình thành những “vùng môi sinh xã hội truyền thống”, xác định vững chắc các vùng cư trú của các tộc người ở ĐBSCL, sự phân bố khu vực cư trú ấy vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay Vì thế, ĐBSCL là vùng đất thuộc lãnh thổ Việt Nam là điều không ai có thể phủ nhận được, quá trình hình thành vùng đất này phù hợp quá trình phát triển tự nhiên trong tiến trình hình thành các quốc gia, dân tộc

1.2 TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRƯỚC NĂM 1992

1.2.1 Gia đoạn trước năm 1954

Trước năm 1954, tình hình ruộng đất ở ĐBSCL có những đặc điểm chính sau:

Trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, xã hội ở vùng ĐBSCL đã trải qua hàng ngàn năm áp bức bóc lột phong kiến, ruộng đất bị địa chủ phong kiến tước đoạt, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với các hình thức bóc lột địa

tô Chính sách áp bức bóc lột phong kiến đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất ở nông thôn ĐBSCL

Năm 1858, thực dân pháp xâm lược nước ta, những năm cuối thế kỷ XIX, triều đình Nhà Nguyễn đầu hàng và bán rẻ nước ta cho thực dân Pháp,

Trang 34

ĐBSCL trở thành "thuộc địa" của thực dân Pháp Nền kinh tế ĐBSCL thuộc quyền điều hành của các công ty độc quyền Pháp, đứng đầu là tập đoàn tư bản tài chính "Ngân hàng Đông Dương" mà nhất là các chi nhánh "Nông khố ngân hàng Đông Dương" Để làm cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội cho chế độ thuộc địa, tư bản độc quyền Pháp đã không xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến mà trái lại chúng còn duy trì nó để kìm hãm sự phát triển lực lượng sản xuất ở ĐBSCL và lệ thuộc pháp Thực dân Pháp đã sử dụng bộ máy chính quyền phong kiến làm tay sai phục vụ cho chế độ thống trị thực dân Chính sách đàn áp, bóc lột của thực dân Pháp và phong kiến tay sai đã làm cho xã hội Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng nổi lên hai mâu thuẫn chủ yếu

đó là: mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp và mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến Xã hội Việt Nam từ chỗ là xã hội phong kiến độc lập trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến

Mặc dù Nam Kỳ được Pháp thiết lập chế độ chế độ thuộc địa, nhưng tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến thể hiện rất rõ nét trong nền kinh tế ĐBSCL - đó là chế độ sở hữu ruộng đất Ruộng đất ở ĐBSCL tập trung trong tay địa chủ phong kiến ở mức cao; ở Nam Bộ có 2,3 triệu ha thì địa chủ chiếm hữu 56,9% Chính quyền thuộc địa duy trì quan hệ sản xuất phong kiến, cho phép tư bản Pháp chiếm hữu, khai thác ruộng đất ở ĐBSCL với quy mô lớn Tính đến năm 1900, tư bản Pháp chiếm 4.346 ha ruộng đất ở Nam Kỳ, riêng ĐBSCL tư bản Pháp chiếm hữu và khai thác trên 70% diện tích canh tác [75, tr.52]

Sự chiếm đoạt ruộng đất của thực dân Pháp đã làm cho đời sống của người nông dân ĐBSCL hết sức cực khổ Trong số gần một triệu ha ruộng đất

mà tư bản Pháp chiếm được ở ĐBSCL thì hơn hai phần ba là đất trồng lúa Để khai thác số ruộng đất này tư bản Pháp áp dụng phương thức phát canh thu tô, tạo điều kiện cho địa chủ phong kiến tham gia bóc lột nông dân tá điền Còn địa chủ phong kiến tiếp tục duy trì bóc lột nông dân dưới hình thức địa tô, nợ

Trang 35

lãi và thuê mướn bóc lột nhân công Chính sách bóc lột của tư bản Pháp và địa chủ phong kiến đã kìm hãm sự phát triển của sức sản xuất trong nông nghiệp và bần cùng hóa nông dân và đấy cũng chính là nguyên nhân mà những năm đầu thế kỷ XX lực lượng lao động trong nông thôn bổ sung nhanh cho công nhân các đồn điền

Tính đến đầu năm 1930, với hơn 70 năm đô hộ của thực dân Pháp, nhiều phong trào đấu tranh đã nổ ra dưới sự lãnh đạo của các văn thân, sĩ phu yêu nước nhưng tất cả đều thất bại Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại có nguyên nhân hạn chế về mặt giai cấp; về đường lối cách mạng, chưa có giai cấp nào nhận thức được tính bức thiết của vấn đề ruộng đất và mối quan hệ khăng khít của nó đối với cách mạng giải phóng dân tộc nên phong trào nổ ra không lôi kéo được một lực lượng đông đảo là nông dân tham gia cách mạng, trong khi giai cấp nông dân chiếm tới trên 90% dân số [59]

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) ra đời, “Đảng có nền tảng tư tưởng là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, tức chủ nghĩa Mác- Lênin, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam”, Đảng đã có nhận thức đúng đắn

về liên minh giai cấp giữa công nhân và nông dân trong cách mạng giải phóng

dân tộc Trong Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc

khởi thảo thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam

đã xác định Cách mạng Việt Nam “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội Cộng sản” [59, t.2, tr.2] Cách mạng Việt Nam phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là đánh đổ đế quốc xâm lược giành độc lập dân tộc và đánh đổ phong kiến giành ruộng đất cho nông dân; hai nhiệm vụ có quan hệ mật thiết và khăng khít với nhau, tuỳ từng giai đoạn căn

cứ nhiệm vụ chung của cách mạng mà Đảng đã đề ra khẩu hiệu cách mạng ruộng đất phù hợp nhằm tập trung mũi nhọn chống đế quốc, giải phóng dân tộc Như vậy, với việc đề ra hai nhiệm vụ chiến lược là đánh đổ đế quốc xâm

Trang 36

lược giành độc lập dân tộc và đánh đổ phong kiến giành ruộng đất cho nông dân, trong Cương lĩnh chính trị của mình, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Đảng ta đã có nhận thức đúng đắn về vấn đề ruộng đất, vấn đề nông dân ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn với nhiệm vụ giải phóng dân tộc, định hướng đi đúng đắn cho cách mạng Việt Nam Chủ trương giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân chính là bảo đảm quyền dân chủ cơ bản cho nông dân về mặt kinh tế Thấm nhuần quan điểm của Lênin về “cách mạng không ngừng”, Đảng chủ trương giải quyết vấn đề ruộng đất không chỉ thực hiện trong cách mạng giải phóng dân tộc mà ngay

cả khi tiến lên cách mạng XHCN

Ở ĐBSCL, việc triển khai các chính sách ruộng đất của Đảng có chậm hơn các vùng trong cả nước; nhưng về cơ bản đến cuối năm 1953 trên 50% [59, t.15, tr.74 T1] ruộng đất của đế quốc và thực dân đã được chia cho nông dân, tầng lớp trung nông ở ĐBSCL có vai trò quyết định đối với sở hữu ruộng đất và tổ chức sản xuất ở đây Về cơ bản tính chất sở hữu của giai cấp địa chủ phong kiến không còn nguyên vẹn như trước đấy Một phần ruộng đất được cách mạng chia cho nông dân góp phần giải phóng lực lượng sản xuất tạo

điều kiện cho nông nghiệp phát triển

1.2.2 Giai đoạn 1954 - 1975

Ở miền Nam khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết năm 1954, Mĩ từng bước hất cẳng Pháp dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và ra sức xây dựng miền Nam thành căn cứ quân sự của chủ nghĩa thực dân mới, biến miền Nam thành trung tâm ngăn chặn làn sóng Cộng sản tràn xuống Đông Nam Á Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, hiểu được tầm quan trọng của vùng nông thôn nên ngay từ đầu vấn đề “cải cách điền địa” được Mĩ

- Diệm rất coi trọng Do những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với chính sách ruộng đất của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL đã được chính quyền cách mạng các cấp đặt ra và giải

Trang 37

quyết theo quan điểm của giai cấp công nhân, sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề ruộng đất vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam Những kết quả đạt được trong giải quyết vấn đề ruộng đất ở miền Nam trước năm 1954 đã góp phần quan trọng giúp cho nông dân Nam Bộ đi theo Đảng, là một thách thức lớn đối với chính sách thực dân mới của Mĩ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm Chính vì vậy, ngay sau năm 1954 thực hiện chính sách thực dân kiểu mới Mĩ - Diệm gấp rút tiến hành “cải cách điền địa” nhằm ổn định nông thôn và giành dân với cách mạng Mĩ - Diệm chủ trương thực hiện “cải cách điền địa” nhằm sớm xóa bỏ thành quả về ruộng đất

mà cách mạng đã mang lại, cướp lại ruộng đất được cách mạng chia cấp cho nông dân, âm mưu khôi phục và duy trì chế độ ruộng đất của giai cấp địa chủ Chương trình “cải cách điền địa” của Mĩ - Diệm về cơ bản chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn đầu tương ứng với các dụ số 2(8-1-1955), dụ số 7(5-2-1955), Mĩ - Diệm tiến hành các hoạt động thống kê xác nhận lại số ruộng đất

mà cách mạng đã cấp và buộc nông dân phải khế ước tá điền Giai đoạn thứ hai tương đương với dụ số 57 (20-10-1965) Mĩ - Diệm thực hiện điều chỉnh ruộng đất của địa chủ làm thay đổi chế độ sở hữu thực chất là “truất hữu” ruộng đất của địa chủ nhằm thu lại một phần ruộng đất của địa chủ bán lại cho người thiếu ruộng thực chất là cũng cố sửa sang lại chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến cho phù hợp với quyền lợi của Mĩ - Diệm Chính sách ruộng đất của Mĩ - Diệm đã có tác động lớn đến chế độ sở hữu ở ĐBSCL Cho đến năm 1960, chính quyền Ngô Đình Diệm đã duy trì trở lại chế độ sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, chế độ tá điền và tình trạng nhiều nông dân ĐBSCL thiếu ruộng, không ruộng Chính sách thực dân kiểu mới của Mĩ

về ruộng đất có đem lại hiệu quả nhất định cho chính sách thống trị của Ngô Đình Diệm là tiếp tục duy trì, nắm giữ bộ máy chính quyền bản địa Tình hình phục hồi chế độ sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến, chế độ tá điền ở ĐBSCL diễn ra gay gắt, tác động lớn đến tình hình nông thôn ĐBSCL

Trang 38

Tình trạng địa chủ bỏ chạy đi trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp lên Sài Gòn, nay quay lại dựa vào quân đội và bộ máy kìm kẹp để cướp lại ruộng đất do cách mạng đã cấp phát cho nông dân trong cải cách ruộng đất trước năm 1954 Tính bình quân trong năm 1960, 1/3 ruộng đất công trong toàn vùng do cách mạng cấp cho nông dân bị địa chủ chiếm lại Cùng với cướp đoạt lại ruộng đất, Mĩ - Diệm còn ép nông dân khế ước tá điền làm cho ¾ số

tá điền mất ruộng phải đi làm thuê với mức tô khoảng 25% [76, tr.83], [115]; thực hiện trưng thu các khoản thuế còn tồn đọng trước đây làm cho đời sống của nông dân ĐBSCL càng khó khăn hơn

Chính sách cướp đoạt ruộng đất của Mĩ - Diệm đã làm cho nông dân ĐBSCL bần cùng, mâu thuẫn giữa nông dân với chính sách thống trị của Mĩ - Diệm càng sâu sắc hơn Đây chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều cuộc đấu tranh của nông dân diễn ra gay gắt, quyết liệt Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm

1959 đã có hơn 3.000 cuộc đấu tranh về ruộng đất, huy động từ 500 đến 700 người tham gia Riêng Cà Mau có tới 545 vụ đấu tranh về ruộng đất với sự tham gia của trên 8.000 nông dân Nhiều nơi, nông dân vẫn làm chủ được ruộng đất, tính chung toàn miền Nam, chủ yếu là ĐBSCL, đến cuối năm

1959, nông dân đã giữ lại được khoảng 20% ruộng đất, không đóng tô trên 10% ruộng đất đã được cấp phát [76, tr.87], [115, tr.61-63]

Ngày 20-12-1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời; thực hiện các nghị quyết của Đảng và sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam, Mặt trận đã nêu cao khẩu hiệu “thực hiện giảm tô, đảm bảo nguyên canh, chia lại công điền, tiến tới cải cách điền địa” Trong Chương trình 10 điểm, Mặt trận đã đề ra cụ thể hơn chủ trương về vấn đề ruộng đất như thực hiện giảm

tô, đảm bảo nguyên canh, đảm bảo quyền sở hữu đất hoang cho người có công khai phá; bảo hộ quyền sở hữu chính đáng về ruộng đất đã được chia của nông dân, và đề ra một loạt chính sách trong đó nhấn mạnh việc nông dân

Trang 39

được chia ruộng đất không phải trả tiền và không bị ràng buộc bởi bất cứ điều kiện nào

Trung ương Cục miền Nam tiếp tục lãnh đạo nhân dân miền Nam bằng nhiều hình thức đấu tranh đòi Mĩ ngụy thực hiện các chính sách ruộng đất ở các vùng tạm chiếm Tháng 11-1960 Trung ương Cục ra Nghị quyết xác định

rõ đường lối đấu tranh giai cấp ở nông thôn là: “Đoàn kết bần, cố, trung nông, liên hiệp phú nông, phân hóa giai cấp địa chủ, lôi kéo những phần tử lừng khừng, cô lập, đánh đổ bọn gian ác hiện hành tay sai Mĩ - Diệm” [76, tr.85], [115, tr.87-90] Đường lối cách mạng ruộng đất của Đảng tác động mạnh mẽ tới chế độ sở hữu ruộng đất ở ĐBSCL, đặc biệt là từ sau phong trào “Đồng khởi”, vùng giải phóng được mở rộng, cuộc sống mới ở vùng giải phóng tác động mạnh đến toàn vùng Trong các cuộc đấu tranh chống Mĩ - Diệm, khẩu hiệu hành động của các cuộc đấu tranh chính trị, vũ trang ở nông thôn miền Nam là khẩu hiệu “Chính quyền và ruộng đất” Chủ trương của cách mạng miền Nam là “Giải phóng đến đâu thực hiện chính sách ruộng đất đến đó”; chỉ riêng ở Mỹ Tho năm 1960 nông dân giành lại dược 2/3 ruộng đất mà Mĩ - Diệm cướp, Ở ĐBSCL nông dân đã giành được “10 vạn ha trong số 27 vạn

ha Mĩ - Diệm cướp đoạt” Trong những năm 1960 - 1965 với chính sách lập

“ấp chiến lược” thực hiện hai kế hoạch quân sự: “Xtalay-Taylo” và “Giôn Xơn - Mac Namara”, Mĩ - Diệm đã mở nhiều cuộc hành quân càn quét lớn nhỏ chiếm đất lập ấp chiến lược; nhưng chúng không thực hiện được hoàn toàn kế hoạch đề ra, nhiều ấp chiến lược mới được lập đã bị quân và dân miền Nam phá tan Tính đến đầu năm 1965 quân và dân ĐBSCL đã giải phóng 366

xã trên 799 xã và thực hiện tranh chấp với vùng đất rộng lớn chiếm khoảng 1.646.000 dân [76], [115]

Với những kết quả đã đạt được trong thực hiện chính sách ruộng đất, quân và dân ĐBSCL từng bước làm phá sản chính sách “cải cách điền địa” của Mĩ - Diệm, buộc Mỹ phải xem xét lại tính khả thi chính sách “cải cách

Trang 40

điền địa” thời Ngô Đình Diệm và đã ban hành thông qua Dụ 57, phần lớn diện tích đất mà Mĩ - Diệm “truất hữu” được nằm trong vùng giải phóng đã được chia cho tá điền hoặc nằm ở vùng có tranh chấp giữa hai bên Song song với giành quyền làm chủ về ruộng đất, ở vùng giải phóng miền Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng Trung ương Cục miền Nam đã lãnh đạo thực hiện giảm tô

từ 5% đến 10%, tổ chức sản xuất lương thực, thực phẩm phục vụ đời sống nhân dân và góp phần cung cấp cho quân giải phóng

Trong những năm đế quốc Mỹ thực hiện “chiến tranh cục bộ” (1965 - 1968) và “Việt Nam hóa chiến tranh”(1969 - 1973), chính sách ruộng đất của Đảng ở vùng giải phóng miền Nam nói chung, ĐBSCL nói riêng tiếp tục phát huy có hiệu quả Với những thắng lợi trong mùa khô năm 1965 - 1966, 1966 -

1967 và cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu thân 1968 vùng giải phóng ngày càng được mở rộng với 1,2 triệu dân Ngày 6-6-1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời phù hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân miền Nam Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã thành lập Nông vận R thực hiện công tác tuyên truyền vận động giao đất, giao rừng canh tác phục vụ cho phát triển sản xuất Chế độ sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến vùng giải phóng từng bước bị tái xóa bỏ, giai cấp địa chủ hầu như không còn là một giai cấp nữa, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam phát triển

Như vậy, Dụ 57 ra đời với mục tiêu “tư hữu hóa nông dân”, “tiểu điền hóa tá điền” để khôi phục, duy trì lại chế độ sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ trong tình thế mới đã có tác động đến vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL Đến năm 1968 số hộ tá điền ở ĐBSCL mua được đất chỉ khoảng 6% nông dân mà phần lớn trong số này là tay chân của Mĩ - Ngụy ở xã, ấp Ở nông thôn ĐBSCL không còn địa chủ có trên 100ha, nhưng số hộ nông dân sở hữu nhỏ tăng

Ngày đăng: 18/06/2021, 12:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w