Bởi vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu về: Tự truyện văn học trường hợp Gia đình bé mọn của Dạ Ngân với mong muốn có những phát hiện mới mẻ về con người cá nhân nhà văn trong tác phẩm mang
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính bản thân tôi thực hiện Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng trong các công trình khoa học khác.Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của luận văn
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp - Người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài của luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy, cô khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin cảm ơn tập thể lớp cao học K24 Bắc Kạn chuyên ngành Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã đóng góp ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và cơ quan đã quan tâm, động viên, chia sẻ và tạo mọi điều kiện để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của luận văn 12
7 Cấu trúc 12
NỘI DUNG 13
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỰ TRUYỆN VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO CỦA DẠ NGÂN 13
1.1 Một số vấn đề về tự truyện 13
1.1.1 Khái niệm tự truyện 13
1.1.2 Phân biệt tự truyện với hồi ký 15
1.1.3 Sự nở rộ của tự truyện trong văn học Việt Nam đương đại 18
1.2 Quá trình sáng tạo của Dạ Ngân 19
1.2.1 Vài nét về nhà văn Dạ Ngân 19
1.2.2 Hành trình sáng tác 21
1.2.3 Sự ra đời của tiểu thuyết Gia đình bé mọn 22
1.3 Quan niệm nghệ thuật của Dạ Ngân 24
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28
Chương 2: CÁC PHƯƠNG DIỆN CỦA CÁI TÔI TRONG GIA ĐÌNH BÉ MỌN CỦA DẠ NGÂN 29
2.1 Cái tôi trong cuộc sống thường nhật 29
Trang 62.1.1 Cái tôi trong sinh hoạt hằng ngày 29
2.1.2 Cái tôi trong mối quan hệ với chính nó 34
2.2 Cái tôi trong tình yêu và hạnh phúc gia đình 42
2.2.1 Cái tôi trong quan hệ với gia đình riêng 42
2.2.2 Cái tôi trong quan hệ với những người thân trong gia đình 50
2.3 Cái tôi với những dư chấn của chiến tranh 53
2.3.1 Dư chấn của chiến tranh đối với cuộc sống của con người 53
2.3.2 Dư chấn của chiến tranh đối với cuộc sống gia đình 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 58
Chương 3: PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CÁI TÔI TRONG GIA ĐÌNH BÉ MỌN CỦA DẠ NGÂN 59
3.1 Người kể chuyện 59
3.2 Ngôn ngữ 62
3.3 Giọng điệu 66
3.4 Không gian và thời gian nghệ thuật 69
3.4.1 Không gian nghệ thuật 69
3.4.2 Thời gian nghệ thuật 74
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nếu như văn học trước 1975 chỉ tập trung vào cuộc chiến liên quan
đến vận mệnh của dân tộc, không có chỗ cho cái tôi thì văn học sau 1975, nhất
là sau 1986 đã quan tâm tới mọi mặt, soi chiếu mọi ngõ ngách của đời sống đặc biệt là cái tôi cá nhân đã xuất hiện một cách trực diện Bên cạnh những nhà văn
là nam giới thì văn học giai đoạn này còn góp phần không nhỏ của những nhà văn nữ như: Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Ấm, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Dạ
Ngân…Trong đó, Dạ Ngân được độc giả chú ý đến từ truyện ngắn Con chó và
vụ ly hôn sau đó nữ nhà văn miệt vườn này đã cho in thành sách rất nhiều tập
truyện ngắn, ký, tản văn, truyện dài, truyện vừa, tiểu thuyết, kịch bản phim…
Dạ Ngân cũng là nhà văn vinh dự nhận được nhiều giải thưởng cao quý: Giải
nhì truyện ngắn tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1987; Giải nhì truyện ngắn báo Tuổi trẻ năm 1989; Giải ba truyện ngắn báo Sài Gòn Giải phóng năm 1990; Giải khuyến khích Nxb Kim Đồng năm 2002; Giải thưởng Hội nhà văn
Hà Nội năm 2005; Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam (2004, 2006) Như vậy,
Dạ Ngân chính là một trong số những nhà văn nữ trưởng thành sau 1975 có đóng góp không nhỏ trong sự đổi mới văn học đương đại Việt Nam
1.2 Gia đình bé mọn (2005) là tác phẩm thành công của nữ nhà văn được
dịch sang tiếng Anh và tiếng Pháp, được bạn bè thế giới đón nhận Tác phẩm
đã giúp Dạ Ngân nhận giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội (2005) và Hội nhà văn Việt Nam (2006) Không phải ngẫu nhiên mà tác phẩm này có tới 5 lần tái bản
ở Việt Nam, nó là “minh chứng đầy thuyết phục cho sức hấp dẫn mạnh mẽ của tác phẩm đối với công chúng, một lần nữa khẳng định chắc chắn độ chín cũng như sức bền của ngòi bút Dạ Ngân” [21] Đây là tác phẩm xoay quanh số phận, cuộc đời của một người phụ nữ trong hành trình đấu tranh để đến với hạnh phúc Trong tác phẩm ta thấy có bóng dáng đời tư của nhà văn hay nói cách khác là mang yếu tố tự truyện Cuộc đời nhân vật nữ chính trong tác phẩm
Trang 8đã phản ánh một phần hiện thực cuộc đời nữ nhà văn Dạ Ngân Bởi vậy, có thể nói chính yếu tố tự truyện chân thực về bản thân đã đem lại giá trị lớn cho tác phẩm
1.3 Qua quá trình khảo sát thực tế, tôi nhận thấy đã có nhiều công trình
nghiên cứu về tiểu thuyết Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, tuy nhiên mỗi công
trình có một hướng nghiên cứu, tiếp cận khác nhau Các công trình nghiên cứu
ấy sẽ là cơ sở để tôi đi sâu tìm hiểu tự truyện Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
một cách có hệ thống Bởi vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu về: Tự truyện văn học
trường hợp Gia đình bé mọn của Dạ Ngân với mong muốn có những phát hiện
mới mẻ về con người cá nhân nhà văn trong tác phẩm mang tính tự truyện của mình cũng như đóng góp của Dạ Ngân trong văn xuôi Việt Nam đương đại
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu về về tự truyện
2.1.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu tự truyện trên thế giới
Lịch sử nghiên cứu tự truyện cho thấy, những tác phẩm tự truyện đầu tiên xuất hiện trong thời cận đại ở Tây Âu sau đó nó được nở rộ ở Châu Âu và Bắc
Mỹ Sự bùng nổ của tự truyện lúc bấy giờ được coi là kết quả tất yếu vì con người thời đại ngày càng quan tâm nhiều đến những phức tạp trong tâm hồn mỗi cá nhân và các mối quan hệ của con người trong xã hội
Đến đầu thế kỉ XX, những nghiên cứu đầu tiên về tự truyện đã xuất hiện Tiêu biểu là những chuyên khảo của Anna Robson Burr (1909); Wayne Shumaker (1926); Georges Gusdorf (1956)…[18]
Những năm 50 của thế kỉ XX, tự truyện chưa nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà phê bình nhưng nó cũng đã khẳng định được vị trí và vai trò của mình với tư cách là một thể loại độc lập bên cạnh các thể loại khác Lúc này, một số nhà nghiên cứu quan tâm đến thể loại này cũng đã cố gắng tìm ra
những đặc điểm riêng biệt của nó Điển hình như tiểu luận Những điều kiện và Giới hạn của tự truyện (Conditions et Limitesde Lautobiographie) của Georges
Trang 9Gusdorf - nhà phê bình người Pháp; Tự thú và tự truyện (Confessions and
Autobiographies) (1955) của Stephen Spender - nhà phê bình người Mỹ…[18] Đến thập kỷ 70 của thế kỉ XX, tự truyện đã bắt đầu thu hút một số lượng lớn các nhà nghiên cứu phê bình: Tiêu biểu như James Olney - nhà nghiên cứu
người Mỹ trong Ý nghĩa của tự truyện (Metaphors of the Self: The Meaning of
Autobiography) (1972) đã lưu ý về tính chất quy chiếu (reference) trong tự truyện Từ đó mà tự truyện đã thành thể loại văn học trung tâm với những nghiên cứu liên quan đến nhiều lĩnh vực như chính trị - xã hội - văn hóa và cũng vì vậy mà tự truyện đã được một số tác giả quan niệm: Tự truyện - với tư cách là một câu chuyện về một tầng nền văn hóa - xã hội đặc thù phản chiếu qua câu chuyện của những tính cách cá thể, cho phép người đọc tiếp cận trực tiếp với những trải nghiệm và góc nhìn của các dân tộc, cộng đồng trong xã
hội Đó là cách tiếp cận của các tác giả như: James M.cox với Tự truyện và Châu Mỹ (Autobiography and American culture) (1971); Patricia Meyer Spacks với Những câu chuyện của phụ nữ, những cái tôi phụ nữ (Womens Stories, Womens Selves) (1977) Trong đó, đặc biệt được chú ý là Hiệp ước tự thuật (Lepacte Autobiographique) (1975) của Philippe Lejeune - tác giả này đã
đưa ra nhiều tiêu chí và hình thức cụ thể để phân biệt tự truyện với một số thể loại khác [18]
Khoảng cuối thập kỷ 70 - đầu thập kỷ 80 tự truyện đã có dấu hiệu kết thúc Tuy nhiên, từ giữa những thập kỷ 80 của thế kỷ XX cho đến những năm gần đây tự truyện vẫn đang phát triển Mặc dù có nhiều loại hình giải trí hiện đại và tiện lợi khác tấn công nhưng sự có mặt của tự truyện vẫn góp phần làm mới lên nền văn học, giúp văn học phần nào lấy lại được sự chú ý của đông đảo độc giả
Vì vậy, trong suốt thế kỉ qua, lý thuyết và phê bình về tự truyện trên thế giới đã phát triển liên tục và có những ngã rẽ phức tạp Hiện nay, lĩnh vực
Trang 10nghiên cứu này vẫn còn hứa hẹn những khám phá mới mẻ, hấp dẫn, bởi vì đối tượng nghiên cứu của thể loại này vẫn chưa dừng lại và còn tiếp tục phát triển
2.1.2 Nghiên cứu tự truyện ở Việt Nam
Từ đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam phát triển cùng lúc nhiều thể loại và đạt được nhiều thành tựu thế nhưng gương mặt của thể loại vẫn chưa được xác định thật rõ
Tác giả Đỗ Đức Hiểu trong phần 3, Phê bình tự truyện trong công trình
Thi pháp hiện đại cho rằng, về thể loại tự truyện, ngay những năm đầu thế kỉ
này còn nhiều tranh luận Yếu tố tự truyện đã xuất hiện trong một số tác phẩm
văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ, tuy nhiên chủ yếu vẫn là cái tôi hư cấu, độc
giả chưa có những bằng chứng xác đáng cho những cái tôi ấy chính là tác giả
Chẳng hạn như Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng khi xuất bản được định
danh là tiểu thuyết, nhưng nhiều công trình nghiên cứu về sau xếp tác phẩm
này vào thể hồi ký (Đặc sắc hồi ký Nguyên Hồng - Nguyễn Đăng Điệp; Một cuộc đời sáng tạo trong đau khổ - Vương Trí Nhàn) Đồng thời, tác giả cũng
cho rằng, phải đến những năm 1930 - 1945, tự truyện mới chính thức cùng các thể loại khác làm nên một diện mạo mới cho văn học Việt Nam “Góp phần vào
sự thành công của thể loại tự truyện chúng ta không thể không nói tới Phan Bội Châu niên biểu của Phan Bội Châu hay Tản Đà với Giấc mộng lớn Song đến mãi hơn mười năm sau, khi Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Sống nhờ của Mạnh Phú Tư…xuất hiện, thì sự nhận thức cho rằng tự truyện là một thể
loại mới bắt đầu” [15]
Tự truyện là một thể loại không mới ở nước ngoài nhưng lại rất mới ở nước ta, bởi vậy mà thể loại này đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của giới chuyên môn: Người nắm bắt được sự hình thành của thể loại tự truyện này đầu tiên ở Việt Nam là Vũ Ngọc Phan Với ý thức nghiên cứu thể loại, Vũ Ngọc Phan là nhà nghiên cứu đầu tiên phân tách tự truyện ra khỏi tiểu thuyết
bằng các tiêu chí: Tính xác thực của sự kiện; Điểm nhìn hồi cố và cái tôi tác
Trang 11giả hiển hiện trực tiếp trong tác phẩm Đây là một cách tiếp cận hiện đại tuy
chưa thật đầy đủ và chưa thành hệ thống
Vũ Ngọc Phan cho rằng tự truyện là một nhóm loại tiểu thuyết hấp dẫn
và nhiều thử thách Các bài viết của ông về Dã tràng của Thiết Can, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Sống nhờ của Mạnh Phú Tư có thể coi
là những nghiên cứu đầu tiên về tự truyện [33] Cho đến hiện nay, những vấn
đề như: tự truyện là gì, văn học Việt Nam có tự truyện hay không, con đường phát triển của nó là như thế nào, những dấu hiệu của tự truyện trong các tác phẩm cụ thể… đã và đang được giới nghiên cứu quan tâm Các nghiên cứu được chia thành nhóm những vấn đề thể loại và nhóm quan tâm tới những tác phẩm tự truyện riêng biệt
Ở nhóm nghiên cứu vấn đề thể loại tự truyện có thể kể đến các công
trình: Truyện tiểu sử, một loại hình tự sự cần được khẳng định và phát triển của Trương Dĩnh năm 2000; Viết tự truyện, khi nào và vì sao của Trần Văn
Toàn năm 2003, đặc biệt, tác giả Đoàn Cầm Thi với hàng loạt bài viết đăng rải
rác trên báo văn nghệ từ 2004 đến 2008; Tương lai tự truyện Việt Nam còn ở phía trước (2008), bài viết của Lê Tú Anh: Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu) và Giấc mộng lớn (Tản Đà) - Những bước đi đầu tiên của tự truyện Việt Nam (2010), của Đỗ Hải Ninh: Mối quan hệ giữa tự truyện - tiểu thuyết và một
số dạng tự thuật trong văn học Việt Nam đương đại (2009)…Theo đó, các tác
giả cho rằng tự truyện là thể loại mới của văn học, bởi vậy mà thể loại này đã
và đang nhận được nhiều sự quan tâm của giới chuyên môn:
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân (chủ biên) cho rằng: “Tự truyện là tác phẩm tự sự thường được viết bằng văn xuôi trong đó tác giả tự kể và miêu tả cuộc đời của bản thân mình” [3, tr.28] Theo quan niệm
này, một tác phẩm tự truyện là bức tranh của cái tôi thuần túy Tác giả, người
kể chuyện và nhân vật chính là một, ngoài ra không có sự xuất hiện của cá nhân khác
Trang 12Còn Triệu Xuân, trong Tự truyện không hẳn là văn học viết: Nó là một
thể văn viết ghi lại tư liệu có thật nhằm thuật lại cuộc đời, sự nghiệp của một cá nhân, gia đình, dòng họ Tự truyện chỉ có thể là văn học khi nó được viết theo cái cách của văn học Thông qua số phận cá nhân ấy, gia đình ấy, phản ánh và biểu hiện tâm thế của cộng đồng, một dân tộc, một thời đại… Các cuốn như Thép đã tôi thế đấy của N Ôxtrovski, Bộ ba tác phẩm: Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi của M Gorki, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Cai của Vũ Bằng là tự truyện chính cống [38]
Tác giả Lê Tú Anh trong một bài phê bình có tên Tự truyện như một thể loại văn học có nói về tự truyện như sau: Theo tôi, tự truyện như một thể loại
văn học hay một tác phẩm tự truyện ngoài việc cần có những điểm khá khả thủ
để phân biệt ở một mức độ tương đối với hồi ký, nhật ký, tiểu thuyết; cần phải đáp ứng được những yêu cầu để có thể phân biệt với một tự truyện chưa đạt đến trình độ tác phẩm văn học (cận văn học) [48] Và theo tác giả bài viết thì
có một số yêu cầu cụ thể để nhận diện tự truyện như: Thứ nhất: Tự truyện thuộc hệ thống thể loại văn xuôi tự sự, nghĩa là có yếu tố “sự” và thao tác tự sự (narative) Các sự kiện phải được xâu chuỗi, kết nối, liên hệ…tạo thành cốt truyện, qua đó thấy được “hình hài” của một con người, một cuộc đời, một số phận…Thứ hai: Từ câu chuyện có thật của cái “tôi” người viết, tác phẩm tự truyện phải đạt tới cái “chúng ta” Nghĩa là, một tự truyện văn chương đích thực không phải chỉ là những câu chuyện vặt vãnh về cuộc đời của một cá nhân, tách rời những vấn đề lớn của xã hội, thời đại mà cái “tôi” ấy đã sống Thứ ba: Người viết tự truyện phải đảm bảo độ trung thực, đáng tin cậy của những sự thật được tiết lộ và phải thể hiện chúng trong tinh thần nhân bản Thứ tư: Tác phẩm tự truyện phải đảm bảo yếu tố kết cấu và ngôn từ có tính nghệ
thuật [48]
Trang 13Ngoài các nhận định của giới chuyên môn thì tự truyện còn được nhiều tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu trong các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ Có thể điểm qua một số tác giả sau:
Luận án tiến sĩ của Đỗ Hải Ninh Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, ở công trình nghiên cứu này tác giả khẳng định: Vấn đề tự truyện là vấn đề có ý nghĩa đối với văn học đương đại bởi nó gắn với cái tôi của tác giả - sự khẳng định cái tôi cá nhân mạnh mẽ trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, sự tương tác và dung nạp lẫn nhau giữa các thể loại Cùng với quá trình đổi mới, yếu tố tự truyện xuất hiện ngày càng nhiều thể hiện nhu cầu được bộc lộ cái tôi, ý thức phản tỉnh và khuynh hướng nhận thức lại thực tại của dòng văn học tự vấn [22] Cũng trong luận án của mình, tác giả đã lần lượt bày tỏ
quan niệm của mình về các vấn đề xoay quanh tới tự truyện
Tác giả Bùi Thị Thu trong luận văn Thạc sĩ yếu tố tự truyện trong văn
xuôi của Đoàn Lê cũng nhấn mạnh tới chất liệu sử dụng trong các tác phẩm
mang tính tự truyện Theo tác giả, chất liệu đó chính là câu chuyện tác giả kể
để thông qua đó nhà văn gửi gắm tư tưởng, tình cảm của mình tới người đọc [34] Trong luận văn Thạc sĩ Đặc điểm tự truyện và hồi ký của Tô Hoài, tác giả Nguyễn Thị Ái Vân cho rằng: Tác phẩm tự truyện thường có phương hướng lý giải cuộc sống đã qua (của tác giả) như một chỉnh thể, tạo ra những đường nét mạch lạc cho cuộc sống trải nghiệm của mình [31] Còn Bùi Thị Mát trong Luận văn Yếu tố tự truyện Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng lại đề cao vai trò của yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết: Trong văn học Việt Nam vốn ít có truyền thống tác giả tự kể chuyện đời mình, nhìn chung cái tôi của nhà văn Việt khá kín đáo và không thích lộ diện nhưng trong khoảng vài thập kỉ trở lại đây, tự truyện trở thành một tố chất thể loại vừa mới mẻ, vừa mạnh mẽ, tự truyện trở thành một dòng chảy trong tiểu thuyết [20] Tác giả Trần Thị Xuân Hợp trong Yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết của Nguyễn Khải thời kì đổi mới cũng khẳng định: Có thể thấy rằng tự truyện đã trở thành một dạng của thể loại văn học dù nó xuất
Trang 14hiện muộn mằn hơn nhiều thể loại khác [17]… Gần đây nhất, trong luận văn Yếu tố tự truyện trong Sống mòn của Nam Cao, tác giả Phạm Thị Hà Ninh cũng
đề cập tới mối quan hệ giữa tự truyện và tiểu thuyết: nhà văn đã đem lại cho câu chuyện kể về đời mình những màu sắc của tiểu thuyết trong sự kết hợp hài hòa với tự truyện [23]
Như vậy, điểm qua một số công trình trên cho thấy những nghiên cứu nói trên phần lớn đều nhìn nhận tự truyện là một thể loại hay tự truyện luôn gắn với tiểu thuyết, thậm chí là tiểu thuyết Dựa trên những cơ sở lí thuyết đó, tôi
nghiên cứu Tự truyện trường hợp Gia đình bé mọn của Dạ Ngân là tìm hiểu
các chi tiết thuộc về con người cá nhân tác giả tham dự vào tác phẩm, chứ không khai thác tác phẩm trên phương diện thể loại
2.2 Nghiên cứu về Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
Là một trong số những cây bút nữ trưởng thành sau 1975, Dạ Ngân được
công chúng biết đến qua một loạt tác phẩm: Con chó và vụ ly hôn (Tập truyện 1990); Dạ Ngân- truyện ngắn chọn lọc (Tập truyện 1995); Truyện dài thiếu nhi Miệt vườn xa lắm (2003)…đặc biệt là cuốn tiểu thuyết Gia đình bé mọn (2005)
Dạ Ngân quan điểm: Văn chương là một nghề đặc biệt, nhất là khi người cầm bút lại là phụ nữ Qua những trải nghiệm về cuộc đời và sáng tác văn học, nhà văn cho rằng con đường văn chương cho bà sự cô độc tối cao, niềm tin dai
dẳng và có thể khóc cười thoải mái một mình [39]
Gia đình bé mọn có thể coi là đứa con mà Dạ Ngân đứt ruột sinh ra, nói
như nhiều độc giả yêu mến tác phẩm, yêu mến Dạ Ngân đều đồng quan điểm rằng: từng chương, từng trang, từng chi tiết của cuốn sách đều có thể quy chiếu hiện thực tác phẩm vào hiện thực cuộc sống Như tên gọi của tác phẩm cho
biết, Gia đình bé mọn trước hết là cuốn tiểu thuyết kể chuyện gia đình Đúng
hơn là kể chuyện những gia đình của nhân vật trung tâm - nữ nhà văn tên Tiệp… Vượt lên trên tất cả những cái đó, bao giờ Tiệp cũng cho thấy một mẫu hình phụ nữ chủ động lèo lái con thuyền cuộc đời mình, một kiểu phụ nữ kiên
Trang 15nhẫn tới mức lì lợm để sống thật và sống đẹp với chính nhu cầu tinh thần của mình Và ở phương diện này, phải chăng Gia đình bé mọn chính là thiên tiểu
thuyết tiếp tục cái mạch mà tiểu thuyết cổ điển thế kỷ 19 rất hứng thú: khẳng định cá nhân, ca ngợi những con người dám đương đầu với tất cả để bảo vệ hạnh phúc, bảo vệ phẩm giá của mình? [24]
Trong bài giới thiệu tiểu thuyết Gia đình bé mọn, Wayne Karlin (nhà văn Mỹ) giới thiệu nhân vật nữ Tiệp trong tác phẩm chính là nhân vật đi cùng số phận đất nước.Từ một nữ du kích góp phần vào cuộc chiến tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và một xã hội lý tưởng Đến tuổi trưởng thành lại đấu tranh cho giải phóng con người và tình yêu cá nhân Hành trình Gia đình bé mọn của Tiệp trùng hợp với hành trình của đất nước từ đoạn chót của cuộc chiến Việt -
Mỹ đến thế kỉ 21 [42]
Không chỉ là tác phẩm có ý nghĩa cho cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng
tác của Dạ Ngân, Gia đình bé mọn còn là tác phẩm văn học có giá trị to lớn
đóng góp vào sự đổi mới của văn xuôi đương đại Việt Nam Bởi vậy mà ngay
từ khi ra mắt công chúng tác phẩm đã nhận được sự yêu mến nồng nhiệt của đông đảo bạn đọc Minh chứng là đã có rất nhiều bài viết, bài luận án, luận văn
nghiên cứu về tác phẩm Tài liệu trên Giáo án.Violet.vn có bài giới thiệu Dạ
Ngân và tiểu thuyết Gia đình bé mọn Tài liệu đề cập tới ý nghĩa nhan đề, đề
tài, chủ đề, giá trị nội dung, nghệ thuật và cả thông điệp của tác phẩm
Tác giả luận văn Dương Thế Thuật trong Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật
Dạ Ngân cho rằng: Tiểu thuyết Gia đình bé mọn là một thành công lớn của chị,
đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi từ những người nghiên cứu Nhà phê bình Nguyễn Hoài Nam đã nhận định “Những phẩm chất làm nên thế mạnh ngòi bút của Dạ Ngân: sự cẩn trọng và tinh tế trong câu chữ, khả năng kết hợp nhuần
nhuyễn giữa mỹ văn và ngôn ngữ đời thường của người Nam Bộ, sự sắc sảo
trong phác họa nhân vật bằng vài chi tiết đắt giá, nhanh gọn; và sau cùng là một cái nhìn cuộc đời - dù với sự phê phán - nhưng vẫn luôn đôn hậu” Còn Hoàng
Trang 16Thị Quỳnh Nga đã nhận xét: “Ngoài những trang viết tinh tế và xúc động về cảm giác và sự giằng xé, Gia đình bé mọn còn hấp dẫn người đọc bởi bức tranh
xã hội thời bao cấp” [35]
Trên trang phu-nu-giua-doi-thuong-3997/ lại chú ý tới bi kịch hạnh phúc của người phụ nữ
http://doan.edu.vn/do-an/de-tai-bi-kich-hanh-phuc-cua-nguoi-trong Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, tác giả bài viết nhấn mạnh: Đặt vấn đề này trong toàn bộ tiểu thuyết Gia đình bé mọn chúng tôi nhận thấy đây là nội
dung có tính xuyên suốt cả tác phẩm, bên cạnh nhiều vấn đề rộng lớn hơn: Bức tranh xã hội Việt Nam thời bao cấp, sự sắp đặt của chiến tranh đối với số phận con người…đồng thời cuộc tình bền bỉ sóng gió và dai dẳng của nhân vật chính cùng những giằng xé đau đớn trong nội tâm gia đình về hạnh phúc, về tình yêu với tất thảy bi kịch đời thường nhất còn mang dáng dấp của những sự thực sâu kín trong đời tư nhà văn tạo nên sức hấp dẫn riêng đặc biệt cho thiên truyện[42]
Bên cạnh đó, cái tên Dạ Ngân hay tiểu thuyết Gia đình bé mọn còn được nhắc đến trong một số luận văn khác như: Luận văn Người phụ nữ hiện đại qua cái nhìn của một số nhà văn nữ của Trần Thúy An (2007); Đặng Thị Cúc (2014), Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Dạ Ngân; Đề tài gia đình trong văn học Việt Nam sau 1975- Tạp chí khoa học số 2B/2007…
Qua sự tổng hợp trên cho thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiểu
thuyết Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, trong đó mỗi công trình có một hướng
nghiên cứu, tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu ấy sẽ
là cơ sở để tôi đi sâu tìm hiểu Tự truyện Gia đình bé mọn của Dạ ngân một
cách có hệ thống Với hướng tiếp cận này, tôi hi vọng sẽ góp tiếng nói của mình vào việc khẳng định tài năng, cống hiến của Dạ Ngân đối với nền văn học Việt Nam đương đại
Trang 173 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Ngoài tiểu thuyết Gia đình bé mọn chúng tôi còn tìm hiểu thêm một số
sáng tác khác của Dạ Ngân và các nhà văn cùng thời để so sánh
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm nổi rõ yếu tố tự truyện trong Gia đình bé mọn
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về tự truyện
- Khảo sát yếu tố tự truyện trong Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
- So sánh yếu tố tự truyện trong Gia đình bé mọn và một số tác phẩm văn
học khác để làm nổi rõ sự độc đáo của nữ nhà văn Dạ Ngân
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn là sự kết hợp của nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó có các phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp hệ thống Người viết có thể hệ thống được những đặc điểm nổi bật về phương diện nội dung và nghệ thuật trong Gia đình bé mọn của Dạ
Ngân cũng như có cái nhìn và đánh giá riêng về nhà văn
- Phương pháp phân tích văn bản: Đây là phương pháp cơ bản, thường
xuyên được sử dụng trong luận văn, góp phần tìm hiểu rõ nét, cụ thể về nội
dung và nghệ thuật tác phẩm, từ đó nổi bật những luận điểm cơ bản trong Gia đình bé mọn
- Phương pháp thống kê, so sánh: Luận văn tiến hành tìm hiểu văn bản
trong nhiều phương diện Trong một cái nhìn chung của cá nhân nhà văn và
Trang 18thời đại Sự nghiên cứu này đồng thời dựa trên sự so sánh Gia đình bé mọn của
Dạ Ngân với những tác phẩm khác
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Đây là con đường quan trọng để
người viết tìm hiểu các phương thức thể hiện yếu tố tự truyện của tác giả như
về ngôn ngữ, cách trần thuật, thời gian, không gian nghệ thuật, miêu tả diễn biến tâm lí…
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng kiến thức của các ngành khác nhau
như lịch sử, xã hội học, tâm lí học, dân tộc học…để cái nhìn nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về yếu tố tự truyện trong tác phẩm
6 Đóng góp của luận văn
Chỉ ra được những biểu hiện của yếu tố tự truyện trong cuốn tiểu thuyết
Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
Từ đó, luận văn góp phần khẳng định diện mạo, vai trò, vị trí của Dạ Ngân
trong sự vận động và phát triển tự truyện của nền văn học Việt Nam đương đại
Trang 19NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỰ TRUYỆN VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO CỦA DẠ NGÂN
1.1 Một số vấn đề về tự truyện
1.1.1 Khái niệm tự truyện
Tự truyện (autobiographique) là thuật ngữ văn học bắt nguồn từ tiếng
Pháp có nghĩa chỉ tác phẩm viết về chính cuộc đời mình Tuy vậy, trên những lập trường khác nhau có khá nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này
Thứ nhất, theo các nhà từ điển học, thuật ngữ tự truyện được hiểu theo nhiều cách, tựu chung lạithì tự truyện được coi là một thể loại văn học trong đó tác giả tự kể về cuộc đời mình Tác phẩm tự truyện thường có thiên hướng lí giải cuộc sống đã qua của tác giả như một chỉnh thể, tạo nên những đường nét mạch lạc cho cuộc sống kinh nghiệm của mình Cụ thể như sau:
Theo Từ điển tiếng việt thì tự truyện là truyện tác giả viết về chính bản thân mình [25, tr.177]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì Tự truyện là tác phẩm văn học thuộc thể loại tự sự do tác giả viết về cuộc đời mình… [25, tr.389]
Theo Từ điển văn học: Tự truyện thường là những câu chuyện viết bằng văn xuôi, kể lại dĩ vãng của chính tác giả…Tự truyện không phải là một tập hợp những kỷ niệm tản mạn, mà được bố trí như một truyện, một tiểu thuyết… [11, tr.1905-1906]
Tác giả Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học cũng cho rằng Tự truyện là tác phẩm văn học tự sự, thường được viết bằng văn xuôi, trong đó tác giả tự kể và miêu tả cuộc đời của bản thân mình [3]
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia thì Tự truyện là những tác phẩm văn học thuộc thể loại tự sự, thường được viết bằng văn xuôi trong đó tác giả tự kể lại và miêu tả cuộc đời mình trong tác phẩm
Trang 20Như vậy theo các nhà từ điển, thuật ngữ Tự truyện được hiểu là những tác phẩm văn xuôi, trong đó tác giả tự viết về cuộc đời của chính mình Hầu hết
các nhà từ điển học đều có điểm chung khi cho rằng tự truyện thể hiện chân dung và cuộc đời của tác giả Theo cách những khái niệm từ điển, tự truyện vừa
có điểm của hồi kí, vừa mang đặc điểm của tiểu thuyết tự thuật
Thứ hai, quan điểm của các nhà nghiên cứu văn học
Tác giả Đặng Thị Hạnh dẫn định nghĩa tự truyện như sau Năm 1971 trong cuốn Tự thuật ở Pháp Philippe Lejeune định nghĩa nó như sau: Truyện kể mang tính nhìn lại dĩ vãng, mà một người có thật viết về cuộc sống của mình, khi người đó đặt trọng âm lên đời sống riêng, nhất là lên sự hình thành nhân cách [12, tr.36] Tác giả Phùng Xuân Tửu trong công trình Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI (2005) đều dẫn định nghĩa của tác giả người
Pháp Philippe Lejeune Có thể coi đây là những cơ sở đầu tiên cho việc xác định tự truyện là gì Theo đó, tự truyện được coi là bức chân dung tự họa của tác giả, vì thế, tự truyện mang cái tôi cá nhân của tác giả, thể hiện sự hình thành nhân cách của một con người
Tác giả Nguyễn Thành Thi nhìn nhận tự truyện dưới con mắt hình thức
thể loại và cho rằng: Nhà văn khi sáng tác tác phẩm bao giờ cũng sáng tác theo một mô hình thể loại xác định Thể loại tác phẩm văn học, thường được hiểu là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể [31, tr.12] Như vậy, theo tác giả, tự truyện là một thể
loại của văn học, thể hiện một nội dung nhất định theo chủ ý của tác giả
Đồng quan điểm khi cho rằng tự truyện như một thể loại văn học, tác giả
Lê Tú Anh là tác giả quan tâm tới vấn đề tự truyện có phải là văn học hay
không Theo tác giả tự truyện như một thể loại văn học hay một tác phẩm tự truyện ngoài việc cần phải có những điểm khả thủ để phân biệt ở một mức độ tương đối với hồi ký, nhật ký, tiểu thuyết; cần phải đáp ứng được những yêu
Trang 21cầu để có thể phân biệt với một tự truyện chưa đạt đến trình độ tác phẩm văn học (cận văn học) Các yêu cầu cụ thể là: phải có thao tác tự sự, có ý nghĩa nhân sinh và ngôn từ có tính nghệ thuật [2]
Như vậy, theo các nhà nghiên cứu văn học, tác phẩm tự truyện thường có phương hướng viết về những gì đã xảy ra trong cuộc sống của chính mình như một chỉnh thể, tạo ra những đường nét mạch lạc cho cuộc sống trải nghiệm của mình Đồng thời, tác giả có thể vận dụng hư cấu, tưởng tượng để sắp xếp các chi tiết, sự kiện của cuộc đời mình để diễn biến sự tình trở nên hợp lý, nhất quán Thời gian trong tự truyện luôn luôn là thời gian đan xen giữa quá khứ với thực tại, khi
mà tác giả trong hiện tại nhìn về quá khứ với con mắt hoặc là hoài niệm, hoặc là tiếc nuối, hoặc thể hiện sự trải nghiệm và chiêm nghiệm về cuộc sống
Có thể thấy, tự truyện bao gồm cả yếu tố truyện (hình thức, một thể loại
tự sự) và yếu tố tự thân (nội dung, bản thân) của người viết truyện Yếu tố cá nhân, đời tư của tác giả là chất liệu hiện thực được tác giả sử dụng với nhiều mục đích nghệ thuật khác nhau Trong tự truyện có cả yếu tố hồi ký và chân dung nhà văn
1.1.2 Phân biệt tự truyện với hồi ký
1.1.2.1 Hồi ký
Hồi ký không phải là một khái niệm mới trong văn học Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu văn học đã giải thích khái niệm này căn cứ vào nhiều góc độ
khác nhau như: căn cứ vào nội hàm nghĩa của từ hồi ký; căn cứ vào đặc trưng
thể loại; căn cứ vào cách kể chuyện… Nhưng tựu chung lại, các nhà nghiên cứu
có điểm tương đồng ở việc xác định hồi ký là tái hiện quá khứ gắn với người thật, việc thật, tác giả chính là người trong cuộc hoặc chứng kiến Dưới đây là
các cách hiểu đó
Theo quan điểm của các nhà từ điển:
Theo tác giả Hoàng Phê thì hồi ký là thể ký, ghi lại những điều còn nhớ sau khi đã trải qua, đã chứng kiến sự việc [25, tr.459]
Trang 22Theo tài liệu [9] thì Hồi ký là một thể loại thuộc loại hình ký, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến Và Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi ký có nhiều chỗ gần với nhật
ký Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và không có hư cấu thì hồi ký lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học [9, tr.152]
Từ điển thuật ngữ văn học: Hồi ký là một thể loại thuộc loại hình ký, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến Họ cho rằng: Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi ký có nhiều chỗ gần với nhật ký Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và không có hư cấu thì hồi ký lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học [11, tr.152]
Theo Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên, hệ thống: "Thuật ngữ chỉ một thể loại nằm trong nhóm thể tài ký Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật
từ ngôi tác giả, kể về những sự kiện có thực xảy ra trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến" [14, tr.648]
Nhìn nhận hồi ký theo quan niệm thể loại:Tác giả Lại Nguyên Ân trong
150 thuật ngữ văn học cho rằng: hồi ký là một thể thuộc thể tài ký Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể về những sự kiện có thực trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến [3, tr.154] Theo tài liệu các tác giả trong Lý luận văn học cho rằng hồi ký là thể loại ghi chép các sự kiện quá khứ đã trải qua do đó sự thực hiện, cũng là một hình thức văn học riêng [10, tr.286] Đồng thời, tác giả xác định: Hồi ký ghi lại những diễn biến của câu chuyện và nhân vật theo bước đi của thời gian qua hồi tưởng [10, tr.285]
Tuy vậy, bản thân thể hồi ký có đời sống riêng, vận động thay đổi ở từng chặng đường văn học, khiến cho các khái niệm, quy ước có tính quy phạm không lý giải hết sự đa dạng của nó Vì vậy, ranh giới giữa hồi ký với các loại hình gần
Trang 23nó cần phải xác định rõ ràng Đặc biệt, đặc trưng của hồi ký là một thể văn học luôn vận động, chuyển hóa không ngừng
Tác giả của hồi ký ghi chép phần hiện thực mà tác giả chứng kiến hơn là dựa
trên những ấn tượng và hồi ức riêng trực tiếp của mình.Vì vậy hồi ký thường khó tránh khỏi tính phiến diện và ít nhiều chủ quan về thông tin, tính không đầy đủ của
sự kiện, song sự không đầy đủ của nó do sự diễn đạt sinh động trực tiếp của tác giả lại có giá trị như một tài liệu xác thực đáng tin cậy [8, tr 127]
Nhóm tác giả trong Từ điển Văn học (bộ mới) cho rằng: Hồi ký gần nhật
ký ở hình thức giãi bày, ở chỗ không dùng thủ pháp cốt truyện, ở cách kể thường theo thứ tự thời gian, ở việc chú ý đến các sự kiện mang tính tiểu sử
[24, tr.646-647]
Như vậy, qua việc đưa ra các cách hiểu về hồi kí của các nhà nghiên cứu, luận văn xác định được đặc trưng của hồi ký, từ đó phân biệt hồi ký với tự truyện
1.1.2.1 Sự khác biệt giữa tự truyện và hồi ký
Xét về nội hàm hai khái niệm thì hai khái niệm hồi ký và tự truyện tương đối gần nhau nhưng không hoàn toàn trùng khít.Theo tác giả Đỗ Đức Hiểu thì:
Hồi ký có thể chỉ ghi lại những sự kiện về một thời kỳ lịch sử mà tác giả không phải là nhân vật chính; còn tự truyện kể chuyện của cái “tôi” tác giả Tự truyện không phải một tập hợp những kỉ niệm tản mạn, mà được bố trí như một truyện, một tiểu thuyết [14, tr.1906] Theo nhận định này thì chúng ta có phân
biệt tự truyện và hồi ký như sau: Tự truyện là sự phân tích, mổ xẻ cái tôi và nó cũng là biểu hiện của cái tôi đạt tới trình độ cao Còn hồi ký là chứng kiến các sự kiện đã trải qua, cá nhân người viết chỉ là một phần những chi tiết trong đời sống Như vậy, điểm chung giữa hồi ký và tự truyện đều đề cập đến những gì thuộc về quá khứ Tác giả của cả hai loại này đều hướng về dĩ vãng, đều có cảm hứng tổng kết và lý giải, đều được viết ra cho người khác đọc để bộc bạch cái tôi, chia sẻ kinh nghiệm cá nhân.Tuy vậy, xét về bản chất, tự truyện mang đặc trưng của truyện, giàu tính miêu tả, chú ý đến nghệ thuật kể, còn hồi ký
Trang 24mang đặc trưng của ký, nặng về tính sự kiện, tính xác thực Nếu như tự truyện xuất phát từ nhu cầu lý giải bản thân để lý giải quá trình hình thành nhân cách
và thế giới nội tâm của mình trong sự tương tác với thế giới bên ngoài, thì hồi
ký chỉ xuất hiện khi người ta có cảm hứng hồi cố, có nhu cầu trục vớt quá khứ khi nó đòi được hiện diện trong hiện tại, thỏa mãn mong muốn xét lại lịch sử
Vì vậy, trong tự truyện có cái tôi hiện tại, trong hồi ký không có Đặc biệt, hồi
ký cần có độ lùi thời gian hơn đủ cho ký ức sống lại, đong đầy một niềm tiếc nuối, hiện thực bị khuất lấp được trình ra
1.1.3 Sự nở rộ của tự truyện trong văn học Việt Nam đương đại
Thế kỉ XIX, các nhà văn hiện thực viết về bản thân để phơi bày các mối quan hệ giữa con người với nhau và giữa con người với hoàn cảnh xã hội Ở thế kỉ XX, nhiều nhà văn thuật lại cuộc đời của chính mình để qua đó phản ánh
số phận của dân tộc, cộng đồng và thời đại Như vậy, các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự và sử thi đều có thể nằm trong tự truyện
Văn học thời trung đại có khuynh hướng thiên về cái vô ngã Đến thời kì
1930 - 1945, văn học nhắc nhiều đến cái tôi với những tác phẩm của Nguyên
Hồng, Nam Cao, Kim Lân… Tuy nhiên, đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp
và chống Mĩ, do yêu cầu của thời đại, văn học tập trung vào những vấn đề
chung của thời đại Do vậy cái tôi cá nhân một lần nữa ít được nhắc đến trong
Trang 25riêng tư nhất, đời thường nhất của con người, không đặt vấn đề phải hi sinh hạnh phúc cá nhân cho sự nghiệp lớn lao nữa, mà đặt vấn đề: trong khi xây dựng sự nghiệp lớn lao kia, không nên bỏ qua hạnh phúc cá nhân
Văn học Đồng bằng sông Cửu Long cũng cũng không nằm ngoài thông
lệ đó Những cây bút như Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Lê Chí, Trang Thế
Hy, đã thể hiện ró nét cái tôi cá nhân trong những sáng tác của mình Đặc biệt
là sự xuất hiện của nhiều cây bút nữ có tài năng như Lý Lan, Dạ Ngân, Song Hảo, Nguyễn Ngọc Tư, Đinh Thị Thu Vân,… đã đem đến một luồng sáng mới cho nền văn học khu vực Trong đó, có một số nhà văn, viết tác phẩm trở thành một hành trình tìm kiếm chính mình, chăm chú vào bí ẩn của cái tôi, lật xới vấn đề muôn thuở cái tôi là gì? Bằng cách nào nắm bắt được cái tôi? Do vậy khuynh hướng tự truyện trong văn học đương đại đang dần trở nên gây chú ý
1.2 Quá trình sáng tạo của Dạ Ngân
1.2.1 Vài nét về nhà văn Dạ Ngân
Nữ văn sĩ Dạ Ngân tên thật là Lê Hồng Nga, sinh ngày 06 tháng 02 năm
1952 Tuổi thơ của nhà văn gắn bó vườn cổ Cao Lãnh sông Tiền
Dạ Ngân sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng (ba bà bị
tù, án khổ sai Côn Đảo rồi chết trong xà lim) Cô Tư, cô ruột của nhà văn, người đàn bà goá đã ở vậy đến già để chăm nuôi bầy cháu cho ba bà đi kháng chiến Có thể nói, đây là hai nhân vật mà tâm hồn và tính cách của họ ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến tư chất Dạ Ngân sau này Cũng giống như nhiều gia đình ở miền nam trong thời kháng chiến (trước là trả thù nhà, sau là trả nợ nước), gia đình của Dạ Ngân có truyền thống yêu nước, cha hi sinh trong kháng chiến, còn tất cả các chị em gái của Dạ Ngân đều vào cứ tham gia đánh giặc
Nhà văn đã bộc bạch: Quê gốc tôi ở miệt vườn Cao Lãnh sông Tiền nhưng
vì ông nội tôi thích thi thố nên đưa tất cả anh em giạt xuống tận Cần Thơ để phỉ chí nghề vườn Tôi là phụ nữ miệt vườn chính cống và tôi luôn tự hào về
Trang 26điều đó.Tuổi thơ tôi được bảo bọc bằng nghề vườn, cây vườn và nhà nội, trong
đó vai trò quyết định thuộc cô tôi, người đàn bà goá đã ở vậy đến già để chăm nuôi bầy cháu cho ba tôi đi kháng chiến Cho đến khi ba tôi bị tù, án khổ sai Côn Đảo rồi chết trong xà lim thì tôi thuộc về cô tôi hoàn toàn, tâm hồn và tính cách ấy đã quyết định tư chất tôi Ở vào vùng hành lang giữa căn cứ kháng chiến tỉnh với căn cứ kháng chiến Khu Chín, gia đình tôi không có sự lựa chọn nào khác cho chị em gái nhà tôi: Tất cả phải đi vào Cứ tham gia đánh giặc, con đường của cha tôi Lý tưởng đã được đơn giản hoá thành thù nhà rồi sau mới là nghĩa nước [4, tr.27]
Cuộc đời riêng của Dạ Ngân rất lận đận Cũng như bao phụ nữ khác sinh
ra trong thời kỳ đất nước trải qua cuộc chiến tranh ác liệt Dạ Ngân phải chịu nhiều thiệt thòi mất mát không được học hành đến nơi đến chốn nhưng nhờ có
ý chí kiên cường, giàu nghị lực Dạ Ngân đã vượt qua những khó khăn, trở ngại của cuộc sống để trở thành một nữ nhà văn tài năng
Năm 1978, truyện đầu tay của Dạ Ngân được tạp chí văn nghệ tỉnh in vào
số tết Sau đó, Dạ Ngân được chuyển sang Hội văn nghệ tỉnh từ bộ phận làm tin thuộc Sở văn hoá thông tin tỉnh Hậu Giang Đầu năm 1982, lần đầu một truyện ngắn của bà được in trên tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn Cũng trong thời gian đó, với việc tham dự sự kiện trại sáng tác của Hội văn nghệ tỉnh ở Vũng Tàu, cuộc đời và sáng tác của bà có những bước chuyển Ở trại sáng tác, bà đã gặp nhà văn Nguyễn Quang Thân - người chồng sau của bà Cuộc tình này đã trải qua nhiều sóng gió của dư luận nhưng với tình yêu mãnh liệt, sau hơn mười năm trời người Nam kẻ Bắc chỉ trao đổi qua thư từ, điện tín và thỉnh thoảng mới gặp nhưng cuối cùng họ vẫn đến được với nhau Bắt đầu từ trại sáng tác
đó, nghiệp văn và đời tư của bà luôn gắn bó với nhau để bà cho ra đời những
tác phẩm: truyện ngắn Con chó và vụ ly hôn (1985) và nhiều đầu sách, kịch bản phim, nhiều tản văn, hàng nghìn kì thư Tư vấn gia đình với bút danh Dạ Hương Đặc biệt, tiểu thuyết Miệt vườn xa lắm, Gia đình bé mọn, tên tuổi Dạ
ngân trở nên gần gũi với độc giả cả nước
Trang 27Được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1987, Dạ Ngân được tu nghiệp bốn năm ở Trường viết văn Nguyễn Du Từ đây, cuộc sống của bà có nhiều thay đổi và gắn bó với Hà Nội và người chồng thứ hai của bà
1.2.2 Hành trình sáng tác
Dạ Ngân là một người có niềm say mê và có năng khiếu với văn học từ
sớm Ngay những ngày tham gia kháng chiến, Dạ Ngân đã lén đọc Sông Đông
êm đềm của Mikhain Sôlôkhôp Đây là cuốn sách bị xem là có vấn đề về chính
trị thời bấy giờ Với một tâm hồn bay bổng, lãng mạn Dạ Ngân đã được tiên đoán trước sau gì cũng sẽ theo nghiệp văn chương Và đúng như dự đoán, cả cuộc đời bà sau này đã coi văn chương như là hơi thở, là cuộc sống của bà Năm 1978 truyện ngắn đầu tay của Dạ Ngân được ra đời và in trên tạp chí văn nghệ tỉnh số tết Đây là động lực giúp nhà văn vững tin hơn trên con đường sáng tác văn chương nhiều thử thách của mình
Năm 1982 một truyện ngắn nữa của Dạ Ngân được đăng trên tuần báo văn nghệ của Hội nhà văn Việt nam Nhờ vậy mà tháng tư năm ấy, Dạ Ngân được tham dự trại sáng tác của hội ở Vũng Tàu Tại đây, Dạ Ngân đã được gặp nhiều nhà văn tên tuổi trong đó có nhà văn Nguyễn Quang Thân - người chồng sau này của bà
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Dạ Ngân sáng tác về nhiều mảng đề tài khác nhau nhưng nổi bật nhất trong sáng tác của bà là đề tài chiến tranh và gia đình Về thể loại thì tiểu thuyết và truyện ngắn là thể loại mang lại nhiều
thành công cho Dạ Ngân Dạ Ngân đã từng tâm sự Tôi là tạng nhà văn cái gì không ngấm vào mình, không trải qua thì không thể viết sâu sắc [29, tr.103]
Chúng ta có thể kể đến một số tác phẩm chính, tiêu biểu của bà như:
Ở thể loại truyện ngắn, Dạ Ngân có những sáng tác sau:
- Quãng đời ấm áp - Tập truyện - NXB Phụ nữ 1986
- Con chó và vụ ly hôn - Tập truyện - NXB Hội nhà văn 1990
- Cõi nhà - tập truyện - NXB Thanh niên 1993
Trang 28- Dạ Ngân và Nguyễn Quang Thân - Tập truyện - NXB Phụ nữ 1997
- Nhìn từ phía khác - Tập truyện - NXB Hà Nội 2002
- Tản mạn hồn quê - Tạp văn - NXB Phụ nữ 2007
- Nước nguồn xuôi mãi - Tập truyện - NXB Phụ nữ 2008
Ở thể loại tiểu thuyết, Dạ Ngân có những sáng tác sau:
- Ngày của một đời - Tiểu thuyết - NXB Văn nghệ tp Hồ Chí Minh 1989
- Mẹ Mèo - Tiểu thuyết (cho thiếu nhi) - NXB Kim Đồng 1992
- Miệt vườn xa lắm - Truyện dài - NXB Kim Đồng 1992 (In lần thứ ba
tính đến tháng 6/2006) Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2004
- Gia đình bé mọn - Tiểu thuyết - NXB Phụ Nữ tháng 7/2005 (In lần thứ
năm tính đến tháng 3/2008)
Sau Miệt vườn xa lắm, tiểu thuyết Gia đình bé mọn là tác phẩm được xem
là tác phẩm thành công nhất.Tác phẩm được nhận liền hai giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2005, và Hội nhà văn Việt Nam năm 2006 Không những
thế, tiểu thuyết Gia đình bé mọn trở thành cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam
được nhà xuất bản Curbstone Press dịch sang tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ với sự chuyển ngữ của bà Rosemary Nguyễn
Bên cạnh thành công của truyện ngắn và tiểu thuyết, bà còn có những kịch
bản phim như: Chuyến đi của mẹ - Kịch bản phim nhựa, sản xuất năm 1988; Chân trời nơi ấy - Kịch bản phim nhựa, 2 tập, sản xuất năm 1995
Như vậy, nhờ vào hành trình sáng tác không mệt mỏi và nhiều tâm huyết
đã giúp nữ nhà văn miệt vườn vinh dự nhận được nhiều giải thưởng cao quý Điều đó chứng tỏ nữ nhà văn đã có những đóng góp không nhỏ cho nền văn học đương đại Việt nam
1.2.3 Sự ra đời của tiểu thuyết Gia đình bé mọn
Gia đình bé mọn của Dạ Ngân là cuốn tiểu thuyết thứ hai trong văn nghiệp của Dạ Ngân (sau Miệt vườn xa lắm) được nhận nhiều giải thưởng cao quý và
được dịch ở nhiều nước Tác giả xuất thân từ miền Tây Nam Bộ, nhưng tác phẩm được viết ở miền Bắc, là sự hồi tưởng lại quá khứ của nhân vật có nhiều
Trang 29điểm tương đồng với cuộc đời của nữ văn sĩ Tác phẩm xoáy sâu vào hiện thực của bối cảnh xã hội Việt Nam thời kì sau chiến tranh chống Mỹ (năm 1975)
Tác phẩm Gia đình bé mọn lấy bối cảnh không gian chính là xã hội Việt
Nam những năm sau 1975 giải phóng hoàn toàn đất nước và nhân dân bước vào một thời kì bao cấp chật vật, đầy rẫy khó khăn, hà khắc, bủa vây lấy cuộc sống
và tinh thần con người Nhân vật chính trong tác phảm là nhà văn Mỹ Tiệp, vốn
là người miền Tây có nhan sắc, cá tính, có khát vọng mãnh liệt trong tình yêu
và mưu cầu hạnh phúc Cuộc chiến tranh chống Mỹ ác liệt đã dàn xếp cuộc hôn nhân giữa cô với anh chồng Hai Tuyên, một người đàn ông chỉ biết với cương
vị phó phòng tuyên truyền, có thể thao thao đứng lớp những bài giảng về: “thế nào là nếp sống mới, con người mới” Hơn thế, Tuyên còn là một con người lạnh lùng, vô tâm, tàn nhẫn với vợ con mình, coi công danh là mục đích phấn đấu và bắt vợ phải đồng hành với mình trên con đường chính trị “lên nữa, lên mãi” Mặc dù biết không được sự ủng hộ của gia đình nhưng Tiệp vẫn quyết tâm từ bỏ vỏ bọc hào nhoáng về mái ấm hạnh phúc bề ngoài để tìm đến hạnh phúc thực sự mà trái tim mình mong muốn Đầu tiên là tình cảm bồng bột của
Tiệp với anh nhà báo từ thành phố lớn, giống như một chú công giữa thị trấn
tỉnh lẻ Thất bại, nhưng Tiệp vẫn không muốn tiếp tục chung sống với Tuyên Gia đình của Tiệp với những ràng buộc về danh dự của gia tộc đã tìm mọi cách ngăn cản nhưng Tiệp vẫn kiên quyết từ bỏ Tuyên Thế rồi cuộc gặp gỡ Đính - nhà văn người xứ Nghệ, sống và viết tại Hà Nội đã khiến Tiệp rẽ sang một hướng khác Mặc dù tình cảm của họ lại gặp phải quá nhiều ngăn trở.Với hành trình trên mười năm năm khổ cực với bao đau buồn giằng xé tâm can giữa tình mẫu tử, tình gia tộc, Tiệp đã đến đích
Như vậy, Gia đình bé mọn tập trung vào bi kịch của người phụ nữ trong
xã hội hiện đại giữa nhiều mối quan hệ trong gia đình, trong tình yêu Qua đó,
Dạ Ngân đặc biệt có ý thức đi sâu, lý giải, cắt nghĩa nguyên nhân sâu xa trong
bi kịch mà họ phải chịu đựng Cùng với nguyên nhân chính là sự huỷ diệt của chiến tranh đối với tuổi thanh xuân, mà còn là tư tưởng hà khắc còn mang nặng trong trí óc con người Đồng thời, với tâm thế của một người trong cuộc, tác
Trang 30giả cho thấy nguyên nhân nằm ngay trong thái độ cam phận, nín nhịn của người phụ nữ Việt Nam suốt chiều dài đằng đẵng bi kịch họ gánh theo
1.3 Quan niệm nghệ thuật của Dạ Ngân
1.3.1 Quan niệm về hiện thực và con người
* Quan niệm về hiện thực
Qua tìm hiểu hành trình sáng tác của Dạ Ngân cho thấy bà là một cây bút
đã gặt hái được khá nhiều thành công trong sự nghiệp sáng tác của mình Cho đến hiện nay, Dạ Ngân đã có một số lượng tác phẩm khá lớn với nhiều thể loại khác nhau Các tác phẩm ấy có một sức hút đáng kể đối với độc giả cũng như các nhà nghiên cứu phê bình văn học Một trong những nhân tố làm nên sức hút
ấy trong sáng tác của Dạ Ngân là quan niệm về hiện thực
Hiện thực trong văn chương là hiện thực về cuộc sống Tuy nhiên, từ hiện thực trong cuộc sống đến hiện thực trong tác phẩm có một khoảng cách nhất định Chỉ nhà văn mới có thể kéo gần, thu hẹp được khoảng cách đó qua tác phẩm của mình Khi đó, tính chân thực ở tác phẩm đó càng đậm nét, càng sâu sắc.Vì vậy, quan niệm về hiện thực của nhà văn thường được trả lời cho câu hỏi
đó là hiện thực gì, hiện thực đó được nhìn bằng phương pháp sáng tác nào? Dạ Ngân sáng tác chủ yếu dựa vào trải nghiệm của bản thân Từng tham gia chiến đấu trong những tháng năm chống Mĩ ác liệt, hiện thực mà nhà văn chứng kiến
và trải qua trong những năm tháng hào hùng nhưng cũng không kém phần bi thương ấy đã in sâu trong lòng nhà văn nữ này Chiến tranh kết thúc nhưng hậu quả của nó khiến đất nước ta lại trải qua một thời kì khó khăn mới Dạ Ngân lại trải nghiệm với cuộc sống đầy khó khăn gian khổ trong những năm bao cấp Vì vậy, Dạ Ngân thể hiện sự cảm nhận rất rõ và thấu hiểu sâu sắc hiện thực của đất nước trong những sáng tác của mình.Trong những sáng tác ấy, Dạ Ngân bổ sung những mảng hiện thực mới mà văn học trước 1975 còn né tránh như những mặt trái, mặt tiêu cực của hiện thực, cái xấu, cái ác trong đời sống Ở đó, hiện thực được nhìn nhận, phản ánh không giản đơn, xuôi chiều mà được phân
Trang 31tích, mổ xẻ ở một chiều sâu mới Càng ngày cảm hứng nhìn thẳng vào sự thật
càng phát triển, trở thành dòng chủ đạo của văn xuôi đương đại Việt Nam Trong hành trình sáng tác, đề tài chiến tranh, gia đình nổi bật nhất trong sáng tác của Dạ Ngân bởi nó luôn thể hiện yếu tố hiện thực một cách rõ nét Đề tài chiến tranh được Dạ Ngân khai thác ngay từ những tác phẩm đầu tay Tuy nhiên, nhà văn không nặng về miêu tả hiện thực chiến tranh với những trận đánh ác liệt giữa ta với địch, về những chiến thuật dụng trong cuộc chiến này Ngòi bút của Dạ Ngân hướng về cuộc sống tình cảm, sinh hoạt của con người
trong hoàn cảnh khốc liệt ấy trong Quãng đời ấm áp, Đường dây một người Ở
mảng đề tài gia đình, nữ văn sĩ đi vào phản ánh những hiện thực cuộc sống trong những gia đình Trong đó, có những người chỉ chạy theo vật chất, danh vọng mà quên đi những tình cảm thiêng liêng cao đẹp nhất Đó là những đứa
con hắt hủi khi mẹ già, trong Người của mỗi người Đó là hiện thực cuộc sống
đầy nước mắt đắng cay của những người phụ nữ phải sống trong cảnh góa bụa
trong Nhà không có đàn ông Đồng thời, Dạ Ngân cũng đi sâu vào phản ánh xung đột về tình cảm, đạo đức của vợ chồng Đến Gia đình bé mọn, Dạ Ngân
đã dũng cảm rọi đèn vào những góc tối, khuất tất của cuộc sống, làm hiện rõ bức tranh xã hội đầy nhức nhối hiện nay [15, tr.318-319] Qua đó, Dạ Ngân đặt
ra một vấn đề nóng bỏng về thực trạng của đời sống gia đình thời hậu chiến
Các tác giả như Dương Hướng với Bến không chồng, Lê Lựu với Thời xa vắng, Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, Ma Văn Kháng với Mưa mùa hạ, Đám cưới không có giấy giá thú …là những sáng tác sau năm 1975 đều thể hiện cách
nhìn nhận của tác giả trước thực trạng của xã hội lúc bấy giờ khiến cuộc sống con người trở nên khốn khó Nhưng qua hành trình sáng tác của Dạ Ngân cho thấy, hiện thực đời sống không chỉ thu gọn trong những biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà rộng hơn, sâu hơn, thực tế hơn, đó là cái thường nhật với bao mối quan hệ phức tạp Và bởi thế, cái nhìn thế sự - đời tư thực sự giữ vai trò cốt yếu trong cảm quan nghệ thuật của nhà văn
Trang 32* Quan niệm về con người
Trong văn học nói chung, con người là trung tâm, là đối tượng chủ yếu
mà các nhà văn, nhà thơ tập trung hướng đến Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của người nghệ sĩ nói riêng và thời đại văn
học nói chung Theo Trần Đình Sử thì Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình [27, tr.15]
Nghĩa là, quan niệm nghệ thuật về con người sẽ đi vào phân tích, mổ xẻ đối tượng con người được thể hiện thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp trong các tác phẩm văn học, từ đó, thấy được giá trị và chiều sâu triết lí của tác phẩm Dạ Ngân cũng như nhiều nhà văn khác sáng tác sau năm 1975, có những chuyển đổi sâu sắc trong quan niệm nghệ thuật về con người Đó là từ con người lịch sử, con người cộng đồng đến con người cá nhân “đầy những nỗi niềm nguồn cơn”, đầy phức tạp và bí ẩn Một số truyện ngắn của Dạ Ngân đã thể hiện quan niệm nghệ thuật mới về con người, từ sau những năm đổi mới,
như Thợ vẽ truyền thần, Trăng về, Một khúc sông, Nhìn từ phía khác, Câu chuyện nhiều năm, Má con Chị Liệt, Cái ban công trống…Trong đó, Dạ Ngân
viết nhiều về người phụ nữ và đặt vấn đề nữ quyền lên trên hết trong hầu hết các sáng tác của mình Ở những hình tượng người phụ nữ đó luôn có những nét tính cách rất đặc biệt, đó là mạnh mẽ, gan góc không kém phần quyết liệt Nếu
không là người phụ nữ dám sống vì hạnh phúc cá nhân như Đoan trong Con chó và vụ li hôn hay Tiệp trong Gia đình bé mọn thì cũng là những người đàn
bà mạnh mẽ, làm chủ gia đình như những người phụ nữ trong Nhà không có đàn ông Ngoài ra, vấn đề tình dục và hành trình tìm đến tình yêu đích thực của
người phụ nữ cũng là những vấn đề được đề cập không ít trong các tác phẩm của Dạ Ngân Tóm lại, người phụ nữ trong sáng tác của Dạ Ngân hiện lên là những người phụ nữ hiện đại, đầy bản lĩnh, kiên cường, chủ động vượt qua bao khó khăn, sóng gió
Trang 331.3.2 Quan niệm về văn chương
Dạ Ngân có được một niềm say mê văn học từ sớm và có quan niệm về
văn chương rất nghiêm túc Tác giả quan niệm Văn chương, đó không chỉ là nghề như mọi nghề mà còn là con đường khổ ải cho những người đàn bà cầm bút Dù vậy, vẫn hơn, vì con đường ấy cho người ta sự cô độc tối cao, niềm tin dai dẳng và có thể khóc cười thoải mái một mình [39] và Văn chương hoàn toàn xứng đáng được coi như đạo, vì sứ mệnh giãi bày và cứu rỗi của nó Người viết phải chấp nhận cày xới mặt trái của xã hội loài người và mảnh đất tâm linh của kiếp người Có lẽ vì vậy mà tôi không dung hòa được với những gì nhè nhẹ, thoang thoáng, đèm đẹp Tận cùng, đó là phương châm sống, phương châm viết của tôi và tôi không lùi bước khi phải trả giá [39] Như vậy, theo Dạ
Ngân, văn chương có sư mệnh “giãi bày và cứu rỗi”, bởi văn chương giúp con người được thể hiện sâu sắc nhất những cảm xúc của bản thân và được là chính mình bởi vì con đường ấy cho người ta sự cô độc tối cao, niềm tin dai dẳng và
có thể khóc cười thoải mái một mình
Dạ Ngân cũng để cho nhân vật trong tác phẩm của mình phát biểu quan
niệm về văn chương Chẳng hạn như nhân vật nữ nhà văn Mỹ Tiệp trong Gia đình bé mọn cũng quan niệm Văn chương với nàng giống một thứ tín ngưỡng hơn là phương tiện Qua tìm hiểu hành trình sáng tác của Dạ Ngân càng thấy
rõ quan niệm về văn chương của bà Dạ Ngân đã nêu lên những vấn đề nóng bỏng của gia đình và xã hội Tác giả đã nhìn thẳng vào cuộc sống xã hội để phân tích những diễn biến tâm lý của con người
Đồng thời, Dạ Ngân coi tác phẩm văn chương là đứa con thai nghén mà
bà rút ruột đẻ đau Nó giống với khoảnh khắc đứa con trong bụng mình òa ra, kết thúc tình cảnh mang nặng đẻ đau và mình biết thế là nó đã được sinh xong và bắt đầu cuộc sống riêng giữa cõi đời này [27] Vì thế, tác phẩm văn
chương đó càng thể hiện rõ chức năng và sứ mệnh của mình Theo Dạ Ngân,
người viết văn là kẻ cô đơn giữa bầy đàn của mình Nhưng chính cuộc sống
Trang 34biết hy sinh vì văn chương ấy đã khiến cho tác giả quan niệm Sống tức là viết được phân nửa điều mình muốn tuyên ngôn Nghĩa là phải sống với tất cả các cung bậc tình cảm, với sự nhạy cảm của từng tế bào nguyên liệu sẽ sinh ra từ từng giây phút ấy [39]
Như vậy, Dạ Ngân viết văn chủ yếu dựa vào những trải nghiệm của cuộc đời Với tình yêu đến mức “tín mộ” văn chương, qua các tác phẩm của bà, chúng ta thấy được những vấn đề nóng bỏng về thực trạng của đời sống gia đình, xã hội Việt Nam thời hậu chiến Đồng thời, nhà văn thể hiện sự cảm thông chân thành và tình yêu thương sâu sắc với những con người trong cuộc sống thời hiện đại, nhất là những người phụ nữ
sáng tác của bà là tiểu thuyết Gia đình bé mọn Đây là cuốn tiểu thuyết mang
đậm yếu tố tự truyện, qua đó, nhà văn bộc lộ con người cá nhân của mình Thông qua đó, tác giả đã đặt ra những vấn đề xã hội sâu sắc: cuộc sống hiện thực đầy rẫy những khó khăn do hậu quả của chiến tranh, nhưng con người vẫn ước mong về một cuộc sống được là chính mình, được sống với những khát vọng chính đáng của bản thân
Trang 35Chương 2 CÁC PHƯƠNG DIỆN CỦA CÁI TÔI TRONG
GIA ĐÌNH BÉ MỌN CỦA DẠ NGÂN
2.1 Cái tôi trong cuộc sống thường nhật
2.1.1 Cái tôi trong sinh hoạt hằng ngày
Trong sáng tác văn học nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng, không phải ai cũng thể hiện được cái tôi của mình trên trang viết Cái tôi gắn liền với
cá tính sáng tạo của một người cầm bút Điều đó đòi hỏi người viết phải thể hiện được cái riêng có giá trị thẩm mĩ cao, có khả năng đóng góp tích cực cho nền văn học chung
Nhắc đến nữ văn sĩ Dạ Ngân và tiểu thuyết Gia đình bé mọn là độc giả nghĩ đến công cuộc tự cởi trói cam go của chính nhà văn với những giáo điều
của gia đình, thành kiến của xã hội… Nhưng không chỉ có thế! Bởi hành trình
đi tìm tình yêu, mục đích sống của chính mình - một cái bể cảm xúc không khi
nào vơi của Dạ Ngân trong tác phẩm mới tạo nên cái tôi cá nhân đáng trân trọng! Bà có ý thức cao độ về chất văn và cái tình của bản thân mình Và bà hãnh diện, bà thách thức với cuộc đời đầy khó khăn, gian khổ, với người đời đầy thị phi Chính sự mãnh liệt khác thường trong cá tính nhân vật đã được bộc lộ bằng hình thức tự truyện và nhuốm màu “cá nhân hóa”, “tâm lý hóa” cho
tiểu thuyết Gia đình bé mọn giàu không khí thời đại và chất đầy sự kiện Chính cái bể cảm xúc đã giúp Dạ Ngân khơi sâu được vào trong những bi kịch của
những nhà văn trong xã hội Việt Nam thời bao cấp - đó là nét đặc trưng và cũng là đóng góp của Dạ Ngân trong giai đoạn văn học Việt Nam thời hậu
chiến Cái tôi như là một sự biểu hiện của yếu tố tự truyện trong Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
Trong Gia đình bé mọn, Dạ Ngân đã mạnh dạn “bóc trần” cả thế giới, từ
đó, hướng về cá nhân, hướng về con người với tất cả niềm say mê tìm tòi, khám phá, khai thác triệt để nhằm hướng người đọc đến với cái cao cả, cái tốt
Trang 36đẹp Bối cảnh không gian xã hội Việt Nam những năm sau 1975 giải phóng hoàn toàn đất nước và nhân dân bước vào một thời kì bao cấp chật vật, đầy rẫy khó khăn, hà khắc, bủa vây lấy cuộc sống và tinh thần con người chính là bối
cảnh để tác phẩm Gia đình bé mọn xuất xiện Dạ Ngân là người con của một
gia đình có nhiều thế hệ là hệ quả của chiến tranh Gia đình sinh ra Mỹ Tiệp, những người thân yêu ruột thịt trong gia đình Mỹ Tiệp từ cô Ràng, chị Hai Hoài , đến chị Mỹ Nghĩa và cô em Mỹ Út đều là sản phẩm con người của chiến tranh, họ đến và đi ra từ chiến tranh vì vậy số phận của một gia đình toàn những người đàn bà này gắn liền với dấu vết khắc nghiệt của chiến tranh Chính vì Dạ Ngân - Mỹ Tiệp am hiểu sâu sắc cuộc sống của những người phụ
nữ giữa cuộc sống thường nhật hàng ngày khi phải đối mặt với nghịch cảnh đời thường, những người phụ nữ lập tức vấp phải bi kịch cũng khốc liệt chẳng kém sự nguy nan của chiến tranh chống Mỹ, đó là bi kịch của niềm hạnh phúc nhỏ bé giữa đời thường Đó là nỗi đau vì những mất mát và đổ vỡ trong tinh thần không dễ gì
bù đắp và nỗi đau của sự vỡ mộng đang hàng ngày hàng giờ xâm chiếm tâm hồn
của những người phụ nữ miền Tây miệt vườn trong gia đình Mỹ Tiệp
Mỹ Tiệp - nhân vật nữ chính, là một nhà văn miệt vườn Tây Nam Bộ, cha nàng là một liệt sĩ Côn Đảo bị địch thủ tiêu, 14 tuổi đã bỏ nhà đi theo anh trai Năm Trường vào cứ kháng chiến Cuộc sống giữa cảnh chiến tranh giặc giã và bom đạn ngặt nghèo hun đúc cho nàng ý chí sắt đá Nhưng chính cuộc chiến tranh đó đã đẩy cô vào tình huống bi kịch khi cô không được tự mình lựa chọn
và thu xếp cuộc hôn nhân với nhân vật Hai Tuyên Sau chiến tranh, hai người kết hôn nhưng anh là một anh tuyên giáo chỉ chăm chăm tiến thân bằng mọi cách mà coi vợ con không bằng heo cúi trong nhà Dưới con mắt của Mỹ Tiệp
thì anh thuộc nhóm máu cá , xa môi trường nước của công sở một lát là anh không chịu nổi và sự tận tụy tuyệt đối của anh với cương vị Phó phòng tuyên truyền của Ban là đáng được thông cảm và đề cao[21, tr.51] Chính chiến tranh
đưa đến cho Mỹ Tiệp - cô thiếu nữ trinh nguyên, phải nếm trải mùi thân xác lần
Trang 37đầu tiên trong cái công sự ấy với anh thanh niên Hai Tuyên đang dũng cảm kéo
cô ra khỏi làn mưa bom bão đạn Tai Tiệp ù đặc , mắt nàng long lanh cảm thán
vì Tuyên đã nắm được tóc nàng kéo lên đúng lúc và đã ấn nàng xuống cái công
sự như cái lỗ huyệt này Nàng cười sằng sặc rồi nàng mếu máo khóc, bỗng nàng nín bặt vì nghe thấy có hai bàn tay đang áp vào hàng nút áo bung ra tự bao giờ, hai trái ngực nàng đang săn lên, run rẩy bởi đôi bàn tay ngốn ngấu trong thứ nước màu sữa đục, lạ quá, cảm giác được mơn trớn mà cũng được dầy vò, nâng lên hạ xuống trong mặt nước có mùi âm phủ [21, tr.101]
Giữa ranh giới nhạt nhòa của sự sống và cái chết, Tuyên đã chiếm đoạt nàng để rồi bắt đầu cho một loạt những bị kịch oái oăm trong đời sống hôn nhân vợ chồng không có tình yêu mà chính Mỹ Tiệp thậm chí chẳng thể ngờ rằng nó lại đau đớn, dai dẳng và khốn khổ như vậy Cuộc hôn nhân trong chiến tranh ấy của nàng tức khắc đã lên tiếng ngay sau ngày hòa bình lập lại Lúc
này, nàng thật sự đã nhận ra sau những ngày tháng mơ hồ Hồi mới cưới, con tim nàng không chịu rung động nó cứ lên tiếng rằng đây không phải là người đàn ông của đời mình, đây là cuộc xô đẩy của chiến tranh, của bom đạn giặc giã nước lụt bụi cây sạp xuồng [21, tr.52]
Sau chiến tranh, đời sống hôn nhân của Mỹ Tiệp đáng lẽ phải hạnh phúc lắm vì cả hai đều đi ra từ chiến tranh Nhưng không! Mỹ Tiệp càng ngày càng cay đắng khi phải chung sống dưới một mái nhà với người chồng cằn cỗi, một người đàn ông suốt đời cung cúc phục vụ công việc trong phác thảo về sự nghiệp: Phó thì cố mà lên trưởng, là công chức thì phải cố gắng mà phấn đấu vì
sự nghiệp Vì vậy, anh ta ham mê viết báo cáo để thăng chức hơn là ngắm nhìn
vợ Không chỉ có thế, trong hai lần vợ sinh con, ông bố này, người chồng này
đã sẵn sàng bỏ mặc vợ sinh nở một mình giữa cơn đau vật vã chỉ để đến công
sở cho kịp giờ làm Anh lạnh lùng tới tàn nhẫn khi bỏ mặc vợ nằm trong phòng
sản phụ một mình trơ ra như một con mẹ hoang thai dơ dáy Và rồi, khai sinh
cho đứa con gái đầu lòng cũng sai ngày… Khi đưa vợ đi làm kế hoạch, anh
Trang 38cũng chỉ dừng xe ở cổng bệnh viện rồi ngay lập tức đến cơ quan mặc cho vợ
một mình chiến đấu với mọi công đoạn Đi làm về, anh ta sộc ngay xuống
chuồng heo như anh ta mong gặp chúng lắm, mong hơn cả gặp vợ con, rồi anh tắm cho chúng, rồi dọn phân… Đi công tác về, thay vì ân cần hỏi han vợ con thì anh tỏ vẻ nhớ con heo lắm, anh biết yêu đàn heo và săm sắm với chúng hơn
là nựng con bởi nó mang lại “niềm vui thực tế Chưa lần nào Tiệp thấy Tuyên
tung Vĩnh Chuyên lên hay để nó ngồi trên vai như những người đàn ông sung sướng với con trai [21, tr.72], ít khi đùa giỡn với các con trong khi anh ta suốt ngày săm sắn với lũ heo Chừng ấy chi tiết thôi đã đủ giúp cho ta hình dung
phác họa về một người cán bộ bao cấp mẫu mực, chỉn chu nhưng là người chồng vô trách nhiệm đến tàn nhẫn khôn cùng
Ngay từ những chương đầu tiên của cuốn tiểu thuyết này, nhà văn Dạ Ngân cho người đọc thấy được bi kịch của người đàn bà mang tên Mỹ Tiệp khi chung sống với người đàn ông ti tiện, cằn cỗi là chồng nàng, Hai Tuyên Nhưng Tiệp là một nhà văn Nàng nhìn thấu nguyên nhân và phân tích đúng thực trạng! nàng lại là một con người yêu cuộc sống! nàng lại được thừa hưởng gen sắc sảo, gan góc đến quyết liệt của dòng tộc cách mạng!Thế nên, nỗi đau của nàng trong bối cảnh ấy dường như đau hơn, dai dẳng hơn và dằn vặt nàng hơn
Để rồi Mỹ Tiệp dám nói Tôi với anh bị chiến tranh đưa đẩy tôi thấy không nên kéo dài cuộc hôn nhân không có tình yêu này [21, tr.81] Ý định này vốn đã
nhen nhóm trong đầu óc người phụ nữ này ngấm ngầm và dai dẳng từ lâu Đã bao lần nàng muốn bóc trần vẻ bề ngoài hào nhoáng yên ổn của gia đình và muốn một cuộc chiến tranh ngay lập tức Song, người phụ nữ ấy lại đấu tranh, lại dằn vặt Sự giằng xé trong Mỹ Tiệp đã âm ỉ và thôi thúc nàng và chỉ trực trào ra Hình ảnh Mỹ Tiệp trở thành mẫu người phụ nữ “xã hội” hơn rất nhiều: Giữa những thập niên 80-90 mà dám đơn phương ly hôn với người chồng giữa hàng loạt tư tưởng khe khắt của xã hội còn tồn tại nhiều định kiến, giữa hàng loạt búa rìu dư luận, giữa vòng vây của gia tộc…, dám nói thẳng nói thật về
Trang 39cuộc sống vợ chồng hoàn toàn không bắt nguồn từ chân xác rung động của tình yêu mà chỉ là sự gán ghép của con tạo Mỹ Tiệp, nhà văn, nhân vật nữ chính dám nhìn thẳng vào cuộc hôn nhân của mình và dám nói lên tiếng nói của lòng mình trong thời kì ấy, quả là dũng cảm!
Người đọc đã bắt gặp hình ảnh người phụ nữ ấy trong truyện ngắn Con chó và vụ ly hôn (1985) của Dạ Ngân, lần đầu tiên chị đã thẳng thắn đến thành
thật khi bóc trần những chuyện khó nói trong đời sống vợ chồng Điều đó trở
thành điều luôn trăn trở với Dạ Ngân Tuy vậy, phải đến tiểu thuyết Gia đình
bé mọn tác giả mới thể hiện năng lực của mình khi dũng cảm soi kĩ vào từng
góc khuất trong đời sống của đôi vợ chồng trẻ với những sóng gió và bão táp ngấm ngầm, một bên là người vợ - Mỹ Tiệp, xông pha và can trường, còn một bên là người chồng - Hai Tuyên quá đỗi tiểu nhân, ti tiện và sặc mùi chức quyền Bi kịch của Mỹ Tiệp giữa đời thường, khi mà mọi thứ cảm giác rất yên
ổn với cái vỏ bọc của nó thì nàng vẫn cứ chông chênh Khi những xung đột giữa hai con người, hai tính cách, hai luồng tư tưởng ngày càng sâu đậm thì nỗi đau của nàng càng khốc liệt Chứng kiến cuộc cãi vã bùng nổ giữa hai vợ
chồng khi Tiệp không còn chịu đựng nổi người đàn ông ấy Tiệp đứng chết trân thấy rõ cuộc chiến tranh này tàn khốc hơn cuộc chiến đã lấy đi tuổi trẻ của nàng và Tuyên” [21, tr53]
Như vậy, độc giả được gặp một Mỹ Tiệp - phụ nữ hiện đại khi nàng không còn dấu vết của người đàn bà cam chịu và tự hứng chịu và dầy vò nỗi đau đớn tinh thần một mình để giữ cho mái ấm bề ngoài yên ổn, mà nàng gan góc, dũng cảm nói to lên sự thật về mái ấm gia đình đang đổ vỡ Bởi trong gia đình đó, nàng một mình xoay xỏa cáng đáng việc lớn việc bé mà không được sự sẻ chia của chồng Trong khi đó, anh chồng bàng quan, chỉ mỗi việc nhăm nhe tiến thủ
với học viện, với nếp sống mới con người mới! Ở nơi lắng sâu hơn, người phụ
nữ ấy không được yêu thương trong khi nàng rất ý thức được vấn đề tình yêu
và luôn khao khát yêu thương Mỹ Tiệp đã chiêm nghiệm, đánh giá lại cuộc
Trang 40sống của mình: cuộc hôn nhân không tình yêu của nàng đặt dưới bàn tay chiến tranh giàn xếp chuyện lấy chồng giữa bom đặt ngặt nghèo giữa ranh giới mỏng manh của sự sống và cái chết càng khiến cho cuộc đời và số phận người phụ nữ thêm sóng gió, truân chuyên Bước ra từ chiến trường khốc liệt, con người sống trong cuộc sống hòa bình lại bị thất bại, mà thất bại ngay trong gia đình bé nhỏ của mình! Đây chẳng phải bi kịch đó sao? Sự mất mát, hụt hẫng và tổn thương
to lớn trong tâm hồn con người càng in hằn một dấu ấn sâu đậm, càng xoáy sâu vào bi kịch hạnh phúc của con người giữa đời thường, dù không còn tiếng bom rơi đạn lạc song vẫn chẳng kém phần dữ dội, bi thương
2.1.2 Cái tôi trong mối quan hệ với chính nó
Bằng việc xây dựng hình tượng nhân vật người phụ nữ trong Gia đình bé mọn, Dạ Ngân đã cho thấy sự tổn thương của nhân vật trước những đổ vỡ lớn
lao không dễ gì bù đắp của chiến tranh Chính chiến tranh là nguyên nhân, mà nạn nhân không chỉ là Mỹ Tiêp mà còn đối với cả gia đình lớn của nàng từ cô Ràng thủ lĩnh - em ruột của ba Mỹ Tiệp đến chị Hai Hoài, Mỹ Nghĩa và cô em
Mỹ Út Họ là tập thể những những người phụ nữ bất hạnh đi ra từ chiến tranh,
và tự lo lắng cho nhau khi tất cả đều thiếu vắng người đàn ông Cái dáng cắm cúi chật vật đau khổ của Hai Hoài với thâm niên một thập kỉ ở góa, cái sự quả
quyết của thủ lĩnh Tư Ràng một mình chèo lái con thuyền gia tộc giữa cơn chớp bể với quyền sinh quyền sát thay chỗ cho người đàn ông Hình tượng nhân vật cô Tư Ràng vừa khắc họa chân dung của những người phụ nữ miệt vườn cứng cỏi, quyết đoán, vừa để lại dư vị xót xa cho thân phận con người mà chồng, con họ mãi mãi nằm lại chiến trường Trong gia đình ấy, họ - những người đàn bà can trường vừa thế việc đàn ông, vừa phải hứng chịu cảm giác mất mát Họ là những thế hệ đều dính vào bi kịch góa bụa, vì thế họ trở nên cực đoan trong tâm hồn Trong tập thể góa bụa ấy, chỉ có Mỹ Tiệp là niềm hy vọng
vì nàng có tấm chồng công chức mẫn cán đàng hoàng Thế nên sống giữa vòng vây điệp trùng của các bà góa, cô góa, má góa, chị góa, cô em út cũng góa, tạo