Vì vậy, thực hiện đề tài này vọng sẽ góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu một vấn đề hấp dẫn, liên quan trực tiếp đến đời sống tín ngưỡng của cư dân trên địa bàn thành phố Thanh Hóa.Đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 3Vinh - 2012
MỤC LỤC
Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới
tới thầy giáo TS Trần Văn Thức người đã trực tiếp hướng dẫn tận tâm và
chân thành trong suốt quá trình hoàn thành luận văn, các thầy giáo trong khoa lịch sử, khoa sau đại học - trường Đại học Vinh đã giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới UBND thành phố Thanh Hóa, giáo hội Phật giáo tỉnh Thanh Hóa, ban quản lý di tích phường Đông Thọ, ban quản lý di tích xã Đông Cương, nhà sư Thích Tâm Hiền, ông Nguyễn Văn Kinh, ông Lê Kim Lữ và nhân dân địa phương các phường Nam Ngạn, Đông Thọ vã xã Đông Cương đã giúp tôi trong quá trình khảo sát thực tế tại địa phương
Tôi xin cảm ơn tới phòng địa chí - thư viện khoa học tổng hợp tỉnh Thanh Hóa, Ban nghiên cứu lịch sử Thanh Hóa, Ban quản lý di tích và danh thắng Thanh Hóa, thư viện khoa sử trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cám ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã rất cố gắng, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự lượng thứ, góp ý của các thầy cô cùng bạn
bè và đồng nghiệp
Vinh, tháng 10 năm 2012
Tác giả Nguyễn Ngọc An
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Trong đời sống tinh thần của cư dân người Việt từ xưa tới nay, tín ngưỡng tôn giáo là một phần không thể thiếu và xuất hiện trong mọi sinh hoạt của cư dân trên khắp các vùng miền trên cả nước Ngay từ buổi đầu dựng nước đời sống văn hóa tinh thần, tín ngưỡng, tôn giáo của cư dân người Việt khá phong phú và đa dạng Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tương đồng, thì ở mỗi vùng miền, niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo và các phong tục tập quán của người dân cũng có những nét riêng biệt
Nước ta hiện nay có 61 tỉnh thành với 54 dân tộc anh em khác nhau, tùy vào địa bàn phân bố dân cư và lối sống sinh hoạt vật chất và tinh thần của các cộng đồng cư dân mà hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục tập quán cũng có sự khác biệt nhất định Tuy vậy, dù sinh sống ở địa bàn nào thì đối với cư dân người Việt các hệ thống đền, chùa, các địa điểm thờ cúng luôn đóng vai trò quan trọng trong tín ngưỡng của người Việt Đền, chùa là nơi thờ cúng các anh hùng dân tộc, những người có công lao
và đóng góp với nhân dân và đất nước được các triều đại phong kiến hay nhân dân suy tôn thành các vị thần, hoặc là các vị thần, Phật được xuất hiện trong các truyền thuyết được người dân thờ cúng Đền, chùa còn là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa tâm linh, các lễ hội và là nơi gửi gắm niềm tin tinh thần của cư dân người Việt Từ ngàn đời nay, trên khắp đất nước Việt Nam hệ thống đền, chùa luôn được người dân hết sức quan tâm xây dựng, mở rộng và tu bổ nhằm vào các hoạt động tinh thần đó
Hiện nay, đất nước ta có hàng ngàn đền, chùa rải rác phân bố trên khắp các vùng miền Ở mỗi nơi, tùy theo tôn giáo, tín ngưỡng mà các hệ thống đền, chùa được xây dựng với những nét kiến trúc riêng biệt, nó thể hiện sự phong phú đa dạng trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân
Trang 6Tuy vậy, hiện nay việc đi sâu vào nghiên cứu về các đền, chùa của các địa bàn cụ thể trên cả nước nói chung và Thanh Hóa nói riêng còn chưa được quan tâm đúng mức Vì vậy, thực hiện đề tài này vọng sẽ góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu một vấn đề hấp dẫn, liên quan trực tiếp đến đời sống tín ngưỡng của cư dân trên địa bàn thành phố Thanh Hóa.
Địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói chung và thành phố Thanh hóa nói riêng là nơi có truyền thống lịch sử lâu đời, trong quá trình đấu tranh dựng và giữ nước, người dân Thanh Hóa đã có những đóng góp to lớn đối với lịch sử dân tộc với rất nhiều danh nhân tiêu biểu luôn xuất hiện trong suốt chiều dài lịch sử Với những đóng góp to lớn đó các danh nhân xứ Thanh được nhân dân và các triều đại phong kiến ghi nhận công lao và lập đền thờ ở nhiều nơi đặc biệt là trên địa bàn thành phố Thanh hóa Đây là biểu tượng của tinh thần đấu tranh là những tâm gương của sự trung kiên
và lòng yêu nước yêu dân tộc để các thế hệ sau ghi nhận, học tập và noi theo Vì vậy, việc thực hiện đề tài này, còn góp phần vào quá trình giáo dục tư tưởng đạo đức cho các thế hệ trẻ nhìn nhận và đánh giá đúng vai trò và công lao của các thế hệ đi trước trong lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử địa phương nói riêng
Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay, thành phố Thanh Hóa cũng như các trung tâm đô thị khác trên cả nước cũng đang trong quá trình đẩy mạnh việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Nhiều các công trình kiến trúc cao tầng, các khu công nghiệp, đô thị và trung tâm thương mại được xây dựng đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến các hạng mục di tích lịch sử các đền, chùa trong địa bàn thành phố, cảnh quan chung của các công trình văn hóa ít nhiều bị hạn chế bởi tốc độ phát triển của các khu đô thị Đây là một thực
tế diễn ra mà chưa thực sự được các cơ quan chức năng có thẩm quyền
Trang 7quan tâm chú ý Bên cạnh đó đa số các công trình kiến trúc đền, chùa trong khu vực thành phố đều có quá trình xây dựng từ lâu đời hiện nay đang có dấu hiệu xuống cấp cần được cải tạo chỉnh trang nhằm khôi phục lại cảnh quan di tích văn hóa phục vụ cho đời sống tín ngưỡng của cư dân.
Qua nghiên cứu đề tài này nhằm đưa ra những đề xuất và ý kiến để các cấp chính quyền địa phương quan tâm hơn đến thực trạng của các công trình di tích và đời sống tín ngưỡng của nhân dân
Với những lý do như trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “Tìm hiểu một số di tích đền, chùa tiêu biểu trên địa bàn thành phố Thanh Hóa”
làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
Trong cuốn “Chùa xứ Thanh” tập 1, 2 nhà xuất bản Thanh Hóa năm
2007 có đề cập tới một số chùa trong địa bàn thành phố như chùa Hội Quán, chùa Hương Long Tự, chùa Tu Ba
Trong cuốn “Lễ tục lễ hội truyền thống xứ Thanh” nhà xuất bản văn
hóa dân tộc Hà Nội năm 2006 do Hoàng Anh Nhậm (chủ biên) cũng đề cập đến một số lễ hội trong đó có lễ hội đền vua Lê và các hoạt động văn hóa tâm linh trong địa bàn thành phố
Trong cuốn “Thanh Hóa di tích danh thắng” của nhà xuất bản
Thanh Hóa năm 2004 cũng có đề cập tới một số đền trên địa bàn thành
Trang 8phố Thanh Hóa như đền thờ Tống Duy Tân, Đền Vặng, Thái miếu nhà Hậu Lê.
Ngoài ra trong hệ thống tư liệu về lịch sử văn hóa ở Thanh Hóa cũng có nhiều tài liệu viết về các di tích đền, chùa ở thành phố Thanh Hóa
như cuốn “Những thắng tích ở xứ Thanh” của Hưng Nao, “Di tích thắng cảnh Thanh Hóa” của ty văn hóa Thanh Hóa xuất bản năm 1976, Nguyễn văn Hảo, Lê thị Vinh với cuốn “Di sản văn hóa xứ Thanh” xuất bản năm
2003, trong đó cũng có đề cập chủ yếu đến hệ thống kiến trúc và ảnh hưởng của các đền, chùa đối với đời sống tinh thần của cư dân
Cho đến nay, chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu một cách đầy đủ di tích đền, chùa ở thanh phố Thanh Hóa, vì vậy việc thu thập nguồn tài liệu để hệ thống sắp xếp một cách đầy đủ phục vụ cho công tác nghiên cứu là tương đối khó khăn Tuy nhiên, dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp các nguồn tài liệu đó cũng là một cơ sở quan trọng đối với chúng tôi trong quá trình tập hợp để hoàn thành đề tài nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành, hệ thống kiến trúc của các đền, chùa trong địa bàn thành phố và hiện trạng cũng như công tác bảo tồn một số di tích đền, chùa trên địa bàn thành phố Thanh Hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hệ thống một số đền, chùa trong thành phố Thanh hóa ban gồm các phường Đông Vệ, Nam Ngạn, Hàm Rồng, Trường Thi, Đông Thọ, Ba Đình và các xã Đông Cương, Đông Hải Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đền tài
Trang 94 Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu một cách cụ thể một số đền, chùa trên địa bàn thành phố Thanh Hóa Nêu lên vai trò của đền, chùa đối với đời sống tâm linh của người dân Đánh giá hiện trạng của các đền, chùa và từ đó đề xuất các biện pháp tôn tạo đối với các đền, chùa trên cơ sở đảm bảo các chức năng sinh hoạt văn hóa và vẫn giữ được các nét truyền thống của các di tích đó
5 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được mục đích của đề tài, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu một cách toàn diện, có hệ thống về quá trình hình thành của một số đền, chùa tại thành phố Thanh Hóa
- Tìm hiểu về hệ thống kiến trúc và hiện trạng của một số đền, chùa trên địa bàn thành phố Thanh Hóa
- Tác động của hệ thống đền chùa đối với đời sống sinh hoạt văn hóa của người dân thành phố Thanh Hóa
6 Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này chúng tôi
sử dụng phương pháp luận sử học Mác xít và tư tưởng Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình hoàn thành toàn bộ đề tài
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp logic
- Các phương pháp liên ngành: Thống kê, đối chiếu, so sánh
- Kết hợp với các phương pháp điền dã, sưu tầm lịch sử địa phương
Trang 10Qua đề tài này muốn nêu lên thực trạng của một số đền, chùa hiện nay trên địa bàn thành phố Thanh Hóa qua đó có những đề xuất đối với các cấp có thẩm quyền có những chủ chương chính sách đối với công tác tôn tạo, bảo vệ những giá trị truyền thống của địa phương cũng như quốc gia.
Đề tài trở thành nguồn tư liệu để nghiên cứu về lịch sử, xã hội và văn hóa của địa phương và dân tộc
8 Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1 Khái quát chung về thành phố Thanh Hóa.
Chương 2 Diện mạo một số đền, chùa trên địa bàn thành phố
Thanh Hóa
Chương 3 Giá trị, ý nghĩa lịch sử của một số đền, chùa trên địa bàn
thành phố Thanh Hóa
Trang 11NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHỐ THANH HÓA 1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí
Thành phố Thanh Hóa là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Thanh Hóa, được thành lập theo Nghị định ngày 31.5.1929 của toàn quyền Đông Dương Thành phố nằm ở tọa độ địa lý 19°47' vĩ độ Bắc và 108°55' kinh độ Đông, phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Hoằng Hóa, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Quảng Xương, phía Tây giáp huyện Đông Sơn, phía Tây Bắc giáp huyện Thiệu Hóa
Với diện tích tự nhiên là 146,77 km² với 14 phường và 23 xã, Thành phố Thanh Hóa nằm ở trung tâm vùng đồng bằng Thanh Hóa với vị trí hết sức thuận lợi, có đường Quốc lộ 1A chạy qua trung tâm thành phố hơn 13 km, có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua, cách thủ đô Hà Nội 160 km về phía Bắc,
là cầu nối giữa Bắc bộ và Bắc Trung bộ, là đô thị có vai trò quan trọng về an ninh, quốc phòng Với vị trí thuận lợi như vậy sẽ tạo điều kiện cho thành phố trong việc giao lưu thông thương với các vùng miền trong toàn tỉnh cũng như các tỉnh lân cận và thủ đô Hà Nội
1.1.2 Điều kin tự nhiên
1.1.2.1 Đồi núi
Thành phố Thanh Hóa có điều kiện địa hình tương đối đặc biệt, gần như là một thung lũng nhỏ, ba phía bao quanh thành phố là Bắc, Tây, Nam đều có núi
- Nhìn chung trên cơ sở cấu trúc địa hình tương đối bằng phẳng thì sự đan xen giữa hệ thống đồi núi và sông ngòi tương đối nhiều là nét nổi bật của địa hình thành phố Thanh Hóa Trong hệ thống đó, có nhiều ngọn núi đóng
Trang 12vai trò nổi bật, làm điểm nhấn trong kết cấu địa hình thành phố như núi Hàm Rồng chạy từ làng Dương Xá men theo hữu ngạn sông Mã đến chân cầu Hàm Rồng, đối diện là núi Ngọc (Châu Phong), núi Hàm Rồng và núi Ngọc tách nhau khi sông Mã đổi dòng Núi Hàm Rồng có hình thế dài, uốn lượn nhiều khúc và đến khúc cuối thì phình ra như một chiếc đầu có miệng khổng lồ vì vậy mà trong dân gian đặt tên núi là núi Hàm Rồng, trông từ xa toàn cảnh núi như hình một con Rồng đang há miệng đớp Ngọc Châu Trên núi có nhiều các thắng cảnh nổi tiếng như hang Mắt Rồng, động Tiên và nhiều đền thờ trong
đó có đền thờ Thượng Ngàn Sơn Tinh Công chúa
- Núi Nhồi là cụm núi đá vôi nằm ở phía Tây thành phố, trên đỉnh có hòn Vọng Phu, nơi đây có một cảnh quan thiên nhiên đẹp Núi đá Nhồi có màu xanh thẩm, từ xa xưa nhân dân quanh vùng khai thác đá để tạc tượng, làm các loại khánh, làm bia, làm đá lát nền trong các đền, chùa Nhân dân ở đây còn khai thác đá phục vụ cho nhu cầu xây dựng làm nhà cửa, các công trình công cộng và phục vụ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp như làm ra các loại cối xay, đá trục lúa, đá lăn…, chính vì vậy mà nghề làm đá thủ công ở đây phát triển mạnh và tạo ra nhiều làng nghề
Trên núi có nhiều các di tích danh thắng nổi tiếng như chùa Báo Ân, chùa Chân Tiên và cùng với Hòn Vọng Phu nổi tiếng gắn liền với các điển tích lịch sử và các truyền thuyết dân gian
- Núi Mật và núi Ngọc Long là hai ngọn núi đều nằm ở địa phận làng Mật thuộc phường Đông Vệ phía Nam thành phố, xa hơn về phía Nam thành phố còn có núi Đa Si, núi Voi…
2.1.2.2 Sông ngòi
Bên cạnh hệ thống đồi núi điển hình như vậy thì sông ngòi trên địa bàn thành phố cũng đóng vai trò hết sức quan trọng cả về cảnh quan cũng như các hoạt động khác Thành phố Thanh Hóa có nhiều sông chảy qua kể cả sông tự
Trang 13nhiên lẫn sông đào Tiêu biểu nhất là con sông Mã, sông Mã chảy qua địa bàn thành phố hơn 10 km, được biết đến là con sông chảy xiết và hùng dũng nhưng khi qua địa bàn thành phố lại hết sức hiền hòa, uốn lượn qua núi Hàm Rồng và chảy về phía Đông ra biển Sông Mã chảy qua địa bàn thành phố có
6 km tuy nhiên nó lại là lạch chính đóng vai trò quan trọng trong hoạt động giao thông, chính vì vậy mà đoạn sông Mã chảy qua địa bàn thành phố có tới hai cảng lớn là cảng Hàm Rồng và cảng Lễ Môn, trong đó cảng Hàm Rồng là cảng nội địa phục vụ cho hoạt động giao thương giữa thành phố và các địa phương trong tỉnh, cảng Lễ Môn là cảng phục vụ cho hoạt động thông thương với các tỉnh ngoài và một số tàu thuyền quốc tế
Hệ thống sông đào trên địa bàn thành phố cũng tương đối nhiều bao gồm: sông Thọ Hạc, sông Cốc, sông Lai Thành, sông Kênh Bắc, sông Nhà
Lê, các con sông này được đào nhằm mục đích phục vụ cho việc tưới tiêu, chống hạn, chống lụt cho cư dân trên địa bàn thành phố
Nhìn chung, trên địa bàn thành phố được bao bọc bởi các con sông từ phía Bắc, phía Đông và phía Nam, các con sông nối liền với nhau bằng một mạng lưới chằng chịt, vừa thuận lợi cho giao thông vừa là nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt của cư dân thành phố Bên cạnh đó, phía Tây thành phố là các dãy núi đá vôi án ngữ, các đường vào thành phố đều phải qua các cây cầu, đây là cảnh quan thiên nhiên thuận lợi được cải tạo để tăng vẻ đẹp cho thành phố đồng thời phục vụ cho các yêu cầu kinh tế cũng như quốc phòng và an ninh
2.1.2.3 Khí hậu
Thanh Hóa nằm ở trong vùng nhiệt đới gió mùa nên trong năm có hai mùa nóng và lạnh rõ rệt, tuy nhiên do đặc điểm về địa hình nên Thanh Hóa hình thành ba vùng khí hậu tương đối rõ nét đó là vùng rừng núi, vùng trung
du và vùng đồng bằng ven biển Thành phố Thanh Hóa nằm trong khu vực
Trang 14đồng bằng ven biển nên hàng năm chịu ba mùa gió: gió Bắc (gió mùa đông bắc), gió Tây Nam (gió Lào), gió Đông Nam (gió Nồm).
Với điều kiện khí hậu hàng năm chia thành hai mùa thì mùa nóng ở đây thường bắt đầu từ cuối Xuân đến giữa Thu, trong giai đoạn này thì thời tiết nắng lắm, mưa nhiều và hạn hán nhiều khi dưới tác động của gió Tây Nam thì nhiệt độ có thể tăng lên 39 đến 40 độ C, thường xuất hiện giông, gió xoáy và mang theo mưa rào Ở những năm vào tháng tư đến tháng sáu mà không có gió Tây Nam mà chỉ có gió Nam thì thường hay có hiện tượng hạn hán ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân
Trong khi đó mùa lạnh thường bắt đầu từ mùa Thu đến cuối Xuân, trong giai đoạn này thời tiết hanh khô, mưa ít, khi xuất hiện gió mùa Đông Bắc nhiều khi nhiệt độ giảm xuống chỉ còn 5 đến 6 độ C
Tuy vậy nhiệt độ trung bình trong năm trên địa bàn nằm khoảng từ 23 đến 24 độ C
2.1.2.4 Đất đai
Xét về cấu trúc địa tầng thì địa tầng Thanh Hóa được kiến tạo vào kỷ Nê-bôn hoặc vào kỷ Luya – riêng Điển hình là hệ tầng Hàm Rồng và hệ tầng Đông Sơn
Hệ tầng Hàm Rồng được cấu tạo chủ yếu bằng đá vôi Phần dưới là cát kết, bột kết xen với đá vôi, phân lớp màu xám đen chứa hóa thạch billingsella Phần trên đá vôi phân lớp dạng dải xen một ít cát kết và đá phiến đá hóa thạch conodonta Tổng bề dày của hệ tầng mặt cắt trên này khoảng từ 500m đến 600m
Trong số các hóa thạch đã thu thập được trong hệ tầng Hàm Rồng thì Trilobita cho tuổi Cambri muộn, ordovic sớm, là hệ tầng có qua hệ chỉnh hợp với cả hệ tầng sông Mã nằm dưới và hệ tầng Đông Sơn nằm trên nó
Trang 15Hệ tầng Đông Sơn có thành phần chủ yếu là cát kết, bột kết và có mặt cắt điển hình dọc theo tuyến từ cầu Hàm Rồng đến làng Đông Sơn.
Tại mặt cắt Hàm Rồng - Đông Sơn, trình tự mặt cắt từ dưới lên trên như sau:
- Bột kết xen đá phiến, đất sét xen đá mỏng màu vàng xám, đôi khi có mặt những lớp cát kết hạt nhỏ
- Cát kết dạng quaczit màu vàng xám phân lớp trung bình chứa hóa thạch rất phong phú
Tổng bề dày của hệ tầng mặt cắt này khoảng 250m Hệ tầng Đông Sơn nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Hàm Rồng và bị hệ tầng Nậm pìa phủ lên trên Theo những hóa thạch đã thu thập thì tuổi của hệ tầng được xác định là ordovic sớm Thành phố Thanh Hóa nằm gọn trên nền hệ tầng đó
1.2 Xã hội
Hiện nay dựa trên những tư liệu, các hiện vật khảo cổ và những truyền thuyết dân gian, thần tích và thần phả chúng ta đã có những bằng chứng thuyết phục về sự xuất hiện của cộng đồng các cư dân người Việt ở địa bàn thành phố Thanh Hóa
- Xét về mặt khảo cổ: Hiện nay di chỉ núi Đọ được các nhà khảo cổ xếp vào địa điểm cư trú của cư dân thời kỳ đồ đá cũ Tại đây đã khai quật được rất nhiều các công cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt của người cổ đại cách chúng
ta từ hàng 3 đến 4 chục vạn năm
Tại di chỉ Đông Khối thuộc xã Đông Cương được khai quật vào năm
1960, người ta đã tìm được những hiện vật khẳng định di chỉ này là gián tiếp theo của văn hóa núi Đọ Các vùng ngoại vi thuộc địa bàn thành phố trên địa bàn huyện Đông Sơn cũng đã phát hiện được nhiều hiện vật cùng với di chỉ Đông Khối Những hiện vật được tìm thấy nhờ khảo cổ học trên địa bàn thành
Trang 16phố và các vùng phụ cận chứng tỏ sự xuất hiện, cư ngụ của người Việt cổ dưới dạng cộng đồng tại địa bàn thành phố Thanh Hóa vào thời điểm lúc bấy giờ.
Đặc biệt là tại địa bàn Đông Sơn người ta đã phát hiện và khai quật được hiện vật trống đồng Đông Sơn, sự phát hiện và khai quật những hiện vật bằng đồng tại đây đã đưa Đông Sơn lên vị trí địa danh của nền văn minh trống đồng - văn minh Đông Sơn Ngoài ra ở các vùng lân cận như Nam Ngạn, Quảng Thắng cũng tìm thấy trống đồng và các vật dụng bằng đồng, ở làng Dương Xá tìm thấy mũi tên, mũi dáo… bằng đồng Như vậy, cả một vùng rộng lớn đã xuất hiện những dấu hiệu rõ ràng của sự xuất hiện của cư dân Việt cổ và chứng tỏ trình độ chế tác công cụ bằng đồng của cư dân Việt cổ tại địa bàn thành phố Thanh Hóa thời điểm đó đã ở một mức độ cao
- Xét về mặt truyền thuyết, thần phả, thần tích: Dựa vào các truyền thuyết cũng như thần phả, thần tích tồn tại lâu đời trên địa bàn thành phố cũng
đã chứng minh cho sự tồn tại của các cộng đồng cư dân trên địa bàn Truyền thuyết tại làng Đông Sơn trên dãy núi Rồng có hai động lớn là động Rồng và động Tiên kể rằng nơi đây là nơi mà Lạc Long Quân và Âu Cơ phân định việc chia 50 người con xuống biển và 50 người con lên non Tại địa điểm làng Đình Hương thuộc dãy núi Rồng có đền thờ “Thượng Ngàn Sơn Tinh” công chúa Cũng tại địa bàn thành phố, tại làng Tạnh Xá phường Đông Vệ có thờ Tản Viên Sơn Thần
Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có nhiều các di tích thờ các thiên thần như là làng Bào Nội, Bào Ngoại hay làng Thổ Oa thờ “Thiên Ứng Linh Thần” hay “ Đông Cự Linh Ứng Dịch Vận Tôn Thần”…
Bên cạnh đó là các di tích thờ nhiên thần: Làng Ái Sơn thờ “Long Uyên Tôn Thần” hay làng Lễ Xá thờ “Bạch Hạc Tôn Thần”…
Như vậy, trên vùng đất mà ngày nay thành phố quản lý, dân cư đã ổn định nhất là vào khoảng thế kỷ X Còn từ đó về sau dù các làng phân lập cũng
Trang 17đều dựa trên nền tảng cơ sở cũ Hiện tượng này ta thấy khá rõ như ở làng Hương Bào, làng này chia thành Hương Bào Nội, Hương Bào Ngoại và Hương Thọ Giáp
Nhìn chung từ khi nhà Nguyễn chuyển lỵ sở từ Tư Phố về Hạc Thành thì dân số ở đây có sự phát triển đột biến Dựa trên các sự kiện lịch sử chúng
ta có thể chia thành các giai đợn như sau:
- Giai đoạn thứ nhất, từ 1803 đến 1885, ở giai đoạn này ngoài việc dân
số tự nhiên trên địa bàn phát triển còn có sự phát triển dân số cơ học, đó là các quan lại lớn nhỏ và binh lính do nhà Nguyễn quản lý cùng với cha mẹ và vợ con đi theo Tuy vậy, ở giai đoạn này, cho đến nay chúng ta vẫn chưa có một
tư liệu rõ ràng nào ghi chép đầy đủ về mặt số liệu
- Giai đoạn thứ hai, từ tháng 5 năm 1886 đến tháng 8 năm 1945, ngày tên quan lại cai trị hành chính đầu tiên của thực dân Phá là Ha-mơ-lanh được
cử giữ chức công sứ Thanh cho Ranh-gơ-van Giai đoạn này ngoài cư dân bản địa, quan lại Nam triều còn có cả một bộ phận cư dân nước ngoài Dân số năm 1915 toàn thành phố có 7.749 người, trong đó có 794 người là người nước ngoài Số người nước ngoài lúc này đã chiếm khoảng 10% cư dân, trong
đó có cả viên chức, thương gia, bao gồm cả người Pháp, người Ấn và người Trung Hoa
- Giai đoạn thứ ba, từ tháng 8 năm 1945 trở về sau, đây là giai đoạn có
sự đột biến lớn về mặt dân cư
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, theo số liệu của ban điều tra đô thị thì dân số thị xã lúc này có khoảng 11.500 người
Năm 1954, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi thì dân số tại đây là 12.415 người (Theo số liệu báo cáo tình hình hồi cư của UBHC thị
xã Thanh Hóa)
Trang 18Năm 1963, dân số thành phố là 51.520 người (theo số liệu điều tra đô thị và đất xây dựng của tỉnh).
Năm 1973 là 79.908 người
Năm 1986 là 117.614 người
Từ năm 1994 trở đi khi có quyết định của Thủ tướng chính phủ về việc nâng cấp từ thị xã lên thành phố và mở rộng thêm ba xã Đông Cương, Quảng Hưng và Quảng Thành thì dân số thành phố đã lên 172.462 người
Trong quá trình hình thành và phát triển của cư dân thành phố, chúng ta
có thể thấy một số điểm như sau:
Thứ nhất, cư dân xa xưa trên địa bàn cho đến ngày nay vẫn là những người làm chủ nền văn hóa Đông Khối, Đông Sơn Họ sinh sống cách chúng
ta từ 3 đến 4 vạn năm
Thứ hai, suốt cả thiên niên kỷ thứ nhất và các thế kỷ sau công nguyên
cư dân đã dần dần từ đôi bờ sông Chu, sông Mã lan tỏa ra khắp đồng bằng ven biển xứ Thanh
Thứ ba, cư dân trên địa bàn thành phố đã ổn định muộn nhất từ đời Lý trở về trước Trong cư dân ngoài người bản địa có cả người từ các huyện khác, có cả người từ các tỉnh khác và thậm chí cả người nước ngoài như trường hợp cha con Lê Cốc đã đến vùng đất này Tất cả đều gắn bó mật thiết với nhau tạo thành một khối cộng đồng đoàn kết và nếu có đương đầu với giặc ngoại xâm thì đều sẵn sàng hi sinh cho vùng đất này
1.3 Truyền thống lịch sử và văn hóa
1.3.1 truyền thống lịch sử
1.3.1.1 Lịch sử hình thành thành phố Thanh Hóa
Tỉnh Thanh Hóa nói chung và địa bàn thành phố Thanh Hóa nói riêng
là một trong những cái nôi của loài người Tại đây có nhiều di chỉ ghi lại một cách sinh động dấu vết xưa của thời nguyên thủy Điều đó chứng tỏ rằng
Trang 19Thanh Hóa và địa bàn thành phố Thanh Hóa đã chứng kiến các nền văn minh của người tiền sử đã diễn ra trên mảnh đất tự bao đời nay và được mệnh danh
là địa linh, nhân kiệt
Những di chỉ khảo cổ ở núi Đọ, di chỉ Đông Khối, di chỉ Đông Sơn chính là những dấu tích cụ thể minh chứng một cách rõ dàng của sự xuất hiện
và tồn tại nối tiếp nhau của con người thời tiền sử từ khi xuất hiện cho đến các nền văn minh mà con người tạo ra trên mảnh đất này
Khi đất nước ta rơi vào giai đoạn “1000 năm Bắc thuộc”, vào thời nhà Hán, theo “Tiền Hán Thư” cho biết thì quận Cửu Chân được mở vào năm
Nguyên Đỉnh thứ 6 (111 trước công nguyên), đời Hán Vũ Đế, trụ sở đặt tại huyện Tư Phố Địa bàn thành phố Thanh Hóa lúc bấy giờ nằm sát thành Tư Phố (Tư Phố là làng Giàng) Quận trị Tư Phố là trung tâm kinh tế, chính trị của Cửu Chân
Thời nhà Đường, năm Vũ Đức thứ 5 (622), nhà Đường đổi quận Cửu
Chân thành “Ái Châu Cửu Chân quận”, thường gọi là Ái Châu gồm bốn
huyện là Cửu Chân, Tùng Nguyên, Dương Sơn, An Thuận Huyện Cửu Chân
có thể tương ứng với huyện Tư Phố của các đời trước
Đến thời Nhà Lý thời kỳ đầu gọi là trại Ái Châu Lý Công Uẩn chia cả
nước thành 24 lộ, trong đó có Thanh Hóa lộ, (Thanh: trong sạch; Hoá: biến
hoá) Tên gọi Thanh Hoá bắt đầu có từ đây Năm 1029, nhà Lý dời lỵ sở từ Ðông Phố đến Duy Tinh (vùng đất các xã Văn Lộc, Mỹ Lộc, Thuần Lộc huyện Hậu Lộc ngày nay)
Năm 1804, vua Gia Long ra chỉ dụ dời trấn thành Thanh Hóa từ làng Dương Xá (xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa) về làng Thọ Hạc (huyện Đông Sơn), gọi là Hạc Thành
Ngày 22 tháng 7 năm 1889, vua Thành Thái ký đạo dụ thành lập thị xã Thanh Hóa bao gồm 7 làng: Đức Thọ Vạn, Cẩm Bào Nội, Cốc Hạ, Phủ Cốc
Trang 20(thuộc tổng Bố Đức, huyện Đông Sơn); Thọ Hạc, Đông Phố, Nam Phố (thuộc tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn).
Ngày 29 tháng 5 năm 1929, người Pháp quyết định thành lập thị xã Thanh Hóa, là một đô thị cấp 3
Ngày 16 tháng 3 năm 1963, xã Đông Giang (gồm 3 làng Nghĩa Phương, Đông Sơn và Nam Ngạn) thuộc huyện Đông Sơn và xóm Núi xã Hoằng Long, huyện Hoằng Hóa sát nhập vào thị xã Ngày 28 tháng 8 năm
1971, các xã Đông Vệ, Đông Hương, Đông Hải thuộc huyện Đông Sơn và xã Quảng Thắng thuộc huyện Quảng Xương sát nhập vào thị xã Lần lượt năm
1991 và 1993, thị xã Thanh Hóa được xếp vào độ thị loại 4 và loại 3
Ðể phát huy và nâng cao vai trò, vị thế của trung tâm tỉnh lỵ của một tỉnh thuộc hàng lớn nhất cả nước, ngày 1 tháng 5 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 37/CP nâng cấp thị xã Thanh Hóa lên thành phố Thanh Hóa với 15 phường, xã, tổng diện tích tự nhiên 57,8 km2, dân số gần
20 vạn người
Ngày 6 tháng 12 năm 1995, Chính phủ ra Nghị định số 85/CP điều chỉnh địa giới thành phố Thanh Hóa, sáp nhập xã Đông Cương thuộc huyện Đông Sơn, các xã Quảng Thành, Quảng Hưng và một phần đất của xã Quảng Thịnh thuộc huyện Quảng Xương vào thành phố, nâng tổng số phường xã lên
18 phường, xã
Năm 2004, thành phố Thanh Hóa được công nhận là đô thị loại 2 Theo
kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, thành phố sẽ là đô thị loại 1 vào năm 2013
1.3.1.2 Truyền thống đấu tranh cách mạng
Thành phố Thanh Hóa, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” từ bao đời nay
cùng với dòng chảy của lịch sử dân tộc là nơi sản sinh ra biết bao nhiêu anh
Trang 21hùng yêu nước, nhân dân ở đây đã xây dựng cho mình tinh thần đấu tranh quật cường, lòng yêu nước nồng nàn và bất khuất.
Từ nền văn hóa Sơn Vi đầu tiên ghi dấu sự có mặt của con người ở đây cho đến những bước đường lịch sử đầu tiên dựng nước và giữ nước, trải qua quá trình gian khổ hơn nghìn năm Bắc thuộc, cho đến thời kỳ độc lập tự chủ với biết bao nhiêu cuộc kháng chiến trường kỳ, hi sinh biết bao nhiêu xương máu cho độc lập tự do của dân tộc, nhân dân Thanh Hóa đã góp phần quan trọng trong một hành trình dài của lịch sử dựng nước và giữ nước
Vào thời Bắc thuộc, do sự áp bức bóc lột nặng nề của thế lực phong kiến phương Bắc cụ thể là nhà Hán, đời Hán Võ Đế, mùa xuân năm 40 (sau công nguyên) cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng đã nổ ra Do sự căm thù giặc sâu sắc và đỉnh điểm, trong một thời gian ngắn nhân dân khắp nơi ở hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân đồng loạt đứng lên
giải phóng, thoát khỏi ách kìm kẹp, đô hộ của Hán tộc ngoại xâm Sách “Hậu Hán thư” viết: “Năm Kiến Vũ thứ 16, người con gái ở Giao Chỉ là Trưng Trắc
và em là Trưng Nhị làm phản, đánh phá châu quận Trưng Trắc là con gái của lạc tướng huyện Mê Linh, vợ Thi Sách, người Chu Diên rất hùng dũng Thái thú Giao Chỉ là Tô Định dùng pháp luật trói buộc Trưng Trắc phẫn nộ, vì thế
mà làm phản Do vậy mà người Man, người Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng…”[7, tr.35].
Ở quận Cửu Chân, nhân dân đã nổi dậy chiếm thành Tư Phố và giải phóng các thành trì khác Lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa ở Cửu Chân là Đô Dương và Chu Bá Sau khi chiếm được thành trì, hai ông kéo quân về hợp quân với hai bà Trưng tại Mê Linh Mùa hè năm 43, đại quân của Mã Viện kéo đến và đã đánh đổ được triều đình Trưng Vương Bộ phận khác của nghĩa quân do Đô Dương và Chu Bá lãnh đạo đã lui về Cửu Chân, tiếp tục kháng chiến Đến tháng 11 năm 43, Mã Viện đem hai vạn quân cùng 2000 chiếc
Trang 22thuyền tiến vào vùng Cửu Chân Xung quanh thành Tư Phố đã diễn ra nhiều trận đánh quyết liệt giữa nghĩa quân và đại quân của Mã Viện Dưới sự lãnh đạo của Chu Bá, nhân dân cửu Chân đã chiến đấu rất ngoan cường nhưng vì tương quan lực lượng quá chênh lệch Chu Bá cùng nhiều nghĩa quân không chịu cho địch bắt đã bỏ quân lỵ chạy vào rừng sâu Cuộc khởi nghĩa thất bại.
Từ khi cha con họ Khúc khôi phục được nền độc lập tự chủ cho dân tộc cho đến khi triều đình Nam Hán phá hủy thành quả đó Kế tục sự nghiệp của
họ Khúc có Dương Đình Nghệ người ở làng Giàng, tên chữ là Tạnh Xá tức là vùng Tư Phố cũ Ông vừa là tướng của họ Khúc vừa là một hào trưởng ở Ái
Châu Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư” thì ông đã nuôi dưỡng hơn 3000
nghĩa tử, chuẩn bị lương thảo và vũ khí để tiến công ra chiếm thành Đại La Giết chết tướng giữ thành là Lương Khắc Trinh, thứ sử Lý Tiến và đám tàn quân phải bỏ chạy về Quảng Châu Vua Nam Hán sai Trịnh Bảo đem quân cứu viện nhưng bị Dương Đình Nghệ chia quân đón đánh và giết chết vô số, toàn bộ quân cứu viện bị tan vỡ Đây là thắng lợi hết sức to lớn của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của dân tộc vào đầu thế kỷ X, nó gắn liền với tên tuổi Dương Đình Nghệ người con ưu tú của xứ Thanh
Sau khi giành lại được quyền độc lập tự chủ từ tay quân Nam Hán, Dương Đình Nghệ xưng làm Tiết độ sứ, kế tục sự nghiệp của họ Khúc Ông
đã cử Ngô Quyền là một vị tướng tài ba lại vừa là con rể giữ Ái Châu Rất tiếc
là sử cũ đã không ghi chép được những thành quả mà chính quyền họ Dương
đã làm được, đồng thời cũng không để lại tài liệu gì về lực lượng nhân dân tham gia nghĩa quân, nhất là những người trên địa bàn thành phố
Vào thời nhà Trần, trước âm mưu thâm độc muốn tiếp tục xâm lược nước ta của quân Nguyên- Mông, vào tháng 12 năm 1284, Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã hiệu triệu phụ lão cả nước họp ở Diên Hồng, ban yến và
hỏi kế đánh giặc, các phụ lão đồng thanh nói “đánh” [2, tr 45] Tham gia hội
Trang 23nghị Diên Hồng, theo thần tích đền Thánh Cả làng Nam Ngạn có ông Chu Nguyên Lương được dự hội nghị này Thực hiện tinh thần quyết chiến của hội nghị Diên Hồng, Chu Nguyên Lương đã về làng, bỏ tiền của tập hợp binh sĩ thạo nghề sông nước cho huấn luyện sau đó đưa ra Hải Dương hội quân với lực lượng của triều đình góp công đánh tan quân giặc Nguyên – Mông.
Bên cạnh đó theo các thần tích và thần phả thì Trần Nhật Duật được nhà vua cử vào bảo vệ xứ Thanh Hay thần tích đền Thánh Cả Hương Bào Nội và Hương Bào Ngoại, thì vị Thần là Nguyễn Tĩnh, một vị tướng tài ba có nhiều công lớn giúp nhà Trần Sau khi kháng chiến thắng lợi ngài được nhà vua cắt đất, phong hầu
Tại địa bàn thành phố Thanh Hóa cũng đã xảy ra một số trận đánh quyết liệt giữa quân Mông- Nguyên và nhân dân ta tại kênh Bố Vệ
Sau khi nước ta bị giặc Minh xâm lược, dưới ngọn cờ đấu tranh của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, nhân dân khắp nơi đã hưởng ứng nhiệt liệt, trong đó có nhân dân địa bàn thành phố Thanh Hóa, có nhiều gia đình cả cha con, chồng vợ cũng theo quân khởi nghĩa Điều thật đáng tiếc là, chính sử không ghi chép lại mà chỉ có gia phả và thần tích ghi lại được ít nhiều
Dưới thời Tây Sơn, dưới ngọn cờ chống quân xâm lược nhà Thanh do Nguyễn Huệ lãnh đạo, nhân dân trên địa bàn thành phố Thanh Hóa đã có
không ít người tham gia nghĩa quân Sử cũ chép rằng; “Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), đại quân Tây Sơn do Quang Trung chỉ huy từ Phú Xuân tiến
ra Bắc Khi qua Nghệ An, Thanh Hóa, Quang Trung đã tuyển thêm được 8 vạn quân lính và tổ chức duyệt binh ở làng Thọ Hạc (nay là phường Đông Thọ - thành phố Thanh Hóa) vào ngày 10 tháng chạp”(theo “Việt sử thông giám cương mục”).[22, tr 7].
Trang 24Vào giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta, trên cả nước đã diễn ra nhiều các cuộc đấu tranh của nhân dân dưới sự lãnh đạo của triều đình nhà Nguyễn cũng như các phong trào do quần chúng tổ chức chống Pháp Nhân dân Thanh Hóa nói chung và nhân dân thành phố Thanh Hóa nói riêng đã góp phần không nhỏ vào các phong trào đó Đặc biệt,
dưới ngọn cờ của phong trào “Cần Vương” do Tôn Thất Thuyết thay mặt nhà
vua hạ chiếu vào ngày 19 tháng 9 năm 1885, trong chiếu Cần Vương ấy có một điểm khá quan trọng là đóng đô tại Thanh Hóa Cũng chính từ đây nhân dân thành phố Thanh Hóa đã tích cực hưởng ứng ngọn cờ Cần Vương, tích cực tham gia đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Trần Xuân Soạn người được phụ trách phong trào ở Thanh Hóa Hàng loạt các cuộc chiến đấu nổ ra tiêu biểu là
sự kiện đánh thành Thanh Hóa vào đêm 11 rạng ngày 12 tháng 3 năm 1886, tuy trận chiến kết thúc mà không giành được thắng lợi nhưng nó đã tạo thành một tiếng vang lớn đánh dấu bước phát triển mới của lực lượng Cần Vương
và tạo nên một phong trào khởi nghĩa hợp nhất ở xứ Thanh
Tinh thần yêu nước và đấu tranh bất khuất là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta nói chung và nhân dân thành phố Thanh Hóa từ bao đời nay nói riêng, nó được hun đúc tôi luyện trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của đất nước Mỗi khi đất nước đứng trước nguy cơ xâm lăng của
kẻ thù ngoại bang tinh thần đấu tranh ấy lại trỗi dậy và phát huy cao độ Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong thế kỷ XX đã thể hiện được bản chất tinh thần cách mạng của người dân thành phố Thanh Hóa
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thành phố Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm cách mạng của cả nước với biết bao cuộc đấu tranh giữa nhân dân ta với kẻ thù ở đây Với tinh thần chống ngoại xâm cao độ, nhân dân thành phố Thanh Hóa đã huy động
Trang 25hàng ngàn con em tình nguyện đi bộ đội, dân công, các lực lượng dân quân tự
vệ tham gia chống giặc Có thể nói, nhân dân thành phố Thanh Hóa không kể già trẻ, gái trai, ở bất kỳ đâu khi nghe tiếng gọi của cách mạng đều sẵn sàng tham gia kháng chiến với tinh thần cao nhất, sẵn sàng hi sinh và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao
Trong kháng chiến chống Pháp nhân dân thành phố Thanh Hóa là địa phương đi đầu trong việc thành lập các lực lượng bộ đội chiến đấu tham gia các chiến dịch chống Pháp, tích cực huy động các lực lượng dân công tiến hành các cuộc vận chuyển lương thảo lên chiến trường Tây Bắc, góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của cả nước
Trong kháng chiến chống Mỹ, nhân dân thành phố Thanh Hóa đã tích
cực thực hiện các phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai, tất cả để thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, trở thành một trong những
hậu phương vững chắc cho Miền Nam đánh Mỹ Theo thống kê: Từ năm
1954 đến 1975, số thanh niên của thành phố nhập ngũ là 6.041 người Số liệt
sĩ trong cả hai cuộc kháng chiến là 2.100 người Số thương binh cũng trong cả hai cuộc kháng chiến là 1.836 người, trong đó có 72 thương binh nặng ¼
Trải qua suốt chiều dài lịch sử dân tộc, tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân thành phố Thanh Hóa luôn luôn được hun đúc và phát triển trở thành ngọn cờ cho các phong trào đấu tranh của nhân dân xứ Thanh Trên tinh thần đó, hiện nay khi đất nước bước vào giai đoạn mới, Đảng bộ và nhân dân thành phố Thanh Hóa đã và đang tích cực xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh, phát triển về nhiều mặt, trở thành một địa phương đầu tàu thúc đẩy qua trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” mà Đảng
đã đề ra
Trang 261.3.2 Truyền thống văn hóa
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trải qua biết bao khó khăn và thử thách, với những biến cố lịch sử luôn thay đổi, từ việc chinh phục tự nhiên cho đến đương đầu với nguy cơ xâm lược của kẻ thù ngoại bang Nhân dân thành phố Thanh Hóa tự bao đời nay đã cùng nhau đoàn kết vượt lên những
khó khăn, gian khổ, đã “chung lưng đấu cật”, sáng tạo nên biết bao nhiêu giá
trị văn hóa đáng quý mang đậm bản sắc văn hóa của địa phương
Nói đến thành phố Thanh Hóa là người ta biết đến ngay một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, với những giá trị vật chất và tinh thần vô cùng đáng quý còn lưu giữ cho đến ngày nay Chính nơi đây đã để lại dấu tích của
sự xuất hiện tồn tại người Việt cổ cũng như quá trình phát triển của các nền văn minh với các giá trị vật chất hiện hữu Hiện nay di tích Đông Khối (ở xã Đông Cương) đã trở thành di tích lịch sử nổi tiếng không chỉ riêng ở Thanh Hóa mà còn của cả nước nói chung
Từ đầu công nguyên cho đến thế kỷ X, với tư cách là chung tâm hành chính của quận Cửu Chân, các lớp cư dân quanh thành Tư Phố là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp và tiếp thu được nhiều nhất những giá trị của văn hóa Hán, kết hợp với những giá trị bản địa tạo nên những lớp văn hóa với bản sắc riêng và đặc biệt Đó là nền tảng cho vùng đất này từ bao đời nay luôn tạo ra nhiều những danh nhân, các nhà khoa bảng đóng góp to lớn cho tiến trình phát triển của dân tộc
Có thể nói, người dân xứ Thanh nói chung và thành phố Thanh Hóa nói riêng từ bao đời nay là địa phương có bề dày truyền thống hiếu học và khoa bảng Với truyền thống cần cù ham học, trong suốt thời kỳ phong kiến thành phố Thanh Hóa đã có rất nhiều người tham gia ứng thí và đạt được nhiều thành tích cao Trước hết phải kể đến những người con ưu tú trong tầng lớp tri thức thời bấy giờ như:
Trang 27Nguyễn Thế Khanh (1601 – 1670), quê ở làng Phù Lưu, nay thuộc xã Quảng Thắng, thành phố Thanh Hóa Ông đỗ Hoàng Giáp khoa Đinh Sửu (1637) đời vua Lê Thần Tông, làm quan đến chức Lễ bộ hữu thị lang tước Hầu Khi mất được tặng chức Tả thị lang.
Nguyễn Tạo (1645 - ?), quê ở Thọ Hạc, nay là phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa Ông đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) năm 26 tuổi vào đời Lê Huyền Tông Năm 53 tuổi làm đến chức Công pha cấp sự trung
Lai Dăng Tiến (1637 – 1722), ông quê ở làng Phù Lưu, nay thuộc xã Quảng Thắng, thành phố Thanh Hóa Ông đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu (1661) đời vua Lê Thần Tông, năm 25 tuổi ông làm quan đến chức Đề hình giám sát ngự sử Khi mất được tặng chức Tham chính
Đỗ Huy Cứ (1746 – 1828), quê ở làng Đồng Lễ, nay thuộc xã Đông Hải, thành phố Thanh Hóa Ông đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi (1775) đời Lê Hiền Tông, làm chức Hàn lâm hiệu thảo, có đi xứ sang nhà Thanh, thọ 83 tuổi
Vũ Văn Thành, quê làng Thủ Phác, nay thuộc xã Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa Ông năm sinh năm mất không rõ, đỗ Thám Hoa thời Lê ( Gia phả có ghi nhưng tra cứu trong đăng khoa lục, bia ký không thấy có tên ông)
Ngoài những nhân vật ưu tú trên thì trong Triều Lê (Hậu Lê) còn có tới
12 vị đỗ Hương Cống, trong Triều Nguyễn có 6 vị đỗ Cử nhân
Trên đây là các vị đại khoa đỗ Hương Cống triều Lê và cử nhân triều
Nguyễn có tên trong bia hay trong “Đăng khoa lục”, chắc chắn sẽ còn nhiều
người đỗ đạt chưa được ghi vào bia ở Văn Miếu (Đại khoa) và trong Đăng khoa lục ( trúng tuyển các kỳ thi Hương)
Phát huy truyền thống tốt đẹp đó, hiện nay trên địa bàn thành phố với
14 phường và 23 xã thì đều có hệ thống trường lớp từ mẫu giáo đến tiểu học, THCS và cấp THPT trong đó trường THPT chuyên Lam Sơn là một trong những trường điểm của cả nước Với tư cách là trung tâm giáo dục của toàn
Trang 28tỉnh, hiện nay trong địa bàn thành phố còn có 3 trường Đại học, 5 trường Cao đẳng và 13 trường Trung cấp Trong toàn thành phố có hàng ngàn người có trình độ Đại học và Cao đẳng, hàng chục người có học vị Tiến sĩ trong và ngoài nước.
Nói đến Phật giáo là nói đến hệ thống chùa chiền Cho đến nay vẫn chưa xác định được chính xác thời điểm chùa bắt đầu được xây dựng tại địa bàn thành phố Thanh Hóa, tuy nhiên chùa xuất hiện muộn nhất là vào cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX là chùa Thanh Hà, như vậy cho đến đầu thế kỷ XX, trên địa bàn thành phố, kể cả nội thành và ngoại thành có 39 chùa Trong các chùa hiện nay còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như tượng Phật, chuông lớn, kinh kệ và bia đá
Thiên Chúa giáo truyền vào Thanh Hóa từ thế kỷ XIX, giáo xứ Thanh Hóa có thờ vua Tự Đức (1847 đến 1883) Hiện nay giáo xứ chính tòa gồm 10 giáo họ lớn, nhỏ nằm trong phạm vi thành phố và một số thuộc huyện Quảng Xương và Đông Sơn Theo thống kê năm 1997 số giáo dân có đến 4000 người Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, những người công giáo thành phố một lòng kính Chúa tin vào đường lối chính sách tôn giáo của Đảng
và Nhà nước đã đem sức người, sức của cùng nhân dân đánh thắng hai đế
quốc Pháp và Mỹ, góp sức xây dựng theo tinh thần “Tốt đời đẹp đạo”.
Với truyền thống “Uống nước nhờ nguồn”, trên địa bàn thành phố hầu
như tất cả các phường, xã đều có các đền thờ các vị thần và các vị anh hùng
có công xây dựng đất nước và bảo vệ địa phương, trong đó có nhiều các di tích được xếp danh hiệu di tích lịch sử cấp quốc gia và cấp tỉnh với quy mô rộng lớn và lưu giữ nhiều những hiện vật có giá trị Nó thể hiện nét đẹp trong đời sống tâm linh của người dân thành phố đối với việc tưởng nhớ đến công lao của các bậc tiền bối và tạo tấm gương sáng cho các thế hệ con cháu sau này noi theo
Trang 29Hàng năm trên địa bàn thành phố thường diễn ra rất nhiều lễ hội với quy mô và đặc điểm khác nhau Ở mỗi làng thì lễ hội diễn ra thường gắn liền với sự tích của các nhân vật thờ tự hoặc đặc điểm sinh hoạt văn hóa của từng làng đó vì vậy tạo nên một bức tranh sinh hoạt văn hóa hết sức sinh động và độc đáo Trong đó có những lễ hội tiêu biểu như lễ hội làng Thọ Hạc diễn ra với thời gian dài từ mùng 4 tết cho đến mùng 10 tháng giêng mới kết thúc, lễ hội làng Vệ Yên là lễ hội hàng năm thu hút số lượng người đông đảo nhất với rất nhiều trò diễn thú vị như trò đấu võ, múa quân chạy chữ với nhiều người dân tham gia Nhìn chung lễ hội làng nào cũng mang một tâm thức tâm linh vừa kín đáo sâu xa, vừa lan tỏa bao trùm là sự thờ cúng các vị thần linh Đây
là dịp dân làng biểu hiện lòng biết ơn sùng kính đối với các bậc có công với dân với nước, ý thức cộng đồng và sự gắn bó giữa những người cùng làng, đồng thời thể hiện lòng cầu mong của dân làng về một đời sống no đủ an khang thịnh vượng
Trong lĩnh vực văn học dân gian trên địa bàn thành phố được xem là hết sức phong phú và đa dạng, vừa giàu tính dân tộc, vừa đậm đà bản sắc văn hóa địa phương Ở đây có đầy đủ các thể loại văn học dân gian truyền thống của người Việt như thần thoại, truyện cổ tích, truyền thuyết, ngụ ngôn, tục ngữ, ca dao, dân ca, trò chơi và trò diễn…, ở mỗi lĩnh vực thì số lượng đều tương đối nhiều và gắn liền với đời sống nhân dân qua hoạt động lao động sản xuất và tín ngưỡng tâm linh từng làng từng xóm khác nhau
Nhìn chung, trong suốt chiều dài lịch sử của xứ Thanh nói chung và thành phố Thanh Hóa nói riêng, truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất, cần cù và chịu khó đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt, những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần vô giá trở thành niềm tự hào trong mỗi chúng ta
Trang 30* Tiểu kết
Có thể thấy, Thanh Hóa nói chung và thành phố Thanh Hóa nói riêng,
từ bao đời nay có bề dày lịch sử hào hùng và truyền thống văn hoá độc đáo Cùng với điều kiện tự nhiên có những nét đặc thù, tạo nên những giá trị tinh thần song hành với thời gian Suốt mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, thành phố Thanh Hóa là mảnh đất lưu danh nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu như: Khương Công Phụ, Lê Hoàn, Lê Lợi, Lê Văn Hưu,
Lê Thánh Tông, Đào Duy Từ, Cùng với những trang lịch sử oai hùng, thành phố Thanh Hóa có còn có nhiều di tích, đền đài có giá trị, góp phần quan trọng trong việc khẳng định xứ Thanh là một vùng đất “Địa linh nhân kiệt”
Trang 31Vệ, thành phố Thanh Hóa là không nhiều Nguồn tài liệu trong chính sử chỉ cho chúng ta biết “Miếu Bố Vệ trước gọi là điện Hoằng Đức ở thôn Kiều Đại,
xã Bố Vệ, huyện Đông Sơn, nguyên trước Miếu ở Thăng Long và huyện Thụy Nguyên, năm Gia Long thứ tư mới dời về đây, tế vào hai tiết Xuân -
Thu, quan tỉnh hành lễ” [14, tr.252] Ngoài ra, sách “Từ điển Di tích văn hóa
Việt Nam” do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành vào năm 1993 cho chúng ta biết thêm một thông tin nữa, “đây là nơi thờ các Vua và Hoàng hậu
Triều Lê gồm có 29 Hoàng Đế và 28 Hoàng Hậu”[15, tr 60].
Những dòng ghi chép lịch sử nêu trên cũng được sử dụng từ hai nguồn
sử liệu chính là “Đại Nam Nhất Thống Chí” của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
và “Thanh Hóa tỉnh Chí” của Vương Duy Trinh Tuy vậy, có lẽ ở đây có sự nhầm lẫn về miếu hiệu mà các tác giả nói đến 29 vị Hoàng Đế và 28 vị Hoàng Hậu sách “Niên biểu Việt Nam” xuất bản năm 1970, đã cho chúng ta biết Vương triều Lê tồn tại 354 năm, thực tế chỉ có 27 vị Vua, còn con số 28 vị Hoàng Hậu đang là một ẩn số Hiện nay theo các nguồn sử liệu chúng ta chỉ biết 12 vị Hoàng Hậu trong số 27 vị Vua của triều Lê
Tuy vậy, có một vấn đề đặt ra là Điện Hoằng Đức ở kinh thành Thăng Long được chuyển về Bố Vệ được các sách đề cập không rõ là điện gì? Lần giở lại những trang sử nhà Lê chép về kinh thành Thăng Long thời Đông
Trang 32Kinh (1428-1527), thời Kinh- Kẻ Chợ thời Mạc (1527-1592) và thời Lê - Trịnh(1533-1786) chỉ thấy ghi những điện chính trong kinh thành như: Điện Kính Thiên, điện Thị Triều, điện Chí Kính, điện Vạn Thọ, điện Cần Chánh, Cẩn Đức, Thúy Ngọc, Giảng Võ, Thạch Thất, Thượng Dương Sang đến đời Vua Lê Trung Hưng, ngoài những điện nêu trên còn xuất hiện thêm cụm kiến trúc Phủ Chúa ở phía ngoài Hoàng Thành Cụm kiến trúc này theo như sử sách mô tả là gồm các cung điện nguy nga, có tường thành bao bọc hình vuôn Nhưng các cung điện ở Phủ Chúa này cũng không thấy sử sách ghi chép một cách đầy đủ Vì vậy, mà vấn đề điện Hoằng Đức được chuyển từ Thăng Long về Bố Vệ cũng cần phải tiếp tục được nghiên cứu và làm sáng tỏ.
Tuy các nguồn tư liệu có thể chưa đầy đủ, nhưng dù sao thì sự hiện diện của Miếu nhà Lê ở làng Bố Vệ được khởi dựng chỉ sau hai năm khi vua Gia Long ra lệnh phá bỏ Hoàng Thành cũ ở Thăng Long để xây dựng một tòa thành mới, chứng tỏ những việc làm của ông đã được tổ chức lại về phương diện chính trị
Ở một bối cảnh khác, chúng ta thấy sự ra đời của Bố Vệ Miếu được diễn ra trong điều kiện Điện Miếu Lam Kinh bị hoàn toàn phá dưới thời Tây Sơn Bắc Thành bị phá bỏ Trên thực tế Thăng Long đang dần dần bị thu hẹp lại Điều này cũng được chứng minh thêm là dưới triều Nguyễn, Thăng Long-
Hà Nội không chỉ mất vị trí kinh đô của cả nước, mà còn bị hạ thấp từ trấn thành xuống tỉnh thành Rõ ràng việc xây dựng miếu thờ ở quê hương của các Vua Lê đã nằm trong ý đồ chính Trị của Gia Long từ khi ông mới lên ngôi, còn nơi định đô chính lại là kinh thành Phú Xuân- Huế
Điều đáng chú ý là nhà Lê xác lập chính quyền bằng một cuộc kháng chiến chống ngoại xâm anh dũng nên được toàn bộ dân tộc ủng hộ, trái lại Nhà Nguyễn thành lập vương triều bằng một cuộc nội chiến khốc liệt chống lại một nhà nước phong kiến tiến bộ hơn (nhà Tây Sơn) để xây dựng một nhà
Trang 33nước phong kiến chuyên chế, vì vậy đã không giành được sự ủng hộ của một
bộ phận lớn nhân dân Do đó, nhà Nguyễn đã giải quyết vấn đề này bằng nhiều biện pháp khác nhau để ổn định tình hình chính trị cũng như củng cố vương triều Riêng ở Thanh Hóa vốn là nơi phát tích của Nhà Lê, một mặt nhà Nguyễn tìm cách đàn áp các cuộc nổi dậy của tôn thất nhà Lê để khẳng định quyền uy của một thể chế, mặt khác để lấy lòng dân và con cháu nhà Lê bằng việc cho xây dựng lại Thái Miếu
Rõ ràng sự ra đời và tồn tại của Thái Miếu ở làng Bố Vệ cùng với việc Vua Gia Long cho Diên Tự Công Lê Duy Việt thu hoa lợi 12 xã để trích ra góp phần vào việc thờ cúng Thái Miếu, Nhà Nguyễn đã chứng tỏ không thể thay thế những tư tưởng đã từng tồn tại trong lịch sử bằng những việc làm chủ quan của mình Điều này, trước đó dưới thời Nguyễn Huệ vào năm 1789 cũng
đã cấp cho Hoàng Tử Lê Duy Cần 2000 mẫu ruộng ở Thanh Hóa để thờ cúng Nhà Lê Đó cũng là một sự lựa chọn sáng suốt, khách quan của bất kỳ một vương triều nào đối với sự tồn tại của mình
Từ sự nhìn nhận như vậy, chúng ta muốn đề cập đến sự tồn tại của Thái Miếu trên thực tế, được xem là một sử liệu, một đối tượng của nghiên cứu sử học
Như chúng ta đã biết, Vua Gia Long cho khởi dựng lại Thái Miếu ngay trên phần đất của nền điện Chiêu Hòa, vốn là điện thờ của Tuyên Từ Nhân Ý Chiêu Túc Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Anh ( vợ Vua Lê Thái Tông, mẹ Vua
Lê Nhân Tông) đã bị đổ nát Việc làm này ngoài ý nghĩa về mặt chính trị thì địa điểm này còn nằm trên đường kinh lý Bắc- Nam thuận tiện, một vùng đất
có cảnh quan xinh đẹp hùng vĩ Bao quanh di tích này là thắng cảnh Kỳ Lân Sơn ở phía tây, núi Rồng, sông Mã ở phía bắc, kênh Bố Vệ ở phía Nam cùng với Vệ Yên, Tạnh Xá, Mật Sơn là những xóm làng trồng lúa nước lâu đời, tất
cả tạo nên một vùng đất trù phú và sầm uất
Trang 342.1.2 Phong cách kiến trúc và hệ thống thờ tự
2.1.2.1 Kiến Trúc
Đền được xây dựng trên một khu đất rộng rãi, mặt tiền hướng về phía nam Xưa kia ba bề bốn bên đều rộng rãi nhưng do dân số phát triển mạnh, nhất là quá trình đô thị hóa, trên khu đất của đền dần dần bị lấn chiếm nhiều Toàn bộ cảnh đền trước đây gồm cổng nghinh môn, hai bên sân điện là nhà tả
vu và hữu vu, qua bức bình phong là sân điện, tiếp đến là điện thờ gồm hai lớp được cấu tạo theo hình chữ Nhị
Hiện nay ở đền, hai dãy nhà tả vu và hữu vu đã bị phá bỏ hoàn toàn Bên tả vu được thay thế bằng một ngôi nhà thông thường gồm bảy gian và bên hữu vu là một phần đất để trồng cây cảnh, được ngăn cách bằng một bức tường bao quanh Như vậy, hiện tại đền chỉ còn hai công trình chính là cổng nghinh môn và phần điện thờ gồm hai nếp
Cổng nghinh môn: là một ngôi nhà ba gian, hai chái, phía trên nóc lợp bằng loại ngói mũi thông thường Bờ dãi và bờ nóc đã được tu sửa lại
Phía bên trong: Gồm có bốn hàng chân cột chiều ngang, mỗi hàng có
ba chiếc Ba hàng chân cột dọc, mỗi hàng bốn chiếc Toàn bộ khung nhà có mười hai cột bằng gỗ lim chống đỡ toàn bộ hệ thống phía trên của ngôi nhà Cột nhà có chân tảng đá Toàn bộ rui mè đều làm bằng gỗ lim Nền được lát bằng nhiều loại gạch có hình dáng kích thước khác nhau:
- Loại vuông 40cm x 25cm
- Hai loại hình chữ nhật, mỗi loại có kích thước 45cm x 25cm, loại khác có kích thước 20cm x 15cm
Nhìn tổng thể kiến trúc bên trong nghinh môn, kết cấu bộ khung gỗ
theo lối “giá chiêng, chồng giường, kẻ bẩy…” được lắp ghép theo ba chiều
không gian thông qua hệ thống: cột, xà, kẻ bẩy… có độ chính xác cao Đề tài
Trang 35trang trí hoa văn là những bức chạm trổ, phù điêu trên các đầu đao, kẻ bẩy là hình vân mây và hoa lá cách điệu.
Qua cửa nghinh môn là bắc bình phong mới được xây lại và một sân rộng trước tòa điện to và bề thế
Công trình kiến trúc chính của đền thờ gồm hai tòa nhà được bố trí liền
nhau theo lối trùng thềm, chữ Nhị Ngôi nhà trước thường gọi là “tiền điện”
gồm có bảy gian, ngôi nhà chính điện (hậu điện) cũng gồm có bảy gian
Ở phía trong tiền điện gồm có năm cửa ra vào được làm theo kiểu bức bàn đã được sửa chữa một số cánh Kết cấu bộ khung gỗ gồm tám vì kèo,
được cấu tạo theo kiểu chữ Đinh “trụ đinh xà kép” Mỗi vì kèo có hai hàng
cột cái và hai hàng cột quân, được cấu tạo thành một bộ khung hình hộp Riêng về mái hiên trước đã được gia cố thêm
2.1.2.2 Hệ thống thờ tự
- Cách bài trí bên trong nội thất tiền điện: Ở gian giữa có một bức đại
tự bằng gỗ sơn son thiếp vàng đề chữ Hán “ Nam Quốc Sơn Hà Tự Thử”, bên
cạnh có một hàng chữ nhỏ ghi năm dựng đền (1805), vào phía trong là một
bàn thờ mà ta vẫn quen gọi là bàn thờ “hội đồng” được xây dựng hình hộp lát
đá xanh
Cạnh gian giữa bên trái là bệ thờ Tam Mẫu Phật, bên phải là bệ thờ Tam Tòa Thánh Mẫu Các bệ thờ này cùng được xây theo kiểu hình hộp Ngoài những pho tượng, còn có những đồ tế khí, nhưng các hiện vật này đã được thay thế bằng đồ phục chế
- Ngôi nhà chính điện: Trước khi tu bổ xong vào năm 2001, hiện trạng được thể hiện ở những mặt sau: Bộ mái được lợp bằng ngói mũi hài và một số
ít loại ngói mới Bờ nóc của chính điện trang trí công phu với biểu tượng “ lưỡng long chầu nhật nguyệt” chạy gần hết nóc mái Các bờ dải tỏa ra bốn
góc cũng được trang trí các đường gờ nổi
Trang 36Ở bên trong, bộ khung gỗ được kiến trúc theo lối “chồng giường kẻ bẩy” với một hệ thống cột: 8 cột hàng ngang và 4 cột hàng dọc, tổng số 32
cột, 4 hàng xà ngang, 8 câu đầu, 16 kẻ bẩy trước và sau Dưới cột những chân tảng đá Trên thân của những cây cột được sơn đỏ và trang trí hình rồng trong vân mây
Đề tài trang trí trong bộ khung gỗ của hậu điện được chạm khắc công phu đường mây bay vì hoa lá Qua khảo sát được biết trên mỗi gian còn dấu tích của những bức cửa võng và vách ngăn cánh dơi giữa các gian với nhau
- Trang trí nội thất của chính điện: ở gian giữa là nơi đặt ngai thờ và bài
vị của nhà Vua Lê Lợi Ngai được đặt trên bệ gỗ ba tầng, bên trên có bửu tán Ngai và tán đều được thếp vàng Phía ngoài là tượng Lê Lợi mới ngồi trong khám thờ
Phía bên phải là bài vị thời của Gia Tông Hoàng Đế, tiếp đó là Mẫu Hậu Hoàng Đế (Huy Gia Hoàng Thái Hậu), phía bên trái là bài vị của Lê Thần Tông, Hy Tông và Túc Tông Hoàng Đế
Bên trái là tượng thờ Lê Lai và bên phải là tượng thờ Nguyễn Trãi.Một chuông đồng nặng 100kg, với kiến trúc đẹp mắt, quai chuông hình rồng (đúc năm 1991)
Ngoài những đồ thờ, bài vị chính trong điện thờ, rải rác xung quanh đền còn có những hiện vật có giá trị khác như: bốn bệ thờ bằng đá chân quỳ
có kích thước 60 x 40cm, hai bệ thờ bằng đá khác có chân quỳ kích thước 70cm x 30cm ba cột cờ bằng đá hình trụ (lục giác), hai tấm bia công đức dựng ở hai đầu sân điện ngoài hiên tiền điện còn có những con giống dọc theo các cột hiên: gồm 5 con nghê, hai con nghê to bằng gỗ có chiều cao 1,2m, hai con nghê khác có chiều cao 60cm, sơn đỏ và một con nghê khác bằng đá Toàn bộ những con giống này đều được chạm trỗ đẹp mắt và tinh xảo
Trang 372.1.3 Lễ hội tại đền Lê
Cũng như bất kỳ các lễ hội nào khác trên khắp đất nước lễ hội đền Lê
được tổ chức hàng năm gồm có hai phần chính là phần “lễ” và phần “hội”.
2.1.3.1 Phần lễ
Hàng năm ở Đền Lê có hai lễ chính Lễ hội xuân diễn ra vào ngày rằm
tháng giêng Lễ hội chính diễn ra vào các ngày 20, 21 và 22 tháng tám âm lịch Về ý nghĩa, lễ hội Xuân cầu cho mưa thuận gió hòa, dân làng no ấm Lễ
hội chính là tưởng nhớ ngày mất của Đức Lê Thái Tổ.
Về nghi thức tế lễ, lễ hội xuân và lễ hội chính được tổ chức theo trình tự
giống nhau nhưng quy mô thì lễ hội chính lớn hơn hẳn
Lễ hội chính được tổ chức vào các ngày 20, 21 và 22 tháng tám âm lịch Những ngày trước đó công tác chuẩn bị được bà con chuẩn bị hết sức chu đáo
Ngày 21 tháng tám âm lịch, đây là ngày giỗ Lê Lai Tương truyền khi sắp mất, Lê Lợi dặn con cháu và quần thần tổ chức giỗ Lê Lai trước giỗ của
mình một ngày để tri ân người anh hùng “liều thân cứu chúa” và từ đó trong dân gian có câu “hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” Hàng năm, đến ngày 21
tháng tám, nhân dân Thái Bằng quê hương Lê Lai đem lễ vật đến đền Lê để làm giỗ Lê Lai
Ngày 22 tháng tám âm lịch, đây là ngày đại tế giỗ Lê Lợi Trước cách mạng tháng Tám, cứ vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu mới tổ chức theo hình
thức “quốc tế” Vào những năm lễ chính thì có sự có mặt của các quan trong
Bộ Lễ của triều Nguyễn đứng chủ lễ Sau này do đưỡng sá xa xôi, việc tế lễ giao cho ba ông lớn đầu tỉnh là Tổng đốc, Bố chánh và Án sát chủ trì đại tế
Cũng vào năm này tại kinh đô Huế tổ chức tế Nam Giao (tế trời đất) là một
quốc lễ to nhất trong các triều vua phong kiến ngày trước Ở Huế và ở Đền
Trang 38Lê, Vua, các quan và chức việc trong buổi tế phải trai giới (ở riêng, ăn chay, giữ mình thật thanh tịnh).
Các năm bình thường, không tổ chức đại tế thì nhân dân làng Bố Vệ tổ chức thắp hương dâng lễ vật cúng giỗ Dân làng tập trung ở đền Lê tế lễ và cũng có khi tổ chức các hoạt động vui chơi như vật cù, kéo chữ…song không rầm rộ như các năm đại tế
Ngày 20 tháng tám, làng Bố Vệ vào đám Việc chuẩn bị cho lễ hội được sắm sanh từ nhiều ngày trước, nhất là việc chọn người tế lễ, tổ chức vật
cù, kéo chữ; ngày 21 tháng tám, đây là ngày giỗ Trung Túc Vương Lê Lai, có dâng lễ vật và đèn nhang
Ngày 22 tháng tám là ngày đại tế Công việc tiến hành như sau: Mờ sáng ngày 22 tháng tám, kỳ hào chức dịch là Bố Vệ trực ở đầu làng cùng với phường bát âm và đồng văn Ở đây có đặt hương án để đón các quan, xung quanh có đặt cờ quạt, tàn lọng Khi các quan đầu tỉnh là Tổng Đốc, Án sát và
Bố chánh cùng các quan khách và người tùy tùng đi cáng đến đây thì các kỳ lão, chức dịch bái lạy, đón rước Đám rước các quan trống dong cờ mở tưng bừng đón về đền Lê Nhân dân hai bên đường nô nức mừng vui Các quan đầu tỉnh đón về nhà tả vu để chuẩn bị vào đại tế
Các phẩm phục các quan mặc trong đại tế được lính tỉnh mang xuống
từ chiều hôm trước, đặt sẵn ở đây “Các quan lại khác chiếu theo chức tước, mặc các phẩm phục theo quy định Quan Tổng đốc mặc áo rộng tay, thân dài, may bằng vải đoạn bát ty ngũ thể, gia kim tứ linh màu đỏ biếc Đai ở phía trước và hai bên tả hữu có 13 phiến, bảy phiến bịt vàng và sáu phiến bịt bạc,
cứ cách nhau một cái vàng một cái bạc, còn năm phiến sau lưng thì bịt bạc, mặt khảm đồi mồi Còn xiêm thì dùng lương gia ngũ thể gia kim hoa đỏ thêu hình tiên hạc, chân đi hài Mũ đội của quan Tổng đốc, phía trên có bác sơn màu vàng kim, hai bên có hai thẻ màu vàng, phía trước có bông hoa màu
Trang 39vàng Hai cánh chồn có miếng vàng xung quanh Trên mặt mỗi cánh chuồn có hai hình giao long vàng và hai sợi nhiễu tuyến vàng Quan Bố chánh cũng mặc cân đại triều phục, song có khác với quan Tổng đốc Mũ của quan Bố chánh cũng giống với mũ của quan Tổng đốc, duy hai cánh chuồn không phải
là hình giao long mà là hai hình như ý vàng Đai có 18 phiến, đều bịt bạc, mặt khảm đồi mồi Áo và xiêm y giống như quan Tổng đốc, chỉ khác áo màu lam
và xiêm y màu gỗ đỏ thêu hình cẩm kê”[16, tr 25]
“Quan Án sát, mũ có bác sơn bạc, hai cánh chuồn xung quanh có miến bạc và mỗi bên có hai hình như ý bạc cùng sợi nhiễu tuyến bạc Đai trước và hai bên tả hữu có 13 phiến bịt bạc, 5 phiến phía sau bịt đồng, mặt khảm sừng hoa Áo của quan Án sát dùng vóc ngũ thể gia kim giao màu quán lục Xiêm dùng lương gia ngũ thể, gia kim giao màu bảo lam, thêu hình không tước”[16,
tr 27]
Bên nhà hữu vu đã chuẩn bị sẵn tế vật gồm có cỗ tam sinh (dê, bò, lợn)
và các thứ khác như xôi, trầu, rượu…
Vào giờ Tý (đêm 21 rạng ngày 22 tháng tám), các lễ vật chuẩn bị ở nhà hữu vu được đệ lên các ban thờ ở chính điện, chuẩn bị hương đèn, trầu rượu ở các nơi định sẵn để tiến hành đại tế
Các quan đầu tỉnh đã chỉnh tề phẩm phục, mọi việc được bố trí hoàn hảo thì tiến hành bước vào đại tế
Giờ tiến hành đại tế thường là giờ Thìn (từ 7 giờ sáng trở lên) Ba hồi trống tế rung lên, các chức việc vào vị trí Trên hương án có các bài vị đèn sáng, hương nghi ngút Trước các hương án trải năm chiếu tế:
Chiếu thứ nhất: chiếu thần vị.
Chiếu thứ hai: chiếu thụ tộ.
Chiếu thứ ba: chiếu chủ tế.
Chiếu thứ tư: hai chiếu bồi tế.
Trang 40Các chiếu tế đặt theo thứ tự từ trên xuống dưới.
Trình tự tế lễ được tiến hành dưới sự điều khiển của hai viên Đông xướng và Tây xướng, trong đó Đông xướng là chính Tiếp đó từ chủ tế cho tái
các thành phần của ban hành lễ tiến hành các nghi thức của buổi đại tế
Sau khi hoàn tất buổi đại tế Ba quan tỉnh trở lại nhà Tả vu, thay áo quần để trở về Cuộc tiễn đưa lúc trở về cũng trống giong cờ mở, long trọng nghiêm chỉnh như khi đón rước
2.1.3.2 Phần hội
Vào dịp lễ hội đền Lê, xưa kia sau khi tế lễ xong, làng Bố Vệ tổ chức vui chơi, hội hè Trước lễ hội, làng mời một số làng lân cận như Mật Sơn, Vĩnh Yên, Đa sĩ, Quảng Xá tới dự hội Các làng này nhận lời mời, cử những trai tráng khỏe mạnh, ăn mặc chỉnh tề, chít khăn, thắt lưng… để rước kiệu làng mình đến Bố Vệ dự hội Đó là kiệu Thành Hoàng các làng trên Trên các kiệu này bày bát hương, hòm sắc và trầu rượu, hương hoa Các kiệu này được rước tới đền Lê và đặt ở sân tiền điện
Lễ hội đền Lê truyền thống có các trò chơi: trò kéo chữ, trò đấu vật và tung cù
Trò kéo chữ: Đó là trò chạy để xếp thành các chữ Hán: Thưởng xuân đồng lạc hay Thiên hạ thái bình.
Các con trò có đến hàng trăm người ăn mặc đồng phục theo màu sắc quy định cho từng chữ, chạy theo từng nét chữ đã được vạch sẵn để xếp thành
chữ cho nên còn gọi là trò chạy Chữ.
Địa điểm tổ chức thường là trên cánh đồng rộng của làng, cách đền Lê
gần 1km, gọi là bãi Áng Trên đó quy định sân chơi là ruộng được làm bằng phẳng Trên có vạch sẵn bốn chữ Thưởng xuân đồng lạc (hoạc Thiên hạ thái bình) Người ta rắc vôi bột để các con trò chạy theo từng nét chữ, kéo hết các
nét thành các con chữ