Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn cây lát hoa .... nghiên cứu ở Việt Nam nhưng trở ngại rất lớn để trồng rừng Lát hoa là sâuđục ngọn, l
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS NGUYỄN MINH CHÍ
2 TS NGUYỄN VĂN THÁI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng bảnthân tôi không sao chép của ai Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luậnvăn là quá trình điều tra, nghiên cứu hoàn toàn trung thực, khách quan Nộidung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tảitrên các tác phẩm, tạp chí theo danh mục tài liệu của luận văn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này trước hết em xin gửi đến quý thầy, cô giáotrong trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên lời cảm ơn chân thành Đặcbiệt, em xin gửi đến TS Nguyễn Minh Chí và TS Nguyễn Văn Thái, nhữngngười đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn lời cảm ơn sâusắc nhất
Em xin chân thành cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng - ViệnKhoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được tìmhiểu thực tiễn trong suốt quá trình thực tập
Trong quá trình thực tập, hoàn thiện chuyên đề này em không tránh khỏinhững sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy cô
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Học viên thực hiện
Đỗ Việt Hồng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN .ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
4 Những đóng góp mới của luận văn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng của cây Lát hoa 4
1.1.2 Các nghiên cứu về sâu hại Lát hoa 5
1.1.3 Các nghiên cứu về quản lý sâu đục ngọn Lát hoa 7
1.1.4 Các nghiên cứu về gây trồng Lát hoa 9
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng của cây Lát hoa 10
1.2.2 Các nghiên cứu về sâu hại Lát hoa 12
1.2.3 Các nghiên cứu về quản lý sâu bệnh 14
1.2.4 Các nghiên cứu về gây trồng Lát hoa 15
1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 19
Trang 61.3.1 Vị trí địa lý 19
1.3.2 Đặc điểm địa hình 19
1.3.3 Khí hậu 21
1.3.4 Thực vật 21
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG 22
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.2.1 Điều tra tình hình sâu hại và sâu đục ngọn cây Lát hoa ở Hòa Bình 22
2.2.2 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn cây lát hoa 22
2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần diệp lục đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 22
2.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng trong lá cây và trong đất đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 23
2.3.2 Phương pháp điều tra tình hình sâu hại và sâu đục ngọn cây Lát hoa 23
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn cây lát hoa 25
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần diệp lục đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 25
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng trong lá cây và trong đất đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 26
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 27
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
Trang 73.1 Kết quả điều tra tình hình sâu hại và sâu đục ngọn cây Lát hoa ở Hòa
Bình 29
3.1.1 Kết quả điều tra bổ sung thành phần sâu hại cây Lát hoa ở Hòa Bình 29 3.2.1 Kết quả điều tra tình hình sâu đục ngọn gây hại cây Lát hoa ở Hòa Bình 32
3.2 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn cây lát hoa 34
3.2.1 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của sâu đục ngọn cây Lát hoa 34
3.2.2 Triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn trên cây Lát hoa 36
3.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần diệp lục đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 38
3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng trong lá cây và trong đất đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 40
3.4.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng trong lá cây đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 40
3.4.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tính chất đất đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
Kết luận 46
Tồn tại 47
Kiến nghị 47
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
Chữ viết tắt/ký hiệu Giải nghĩa đầy đủ
ΔH Lượng tăng trưởng bình quân/năm của chiều cao
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Vòi voi (Aclees sp.) hại Lát hoa 30
Hình 3.2: Xén tóc (Tapinolachnus lacordairei) hại Lát hoa 30
Hình 3.3: Bọ ánh kim (Sagra femorata) hại Lát hoa 31
Hình 3.4: Bổ củi, mối và sâu hại vỏ hại Lát hoa 32
Hình 3.5: Cây Lát hoa trồng thuần loài ở Mai Châu (Trái) và ở Tân Lạc (Phải) 34
Hình 3.6: Cây Lát hoa trồng xen cây nông nghiệp ở Mai Châu (Trái) và ở Tân Lạc (Phải) 34
Hình 3.7: Sâu đục ngọn (H robusta) gây hại lát hoa: a Trưởng thành; b. Trứng; c Sâu non; d Nhộng 35
Hình 3.8: Sâu đục ngọn (H robusta) gây hại Lát hoa: a Trưởng thành; b. Trứng; c Sâu non; d Nhộng 36
Hình 3.9: Lá cây Lát hoa 1 năm tuổi: che sáng 0% (trái), che sáng 30% (phải) 39
Hình 3.10: Rừng trồng Lát hoa 2 năm tuổi 41
Hình 3.11: Phẫu diện đất ở Hòa Bình 43
Trang 111
Trang 121 Đặt vấn đề
MỞ ĐẦU
Cây Lát hoa (Chukrasia tabularis A Juss) thuộc họ xoan Meliaceae,
chúng còn có các tên gọi khác là Lát da đồng và Lát chun Lát hoa là cây gỗlớn, thân tròn, thẳng, có bạnh vè nhỏ Chiều cao cây đạt tới 35-37m, đườngkính ngang ngực có thể đạt 1,5-2m Vỏ dày, nứt dọc, có rãnh sâu, màu nâunhạt đến nâu đen, có nhiều bì khổng nổi rõ, lớp vỏ trong có màu đỏ tươi
Lá kép lông chim 1 lần, cây non dưới 4 tuổi có lá kép giả 2 lần Nách lá cólông, khi non có màu tím nhạt (Trần Hợp, 2002; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2007).Nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu của Đề án tái cơ cấu ngành Lâmnghiệp theo quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN, Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn với kế hoạch hành động và ưu tiên thực hiện 4 nhiệm vụ trọngtâm, gồm: (1) nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất;(2) nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến; (3) phát triển kinh tếhợp tác và liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp; (4) phát triểnthị trường gỗ và sản phẩm Theo định hướng đó, cần đẩy mạnh hoạt độngkinh doanh trồng rừng gỗ lớn đối với các tỉnh miền núi, nơi có thế mạnh vềphát triển Lâm nghiệp nói chung và các tỉnh thuộc khu vực miền núi Tây Bắccủa Việt Nam
Để phục vụ cho đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNTcũng đã có Quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/11/2014 xác địnhLát hoa là loài cây chủ yếu cho trồng rừng ở bốn vùng sinh thái Tây Bắc,Trung Tâm, Đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ Kết quả kiểm kê rừngcủa Tổng cục Lâm nghiệp, giai đoạn 2012-2014 có trên 35.000ha rừng Láthoa với 20.388ha rừng sản xuất và 14.661ha rừng phòng hộ, trong đó tỉnhHòa Bình là một trong những địa phương có diện tích rừng trồng Lát hoa rấtlớn thuộc vùng Tây Bắc Bộ
Lát hoa sinh trưởng khá nhanh, có giá trị kinh tế cao, gỗ có vân đẹp, rấtđược ưa chuộng để làm đồ mộc cao cấp Cây Lát hoa đã được quan tâm
Trang 13nghiên cứu ở Việt Nam nhưng trở ngại rất lớn để trồng rừng Lát hoa là sâu
đục ngọn, loài sâu đục ngọn Hypsipyla robusta đã được xác định là sinh vật
gây hại chính và rất nghiêm trọng đối với các loài cây học xoan nói chung vàcây Lát hoa nói riêng, tỷ lệ bị sâu hại có thể tới 50% trên rừng trồng thuầnloài ở giai đoạn 1-3 năm tuổi Các nghiên cứu trước đây tập trung vào mô tảđặc điểm hình thái, phân bố, đặc điểm sâu hại, xây dựng các khảo nghiệmxuất xứ và kỹ thuật gây trồng Loài cây này hiện đang rất được ưa chuộng đểtrồng rừng gỗ lớn và trồng trong vườn hộ tại tỉnh Hòa Bình nhưng người dânvẫn đang gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý sâu đục ngọn Do đó việcnghiên cứu đặc điểm sinh học và một số yếu tố ảnh hưởng đến sâu đục ngọnLát hoa tại tỉnh Hòa Bình là rất cần thiết và có ý nghĩa cao cả về khoa học vàthực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được tình hình sâu đục ngọn cây Lát hoa tại tỉnh Hòa Bình
- Xác định được một số đặc điểm hình thái, tập tính gây hại và triệuchứng gây hại của sâu đục ngọn cây lát hoa
- Xác định được ảnh hưởng của thành phần diệp lục đến khả năng bị sâuđục ngọn của cây Lát hoa
- Xác định được ảnh hưởng của dinh dưỡng trong lá và trong đất đến khảnăng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 144 Những đóng góp mới của luận văn
- Cập nhật được tình hình sâu hại và sâu đục ngọn gây hại cây Lát hoatại tỉnh Hòa Bình
- Đã xác định được ảnh hưởng của thành phần diệp lục, dinh dưỡngtrong lá và trong đất đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng của cây Lát hoa
Chi Lát hoa (Chukrasia) thuộc họ xoan (Meliaceae) bao gồm hai loài là Chukrasia tabularis và Chukrasia velutina (De Candolle, 1878; Bandara, 1999; Gunn và cộng sự 2006) Lát hoa (C tabularis) thường cao từ 20-25m,
có thể đến 40m, đường kính có thể đạt 120cm Trong khi đó, loài C velutina được đánh giá là cây gỗ nhỏ hơn so với C tabularis (Kalinganire and
Pinyopusarek, 2000)
Lát hoa được thu mẫu và mô tả lần đầu tiên ở Ấn Độ bởi A de Jussieuvào năm 1830 với hoa ngắn, 5 cánh, cánh thẳng đứng, nhị 10, hình ống, hình
trụ (Gunn và cộng sự 2006) Lát hoa (C tabularis) là cây gỗ lớn, rụng lá,
thường cao từ 20-25m, có thể đến 40m, đường kính có thể đạt trên 120cm Vỏcây có màu nâu đến nâu sẫm, nứt dọc thân cây, lõi gỗ màu vàng ánh đỏ Lákép lông chim một lần, lá chét hình trứng thuôn dài, có từ 6-20 đôi lá chét.Hoa tự chùm đầu cành, bao hoa thuôn tròn, hoa 5 cánh, cánh hoa gần hìnhchữ nhật có màu vàng nhạt, dài 15-20mm, rộng 5-7mm, đỉnh cánh hoa gầntròn Nhị đực 10, ống nhị hình trụ, nhẵn, có 10 bao phấn Bầu có 3-4 ngăn,mỗi ngăn có 25-50 noãn (Kalinganire and Pinyopusarek, 2000)
Nghiên cứu trong rừng mưa nhiệt đới ở Tây Nam Arunchal Pradest, thấy
rằng C tabularis có xuất hiện ở 10,0-15,8% số ô tiêu chuẩn đã nghiên cứu và
chiếm 1,0-1,5% độ phong phú tại đai độ cao từ 600-1.000m so với mặt biển(Bandara, 1999) Trong các khu phân bố tự nhiên, Lát hoa sinh trưởng và pháttriển tốt ở những nơi có lượng mưa từ 1.100-3.800mm với một hoặc vài thángmùa khô, nhiệt độ trung bình năm từ 14-27oC, trên đất đỏ-vàng và vàng nâuphát triển trên đá bazan, đá vôi, đá phiến và mica Lát hoa tái sinh tương đối
Trang 16tốt ở những nơi có khoảng trống hoặc bìa rừng (Kalinganire andPinyopusarek, 2000; Pinyopusarerk and Kalinganire, 2003).
Lát hoa đã được phát hiện có ở Western Peninsula, Malacca, Ceylon;Andaman-Ấn độ (dẫn theo Nguyễn Bá Chất, 1996) Chúng phân bố tự nhiên ởvùng Nam Á và Đông Nam Á, ở độ cao từ 150-1.000m so với mực nước biểntại các nước Trung Quốc, Mianamar, Thái Lan, Malaysia, đảo Bruneo,Philippin, Bangladesh, Nepal, Ấn Độ Sri Lanka, Lào, Campuchia và ViệtNam (Ho and Noshiro, 1995; Kalinganire and Pinyopusarek, 2000;Pinyopusarerk and Kalinganire, 2003)
Gỗ Lát hoa có khối lượng thể tích từ 666-673kg/m3 ở độ ẩm 12% (Anon,
1974 ) và 625-880kg/m3 ở độ ẩm 15% (Ho and Noshiro, 1995) Gỗ có giá trịkinh tế cao, vân gỗ đẹp, thớ gỗ mịn, rất được ưa chuộng để làm đồ mộc caocấp, nhạc cụ, ván sàn, cửa, và để trạm khảm Ngoài ra còn được dùng để đóngtàu và làm vật liệu xây dựng nói chung Vỏ cây chứa tannin và được dùng làmthuốc chữa bệnh (Gunn và cộng sự 2006)
Nhìn chung, Lát hoa (C tabularis) là cây có giá trị kinh tế cao, gỗ có vân
đẹp, thớ gỗ mịn, rất được ưa chuộng để làm đồ mộc cao cấp, nhạc cụ, vánsàn Chúng có phân bố rộng và có khả năng tái sinh tốt, đặc biệt ở cáckhoảng trống hoặc bìa rừng nên khả năng gây trồng, phát triển rừng trồng Láthoa phục vụ trồng rừng gỗ lớn là hoàn toàn khả thi
1.1.2 Các nghiên cứu về sâu hại Lát hoa
Các loài sâu đục ngọn Hypsipyla spp thường hây hại các loài cây họ xoan, cụ thể như Hypsipyla robusta đục ngọn hai loài Swietenia macrophylla, Khaya senegalensis và Toona ciliat ở Ấn Độ, Sri Lanka, Philippin (Varma,
2001), đục ngọn Lát hoa ở Bangladesh, Lào, Malaysia, Thái Lan(Eungwijarnpanya, 2001; Samontry, 2001) Nghiên cứu đặc điểm gây hại của
sâu đục ngọn trên Toona australis cho thấy vị trí chồi cây có liên quan rất
chặt đến sự tấn công của sâu đục ngọn Những cành ở độ cao trên 90% so vớichiều cao của cây thường bị hại nặng nhất (Mo và cộng sự 1997)
Trang 17Rừng trồng Lát hoa thuần loài, tập trung, không che bóng tại 5 địa điểm
ở Thái Lan cho thấy tỷ lệ cây bị sâu đục ngọn Hypsipyla gây hại thấp nhất ở
Ratchaburi, từ 7-68%, nơi trung bình (Prachuap Khiri Khan) từ 21-77%, vànơi cao nhất (Kansanaburi) từ 98-100% (Pinyopusarerk and Kalinganire,
2003) Lát hoa bị sâu đục ngọn (H robusta) gây hại nhiều khi trồng nơi chúng
phân bố tự nhiên (Thái Lan, Lào) và bị hại nhẹ hơn ở khi trồng các nước khác(Australia và Phillipin) (Cunningham và cộng sự 2005)
Ở Malaysia, Lát hoa dễ bị sâu đục ngọn gây hại hơn so với các loài cây
họ xoan khác Sâu đục ngọn cũng gây hại Lát hoa ở các nước thuộc phía NamChâu Phi và ở Trung và Nam châu Mỹ (Ho and Noshiro, 1995) Các nghiêncứu về đặc điểm sinh học và sinh thái học của sâu đục ngọn đã được thực hiệnkhá đầy đủ, qua đó xác định được các đặc điểm phát sinh, vòng đời, thời gianxuất hiện các pha trong năm, đặc điểm gây hại qua đó góp phần xác địnhbiện pháp phòng trừ, hạn chế thiệt hại do sâu đục ngọn gây ra đối với rừngtrồng các loài cây thuộc họ xoan và cho cây Lát hoa nói riêng Grijpma vàRoberts (1975); Griffiths (1996); Griffiths và cộng sự (2004)
Thí nghiệm nuôi sâu trên cây Lát 1 năm tuổi được thực hiện tại vườn
ươm thuộc đại học Queensland, Australia cho thấy sâu đục ngọn H robusta
thường đẻ trứng ở những khe nứt của vỏ cây hoặc tại những vết sẹo Kết quảcũng cho thấy yếu tố loài cây và điều kiện ánh sáng đã ảnh hưởng đến quátrình đẻ trứng của sâu trưởng thành: 71% số trứng tìm thấy trên các cây thuộc
loài C tabularis trong khi các cây thuộc loài C velutina chỉ có 29% Trên các
cây được che bóng chỉ có 41% số trứng, trong khi có tới 59% số trứng trêncây trồng trong điều kiện đầy đủ ánh sáng Sâu non bắt đầu ăn sau 2 giờ trứng
nở tại những vị trí non, dễ tấn công như các đỉnh sinh trưởng, nách lá, nách láchét và gân lá và phá hại mạnh nhất ở khoảng 8 giờ sau khi trứng nở (Đào
Ngọc Quang, 2008) Một nghiên cứu khác đối với hai loài Khaya anthotheca
và K ivorensis cũng cho thấy điều kiện ánh sáng ảnh hưởng rõ đến tỷ lệ bị
Trang 18sâu đục ngọn, rừng trồng được mở tán 55% có tỷ lệ bị sâu đục ngọn tới 85%trong khi ở công thức mở tán 26% và 11% tỷ lệ bị sâu đục ngọn tương ứng là11% và 0% Tuy nhiên ở các công thức mở tán 26% và 11% cây sinh trưởngchậm hơn đáng kể (Opuni-Frimpong và cộng sự 2008).
Đến nay, sâu đục ngọn được xác định là sinh vật gây hại chính và gâyảnh hưởng nghiêm trọng đối với rừng trồng Lát hoa cũng như các loài cây họxoan khác Do vậy, các nghiên cứu trên thế giới đều tập trung vào các loài sâuđục ngọn đối với cây Lát hoa
1.1.3 Các nghiên cứu về quản lý sâu đục ngọn Lát hoa
Sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng đã đượcthực hiện từ rất lâu và đạt hiệu quả cao, tác dụng nhanh (McGrath, 2009;Blaedow và cộng sự 2010) nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trườngnếu sử dụng quá mức
Các biện pháp phòng các loài trừ sâu đục ngọn Hypsipyla spp cho rừng
trồng các loài cây thuộc họ xoan nói chung và cho cây Lát hoa nói riêng đãđược thực hiện thành công cụ thể như giải pháp kết hợp giữa các biện pháp kỹthuật lâm sinh, sinh học và sử dụng hóa chất để kiểm soát sâu đục ngọn(Grijpma and Roberts, 1975; Griffiths, 1996) Việc phòng trừ các loài sâu đục
ngọn Hypsipyla spp cho các loài cây họ xoan đã được thực hiện thành công
với việc sử dụng 51 loại thuốc hóa học khác nhau đã được hực hiện ở hàngnhiều quốc gia từ vùng Nam Á, Châu Phi đến Nam Mỹ (Wylie, 2001;Griffiths và cộng sự 2004)
Phòng trừ các loài sâu đục ngọn Hypsipyla spp cho các loài cây họ xoan
bằng các loài thiên địch đã được thực hiện hiện, qua đó xác định được
Anthocephalus renalis, Tetrastichus spirabilis, Phanerotoma sp.,
Trichogrammatoidea nana và T robusta có thể kiểm soát hiệu quả sâu đục
ngọn ở các nước vùng Caribea (Sands and Murphy, 2001) Nghiên cứu các cá
thể sâu bị chết đã xác định Bacillus thuringiensis, Deuteromycete và
Trang 19nucleopolyhedrovirus (NPV) là sinh vật ký sinh, gây chết sâu đục ngọn(Hauxwell và cộng sự 2001) Thí nghiệm nhiễm ký sinh cho sâu đục ngọn ở
các nước Mỹ Latinh đã xác định Apanteles sp có khả năng ký sinh, kiểm soát
sâu rất tốt (Blanco-Metzler và cộng sự 2001)
Việc trồng Lát hoa hỗn giao với các loài cây khác hoặc trồng dưới tánrừng trồng để giảm thiểu sự phá hại của sâu đục chồi đã được thực hiện tại Ấn
Độ và cho kết quả khả quan (Anon, 1974; Boland, 2000) Điều kiện ánh sáng
có ảnh hưởng đến khả năng bị sâu đục ngọn của Lát hoa, các cây được chebóng thường ít bị hại hơn các cây trồng ở điều kiện ánh sáng đầy đủ (ĐàoNgọc Quang, 2008), kiểm soát mở tán rừng cũng giúp kiểm soát rất tốt sâu
đục ngọn gây hại rừng trồng K anthotheca và K ivorensis (Opuni-Frimpong
và cộng sự 2008)
Nghiên cứu nuôi sâu bằng thức ăn dạng hạt nhằm tạo số lượng sâu lớnrất hiệu quả, qua đó phục vụ việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học của sâuđục ngọn và phục vụ công tác nghiên cứu biện pháp quản lý dịch hại (Blanco-Metzler và cộng sự 2001)
Nghiên cứu phòng trừ tổng hợp các loài sâu đục ngọn cho rừng trồngcác loài cây họ xoan muốn đạt hiệu quả và quản lý thành công cần có thêmcác nghiên cứu bổ sung về phân loại sâu hại, các yếu tố liên quan giữa câychủ và tác động của sâu hại, kết hợp các biện pháp phòng từ hóa học và sinh
học (Speight and Cory, 2001) Việc sử dụng kết hợp Beauveria bassiana
(mật độ 108Cfu/mg, liều lượng 4kg/ha), thuốc trừ sâu và giống kháng sâu đểhạn chế sâu đục ngọn cho rừng trồng cây họ xoan ở Cu Ba (Casanova vàcộng sự 2001)
Nghiên cứu phòng trừ sâu đục ngọn cho các cây họ xoan đã được thựchiện nhưng mới chỉ có một số kết quả phòng trừ sâu đục ngọn Lát hoa bằngbiện pháp lâm sinh, Chưa có nghiên cứu phòng trừ hóa học, sinh học và quytrình phòng trừ tổng hợp sâu đục ngọn Lát hoa Các kết quả nghiên cứu nêu
Trang 20trên là nguồn thông tin hữu ích để đề tài tham khảo, kế thừa nhằm thực hiệnhiệu quả các nội dung liên quan.
1.1.4 Các nghiên cứu về gây trồng Lát hoa
Các nghiên cứu về thu hái và bảo quản hạt giống đã xác định được thờigian thu hái quả thích hợp ở hầu hết các nước từ tháng 10 năm trước đến tháng
3 năm sau Thu hái khi quả chuyển màu nâu Nên xử lý, phơi trong nắng nhẹ2-3 ngày, đập để tách hạt Cần bảo quản hạt trong điều kiện lạnh, tỷ lệ nảymầm trung bình sau 3 năm khi bảo quản ở nhiệt độ trong phòng (23oC) đạt29% và
79% khi bảo quản lạnh (Kalinganire and Pinyopusarek, 2000)
Kỹ thuật gieo ươm đã được khuyến cáo: Gieo từ 7,5-30g hạt/m2 và nên
xử lý hạt trước khi gieo Hạt thường nảy mầm sau 1 tuần với tỷ lệ từ 80-90%.Khi cây mạ có 2 cặp lá thì có thể cấy cây vào bầu Cây con 6-7 tháng tuổi, cao30cm có thể đem trồng (Anon, 1974; Ho and Noshiro, 1995)
Mật độ trồng đã được thử nghiệm từ 2.500-3.000 cây/ha ở Ấn Độ vàViệt Nam trên các vùng đất màu mỡ Tuy nhiên đường kính thân cây thườngnhỏ và sẽ không hiệu quả với mật độ này khi không có thị trường gỗ nhỏ do
đó cần phải tỉa thưa Các nghiên cứu cho thấy nên trồng với mật độ đượckhuyến cáo từ 400-1.100 cây/ha, bón lót từ 100-150g NPK (15:15:15)/hố.Trong 3 năm đầu cần chăm sóc ít nhất 2 lần/năm Lát hoa sinh trưởng tươngđối nhanh trong những năm đầu, tăng trưởng chiều cao có thể đạt 3m/nămtrong điều kiện thuận lợi và trung bình đạt 0,7-1m/năm ở điều kiện bìnhthường Ở Ấn Độ, tăng trưởng chiều cao đạt từ 2,7-5,5m sau 2 năm, 8,5-9,1msau 5 năm và tăng trưởng đường kính trung bình đạt 2,5cm/năm (Kalinganireand Pinyopusarek 2000; Pinyopusarerk and Kalinganire, 2003)
Lát hoa đã được trồng rừng thành công ở các nước như Australia, TrungQuốc, Lào, Malaysia, Mianmar, Thái Lan, Việt Nam và cũng đã được đưa vàothử nghiệm tại các nước khác như Cameroon, Nigeria, Nam Phi, Puerto Rico
& Costa Rica và đã đạt được nhiều kết quả khả quan, cây sinh trưởng nhanh
Trang 21(Ho and Noshiro, 1995 ) Kết quả trồng thử nghiệm các loài cây gỗ năm 1998tại Northern Territory, Australia sau 3 năm tuổi cho thấy Lát hoa tuy có sinhtrưởng chậm hơn các loài cây khác nhưng có ưu thế về chiều cao và rất cótriển vọng để phát triển trồng rừng gỗ lớn tại Australia (Pinyopusarerk andKalinganire, 2003) Tuy nhiên, chúng thường bị sâu đục ngọn gây hại, gây rahiện tượng phân cành sớm, phân nhiều cành, qua đó làm giảm sinh trưởng vàgiảm chất lượng gỗ (Kalinganire and Pinyopusarek 2000; Pinyopusarerk andKalinganire, 2003).
Lát hoa là cây trồng triển vọng, gỗ có giá trị kinh tế cao, được ưa chuộng
ở nhiều quốc gia và đặc biệt chúng thích nghi rộng, có sinh trưởng khá nhanhnhưng trở ngại lớn nhất là thường bị sâu đục ngọn gây hại, gây ra hiện tượngphân cành sớm làm giảm sinh trưởng và giảm chất lượng gỗ Đến nay đã cómột số nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng và sâuđục ngọn nhưng chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ che sáng đếnhàm lượng diệp lục trong lá cây Lát hoa Do vậy, rất cần nghiên cứu xác địnhcác biện pháp gây trồng phù hợp để đảm bảo tăng sinh trưởng, đồng thời hạnchế sâu hại Qua đó góp phần phát triển thành công loài cây này phục vụ hoạtđộng kinh doanh rừng trồng gỗ lớn có giá trị kinh tế cao
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng của cây Lát hoa
Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) thuộc chi Chukrasia, họ xoan
(Meliaceae), ở Việt Nam, Lát hoa còn được gọi bằng các tên gọi khác là Lát
da đồng và Lát chun (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2007) Cây Lát hoa ở Việt Nam
bao gồm 5 thứ (varietas) với những đặc điểm khác biệt, cụ thể gồm: (1) C tabularis A.Juss var attopenensis, cuống lá và lá có lông, phân bố ở Nam
Bộ, Côn Đảo; (2) C tabularis A.Juss var velutina King, lá có lông; (3) C tabularis A.Juss var microcarp Pierre, lá và quả nhỏ hơn 2 thứ trên, quả có
Trang 22nhiều điểm tuyến; (4) C tabularis A.Juss var dongnaiensis Pierre, lá kép
lông chim 2 lần, lá chét có gốc gần hình tim, quả ít chấm hơn, phân bố ở
Biên Hòa, Côn Đảo; (5) C tabularis A.Juss var quadrivalvis Pellegr, quả
non hơi nhọn đầu, bầu có 3-4 ô, phân bố ở Hòa Bình, Nghệ An, Sơn La(Nguyễn Bá Chất, 1996)
Lát hoa mọc rải rác, hỗn giao với nhiều loài cây lá rộng Thích hợp vớicác loại đất Feralit có nguồn gốc đá mẹ: đá vôi, đá sét, đá mác ma a xít, đámác ma trung tính, có thành phần cơ giới nhẹ, hơi chua, với hàm lượng dinhdưỡng (N, P, K, mùn ) trung bình trở lên Thường mọc ở độ cao từ 21-700m
so với mực nước biển, đặc biệt ở Sa Pa (1.450m) vẫn thấy cây Lát hoa sinhtrưởng tốt, lượng mưa trung bình từ 1.185-1.945mm, nhiệt độ trung bình năm
từ 21-27oC Lát hoa ra hoa từ tháng 4-5, đậu quả từ tháng 5-6, quả chín từtháng 11 đến tháng 1 năm sau Tái sinh tốt ở các khoảng trống và bìa rừng.Vào mùa khô rét, cây rụng lá và ngừng sinh trưởng (Nguyễn Bá Chất, 1996)
Ở Việt Nam, Lát hoa phân bố tự nhiên tại các tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng,Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hà Giang,Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh (Nguyễn Bá Chất,1996; Lê Đình Khả và cộng sự 2003; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2007; Viện Khoahọc Lâm nghiệp Việt Nam, 2010)
Lát hoa (C tabularis) là loài cây gỗ quý, có giá trị kinh tế cao, gỗ nặng,
tỷ trọng từ 0,75-0,8, được xếp vào nhóm 1 Gỗ Lát hoa có vân rất đẹp, thớmịn, ít co giãn cong vênh, không bị mối mọt, gỗ giác màu hồng nhạt, gỗ lõimàu đỏ có ánh đồng, được ưa chuộng để làm đồ mộc cao cấp (Phạm ĐứcTuấn và cộng sự 2002; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2007) phục vụ nhu cầu ở trongnước và xuất khẩu với giá trị sản phẩm rất lớn
Các nghiên cứu về đặc điểm của cây Lát hoa khá đầy đủ Đây là nhữngtham khảo rất tốt cho việc xác định điều kiện gây trồng, kinh doanh, sử dụngloài cây Lát hoa ở Việt Nam Tuy nhiên, các đặc điểm sinh học, lâm học và
Trang 23sinh thái của cây Lát hoa liên quan đến sự gây hại của sâu, bệnh vẫn chưađược quan tâm nghiên cứu Để góp phần xác định kỹ thuật trồng rừng thâmcanh Lát hoa cung cấp gỗ lớn với năng suất cao và hạn chế sâu đục ngọn Rấtcần nghiên cứu bổ sung nhằm xác định một số yếu tố đặc trưng về đặc điểmsinh học, lâm học và sinh thái của Lát hoa quyết định khả năng bị sâu, bệnhhại, đặc biệt là sâu đục ngọn.
1.2.2 Các nghiên cứu về sâu hại Lát hoa
Kết quả điều tra thành phần sâu đục ngọn trên một số loài cây thuộc họ
xoan cho thấy có hai loài sâu đục ngọn là Hypsipyla robusta Moore thuộc họ ngài sáng Pyralidae bộ cánh vảy Lepidoptera và Zeuzera coffea Nietner thuộc
họ ngài sâu đục gỗ Cossidae bộ cánh vảy Lepidoptera Trong đó Z coffea vừa hại ngọn và hại thân cây, còn H robusta chỉ hại các ngọn cây, ngọn cành, đặc biệt là ngọn chính nhưng tỷ lệ cây bị hại và mức độ bị hại do H robusta lớn hơn rất nhiều so với Z coffea, tỷ lệ cây Lát hoa bị hai loài sâu đục ngọn gây
hại tương ứng là 58,8% và 3,6% (Nguyễn Văn Độ, 2002; 2003)
Sâu đục ngọn (H robusta) được xác định là loài gây hại chính đối với
rừng trồng Lát hoa ở Việt Nam (Nguyễn Văn Độ, 2002) Trứng hình ô van,hơi dẹt theo chiều lưng bụng, trứng mới đẻ có màu trắng nhạt sau chuyểnthành màu đỏ và nâu sẫm; Sâu non có thân màu hồng nhạt, có các chấm nâuđen trên mỗi đốt tạo thành 6 hàng dọc theo cơ thể Đầu màu nâu sẫm và cólông cứng; Nhộng nằm trong kén tơ dày, màu trắng, kiểu nhộng màng, nhộngmới có màu vàng nâu, sau chuyển dần sang màu nâu, nâu sẫm Mỗi lỗ thở có
2 lông cứng nhỏ hai bên Đốt áp chót không có lỗ thở nhưng có 6 lông cứng,cuối đốt này có 8 móc cứng; Trưởng thành: Con đực nhỏ hơn con cái Toànthân phủ lông có màu ghi xám Cánh trước có 3 dải dích dắc màu đen to nhỏkhông đều nhau Cánh sau màu ghi sáng, ở vùng sườn và mép có màu đậmhơn Các mép cánh trước và sau đều có lông riềm Bộ phận ngoài của cơ quansinh sản là đặc điểm quan trọng nhất để xác định loài (Nguyễn Văn Độ, 2002
Trang 24; 2003) Giải phẫu và quan sát genitals của 35 bướm đực sâu đục nõn cây Láthoa, Xoan mộc, Xà cừ, Dái ngựa cho thấy hình thái và cấu tạo chi tiết của
genitals của H robusta đều giống nhau (Nguyễn Văn Độ, 2002).
Sâu đục ngọn (H robusta) có phân bố rộng, chúng gây hại rừng trồng
các loài cây thuộc họ xoan từ miền Bắc đến Nam Trung Bộ Sâu non ở giaiđoạn tuổi 1-2 mới chỉ ăn lá non và chồi non, sau đó chúng thường tấn côngđầu tiên vào ngọn chính rồi mới đến các ngọn của cành bên Mức độ gây hạilớn nhất thường xảy ra với các cây từ 1-2 tuổi, hàng năm xuất hiện một lứasâu với cao mật độ cao vào tháng 6, gây hại nghiêm trọng nhất với cây ở giai
đoạn 10-12 tháng tuổi (Nguyễn Văn Độ, 2003).
Các nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ cây bị sâu đục ngọn ở rừngtrồng Lát hoa rất cao Kết quả đánh giá trên rừng trồng Lát hoa tại Ba Vì (Hà
Nội) cho thấy loài C velutina có tỷ lệ bị sâu đục ngọn từ 54,8-67,3%; loài C tabularis có tỷ lệ bị sâu đục ngọn từ 77,3-95,7% Ngọn chính của những cây
bị sâu đục ngọn bị chết sau đó mọc lên 2-3 ngọn phụ, cây trở thành nhiềuthân, làm giảm sinh trưởng, thậm chí ngừng sinh trưởng về chiều cao do bịsâu hại liên tục (Lê Đình Khả và cộng sự 2003)
Kết quả đánh giá tỷ lệ cây bị sâu đục ngọn đối với rừng Lát hoa ở giai
đoạn 12 tháng tuổi cho thấy tỷ lệ cây bị sâu đục ngọn (H robusta) trung bình
tại Ba Vì, Hà Nội là 58,8%, tại Kim Bôi, Hòa Bình là 21,8% và Mang Yang,Gia Lai là 1,7% (Nguyễn Văn Độ và Đào Ngọc Quang, 2001)
Các nghiên cứu đã xác định được các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinhhọc, phân bố và tình hình gây hại của sâu đục ngọn đối với rừng trồng Láthoa Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu sâu về đặc điểm sinh thái của chúng.Ngoài ra, các nghiên cứu trên cho thấy ở các địa điểm với điều kiện lập địakhác nhau, rừng trồng Lát hoa bị sâu đục ngọn gây hại rất khác nhau Do đócần nghiên cứu bổ sung về đặc điểm sinh thái của sâu đục ngọn; nghiên cứu
Trang 25bổ sung về sự ảnh hưởng của các yếu tố lập địa, địa hình, khí hậu đến sựgây hại của sâu đục ngọn đối với rừng trồng Lát hoa.
1.2.3 Các nghiên cứu về quản lý sâu bệnh
Bón 1,7g chế phẩm MF1/cây đã giúp tăng sinh trưởng chiều cao củaBạch đàn trắng, Bạch đàn nâu, Thông nhựa và Thông mã vĩ Đồng thời có thể
giảm tỷ lệ bị bệnh đốm lá bạch đàn do nấm Cryptosporiopsis eucalypti và bệnh thối cổ rễ thông do nấm Fusarium oxysprorum từ 88-93% (Nguyễn Hoài
Thu và cộng sự 2009) Thí nghiệm đối với cây con Keo lá tràm, Keo tai tượngcho thấy, ở giai đoạn 30 ngày tuổi, các công thức bón chế phẩm MF1 đã giúpgiảm hoàn toàn bệnh thối cổ rễ và tăng 34,9-44,5% về sinh trưởng chiều caocủa cây ở giai đoạn 60 ngày tuổi (Phạm Quang Nam và cộng sự 2015)
Nghiên cứu sử dụng vi sinh vật nội sinh để phòng trừ sâu bệnh đã thànhcông trên một số đối tượng như: phòng trừ bệnh sọc tím trên cây Luồng do
nấm F equiseti gây ra (Nguyễn Thị Thúy Nga và Phạm Quang Thu, 2006 ), phòng trừ bệnh khô cành ngọn Keo tai tượng do nấm Collectotrichum gloeosporioides (Vũ Văn Định và cộng sự 2012)
Sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng rất phổ biến.Ngoài ra, nhiều loại chế phẩm sinh học đã được nghiên cứu, sản xuất, điển
hình như: Chế phẩm Bt (Bacillus thuringiensis) trừ Sâu róm thông (Đào Xuân Trường, 1992); chế phẩm Beauveria bassiana để phòng trừ sâu róm thông và
sâu xanh ăn lá Bồ đề (Phạm Thị Thùy, 1999; Nguyễn Văn Tuất, 2006) Sâu ăn
lá keo đã bị tiêu diệt hoàn toàn sau 1 ngày phun thuốc hóa học, ở công thức
phun vi khuẩn B thuringiensis đạt 86,7% sau 6 ngày và ở công thức phun nấm B bassian đạt 88,9% sau 8 ngày (Bùi Quang Tiếp và cộng sự 2016 ) Đặc biệt, việc tạo nội sinh nhân tạo nấm Bạch cương (B bassiana) cho Bạch đàn camal đã giúp phòng trừ rất hiệu quả ong đen (Leptocybe invasa) gây u
bướu (Lê Văn Bình và cộng sự 2016)
Nghiên cứu phòng trừ sâu đục ngọn Lát hoa đã được thử nghiệm ở Việt
Trang 26Nam, trong đó (1) đề xuất sử dụng các xuất xứ Lát hoa chống chịu tốt nhưxuất xứ Thanh Hóa, Gia Lai… (2) biện pháp lâm sinh, đề xuất trồng xen Láthoa dưới tán rừng keo 1 tuổi, cắt nõn diệt sâu và tỉa cành tạo tán; (3) biện
pháp sinh học, sử dụng chế phẩm Metarhizium anisopliae; (4) biện pháp hóa
học sử dụng thuốc Ofatox 400EC (Nguyễn Văn Độ, 2003) Tuy nhiên, chưa
có mô hình phòng trừ tổng hợp sâu đục ngọn Lát hoa
Các nghiên cứu đã xác định được các biện pháp lâm sinh, hóa học, sinhhọc để phòng trừ một số loài sâu, bệnh hại cây trồng lâm nghiệp nhưngnghiên cứu phòng trừ Sâu đục ngọn Lát hoa mới chỉ được đề cập với một sốbiện pháp lâm sinh, phương thức trồng, biện pháp sinh học, hóa học riêng rẽnhằm hạn chế sâu hại mà chưa có mô hình phòng trừ tổng hợp Do đó cầnnghiên cứu xây dựng các mô hình và các biện pháp phòng trừ tổng hợp Sâudục ngọn Lát hoa
1.2.4 Các nghiên cứu về gây trồng Lát hoa
Nghiên cứu đặc điểm vật hậu và bảo quản hạt giống cho thấy với 15kg quả sẽ thu được 1kg hạt, và có từ 60.000-62.000 hạt/kg Hạt mới thu có
14-tỷ lệ nảy mầm khá cao, đạt trên 80% (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam,
2010 ) Hạt Lát hoa cần được bảo quản lạnh, sau 12 tháng tỷ lệ nảy còn 75%khi bảo quản lạnh và chỉ còn 7% khi bảo quản khô kín ở nhiệt độ phòng(Nguyễn Bá Chất, 1996)
Trong khuôn khổ dự án ACIAR (FST/1996/005) giữa tổ chức CSIRO Australia và Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 28 xuất xứ Lát hoa đãđược khảo nghiệm năm 1999 tại Hòa Bình, Ba Vì - Hà Nội, Gia Lai và Phú
-Thọ Kết quả khảo nghiệm sau 1 năm cho thấy các xuất xứ thuộc loài C tabularis có sinh trưởng tương đối nhanh ở nhiều nơi khảo nghiệm còn các xuất xứ của loài C velutina sinh trưởng chậm hơn Tuy nhiên, ở giai đoạn 3 năm tuổi tại Ba Vì cho thấy các xuất xứ của loài C velutina có chiều cao 5- 6m, đường kính ngang ngực 6-7cm Trong khi các xuất xứ của loài C.
Trang 27tabularis chỉ cao 3-4m và đường kính từ 3-4,5cm Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các xuất xứ thuộc loài C velutina có tỷ lệ sống thấp hơn các xuất xứ của loài C tabularis, nguyên nhân có thể do sự sinh trưởng chậm trong giai
đoạn đầu (Lê Đình Khả và cộng sự 2003)
Kết quả khảo nghiệm xuất xứ ở giai đoạn 5,3 năm tuổi ở Việt Nam cho
thấy các xuất xứ Hòa Bình, Sơn La, Thanh Hóa và Tuyên Quang thuộc loài C tabularis của Việt Nam vẫn sinh trưởng chậm hơn các xuất xứ thuộc loài C velutina của Thái Lan và Myanmar Tuy nhiên, các xuất xứ Lát hoa (C tabularis) thu ở Việt Nam có ưu thế hơn về các chỉ tiêu độ thẳng thân, độ nhỏ
cành và tỷ lệ cây đơn thân (Gunn và cộng sự 2006)
Một số nghiên cứu chọn giống nêu trên đã xác định được các đặc điểm
về hạt giống, bảo quản hạt giống và quan trọng nhất là các cung cấp các thôngtin về kết quả khảo nghiệm xuất xứ Qua đó đã xác định được các xuất xứ Láthoa có triển vọng về sinh trưởng và đặc điểm hình thân Đây là những cơ sởkhoa học và là nguồn vật liệu giống có giá trị cao mà Viện đang lưu trữ, sẽgóp phần hỗ trợ để thực hiện tốt công tác chọn giống Lát hoa ở Việt Nam.Các nghiên cứu đã khuyến cáo kỹ thuật thu hái, xử lý và bảo quản hạtLát hoa gồm: quả chín có màu nâu sẫm, thời gian thu tốt nhất từ tháng 11 nămtrước đến tháng 1 năm sau Quả thu về rải đều và phơi dưới nắng nhẹ, đập lấyhạt, phơi lại hạt trong khoảng 2 ngày, bảo quản lạnh ở 0-5oC Hạt mới thu có
tỷ lệ nảy mầm trên 80% (Nguyễn Bá Chất, 1996; Viện Khoa học Lâm nghiệpViệt Nam, 2010)
Khi gieo ươm cần ngâm hạt trong nước ấm 25-35oC trong 2-3 giờ, vớt rarửa chua rồi ủ, hàng ngày rửa chua, sau 6-7 ngày hạt nứt nanh đem gieo, gieo1kg hạt gieo trên diện tích từ 100-150m2, lấp một lớp đất từ 0,3-0,5cm lên bềmặt luống gieo, phủ rơm, rạ và giữ đủ ẩm Khi cây mạ có 5-7 lá thì cấy vàobầu, cây con ở vườn ươm cần che sáng 30% trong 5 tháng Cây 7-8 tháng
Trang 28tuổi, cao 70-90cm, đường kính gốc 0,5-0,6cm, phát triển tốt đủ tiêu chuẩnxuất vườn (Nguyễn Bá Chất, 1996).
Lát hoa sinh trưởng khá nhanh, cây trồng trong điều kiện thuận lợi, đấttốt, tầng dày, ẩm có thể đạt lượng tăng trưởng hàng năm về đường kính từ1,7-2,3cm và 1,5-2,1m về chiều cao Cây 15 tuổi đường kính đạt từ 30-32cm
và chiều cao đạt 17-22m Cây trồng phân tán có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn(Nguyễn Bá Chất, 1994) Kết quả nghiên cứu một số phương thức trồng Láthoa của Nguyễn Bá Chất tại Nghĩa Đàn, Nghệ An cho thấy: (1) Có thể trồngtheo băng, băng trồng rộng 30m, băng chừa rộng 20m; (2) Trồng xen câynông nghiệp như lúa chịu hạn, lạc 2-3 vụ trong 2 năm, cây sinh trưởng tốt; (3)trồng Lát hoa hỗn giao với mỡ, keo, bạch đàn (Nguyễn Bá Chất, 1996) hoặctrồng trong vườn chè, dứa với mật độ 200 cây/ha (Nguyễn Văn Định, 1992 ).Tuy nhiên các nghiên cứu gây trồng Lát hoa với các loài cây khác còn mangtính chất thăm dò, cần nghiên cứu tiếp để chọn cây hỗn loại và phương thứcthích hợp nhất (Nguyễn Bá Chất, 1996) Không nên trồng thuần loài, trồngvới mật độ dày và ở những nơi đất xấu, tầng mỏng Rừng trồng ở mật độ trên1.500 cây/ha cần phải tỉa thưa nuôi dưỡng để kinh doanh gỗ lớn có chất lượngcao (Nguyễn Bá Chất, 1994) Thời vụ trồng Lát hoa tốt nhất vào vụ xuân và
vụ thu, nên chọn ngày mưa ẩm Đất trồng còn tốt, sâu, ẩm, độ pH từ 5-6 (ViệnKhoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 2010)
Kết quả thử nghiệm trồng dưới tán rừng keo dây 3 tuổi có khoảng cách4x1m, trồng Lát hoa giữa hai hàng keo theo khoảng cách 4x3m, sau 2 nămrưỡi sinh trưởng của Lát hoa ở các công thức có đào rãnh cắt rễ keo dây và cóbón thúc nhanh hơn rõ rệt, thể tích thân cây cao gấp 2,5-3 lần đối chứng vàkhông bị sâu đục ngọn hoặc chỉ bị 7,5% ở công thức mở tán rừng keo dây.Trong khi trồng tập trung có tỷ lệ sâu hại 50-90% (Lê Đình Khả và cộng sự
2005 ) Kết quả trồng thử nghiệm tại Tuyên Quang và Vĩnh Phúc cho thấy Láthoa sinh trưởng khá, chỉ thấp hơn so với Xà cừ (Huỳnh Đức Nhân và cộng sự
2007 )
Trang 29Từ các nghiên cứu trên có thể thấy rằng, Lát hoa đã được trồng ở nhiềunơi đều có sinh trưởng tốt Tuy nhiên, khi trồng rừng thuần loài, chúngthường bị sâu đục ngọn gây ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng và chất lượng
gỗ (Nguyễn Bá Chất, 1996; Lê Đình Khả và cộng sự 2003) Đây là vấn đề tồntại cần được nghiên cứu khi triển khai các nội dung của đề tài này
Nhận xét chung:
Đến nay đã có một số nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ che sáng đếnsinh trưởng và sâu đục ngọn nhưng chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của chế
độ che sáng đến hàm lượng diệp lục trong lá cây Lát hoa, chưa có nghiên cứu
về ảnh hưởng của dinh dưỡng trong lá và đất đến sâu đục ngọn ở cả trong vàngoài nước
Như vậy, các nghiên cứu trên đây về kỹ thuật trồng rừng Lát hoa đã chothấy để đảm bảo rừng trồng Lát hoa sinh trưởng tốt cần chọn lập địa là nhữngnơi đất tốt, tầng dày, ẩm với phương thước trồng phù hợp là phương thức hỗngiao hoặc có cây phù trợ hoặc theo phương thức làm giàu rừng Đến nay cácnghiên cứu về chọn giống đã xây dựng được một số khảo nghiệm xuất xứ, đã
có đánh giá ban đầu về tính chống chịu sâu đục ngọn của các xuất xứ, các môhình khảo nghiệm đều do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam quản lý Cácnghiên cứu về đặc điểm của cây Lát hoa khá đầy đủ nhưng chưa có nghiêncứu về các đặc điểm sinh học, lâm học và sinh thái của Lát hoa liên quan đến
sự gây hại của sâu, bệnh Các nghiên cứu đều tập trung vào các loài sâu đục
ngọn thuộc chi Hypsipyla mà chưa có nghiên cứu về các loài sinh vật gây
bệnh đối với cây Lát hoa Nghiên cứu phòng trừ Sâu đục ngọn Lát hoa mớichỉ được đề cập với một số biện pháp lâm sinh, phương thức trồng nhằm hạnchế sâu hại Các nghiên cứu về tính chống chịu của cây đối với sâu, bệnh hại
đã và đang được thực hiện và đã đạt được những thành công ban đầu Các kếtquả nghiên cứu trên là các cơ sở để đề tài xây dựng các nội dung nghiên cứuphù hợp cho việc chọn giống và kỹ thuật trồng rừng Lát hoa với kháng sâu
Trang 30bệnh, sinh trưởng nhanh phục vụ trồng rừng cung cấp gỗ lớn ở các tỉnh vùngTây Bắc và Bắc Trung Bộ
1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
Về địa giới hành chính: phía bắc tỉnh Hòa Bình giáp với tỉnh Phú Thọ;phía nam giáp tỉnh Thanh Hoá, Ninh Bình; phía đông giáp thủ đô Hà Nội, HàNam; phía tây giáp tỉnh Sơn La, Thanh Hoá
1.3.1 Vị trí địa lý
Trên bản đồ Việt Nam, tỉnh Hoà Bình nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc, códiện tích tự nhiên 4.662,53 km2 Xét về vị trí địa lý, Hoà Bình là vùng đệmtrung gian giữa một bên là vùng đồng bằng Bắc Bộ và một bên là núi cao,rừng rậm của miền Tây Bắc, được thông giao qua quốc lộ 6 (đường bộ) vàsông Đà (đường thủy) ở phía bắc Hoà Bình giáp ranh thủ đô Hà Nội và có vịtrí quan trọng trong chiến lược phòng thủ của khu vực và cả nước
Vùng núi thấp và đồi phía Đông Nam: bao gồm các huyện Kỳ Sơn,Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ Địa hình vùng này có sự xen kẽgiữa địa hình cáttơ và địa hình xâm thực, do đó có nhiều hang động, đấtthường bị mất nước Núi cao trung bình 200 - 500 m, bị chia thành nhiều khốirời rạc
Trang 31Về thổ nhưỡng: Do đặc điểm địa hình và khí hậu nên đất đai Hoà Bìnhchia thành hai vùng rõ rệt: Vùng núi cao trung bình, gồm đất feralít vàng đỏ
có hàm lượng mùn 6 - 7%; do độ ẩm cao, nhiệt độ thấp, vùng này rất thuận lợicho phát triển lâm nghiệp Vùng đồi và núi thấp, gồm đất feralít vàng đỏ vàvùng cỏ thứ sinh, trong đó đất bạc màu chiếm 45 - 80% Vùng ven sông Đà
và các suối khác do hàng năm được bồi một lớp phù sa khá dày nên rất thuậnlợi cho việc trồng lúa, trồng màu
Hệ thống sông, suối: Do địa hình bị chia cắt mạnh nên sông suối ở HòaBình thường dốc và ngắn Mùa hè mưa nhiều, mực nước sông suối lên cao,chảy xiết gây ra lụt lội, ảnh hưởng đến nông nghiệp và giao thông trong vùng.Mùa đông thiếu nước, lượng nước ở các sông suối giảm mạnh, có nhiều suốinhỏ bị khô cạn Hiện nay, Hoà Bình có 4 hệ thống sông chính:
Sông Đà: bắt nguồn từ vùng núi cao Vân Nam - Trung Quốc, chảy quavùng Tây Bắc, đoạn này lòng sông hẹp, lắm thác ghềnh; đến địa phận tỉnhHoà Bình lòng sông rộng, thác giảm nhiều, đáng kể nhất là Thác Bờ Sông Đàchảy trên đất Hoà Bình với chiều dài 103 km, đến thị xã Hoà Bình, sông Đàchảy ngược lên hướng Bắc
Hồ sông Đà (hồ Hoà Bình): có dung tích 9,5 tỉ m3 nước, phục vụ nhiềumục tiêu kinh tế và quốc phòng Trong đó, nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ phátđiện của Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình - nguồn cung cấp điện năng quan trọngcho cả nước; ngoài ra có nhiệm vụ cắt lũ về mùa mưa, điều tiết nước chốnghạn về mùa khô cho đồng bằng châu thổ sông Hồng
Sông Bôi: bắt nguồn từ xã Thượng Tiến thuộc huyện Kim Bôi Sông dàikhoảng 60 km, chảy qua nhiều dãy núi đá vôi phía nam của tỉnh Hoà Bình rồi
đổ vào sông Hoàng Long của tỉnh Ninh Bình
Sông Bưởi: bắt nguồn từ huyện Tân Lạc, Lạc Sơn do các suối Lồ, suốiCái, suối Nhân Nghĩa, suối Yên Phú và nhiều con suối nhỏ khác hội lưu ở thị
Trang 32trấn Vụ Bản (huyện Lạc Sơn) rồi chảy sang tỉnh Ninh Bình Sông dài khoảng
38 km Lòng sông hẹp, nên vào mùa mưa thường gây ra lụt lội ở hai bên bờ.Sông Mã: đoạn chảy qua địa giới tỉnh Hoà Bình là từ xã Hang Kia đến
xã Vạn Mai của huyện Mai Châu Hầu hết các suối phía nam huyện Mai Châuđều đổ ra sông Mã
1.3.3 Khí hậu
Hoà Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng:nóng, ẩm, có mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình trong năm 230C; lượng mưatrung bình 1.800 mm/năm; độ ẩm tương đối 85%; lượng bốc hơi trung bìnhnăm 704 mm Khí hậu trong năm chia làm hai mùa rõ rệt:
Mùa hè: bắt đầu từ tháng 4, kết thúc vào tháng 9 Nhiệt độ trung bìnhtrên 250C, có ngày lên tới 430C Lượng mưa trung bình trong tháng trên 100
mm, thời điểm cao nhất là 680 mm (năm 1985) Mưa thường tập trung vàotháng 7, 8 Lượng mưa toàn mùa chiếm 85 - 90% lượng mưa cả năm
Mùa đông: bắt đầu từ tháng 10 năm trước, kết thúc vào tháng 3 nămsau Nhiệt độ trung bình trong tháng dao động trong khoảng 16 - 200C Ngày
có nhiệt độ xuống thấp là 30C Lượng mưa trong tháng 10 - 20mm
Do đặc điểm địa hình, Hoà Bình còn có các kiểu khí hậu Tây Bắc vớimùa đông khô và lạnh, mùa hè nóng ẩm (ở vùng núi cao phía Tây Bắc); kiểukhí hậu đồng bằng Bắc Bộ thời tiết ôn hoà hơn (ở vùng đồi núi thấp)
Trang 33Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Cây Lát hoa (Chukrasia tabularis) ở giai đoạn 1-5 tuổi trong rừng trồng
thuần loài, xen cây bản địa, xen cây nông nghiệp và trồng phân tán
Sâu đục ngọn cây Lát hoa (Hypsipyla robusta)
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu bổ sung thành phần sâu hại vàtình hình sâu đục ngọn gây hại cây Lát hoa, một số đặc điểm hình thái của sâuđục ngọn, và một số đặc điểm sinh lý, sinh thái của Lát hoa liên quan đến sinhtrưởng và sâu đục ngọn Lát hoa tại tỉnh Hòa Bình
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều tra tình hình sâu hại và sâu đục ngọn cây Lát hoa ở Hòa Bình
- Điều tra bổ sung thành phần sâu hại cây Lát hoa ở Hòa Bình
- Điều tra tình hình sâu đục ngọn cây Lát hoa ở Hòa Bình
2.2.2 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn cây lát hoa
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của sâu đục ngọn cây lát hoa
- Nghiên cứu triệu chứng gây hại của sâu đục ngọn cây lát hoa
2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần diệp lục đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa
2.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng trong lá cây và trong đất đến khả năng bị sâu đục ngọn của cây Lát hoa
- Nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng trong lá cây đến khả năng bị sâuđục ngọn của cây Lát hoa