1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thiên nhiên trong quốc âm thi tập và ức trai thi tập của nguyên trãi từ góc nhìn sinh thái

117 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Thiên Nhiên Trong “Quốc Âm Thi Tập” Và “Ức Trai Thi Tập” Của Nguyễn Trãi Từ Góc Nhìn Sinh Thái
Tác giả Lê Thị Thảo
Người hướng dẫn TS. Trần Hải Yến
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Lịch sử vấn đề (0)
  • 3. Đố i tươ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cứu (10)
  • 4. Ý nghĩa khoa ho ̣c và thực tiễn của đề tài nghiên cứu (10)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (10)
  • 6. Kết cấu đề ta ̀i (11)
  • Chương 1 (12)
    • 1.1. Gia ̉n lươ ̣c về phê bình sinh thái và những khả năng của nó trong nghiên cứu văn học Việt Nam (12)
    • 1.2. Thiên nhiên trong đời sống tinh thần Việt Nam thời trung đại (19)
    • 1.3. Hai thi tập và những chặng đời của Nguyễn Trãi (25)
  • Chương 2 (30)
    • 2.1. Hệ sinh vật trong QATT và UTTT (30)
    • 2.2. Như ̃ng chuyển vâ ̣n của thế giới tự nhiên (45)
    • 2.3. Nơi chố n trong thơ Nguyễn Tra ̃i (53)
  • Chương 3 (70)
    • 3.1. Thiên nhiên – một môi sinh thuần khiết, lý tưởng (70)
    • 3.2. Thiên nhiên - chuẩn mư ̣c đa ̣o đức, thẩm mỹ (74)
    • 3.3. Thiên nhiên - đố i tươ ̣ng tu ̣ng ca, thưởng ngoa ̣n (78)
  • PHỤ LỤC (93)

Nội dung

Đố i tươ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cứu

Đối tượng của đề tài này là những tác phẩm thơ ca viết về thiên nhiên hoặc thể hiện hình ảnh của thế giới tự nhiên, tập trung vào hai thi tập "Quốc âm thi tập" và "Ức Trai thi tập" của Nguyễn Trãi.

Khảo sát này sẽ tập trung vào việc tìm hiểu thiên nhiên như một môi trường sống và mối quan hệ tương tác giữa thiên nhiên và tác giả.

- Phạm vi tư liê ̣u: Chúng tối sử du ̣ng các bài thơ trong hai công trình sau:

Quố c âm thi tập - Nguyễn Trãi, phiên âm và chú giải, củ a nhà nghiên cứ u Pha ̣m Luận, Nxb Giáo du ̣c – Hà Nô ̣i, năm 2012

Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Văn hóa thông tin – Hà Nô ̣i, năm 2011.

Ý nghĩa khoa ho ̣c và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Mục đích của chúng tôi khi thực hiện đề tài này là tìm hiểu thiên nhiên trong hai tập thơ của Nguyễn Trãi từ góc nhìn của phê bình sinh thái Hướng đi này hứa hẹn mở ra cách hiểu mới cho những tác phẩm văn học cổ điển, đồng thời mang lại những bài học quý giá về việc bảo vệ và tạo lập ý thức về một môi sinh tốt đẹp cho con người cả về vật chất lẫn tinh thần Đây chính là những đóng góp mà chúng tôi hy vọng có thể mang lại sau khi thực hiện đề tài này.

Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết tốt mu ̣c tiêu của công trình, trong quá trình thực hiê ̣n chú ng tôi tiến hành kết hơ ̣p các phương pháp sau:

- Phương pháp văn ho ̣c sử

- Phương pháp hê ̣ thống-cấu trúc

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp thống kê, phân loa ̣i

- Phương pháp Phê bình sinh thái trong văn ho ̣c

Kết cấu đề ta ̀i

Luận văn “Tìm hiểu thiên nhiên trong Quốc âm thi tập và Ước Trai thi tập của Nguyễn Trãi từ góc nhìn sinh thái” được cấu trúc gồm 3 chương, bên cạnh phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo.

Chương 1: Những vấn đề liên quan đến đề tài

Chương 2: Môi trường thiên nhiên trong QATT và UTTT

Chương 3: Triết lí môi sinh của Nguyễn Trãi

Gia ̉n lươ ̣c về phê bình sinh thái và những khả năng của nó trong nghiên cứu văn học Việt Nam

Con người có nguồn gốc tự nhiên và qua quá trình tiến hóa, đã dần trở thành cá thể độc lập, đánh dấu sự biến đổi trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Ở thời kỳ đầu, do chưa hiểu rõ về quy luật vận hành của trời đất và các hiện tượng tự nhiên, con người nguyên thủy sống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, nhìn nhận nó với sự khiếp sợ và thành kính.

Thần thoại suy nguyên và ý thức hệ thần linh chủ nghĩa phản ánh rõ nét trình độ tư duy, khả năng phân tích và cách ứng xử của con người với tự nhiên trong thời kỳ đó.

Quá trình lao động sản xuất ngày càng giúp con người hiểu rõ hơn về tự nhiên, từ việc sợ hãi trở thành khả năng sống hài hòa với môi trường xung quanh.

Trong thời kỳ trung đại, con người không tách rời khỏi tự nhiên vì họ chủ yếu sống bằng nông nghiệp Họ chưa xem tự nhiên là đối tượng để khai thác, mà sống hài hòa trong mối quan hệ "nhất thể" Văn học trung đại, đặc biệt là các tác phẩm về đồng quê, đã thể hiện rõ mối quan hệ "thiên nhân tương dữ" và "thiên địa vạn vật nhất thể".

Sự xuất hiện đầu tiên của khoa học kỹ thuật trong thời kỳ Phục hưng đánh dấu một bước phát triển nhảy vọt của nhân loại trong việc khám phá thiên giới Điều này cho phép con người thoát khỏi nỗi sợ hãi thế giới thần linh, nhận ra khả năng của bản thân và đặt mình vào trung tâm của các giá trị Cách ứng xử với tự nhiên cũng đã thay đổi theo Tuy nhiên, chỉ đến thế kỷ Ánh sáng, khi tư duy lý tính lên ngôi và khoa học kỹ thuật phát triển thêm một bước, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên mới thực sự có sự biến đổi lớn Con người bắt đầu coi thiên nhiên như một khách thể mà mình có thể chiếm lĩnh, chinh phục và thống trị.

Sự phát triển của cư dân thành phố với tư duy mới, duy lý đã làm thay đổi cách cảm nhận thiên nhiên truyền thống Trong bối cảnh văn minh đô thị, con người ngày càng ít phụ thuộc vào nhịp sống tự nhiên, tách biệt hơn với môi trường xung quanh, và bắt đầu xem thiên nhiên như một đối tượng bên ngoài.

Sự tác động của con người lên thế giới tự nhiên ngày càng rõ rệt, dẫn đến nhiều hiện tượng biến đổi nguy hiểm, đe dọa sự tồn tại của chính nhân loại Đây chính là "sự trả thù của giới tự nhiên" trước những tàn phá mà con người đã gây ra.

Ănghen đã chỉ ra rằng con người không thể thống trị tự nhiên như một kẻ xâm lược, vì chúng ta thực sự nằm trong lòng tự nhiên Sự thống trị của con người chỉ có thể đạt được khi chúng ta hiểu và áp dụng đúng các quy luật của tự nhiên Tuy nhiên, chúng ta không nên tự mãn với những thành công trước tự nhiên, vì mỗi chiến thắng đều có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng từ tự nhiên.

Nguy cơ sinh thái được coi là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với sự sống của con người trong thế kỷ XX Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ, nguyên nhân của nguy cơ này không xuất phát từ bản thân hệ sinh thái mà từ hệ thống văn hóa của con người Cụ thể, cách ứng xử và tương tác của con người với môi trường thiên nhiên đã dẫn đến sự ra đời của khoa sinh thái học, trong đó phê bình sinh thái đóng vai trò quan trọng.

Sinh thái học (Ecology) ra đời vào giữa thế kỷ XX, với thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, bao gồm hai thành phần chính.

Sinh thái học, từ "Oikos" chỉ nơi sinh sống và "Logos" là học thuyết, được hiểu là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường xung quanh Nó không chỉ đơn thuần là khoa học về nơi ở mà còn là học thuyết về sự tương tác giữa sinh vật và môi trường, chính là môn học về môi sinh (Environmental Biology).

[14, 18] Vai trò của môn khoa học này nhanh chóng được khẳng định ở cả lí luận và thực tiễn Cụ thể là:

Sinh thái học cung cấp cho con người cái nhìn sâu sắc về bản chất của sự sống và mối tương tác với môi trường Điều này giúp hình thành nguyên tắc và định hướng cho các hoạt động của con người đối với thiên nhiên, nhằm phát triển một nền văn minh hiện đại hơn.

Sinh thái học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, kiểm soát và tiêu diệt dịch bệnh, bảo vệ sự sống của các sinh vật, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo sự phát triển bền vững cho tất cả các loài, bao gồm cả con người.

Hệ sinh thái bao gồm sinh thái học tự nhiên và sinh thái học nhân văn, trong đó con người được nghiên cứu về nguồn gốc, sự thích nghi và tương tác với các yếu tố tự nhiên Trong sinh thái học nhân văn, mối quan hệ giữa con người và sự tác động lẫn nhau trong môi trường sống, cũng như giữa môi trường xã hội và tự nhiên, được phân tích Tính nhân văn của môi trường thể hiện qua dấu ấn mà con người để lại trên thế giới tự nhiên Vào những năm 70 của thế kỷ 20, trước cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu, Chủ nghĩa Sinh thái ra đời, được đánh dấu bởi Tuyên ngôn môi trường nhân loại tại Hội nghị môi trường Liên Hợp Quốc.

Vào năm 1972, Quốc hội đã thông qua một văn bản quan trọng, nhấn mạnh về nguy cơ của cuộc khủng hoảng môi trường chưa từng có trong lịch sử nhân loại Văn bản này đã mở ra một cuộc thảo luận sâu rộng về những thách thức mà con người phải đối mặt liên quan đến bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Thiên nhiên trong đời sống tinh thần Việt Nam thời trung đại

Trong thời kỳ trung đại Việt Nam, nông nghiệp là nguồn sống chính, khiến con người phải hòa hợp với thiên nhiên để tồn tại và phát triển Sự kết nối này được thể hiện rõ ràng trong hệ thống tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo, ba hệ tư tưởng quan trọng đối với các hoạt động tinh thần, bao gồm cả văn chương nghệ thuật của người Đông Á thời trung đại.

Trước hết là Phật giáo: đây là hê ̣ tư tưởng, tôn giáo có vị trí tối trọng ở

Phật giáo Thiền tông tại Việt Nam nổi bật với khả năng hòa hợp các tín ngưỡng và tôn giáo khác, tạo nên một cộng đồng môn đệ đông đảo Tư tưởng chủ đạo của Phật giáo là khuyến khích con người sống thiện lành và an vui trong thực tại Triết học Phật giáo nhìn nhận các hiện tượng vũ trụ là sự tương tác và hỗ trợ lẫn nhau, với khái niệm “Duyên khởi” từ Kinh Tạp A Hàm, định nghĩa rằng mọi sự vật tồn tại nhờ vào điều kiện và nguyên nhân Điều này có nghĩa là sự vật sẽ biến mất khi các điều kiện và nguyên nhân không còn Tất cả mọi thứ trong vũ trụ đều “vô thường”, luôn thay đổi và tồn tại trong mối quan hệ nhân-quả, thể hiện một quá trình liên tục và không ngừng biến đổi.

Phật giáo là tôn giáo không công nhận sự tồn tại của một đấng tối cao chi phối cuộc sống con người, mà nhấn mạnh vào luật Nhân – Quả Theo đó, Nhân là nguyên nhân và Quả là kết quả, nghĩa là hành động thiện sẽ mang lại phúc, trong khi hành động ác sẽ dẫn đến báo ứng Tất cả mọi vật trong vũ trụ đều liên kết và chịu sự chi phối của luật Nhân – Quả này.

Con người, giống như mọi sinh vật khác, là một phần của thế giới tự nhiên và không thể tồn tại tách biệt với nó Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên là gắn bó khăng khít, thể hiện qua quá trình Duyên khởi, nơi con người tham gia vào sự biến đổi không ngừng Mục đích tối thượng của sự tham gia này là duy trì mối quan hệ hài hòa và nương tựa lẫn nhau trong hệ sinh thái.

Một quan niệm quan trọng trong tư tưởng Phật giáo là bình đẳng phổ biến, thể hiện qua ý niệm “Chúng sinh tuy không giống nhau nhưng đều có phật tính” Sự bình đẳng này không chỉ giữa con người với nhau mà còn giữa con người với các sinh loại khác và với vật cảnh Tất cả mọi vật trong vũ trụ, dù có sinh mệnh hay không, đều có giá trị tồn tại bình đẳng nhờ vào Phật tính bên trong Quan điểm bình đẳng phổ biến của Phật giáo có thể được coi là nguyên tắc cân bằng của hệ sinh thái.

Mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong Phật giáo gắn liền với chủ trương “Phá ngã chấp, đoạn tham dục”, nhằm hướng con người tới Chân – Thiện – Mỹ để đạt được giác ngộ Giáo lý của Phật giáo, thông qua “Ngũ giới” và “Thập thiện”, nhấn mạnh nguyên tắc không sát sinh như một chuẩn mực đạo đức quan trọng “Ngã chấp” được coi là nguồn gốc mọi điều ác, trong khi “tham dục” là nguyên nhân gây đau khổ cho chúng sinh Do đó, việc không sát sinh không chỉ là một điều cấm mà còn là một giá trị đạo đức cao cả trong Phật giáo Kết hợp với thuyết Duyên khởi và luật nhân - quả, quan điểm của Phật giáo về mối quan hệ con người với sinh vật trở nên rõ ràng hơn, với việc khuyến khích ăn chay, niệm Phật, phóng sinh và hộ sinh.

Theo quan điểm của Phật giáo, con người là một phần không thể tách rời của thế giới tự nhiên, vừa là "quả" của tự nhiên vừa là "nhân" tham gia vào quá trình biến đổi của nó Điều này nhấn mạnh rằng con người, giống như các thành phần khác của tự nhiên, có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ cũng như duy trì sự cân bằng của môi trường thông qua hành vi ứng xử bình đẳng và hòa hợp.

Trong nền văn học trung đại Việt Nam, thơ ca thời Lý chủ yếu mang ảnh hưởng của Phật giáo, đặc biệt là thơ Thiền Thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện các triết lý Thiền, vì các thi sĩ thường truyền đạt quan niệm Phật giáo một cách tinh tế, không sử dụng lời lẽ khô khan hay trực tiếp.

Họ thể hiện những “bùng vỡ giác ngộ tâm phật” thông qua thiên nhiên, nhưng cũng có những tài năng vượt qua giới hạn đó để sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật độc đáo Một ví dụ tiêu biểu là tác phẩm “Cáo tật thị chúng” của thiền sư Mãn Giác.

Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá, Lão tùng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Xuân qua trăm hoa rụng, Xuân tới trăm hoa cười

Trước mắt việc đi mãi, Trên đầu già đến rồi Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết, Đêm qua sân trước một nhành mai

Hình ảnh thiên nhiên trong thơ của thiền sư Mãn Giác là nhành mai thanh cao, biểu trưng cho tinh thần vô úy và phi cứu cánh của đạo Phật Cành mai tươi đẹp không chỉ thể hiện sự đam mê, ham sống của con người mà còn phản ánh thế giới hữu hạn, đầy siêu thoát và bí ẩn Khi được hỏi về vấn đề chính trị trừu tượng, nhà sư Pháp Thuận đã khéo léo trả lời vua Lê Đại Hành bằng những câu thơ giản dị và tự nhiên.

Quốc tộ như đằng lạc,

Nam thiên lí thái bình

Vô vi cư điện các,

Xứ xứ tức đao binh

Vận nước như dây leo quấn quít, Trời Nam mở nền thái bình

Hãy dùng phép vô vi ở nơi cung đình, Thì mọi chốn đều dứt hết đao binh

Nhà sư so sánh vận nước với cây đằng lạc, thể hiện sự vững chãi và bền lâu của nền thái bình xã tắc Hai tác phẩm trên nhấn mạnh vai trò quan trọng của thiên nhiên trong văn chương Phật giáo, tuy nhiên, sự tồn tại của nó trong trạng thái tự thân lại rất hiếm hoi.

Thời Trần, văn chương phát triển mạnh mẽ nhờ sự tham gia của đội ngũ tri thức nhà Nho và sự dung hòa của tam giáo Không khí đánh giặc và chiến thắng ngoại xâm đã tạo điều kiện thuận lợi cho văn chương thời kỳ này Các thi sĩ thời Thịnh Trần luôn mở rộng tâm hồn để kết nối với non sông, đất nước và thời đại, từ đó, lời ca của họ thể hiện niềm vui chung của dân tộc trong công cuộc xây dựng đất nước và những kỳ tích lừng lẫy, tạo nên "hào khí Đông A" một thời.

Bắt đầu từ đây, Nho giáo dần chiếm lĩnh đời sống tinh thần của người Đại Việt, với học thuyết đạo đức đề cao việc "tu thân" nhằm đảm bảo trật tự xã hội Mối quan tâm chính của Nho giáo là duy trì trật tự xã hội con người, nhưng con người không thể tách rời khỏi những tương tác với thế giới bên ngoài, bao gồm vũ trụ và thế giới tự nhiên Do đó, Nho giáo đã mở rộng hệ thống triết lý của mình, tiếp thu các triết thuyết khác, và đến thế kỷ XI, đã hình thành một thế giới quan hoàn chỉnh.

Trong triết lý Nho giáo, con người được xem là sự kết nối giữa thiên nhiên và thế giới bên ngoài, thể hiện qua quan hệ chủ - khách Con người phải kính trọng trời đất, nhưng đồng thời cũng có sự tương tác mạnh mẽ với chúng Nho giáo nhấn mạnh tính lưỡng phân, cho rằng tự nhiên không chỉ là một thực thể tách biệt mà còn là một phần hòa hợp với con người Đỗ Duy Minh, một học giả nổi tiếng, cho rằng trạng thái “trung” của tâm hồn giúp con người đạt được sự hòa hợp với thiên nhiên, mặc dù vẫn tồn tại một khoảng cách nhất định giữa con người và thế giới tự nhiên Điều này khẳng định rằng con người cần phải hòa hợp và sống chung với thiên nhiên thay vì tách biệt khỏi nó.

Nho giáo nhấn mạnh trật tự thứ bậc nhưng đồng thời cũng hướng đến sự hài hòa giữa âm dương và ngũ hành Nguyên lý “thiên địa vạn vật nhất thể” thể hiện rõ trong mối quan hệ của con người với thiên nhiên, phản ánh trong suy nghĩ và thực hành của người theo Nho giáo.

Hai thi tập và những chặng đời của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi (1380-1442) sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học và đã thi đỗ Thái học sinh khi mới 20 tuổi Khi Hồ Quý Ly lên ngôi, ông cùng cha là Nguyễn Phi Khanh đã nhận chức quan trong triều đình nhà Hồ Nguyễn Trãi đã đóng góp tích cực cho chính quyền này.

Hồ Quý Ly thực hiện nhiều chính sách cải cách mới, nhưng khi những cải cách còn dang dở, nhà Hồ bị giặc Minh xâm lược vào năm 1407 Cha của Nguyễn Trãi bị bắt sang Trung Quốc, và Nguyễn Trãi theo hầu cha để thể hiện lòng hiếu thảo Trên đường đi, ông nhận được lời khuyên từ cha rằng “Con lập chí, rửa thẹn cho nước, trả thù cho cha như thế mới là đại hiếu.” Những lời dặn dò này đã khắc sâu trong tâm trí Nguyễn Trãi, khiến ông quyết tâm trở về để báo thù cho nước và cho cha Trong bối cảnh cuộc khởi nghĩa của phái hậu Trần và sự dụ dỗ của giặc Minh, Nguyễn Trãi rơi vào trạng thái hoang mang.

Trong khoảng thời gian “Mười năm tìm minh chủ” (1407-1416), Nguyễn Trãi phải đối mặt với nhiều khó khăn lớn lao khi cha ông bị bắt, đất nước bị tàn phá, gia đình bị giết hại, và lý tưởng trung quân không được thực hiện Sự bế tắc này đã khiến ông tìm về với thú điền viên, nơi mà ông đã sáng tác nhiều bài thơ, chủ yếu mang tâm trạng buồn bã nhưng vẫn thể hiện được tinh thần kiên cường và tráng chí.

Nguyễn Trãi đã tìm thấy minh chủ khi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, thể hiện rõ ý thức dân tộc và lòng yêu nước mãnh liệt của ông Tham gia khởi nghĩa, Nguyễn Trãi trải qua những ngày vinh quang và ý nghĩa nhất trong cuộc đời Ông đã dâng "Bình Ngô sách" với chiến lược "tâm công" - đánh vào lòng người bằng nhân nghĩa, được Lê Lợi chấp nhận và xem như tâm phúc Trong suốt 10 năm khởi nghĩa, Nguyễn Trãi đã hỗ trợ Lê Lợi trong việc soạn thảo thư từ và mệnh lệnh, thực hiện chiến lược thuyết phục giặc quy hàng.

Sau khi khởi nghĩa Lam Sơn kết thúc, Nguyễn Trãi đã thay Lê Lợi viết tác phẩm "Bình Ngô đại cáo" với niềm tự hào vô bờ, tạo nên một kiệt tác văn chương bất hủ.

Sau khi chiến tranh kết thúc, nhiều người tưởng rằng sẽ chỉ còn niềm vui, nhưng Nguyễn Trãi lại trở thành nạn nhân của sự nghi ngờ từ chính vua Lê Thái Tổ, người từng coi ông như báu vật trong thời kỳ kháng chiến Dù đã chiến đấu suốt 10 năm, vị lãnh tụ Lê Lợi giờ đây lại nghe theo lời nịnh thần và hoài nghi tấm lòng trung thành của Nguyễn Trãi.

Triều đình đã sát hại nhiều công thần như Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo, và giam giữ Nguyễn Trãi, người trung thành, khiến ông không còn được vua tin dùng như trước Trong thời gian làm quan danh, Nguyễn Trãi sống nhàn tản, chỉ đọc sách, làm thơ, thưởng thức trà, trồng cúc, ngắm hoa và trăng, cùng những chuyến du lịch đến các di tích lịch sử Những trải nghiệm này được ghi lại trong tác phẩm UTTT, thể hiện niềm tự hào về non sông và lịch sử hào hùng của dân tộc, đồng thời bộc lộ nỗi lòng của một bậc kỳ tài bị lãng quên.

Nguyễn Trãi, mặc dù luôn tận tâm với xã tắc, nhưng không có đóng góp quan trọng nào Theo một số tài liệu, vào khoảng cuối năm 1437 và đầu năm, ông vẫn chưa thể hiện được những thành tựu đáng kể cho đất nước.

1438 không thể chịu được cảnh: “Nhà quan lại ngỡ cảnh chùa sâu”, Nguyễn

Nguyễn Trãi đã trải qua giai đoạn khó khăn và đau đớn khi trở về Côn Sơn, nơi ông cảm thấy bế tắc trước cuộc đời đầy tráo trở Tại quê hương, ông lẩn mình vào thiên nhiên và cuộc sống nông thôn giản dị bên những người lao động nghèo nhưng trong sạch Cuộc sống thanh bạch và mộc mạc ở đây phản ánh bản chất của chính ông Với tình yêu thiên nhiên và tâm hồn nghệ sĩ đa cảm, Nguyễn Trãi đã sáng tác nhiều tác phẩm thơ ca, chủ yếu bằng chữ Nôm, trong thời gian sống tại Côn Sơn, nơi mà QATT ra đời.

Khi vua Lê Thái Tông lên ngôi và nhận ra tài năng của Nguyễn Trãi, ông đã được mời làm quan, thể hiện niềm vui và sự hạnh phúc qua bài thơ “Biểu tạ ơn” Tuy nhiên, niềm vui ngắn ngủi khi Nguyễn Trãi phải đối mặt với vụ án oan Lệ Chi viên, dẫn đến cái chết bi thảm của ông Phạm Văn Đồng đã chỉ ra rằng cái chết của Nguyễn Trãi là một bi kịch lớn, phản ánh sự bất công trong triều đình nhà Lê.

Nguyễn Trãi, sau khi đất nước yên bình, thể hiện tấm lòng nhân nghĩa, trung trực và thanh liêm, nhưng cũng chính những phẩm chất này đã dẫn đến bi kịch đau thương của ông, khi tru di ba họ Hai tập thơ UTTT và QATT phản ánh hai giai đoạn khác nhau trong cuộc đời ông: một bên là thời kỳ huy hoàng, oanh liệt của vị anh hùng, bên kia là quãng đời buồn tủi của một trung thần quan Tuy nhiên, hai thi tập này không đối lập mà hòa quyện để thể hiện hình ảnh một vĩ nhân với nhiều tư cách trong một nhân cách cao đẹp.

Thiên nhiên không chỉ là môi trường sống của con người mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca Điều này được thể hiện rõ trong nhận thức của những người đề xướng và phát triển phê bình sinh thái, đặc biệt là trong lĩnh vực văn chương.

Trong thời kỳ trung đại Việt Nam, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên bị ảnh hưởng rõ rệt bởi hệ thống tư tưởng Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo Mặc dù ba tư tưởng này có quan niệm khác nhau về vị thế và vai trò của con người đối với thế giới bên ngoài, nhưng đều công nhận thiên nhiên có vị trí quan trọng và khuyến khích con người thiết lập, duy trì mối quan hệ hài hòa với thiên nhiên vì sự tồn tại và phát triển của chính mình Điều này tạo cơ sở để tiếp cận hiện đại về phê bình sinh thái trong văn chương có thể được nhìn nhận đa diện hơn.

Chúng tôi đã chọn hai tác phẩm QATT và UTTT của Nguyễn Trãi cho cuộc khảo sát này Mỗi tác phẩm được sáng tác trong bối cảnh và thời điểm khác nhau, sử dụng ngôn ngữ đa dạng Tuy nhiên, điểm chung nổi bật giữa chúng là hình ảnh thiên nhiên, đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và nghệ thuật của tác giả.

Hệ sinh vật trong QATT và UTTT

Trong hai tập thơ của Nguyễn Trãi, có thể tìm thấy một cuốn từ điển nhỏ về các loài sinh vật quen thuộc và lạ lẫm Tác giả không chỉ chú trọng đến hệ sinh vật biểu tượng trong văn học trung đại mà còn đưa vào những sinh vật lạ, gần gũi với đời sống và lao động sản xuất của người bình dân Mỗi tập thơ được sáng tác trong những bối cảnh và tâm thế khác nhau, tạo nên những phản ánh độc đáo và riêng biệt về thế giới tự nhiên.

2.1.1 Hệ thực vâ ̣t trong QATT và UTTT Điểm trùng hợp về hê ̣ thực vâ ̣t trong QATT và UTTT chính là những loại cây mang tính biểu tượng thường gă ̣p trong văn ho ̣c cổ Nói đến tùng-trúc- cú c-mai là nói đến những phẩm chất cao quý, tố t đe ̣p của người quân tử Đây là một đă ̣c điểm thi pháp của văn ho ̣c trung đa ̣i, các tác giả thường đồng nhất hoàn toàn các hiê ̣n tươ ̣ng cuô ̣c sống vào mô ̣t số hình ảnh tiêu biểu Trong QATT, trú c đươ ̣c nhắc 20 lần; tùng: 3 lần; cúc: 10 lần; mai: 19 lần Trong

UTTT, trú c: 17 lần; tùng: 7 lần; cúc: 6 lần; mai: 6 lần còn la ̣i là sen, rêu, cỏ, liễu…

Trong tác phẩm UTTT, Nguyễn Trãi đề cập đến trúc 17 lần, mỗi lần đều góp phần tạo nên bức tranh phong cảnh độc đáo của tác giả Những hình ảnh về trúc có thể là cảnh vật mà tác giả đã chứng kiến, ghi lại, hoặc là những giấc mơ và nỗi nhớ khi xa quê hương.

Trong bài Du sơn tự, trúc là một nét vẽ được ta ̣o ra với ba không gian: nước-chùa-mây: Đoản trạo hê ̣ tà dương

Thông thông yết thượng phương

Vân quy thiền tháp lãnh

Hoa lạc giản lưu hương

Nhật mộ viên thanh cấp

Sơn không trúc ảnh trường

Cá trung chân hữu ý, Dục ngữ hốt hoàn vương

Thuyền nhỏ ánh xiên quai, Chù a non chóng tới nơi

Mây về hơi chiếu la ̣nh, Suố i ngát hương hoa rơi

Vươ ̣n tối tiếng kêu gấp, Trú c cao bóng ngả dài

Cảnh trông như có ý, Muố n nói, bỗng quên lờ i

Bức tranh đa cảnh ghi lại cảm xúc sâu sắc của tác giả khi thăm chùa, nơi có cảnh sắc thiên nhiên hữu tình với thuyền nhỏ, mây bay, suối chảy, hương hoa và vườn cây Tất cả những yếu tố này khiến tác giả cảm thấy "cảnh trông như có ý", đắm chìm trong vẻ đẹp của thiên nhiên đến mức quên cả lời nói.

Tác giả khắc họa bức tranh cuộc sống an bình, hòa quyện với thiên nhiên qua hình ảnh núi non, cây cỏ và chim thú, tạo nên khung cảnh tĩnh lặng, nơi con người có thể tìm thấy sự thanh thản giữa cuộc sống bộn bề.

Giai khá ch tương phùng, nhật bão cầm, Cố sơn quy khứ hứng hà thâm

Hương phù ngõa đỉnh phong sinh thụ, Nguyệt chiếu đài cơ, trúc mãn lâm

Tẩy tận trần khâm hoa ngoại mính, Hoá n hồi ngọ mộng chẩm biên cầm

Nhật trường ẩn kỷ kỵ ngôn xứ, Nhân dữ bạch vân thùy hữu tâm

(UTTT- Đề Trình xử sĩ Vân Oa đồ)

Người cảnh cùng cui lựa khúc đàn, Non nhà về ở thú an nhàn

Gió đưa chè ngát cây rung đô ̣ng, Riêu đá giăng soi trúc khắp ngàn

Ngày gô ̣t tâm trần chè gio ̣ng mát, Trưa nằm tỉnh giấc tiếng chim ran

Ngày dài tựa án im hơi tiếng, Mây trắng nhìn ta chửa chắc hơn

Trong một đêm mưa không ngủ được, tác giả nằm tựa gối lắng nghe tiếng mưa rơi, và hình ảnh này hiện lên trong tâm trí khi nửa mơ nửa tỉnh.

Tịch mi ̣ch u trai lý,

Chung tiêu thính vũ thanh

Tiêu tao kinh khách chẩm, Điểm trích sổ tàn canh

Cá ch trúc xao song mật,

Hò a chung nhập mộng thanh

Ngâm dư hồn bất mi ̣, Đoạn tục, đáo thiên minh

Hiu quạnh thư trai vắng, Suố t đêm lắng giọt tranh

Tiêu điều khách tựa gối, Thánh thót điểm tàn canh

Trú c mọc, song như kín, Chuông hồ i, mô ̣ng chẳng thành

Ngâm rồ i, mắt cứ tỉnh, Thứ c ngủ tới bình minh

Trong thi tập, nhiều bài thơ dường như được tác giả xây dựng như những bức tranh phong cảnh, nhằm bộc lộ tâm tư mà ít chú ý đến cảnh sắc thực sự của chúng.

Thế lộ sa đà tuyết thượng điên, Nhất sinh lạc phách, cánh kham liên

Nhi tôn chủng phúc lưu tâm địa, Ngư điểu vong tình, lạc tính thiên

Tảo tuyết chử trà, hiên trúc hạ, Phần hương đố i án ổ mai biên

Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng,

Nguyệt mãn Bình Than, tiểu mãn thuyền

Khú c khuỷu đường đời, tuyết phủ trên,

Một đời lưu la ̣c nghĩ thêm phiền

Cháu con gây phúc cần nơi ở, Chim cá vô tình mới tự nhiên

Quét tuyết nấu chè, hiên trúc ngả, Đố t trầm tựa án vách mai liền

Non xưa đêm trước nhìn trong mộng, Giăng ngâ ̣p Bình Than, rượu ngập thuyền

Bài thơ mô tả sự xuất hiện hiếm hoi của tuyết trong khí hậu nhiệt đới, tạo nên khung cảnh “phi hiện thực” và mang tính chất sách vở Nếu tuyết không có thật, thì hình ảnh “hiên trú” cũng khó xác định thực hay hư Thể thơ và ngôn ngữ trong thi tập được coi là văn chương bác học, dành cho những người được đào tạo bài bản, với cách thể hiện mang tính “điển cố, điển tích” Khi nhắc đến “trúc”, người đọc có thể hiểu ngay mục đích thể hiện của tác giả Do đó, có thể đặt ra nghi vấn về việc tác giả chỉ mượn hình ảnh của trúc để bày tỏ quan điểm và tư tưởng của mình Tác giả dường như đã xây dựng một “thế giới ý niệm” trong thi tập bằng chất liệu từ thế giới tự nhiên.

Trong QATT, có nhiều bài thơ thể hiện hình ảnh tương tự nhau, đặc biệt là hình ảnh tuyết Hình ảnh "đường tuyết" và "thông còn giá in" được lặp lại trong nhiều tác phẩm, tạo nên sự liên kết và cảm xúc chung trong thơ ca.

(QATT – Thời lệnh môn – Tảo xuân đắc ý)

Hay: Sóc phong, bạch tuyết hãy đeo đai

(QATT – Thời lệnh môn – Trừ tịch) Tuyết sóc leo cây điểm phấn

Thơ Đường không chỉ nổi bật với hình ảnh tuyết mà còn thể hiện rõ nét qua cấu trúc nghệ thuật độc đáo Các bài thơ như "Ngôn chí" minh chứng cho sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức, tạo nên sức hấp dẫn riêng biệt trong văn học.

Trong các tác phẩm như bài 12, bài 15, và đặc biệt là bài “Đề hiên mai tuyết của Hoàng ngự sử”, Nguyễn Trãi đã khéo léo liệt kê đầy đủ bộ tứ quý và cung cấp điển tích về chúng Những yếu tố này được sử dụng như những phương tiện hữu hiệu để thể hiện tư tưởng thường thấy trong thơ chữ Hán của tác giả.

Mũ trĩ uy nghi mặt tựa sắt

Không chỉ yêu mai yêu cả tuyết

Yêu mai, yêu tuyết cớ duyên gì,

Cớ duyên tuyết trắng mai thanh khiết Thiên nhiên mai tuyết nghĩ đã kỳ,

Lại thêm cây bách thành tam tuyệt

Làn Phù Tử mang vẻ đẹp như băng giá, nhanh chóng biến thành hạt cát ngọc quỳnh Giữa đêm khuya lạnh lẽo, tiếng ngọc rơi vang vọng, gió từ cửa trăng hiên thổi đến, tạo nên không khí se lạnh.

Vó không có gió mang hương đi, mọi sắc thái đều hòa quyện không phân biệt Lầu ngọc lạnh lẽo, Đông Pha không hề sợ hãi Bể bạc sóng lặng, tĩnh mịch trong lành.

Cử u trùng thương xót đến dân xa, Những điều sai lầm là đươ ̣c bớt

Gió sương thổi ma ̣nh, chuyển hơi may, Thân ở phương nam, lòng cửu khuyết

Phương nam, tháng hợi, ấm như xuân, Trong mộng chỉ hoa là còn thiết

Tâm tình sáng vật xưa có người, Lần trần ở lại theo tiên triết Đông Pha nghĩ trú c không thể không, Liêm Khê yêu sen thêm một thuyết

Từ xưa trời đất khi thu tới, Nhớ Tây Hồ Bá Kiều vịnh nguyê ̣t

Trong QATT, bên cạnh những bài thơ quen thuộc, có hai mục đặc biệt là “Cầm thú môn” và “Hoa mộc môn” viết về các loài động vật và cây cối Mục thơ này thể hiện hình ảnh độc đáo, với chùm bài thơ liên quan đến tùng, trúc, cúc, mai Đặc biệt, hình ảnh trúc được khắc họa nổi bật với những đặc trưng hình thức, đồng thời được tác giả thể hiện như một sinh thể có tâm hồn và cá tính Trúc được chọn làm nhân vật trung tâm, là đối tượng chính trong bài thơ, giúp người đọc, dù là bác học hay bình dân, dễ dàng hiểu được lý do tác giả lựa chọn trúc để thể hiện tư tưởng và quan điểm của mình.

Hoa liễu chiều xuân mang vẻ đẹp hư tình, quyến rũ bởi sắc mày thanh tao Nó từng để lại dấu ấn trong cuộc sống, khiến cho ai cũng phải trân trọng và ghi nhớ.

Danh quân tử tiếng nhiều ngày,

Bảo khách tri âm mới biết hay

Huố ng lại dưng dưng chăng bén tục, Trươ ̣ng phu tiết cứng khác người thay

Trươ ̣ng phu tiết cứng khác người thay

Dưỡng dỗ trời có ý vay

Từ thủa hóa rồng càng la ̣ nữa, Chú a xuân gẫm càng xưa hay

Như ̃ng chuyển vâ ̣n của thế giới tự nhiên

Thiên nhiên trong QATT và UTTT phản ánh sự biến đổi không ngừng của thời gian và sự tuần hoàn vô hạn của tạo hóa, đồng thời thể hiện thế giới tâm tư tình cảm của tác giả qua các mùa: ngày-đêm, xuân-hạ-thu-đông Tuy nhiên, có sự phân định rõ ràng trong cách diễn tả chuyển vận của thời gian giữa hai thi tập Thời gian trong UTTT thiên về thời gian vũ trụ, trong khi thời gian trong QATT tập trung nhiều vào tâm trạng và cảm xúc.

Trong tác phẩm "Thính vũ," Nguyễn Trãi thể hiện sự trôi chảy của thời gian ngày và đêm một cách cụ thể, chi tiết và chậm rãi, mang đến cho người đọc cảm nhận sâu sắc về sự chuyển động của thiên nhiên.

Tịch mi ̣ch u trai lý, Chung tiêu thính vũ thanh

Tiêu đao kinh khách chẩm, Điểm trích sổ tàn canh

Cá ch trúc xao song mật,

Hò a chung nhập mộng thanh

Ngâm dư hồn bất mi ̣, Đoạn tục, đáo thiên minh

Hiu quạnh thư trai vắng,

Suố t đêm lắ ng giọt tranh

Tiêu điều khách tựa gối, Thánh thót điểm tàn canh

Trú c mọc, song như kín, Chuông hồ i mô ̣ng chẳng thành

Ngâm rồ i mắt cứ tỉnh, Thứ c ngủ tới bình minh

Bài thơ thể hiện cảm giác dài đằng đẵng của một đêm không ngủ, nơi tác giả lắng nghe tiếng giọt nước rơi với tâm trạng u uất Mặc dù màn đêm che khuất mọi vật, nhưng những giấc mơ đẹp không thể thành hiện thực vì tiếng chuông vọng lại Tác giả không trực tiếp đề cập đến quá trình tuần hoàn ngày-đêm, nhưng qua cách miêu tả những chuyển động khác, thời gian chuyển biến giữa ngày và đêm hiện lên chậm chạp, phản ánh một quá trình rõ rệt.

Tầm Châu thanh hạ cổ bề thành, khắc chạm hoàn yêm sổ nguyên trình Khê động hưu manh, sơn bát vạn, thú lâu xuy giốc nguyệt tam canh.

Ngạn hoàng sắt sắt bi phong khởi, Giang thủy du du lữ mộng thanh

Lão ngã thế đồ nan hiểm thục

Trung tiêu bất mi ̣ độc thương tình

Tầm Châu trố ng trận phía bên thành,

Vài tháng đường đi khách ta ̣m đình

Dãy núi di dân, vài va ̣n ngo ̣n, Quân đồn ố ng lệnh đã ba canh

Tre xanh trước bến hiu hiu gió, Khách ngu ̣ trên sông thắc mắc tình

Tuổi tác đường đời gian hiểm trải, Đêm khuya chẳng ngủ nghĩ thương mình

Thời gian trong bài thơ được kéo dài không chỉ giữa ngày và đêm mà còn qua nhiều tháng, tạo ra cảm giác chậm rãi Chiều cao được nâng lên bởi những ngọn núi hùng vĩ, không gian mở rộng với hình ảnh "tre xanh trước bến" Qua những chuyến đi và cái nhìn sâu sắc, tác giả nhận thức được sự nham hiểm của cuộc đời và sự già nua của tuổi tác, khiến cho cảm giác "không ngủ được" và "thương mình" xuất hiện Trong khi thời gian ngày-đêm trong UTTT chảy trôi chậm rãi, tạo ra cảm giác uể oải, thì trong QATT, thời gian lại diễn ra nhanh chóng, nhưng không tạo ra sự nhàm chán, bởi tác giả đã khéo léo sử dụng thời gian để thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên, như hình ảnh "Đêm thanh nguyệt hiện ngoài hiên trúc".

Ngày vắng chim kêu cuố i khóm hoa

(QATT - Ngôn chí - bài 17) Đêm có mây, nào quyến nguyê ̣t,

Ngày tuy gió , chẳng bay hương

(QATT - Lão mai) Chè mai đêm nguyệt dâ ̣y xem bóng, Phiến sách ngày xuân ngồ i chấm câu

(QATT - Ngôn chí - bài 2) Đêm thanh hớ p nguyê ̣t nghiêng chén,

Ngày vắng xem hoa bả cây

(QATT - Ngôn chí - bài 11) Đêm thanh hiện nguyê ̣t ngoài hiên trúc

Ngày vắng chim kêu cuối khó m hoa

Ngày nhàn mở quyển xem Chu Di ̣ch Đêm vắ ng tìm mai ba ̣n Lão Bô

Sách cũ ngày tìm người hữu đa ̣o Đìa thanh đêm quyến nguyệt vô tâm

(QATT - Thuật hứng - bài 25)

Ngày xem hoa rú ng chăng cài cửa,

Tối rước chim về mựa la ̣c ngàn

(QATT - Tự thán - bài 25) Ghé cửa đêm chờ hương quế lọt

Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan

Trong bài thơ này, thi nhân không chỉ đơn thuần mô tả thời gian vật chất mà còn mở rộng mọi giác quan để cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên.

Vũ trụ tuần hoàn được thể hiện qua sự đổi thay của các mùa trong năm, mà nhà thơ Nguyễn Trãi đã tinh tế quan sát thiên nhiên, đặc biệt là hình ảnh "Đông về tiết muộn mai nhiều bạt." Sự chuyển mình của mùa đông không chỉ mang đến cái lạnh mà còn gợi nhớ đến vẻ đẹp của thiên nhiên trong từng khoảnh khắc.

Thu nẻo tin truyền cúc có vàng

(QATT - Bảo kính cảnh giới - bài 2)

Tác giả thường tìm kiếm sự khác biệt của đối tượng trong thiên nhiên qua bốn mùa, và "trăng" là một hình ảnh đặc biệt thu hút sự chú ý Trong quan điểm của Nguyễn Trãi, chỉ có trăng thu mới thật sự là trăng Để cảm nhận sự khác biệt này, tác giả cần quan sát tinh tế và yêu thích vẻ đẹp của trăng, từ sự chuyển mình của đông sang xuân, rồi xuân lại nhường chỗ cho hè.

Toan kể tư mù a có nguyệt, Thu âu là nhẫn một hai phần

(QATT - Thu nguyệt tuyê ̣t cú)

Trong thống kê về QATT, có 3 bài thơ nói về mùa hè, 8 bài về mùa đông, 36 bài thơ đề cập đến mùa thu và 51 bài nói về mùa xuân Điều này đặt ra câu hỏi liệu có sự thiên lệch nào trong việc thể hiện các mùa trong thơ ca hay không?

Hè xuất hiện ba lần trong toàn bộ tập thơ, đặc biệt trong bài "Thu nguyệt tuyệt cú" và bài "Hòe" Tuy nhiên, hè không phải là đối tượng trung tâm mà chỉ được liệt kê đầy đủ trong bốn mùa của năm.

Mộng lành nẩy nẩy bởi hòe trồng,

Một phát xuân qua mô ̣t phát trông

Có thở ngày hè giương tán lục, Đùn đùn bóng rợp của tam công

Ngay cả bài thơ “Hạ cảnh tuyê ̣t cú” tưởng như mùa hè là đối tươ ̣ng chính nhưng ngẫm ra la ̣i thấy tác giả ưu ái xuân hơn:

Vì ai cho cái đỗ quyên kêu, Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu

Lai có hòe hoa chen bóng lu ̣c, Thứ c xuân mô ̣t điểm não lòng nhau

Duy chỉ thấy trong bài “Cảnh ngày hè” trong mu ̣c “Bảo kính cảnh giới”, hè trở thành đối tươ ̣ng trung tâm của văn bản:

Rồ i hóng mát thủa ngày trường,

Hò e lu ̣c đùn đùn tán rơ ̣p giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồ ng liên đìa đã tiễn mùi hương

Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắ ng dỏi cầm ve lầu ti ̣ch dương

Lẽ có ngu cầm đàn mô ̣t tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương

Khái niệm “ngày dài” thường gắn liền với việc tận hưởng những khoảnh khắc thư giãn trong mùa hè Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tác giả vẫn luôn tìm thấy niềm vui và say mê trước vẻ đẹp rực rỡ của thiên nhiên.

Không chỉ nhìn bằng mắt mà Nguyễn Trãi còn trải lòng lắng nghe những thanh âm muôn vẻ của thiên nhiên:

Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

Trong không khí hè oi ả, ta cảm nhận được một tâm hồn yêu đời mãnh liệt, đang tận hưởng niềm vui của cuộc sống bình yên, giúp xua tan những nỗi buồn riêng tư.

Mùa được tác giả nhắc đến nhiều nhất chính là biểu tượng của sự sinh sôi và vẻ đẹp hoàn mỹ, thể hiện qua hình ảnh Đông quân hiện diện khắp nơi.

Nào chốn nào chăng gió xuân

Huố ng lại vườn còn hoa trúc cũ, Trồ i thứ c tốt la ̣ mười phân

(QATT - Tích cảnh thi - Bài 13) Khí dương hòa há có tư ai,

Năng mô ̣t hoa này, nhẫn mo ̣i loài

Tính kể chỉn còn ba tháng nữa,

Kịp xuân mựa để má đào phai

Tác giả yêu mùa xuân không chỉ qua vẻ đẹp bề ngoài mà còn từ sự cảm nhận sâu sắc trong tâm hồn, giúp họ nhận ra những giá trị thẩm mỹ cao đẹp của mùa xuân.

Xuân đến hoa nào chẳng tốt tươi, Ưa mi vì tiết sạch hơn người

Gác đông ắt đã từng làm khách,

Há những Bô tiên kết ba ̣n chơi

Hoa mai đã từng "làm khách" nơi "gác Đông", kết bạn với Lâm Bô-ẩn sĩ đời Tống Tại đây, hoa mai không chỉ là hình ảnh của mùa xuân mà còn là biểu tượng cho cố tật cách, sức sống mãnh liệt của con người.

Nơi chố n trong thơ Nguyễn Tra ̃i

Nguyễn Trãi trong những bài thơ của mình thường thể hiện cảm xúc sâu sắc về vẻ đẹp của thiên nhiên, núi sông mà ông gặp trên đường đi hoặc khi trở về thăm lại những địa danh lịch sử Tác giả có mối liên hệ chặt chẽ với cuộc sống xã hội và lịch sử dân tộc, cho thấy sự gắn bó với nhân dân Thiên nhiên hiện lên hùng vĩ và hoành tráng, với những ngọn núi cao và dòng sông dài, góp phần quan trọng trong những chiến thắng lịch sử, thể hiện vai trò của "thiên thời, địa lợi" trong sự nghiệp anh hùng của dân tộc.

Khi quyết định lánh đục tìm trong, Nguyễn Trãi trở về quê cũ ở Côn Sơn để tận hưởng thiên nhiên trong lành Cuộc sống của ông lúc bấy giờ được ví như một vị tiên ông, hòa mình vào môi trường thuần khiết với núi sông, cây cỏ và ánh trăng Trong không gian ấy, mối quan hệ của tác giả với thiên nhiên trở nên nổi bật, trong khi mối quan hệ xã hội giữa con người lại ít được nhắc đến Tác giả đã nhân hóa mối quan hệ giữa mình và thiên nhiên, cũng như giữa các yếu tố tự nhiên với nhau.

Trong hai thi tập của Nguyễn Trãi, độc giả không chỉ khám phá một cuốn từ điển sinh vật mà còn tìm thấy một bản đồ địa lý ghi lại dấu chân của tác giả trên những miền quê và chặng đường mà ông đã trải qua.

Trong UTTT, địa danh thường được đề cập cụ thể như tên sông, núi, với 51/110 bài thơ có địa danh chiếm gần 50% tổng số bài Điều này giúp xác định thời gian sáng tác một cách chính xác hơn Một số nhà nghiên cứu phân chia thành hai nhóm: nhóm gồm 17 bài thơ sáng tác trong thời kỳ loạn lạc khi theo cha sang Trung Hoa, và nhóm còn lại là những bài thơ sáng tác tại quê hương với các địa danh nổi tiếng của dân tộc Như vậy, có thể tạm chia các địa danh trong hai thi tập thành hai nhóm: địa danh Trung Quốc và địa danh Việt Nam.

Bài thơ về các địa danh ở Trung Quốc có thể chia thành hai nhóm chính Nhóm đầu tiên bao gồm những địa danh được trích dẫn từ điển tích, liên kết với các danh nhân Trung Quốc, nhằm thể hiện cảm xúc và tư tưởng của tác giả Nhóm thứ hai là những địa danh mang lại cảm hứng trực tiếp cho tác giả trong quá trình sáng tác Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sẽ tập trung vào nhóm địa danh thứ hai.

Theo Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí 3, sau khi ra hàng quân Minh, Trương Phụ đã cố gắng dụ dỗ Nguyễn Trãi làm quan nhưng ông đã từ chối Sự từ chối này khiến Trương Phụ tức giận và muốn giết Nguyễn Trãi, nhưng Thượng thư Hoàng Phúc đã cứu ông và giam lỏng tại Đông Quan Nhà nghiên cứu Trần Huy Liệu trong tác phẩm Nguyễn Trãi cũng đề cập đến sự kiện này nhưng với sự dè dặt, cho rằng vẫn chưa đủ tài liệu để khẳng định chắc chắn Nguyễn Trãi có ở Đông Quan từ năm 1407 đến 1417 hay không.

3 Phan Huy Chu ́ (1996), Li ̣ch triều hiến chương loại chí , Nxb Gia ́o du ̣c, Hà Nô ̣i

4 Trần Huy Liê ̣u (1962), Nguyễn Tra ̃i - Một nhân vật vĩ đại trong li ̣ch sử dân tộc Viê ̣t Nam Nxb Sư ̉ ho ̣c, Hà Nô ̣i

Nguyễn Trãi, trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, đã để lại nhiều tác phẩm văn thơ quý giá, phản ánh tâm tư và lòng yêu nước Theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong "Đại Việt thông sử", sau khi nhà Hồ sụp đổ, ông đã về ẩn cư tại Côn Sơn Phạm Đình Hổ trong "Tang thương ngẫu lục" cũng ghi nhận việc ông tránh loạn ở Côn Sơn Ngoài ra, có nhiều giả thuyết cho rằng Nguyễn Trãi từng sang Trung Quốc trong thời gian này, dựa vào những bài thơ của ông nhắc đến các địa danh như Bình Nam, Ngô Châu, Giang Tây, và Thiều Châu Những tác phẩm như "Bình Nam dạ bạc" và "Thiều Châu Văn Hiến miếu" đã thể hiện rõ ràng những trải nghiệm và kỷ niệm của ông.

Trong bài viết này, chúng tôi không tìm kiếm chính xác nơi ở của Nguyễn Trãi mà tập trung phân tích thái độ của tác giả qua những địa danh trong thơ Qua phân tích, chúng tôi nhận thấy các địa danh Trung Hoa được nhắc đến chỉ đơn thuần ghi lại dấu chân và cảm xúc của người thi sĩ trước cảnh vật, mà không thể hiện nhiều về sự gắn kết với nơi chốn Chẳng hạn, bài “Ngô Châu” miêu tả “cảnh thướt tha”, “liễu la đà” và “rừng màu như ngọc”.

“sông chia vẻ tự thoa”… Cảnh đe ̣p làm cho lòng người chiêm ngắm đắm mình:

Lộ nhập Thanh Ngô cảnh cá nh gia

Ngạn biên dương liễu thuốc nhân gia

Cư ̉ u Nghi tích thúy phong như ngọc

Nhi ̣ Quảng phân lưu thủy nhược thoa

Lâm quản không văn phi bạch hạc

5 Lê Quý Đôn (1996), Đại Viê ̣t thông sử, Nxb Sư ̉ ho ̣c, Hà Nô ̣i

6 Phạm Đình Hổ (2000), Tang thương ngẫu lục, Nxb Hồ ng Ba ̀ng, Gia Lai

Tiên nhân bất kiến tụ thanh xà

Hỏa sơn, băng tỉnh chân kỳ sự

Cựu tục tương truyền khủng diê ̣c sai

Dịch nghĩa: Đường tới Thanh Ngô cảnh thướt tha Trên bở cửa ngõ liễu la đà

Cử u Nghi rừ ng phủ màu như ngo ̣c

Nhi ̣ Quảng sông chia vẻ tự thoa

Quá n ngo ̣c đâu còn hình ba ̣ch ha ̣c Người tiên hết thấy túi thanh xà

Giếng băng nú i lửa vô cùng la ̣ Truyền lại hay là chuyê ̣n đă ̣t ra Hay bài “Giang Tây”:

Tự cổ Hồng Đô xưng thắng địa, Kim triêu khách lý tạm tương qua

Yên thu nam phố tình quang hảo, Nhật lạc tây sơn, mộ cảnh giai,

Cá o kiết thành phong lân tục bạc,

Từ chương hữu học trúng khoa đa

Tình dương thiết trụ, kim do tại,

Bi khắc thiên niên, tiển dĩ hoa

Tự trước Hồng Đô là thắng cảnh, Chiều nay khách quán tạm dừng chân

Mây về Nam phố giời trong suố t,

Nắ ng xế tây sơn, cảnh đẹp dần Đáng tiếc di phong nhiều bạc tu ̣c,

Cũng may khoa bảng lắm văn nhân, Tuổi tên tinh biểu nay cò n la ̣i, Bia đá ngàn năm cỏ mo ̣c tràn

Giang Tây là một tỉnh nổi tiếng ở Trung Quốc, nằm phía nam sông Trường Giang, với phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp Tác giả đã ghi lại cảm xúc của mình qua những bài thơ khi đến đây, mô tả vẻ đẹp của nơi có “trời trong suốt” và “cảnh đẹp dần” Giang Tây còn nổi bật với những nhân tài văn chương, thể hiện qua các tác phẩm thơ ca Những bài thơ này thường gắn liền với các địa danh và cảnh vật tươi đẹp, tạo nên một bức tranh sinh động về vẻ đẹp của tỉnh Giang Tây.

Nhóm bài thơ còn lại với những địa danh của dân tộc thể hiện sự gắn kết chặt chẽ với quê hương của Nguyễn Trãi như Bạch Đằng, Côn Sơn, Bến Nhị, Thần Phù, Lâm Cảng, Long Đại, Thao Giang, Bình Than, Dục Thúy, An Sơn Tất cả được hiện lên với niềm tự hào và nỗi tiếc nuối của tác giả.

Trong bài thơ: “Do ̣c đường thư gửi Thao giang Hà Thứ sử và Trình Thiêm Hiếm”:

Thao Giang nhất biệt ý du du, Bôi tửu luận văn ức cựu du Đông Ngạn mai hoa tình ánh lãm

Bình Than nguyê ̣t sắc viễn tùy chu

Trình Công thế thượng vô song sĩ

Hà Lão triều trung đê ̣ nhất lưu

Linh Cá c tưởng ưng thanh thoại xứ

Thiên nhai khẳng niê ̣m cố nhân phù

Thao Giang ly biệt nhớ liên miên

Cù ng luâ ̣n thơ văn nhấp chén tiên Đông Nga ̣n hoa mai mầu ánh mái

Bình Than giăng bạc lướt soi thuyền

Trình Công ho ̣c giới không ai sánh

Hà Lão triều đình đứng ha ̣ng trên Linh các là nơi thanh ba ̣ch nhất Cố nhân gó c bể nhẽ đâu quên

Tác giả sử dụng địa danh để chỉ nơi mà những người bạn của mình đang làm quan, tạo nên những kỷ niệm sâu sắc Tại đây, tác giả thường nhớ về những khoảnh khắc “chén rượu, câu văn luận bàn” bên những người mà họ cho rằng “có một không hai trên đời” Do đó, địa danh không chỉ đơn thuần là một vị trí địa lý mà còn mang trong mình cảnh sắc và tình cảm.

Những địa danh lịch sử này không chỉ gắn liền với những chiến thắng oanh liệt của dân tộc mà còn mang trong mình cảm hứng về tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc Hình tượng nhân vật anh hùng thường xuất hiện trong sử thi, thể hiện sự kiên cường và quyết tâm của dân tộc trong những thời khắc quan trọng.

Giang sơn như tạc anh hùng thê ̣,

Thiên đi ̣a vô tình sự biến đa

(UTTT - Quá Thần Phù hải khẩu)

Non sông đã thay đổi, nhưng những anh hùng vẫn còn sống mãi trong lòng người Thiên nhiên vô tình tạo ra nhiều biến đổi, nhưng trong những tác phẩm văn học, đặc biệt là những câu thơ về địa danh lịch sử, không thể không nhắc đến bài thơ "Bạch Đằng hải khẩu" (Cửa biển Bạch Đằng).

Quan hà bách nhi ̣ do thiên thiết,

Hà o kiê ̣t công danh thử đi ̣a tăng

Vãng sự hồi đầu, ta dĩ hỹ, Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng

Quan hà bách nhi ̣ do trời đă ̣t

Hào kiê ̣t công danh đươ ̣c đất dùng Tưởng nhớ chuyê ̣n xưa, thêm nghĩ ngợi, Theo dòng ngắm cảnh, ý vô cùng

Núi sông hiểm trở là nơi mà trời sắp đặt để hai người có thể đi chinh phục hàng trăm người, đồng thời cũng là nơi đã từng xây dựng công danh Mối quan hệ giữa địa danh này và con người nơi đây thể hiện sự gắn kết đặc biệt giữa "địa linh" và "nhân kiệt".

Khi lên núi Yên Tử, Nguyễn Trãi đã mở rộng tầm nhìn của mình để hòa mình vào thiên nhiên, cảm nhận vẻ đẹp của mây trời Sự vĩ đại của con người thể hiện qua tâm hồn khoáng đạt, tự do giữa không gian bao la.

Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại Tiếu đà m nhân tại bích vân trung

(UTTT - Đề An Tử sơn, Hoa Yên Tử)

Vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả Nói cười người ở giữa mây xanh

Ngày đăng: 18/06/2021, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đồ ng Kha ́nh Bính, “Phê bình sinh thái-cô ̣i nguồn và sự phát triển - phần 1” (Đỗ Văn Hiểu di ̣ch). Truy câ ̣p ta ̣i http://hocban.net/hoidap-ct-64978-phe-binh-sinh-thai-coi-nguon-va-su-phat-trien-phan-1-tuyen-tap-van-luan-van-hoc-sinh-thai-trung-quoc.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình sinh thái-cô ̣i nguồn và sự phát triển - phần 1
2. Đồ ng Kha ́nh Bính, “Phê bình sinh thái-cô ̣i nguồn và sự phát triển - phần 2” (Đỗ Văn Hiểu di ̣ch). Truy câ ̣p ta ̣i http://vanvn.net/news/11/2782-phe-binh-sinh-thai-coi-nguon-va-su-phat-trien---phan-2.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình sinh thái-cô ̣i nguồn và sự phát triển - phần 2
3. Phạm Tú Châu (1997), "Thiên nhiên trong thơ chữ Hán Lê Thánh Tông", Tạp chí Văn học (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên nhiên trong thơ chữ Hán Lê Thánh Tông
Tác giả: Phạm Tú Châu
Năm: 1997
4. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên,1977, 1989), Thơ văn Lý - Trần, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Lý - Trần
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
5. Vũ Minh Đức, “Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ lý thuyết phê bình sinh thái”. Truy câ ̣p ta ̣ihttp://nguvan.utb.edu.vn/index.php/nghiencuu/lyluanvanhoc/137-nha-ng-nga-n-gia-hua-ta-t-ca-a-nguya-n-huy-thia-p-nha-n-ta-la-thuya-t-pha-ba-nh-sinh-tha-i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ lý thuyết phê bình sinh thái
6. Đỗ Thị Hà Giang (2012), “Ảnh hưởng của thơ điền viên đời Đường đối với thơ Nhàn của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Tạp chí Văn học (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thơ điền viên đời Đường đối với thơ Nhàn của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Đỗ Thị Hà Giang
Năm: 2012
7. Đặng Thái Hà, “Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ điểm nhìn phê bình sinh thái”. Truy câ ̣p ta ̣i http://vietvan.vn/vi/bvct/id3683/Buoc-dau-tim-hieu-truyen-ngan-Nguyen-Huy-Thiep-tu-diem-nhin-phe-binh-sinh-thai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ điểm nhìn phê bình sinh thái
8. Dương Thu Hằng (2015), “Biến đổi môi trường sống – nhân tố thúc đẩy không gian văn hóa mới trong thơ Tú Xương”, Nghiên cứu văn học (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi môi trường sống – nhân tố thúc đẩy không gian văn hóa mới trong thơ Tú Xương”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Dương Thu Hằng
Năm: 2015
9. Hoa ̀ng Ngo ̣c Hiến di ̣ch (1996), Ca ́ c phạm trù văn hóa trung cổ , Nxb Gia ́o du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá c phạm trù văn hóa trung cổ
Tác giả: Hoa ̀ng Ngo ̣c Hiến di ̣ch
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
10. Đỗ Văn Hiểu, "Phê bình sinh thái - Khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân". Truy câ ̣p ta ̣i ,http:// tapchisonghuong.com.vn/tin- tuc/p0/c7/n11088/phe-binh-sinh-thai khuynh-huong-nghien-cuu-van-hoc-mang-tinh-cach-tan.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình sinh thái - Khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân
11. Nguyễn Phạm Hu ̀ ng (1996), Văn học Lý-Trần nhìn từ thể loại , Nxb Gia ́o du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Lý-Trần nhìn từ thể loại
Tác giả: Nguyễn Phạm Hu ̀ ng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
12. Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1995
13. Phạm Luận (2012), Nguyễn Trãi quốc âm thi tập , Nxb Giáo dục, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi quốc âm thi tập
Tác giả: Phạm Luận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
14. Vũ Quang Mạnh (2011), Môi trường và con người. Sinh thái học nhân văn , Nxb Đại học sư phạm, Ha ̀ Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và con người. Sinh thái học nhân văn
Tác giả: Vũ Quang Mạnh
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2011
15. Nguyễn Đăng Na (2009), Văn học trung đại Việt Nam (tập 1), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2009
16. Bùi Văn Nguyên (1994), Thơ quốc âm Nguyễn Trãi , Nxb Giáo dục, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ quốc âm Nguyễn Trãi
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
17. Nguyễn Tra ̃i toàn tập (2001), Nxb Văn ho ́ a thông tin, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi toàn tập
Tác giả: Nguyễn Tra ̃i toàn tập
Nhà XB: Nxb Văn hó a thông tin
Năm: 2001
18. Nhiều tác giả (2007), Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Ha ̀ Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
19. Nguyễn Kim Sơn (2009). “Sư ̣ đan xen các khuynh hướng thẩm mỹ trong thơ Huyền Quang”, Ta ̣p chí Văn học (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đan xen các khuynh hướng thẩm mỹ trong thơ Huyền Quang”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Kim Sơn
Năm: 2009
20. Nguyễn Kim Sơn, Trần Thi ̣ Mỹ Hòa, “Mấy phương diê ̣n thẩm mỹ của thơ Nho gia va ̀ Thiền gia. Truy câ ̣p ta ̣i http://khoavanhoc.edu.vn/vh-vn/287-my-phng-din-thm-m-ca-th-nho-gia-va-thin-gia-qua-kho-sat-mt-s-trng-hp-th-vit-v-thien-nhien Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w