BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ---o0o---TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG, TỈ LỆ SỐNG VÀ THỜI GIAN BIẾN THÁI CỦA ẤU TRÙNG CUA XANH SCYLLA PARAMAMOSAIN GIA
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-o0o -TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG, TỈ LỆ SỐNG VÀ THỜI GIAN BIẾN THÁI CỦA ẤU TRÙNG CUA XANH (SCYLLA PARAMAMOSAIN) GIAI ĐOẠN MEGALOPE ĐẾN CUA BỘT TẠI TRẠM NGHIÊN CỨU
ỨNG DỤNG VÀ SẢN XUẤT GIỐNG THỦY SẢN MẶN LỢ
DIỄN HẢI- DIỄN CHÂU- NGHỆ AN.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Người hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Thanh Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Sông
Lớp : 49K2 – NTTS MSSV : 0853030969
VINH, 09/2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập giáo trình tốt nghiệp tại trạm Nghiên cứu ứngdụng và sản xuất giống thủy sản mặn lợ Diễn Hải ngoài sự nỗ lực của bảnthân em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cá nhân cùng các cơ quanđoàn thể Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Cô giáo - Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh đã giúp tôi định hướng nghiêncứu và hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập thực hiện giáo trình này
Cảm ơn tới Kỹ sư - trại trưởng Trần Thanh Long và các anh chị kỹthuật viên thuộc trạm Nghiên cứu ứng dụng và sản xuất giống thuỷ sản mặn
lợ Diễn Hải- Diễn Châu- Nghệ An đã tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất vàtrang thiết bị hỗ trợ giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em hoàn thànhtốt nội dung và kế hoạch thực tập lần này
Xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, lãnh đạo trường ĐạiHọc Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Nông- Lâm- Ngư, tổ bộ môn Nuôi trồngthủy sản đã dạy dỗ và giúp đỡ em trong những năm học vừa qua Xin cảm
ơn thư viện khoa Nông- Lâm- Ngư trường Đại Học Vinh đã tạo điều kiệncho em tham khảo tài liệu
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên vàgiúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và học tập tại trường
Diễn Châu, tháng 6 năm 2012 Sinh viên:
Nguyễn Hữu Sông
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài: 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh học, sinh sản của cua Xanh (Scylla paramamosain) 3
1.1.1 Vị trí phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo 3
1.1.2.1 Phần đầu ngực 4
1.1.2.2 Phần bụng 5
1.1.2.3 Các phần phụ 5
1.1.3 Đặc điểm phân bố 5
1.1.4 Đặc điểm các giai đoạn phát triển vòng đời 7
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 10
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển 10
1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất giống cua biển trên thế giới và ở Việt Nam 13
1.2.1 Trên thế giới 13
1.2 Ở Việt Nam 17
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2.Vật liệu, trang thiết bị và dụng cụ nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
2.4.2 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 22
Trang 52.4.3 Phương pháp xác định tỷ lệ sống 22
2.4.4 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng về khối lượng 22
2.4.5 Phương pháp xác định thời gian biến thái 23
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 23
2.6 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường 24
3.1.1 Nhiệt độ 24
3.1.2 pH 25
3.1.3 Độ mặn 25
3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỉ lệ sống của ấu trùng cua
Xanh giai đoạn Megalope đến cua bột 26
3.3 Ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ tăng trưởng của ấu trùng cua Xanh giai đoạn Megalope đến cua bột 27
3.3.1 Tốc độ tăng trưởng trung bình khối lượng của ấu trùng cua
trong thí nghiệm 27
3.3.2 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối khối lượng của ấu trùng cua trong thí nghiệm 29 3.3.3 Tốc độ tăng trưởng tương đối khối lượng của ấu trùng cua trong thí nghiệm 31 3.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái của ấu trùng cua Xanh giai đoạn Megalope đến cua bột 33
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 34
1 Kết luận 34
2 Kiến nghị 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 PHỤ LỤC a
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Hình dạng bên ngoài của cua Xanh (Scylla paramamosain) 4
Hình 1.2: Vòng đời của cua Xanh [15] 7
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu thí nghiệm 20
Hình 2.2 Mô hình bố trí thí nghiệm 21
Hình 3.1.Tỉ lệ sống của ấu trùng các nghiệm thức trong thí nghiệm…27 Hình 3.2 Tốc độ tăng trưởng trung bình của ấu trùng các nghiệm thức trong thí nghiệm 29
Hình 3.3 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng các nghiệm thức trong thí nghiệm 30
Hình 3.4 Tốc độ tăng trưởng tương đối của ấu trùng các nghiệm thức trong thí nghiệm 32
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Phương thức sống của cua biển……….……6
Bảng 1.2: Quá trình phát triển phôi cua Xanh (Scylla paramamosain) [1]
9Bảng 2.1 Các thiết bị và dụng cụ theo dõi các yếu tố môi trường 22Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình bố trí thí nghiệm 24Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng trung bình khối lượng giữa các công thức
28
Bảng 3.4 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng (g/ngày) 29Bảng 3.5 Tốc độ tăng trưởng tương đối của ấu trùng (%/ngày) 31
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước ta có tiềm năng lớn để phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản, thểhiện ở đường bờ biển kéo dài suốt chiều dài lãnh thổ từ Bắc vào Nam, với
3260 km Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, tính trung bình cứ 100
km2 diện tích tự nhiên có 1 km bờ biển và gần 30 km bờ biển có một cửasông lạch tạo nên khoảng 1,7 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản Bên cạnh đó,vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng 226.000 km2, vùng biển đặc quyền kinh tếrộng 1 triệu km2 với hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ, tạo nên 12 vịnh, đầm phávới tổng diện tích 1.160 km2 được che chắn tốt dễ trú đậu tàu thuyền
Nuôi trồng thuỷ sản đã và đang được xem là một trong những ngànhkinh tế mũi nhọn để phát triển nền kinh tế đất nước Với tiềm năng lớn vềđất đai, diện tích mặt nước và lao động, lại nằm trong khu vực nhiệt đới giómùa, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thuỷ sản đặcbiệt là hải sản Trong những năm gần đây, do thu nhập của người dân tăng
và do tình hình dịch bệnh về gia súc, gia cầm nên nhu cầu về các mặt hàngthuỷ sản ngày càng tăng nhiều hơn Do đó, việc mở rộng nuôi trồng thuỷ sản
là một trong những hướng phát triển chiến lược để nâng cao chất lượng thực
phẩm cho con người Cua biển (Scylla paramamosain, 1949) là một đối
tượng nuôi mới ở nước ta, chúng có giá trị kinh tế cao, là đối tượng thủy sản
có giá trị xuất khẩu cao ở nhiều nước trong khu vực Châu Á - Thái BìnhDương, đây là loài có khả năng sống được ở những vùng nước mặn và lợnên là đối tượng nuôi có nhiều tiềm năng phát triển, đồng thời chúng lànguồn thu nhập quan trọng và là thực phẩm rất tốt cho cộng đồng nhờ hàmlượng protein và khoáng chất cao với lượng mỡ béo thấp Vì vậy nó đã tạo
ra một nhu cầu sử dụng rất cao trong xã hội và đi đôi với đó là một áp lựckhai thác từ tự nhiên rất lớn và hậu quả là làm cho nguồn lợi từ tự nhiên đã
Trang 9dần bị cạn kiệt Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải quan tâm vàphát triển nghề sản xuất giống cua biển nhân tạo để cung cấp cho nhu cầucủa xã hội nhằm giảm áp lực khai thác từ tự nhiên Tuy nhiên việc giải quyếtnhu cầu này đang gặp không ít những khó khăn một mặt do hiện nay nguồngiống chủ yếu khai thác từ tự nhiên đang dần bị cạn kiệt mặt khác cácnghiên cứu về cho sinh sản nhân tạo giống cua biển cũng chưa đáp ứng đủnhu cầu Vì vậy việc nghiên cứu để hoàn thiện qui trình sản xuất nhân tạogiống cua biển mang lại tỷ lệ sống cao vẫn là một vấn đề hết sức đáng quantâm hiện nay Trong sản xuất giống thì thức ăn là một trong những yếu tốquan trọng quyết định tới năng suất và chất lượng con giống.
Chính vì vậy nên cùng với sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa NôngLâm Ngư và tổ bộ môn thủy sản và được sự giúp đỡ của các cán bộ kĩ thuậttại trạm nghiên cứu ứng dụng và sản xuất giống thủy sản mặn lợ Diễn Hải
em đã tiến hành nghiên cứu về đề tài :
Tìm hiểu ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống
và thời gian biến thái của ấu trùng cua Xanh (scylla paramamosain) ở giai đoạn Megalope đến Cua bột tại Trạm nghiên cứu ứng dụng và sản xuất giống thủy sản mặn lợ Diễn Hải - Diễn Châu - Nghệ An.
2 Mục tiêu của đề tài:
- Chọn được loại thức ăn thích hợp để nâng cao tỉ lệ sống và tốc độtăng trưởng đồng thời rút ngắn thời gian biến thái của ấu trùng cua Xanh
(scylla paramamosain) từ giai đoạn Megalope đến cua bột góp phần hoàn
thiện quy trình sản xuất cua Xanh nhân tạo trong điều kiện tại Nghệ An
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học, sinh sản của cua Xanh (Scylla paramamosain)
1.1.1 Vị trí phân loại
Theo khoá phân loại đã được công bố của tác giả: Estampador (1949); P.Keenan (1998); Ketutsugama (1998) [17], cua Xanh có hệ thống phân loạinhư sau:
Loài: S paramamosain Estampador, 1949
Tên tiếng Việt: Cua Xanh, cua biển, cua bùn, cua sú
Tên tiếng Anh: mud-crab, green crab, hay mangrove crab
1.1.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo
Cua biển S paramamosain là loài có kích thước lớn, cơ thể dẹp theo
hướng lưng bụng Toàn bộ cơ thể được bao bọc trong lớp vỏ kitin dày Maicua rộng, trán láng chiều dài gần bằng 3/4 chiều rộng Mặt lưng cua có màuxanh của lá sú vẹt già hay gần giống màu xanh của bùn Mặt bụng có màuvàng trắng Vùng trước dạ dày có gờ cong, vùng mang cũng có gờ Vùngcuối dạ dày có rãnh hình chữ "H" Đôi chân bò thứ nhất có kích thước bằngnhau, mặt lưng của càng có màu xanh bùn, mặt bụng có màu trắng xen lẫn
chấm xanh đen [1,7] Loài Scylla paramamosain có các gai thuỳ trán cao
trung bình, nhọn, hình tam giác; cặp gai lớn trên procarpus rõ; trên carpus,gai trong không có và gai ngoài thoái hoá; vân nhiều góc hiện trên hai cặp
Trang 11chân cuối, mờ hoặc không có trên các phụ bộ còn lại [10] Cơ thể cua chiathành hai phần: phần đầu ngực lớn nằm trong giáp đầu ngực (mai cua); phầnbụng nhỏ và gập lại dưới phần đầu ngực (yếm cua) [8].
Hình 1.1: Hình dạng bên ngoài của cua Xanh (Scylla paramamosain)
1.1.2.1 Phần đầu ngực
Phần đầu ngực là sự liên hợp của 5 đốt đầu và 8 đốt ngực nằm phíadưới mai, ranh giới giữa các đốt không rõ ràng Việc phân biệt các đốt ngựcdựa vào các phụ bộ Trên các đốt đầu có mắt, anten, phần phụ miệng
Mai cua to và phía trước có gai Mé trước của giáp đầu ngực cua chiathành 3 đoạn phân cách bởi 2 hố mắt Hai đoạn mé bên có chiều dài bằngnhau, mỗi mé bên có 9 gai, đỉnh nhọn, gốc to, có kích thước lớn dần từ hốcmắt đến gai cuối Trán có 4 gai (không kể 2 gai hốc mắt), đỉnh nhọn, đềunhau, hướng về phía trong hốc mắt Hốc mắt có chứa mắt có cuống và bằngnhững rãnh trung gian, mỗi vùng là một vị trí của cơ quan Ở cua đực có lỗsinh dục nằm ở gốc chân bò 5 và có dính vào đó 1 gai sinh dục Cua cái có 2
lỗ sinh dục nằm ở gốc chân bò 3 [8]
Trang 121.1.2.2 Phần bụng
Phần bụng dạng phiến mỏng, có 7 đốt gập vào phần giáp đầu ngực,chân bụng bị thoái hoá Ở con đực đôi chân bụng đầu tiên thoái hoá biếnthành đôi gai giao cấu hình mũi kiếm Ở con cái chân bụng phân thành hainhánh có nhiều lông tơ để kết dính trứng sau khi đẻ Bụng cua dính vào phầnđầu ngực bằng hai khuy lõm ở mặt trong của đốt một móc vào hai nút lồibằng kitin nằm trên ức cua [8]
1.1.2.3 Các phần phụ
- Phần phụ đầu: Có 5 đôi phụ bộ đầu là: đôi anten 1, đôi anten 2, 1 đôi hàm
trước, 1 đôi hàm sau, 1 đôi hàm giữa
- Phần phụ ngực : có 3 đôi chân hàm và 5 đôi chân ngực.
- Chân hàm I: Phần gốc có hai lá, lá trong nhỏ có nhiều lông cứng trênđầu, lá ngoài loe rộng và mép ngoài có lông ngắn, phần ngọn chia làm hainhánh; chân hàm II: phần ngọn chia làm hai nhánh, nhánh trong có 5 đốt,nhánh ngoài có 3 đốt; chân hàm III đã kitin hoá, phần gốc có hai đốt, phầnngọn chia làm hai nhánh
- Chân ngực gồm 5 đôi, đôi thứ nhất lớn bằng nhau có đốt cuối chẻnhánh dạng kìm rất khoẻ; chân ngực 5 có dạng mái chèo có lông; các đôicòn lại dạng hình móng vuốt Chân ngực III dài nhất
- Phần phụ bụng : Ở cua cái có 4 đôi chân bụng Chân bụng phân làm hai
nhánh (nhánh trong lớn và phân đốt, nhánh ngoài mỏng và không phân đốt)mang những sợi lông tơ để giữ trứng Cua đực có đôi chân bụng đầu tiênbiến thành gai giao cấu
1.1.3 Đặc điểm phân bố
Các đại diện của giống Scylla phân bố ở khắp vùng biển Ấn Độ - Thái
Bình Dương Trong đó loài S Serrata có sự phân bố rộng nhất, loài
S paramamosain có sự phân bố hẹp hơn Theo Keenan et al 1998,
Trang 13S.paramamosain phân bố ở vùng biển nam Trung Quốc, Singapore, Đài
loan, Cambodia, Hồng Kông, Biển Java, Malaysia, Kalimantan, Việt Nam [4]
Ở Việt Nam, S.paramamosain phân bố nhiều ở vùng biển Miền Trung
Việt nam, chủ yếu là ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long [10]
Bảng 1.1: Phương thức sống của cua biển
Phôi Được cua mẹ mang trứng: phôi phát triển ở vùng biển ven
bờ [11]
Ấu trùng
Sống trôi nổi nhờ dòng nước đưa vào ven bờ
-Ấu trùng Zoea nở ra là bơi lội và hướng quang mạnh
- Ấu trùng Megalope bơi lội nhanh nhẹn trước khibiến thái thành cua bột (khoảng 2 ngày) thường sống bámtrên những giá thể hoặc những chất nền như tảo ở đáybiển [1]
Cua con
Cua con sống bò trên nền đáy bám vào giá thể trong nước,
ẩn mình trong các giá thể ở đáy, thỉnh thoảng cũng bơilội Cua có tập tính đào hang để trú ẩn
Cua tiền trưởng
thành
Cua tiền trưởng thành chuyển từ đời sống nước mặn sangnước lợ ở rừng ngập mặn, cửa sông Tập trung ở các bãitrung triều [1,10]
Cua trưởng
thành
Sống ở vùng cửa sông, rừng ngập mặn Tập trung ở dướitriều nhiều hơn Cua có tập tính đào hang để trú ẩn [1].Cua thành thục
sinh dục
Di cư ra vùng biển gần bờ để sinh sản [1,10]
Trang 141.1.4 Đặc điểm các giai đoạn phát triển vòng đời
Hình 1.2: Vòng đời của cua Xanh [15]
Vòng đời của cua trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và mỗi giai đoạn
có phương thức sống khác nhau Ong (1964) lần đầu tiên mô tả các giai đoạn
ấu trùng cua biển Scylla ssp Trứng cua mới đẻ có đường kính trung bình 0,3
mm và có màu vàng tươi Sự phát triển của trứng được phân biệt theo màusắc : từ màu vàng tươi sang vàng đậm, chuyển sang xám, cuối cùng sangđen, lúc này là lúc xuất hiện mầm chân và mắt, sau đó tim bắt đầu đập vàcác cơ quan khác cũng bắt đầu hình thành, khi tim đập khoảng 200- 240 lần/phút phôi sẽ phá vỡ vỏ chui ra ngoài, đây là ấu trùng Zoea Khoảng thời gian
từ lúc cua đẻ đến khi nở ra ấu trùng Zoea là 17 ngày ( Trần Trọng Nghĩa,2004)
Trang 15Ấu trùng cua sau khi nở là Zoea 1 trải qua 4 lần lột xác để trở thànhZoea 5 trong 17- 20 ngày, mỗi giai đoạn mất 2 - 3 ngày Từ Zoea 5 biến tháithành Megalope mất 8 - 11 ngày Ấu trùng Zoea có tính hướng quang và bơingược dòng Giai đoạn Megalope chỉ lột xác 1 lần và mất 7 - 8 ngày để trởthành cua 1 (cua bột) Cua con trải qua 16 - 18 lần lột xác trước khi thànhthục và ít nhất khoảng 328 - 523 ngày Trước mùa sinh sản cua di cư ra vùngbiển ven bờ lột xác tiền giao vĩ rồi di cư ra biển, trong quá trình di cư trứng
sẽ phát triển và chín dần Cua ấp trứng trong khoang bụng cho đến khi nởthành ấu trùng Zoea 1 rồi tiếp tục lặp lại vòng đời
Nhìn chung, chu kì sống của các loài cua biển theo Heas man (1980)(được trích dẫn bởi Lee, 1992) gồm 4 giai đoạn : giai đoạn ấu trùng, giaiđoạn cua con (chiều rộng mai 20-80 mm), giai đoạn tiền trưởng thành (chiềurộng mai 70-150 mm) và giai đoạn trưởng thành (chiều rộng mai 150 mmtrở lên)
Đặc biệt, trong quá trình phát triển cùng với sự lột xác cua có khảnăng tái sinh những phần cơ thể đã mất
Cua có khả năng bò trên cạn và di chuyển rất xa, chúng hoạt độngtrung bình 13h/ ngày và gần như suốt đêm Sự phân bố của cua trong tựnhiên có liên quan đến dòng chảy Trong đó, vận tốc nước thích hợp cho sựphân bố của chúng là 0,06 – 1,5 m/s (theo báo cáo của Hiland (1984))
Trang 16Bảng 1.2: Quá trình phát triển phôi cua Xanh (Scylla paramamosain) [1]
Các giai đoạn phát triển của phôi Màu sắc của
trứng
Kíchthướctrứng(µm)Sau khi đẻ khoảng 1 giờ trứng bắt đầu phân cắt Vàng da
Xuất hiện các điểm hình sao và hình thành đôi
mắt kép màu đen hình bầu dục sau 10-12 ngày Xám đen 330Khi tuổi phôi từ 12 đến 17 ngày thì tim phôi
bắt đầu xuất hiện nhịp tim tăng dần số lần đập,
vỏ đầu ngực, chân hàm, các đốt bụng được
hình thành, cơ bắt đầu co bóp, các phần phụ
đầu của ấu trùng đã phát triển hoàn thiện, phôi
hoạt động trong vỏ trứng mạnh dần, cường độ
hoạt tăng liên tục cho đến khi vỏ trứng vỡ ra ấu
trùng xuất hiện
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Trang 17Theo Hill (1976): Thức ăn tự nhiên của cua chứa: 50 % là nhuyễn thể,
21 % là giáp xác, phần còn lại ít khi thấy có cá trong ống tiêu hoá của cua
Tính ăn của cua biến đổi theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể:
- Trong giai đoạn ấu trùng cua thích ăn động vật phù du Từ giai đoạnMegalope ấu trùng thể hiện tính hung dữ (tính ăn nhau) [10]
- Cua con: Ăn tạp như rong tảo, giáp xác, nhuyễn thể, cá hay ngay cảxác chết động [10]
- Cua tiền trưởng thành ăn nhiều bọn hai mảnh vỏ và phúc túc (độngvật chân bụng) [10]
- Cua trưởng thành ăn cua con, nhuyễn thể và cá (Jayamance, 1991)[10]
Cua không thích nghi với việc bắt những con mồi di động Cua có tậptính trú ẩn vào ban ngày và kiếm ăn vào ban đêm Nhu cầu thức ăn củachúng lớn nhưng cũng có khả năng nhịn đói từ 10 – 15 ngày ở trên cạn trongđiều kiện ẩm ướt (Hill, 1976)
Trong điều kiện nuôi nhiệt độ và độ mặn là hai yếu tố có ảnh hưởnglớn đến tính ăn và hoạt động của cua (manjulatha và babu, 1998)
1.1.6 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển
Tuổi thọ trung bình của cua là từ 2 - 4 năm Qua mỗi lần lột xác, khốilượng cua sẽ tăng 20 - 50%, và kích thước tối đa mà cua có thể đạt được là
19 - 28 cm, với khối lượng 1 - 3 kg/con
Cua biển là loài sinh trưởng không liên tục, được đặc trưng bởi sự giatăng đột ngột về kích thước và trọng lượng Cua lột xác để tăng kích thước
và quá trình này phụ thuộc rất lớn vào dinh dưỡng, môi trường và giai đoạn
Trang 18phát triển của cơ thể Theo Trino và ctv, (1999) khi nuôi chung cua đực vàcua cái thì tốc độ tăng trưởng của cua đực lớn hơn so với cua cái.
Quá trình lột xác của cua mang tính đặc trưng riêng biệt từng loài,thông thường 2 - 3 ngày/lần Sau mỗi lần lột xác cơ thể lớn lên về kíchthước, trọng lượng và hoàn thiện các cơ quan Cua càng lớn thì chu kì lộtxác càng kéo dài Đặc biệt trong quá trình lột xác cua có khả năng tái sinhnhững phần phụ bộ mà cơ thể đã mất Đối với những con cua bị tổn thương,khi mất phần phụ bộ thì cua có khuynh hướng lột xác sớm ( Trần Ngọc Hải
và ctv, 1999)
Quá trình tăng trưởng của cua còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ Theo
Ong (1966), tăng trưởng trung bình của cua Scylla ở điều kiện tự nhiên
nhanh hơn so với điều kiện ương nuôi ở trong phòng thí nghiệm, mặc dùchất lượng nước trong phòng thí nghiệm tốt hơn
Sự phát triển phôi: Trứng cua thuộc trứng trung hoàng và phân cắttheo kiểu phân cắt bề mặt Sau khi cua đẻ 45 phút đến 1 giờ, tất cả trứngđược thụ tinh sẽ bắt đầu phân cắt Quá trình phát triển phôi được thể hiện ởbảng 1.2
Sự phát triển của phôi cua chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: độ mặn,thành phần dinh dưỡng, nhiệt độ , prôtêin là nguồn quan trọng nhất cungcấp cho phôi thai phát triển [4] Kết thúc thời gian phát triển phôi từ 15- 18ngày ở điều kiện nhiệt độ 26 - 300C, độ muối 25 ppt - 35 ppt và các điềukiện khác nằm trong phạm vi cho phép
Sự phát triển của ấu trùng cua: quá trình phát triển của ấu trùng cuatrải qua nhiều lần lột xác biến thái để lớn lên Thời gian giữa các lần lột xácthay đổi theo từng giai đoạn Ấu trùng có thể lột xác trong vòng 2 - 3 ngày
Trang 19hoặc 3 - 5 ngày/lần Cua lớn lột xác chậm hơn, nửa tháng hay một tháng lộtxác 1 lần [10] Ấu trùng sau khi nở là Zoea 1 trải qua lột xác tương ứng với
5 giai đoạn phát triển, lần lột xác cuối cùng của giai đoạn Zoea sẽ biến tháithành ấu trùng Megalope Sau đó Megalope sẽ lột xác thành cua bột, giaiđoạn này kéo dài 7 - 8 ngày Cua con trải qua 16 - 18 lần lột xác nữa trướckhi thành thục [1,10]
Ấu trùng Zoea mới nở (Z1) cấu tạo cơ thể gồm hai phần: phần đầungực và phần bụng Đầu ngực dạng hình gần bầu dục, có một gai trán vàmột gai lưng dài, hai gai bên ngắn, một đôi mắt kép chưa có cuống mắt, haiđôi ăng ten, một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ và hai đôi chân hàm Phầnbụng nhỏ, dài được chia thành 6 đốt, đốt cuối cùng chẻ nhánh thành hai gai[1] Sang giai đoạn Megalope, ấu trùng mất gai lưng, gai trán rất ngắn, mắt
to Telson không còn chẻ nhánh mà dạng bầu và có nhiều lông trên chânđuôi Chân bụng rất phát triển và có nhiều lông trên các nhánh Ấu trùngmang hai càng Cua bột có hình dạng giống như cua trưởng thành mặc dùcarapace hơi tròn [10]
Trang 201.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất giống cua biển trên thế giới và ở
Việt Nam 1.2.1 Trên thế giới
Cua Xanh là đối tượng nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiềunước Vì thế đã có nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng này
Nghiên cứu xác định loài: từ những năm 1775, đã có các công trìnhnghiên cứu xác định thành phần loài cua Tuy nhiên, việc dựa vào các đặc
điểm hình thái ngoài để phân loại các loài trong giống Scylla chưa có được
sự thống nhất cao Cho đến năm 1998 - 1999, Ketut Sugama, John H.Hutapea, Clive P Keenan nghiên cứu về đặc điểm di truyền, cấu trúc gen vàđặc điểm hình thái ngoài đã khẳng định chính xác 4 loài này trong giống
Scylla: S serrata Forskal, 1775; S tranquebarica Fabricius, 1798;
S olivacea Herbst, 1796; S paramamosain Estampador, 1949 [5,15].
Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản: những năm 1940, đã có nhiềunhà khoa học tiến hành nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của cua,trong đó có Ariola F J (1949) Ông nghiên cứu về vòng đời của cua Xanh vànhận thấy, cua Xanh sinh trưởng và phát triển ở vùng nước lợ Sau khi giao
vĩ cua di cư ra vùng cửa sông để đẻ trứng, ấu trùng Zoea sống ở biển Hoạtđộng đẻ trứng của cua diễn ra quanh năm với mùa vụ chính từ tháng 5 đếntháng 7, sự thụ tinh xảy ra nội tại bên trong cơ thể [1]
Năm 1964, công trình nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cua biển lầnđầu tiên được Ong Kalsin thực hiện ở Malaysia, công trình này nghiên cứu
về sự thành thục giới tính, quá trình phát triển từ giai đoạn phôi đếnMegalope Nghiên cứu cho thấy: cua Xanh thành thục ở 5 tháng tuổi, khichiều rộng giáp đầu ngực đạt 11,42 cm Trong khi đó, Anon (1984) lại chorằng tuổi thành thục giới tính là từ 1,5 - 2,5 năm [1,10]
Trang 21Hoạt động giao vĩ và đẻ trứng của cua được Ong Kalsin mô tả trongcác công trình nghiên cứu từ năm 1964 - 1966 Kết quả nghiên cứu cho thấy
sự giao vĩ chỉ thực sự xảy ra khi con cái vừa mới lột xác xong và tinh trùngđược giữ lại trong túi tinh của con cái để thụ tinh sau này Hoạt động giao vĩ
và đẻ trứng xảy ra quanh năm nhưng diễn ra mạnh nhất vào mùa xuân, trừnhững tháng có nhiệt độ dưới 22oC (M P Heasman, D R Fielder,
R K Shepherd 1985) [1]
Năm 1998, Cheng H C, Jang K H., Nguyễn Cơ Thạch đã chỉ ra rằngnhiệt độ từ 260C – 300C, độ mặn từ 25 – 30 ppt được coi là điều kiện thíchhợp cho sự phát triển của ấu trùng cua Xanh Và hầu hết các công trìnhnghiên cứu về thức ăn và sự biến thái của ấu trùng cua đều khẳng định, ấutrùng cua trải qua hai giai đoạn biến thái: giai đoạn ấu trùng Zoea (Z1 - Z5)
và giai đoạn Megalope Kết quả nghiên cứu cho thấy thức ăn phù hợp của ấutrùng cua thường là Nauplius của Artemia, luân trùng (Brachionus), tảo lục(chlorella), men bánh mì, copepoda, tảo khuê (chaetoceros skenetonemacostatum), thịt tôm, nhuyễn thể Ngoài ra, đã có các nghiên cứu về dinhdưỡng, ảnh hưởng của các axít béo không no (W3, W6) trong khẩu phần ănđến sự phát triển của ấu trùng [1]
Nghiên cứu sinh sản nhân tạo: năm 1983, Heasman, M P và Fielder,
D R đã thử nghiệm cho cua đẻ ở phòng thí nghiệm và nuôi đại trà cua Xanh
từ giai đoạn Zoea đến cua bột, kết quả nghiên cứu cho rằng: cần duy trì chấtlượng nước bằng hệ thống lọc nước tuần hoàn, các điều kiện nhiệt độ nước
270C, độ mặn 30 ± 2 ppt, mật độ thức ăn từ 5 - 30 con/lít (Nauplius Artemia)được coi là các điều kiện thích hợp cho quá trình ương nuôi ấu trùng Vớiđiều kiện này thì thời gian chuyển từ giai đoạn Zoea đến cua bột là 30 ngày,
tỷ lệ sống giai đoạn Zoea đạt từ 1% đến 4% [10]
Trang 22Đến năm 2002, quy trình kỹ thuật sản xuất cua giống đã thành côngnhưng tỷ lệ sống còn thấp.
Nghiên cứu về bệnh: Tác nhân gây bệnh và bệnh của ấu trùng cuacũng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ những năm 1990 Kết quảquan sát cua đẻ cho thấy cua thường bị nhiễm nhiều động vật nguyên sinhhoặc các sinh vật khác dẫn đến tỷ lệ nở thấp (Chen, 1990) Trong thí nghiệm
sử dụng formaline 25 ppm để khử sự nhiễm nấm của trứng cua cho thấy nógây độc hại cho trứng một ngày sau khi đẻ và độc với cả cua mẹ nếu giữ cuamột thời gian lâu hơn (Hamasaki và Haitai, 1990) Do đó, nên xử lý nhiễmnấm bằng formaline ở các giai đoạn đầu của ấu trùng tốt hơn là ở giai đoạncua mang trứng Sử dụng 50 ppm formaline ngâm cua mẹ và trứng trong 1giờ mỗi ngày có thể diệt và ngăn chặn nấm và ký sinh trùng có hiệu quả(Nghĩa và ctv 2001) Kết quả nghiên cứu của Zanfran et al (1993) đã tìmthấy nấm Lagenidium ở ấu trùng Zoea trong các thí nghiệm ương nuôi vàkết luận: có thể sử dụng formaline để phòng và trị bệnh lây lan của nấm ở ấutrùng cua Sử dụng formaline 10 ppt trong 24 h hoặc formaline 20 ppt trong
5 h sẽ diệt được nấm (Lagenidium) nhưng sử dụng fornaline 10 ppt sẽ antoàn cho ấu trùng Năm 1996, Prastowo và Wagimsam đã tìm thấy trong bểcua mẹ và sau khi ấp nở kí sinh trùng có thể lây lan sang ấu trùng Zoea mới
nở làm ấu trùng chết rất nhiều Madeali et al đã nhận dạng 4 loại kí sinhtrùng là: Lagennophrys sp, Epistylis sp, Zoothamnium và Vorticella sp ởtrứng của cua mẹ mang trứng Sự kết hợp của kháng sinh (33 ppt penicillin-
G và 7 ppm Polyminxin-B) với luân trùng và Artemia tại mật độ
15 cá thể /ml làm tỷ lệ sống của ấu trùng Zoea 5 cao (52,1%) (Kasry, 1986)
Các thí nghiệm của Parenrengi et al (1993) đã kết luận 3 loài vikhuẩn: Vibrio carcharie, V alginolyticus và V parahaemolyticus là tác nhân
Trang 23gây bệnh của ấu trùng cua Xanh Ấu trùng Zoea rất nhạy cảm với vi khuẩnphát quang như V harveyii [4].
Theo tổng kết về cua của D O C Lee và J P Wickin năm 1992,người ta đã khép kín quy trình sản xuất từ nuôi vỗ cua mẹ cho đến nuôithương phẩm bằng nguồn giống nhân tạo Đến nay quy trình sản xuất cuagiống đã hoàn chỉnh và được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới
Tình hình nuôi cua thịt: Trên thế giới cua đã được nuôi hơn 100 nămqua ở Trung Quốc và hơn 30 năm ở khắp các nước Châu Á khác Nhữngnăm đầu cua chủ yếu được nuôi dưới hình thức quảng canh trong các rừngngập mặn hoặc các ao năng suất thấp Trong nhiều năm trở lại đây, các hìnhthức nuôi cua đã được mở rộng và chủ động trong quá trình nuôi Cua có thểđược nuôi trong bể xi măng, trong ao đầm hoặc trong các lồng bè nổi trênvùng ven sông nước lợ hay rừng ngập mặn Cua được nuôi đơn hoặc nuôighép với tôm, cá hoặc rong câu (Gracilaria)
Ở Indonesia, cua biển được xem là đối tượng nuôi quan trọng từ đầunhững năm 80 Trong suốt thập niên (1985 - 1994), sản lượng cua tăng14,3% mỗi năm Năm 1994, sản lượng cua biển đạt 8.756 tấn với 66,7% từđánh bắt còn lại là do nuôi trồng Giá trị xuất khẩu của cua cũng tăng11,79% mỗi năm (từ 0,77 triệu USD đến 21,03 triệu USD) (DirektoratJenderal Perikanan 1985 - 1994) Tuy nhiên việc thiếu đầu vào sản xuất, đặcbiệt là con giống, thức ăn và công nghệ nuôi đã kìm hãm sự phát triển nghềnuôi cua ở Indonesia Nhưng kết quả nghiên cứu không giải quyết được cácvấn đề then chốt trong việc phát triển nuôi cua công nghiệp nước này
Ở Malaysia, cua được nuôi dưới hai hình thức là: nuôi trong ao vànuôi trong lồng bè nổi Ngoài ra nuôi cua quảng canh trong hệ sinh thái rừngngập mặn cũng đã mang lại nguồn kinh tế đáng kể cho người dân miềnĐông nước này
Trang 241.2 Ở Việt Nam
Việt Nam có nguồn lợi cua biển phong phú và có điều kiện tự nhiênthuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản nói chung và nuôi cua nóiriêng
Từ những năm 1980, các tác giả Serene, Strarobogotov, Nguyễn VănChung v.v, đã có nhiều nghiên về định loại loài và một số đặc điểm sinh họclàm cơ sở cho những nghiên cứu sau này Trong những năm đầu của thập kỷ
90, các tác giả như: Hoàng Đức Đạt, Đoàn Văn Đẩu, Nguyễn Cơ Thạch đãnghiên cứu các đặc điểm sinh học sinh sản và sản xuất nhân tạo giống cuaXanh, song kết quả đạt được còn rất hạn chế Năm 1998, bộ Khoa Học CôngNghệ Môi Trường đã giao cho Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản III thựchiện đề tài "Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và xây dựng quy trình kỹ thuật sản
xuất giống nhân tạo cua Xanh loài S paramamosain", sự thành công của đề
tài này đã giúp giải quyết phần nào nguồn cua giống cho nghề nuôi cua.Năm 2003, lượng cua giống sản xuất nhân tạo là 0,5 triệu con và con số này
đã tăng lên 10 triệu con vào năm 2004
Cũng trong thời gian này, trường Đại Học Cần Thơ cũng nghiên cứusinh sản nhân tạo thành công cua Xanh và bước đầu thử nghiệm nuôi cuaXanh thương phẩm từ nguồn giống nhân tạo
Ở nước ta nghề nuôi cua đã được người dân nuôi từ lâu ở các địaphương nhưng hình thức nuôi chủ yếu là nuôi quảng canh, năng suất thấp,nguồn giống hoàn toàn dựa vào khai thác tự nhiên Từ năm 1993 - 1994, do
sự bùng nổ về dịch bệnh làm sản lượng tôm giảm xuống nhanh chóng ởvùng Minh Hải, người dân ở khu vực này đã chuyển dần sang nuôi cua Họnhận thấy nuôi cua lớn nhanh và lợi nhuận cao hơn nuôi tôm (DanielleJohnston và Clive P Keenan) Nhưng vấn đề đặt ra hiện nay là số lượng và
Trang 25chất lượng con giống đều chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất, với những tiền
đề đã có sẵn và dựa vào đó để nghiên cứu, hoàn thiện thêm qui trình sảnxuất là mục tiêu chung của các cơ sở sản xuất giống cua biển hiện nay
Năm 2007 đến nay, được sự chuyển giao công nghệ của Viện nghiêncứu nuôi trồng thủy sản III, TTG-KTTS Phú Yên đã nhân giống khoảng 30vạn con cua Xanh, cung cấp cho các tỉnh phía bắc như Thanh Hóa, NinhBình, Nghệ An và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Bạc Liêu, CàMau, Sóc Trăng và không ngừng nghiên cứu, hoàn thiện thêm để ngày càngđạt hiệu quả kinh tế cao nhất Theo kỹ sư Lê Văn Hiệp (TTG-KTTS PhúYên), với việc nghiên cứu về dinh dưỡng, trung tâm đã rút ngắn thời giancủa quy trình sản xuất giống cua Xanh (từ giai đoạn trứng nở đến cua bột) từ
30 ngày xuống còn 26 ngày, tỉ lệ sống khoảng 10 % - khá cao so với tiêuchuẩn quy định Ngoài ra cũng từ đó đến nay, công nghệ sản xuất cua giống
đã được chuyển giao rộng rãi cho nhiều tỉnh trong cả nước nhằm đáp ứng tốthơn nhu cầu về con giống của cả nước
Theo thống kê của FAO, trong vòng 50 năm qua (1950 - 2000) tổngsản lượng của nhóm cua nước mặn đã tăng lên 16 lần (2.000 - 3.200 tấn) nhờ
đã có được sự chủ động về con giống, tuy nhiên có biến động lớn trong từngnăm do điều kiện kinh tế xã hội, thời tiết và kỹ thuật Sản lượng cao nhất đạtđược trong thời gian này là 48.000 tấn (1998) Và sản lượng cua vẫn khôngngừng tăng trong những năm tiếp theo: từ 2.350 tấn (1999) - 22.082 tấn(2005), tăng 9,4 lần
Cho đến nay nghề sản xuất cua giống đã phát triển rộng khắp các tỉnhven biển trong cả nước nhờ được chuyển giao công nghệ và luôn khôngngừng phát triển, hoàn thiện thêm quy trình để ngày càng nâng cao hiệu quảsản xuất Tuy nhiên các nghiên cứu về bệnh của cua thì còn rất ít nên chưa
có biện pháp phòng trị bệnh thích hợp cho cua
Trang 26Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cua Xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn Megalope, được lấy từ
Trạm nghiên cứu ứng dụng và sản xuất giống thủy sản mặn lợ Diễn Hải Diễn Châu - Nghệ An
-2.2.Vật liệu, trang thiết bị và dụng cụ nghiên cứu
- Vật liệu nghiên cứu là các loại thức ăn khác nhau: thức ăn tổng hợp, thức
ăn artemia, thức ăn tự chế biến
Trong đó: thức ăn tổng hợp được phối trộn theo tỉ lệ 50% PRIPPAK F2,30% LANSY và 20% tảo khô Spirulina Thức ăn tự chế biến được làm từmực, hàu, cá Thu, tôm, lòng đỏ trứng gà, bổ sung vitamin, sữa DHA, N0,bột đậu nành, men tiêu hóa, Calxiumstada
- Trang thiết bị: bể compozite thể tích 1,5 m3
- Dụng cụ đo và cân khối lượng cua: thước đo chiều dài mai và chiều rộngmai, thước Panme độ chính xác 0,01cm, cân điện tử cho phép sai số 0.01g
- Dụng cụ đo môi trường : Nhiệt kế, máy đo độ mặn, test pH
- Máy xay sinh tố dùng để xay thức ăn tự chế biến cho Megalope.
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của cua Xanh từ giaiđoạn Megalope đến cua bột
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng của cua Xanh từgiai đoạn Megalope đến cua bột
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái của cua Xanh từgiai đoạn Megalope đến cua bột
Trang 272.4 Phương pháp nghiên cứu
- Thức ăn tự chế biến được làm từ mực, hàu, cá Thu, tôm, lòng đỏ trứng gà,
bổ sung vitamin, sữa DHA, N0, bột đậu nành, men tiêu hóa, Calxiumstada
Ảnh hưởng của thức ăn đến
tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và thời gian biến
thái của cua xanh
Trang 28- Thức ăn tổng hợp được phối trộn gồm: 30% Lansy, 20% tảo Spirulina và50% Prippak F2.
* Kiểu bố trí thí nghiệm: ngẫu nhiên hoàn toàn một nhân tố với 3 công thức,
mỗi công thức lặp lại 3 lần
Bể 1 CT1
Bể 2 CT2
Bể 3 CT3
Bể 4 CT2
Bể 5 CT1
Bể 6 CT3
Bể 7 CT3
Bể 8 CT2
Bể 9 CT1
Trang 292.4.2 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
Bảng 2.1 Các thiết bị và dụng cụ theo dõi các yếu tố môi trường Yếu tố Thời điểm đo Thời gian đo Dụng cụ đo
Nhiệt độ 7h và 14h 2 lần / ngày Nhiệt kế thuỷ
N2 : số lượng cua bột lúc kết thúc thí nghiệm
2.4.4 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng về khối lượng
Định kỳ 2 ngày tiến hành bắt kiểm tra và cân 1 lần bằng cân điện tử (g)
- Tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối
t
W W AWR
W1: Là khối lượng ở thời điểm trước (g)
W2 : Là khối lượng ở thời điểm sau (g)
t
: Là khoảng cách giữa hai lần kiểm tra
2.4.5 Phương pháp xác định thời gian biến thái
(W2 – W1)
t
W1
Trang 30- Theo dõi và xác định thời điểm xuất hiện ấu trùng giai đoạn trước đếnthời điểm xuất hiện cua bột ở giai đoạn sau, từ đó tính được tổng thời gianbiến thái.
- Công thức tính: Tbt = T2 –T1
Trong đó: Tbt: Thời gian biến thái ( giờ )
T1: Thời gian bố trí thí nghiệm ( giờ )
T2: Thời gian xuất hiện cua bộtgiai đoạn sau ( giờ )
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
- Toàn bộ số liệu trong được xử lý phương pháp thống kê sinh học thực hiệntrên phần mềm Excell và SPSS 16.0
2.6 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Trạm nghiên cứu ứng dụng và sản xuất giống thủy
sản mặn lợ Diễn Hải -Diễn Châu- Nghệ An
- Thời gian nghiên cứu: Từ 15 tháng 3 đến 10 tháng 6 năm 2012
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trang 313.1 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường
Nhiệt độ, pH, độ kiềm, độ mặn là những yếu tố có tác động trực tiếpđến đời sống, sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cua giống Chính vì vậycần có những yếu tố này cần được kiểm tra và theo dõi hàng ngày để có biệnpháp xử lý kịp thời đảm bảo cho sự sinh trưởng, phát triển của ấu trùng
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình bố trí thí nghiệm
CT
Yếu tố môi trường Nhiệt độ ( o C)
SD TB
Max Min
pH
Max Min
Độ mặn (‰)
SD TB
Max Min
27 , 0 93 , 29
30 29
32 , 0 89 , 29
30 29
36 , 0 85 , 29
30 29
Trang 32quả cao nhất trong điều kiện nhiệt độ môi trường từ 28 – 320C Vì vậy sựbiến động nhiệt độ trong quá trình nghiên cứu không ảnh hưởng nhiều đếntốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng Megalope cua Xanh.
3.1.2 pH
Là chỉ tiêu thủy hóa quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếpđến sức khỏe, đời sống của ấu trùng cua cũng như hệ sinh vật trong môitrường bể ương nuôi Khi pH thấp sẽ làm tăng tính độc của H2S, làm giảm
sự phát triển của tảo Khi pH cao sẽ làm tăng tính độc của NH3
Theo Nguyễn Chung (2010), pH từ 7,5 - 8,5 là khoảng sống tối ưu chocua giống, đây cũng là khoảng quy định của TCVN, 2005 Từ bảng 3.1, tathấy pH giữa các công thức trong quá trình nghiên cứu có sự sai khác nhưngkhông đáng kể, biến động trong khoảng 7,7 - 8,0 Như vậy, pH nằm trongkhoảng tối ưu cho sự phát triển của ấu trùng Megalope
3.1.3 Độ mặn
Kết quả nghiên cứu cho thấy độ mặn tương đối thuận lợi cho sự pháttriển cua, độ mặn cao nhất đạt 30 ‰ và đạt giá trị thấp nhất 28 ‰ TheoChen và Jeng (1980) cua có thể sinh trưởng và phát triển trong khoảng từ18‰ –33 ‰, và tốt nhất là 25 ‰ – 30 ‰
Từ bảng 3.1 cho thấy: Độ mặn trong các bể nghiên cứu biến động từ
28 ‰ - 30 ‰, nằm trong khoảng thích ứng cho sự sinh trưởng và phát triểncủa ấu trùng Megalope Do trong quá trình nghiên cứu nguồn nước cấp để sửdụng chung từ một nguồn
Như vậy: Kết quả quan trắc.
Chỉ số các yếu tố môi trường cho thấy :
Trang 33- Các yếu tố môi trường biến động trong giới hạn cho phép, không ảnhhưởng tới sự phát triển bình thường của ấu trùng cua Xanh giai đoạnMegalope.
- Các chỉ số các yếu tố môi trường trong các lô thí nghiệm sai kháckhông có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)
Điều đó kết luận được sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên kếtquả nghiên cứu của các nghiệm thức là như nhau Đồng thời những chỉ sốquan trắc thu được cũng cho thấy việc quản lý môi trường, quá trình chămsóc và quản lý thực hiện tốt theo yêu cầu của thí nghiệm
3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỉ lệ sống của ấu trùng cua
Xanh giai đoạn Megalope đến cua bột.
Thức ăn có ảnh hưởng mạnh lên tỉ lệ sống của ấu trùng Megalope cua Xanh Trong quá trình thí nghiệm với các loại thức ăn khác nhau chúng tôi
đã thu được kết quả được thể hiện ở bảng 3.2 và hình 3.1
Bảng 3.2 Số lượng ấu trùng trước và sau thí nghiệm
có ý nghĩa thống kê (P < 0,05)
Vì ở giai đoạn từ khi Zoea 5 chuyển Megalope chúng đã thể hiện tính
ăn nhau, và khi đã chuyển thành Megalope hoàn toàn cũng vậy chúng vẫn ăn