1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả của phương pháp tập thể dục sớm sau mổ lấy thai

5 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 172,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỉ lệ mổ lấy thai ngày càng tăng trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Đau và liệt ruột cơ năng thường gặp sau mổ lấy thai. Trong liệu pháp không dùng thuốc để giảm đau và phục hồi nhu động ruột sau mổ thì vận động sớm ngày càng được quan tâm. Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả của phương pháp tập thể dục sớm sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Hùng Vương.

Trang 1

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Tỉ lệ mổ lấy thai ngày càng tăng trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đau và liệt ruột cơ năng thường gặp

sau mổ lấy thai Trong liệu pháp không dùng thuốc để giảm đau và phục hồi nhu động ruột sau mổ thì vận động sớm ngày càng được quan tâm Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả của phương pháp vận động này trên sản phụ sau mổ

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả của phương pháp tập thể dục sớm sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Hùng Vương

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, có đối chứng, thực hiện tại khoa Hậu sản,

Bệnh viện Hùng Vương từ tháng 10/2018 đến tháng 03/2019

Kết quả: Tỷ lệ sản phụ có điểm đau VAS (thang điểm cường độ đau dạng nhìn đồng dạng - Visual Analog Scale) ≤ 3

hậu phẫu ngày 1 ở nhóm có tập bài tập thể dục sớm là 63,2%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm tự vận động (23,7%), OR = 5,524 (KTC 95%: 2,730 - 11,178), p < 0,001 Tỉ lệ phục hồi nhu động ruột sớm (trung tiện sớm < 36 giờ) sau mổ lấy thai ở nhóm có tập bài tập thể dục sớm là 76,3%, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm tự vận động (43,4%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,05

Kết luận: Phương pháp tập thể dục sớm mang lại hiệu quả giảm đau và phục hồi nhu động ruột sớm cho các sản phụ

sau mổ lấy thai

Từ khoá: Vận động sớm, bài tập thể dục sau mổ lấy thai, phục hồi sau mổ lấy thai

To evaluate the effectiveness of early ambulation in the early post-cae-sarean period

Truong Thi Anh Tuyet1, Vu Thi Nhung1

1 Hung Vuong Hospital

Abstract

Caesarean section rate is increasing in the world as well as in Viet Nam Post-operative pain and functional bowel paralysis is common after Caesarean section In non-medicated therapy to relieve pain and restore intestinal motility after surgery, early mobilization is increasingly concerned However, there have not been many studies evaluating the effectiveness of this activity for postoperative women.

Objective: To evaluate the effect of early ambulation in the early post-cesarean period at Hung Vuong Hospital

accord-ing to the exercise of Northumbria Hospital.

Subjects and methods: Controlled clinical trials, randomised evaluation the effectiveness of early ambulation on pain

in post-operative recovery among post-caesarean mothers admitted in the Hung Vuong Hospital of Ho Chi Minh city from 10/2018 to 03/2019.

Results: The rate of mother experienced the postoperative pain VAS (Visual Analog Scale) score ≤ 3 on day 1, belongs

in the group who performed the early exercise was 63.2%; which is significantly higher than the control group (23.7%),

OR = 5.524 (95% CI: 2.730 - 11.178), p < 0.001 The rate of early bowel motility recovery (early defecation < 36 hours) after cesarean in the group who performed the early exercise was 76.3% which is significantly higher than the control group 43.4%, p < 0.05

Conclusion: Early ambulation was effective on reducing pain and early bowel motility recovery in the early

post-cae-sarean period

Keywords: Early ambulation, post-caesarean exercise, post-caesarean recovery

Đánh giá hiệu quả của phương pháp tập thể dục sớm sau mổ lấy thai

Trương Thị Ánh Tuyết1, Vũ Thị Nhung1

1 Bệnh viện Hùng Vương

doi:10.46755/vjog.2020.4.1139

Tác giả liên hệ (Corresponding author): Trương Thị Ánh Tuyết, email: dranhtuyet123@gmail.com

Nhận bài (received): 10/09/2020 - Chấp nhận đăng (accepted): 18/03/2021

Trang 2

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, mổ lấy thai (MLT) là một kỹ thuật rất phổ

biến trong sản phụ khoa Sản phụ sinh mổ gặp nhiều vấn

đề khó khăn hơn so với phụ nữ sinh thường qua ngả âm

đạo, nổi bật là tình trạng đau sau mổ [3] Bên cạnh việc

ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần của sản phụ, đau

sau mổ có thể làm cho người mẹ mất nhiều khả năng

chăm sóc con, ảnh hưởng không tốt lên mối quan hệ mẹ

- con vừa được thiết lập

Nhiều phương pháp được đưa ra để cải thiện tình

trạng đau sau mổ, bao gồm phương pháp dùng thuốc và

không dùng thuốc Trong liệu pháp không dùng thuốc thì

vận động sớm sau mổ đang được quan tâm Vận động

sớm sau mổ sẽ giúp tăng trương lực cơ, kích thích máu

lưu thông dễ dàng nên có thể ngừa biến chứng tắc mạch

Hiện nay có nhiều bài tập vận động sớm được áp dụng

cho bệnh nhân sau mổ bụng nói chung và mổ lấy thai nói

riêng Để vận động sản phụ vận động sớm sau mổ lấy

thai, Khoa Hậu sản A thuộc Bệnh viện Hùng Vương đã

lựa chọn bài tập thể dục được chuyển thể từ bài tập thể

dục của khoa vật lý trị liệu của Bệnh viện Northumbria

[4] thuộc Trung tâm Chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại

Anh (NHS) Bài tập này đã vận động sản phụ đi lại sớm

Sự hồi phục nhanh về thể chất và tinh thần giúp giảm

đau, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị Tuy

nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả của

phương pháp vận động này trên sản phụ sau mổ Chính

vì thế, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Đánh giá hiệu

quả của phương pháp tập thể dục sớm sau mổ lấy thai”

theo bài tập của Bệnh viện Northumbria tại Bệnh viện

Hùng Vương

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Sản phụ MLT lần đầu, con so

- Bụng không có vết mổ cũ

- Hậu phẫu MLT dưới 24 giờ

- Tuổi > 18

- Sản phụ nghe hiểu, đọc và viết được tiếng Việt

- Sản phụ có tiền căn phẫu thuật ngực bụng

- Có biến chứng trong lúc mổ như tổn thương bàng quang, tổn thương ruột, băng huyết phải truyền máu

- Sản phụ tiếp tục được giảm đau bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng trong vòng 24 giờ sau mổ đang được nghiên cứu tại Bệnh viện Hùng Vương

- Có bệnh lý về cơ xương khớp, tiền sản giật nặng, bệnh tim, bệnh lý hệ tiêu hóa mạn tính, rối loạn tâm thần vận động

2.2 Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu:

Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, có đối chứng Thời gian nghiên cứu: 10/2018 – 03/2019 tại khoa Hậu sản, Bệnh viện Hùng Vương Bài tập thể dục gồm 5 bước: hít thở - xoay cổ chân cẳng chân - thót bụng - ngồi thẳng lưng và đi

Thu thập số liệu:

Mẫu được chọn vào phù hợp với tiêu chuẩn chọn mẫu, sau đó được phân bố ngẫu nhiên thành hai nhóm: Can thiệp và nhóm chứng bằng phần mềm R, với các block 2, 4, 6, 8 và 10 đủ 152 đối tượng Các sản phụ này được chuyển nằm phòng 1 giường

- Nhóm tập thể dục (nhóm I): Được đánh giá thang điểm đau VAS và hướng dẫn sản phụ tập thể dục vào các ngày 1, 2 và 3

- Nhóm chứng (nhóm II): Được đánh giá thang điểm đau VAS và khuyên sản phụ tự vận động vào các ngày

1, 2 và 3

Phương pháp phổ biến để tự đánh giá đau: là thang

điểm đau bằng nhìn hình đồng dạng (VAS) Thang điểm này được nhiều tác giả sử dụng do dễ sử dụng, nên cũng

đã được dùng để lượng giá mức độ đau của các sản phụ trong nghiên cứu Theo thang đo cường độ đau dạng nhìn đồng dạng VAS, phân mức độ đau bao gồm 4 mức độ: (1) Đau nhẹ với VAS 1-3 điểm; (2) Đau vừa phải hay trung bình khi VAS 4-6 điểm; (3) Đau nhiều hay nặng khi VAS 7-10 điểm Chỉ định can thiệp điều trị được đặt ra khi VAS từ 4/10 điểm trở lên Do đó, điểm cắt VAS ≤ 3 được chọn để đánh giá hiệu quả giảm đau của bài tập vận động sớm trên nhóm can thiệp so với nhóm chứng (vận động tự do)

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

0,755

Nơi ở

0,081

Trang 3

Nghề nghiệp

0,121

Không có sự khác biệt về tuổi, phân lớp tuổi, nơi ở, công việc giữa 2 nhóm can thiệp và nhóm chứng (p > 0,05)

Bảng 2 Đặc điểm lâm sàng

0,460

Tiền căn sẩy thai

0,708

Khởi phát chuyển dạ

0,717

Loại mổ lấy thai

0,326

Phương pháp vô cảm

0,795

Ngay sau sinh, 49,3% ca có BMI trung bình nằm trong mức thừa cân, 9,2% sản phụ có BMI béo phì Phần lớn các sản phụ không có tiền căn sẩy thai và không trải qua khởi phát chuyển dạ Đa số các trường hợp được mổ lấy thai trong tình trạng cấp cứu (56,6%) Phương pháp vô cảm chủ yếu bằng phương pháp tê tủy sống (75,6%) Không có sự khác biệt về đặc điểm lâm sàng giữa 2 nhóm (p > 0,05)

3.2 Hiệu quả giảm đau sau mổ

Biểu đồ 1 Tỉ lệ sản phụ có điểm đau VAS ≤ 3 sau mổ lấy thai

Trang 4

Tỉ lệ sản phụ có điểm đau VAS ≤ 3 sau mổ lấy thai vào ngày hậu phẫu thứ 1, trong đó ở nhóm có tập bài tập thể dục sớm là 63,2%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm tự vận động 23,7%

Bảng 3 Thay đổi điểm VAS sau mổ

Tốc độ giảm điểm VAS qua các ngày hậu phẫu ở nhóm can thiệp nhanh hơn và trị số trung bình thấp hơn so với nhóm chứng

Bảng 4 Thời điểm sản phụ đi lại

Nhóm sản phụ được tập bài tập thể dục sớm có khả năng đi lại sớm hơn so với nhóm chứng, Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,0001)

3.3 Hiệu quả phục hồi nhu động ruột sớm sau mổ

Biểu đồ 2 Tỉ lệ phục hồi nhu động ruột sớm (< 36 giờ) sau mổ

Tỉ lệ phục hồi nhu động ruột sớm (trung tiện sớm < 36 giờ) sau MLT ở nhóm có tập bài tập thể dục sớm là 76,3%, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm tự vận động (43,4%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,05

Bảng 5 Thời điểm sản phụ trung tiện lần đầu tiên sau mổ

Thời điểm sản phụ trung tiện lần đầu tiên

sau mổ (giờ) 33,34 ± 3,63 36,62 ± 3,45 < 0,001

Thời điểm sản phụ trung tiện lần đầu tiên ở nhóm sản phụ được tập bài tập thể dục sớm là 33,34 ± 3,63 giờ so với nhóm chứng là 36,62 ± 3,45 giờ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)

4 BÀN LUẬN

4.1 Hiệu quả giảm đau dựa trên điểm VAS sau mổ

Sự phân bố sản phụ giữa 2 nhóm không có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê về đặc điểm dân số, xã hội và đặc

điểm lâm sàng Như vậy, 2 nhóm chứng và nhóm nghiên

cứu tương đối đồng nhất khi tiến hành nghiên cứu

Kết quả phân tích cho thấy tỉ lệ sản phụ có điểm đau

VAS ≤ 3 sau mổ lấy thai vào hậu phẫu ngày thứ 1, trong

đó ở nhóm có tập bài tập thể dục sớm là 63,2%, cao hơn

có ý nghĩa thống kê so với nhóm không tập bài tập thể

sản phụ tự chăm sóc con, cho con bú sữa mẹ sớm và thiết lập tốt mối quan hệ mẹ con, ít sử dụng thuốc giảm đau giúp tránh tác dụng phụ của thuốc, đặc biệt là sốc (shock) phản vệ

Điểm VAS trung bình ở nhóm có tập bài tập thể dục sớm giảm dần từ 4,97 (hậu phẫu ngày 0) xuống còn 3,05 (hậu phẫu ngày 1) và 1,88 (hậu phẫu ngày 2) Tốc

độ giảm điểm VAS qua các ngày hậu phẫu ở nhóm can thiệp nhanh hơn và trị số trung bình thấp hơn so với nhóm chứng, điểm VAS trung bình của nhóm chứng là 5,01 (hậu phẫu ngày 0), 3,93 (hậu phẫu ngày 1), 2,72 (hậu

Trang 5

phẫu ngày 2), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê từ hậu

phẫu ngày 1 trở đi, p < 0,001 (Bảng 3)

Giá trị điểm VAS trung bình vào ngày hậu phẫu 0 và

ngày 1 của nghiên cứu tương đồng với nghiên cứu của

Tetti Solehati và cộng sự [5] năm 2015 Tuy nhiên, điểm

VAS vào hậu phẫu ngày thứ 2 ở cả hai nhóm khảo sát

trong nghiên cứu này thì thấp hơn Nghiên cứu của Tetti

Solehati chỉ yêu cầu đối tượng nghiên cứu tập hít thở,

trong khi các đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu này

vừa tập hít thở vừa tập vận động, vì vậy hiệu quả giảm

đau nhanh hơn Đây là ưu điểm của bài tập khi có sự phối

trong 3 ngày hậu phẫu đầu tiên của nghiên cứu này thấp

hơn so với kết quả nghiên cứu của Karakaya [1], nhóm

can thiệp chỉ được khuyến khích đi lại sớm nhất có thể

sau mổ chứ không có hướng dẫn một bài tập vận động

cụ thể nào cả Trong khi các đối tượng nghiên cứu trong

nghiên cứu này được hướng dẫn tập tuần tự các bước từ

hít thở đến tập bụng rồi mới đi lại, vì vậy hiệu quả giảm

đau nhanh hơn Đây là ưu điểm của bài tập thể dục

Năm 2015, Kaur và cộng sự [2] tiến hành thử nghiệm

lâm sàng đánh giá hiệu quả của vận động sớm sau mổ

lấy thai trên 80 sản phụ ở Ấn Độ được phân bố ngẫu

nhiên thành 2 nhóm với tỉ lệ 1:1 Tác giả nhận thấy mức

độ đau ở cả hai nhóm đều giảm đáng kể sau khi đi lại

Nhưng mức độ đau giảm rõ rệt ở nhóm can thiệp hơn so

với nhóm chứng

Khả năng đi lại sớm sau mổ

Thời điểm đi lại lần đầu tiên của các sản phụ sau mổ

lấy thai được dùng để đánh giá hiệu quả giảm đau của

phương pháp can thiệp với giả thuyết đặt ra rằng sản phụ

đau ít thì mới đi lại được, đồng thời việc đi lại sớm cũng

là một yếu tố của sự phục hồi hoạt động chức năng cơ

bản của sản phụ trong sinh hoạt cá nhân và chăm sóc

con, sẽ giúp tăng trương lực cơ, kích thích máu lưu thông

dễ dàng nên có thể ngừa biến chứng tắc mạch Kết quả

phân tích cho thấy nhóm sản phụ được tập bài tập thể

dục sớm có khả năng đi lại sớm hơn so với nhóm chứng,

với thời điểm đi lại lần đầu tiên sau mổ tương ứng của hai

nhóm là 32,3 ± 4,0 giờ và 35,5 ± 3,7 giờ, sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p < 0,001) (bảng 4)

4.2 Hiệu quả phục hồi nhu động ruột sớm sau mổ

Nghiên cứu này so sánh hiệu quả phục hồi nhu động

ruột sớm sau MLT ở nhóm sản phụ tập thể dục sớm và

nhóm vận độngtự do (không tập bài tập của nghiên cứu)

tại Bệnh viện Hùng Vương, kết quả thu được như sau: Tỉ

lệ phục hồi nhu động ruột sớm (trung tiện sớm < 36 giờ)

sau MLT ở nhóm có tập bài tập thể dục sớm là 76,3%, cao

hơn có ý nghĩa so với nhóm tự vận động (43,4%), sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,05 (Biểu đồ 2)

Thời điểm sản phụ trung tiện lần đầu tiên ở nhóm

sản phụ được tập bài tập thể dục sớm là 33,34 ± 3,63 giờ

so với nhóm chứng là 36,62 ± 3,45 giờ, sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p < 0,001) (bảng 5)

5 KẾT LUẬN

phụ sau mổ lấy thai Vì thế, nên áp dụng rộng rãi bài tập

thể dục sớm cho các sản phụ sau mổ lấy thai Đồng thời, nghiên cứu này nên được mở rộng khảo sát trên đối tượng sau mổ sản phụ khoa nói chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Citak Karakaya I., Yuksel I., Akbayrak T., et al (2012),

“Effects of physiotherapy on pain and functional activi-ties after cesarean delivery”, Arch Gynecol Obstet, 285 (3), pp 621-7

2 Kaur H., Kaur, S., Sikka, P (2015), “A quasi-experimen-tal study to assess the effectiveness of early ambulation

in post-operative recovery among postcaesarean moth-ers admitted in selected areas of nehru hospital”, Nurs-ing and Midwifery Research Journal, 11 (1), pp 33-44

3 Kealy M A., Small R E., Liamputtong P (2010), “Recov-ery after caesarean birth: a qualitative study of women’s accounts in Victoria, Australia”, BMC Pregnancy Child-birth, 10, pp 47

4 Northumbria Healthcare, “Exercise after a cesarean birth”, NHS Foundation Trust, pp 1-12

5 Solehati T., Rustina Y (2015), “Benson Relaxation Technique in Reducing Pain Intensity in Women After Cesarean Section”, Anesth Pain Med, 5 (3), pp e22236

6 Sutton C D., Carvalho B (2017), “Optimal Pain

Man-agement after Cesarean Delivery”, Anesthesiol Clin, 35

(1), pp 107-124

7 Macones G A., Caughey A B., Wood S L., et al (2019),

“Guidelines for Postoperative care in Cesarean Delivery: Enhanced Recovery After Surgery (ERAS) Society

Rec-ommendations (Part 3 )”, Am J Obstet Gynecol

8 Kerai S., Saxena K N., Taneja B (2017),

“Post-caesare-an “Post-caesare-analgesia: What is new?” Indi“Post-caesare-an J Anaesth, 61(3), pp

200-214

Ngày đăng: 18/06/2021, 12:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm