I . LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Như chúng ta đã biết Đồng Văn là huyện vùng cao biên giới cực Bắc của Tổ quốc, với điểm tự hào của cả dân tộc Việt Nam là Cột cờ Lũng Cú với lá cờ rộng 54m2, tượng trưng cho 54 dân tộc anh em sinh sống trên đất nước Việt Nam, là nơi xây dựng dinh thự họ Vương ở xã Sà Phìn, có khu Phố cổ Đồng Văn với những ngôi nhà có lịch sử hàng trăm năm tuổi đã được Nhà nước công nhận là di tich lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Toàn huyện bao gồm 17 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc H’Mông chiếm hơn 80% dân số trong toàn huyện. Mỗi dân tộc đều có truyền thống văn hoá đặc sắc độc đáo riêng biệt. Xuất phát từ vấn đề trên, qua sự định hướng và giảng dạy của các thầy cô giáo trong khoa quản lý Văn hóa, Du lịch trường Đại học Văn hóa Hà Nội và qua quá trình công tác, nghiên cứu tìm hiểu thực trạng về đặc điểm địa lý, địa chất và tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện, nhất là được gặp gỡ tìm hiểu giao tiếp với đồng bào dân tộc Mông huyện Đồng Văn. Tôi quyết định xây dựng chuyên đề: “Bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Mông xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang và đưa ra một số giải pháp vận dụng vào thực tế để phát triển du lịch địa phương ”. II. MỤC ĐÍCH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 1. Mục đích Phạm vi nghiên cứu: Bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Mông xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang và đưa ra một số giải pháp vận dụng vào thực tế để phát triển du lịch địa phương . Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp lịch sử: Đây là phương pháp bao trùm của đề tài gồm: tái hiện, mô tả, thống kê, liệt kê một cách cụ thể các sự kiện, hiện tượng để làm rõ sự Bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Mông xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang và đưa ra một số giải pháp vận dụng vào thực tế để phát triển du lịch địa phương Phương pháp thu thập thông tin: Đây là phương pháp rất quan trọng trong việc tiếp cận vấn đề. Những tài liệu thu thập được về mặt lý luận giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc H’Mông cũng như sự phát triển tác động của xã hội tới công tác bảo tồn. Phương pháp loogic kết hợp phân tích, so sánh, tổng hợp; phương pháp dân tộc học là phương pháp thực hiện các công việc như quan sát, ghi chép chụp ảnh khai thác các nguồn tư liệu thống kê lập phiếu điều tra. Ngoài các phương pháp trên cơ sở những tài liệu đã thu thập được qua một số sách báo, internet,….chúng tôi đi sâu vào phân tích cụ thể sau Đó tổng hợp lại thành tài liệu chi tiết, hoàn chỉnh về vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống. Phương pháp này giúp chúng ta phát hiện ra những vấn đề trọng tâm cũng như những vấn đề còn bỡ ngỡ, từ đó đưa ra những nhận định, nhận xét, đánh giá chính xác về vấn đề đang nghiên cứu. Phương pháp điều tra xã hội học, cùng với các phương pháp liên ngành khác. Phương pháp điền dã: Đây là phương pháp rất cần thiết khi nghiên cứu về lịch sử địa phương. Trong quá trình nghiên cứu về đề tài này, chúng tôi đã tới một số hộ gia đình của người dân tộc mông trên địa bàn xã Sủng Trái, huyện Đồng văn, Tỉnh Hà Giang để quan sát, tìm hiểu, trao đổi và phỏng vấn một số người biết về văn hóa truyền thống của dân tộc Mông. Sau đó chụp ảnh tài liệu về các hoạt động thực tế, đồng thời ghi chép lại những thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu. • Cơ sở dữ liệu: Các văn kiện của Đảng và nhà nước ban hành Các chuyên gia, các bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Các tài liệu nghiên cứu điền dã của nhóm nghiên cứu đề tài trong quá trình nghiên cứu. 5. Mục đích, ý nghĩa và đóng góp của đề tài Mục đích: Đi sâu nghiên cứu bảo tồn văn hóa truyền thống của dân Mông, để giúp cho bạn đọc có một cái nhìn khái quát, và khám phá ra được nét đẹp truyền thống của dân tộc Mông một dân tộc thiểu số của Việt Nam. Ý Nghĩa: Giữ gìn, bảo tồn truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Mông nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Đóng góp đề tài: Đề tài góp phần làm rõ, phong phú thêm sự hiểu biết về những nét độc đáo văn hóa riêng của dân tộc Mông ở xã Sủng Trái nói riêng và tỉnh Hà Giang nói chung từ năm 2000 đến nay, khăng định những giá trị văn hóa trong quá trình vận động, biến đổi và tác động của nó đến sự phát triển kinh tế xã hội của dân tộc Mông, đưa ra những dự báo và các giải pháp về bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Mông trên địa bàn xã Sủng Trái trong thời gian tới phục vụ cho sự phát triển du lịch địa phương, đóng góp vào sự đa dạng phong phú của nền văn hóa truyền thống nước nhà. Tăng cường tình đoàn kết, giúp đỡ và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, kích thích tình yêu dân tộc và ý thức “Bảo tồn văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Mông xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn, Tỉnh Hà Giang và đưa ra một số thực trang và giải pháp vận dụng vào thực tế để phát triển du lịch địa phương ”, từ nguồn gốc lịch sử và thực trạng đời sống văn hoá tinh thần để từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống để phát triển du lịch địa phương, nhằm phục vụ khách trong và ngoài nước tới thăm quan du lịch của xã, huyện ngày càng đáp ứng nhu cầu. 6. Bố cục của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần mục lục, đề tài được kết cấu gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan về Khái quát về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, và phát triển kinh tế xã hội xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn, Tỉnh Hà Giang. Chương 2: Thực trạng bảo tồn văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Mông xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn, Tỉnh Hà Giang Chương 3: Giải pháp nhằm Bảo tồn văn hóa truyền thống vật thể và phi vật thể của dân tộc Mông xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn, Tỉnh Hà Giang trong giai đoạn hiện nay.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓABảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Mông xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang và đưa ra một số giải pháp vận dụng
vào thực tế để phát triển du lịch địa phương
Sinh viên thực hiện: VÀNG THỊ BẢO MSSV: 59DQLHN005
Lớp: Đại học Quản lý Văn hóa K16 Khóa: 2018 - 2022
Hà Nội, 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Nằm trong chương trình đào tạo, Khoa Quản lý văn hóa Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tổ chức lớp QLVH K16 Trong quá trình theo học tại nhà trường, tôi đã được tiếp thu những kiến thức từ cơ bản đến kiến thức chuyên ngành tham gia các đợt thực tế, thực tập trong chương trình học tập Theo yêu cầu của kế hoạch đào tạo, trong khuân khổ cuốn tiểu luận này, tôi xin phép được chọn đề tài là:
“ Bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Mông xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang và đưa ra một số giải pháp vận dụng vào thực tế
để phát triển du lịch địa phương”.
Để có được đầy đủ kiến thức làm nên cuốn tiểu luận cuối khóa này tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo, những người đã trực tiếp giảng dậy, tận tình giúp đỡ và dẫn dắt, dạy dỗ tôi trong những năm qua
Đặc biệt tôi xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Trương Hải Minh
- Phòng đào tạo - Trường Đại học văn hóa Hà Nội giáo viên chủ nhiệm lớp QLVH K16 là người đã trực tiếp dìu dắt, động viên, khích lệ chúng tôi trong quá trình học tập cũng như quá trình hoàn thiện Tiểu luận cuối khóa
Hơn hết tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất tới thầy Phan Văn Tú - PGS.TS Khoa Quản lý văn hóa - Nghệ thuật - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội là người đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình hình thành đề tài, triển khai nghiên cứu và hoàn thành cuốn Tiểu luận cuối khóa này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang nơi tôi đang công tác
đã tạo điều kiện về thời gian học tập cũng như cung cấp thông tin tài liệu để tôi hoàn thành tiểu luận này
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song do khả năng có hạn nên nội dung cuốn tiểu luận này không thể tránh khỏi những sai sót Kính mong sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy, cô để tiểu luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2021
Sinh viên
Vàng Thị Bảo
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI XÃ SỦNG TRÁI, HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG 9
1.1 Khái quát về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 9
1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên 9
1.1.2.Về Vị trí địa lý 9
1.1.3.Về Khí hậu 9
1.2.Về Điều kiện kinh tế - xã hội 10
1.2.1 Sản xuất nông lâm nghiệp 10
1.2.2 Thương mại dịch vụ và du lịch 10
1.2.3 Thông tin liên lạc: 11
1.2.4 Văn hóa - Xã hội: 11
1.3 Chiến lược phát triển: 11
Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG ĐẶC SẮC CỦA DÂN TỘC MÔNG Ở XÃ SỦNG TRÁI, HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG 15
2.1 Lịch sử khái quát của dân tộc Mông 15
2.2 Dân số và thành phần dân tộc 17
2.3 Đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội 17
2.3.1 Đời sống kinh tế 17
2.3.2 Trồng trọt 18
2.3.3 Chăn nuôi 19
2.3.4 Các nghề thủ công truyền thống và trao đổi hàng hóa 19
2.3.5 Đời sống xã hội 20
Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC MÔNG Ở XÃ SỦNG TRÁI, HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 21
3.1 Bảo Tồn Kiến trúc ngôi nhà truyền thống 21
3.2 Nhạc cụ truyền thống tại xã Sủng Trái 24
3.3 Trang phục truyền thống của dân tộc Mông 25
3.4 Đồ dùng sinh hoạt 27
3.5 Ẩm thực 28
3.6 Văn hóa truyền thống phi vật thể của người Mông 29
Trang 43.6.1 Quan hệ làng bản 29
3.6.2 Quan hệ gia đình, dòng họ 30
3.6.3 Lễ hội trong năm 31
3.6.4 Văn hoá nghệ thuật dân gian truyền thống 32
3.6.5 Tôn giáo, tín ngưỡng 33
3.6.6.Cưới xin 34
3.6.7 Tang ma 35
3.7 Các giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Mông tại địa bàn xã Sủng Trái 37
3.7.1 Phương án bảo tồn 37
3.7.2 Mục tiêu 38
3.7.3 Nội dung cần bảo tồn 38
3.8 Đối với dân tộc Mông tại xã Sủng Trái 39
3.8.1 Về tiếng nói chữ viết 39
3.8.2.Về trang phục 40
3.8.3.Về kiến trúc 40
3.8.4 Sưu tầm dụng cụ sinh hoạt và đồ dùng lao động: 40
3.8.5 Xây dụng nghề truyền thống 41
3.8.6 Lễ đặt con trưởng thành 41
3.8.7 Nội dung cải tiến tập quán, lạc hậu: 41
3.8.9 Giải pháp nhằm bảo tồn áp dụng thực tế trong phát triển du lịch địa phương 41
KẾT LUẬN 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC 47
Trang 5Phần I
MỞ ĐẦU
Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa phong phú, đa dạng, gồm có 54 dân tộc anh em cùng tồn tại, chung sống và phát triển, Mỗi cộng đồng dân tộc với những đặc trưng văn hóa khác nhau, phong tục tập quán riêng, tạo nên một nền văn hóa Việt Nam đa dạng, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Nó đã tạo thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức mạnh giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn để phát triển và lớn mạnh Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra để phục vụ cho nhu cầu của họ Đồng thời văn hóa cũng là kết quả của quá trình giao lưu quốc tế, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại và các nước tiên tiến trên thế giới
Văn hóa là sự phát triển không ngừng đã vun đắp nên tâm hồn, khí phách,
và bản lĩnh cho con người Việt Nam, từ đó góp phần làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc Có thể nói văn hóa đã giúp dân tộc Việt Nam trường tồn và phát triển trước muôn vàn khó khăn, thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước Chính vì vậy, phát triển văn hóa, chăm lo bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác văn hóa, nâng cao mức hưởng thụ của nhân dân
là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây
Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, VIII, IX đã khẳng
định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động
lực thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế - xã hội”, đặc biệt Nghị quyết Trung ương
5 khóa VIII đã khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc”
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, với các chương trình dự án về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh đã góp phần thay đổi diện mạo của xã Sủng Trái, nền kinh
Trang 6tế - xã hội từng bước được phát triển, đời sống tinh thần vật chất của nhân dân trong xã ngày càng được nâng lên;
Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu thăm quan, nghỉ dưỡng, giải trí, mua sắm, tìm hiểu khám phá các cảnh quan thiên nhiên, các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử văn hoá, thưởng thức các nét văn hoá truyền thống của các dân tộc bản địa ở một vùng, một miền nào đó trên đất nước ta hoặc trên thế giới
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch
sử văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch là yếu tố cơ bản để hình các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị…
Tài nguyên du lịch gồm có tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, tài nguyên đang được khai thác và chưa khai thác Tài nguyên du lịch
tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu thăm quan của khách du lịch
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết Đồng Văn là huyện vùng cao biên giới cực Bắc của
Tổ quốc, với điểm tự hào của cả dân tộc Việt Nam là Cột cờ Lũng Cú với lá cờ rộng 54m2, tượng trưng cho 54 dân tộc anh em sinh sống trên đất nước Việt Nam, là nơi xây dựng dinh thự họ Vương ở xã Sà Phìn, có khu Phố cổ Đồng Văn với những ngôi nhà có lịch sử hàng trăm năm tuổi đã được Nhà nước công nhận là di tich lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia Toàn huyện bao gồm 17 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc H’Mông chiếm hơn 80% dân
số trong toàn huyện Mỗi dân tộc đều có truyền thống văn hoá đặc sắc độc đáo riêng biệt Xuất phát từ vấn đề trên, qua sự định hướng và giảng dạy của các thầy cô giáo trong khoa quản lý Văn hóa, Du lịch - trường Đại học Văn hóa Hà
Trang 7Nội và qua quá trình công tác, nghiên cứu tìm hiểu thực trạng về đặc điểm địa
lý, địa chất và tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện, nhất là được gặp gỡ tìm hiểu giao tiếp với đồng bào dân tộc Mông huyện Đồng Văn Tôi quyết định
xây dựng chuyên đề: “Bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Mông xã
Sủng Trái, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang và đưa ra một số giải pháp vận
dụng vào thực tế để phát triển du lịch địa phương ”
II MỤC ĐÍCH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
1 Mục đích
Phạm vi nghiên cứu: Bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Mông xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang và đưa ra một số giải pháp vận dụng
vào thực tế để phát triển du lịch địa phương
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp lịch sử: Đây là phương pháp bao trùm của đề tài gồm: tái hiện, mô tả, thống kê, liệt kê một cách cụ thể các sự kiện, hiện tượng để làm rõ
sự Bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Mông xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang và đưa ra một số giải pháp vận dụng vào thực tế để phát
triển du lịch địa phương
Phương pháp thu thập thông tin: Đây là phương pháp rất quan trọng trong việc tiếp cận vấn đề Những tài liệu thu thập được về mặt lý luận giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc H’Mông cũng như sự phát triển tác động của xã hội tới công tác bảo tồn
Phương pháp loogic kết hợp phân tích, so sánh, tổng hợp; phương pháp dân tộc học là phương pháp thực hiện các công việc như quan sát, ghi chép chụp ảnh khai thác các nguồn tư liệu thống kê lập phiếu điều tra Ngoài các phương pháp trên cơ sở những tài liệu đã thu thập được qua một số sách báo, internet,….chúng tôi đi sâu vào phân tích cụ thể sau
Trang 8Đó tổng hợp lại thành tài liệu chi tiết, hoàn chỉnh về vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống Phương pháp này giúp chúng ta phát hiện ra những vấn đề trọng tâm cũng như những vấn đề còn bỡ ngỡ, từ đó đưa ra những nhận định, nhận xét, đánh giá chính xác về vấn đề đang nghiên cứu
Phương pháp điều tra xã hội học, cùng với các phương pháp liên ngành khác
Phương pháp điền dã: Đây là phương pháp rất cần thiết khi nghiên cứu về lịch sử địa phương Trong quá trình nghiên cứu về đề tài này, chúng tôi đã tới một số hộ gia đình của người dân tộc mông trên địa bàn xã Sủng Trái, huyện Đồng văn, Tỉnh Hà Giang để quan sát, tìm hiểu, trao đổi và phỏng vấn một số người biết về văn hóa truyền thống của dân tộc Mông Sau đó chụp ảnh tài liệu
về các hoạt động thực tế, đồng thời ghi chép lại những thông tin cần thiết phục
vụ cho việc nghiên cứu
Cơ sở dữ liệu:
- Các văn kiện của Đảng và nhà nước ban hành
- Các chuyên gia, các bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Các tài liệu nghiên cứu điền dã của nhóm nghiên cứu đề tài trong quá trình nghiên cứu
5 Mục đích, ý nghĩa và đóng góp của đề tài
Mục đích: Đi sâu nghiên cứu bảo tồn văn hóa truyền thống của dân Mông,
để giúp cho bạn đọc có một cái nhìn khái quát, và khám phá ra được nét đẹp truyền thống của dân tộc Mông - một dân tộc thiểu số của Việt Nam
Ý Nghĩa: Giữ gìn, bảo tồn truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Mông nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung
Đóng góp đề tài: Đề tài góp phần làm rõ, phong phú thêm sự hiểu biết về những nét độc đáo văn hóa riêng của dân tộc Mông ở xã Sủng Trái nói riêng và tỉnh Hà Giang nói chung từ năm 2000 đến nay, khăng định những giá trị văn hóa
Trang 9trong quá trình vận động, biến đổi và tác động của nó đến sự phát triển kinh tế -
xã hội của dân tộc Mông, đưa ra những dự báo và các giải pháp về bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Mông trên địa bàn xã Sủng Trái trong thời gian tới phục vụ cho sự phát triển du lịch địa phương, đóng góp vào sự đa dạng phong phú của nền văn hóa truyền thống nước nhà Tăng cường tình đoàn kết, giúp đỡ
và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, kích thích tình yêu dân tộc và ý thức
“Bảo tồn văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Mông xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn, Tỉnh Hà Giang và đưa ra một số thực trang và giải pháp vận dụng vào thực tế để phát triển du lịch địa phương ”, từ nguồn gốc lịch sử
và thực trạng đời sống văn hoá tinh thần để từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn văn hóa truyền thống để phát triển du lịch địa phương, nhằm phục vụ khách trong và ngoài nước tới thăm quan du lịch của xã, huyện ngày càng đáp ứng nhu cầu
Trang 10Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI XÃ SỦNG TRÁI,
HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG
1.1 Khái quát về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên
- Sủng Trái là một xã nội địa của huyện Đồng Văn cách trung tâm huện
44 km, Tổng diện tích đất tự nhiên là: 2.661,81 ha; trong đó diện tích đất canh tác là: 406,7 ha Tính đên 30/05/2021 đến nay toàn xã có 14 thôn với 1.261 hộ
= 6.702 khẩu, hộ nghèo chiếm 65,74%, trên 98,9 % là dân tộc Mông, còn lại là dân tộc Kinh, Tày, Cờ lao… Đời sống kinh tế của nhân dân chủ yếu là cây lương thực chính trồng Ngô
1.1.2.Về Vị trí địa lý
+ Vị trí, đặc điểm: Sủng Trái là một xã nội địa thuộc của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Nằm ở phía Nam về mặt địa lý của huyện và có ranh giới hành chính như sau:
+ Phía Bắc: Giáp với xã Hố Quáng Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang;
+ Phía Đông: Giáp với xã Lũng Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang; + Phía Nam: Giáp với xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang; + Phía Tây: Giáp với xã Vần Chải, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang;
1.1.3.Về Khí hậu
Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 dương lịch, lượng mưa bình quân từ
Trang 11kể Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau, nhiệt độ trung bình từ 7- 18 0
C
Do vị trí nằm trên cao nguyên đá vôi nên khả năng giữ nước kém nhất là vào mùa khô nên một số thôn trong xã không có hồ chứa nước và mạch nước nên khi mùa khô thường xuyên gặp phải tình trạng thiếu nước trầm trọng
1.2.Về Điều kiện kinh tế - xã hội
1.2.1 Sản xuất nông lâm nghiệp
Xã Sủng Trái là một trong những xã đặc biệt khó khăn của huyện Đồng
Văn, đường giao thông đi lại từ Trung tâm xã đến các thôn bản chủ yếu là đường
đá; vì thế ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương
Cùng với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước thông qua các chương trình giảm nghèo Nhiều thôn đã có cách làm thiết thực như đóng góp ngày công lao động, giúp đỡ về vốn, kỹ thuật chăn nuôi tập trung vào phát triển nuôi lợn nái của địa phương, nuôi bò vỗ béo gắn với trồng cỏ, gà đen và triển khai thực hiện 02/02 gia trại; Xây dựng nông thôn mới tập trung các tiêu trí về giáo dục, y tế đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động trong thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm được tỷ lệ hộ nghèo trong thôn Trên địa bàn xã đã xuất hiện nhiều mô hình điển hình như mô hình chăn nuôi gia trại lợn tại thôn
Há Sú, mô hình nuôi lợn nái đen tại Thôn Sủng Trái A, B, Chứ Phìn, Há Chớ, Sủng Tùa, Phúng Tủng
1.2.2 Thương mại dịch vụ và du lịch
Toàn xã 25 hộ hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ, chủ yếu là các dịch vụ về buôn bán hàng tạp hoá và sửa chữa xe máy cho nhân dân trong và ngoài xã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân và khách qua đường, thu nhập bình quân ước đạt 3 đến 5 triệu đồng/hộ/tháng Toàn xã có 01 tổ hợp tác làm khèn Mông tại thôn Sủng Trái A với 07 thành viên tham gia duy trì thường xuyên thu nhập bình quân đạt 6 triệu đồng/người/tháng; 01 tổ hợp tác nấu rượu tại thôn Há
Đề với 10 hộ tham gia duy trì thường xuyên thu nhập bình quân đạt 1 triệu
Trang 12đồng/người/tháng; 01 tổ hợp tác nuôi ong nội lấy mật với 25 thành viên tham gia, với 1.530 tổ ong/hộ/10 thôn, thu được 6.120 lít/25 thành viên = 2.142.000.000đ ( Bình quân 85.680.000/người/năm), tổ hợp tác vẽ sắc Ong tại thôn Sủng Trái A với
15 thành viên
Có 16 hộ thanh niên đã mạnh dạn vay vốn phát triển khởi nghiệp trong đó:
Có 02 hộ sửa chữa Xe máy và thu nhập bình quân 5 triệu đồng/tháng/người, có 02
hộ vay vốn xây dựng chuồng trại gắn với chăn nuôi lợn nái tại thôn Phúng Tủng, Há
Sú, còn lại 12 hộ là vay chăm nuôi bò vỗ béo
1.2.3 Thông tin liên lạc:
Tỷ lệ hộ sử dụng được sử dụng điện thoại di động là 70% số hộ, Sủng dụng ti
vi 50% số hộ Tỉ lệ hộ trên địa bàn xã được nghe đài trung ương, tỉnh, huyện, xã khoảng 70% dân số
1.2.4 Văn hóa - Xã hội:
Tỷ lệ duy trì sỹ số học sinh đã được nâng lên rõ rệt tổng duy trì các cấp học: Mần Non chiến 97.8 %, Tiểu học chiến 94,5 %; THCS 83,6 % tuy nhiên vẫn có một số học sinh đi học thấp thường
Công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm thực hiện, công tác tiêm chủng, phòng chống dịch bệnh Công tác vệ sinh môi trường được ở khu dân cư quan tâm triển khai đến bà con nhân dân ở các thôn, bản Triển khai thực hiện bộ tiêu trí quốc gia về y tế trên địa bàn xã năm 2021, đến
nay đã thực hiện đạt 89/100 điểm Tuy nhiên tình trạng vi phạm chính sách dân số
- kế hoạch hóa gia đình còn xảy ra
1.3 Chiến lƣợc phát triển:
- Ủy ban nhân dân xã đã đề ra các giải pháp để cán bộ, công chức phối hợp tuyên truyền đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đồng thời chú trọng các giải pháp đặc biệt quan tâm đến giải quyết việc làm cho nhân dân, đẩy mạnh các Mô hình phát triển kinh tế, các gia trại trong việc phát triển kinh tế, đảm
Trang 13bảo an sinh xã hội, không ngừng cải thiện nâng cao đời sống tinh thần vật chất cho nhân dân
- Việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” đã có những chuyển biến tích cực, đã củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; UBND xã đã công khai, niêm yết đầy đủ các thủ tục hành chính mới tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính theo đúng thẩm quyền giải quyền
- Tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả luôn được xử lý và giải quyết kịp thời đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, qua đó tác phong làm việc, tinh thần, trách nhiệm của cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ được nâng cao đắp ứng nhiệm vụ trong công việc hiện nay
- Đã phối hợp tốt với MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã
hội của cơ quan, đơn vị, tuyên truyền, vận động cán bộ, công chức, đoàn viên, hội viên và nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và các chính sách đầu tư trên mọi lĩnh vực hàng năm
Tuy nhiên trong những năm qua được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Thường trực huyện ủy, UBND huyện, các cơ quan tỉnh, huyện phụ trách xã và các phòng ban chuyên môn của huyện, đặc biệt là sự vào cuộc quyết liệt từ cấp
ủy, chính quyền địa phương và nhân dân trên địa bàn xã vì thế tình hình kinh tế -
xã hội của xã đã có sự khởi sắc rõ rệt như: Thu nhập bình quân/người/ năm tăng lên; Số thôn có đường được bê tông hóa đến các thôn theo Chương trình XDNTM là 12/14 thôn Hiện nay xã đã đạt 11/19 tiêu chí XDNTM; Tỷ lệ hộ nghèo hằng năm giảm từ 4 - 5%; Tình hình an ninh chính trị- trật tự an toàn xã hội được nâng lên Công tác văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao của xã có bước phát triển rõ nét
Trong thời gian tới xã xác định cần tập trung vào phát triển cây ngô theo
hướng thâm canh tăng vụ, đồng thời xác định phát triển chăn nuôi ( Trong đó
chăn nuôi Bò, Ong, Lợn ) là ngành mũi nhọn để nâng cao thu nhập cho nhân
,dân phấn đấu hàng năm đến hết năm 2021, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 62%,
Trang 14nâng thu nhập bình quân/người/năm Đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền đến với mọi tầng lớp nhân dân về các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao công tác vận động và duy trì sỹ số học sinh ở các cấp học, thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, công tác kế hoạch hóa gia đình năm 2021; xã Đang phấn đấu hoàn thành tiêu chí số 15 về XDNTM Duy trì những truyền thống văn hóa tốt đẹp vốn có của nhân dân như: làm khèn, đan quẩy tấu duy trì tốt nghề làm khèn Mông và nghề đan quẩy tấu, đan mẹt
Nhìn chung trình độ dân trí trong toàn xã còn thấp, kinh tế chưa phát triển, do địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, thời tiết khí hậu khắc nghiệt hạn hán kéo dài, các loại dịch bệnh thường xuyên bùng phát ảnh hưởng không nhỏ đến năng xuất cây trồng vật nuôi, dẫn đến thu nhập bình quân đầu người chưa đồng đều Đời sống của nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn, Trong các lĩnh vực văn hoá xã hội ở một số khu vực còn thiếu thông tin thường xuyên
do chưa có điện lưới quốc gia đến nới, phủ sóng truyền hình và phủ sóng điện thoại di động chưa có Đây là những khó khăn ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của xã nói chung và huyện Đồng Văn nói riêng để phát triển du lịch nói riêng
Về tổng thể trên địa bàn xã Sủng Trái của huyện Đồng Văn cũng có những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ như: Hang nàng luông Hang Nà Luông là hang trong dãy núi ở gần bản Nà Luông xã Mậu Long huyện Yên Minh và
xã Sủng Trái huyện ĐồngVăn, tỉnh Hà Giang được hình thành rất nhiều năm, Hang được khảo sát năm 2010 Cửa hang rộng trên 30m được che phủ bằng các loại cây gỗ quý hiếm như nghiến, đinh, lát Đặc biệt, hang động trong núi đá vôi là một trong những kiểu di sản địa chất rất phổ biến của Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn được công nhân là di tích Quốc gia Cùng với điều kiện tự nhiên nêu trên là những nét văn hoá truyền thống đặc sắc của cộng đồng các dân tộc, từ nhiều đời nay đã sống gắn bó với cảnh quan vùng cao núi đá Đó là những phong tục tập quán tốt đẹp, các lễ hội truyền thống độc đáo của dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn như lễ: làm ma khô, lễ hội gầu tào của
Trang 15người H’Mông gắn với trống đồng cổ đều được Nhà nước công nhận là đi sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia
thông nông thôn đến trụ sở, điểm trường thôn và gồm có 2 hợp tác xã chuyên cung ứng xi măng cát sỏi, Nông lâm nghiệp cho nhân dân Có Chợ trung tâm xã họp vào thứ 3 hàng tuần để người dân và các hộ kinh doanh cung ứng trao đổi hàng hóa phục vụ nhu cầu đời sống của nhân dân, tạo ra nhiều sản phẩm hấp dẫn đáp ứng nhu cầu khách thăm quan du lịch về với địa phương trên địa bàn xã
Trong những năm qua Được sự quan tâm của nhà nước, hỗ trợ của Tỉnh, của huyện và các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể trong Tỉnh cùng với sự đoàn kết phấn của toàn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện Nền kinh tế của huyện liên tục tăng trưởng khá, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế trong nhiệm kỳ 2015
- 2020 đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch, Thu ngân sách trên địa bàn liên tục đạt năm sau cao hơn năm trước
Trang 16Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG ĐẶC SẮC CỦA DÂN TỘC MÔNG
Ở XÃ SỦNG TRÁI, HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG
2.1 Lịch sử khái quát của dân tộc Mông
Mông là một trong những dân tộc thiểu số có dân số đông nhất ở Việt Nam, sống chủ yếu trên những vùng núi có độ cao từ 1.000 m trở lên ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An và các tỉnh Tây Nguyên Cùng với 53 dân tộc anh em, người Mông luôn là một phần trong sự thống nhất của khối đại đoàn kết dân tộc và góp phần làm phong phú văn hoá các dân tộc Việt Nam
Người Mông được phân biệt thành nhiều nhóm: Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Đu (Mông Đen), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Si (Mông Đỏ), Mông Dua (Mông Xanh), Mông Xúa (Mông Mán) và nhóm Na Mẻo Sở dĩ người Mông được phân biệt thành các nhóm như vậy là dựa trên sự khác nhau về trang phục và ngôn ngữ giữa các nhóm Mông Ví dụ người Mông Trắng mặc váy màu trắng, người Mông Đen thì mặc váy thiên về màu đen nhiều hơn Ngoài ra, các nhóm người Mông còn được phân biệt dựa trên ngôn ngữ Mỗi nhóm Mông có những từ vựng cơ bản giống nhau nhưng cũng có rất nhiều từ địa phương khác nhau
Tên gọi của người Mông cũng nói lên văn hóa của họ rất rõ Người Mông
ở Việt Nam trước kia được gọi là người Mèo (Miêu) Từ Miêu theo từ Hán Việt chỉ cư dân trồng trọt gắn với cỏ cây, với ruộng vườn Người Mông là cư dân trồng trọt chứ không phải chăn nuôi Người Mông rất thạo nông nghiệp, họ sống trên đỉnh núi cao và có hai hình thức canh tác là làm nương rẫy và trồng lúa nước Người Mông cho rằng trước kia họ đã từng sống ở đồng bằng và họ cũng làm ruộng nên khi lên núi cao sinh sống thì bên cạnh nương rẫy, ở nhiều vùng người Mông cũng phạt núi để làm thành những bậc thang để có thể giữ nước bên
Trang 17trong để trồng lúa nước Trình độ trồng lúa nước trên các thửa ruộng bậc thang của người Mông rất cao Điều này gắn với lịch sử người Mông có một truyền thống trồng lúa nước lâu đời Chị Trần Thu Thủy, Tiến sĩ dân tộc học ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, cho biết: “Người Mông di cư về Việt Nam cách đây khoảng 300 -500 năm Khi họ di cư về Việt Nam, lúc này thì người Kinh sống ở đồng bằng còn dân tộc nhóm Tày, Thái…thì sống ở vùng thung lũng Vậy nên người Mông gần như không có đất để sinh sống nên họ sống trên những đỉnh núi cao Người Mông đã khai thác những vùng đất ở trên vùng núi cao để canh tác nương rẫy, sau này làm ruộng nước, họ biến những sườn đồi, sườn núi thành những thửa ruộng bậc thang để trồng lúa nước Người Mông là một dân tộc rất đặc biệt, họ thích nghi với mọi điều kiện, hoàn cảnh sống Tại những nơi điều kiện, hoàn cảnh sống mới thì họ sáng tạo ra những hình thức canh tác mới cũng như những điều kiện văn hóa cho phù hợp với điều kiện sinh sống mới của mình"
Ở nước ta, dân tộc Mông tương đối đông, sinh sống ở các tỉnh miền núi biên giới; người Mông cư trú xen kẽ với nhiều dân tộc khác nhau, nhưng vẫn có
ý thức quần tụ thành những bản làng nhỏ Các vùng này thường là những sườn núi hay thung lũng có độ cao trung bình từ 800 đến 1500 so với mực nước biển
ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An như: Điện Biên, Bắc kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu…Do tập quán du cư nên một số người Mông trong những năm 1980, 1990 đã di dân vào tận Tây Nguyên, sống rải rác ở một số nơi thuộc tỉnh Đắc lắc, Gia lai, Kon Tum Trên thực tế cho thấy các cư dân Mông ở Việt Nam vẫn có quan hệ với các cư dân đồng tộc ở các nước khác, đặc biệt là những địa bàn sát biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và Lào Nhà của người Mông bao giờ cũng dựng trên các triền núi, nơi mà phía trước có suối, có nguồn nước, phía sau có núi che chở Hầu hết người Mông ở các vùng dùng gỗ pơ mu để làm nhà, riêng nhà người Mông ở Hà Giang làm bằng đất trình tường Do sinh sống ở vùng khí hậu lạnh nên nhà của người Mông thường thấp và không có cửa sổ Một bộ phận đáng kể
Trang 18người mông vẫn còn theo các lối sống truyền thống ở miền tây bắc Việt Nam Với sự gia tăng của du lịch vào các khu vực này trong những năm 1990 đã giới thiệu cho nhiều người Mông lối sống phương Tây, và trang phục truyền thống của người Mông đang dần dần biến mất Chính vì vậy cần có những giải pháp
“bảo tồn văn hóa truyền thống của người dân tộc Mông”
Xã Sủng Trái là một trong những xã có 98,9% dân tộc Mông sinh sống với tinh thần lao động cần cù và những kinh nghiệm sẵn có, người Mông hôm nay đang chung sức xây dựng Nông thôn mới, chung tay góp sức xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, xã có nhiều nét đổi mới, khác xa thời ngày xưa dân đói nghèo, kinh tế không ổn định và trình độ dân trí ngày càng tăng có thể tự lo trang trải cuộc sống nâng cao thu nhập cho gia đình ổn định cuộc sống, an toàn, lành mạnh
2.2 Dân số và thành phần dân tộc
Xã Sủng Trái theo số liệu thống kê năm 2020 người Mông ở xã có 6.634 người chiến 98,9% còn lại là các dân tộc khác Cờ lao, Tày Người Mông ở đây gồm hai nhóm chính là Mông trắng và Mông xanh sống tập chung ở các đồi núi đá cao thành nhóm, cụm, với địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn…Huyện Đồng văn nói chung riêng xã Sủng Trái có dân tộc Mông xanh là đặc biệt riêng của huyện Vì thế cần phải “bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Mông” để không phải dần dân biến mất, những bộ trang phục như: Váy, áo, những điệu múa khèn của nó được thể hiện ở các phong tục tập quán, văn hóa dân gian, văn hóa hiện đại, ngôn ngữ và nhiều lĩnh vực khác của người dân tộc Mông
2.3 Đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội
2.3.1 Đời sống kinh tế
Phần lớn dân tộc Mông sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, biên giới có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, giao thông đi lại khó khăn, nên nhiều hộ thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt Trình độ dân trí của một bộ phận người dân còn hạn chế, dễ bị kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng Bên cạnh đó, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 19trong vùng đồng bào Mông có nhiều biến động, phức tạp; vẫn còn một số tập tục cần cải tiến trong tang ma, cưới xin và vấn đề bình đẳng giới
Khi nói đến đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc Mông thì không thể không nhắc đến vùng cao hiểm trở, khô cằn ở đây họ sống bằng nghề làm nương rẫy, có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, giao thông đi lại khó khăn, nên nhiều hộ thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt trong đó: Trồng trọt là chủ yếu, chăn nuôi chiếm một phần không đáng kể Sở dĩ người Mông chọn những nơi cao, hẻo lánh để cư trú bởi vì sau những chuyến thiên di, lang thang, gặp được vùng đất chưa có người cai quản, đến là định cư, những nơi chân núi bằng phẳng đều
có người làm chủ cả Bên cạnh đó, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong vùng đồng bào Mông có nhiều biến động, phức tạp; vẫn còn một số tập tục cần cải tiến trong tang ma, cưới xin và vấn đề bình đẳng giới, phomg tục tập quán đã hình thành nên đời sống kinh tế của họ
2.3.2 Trồng trọt
Người Mông sống chủ yếu ở vùng núi cao nên nguồn sống chính của đồng bào là làm nương rẫy, tuy cũng có một số nơi trồng lúa nước nhưng rất ít Cây ngô là cây lương thực chính của đồng bào Ngoài ra còn có các cây lương thực khác như: lúa, khoai, sắn, rong riềng, tam giác mạch, đậu tương, đậu răng ngựa…trước đây bà con chỉ biết trồng một vụ nhưng giờ họ đã biết phá thế độc canh chuyển sang làm 2,3 vụ trong một năm, trồng xen kẽ các loại rau đậu dưới các hốc ngô Do đó khi thu hoạch xong ngô người ta còn thu hoạch được không
ít rau đậu bổ sung thêm cho bữa ăn nhiều chất dinh dưỡng
Do đặc điểm khí hậu và thổ nhưỡng nên người Mông còn trồng được nhiều cây dược liệu có giá trị như: Đỗ trọng, tam thất…Bên cạnh đó bà con còn trồng được nhiều loại cây ăn quả: Mận, đào, lê…Đặc biệt có một loại cây trồng người Mông rất chăm chút đó là cây lanh, họ chọn mảnh đất tốt để trồng, sợi lanh dệt lên những chiếc váy, áo, dải khăn…rất đẹp Người Mông quan niệm người chết phải mặc quần áo bằng lanh thì tổ tiên mới nhận
Với nghề chính là làm nương rẫy, chuyên canh tác trên những vùng núi nhiều đá nên dụng cụ canh tác nông nghiệp của người Mông cũng có những đặc
Trang 20điểm riêng nhất định: Cày ngắn, lưỡi cày to bản…Có thể nói rằng trình độ cày nương trên núi đá của người Mông không thua kém một tộc người nào trên đất nước và trên thế giới
Chủ yếu làm nương nên người Mông thích dùng bừa có răng kép để bừa đất vớt cỏ Ngoài cày bừa, cuốc bướm còn là dụng cụ rất đa năng Cuốc của người Mông có lưỡi mỏng và to bản, hình tam giác, cong ở phần chuôi để tra cán, nhọn ở hai đầu, dễ dàng lách vào từng kẽ đá cào đất vun ngô
Con dao quắm cũng là một trong những dụng cụ lao động quan trọng gắn
bó mật thiết với cuộc sống hàng ngày của người Mông Con dao quắm được làm rất công phu, rèn sao cho chặt cây không bị mẻ Chính vì vậy nên bất cứ dân tộc nào sinh sống ở miền núi cũng đều ưa sử dụng
2.3.3 Chăn nuôi
Ở xã Sủng Trái của huyện Đồng Văn người Mông chăn nuôi phát triển thường xuyên nuôi bò, dê, lợn, gà…Do khí hậu lạnh, canh tác chủ yếu trên nương đá nên bà con ít nuôi trâu Bò của người Mông là giống bò to, dùng để kéo cày và giết thịt Gia đình người Mông nào cũng nuôi bò, bò được tuổi rưỡi
là xỏ mũi Dê, lợn là vật nuôi phổ biến trong các gia đình người Mông Dê là loài ăn tạp, ít bệnh, sinh đẻ nhanh, chóng lớn, thích chạy nhảy phù hợp với vùng cao núi đá nên được bà con ở xã Sủng Trái nuôi nhiều Sủng Trái nổi tiếng về lợn đen do dân tộc Mông Xanh nuôi lợn Nái từ 1-2 con chuyên cung cấp giống cho nhân dân trong xã và các xã lân cận Đây cũng chỉ tiêu chủ yếu của xã trong phát triên chăm nuôi tăng thêm thu nhập cho người dân Nhìn chung, sản phẩm chăn nuôi chủ yếu dùng trong gia đình, nhưng ngày nay người Mông đã biết đem gia súc, gia cầm ra các phiên chợ để trao đổi trở thành hàng hóa, có giá trị kinh tế cao phục vụ cuộc sông ngày một tốt hơn
2.3.4 Các nghề thủ công truyền thống và trao đổi hàng hóa
Người Mông ở xã Sủng Trái có các nghề thủ công truyền thống như: Đan Mẹt, Giỏ,Quẩy tấu, dệt vải lanh, làm khèn Những đồ dùng đồng bào tự làm phù hợp với yêu cầu sử dụng và đạt trình độ kĩ thuật khá cao Dân tộc Mông đã dệt
Trang 21lên những tấm thổ cẩm từ tay người phụ nữ khéo léo, với màu sắc sặc sỡ, hài hòa, với những họa tiết hoa văn mang đậm dấu ấn vùng cao, khác hẳn thổ cẩm của nhiều dân tộc khác và đã trở thành những văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc y phục của dân tộc Đa số người Mông xã Sủng Trái coi việc trao đổi hàng hóa chủ yếu diễn ra trong các chợ phiên Chợ phiên cứ mỗi tuần họp một lần vào thứ 3 hàng tuần, một số chợ lùi ở các xã khác trong huyện và lân cận đi họp chợ không đơn thuần là chợ để mua bán mà còn là nơi để giao lưu gặp gỡ người thân, họ hàng, thanh niên nam nữ Do đó chợ phiên nơi đây mang đậm bản sắc văn hóa của các dân tộc trên vùng Cao nguyên Đá
2.3.5 Đời sống xã hội
Vào những năm gần đây thực hiện chương trình 135 của chính phủ Một
số hộ gia đình nghèo người Mông ở trong xã Sủng Trái cũng được hỗ trợ mỗi gia đình một mái nhà, một con bò, một bể nước, nhờ vậy mà đời sống kinh tế của người Mông hôm nay cuộc sống ổn định hơn nhiều Nhưng khi sử dụng tấm lợp prô_ximăng lại làm ảnh hưởng đến kiến trúc nhà truyền thống Vì vậy theo tôi ở đây nên cải tạo theo kiến trúc nhà truyền thống của người Mông để bảo tồn văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Mông với kiến trúc cổ thời xưa ngói
âm dương
Tuy trình độ dân trí còn thấp, đời sống văn hóa tinh thần chưa cao Nhưng người Mông đã bảo tồn và gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc mình như những làn điệu dân ca, những điệu khèn lá những câu chuyện cổ…vẫn được lưu truyền không bị pha trộn và mai một theo thời gian đã và đang được phát huy từng ngày
Trang 22Chương 3 GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC MÔNG Ở XÃ SỦNG TRÁI, HUYỆN ĐỒNG VĂN,
TỈNH HÀ GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1 Bảo Tồn Kiến trúc ngôi nhà truyền thống
Do địa hình cư trú của người Mông đã ảnh hưởng sâu sắc đến kiến trúc nhà ở của dân tộc này Với môi trường sống trên các dãy núi cao, những ngôi nhà nhỏ được làm chông chênh trên các sườn núi, khí hậu lạnh, khắc nghiệt…thì ngôi nhà trình tường bằng đất, lợp ngói hay tranh là phù hợp nhất, vừa giữ ấm
về mùa đông lại mát mẻ về mùa hè và vừa có thể chống được kẻ gian, thú dữ
Nhà của người Mông tương đối thống nhất theo một khuôn mẫu, dù to hay nhỏ, đều phải có ba gian hai cửa, một cửa chính một cửa phụ và tối thiểu là hai cửa sổ Có thể có một trái hoặc hai trái nhà nhưng đều không liên quan trực tiếp tới ba gian nhà chính Trong ba gian nhà chính của người Mông được sắp sếp như sau: Gian bên trái dùng để đặt bếp lò nấu nướng và buồng ngủ của vợ chồng gia chủ
Gian bên phải dùng để đặt bếp sưởi và giường khách (thường kê phía trên bếp, còn phía dưới bếp kê giường ngủ của con cháu trong nhà) Gian giữa thường rộng hơn hai gian bên, đây là gian để bàn thờ tổ tiên và cũng là nơi tiếp khách, ăn uống của gia đình Hai gian trái thường được ngăn bằng vách hoặc trình tường để đựng cối xay ngô, giã gạo hoặc kê thêm giường ngủ…
Bàn thờ tổ tiên được lập ở chính giữa gian giữa, không cầu kì như các dân tộc khác mà chỉ đơn giản là một mảnh ván hoặc không có ván với ba ống cắm hương làm bằng tre nứa cắm vào vách hoặc tường Trên bàn thờ có dán giấy bản
ở gia đìng người Mông, phòng ngủ của vợ chồng, con cái được bố trí riêng Người Mông thường ngủ bằng phản hoặc giáp bằng tre mai đập dập tập tục của ngươì Mông rất khắt khe nơi ngủ của con, em dâu thì bố, anh chồng không được
Trang 23vào và ngược lại con, em dâu không được phép vào giường ngủ của bố hoặc em chồng
Nhà của người Mông bao giờ cũng có sàn gác để cất giữ đồ đạc lương thực thực phẩm Ngoài ra sàn gác còn là nơi ngủ mỗi khi nhà đông khách Nhưng đàn bà con gái thì không được ngủ trên gác Bởi thế kể cả khi cha mẹ chồng, con trai trong nhà đi vắng thì con dâu cũng không được lên gác, muốn lấy vật gì trên gác cũng không được trèo thẳng lên mà chỉ được phép đứng ở cầu thang mà lây que khều Một điều hết sức chú ý nữa là, các ngôi nhà không được dính sát vào nhau kể cả anh em ruột thịt Vì ngươi Mông khi làm ma tươi cho ngươi chết người ta có tục lệ thổi khèn, kèn, tù và, vác nỏ, đi vòng quanh nhà ba lần đi, năm lần về để xua đuổi các loại ma đói, ma yểu…khỏi về quấy rầy người chết
Khi muốn chọn đất làm nhà người ta lấy ba hạt gạo họăc ngô đặt xuống khu đất đã chọn rồi úp bát to hoặc chậu gỗ lên trên Sau đó đốt ba nén hương khấn thần đất, đốt ba tờ giấy bạc với hàm ý làm đơn xin thổ công thổ địa cho gia chủ làm nhà Sáng hôm sau hoặc sau ba tháng, chủ nhà quay lại xem số hạt gạo ngô dưới đất nếu thấy vẫn còn nguyên thì coi như đất ở nơi đó tốt, làm nhà được, ngược lại số hạt gạo ngô bị sâu kiến ăn hết nghĩa là đất ở nơi đó xấu không làm nhà được phải tìm địa điểm khác Sau khi chọn được đất tốt đất lành người ta tiến hành san nền, kê móng, trình tường nhà Công việc trình tường nhà được làm khá công phu với một số quy định như người lạ không vào khu vực nhà đang trình tường nhất là phụ nữ Để trình tường người ta phải làm những chiếc khuôn gỗ có chiều dài 1,5m rộng 0,45- 0,50m Khi trình tường người ta đổ đầy đất vào khuôn gỗ và dùng những chiếc vồ nệm chặt đất Đất dùng để trình tường được loại bỏ sạch rễ cây,đá to, cỏ rác….Cứ như vậy khuôn nọ nối tiếp khuôn kia cho đến khi hoàn thành ngôi nhà Trình tường xong, cây cột cái thường đem thẳng từ rừng về, không được đặt xuống đất mà phải đưa lên nóc ngay Người H’Mông coi hai cây cột cái là cột chủ đạo chủ đạo trong nhà thể hiện sự ngay thẳng cứng cáp vững vàng của chủ nhà nên cây cột phải là một cây không bị sâu, thối cụt ngọn Hai cây cột này còn có vị trí rất quan trọng trong
Trang 24đời sống tâm linh của người Mông nhất là trong tang ma Cây cột cái giữa ở phía bếp lò dùng để treo trống khi có người chết cây cột cái giữa ở phía bếp sưởi dùng để treo trống khi làm ma khô Còn cây cái nóc vì gần trời nhất nên là nơi người trời về nghỉ ngơi, xem xét mọi việc làm trong nhà, đặc biệt khi vào rừng chặt hạ cây cột cái, cây đòn nóc thường phải chọn ngày tốt hợp với tuổi gia chủ Tìm được cây gỗ tốt phải thắp ba nén hương, tiếp đó cắm ba tờ giấy bảnt vào gốc cây khấn thần rừng, thần cây cho xin cây gỗ về làm nhà Họ quan niệm rằng như thế thần cây thần rừng mới không của mắng mà nhà cửa mới yên vui, mọi người khẻ mạnh ăn lên làm ra Cửa chính ra vào của người Mông cũng phải
chọn tìm gỗ tốt để làm Điều này khác với mọt số dân tộc khác ở chỗ “Một năm
làm nhà ba năm làm cửa” Cửa ra vào của người Mông là loaị gỗ tốt, nếu là tre
nứa thì phải là thân trúc hoặc mai già Cửa ra vào bao giờ cũng được mở vào trong chứ không mở ra ngoài Cửa mở vào không được làm bằng thên sắt mà phải cài bằng then gỗ Nguyên do người Mông không sử dụng bản lề, then sắt là
vì cửa mở ra đóng vào được xem là lòng bụng con người, trong khi đó bản lề, sắt thép, đinh là những vật cứng được ví như dao kiếm Cửa nhà người Mông không dùng dao kiếm mà là sự mềm mại của cây rừng Ngoài cửa chính nhà của người Mông bao giờ cũng có cửa phụ Nói là cửa phụ nhưng nó cũng có vị trí quan trọng không kém cửa chính Bởi các thứ đồ của người chết đều phải đưa từ cửa phụ vào nhà như áo quan, cáng để đặt thi hài làm ma…khi đưa ra nghĩa địa mới qua cửa chính
Làm nhà là việc hệ trọng của cả đời người, do đó cũng như dân tộc khác, ngày vào nhà mới cũng là ngày đai sự của người Mông Ngày hôm ấy dù nghèo hay giầu người ta đều tổ chức ăn uống vui vẻ, chúc tụng nhau mọi sự tốt lành Nhà người Mông trên vùng Cao nguyên đá thường được xếp đá xung quanh làm hàng rào che chắn Hàng rào đá xếp xung quanh một nhà hoặc hai ba nhà co quan hệ anh em họ tộc với nhau, làm thành từng khu riêng biệt Người Mông cũng làm nhà dựa lưng vào núi, kiêng làm nhà quay lưng ra khe, vực sâu Bản người Mông có từ ba nóc nhà nhà trở lên, có bản chỉ một dòng họ, nhưng không nhiều Còn lại đa số là một bản có nhiều dòng họ sống cùng với nhau
Trang 253.2 Nhạc cụ truyền thống tại xã Sủng Trái
Sống ở những vùng núi cao gần thiên nhiên, các hình thức nghệ thuật người Mông có những đặc trưng riêng trong cuộc sống lao động vật vả, họ tự sáng tạo ra các loại nhạc cụ tuy đơn giản nhưng âm thanh lại quyến rũ lòng người Từ một chiếc lá ngắn trên cây (kèn lá), đến ống tre, ống trúc, gỗ, da trâu,
da bò đều trở thành phương tiện giúp người Mông bày tỏ lòng mình Có thể kể
ra một số loại nhạc cụ tiêu biểu
- Khèn trúc: Đây là loại nhạc cụ đặc trưng, tiêu biểu và gắn bó với đồng
bào người Mông xã Sủng Trái và cả dân tộc Mông ở nước Việt Nam với chiều dài khác nhau, độ dài ngắn của ống khèn tương ứng với các loại âm vực Cụ thể loại ngắn âm vực bổng, loại dài âm vực trầm và loại âm vực trung bình thì độ dài của ống khèn cũng trung bình Riêng chiều cao thì luôn ngang nhau để vừa tầm tay và miêng thổi Phần thân khèn bằng gỗ, nhánh khèn bằng trúc có đai thắt giữ chặt và tránh vỡ làm bằng vỏ cây gỗ đặc biệt bền và bóng Lưỡi khèn bằng đồng Đặc điểm riêng của khèn Mông là chỉ có 6 ống ngang biểu hiện 6 nốt nhạc nhưng thổi được cả 7 nốt trên khuôn nhạc Loại nhạc cụ này thường do nam giới
sử dụng Cách học có thể theo lối truyền khẩu hoặc theo bài bản từ giản đơn đến phức tạp, từ thấp đến cao Với những nghệ nhân giỏicó thể sáng tác thêm bài cho khèn Có một số ý kiến cho rằng, khèn Mông thường được dùng để thanh niên nam nữ bày tỏ tình cảm với nhau Thực ra điều này không đúng, bởi khèn trúc là loại nhạc cụ quan trọng không thể thiếu trong việc đưa đường chỉ lối tiễn người chết về thế giới bên kia Trong đám tang, tiếng khèn đi liền với tiếng trống, lời bài hát, giai điệu khèn thay đổi theo thời gian Tiếng khèn trong đám tang như nói hộ lòng thương tiếc vô hạn của người sống đối với người đã khuất Như vậy, khèn là loại nhạc cụ chuyên dùng trong đám tang nên người H’Mông không bao giờ dùng khèn để tỏ tình Ngoài đám tang người ta có thể thổi khèn trong các hoàn cảnh: lễ hội, Sự kiện, đi đường, đi chợ…những lúc này người ta vừa thổi vừa kết hợp các động tác theo bài khèn Đã có rất nhiều cô gái nghe tiếng khèn mà đem lòng yêu thương người thổi khèn chẳng qua vì mến phục tài