Xuất phát từ các lí do khách quan trên, cùng với lòng yêu mến, ngưỡng mộ tài năng Lưu Quang Vũ, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:“Nhân vật nữ trong mảng kịch khai thác truyện dân gi
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
CAO THỊ LỆ THỦY
NHÂN VẬT NỮ TRONG MẢNG KỊCH KHAI THÁC TRUYỆN DÂN GIAN CỦA LƯU QUANG VŨ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Trang 2Thái Nguyên – 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LƯU KHÁNH THƠ
Trang 3Thái Nguyên – 2018
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
CAO THỊ LỆ THỦY
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS TS.Lưu Khánh Thơ đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
CAO THỊ LỆ THỦY
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử vấn đề……… ……… 3
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu………9
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu……… 9
5 Phạm vi nghiên cứu……… 10
6 Đóng góp của luận văn……… 10
7 Kết cấu luận văn……… 10
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA THỂ LOẠI KỊCH VÀ HIỆN TƯỢNG LƯU QUANG VŨ ĐỐI VỚI SÂN KHẤU KỊCH VIỆT NAM 11
1.1 Một số giới thuyết về thể loại kịch và sự xuất hiện, phát triển của thể loại kịch ở Việt Nam……… 11
1.2 Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ – Hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch Việt Nam……….19
1.3 Đóng góp nổi bật từ mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ………24
Tiểu kết chương 1:……… 27
CHƯƠNG 2: LOẠI HÌNH NHÂN VẬT NỮ TRONG MẢNG KỊCH KHAI THÁC TRUYỆN DÂN GIAN CỦA LƯU QUANG VŨ……… 28
2.1 Nhân vật nữ với những éo le, trắc trở trong tình yêu……….29
2.2 Nhân vật nữ đứng trước những biến cố lớn trong cuộc đời………33
2.3 Nhân vật nữ với những phẩm chất tâm hồn cao đẹp……… 39
2.3.1 Tâm hồn trong sáng, lương thiện, trung thực……… 40
2.3.2 Sự chung thủy và đức hi sinh cao cả trong tình yêu………48
2.3.3 Sự đấu tranh để vươn tới những giá trị đích thực của tình yêu, cuộc sống……… 55
Trang 7Tiểu kết chương 2:……… 61
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT NỮ TRONG MẢNG KỊCH KHAI THÁC TRUYỆN DÂN GIAN CỦA LƯU QUANG VŨ……… 62
3.1 Khắc họa nhân vật thông qua xung đột kịch ……… 63
3.2 Khắc họa nhân vật thông qua hành động kịch……… 69
3.3 Khắc họa nhân vật thông qua ngôn ngữ……… 73
Tiểu kết chương 3:……… 86
PHẦN KẾT LUẬN……… 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 8
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Lưu Quang Vũ là một tác giả lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam
nửa cuối thế kỉ XX Thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, Lưu Quang Vũ là con người hội tụ tài năng về nhiều mặt, và hầu như ở lĩnh vực nào trong hoạt động nghệ thuật ông cũng đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận Ông là một nhà văn, nhà thơ và trên hết là một nhà viết kịch tài năng Trong lịch sử của nền sân khấu kịch nói Việt Nam, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ được biết đến như một hiện tượng hiếm có Sau Lưu Quang Vũ, sân khấu kịch dường như vẫn là khoảng trống chưa thể lấp đầy Tác giả Christian Hoche người Pháp đã từng nhận định: “Moliere ở Việt Nam tên là Lưu Quang Vũ”[23,tr.162] Mặc dù cuộc đời ngắn ngủi (1948-1988) và thời gian dành cho sân khấu không nhiều, chỉ khoảng chưa đầy 10 năm nhưng ông
đã để lại một khối lượng tác phẩm trên 50 vở kịch, hầu hết được viết rất công phu và đã được dựng, nhiều vở đạt huy chương Những vở kịch của Lưu Quang
Vũ khi được trình diễn đã đem đến cho đời sống tinh thần văn hóa của nhân dân cả nước thời điểm đó một bầu không khí tươi mới, phấn chấn, tin tưởng, cởi mở, dân chủ Cho đến nay, những tác phẩm của Lưu Quang Vũ vẫn tràn đầy sức sống và nguyên giá trị trên sân khấu kịch và trong lòng người xem bởi
nó mang tính thời đại khi thể hiện những tâm tư, trăn trở về cuộc sống nhân sinh Năm 2000, ông đã được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật Đây là một sự đánh giá cao của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp văn học và nghệ thuật của ông Chính vì vậy, việc tìm hiểu về những sáng tác của Lưu Quang Vũ nói chung và kịch Lưu Quang Vũ nói riêng
là điều vô cùng cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn
1.2 Là một nghệ sỹ với năng khiếu bẩm sinh và khả năng cảm thụ nghệ thuật,
bên cạnh những vở kịch lấy đề tài từ lịch sử hay hiện đại thì sự xuất hiện của những vở kịch lấy đề tài từ tích truyện dân gian của Lưu Quang Vũ cũng là biểu
Trang 10hiện của một tài năng lớn trong nghệ thuật Tìm hiểu về mảng kịch này, chúng tôi được hiểu hơn về tầm vóc, suy nghĩ của một kịch tài năng biết trân trọng, làm mới cái cũ, đem đến cho sân khấu kịch những giá trị sâu sắc hấp dẫn mới
mẻ, đúng như nhà phê bình nghiên cứu Lưu Khánh Thơ đã nhận xét: “Tài năng của nhà viết kịch lại một lần nữa được khẳng định trong việc biến cổ tích, huyền thoại thành chuyện của thời hiện đại, nêu lên cái muôn đời trong những cái bình thường” [23,tr.169]
1.3 Sức lan tỏa từ những vở kịch và vị trí xuất sắc của Lưu Quang Vũ
trong nền văn học Việt Nam đã trở thành lí do xứng đáng để các nhà nghiên cứu và các nhà giáo dục lựa chọn đưa tác phẩm của ông vào trong chương trình giảng dạy THCS và THPT từ nhiều năm nay Với trích đoạn của hai vở
kịch Tôi và chúng ta và Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ đã được
giới thiệu là nhà văn tiêu biểu cho thể loại kịch nói hiện đại Việt Nam Đặc biệt
trích đoạn vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch được khai thác từ cốt
truyện dân gian - một trong những tác phẩm làm nên tên tuổi của Lưu Quang
Vũ đã đưa vào giảng dạy chính thức ở THPT Điều này chính là sự khẳng định
cho những giá trị nghệ thuật của kịch Lưu Quang Vũ nói chung và mảng kịch khai thác truyện dân gian nói riêng Tuy nhiên đến nay, nhìn chung kịch vẫn chưa được tìm hiểu nhiều và sâu trong trường học, chưa có vị trí tương xứng với giá trị đích thực của nó
Xuất phát từ các lí do khách quan trên, cùng với lòng yêu mến, ngưỡng
mộ tài năng Lưu Quang Vũ, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:“Nhân vật
nữ trong mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ”.Qua nghiên
cứu đề tài, chúng tôi rất mong muốn góp phần tìm hiểu sâu hơn về thể loại được coi là siêu đẳng trong văn học, tìm hiểu sâu sắc hơn về mảng kịch khai thác truyện dân gian, từ đó lí giải thấu đáo đầy đủ đặc trưng và giá trị ý nghĩa những đoạn trích các vở kịch của tác giả trong sách giáo khoa, phục vụ cho công tác nghiên cứu cũng như giảng dạy trong nhà trường Đồng thời qua đây góp phần
Trang 11đánh giá vị trí và đóng góp lớn lao của tác giả Lưu Quang Vũ đối với thể loại kịch nói riêng và nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung Bởi Lưu Quang
Vũ là một tác giả lớn có tầm ảnh hưởng rộng lớn đối với diện mạo văn học và đối với công chúng không chỉ hôm nay mà chắc chắn cả mai sau, tầm đón đợi các vở kịch của Lưu Quang Vũ sẽ còn sức lan tỏa mạnh mẽ và mãnh liệt qua chiều kích của thời gian
về các tác phẩm của Lưu Quang Vũ
Ở giai đoạn đầu, nhiều các bài báo, các nhà phê bình viết về các tác phẩm thơ của Lưu Quang Vũ của các nhà nghiên cứu như: Hoài Thanh với “Một cây bút trẻ nhiều triển vọng”; Vũ Quần Phương với “Đọc thơ Lưu Quang Vũ”; Vương Trí Nhàn với “ Những bài thơ viển vông cay đắng u buồn viết trong những năm tháng chiến tranh”; Phạm Xuân Nguyên với “Tâm hồn trở gió”; Lưu Khánh Thơ với “Tình yêu- đau xót và hi vọng”; Nguyễn Thị Minh Thái với “Thơ tình Lưu Quang Vũ”; Vũ Quang Vinh với “Đọc Mây trắng của đời tôi nhớ Lưu Quang Vũ”; Bích Thu với “Những bài thơ sống với thời gian”… Nhìn chung về thơ, qua các bài viết các nhà nghiên cứu phê bình đều thống nhất cho rằng Lưu Quang Vũ là một hồn thơ nhiều cảm xúc, mang một
Trang 12tình yêu trong trẻo với quê hương đất nước, một cái tôi đam mê đắm đuối nhiều khao khát mà cũng thật chân thành, độ lượng trong tình yêu
Hai tập truyện ngắn của Lưu Quang Vũ là “Người kép đóng hổ” và “Mùa
hè đang đến” cũng thu hút nhiều nhà phê bình nghiên cứu Tiêu biểu đó là các
bài viết: “Văn xuôi Lưu Quang Vũ- cầu nối giữa thơ và kịch” của Phong Lê;
“Truyện ngắn Lưu Quang Vũ” của Lê Minh Khuê; “Lưu Quang Vũ qua hai tập truyện ngắn Người kép đóng hổ và Mùa hè đang đến” của Lê Dục Tú… Ở các bài viết này các tác giả đã chỉ ra chất thơ cũng như hơi hướng kịch trong truyện ngắn của Lưu Quang Vũ Các bài viết đã cho thấy truyện ngắn của ông “thấm đẫm những hồi ức, những xao động của một đời người Truyện ngắn Vũ có những nhân vật nhân hậu như chính tác giả của nó”[23,tr.137] và “…có nhiều chuyện đã làm cho người đọc cảm động thực sự là thấy mình dường như phải sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn với con người và cuộc sống” [23,tr.140]
Đến thể loại kịch, với một số lượng tác phẩm lớn chỉ trong vòng gần mười năm sáng tác, Lưu Quang Vũ đã tạo nên tiếng vang lớn cho sân khấu kịch trường những năm 80 của thế kỉ XX Sau hàng loạt các vở diễn gây tiếng vang
như Nàng Sita, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9, Nguồn sáng trong đời, cũng đã tạo được sự chú ý cho công chúng và giới
nghiên cứu phê bình Phải kể đến các bài viết như: Con đường sáng tạo của một tài năng của Ngô Thảo; Kịch pháp Lưu Quang Vũ của G.S Phan Ngọc; Phép ứng xử với cái chết trong kịch Lưu Quang Vũ (Phan Trọng Thưởng); Sự khai thác mô-típ dân gian trong kịch Lưu Quang Vũ (Lưu Khánh Thơ);Kịch Lưu Quang Vũ và những vấn đề của đời sống (Cao Minh)… Những ý kiến đánh giá về kịch Lưu Quang Vũ đều có chung nhận xét: tác giả Lưu Quang Vũ là một tài năng lao động nghệ thuật thực thụ, sức sáng tạo đặc biệt của “một Moliere ở Việt Nam”, đề tài kịch của Lưu Quang Vũ rất đa dạng đặc biệt bắt nhịp với cuộc sống mới, chất lượng kịch của Lưu Quang Vũ hấp dẫn lôi cuốn
ở cách tổ chức xung đột kịch, ở ngôn ngữ và nghệ thuật xây dựng nhân vật
Trang 13Lưu Quang Vũ đến với sân khấu đúng vào lúc sân khấu Việt Nam đang có những đòi hỏi khẩn thiết Đó là nhiệm vụ phản ánh những vấn đề nóng bỏng, cấp thiết, nổi cộm lên trong đời sống xã hội và bối cảnh đổi mới của đất nước sau chiến tranh Giá trị lâu dài của tác phẩm của Lưu Quang Vũ chính là tính nhân đạo cao cả và tính triết lý sâu sắc Chính vì vậy, trên sân khấu cũng như trong cuộc sống xã hội hiện nay, những nội dung mà kịch bản của tác giả Lưu Quang Vũ đề cập đến vẫn vẹn nguyên giá trị Khái quát về đời văn của Lưu
Quang Vũ, tác giả Lưu Khánh Thơ và Lý Hoài Thu với cuốn “Lưu Quang Vũ
về tác giả và tác phẩm” đã có một công trình mang tính tổng lược và hoàn
chỉnh về đường nghệ thuật của Lưu Quang Vũ từ một nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình đến khi trở thành một tác giả hàng đầu của sân khấu Việt Nam Bài viết
đã chỉ rõ:“Lưu Quang Vũ có hai mươi năm vui buồn cùng thơ và mười năm cuối đời song hành cùng kịch, nhưng trong mười năm ấy tài năng của Lưu Quang Vũ đã tỏa sáng và tạo cho mình một phong cách một kịch pháp và trở thành một hiện tượng nổi bật nhất của sân khấu Việt Nam thời kì đổi mới” Những cuốn sách tổng hợp các công trình nghiên cứu về Lưu Quang Vũ
đã được xuất bản như cuốn Lưu Quang Vũ thơ và đời; Lưu Quang Vũ tài năng
và lao động nghệ thuật (Lưu Khánh Thơ); Lưu Quang Vũ về tác giả và tác phẩm (Lưu Khánh Thơ – Lý Hoài Thu); Tác phẩm đạt giải thưởng Hồ Chí Minh (do Lưu Khánh Thơ biên soạn các vở kịch của Lưu Quang Vũ)…
Ngoài ra còn có nhiều luận văn, luận án tiến sĩ, các bài nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành về các tác phẩm của Lưu Quang Vũ như: Lê Hương
Giang (2010) với Giá trị tư tưởng và nghệ thuật trong kịch Lưu Quang Vũ, Nguyễn Hồng Yến (2014) với Liên văn bản trong kịch Lưu Quang Vũ, Tô Thị Kim Thoa (2011) với Mảng kịch dựa trên tích truyện dân gian của Lưu Quang
Vũ, Lê Hoa (2010) với Thế giới nghệ thuật kịch của Lưu Quang Vũ, Phan Trọng Thành (2008) với Những giá trị nội dung xã hội và nghệ thuật trong kịch Lưu Quang Vũ…
Trang 14Qua các công trình nghiên cứu kể trên có thể thấy các công trình nghiên cứu về Lưu Quang Vũ khá phong phú về số lượng và hướng tiếp cận Điều này cho thấy sức thu hút cũng như sức sống mạnh mẽ của những tác phẩm Lưu Quag Vũ nói chung và kịch nói riêng, đồng thời cũng gợi mở cho chúng tôi hướng tiếp cận nghiên cứu mới mẻ của mình về mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ
2.2 Những công trình nghiên cứu về mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ
Các nhà nghiên cứu tập trung vào hai đề tài chính trong kịch của Lưu Quang Vũ là đề tài khai thác mô típ truyện cổ dân gian và đề tài hiện đại viết
về cuộc sống mới để đưa ra những nhận xét đánh giá về tài năng nghệ thuật, cội nguồn sáng tạo nghệ thuật của Lưu Quang Vũ Dù là ở đề tài nào, các tác giả nghiên cứu đều có những đánh giá xác đáng, làm rõ thành công và đặc trưng của mỗi vở Trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi chỉ đi tìm hiểu những bài nghiên cứu về các vở kịch thuộc đề tài khai thác truyện dân gian để thấy được
sự cách tân của Lưu Quang Vũ khi tiếp thu văn học truyền thống Có thể thấy các nhà nghiên cứu đã dành nhiều sự quan tâm cho mảng kịch có số lượng ít
mà đầy thú vị này Có những bài viết mang ý nghĩa đánh giá khái quát về mảng kịch này và cả những bài biết về từng tác phẩm cụ thể Trong số đó các bài viết
về tác phẩm kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt nhận được nhiều sự quan tâm
Trang 15ngẫm của Ngô Thảo về vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt Dù sao điều có
ý nghĩa nhất là tác giả đã phân loại kịch của Lưu Quang Vũ, tạo nên tính khoa học, hệ thống trong quá trình nghiên cứu
Tác giả Phan Trọng Thưởng khi tìm hiểu về mảng kịch này đã chỉ ra Phép ứng xử với cái chết trong kịch Lưu Quang Vũ, đặc biệt là đến vở Hồn Trương
Ba, da hàng thịt, tác giả chỉ ra vấn đề sống - chết còn được Lưu Quang Vũ nâng
lên bình diện triết học - dựa trên nền cốt truyện mang đạo lý dân gian
Tác giả Cao Minh trong Kịch Lưu Quang Vũ và những vấn đề của đời sống đã nêu "Từ một truyện cổ dân gian mang tính triết lý cao, Lưu Quang Vũ
sáng tác vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt Vở kịch đi thẳng vào người xem với vấn đề muôn thuở của con người, cũng là vấn đề cấp bách của cuộc sống hiện tại” [23,tr174-175]
Tác giả Phạm Thị Thành: "Anh cũng hay dùng các câu chuyện huyền thoại, cổ tích để viết lên những tâm sự của con người hôm nay” [26,tr.251-252]
Phạm Vĩnh Cư gọi Hồn Trương Ba, da hàng thịt là bi hùng kịch, Lưu Quang
Vũ đã "đổ rượu mới vào bình cũ kể lại chuyện hài cổ như một bi kịch triết lý thời nay với hai chiều kích đan thoa: chiều kích nhân sinh - xã hội và chiều kích bản thể siêu hình”
Các bài viết hầu hết tập trung làm rõ một số đặc điểm và giá trị của vở
kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt và một số vở kịch khác trong mảng kịch khai
thác truyện dân gian tuy nhiên còn mang tính chất rời rạc lẻ tẻ Duy nhất cho
đến nay, PGS.TS Lưu Khánh Thơ trong bài viết Sự khai thác mô típ dân gian trong kịch Lưu Quang Vũ đã có sự quan tâm đúng mức đến mảng kịch dựa trên
tích truyện dân gian của Lưu Quang Vũ với những luận điểm rõ ràng, cụ thể:
“Việc khai thác các mô típ dân gian, dựa vào đó để viết kịch bản mang đậm
dấu ấn cá nhân và phong cách của mình đã tạo cho kịch Lưu Quang Vũ một chiều sâu đáng kể Nó tạo cho kịch của anh sự phong phú về đề tài, hấp dẫn ở cốt truyện, lôi cuốn ở nghệ thuật xây dựng nhân vật Trong số kịch bản của Lưu
Trang 16Quang Vũ, khối lượng những vở khai thác trực tiếp từ cốt truyện dân gian không nhiều lắm, nhưng hầu hết những vở kịch đó đều đạt tới hiệu quả nghệ
thuật tương đối cao Tiêu biểu nhất là vở “Hồn Trương Ba da hàng thịt” [8,166]
“Lời nói dối cuối cùng cũng là một vở kịch khai thác vốn cổ dân gian mà vẫn
giầu ý nghĩa hiện đại của Lưu Quang Vũ” [8,tr.168] Vở kịch Ông vua hoá hổ
cũng được phân tích theo hệ thống của những tác phẩm thuộc mảng kịch dựa trên tích truyện dân gian Cuối cùng, PGS.TS Lưu Khánh Thơ kết luận: "Tài năng của nhà viết kịch một lần nữa được khẳng định trong việc biến cổ tích, huyền thoại thành chuyện của thời hiện đại, nêu lên cái muôn đời trong những
cái bình thường”[8,tr.169] Trong Tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh,
tác giả Lưu Khánh Thơ cũng đã có những nhận xét về đóng góp của Lưu Quang
Vũ đối với nền văn học kịch Việt Nam và những lưu ý tới mảng kịch dựa trên
tích truyện dân gian, cụ thể là vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt
Cho đến gần đây đã có thêm một số luận văn, các bài nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành về mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ, tuy nhiên mới dừng lại ở mức độ khái quát, đi vào tìm hiểu những vấn đề chung
nhất của mảng kịch Đó là của tác giả Mai Thị Tâm với Mảng kịch dựa trên tích truyện dân gian của Lưu Quang Vũ (2007); tác giả Tô Thị Kim Thoa với Mảng kịch dựa trên tích truyện dân gian của Lưu Quang Vũ (2011)
Nhìn chung đối với mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang
Vũ thì còn rất nhiều vấn đề hầu như còn chưa được đi sâu tìm hiểu, còn rất nhiều khía cạnh mang ý nghĩa giá trị sâu sắc chưa được khai phá nghiên cứu Đặc biệt qua khảo sát chúng tôi nhận thấy chưa có bài viết và công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về nhân vật nữ trong mảng kịch này Vì vậy với đề tài
“Nhân vật nữ trong mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ”
chúng tôi hi vọng sẽ khơi mở được những vấn đề còn mới mẻ hay đang dang
dở, qua đó góp phần đánh giá chiều sâu giá trị của kịch Lưu Quang Vũ Song phải khẳng định rằng, những đánh giá, nhận định ban đầu của các tác giả, các
Trang 17nhà nghiên cứu đã tạo tiền đề, gợi ý quý báu cho người viết luận văn này; qua
đó góp phần tạo nên cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về kịch Lưu Quang Vũ cũng như hiểu được sự cách tân sáng tạo của tác giả khi tiếp thu văn học dân gian
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là nhân vật nữ trong mảng kịch
khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ qua 4 kịch bản: Lời nói dối cuối
cùng, Ông vua hóa hổ, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Linh hồn của đá
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn hướng tới mục tiêu làm rõ hình tượng nhân vật nữ được tác giả xây dựng trong mảng kịch khai thác truyện dân gian Sự tìm hiểu về hình tượng nhân vật nữ có thể đem lại cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc về quan niệm nhân sinh của Lưu Quang Vũ về con người, về cuộc sống
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ những vấn đề của thể loại kịch và sự đóng góp của Lưu Quang Vũ đối với sân khấu kịch Việt Nam Làm rõ đặc điểm nhận vật nữ và nghệ thuật xây dựng nữ trong mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp thống kê, phân loại, Phương pháp so sánh đối chiếu, Phương pháp hệ thống, Phương pháp phân tích tổng hợp, Phương pháp nghiên cứu liên ngành
5 Phạm vi nghiên cứu
Trang 18Tìm hiểu về nhân vật nữ trong mảng kịch khai thác truyện dân gian của
Lưu Quang Vũ, chúng tôi nghiên cứu 4 kịch bản: Lời nói dối cuối cùng, Ông vua hóa hổ, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Linh hồn của đá
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn đi sâu vào tìm hiểu về nhân vật nữ trong mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ, qua đó góp phần tạo nên cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về kịch Lưu Quang Vũ cũng như hiểu được sự cách tân sáng tạo của tác giả khi tiếp thu VHDG Đó là cơ sở lí luận để cảm hiểu sâu sắc, giảng dạy hiệu quả các tác phẩm kịch được đưa vào giảng dạy trong nhà trường như
vở Hồn Trương Ba da hàng thịt
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn của chúng tôi được triển khai thành 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề của thể loại kịch và hiện tượng Lưu Quang Vũ đối với sân khấu kịch thời kì đổi mới
Chương 2: Loại hình nhân vật nữ trong mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ
NỘI DUNG CHƯƠNG 1
Trang 19MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA THỂ LOẠI KỊCH VÀ HIỆN TƯỢNG LƯU
QUANG VŨ ĐỐI VỚI SÂN KHẤU KỊCH VIỆT NAM
1.1 Một số giới thuyết về thể loại kịch và sự xuất hiện, phát triển của kịch
ở Việt Nam
1.1.1 Một số giới thuyết về thể loại kịch
1.1.1.1 Khái niệm về thể loại
Theo Từ điển thuật ngữ văn học ở cấp độ loại hình thì kịch là một trong
ba phương thức tồn tại cơ bản của văn học (kịch, tự sự, trữ tình) Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học Nó vừa để diễn là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch
Kịch được xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn lịch sử, xã hội hoặc những xung đột mang tính nhân loại Những xung đột ấy được thể hiện cụ thể qua hành động kịch và ngôn ngữ kịch trong một cốt truyện chặt chẽ giàu kịch tính trong những tình huống độc đáo
Căn cứ vào nội dung kịch, có thể chia thành các thể loại: hài kịch, bi kịch, bi hài kịch, chính kịch Cũng có thể căn cứ vào nội dung của các đề tài
mà chia kịch thành: kịch cổ điển, kịch dân gian, kịch thần thoại, kịch hiện đại Cũng có cách phân chia khác dựa theo chính thời gian biểu diễn chia thành: kịch ngắn, kịch dài
Không nên đồng nhất kịch và kịch bản văn học Nói đến kịch là nói đến một loại hình của nghệ thuật sân khấu mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều hoạt động của diễn viên, đạo diễn, hóa trang, ánh sáng, âm thanh Kịch bản văn học chỉ là một yếu tố, dù đó có thể là một trong những yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của kịch Kịch bản văn học là tác phẩm văn học, có đầy đủ đặc điểm của nghệ thuật ngôn từ Còn sân khấu thuộc nghệ thuật biểu diễn
Trang 20Kịch bản văn học viết ra là để biểu diễn nên cũng đậm chất sân khấu Vì thế khi xem xét kịch bản văn học một mặt phải xem nó như một tác phẩm nghệ thuật, mặt khác không thể tách rời nó khỏi nghệ thuật sân khấu mới thấy hết được những đặc trưng của nó
Nhìn dưới cấp độ như một thể loại, kịch ra đời vào khoảng nửa sau thế
kỉ XVIII với các sáng tác của các nhà văn khai sáng ở Pháp và Đức như là G.E.Letsing, Boomacse, Didoro…
1.1.1.2 Một số đặc trưng của thể loại kịch
- Xung đột kịch:
Kịch bắt đầu từ xung đột Pha đê ép cho rằng: "Xung đột là cơ sở của
kịch" Hiểu theo nghĩa hẹp, xung đột trong tác phẩm kịch là sự phát triển cao nhất sự mâu thuẫn của hai hay nhiều lực lượng đối lập thông qua một sự kiện hay một diễn biến tâm lí cụ thể được thể hiện trong mỗi màn, mỗi hồi kịch Có thể có rất nhiều loại xung đột khác nhau Có xung đột biểu hiện của sự đè nén, giằng co, chống đối giữa các lực lượng, có xung đột được biểu hiện qua sự đấu tranh nội tâm của một nhân vật, có xung đột là sự đấu trí căng thẳng và lí lẽ để thuyết phục đối phương giữa hai lực lượng Do tính chất sân khấu quy định cho nên trong khi phản ánh hiện thực, tác giả kịch bản buộc phải bước vào những mâu thuẫn trong cuộc sống đã phát triển đến chỗ xung đột, đòi hỏi phải được giải quyết bằng cách này hay cách khác Vì vậy, có thể nói xung đột là
đặc điểm cơ bản của kịch Hégel cho rằng "tình thế giàu xung đột là đối
tượng ưu tiên của nghệ thuật kịch"
Xung đột kịch cần phải phản ánh những mâu thuẫn cơ bản của xã hội và thời đại, nói cách khác là luôn mang tính lịch sử cụ thể Ở những thời đại khác nhau có những xung đột khác nhau Ở thời cổ đại, đó là sự xung đột giữa thế giới quan thần linh, tư tưởng định mệnh với khát vọng làm chủ thiên nhiên, làm
Trang 21chủ bản thân của con người Trong xã hội nô lệ, đó là xung đột giữa những người nô lệ muốn đấu tranh giành lại tự do với bọn chủ nô Trong xã hội phong kiến, đó là xung đột giữa một bên là uy quyền của vua chúa, quan lại với người dân bị áp bức và đòi được giải phóng Trong thời kì hiện đại, các xung đột thường xoay quanh những vấn đề cách mạng và phản cách mạng, cái thiện, cái
ác, cái mới, cái cũ, cái tốt, cái xấu
Xung đột kịch do tính chất sân khấu quy định đồng thời xung đột làm cho kịch có tính sân khấu Sức hấp dẫn của một vở kịch là ở chỗ nhà văn phải phát hiện, nêu ra và giải quyết các xung đột lớn nhỏ trong vở kịch Các yếu tố khác của kịch phải góp phần tô đậm xung đột và dẫn đến một kết cục sâu sắc, gần gũi với những vấn đề của cuộc sống
Xét một vài đặc điểm về xung đột kịch như vậy, có thể nói xung đột là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong kịch “Giá trị tư tưởng nghệ thuật của
vở kịch phụ thuộc vào việc lựa chọn đúng đắn xung đột kịch và xung đột kịch chỉ có thể trở thành cơ sở tốt đẹp của vở kịch khi nó nảy sinh ra như một sự phản ánh độc đáo những mâu thuẫn điển hình của cuộc sống” [16,tr.20]
- Hành động kịch:
Hành động kịch cũng là một đặc trưng nổi bật của kịch bởi kịch là một thể loại mang lại sự nhận thức thực tại thông qua yếu tố hành động Xung đột kịch được triển khai thông qua các hành động Hành động là cơ sở cơ bản của một tác phẩm kịch Tuy nhiên không thể hiểu đơn giản hành động kịch chỉ là lời nói cử chỉ, dáng điệu (ngôn ngữ cơ thể) của diễn viên
Hành động kịch chính là sự thể hiện trực tiếp nội dung của xung động kịch Hành động kịch chính là cốt truyện được tổ chức một cách thống nhất và chặt chẽ trong một khuôn khổ hoàn chỉnh của một tác phẩm nghệ thuật Kịch
có cốt truyện chặt chẽ vừa đủ không có chỗ cho những vụn vặt, trữ tình ngoại
Trang 22đề,… Vì vậy, hành động kịch thường được tổ chức theo quan hệ nhân quả chặt chẽ Hành động này là kết quả của hành động trước và là nguyên nhân của hành động sau
Hành động kịch gắn chặt với nhân vật kịch, là trục chính để thể hiện tính cách nhân vật Hành động kịch thể hiện ý thức cũng như cảm xúc của nhân vật qua đó thể hiên xung đột kịch Hành động kịch có thể được chia thành hành động bên trong và hành động bên ngoài Hành động bên trong là những diễn biến tâm lí, những suy nghĩ, tâm trạng thể hiện rõ nét đời sống nội tâm của nhân vật Hành động bên ngoài là những điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười… của nhân vật kịch (do các diễn viên thể hiện trên sân khấu)
Ðiểm khác nhau cơ bản giữa tác phẩm kịch với tác phẩm tự sự và kí là kịch không có nhân vật người kể chuyện Maxim Gorki cho rằng: "Kịch, bi kịch, hài kịch là thể loại khó nhất trong văn học, khó là vì một vở kịch đòi hỏi mỗi nhân vật trong vở kịch phải thể hiện tính cách bằng lời nói và hành động không có lời mách bảo, gợi ý của tác giả Các nhân vật kịch được hình thành là
do lời lẽ của họ và tuyệt đối chỉ do những lời lẽ ấy mà thôi nghĩa là tác giả xây dựng nhân vật bằng ngôn ngữ hội thoại chứ không phải bằng ngôn ngữ miêu tả"
Trang 23Tác phẩm kịch được viết ra chủ yếu là để diễn trên sân khấu, bị hạn chế bởi không gian và thời gian nên số lượng nhân vật không thể quá nhiều như trong các tác phẩm tự sự và cũng không được khắc họa tỉ mỉ, nhiều mặt Do đó, trong kịch tính cách nhân vật được tạo ấn tượng nổi bật và xác định nhằm gây
ấn tượng mãnh liệt và sâu sắc cho khán giả Hiển nhiên sự nổi bật, tập trung đó không có nghĩa là đơn giản, một chiều Xoay quanh một nét tính cách khác, vừa liên đới, vừa biến thái làm cho gương mặt của nhân vật sinh động và đa dạng hơn
Nhân vật của kịch thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm Do đặc trưng của kịch là xung đột nên khi đứng trước những xung đột đó, con người bắt buộc phải hành động và vì vậy, con người không thể không đắn đo, suy nghĩ, cân nhắc, băn khoăn, dằn vặt Đặc trưng này cũng được thể hiện trong các loại văn học khác nhưng rõ ràng được thể hiện tập trung và phổ biến nhất trong kịch Chính từ đặc điểm này, nhiều tác giả kịch đã dùng biện pháp lưỡng hóa nhân vật nhằm biểu hiện cuộc đấu tranh nội tâm của chính nhân vật đó
Trang 24Ðộc thoại là lời nhân vật tự nói với chính mình, tự giãi bày tâm tư tình cảm của mình Ðây là biện pháp quan trọng nhất nhằm biểu hiện nội tâm nhân vật nhưng không phải là biện pháp duy nhất Ðể biểu hiện nội tâm, bên cạnh độc thoại, người ta có thể thay thế bằng những phút yên lặng, những tiếng đế
Bàng thoại là lời nói riêng với khán giả: Có khi đang đối đáp với một nhân vật khác, bỗng nhiên nhân vật tiến lên về phía khán giả nói vài câu để giải thích một cảnh ngộ, một điều bí mật Loại này rất hiếm, chỉ thấy trong loại kịch tự sự như của Brết, nhất là những lời giáo đầu trong tuồng chèo ở ta” [13,tr.410]
Về đặc điểm, ngôn ngữ kịch phải là ngôn ngữ mang “tính hành động, tính khẩu ngữ, tính hàm súc, tính tổng hợp và phải phù hợp với tính cách của nhân vật” [13,tr.410] Trước hết, đó là những lời đối thoại thông thường trong cuộc ssống, phải có tác dụng khắc họa tính cách, nghề nghiêp, tuổi tác, trình độ văn hóa của nhân vật Nó mang sắc thái riêng của từng tình cách, do từ miệng nhân vật nói ra, chứ không phải do tác giả Ngôn ngữ trong kịch đòi hỏi phải gắn liền mật thiết với động tác, điều này giúp người xem hiểu được những suy nghĩ, tâm tư nhân vật
Ngôn ngữ nhân vật kịch đòi hỏi người viết phải có một vốn hiểu biết phong phú và sâu rộng về quần chúng, nắm được cách nói đa dạng của quần chúng, điều này quan trọng đối với mọi nhà văn nói chung nhưng đặc biệt là đối với người viết kịch
1.1.2 Sự xuất hiện và phát triển của thể loại kịch ở Việt Nam
Ngay từ thuở bình minh của nền văn học Hi lạp - La mã cổ đại, kịch đã xuất hiện và sớm trở thành một thể loại văn học thượng đẳng Ở những giai đoạn tiếp theo trong lịch sử châu Âu, kịch có một sức phát triển vượt trội và rực rỡ, xuất hiện nhiều kịch gia lỗi lạc xứng tầm nhân loại Đó là các tên tuổi
Trang 25như:Corneill, Racine, Molier, Sechxpia… Ở Việt Nam, người ta biết đến kịch như một thể loại văn học chính thức vào đầu thế kỉ XX
Xuất hiện vào khoảng những năm 20 của thế kỉ XX cùng với tiến trình hiện đại hóa văn học, thể loại kịch Việt Nam ghi nhận một số tên tuổi như tác
giả Vũ Đình Long với Chén thuốc độc, Tòa án lương tâm; Vi Huyền Đắc với Ông Ký Cóp, Hai tối tân hôn, Kim tiền; Đoàn Phú Tứ với Mơ hoa, Những bức thư tình, Ngã ba; Nguyễn Huy Tưởng với Vũ Như Tô… Lúc đầu chỉ các tác
phẩm dịch từ nước ngoài, sau đó là mô phỏng, phóng tác sau đó là sáng tác và được công chúng đô thị tiếp nhận
Kịch nói giai đoạn 1930 -1945 đã có những khởi sắc mới với các tác giả tiêu biểu như Thế Lữ Kịch giai đoạn này đã phản ánh được những mâu thuẫn lớn trong đời sống xã hội lúc bấy giờ: sự đối kháng giữa cái mới và cái cũ, giữa Tây học và Nho học, giữa tư tưởng đạo đức phong kiến với lối sống tự do đề cao cái tôi cá nhân của cơn gió Âu hóa tràn vào nước ta
Từ sau cách mạng tháng Tám 1945, kịch cũng như nhiều thể loại khác của nền văn học dân tộc đã thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc Các vở kịch tạo được tiếng vang thời kì này như:
Bắc Sơn, Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng, Chị Hòa của Học Phi, Lòng dân của Nguyễn Văn Xe… Phần lớn nội dung các vở kịch hướng về đời
sống kháng chiến và cách mạng của dân tộc
Thời kì kháng chiến chống Mỹ, kịch đã có bước chuyển biến phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng Hòa chung với không khí đấu tranh chống
Mỹ của dân tộc, kịch thời kì này phản ánh hai vấn đề nóng hổi của đất nước lúc bấy giờ đó là công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam Những vở kịch tiêu biểu ở giai đoạn này như
vở: Lập Xuân, Quê hương của Xuân Trình; Nổi gió, Đại đội trưởng của tôi, Tổ quốc của Đào Hồng Cẩm, Đôi mắt của Vũ Dũng Minh Tiền tuyến gọi của Trần
Trang 26Quán…
Sau 1975, chiến tranh kết thúc hòa bình lập lại, hiện thực cuộc sống có nhiều biến đổi Bước ra khỏi cuộc chiến tranh trường kì, dân tộc lại phải đối mặt với rất nhiều khó khăn chồng chất Hiện thực cuộc sống thay đổi cần cái nhìn đa diện nhiều chiều và đời sống con người cá nhân cũng được đặt lên một
vị trí mới trong văn học Văn học từ sau 1975 đặc biệt sau đổi mới đã có bước chuyển mình, trong đó kịch không thể đứng ngoài dòng chảy chung
Kịch giai đoạn này có bước phát triển nhảy vọt tạo nên một đời sống sân khấu sôi động với nhiều thành tựu lớn đáng ghi nhận Nhà nghiên cứu Vũ
Quang Vinh trong bài viết Vài nét về sự phát triển của kịch nói ba mươi năm 1954-1984 đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1/1985 đã nhận xét “với
sự tăng tiến cả về số lượng và chất lượng các tiết mục, cũng như sự mạnh dạn
và phong phú trong những đổi mới, tìm tòi, sáng tạo, chúng ta vui mừng vì đã
có một nền kịch nghệ tương đối hoàn chỉnh” Sân khấu kịch thời kì này diễn
ra sôi động, nhiều vở kịch gây tiếng vang, như hàng loạt các vở kịch của Lưu
Quang Vũ: Tôi và chúng ta, Lời thề thứ chín, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tất Đạt với Đỉnh cao mơ ước, Xuân Trình với Mùa hè ở biển, Hoài Giao với Nhân chứng và lịch sử… Những vở kịch thời kì này đã phản ánh những vấn đề thời
sự nổi cộm của đời sống xã hội lúc bấy giờ Những mâu thuẫn của chế độ quản
lí xã hội cũ kĩ với đời sống mới đòi hỏi sự đổi mới, những mâu thuẫn giữa cái tốt-xấu nảy sinh trong xã hội thời hậu chiến… Các vấn đề được đặt ra cấp thiết kịp thời đã mang đến cho người đọc người xem niềm tin vào cuộc sống đang
có quá nhiều biến động Có thể khẳng định đây chính là thời kì vàng son của
sân khấu kịch Việt Nam
Nhìn lại gần một thế kỉ phát triển của thể loại kịch ở Việt Nam, chúng
ta có thể thấy, tuy là một thể loại non trẻ hơn các thể loại khác nhưng kịch đã hòa mình vào đời sống chung của dân tộc Đi qua những thăng trầm biến thiên
Trang 27của lịch sử dân tộc, kịch Việt Nam đã từng bước phát triển và trưởng thành và đạt được nhiều thành tựu đặc sắc Tuy còn nhiều hạn chế, thành quả cũng còn khiêm tốn so vơi một số thể loại văn học khác nhưng kịch nói hiện đại đã khẳng định được chỗ đứng của mình trong nền văn học dân tộc
1.2 Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ – Hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch Việt Nam
1.2.1 Tiểu sử
Tác giả Lưu Quang Vũ quê ở Đà Nẵng, sinh ngày 17/4/1984 tại Thiên
Cơ, Hạ Hòa, Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ) trong một gia đình gia giáo, yêu văn học nghệ thuật Cha ông, Lưu Quang Thuận, tác giả của một số vở kịch và hàng loạt bài thơ từ trước cách mạng Từ thủa bé, Lưu Quang Vũ đã sớm bộc lộ những năng khiếu nghệ thuật và tư chất nghệ sĩ, từng 3 lần đoạt giải văn toàn thành phố Hà Nội, mới 13 tuổi đã có truyện ngắn được in… Tuổi thơ Lưu Quang Vũ được sống trong môi trường nghệ thuật và tham gia các hoạt động nghệ thuật từ rất sớm
Năm 1966, Lưu Quang Vũ vào bộ đội, được biên chế về quân chủng phòng không không quân Thời gian này Lưu Quang Vũ vẫn làm nhiều thơ, viết truyện ngắn, tiểu phẩm Có nhiều bài đăng trên các báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Văn nghệ quân đội
Năm 1970, Lưu Quang Vũ xuất ngũ, ông có gia đình riêng với vợ là diễn viên Tố Uyên và con trai Lưu Minh Vũ Tiếp sau đó là những năm tháng gian nan vất vả trong cuộc đời ông: công việc bấp bênh, hạnh phúc riêng dang dở…Trong hoàn cảnh khốn khó ấy, Lưu Quang Vũ vẫn không ngừng viết truyện, làm thơ, sáng tác kịch Năm 1973, ông lập gia đình với nữ sĩ Xuân Quỳnh –một nhà thơ tài năng Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng cuộc sống riêng của ông vẫn rất đầm ấm hạnh phúc – Nhà thơ Xuân Quỳnh dường
Trang 28như là bến đỗ bình yên nhất sau những mất mát trong cuộc đời Lưu Quang Vũ Hạnh phúc nở hoa kết trái, họ sinh được người con trai Lưu Quỳnh Thơ
Năm 1977, Lưu Quang Vũ làm biên tập ở Tạp chí Sân khấu với công việc ổn định và phù hợp với khả năng của ông
Ngày 29-8-1988, ông qua đời cùng vợ và con trai trong một tai nạn giao thông, giữa lúc sự nghiệp đang ở đỉnh cao
Lưu Quang Vũ ra đi để lại một khoảng trống vắng không gì bù đắp được của đời sống sân khấu Sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật, bản thân có năng khiếu thiên bẩm, vượt lên bao thế sự thăng trầm của cuộc đời riêng, Lưu Quang Vũ đã thực sự trở thành người nghệ sĩ lớn
1.2.2 Con đường trở thành nhà viết kịch của Lưu Quang Vũ
Nhiều người trở thành tác giả sân khấu từ những xuất phát điểm khác nhau như: người từ nhà báo, nhà văn, đạo diễn, diễn viên và các ngành nghề khác Lưu Quang Vũ trước khi trở thành nhà viết kịch ông là một nhà thơ và một nhà văn có ít nhiều thành công Có thể nói “Lưu Quang Vũ đã được chuẩn
bị một vốn liếng văn học và nghề nghiệp nhất định trước khi bước vào lĩnh vực sân khấu” [23,tr.141]
1.2.2.1 Sự nghiệp thi ca là tiền đề cho chất trữ tình trong kịch của Lưu Quang
Vũ
Trước khi xuất hiện trên sân khấu, Lưu Quang Vũ đã được mọi người biết đến với tư cách là một nhà thơ trẻ có năng khiếu thiên bẩm Giới phê bình văn học, mà cụ thể là Hoài Thanh đã khẳng định “Lưu Quang Vũ là một cây bút trẻ nhiều triển vọng” [23,tr.7] Hoài Thanh đã sớm nhận ra một hồn thơ trong trẻo rất hồn nhiên trong cảm xúc và cũng rất già dặn suy tư khi đọc những bài thơ đầu tiên của ông Nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng thơ “là nơi lý thác nhiều nhất”, “cốt cách thi sĩ vẫn là nét nổi trội nhất trong tâm hồn anh” [23,tr.33] Sự
Trang 29nghiệp thơ của ông bắt đầu nở rộ từ những năm 1970 trở đi, khi mà cuộc đời ông gặp vô vàn khó khăn Ông làm thơ như để bày tỏ những giãi bày những nỗi niềm riêng, cả niềm vui nỗi buồn và cả những đớn đau đổ vỡ của cuộc đời Lưu Quang Vũ mất sớm nhưng cũng đã có hơn 20 năm sáng tác thơ, và cũng đã kịp
đặt tên cho 12 tập thơ, trong đó đã có nhiều tập hoàn chỉnh như: Cỏ tóc tiên, Hương cây (in năm 1968), Mây trắng của đời tôi (in năm 1989), Cuốn sách xếp lầm trang, Bầy ong trong đêm sâu (in năm 1993)…
Có nhiều công trình nghiên cứu về thơ Lưu Quang Vũ, hầu hết đều chỉ
rõ đặc trưng cơ bản của thơ ông đó là chất đắm đuối đam mê và nhiều khát vọng Như ta đã biết, kịch là sự kết hợp giữa nguyên lí sử thi và chủ thể độc lập của thơ trữ tình Cái Tôi trữ tình của Lưu Quang Vũ trong thơ chính là chủ thể
tự khẳng định mình bằng những khát vọng của cá nhân, sự bộc lộ nội tâm hoàn toàn độc lập Cái Tôi sử thi trong thơ Lưu Quang Vũ là bộc lộ tinh thần dân tộc qua ý muốn chủ thể, mục đích cá nhân với hoàn cảnh bên ngoài và cản trở thực
tế, là sự cảm nhận hiện thực của chủ thể nghệ sĩ Đây là tiền đề hết sức quan trọng đối với con đường đi tới sân khấu kịch của Lưu Quang Vũ bởi vì trong thơ của ông đã bộc lộ những cơ sở của những nguyên lí tạo nên kịch
1.2.2.2 Truyện ngắn Lưu Quang Vũ- cầu nối từ thơ đến kịch
Truyện ngắn Lưu Quang Vũ phần nhiều là những câu chuyện kể nhẹ nhàng
về miền quê, về tuổi trẻ đầy mơ ước, khát vọng Bên cạnh đó còn là những chân dung của những con người hết sức bình thường trong cuộc sống Vốn là một nhà thơ nên có thể thấy truyện ngắn của ông cũng đẫm chất thơ Mặc dù không
có được thành công đáng kể như ở hai thể loại kịch và thơ nhưng ông cũng có
được 3 tập truyện ngắn đáng kể như: Người kép đóng hổ, Mùa hè đang đến, Một vùng mặt trận Lê Minh Khuê cho rằng: “Truyện ngắn của anh khi đó là
có bản sắc riêng” [8,tr.133] Mười năm sau chiến tranh, truyện ngắn của ông
xuất hiện “là tiếng nói của những người thường gặp, không to tát lên gân, ai
Trang 30cũng có thể tìm thấy chút riêng của mình trong đó” [23,tr.133] Điều đó có thể nhận thấy sự chuyển mình của Lưu Quang Vũ trong các truyện ngắn cuộc sống không chỉ là bức tranh hào hùng thơ mộng mà đã xuất hiện những khoảng tối nhức nhối, bức xúc, những niềm riêng tư của con người đã được đề cập đến, điều mà trong chiến tranh người ta gạt sang bên cạnh Có thể nói truyện ngắn của Lưu Quang Vũ là sự báo hiệu, là bước “tiền trạm” cho những vấn đề nóng bỏng của xã hội mà ông sẽ thể hiện rõ nét thành hình trong các vở kịch sau này của mình
Tóm lại có thể thấy thơ là động lực, là cơ sở, còn truyện ngắn là sự bắt đầu cho những vấn đề xã hội và khả năng khắc họa chân dung nhân vật mà sau này làm bệ phóng cho ông bước vào kịch nói, nó là chất văn xuôi của kịch Lưu Quang Vũ
1.2.2.3 Kịch Lưu Quang Vũ- kết tinh tài năng
Năm 1987, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm biên tập viên ở Tạp chí sân khấu
và bến duyên với sân khấu kịch từ đây Năm 1979, Lưu Quang Vũ hoàn thành
vở kịch đầu tay “Sống mãi tuổi mười bảy” Vở kịch đầu tay này đã giành 5 giải
nhất khi tham gia Hội diễn sân khấu toàn quốc năm 1980 Năm 1981, vở kịch
“Cô gái đội mũ nồi xám” được dàn dựng và Lưu Quang Vũ trở thành cái tên
thực sự được công chúng chú ý trên sân khấu kịch Tiếp đó, Lưu Quang Vũ bằng tài năng và đam mê nghệ thuật đã cho ra đời nhiều tác phẩm kịch có giá
trị như: Người trong cõi nhớ (1982), Nguồn sángtrong đời (1984), Tôi và chúng
ta (1984), Hồn Trương Ba da hàng thịt (1984), Người tốt nhà số 5 (1984), Lời nói dối cuối cùng (1984), Khoảnh khắc và vô tận (1986)…
Kịch của Lưu Quang Vũ phong phú nhiều đề tài: dã sử, dân gian, chiến tranh, quân đội, đời sống… Kịch của ông mang tính thời sự nhạy bén, vừa có tính khám phá sâu sắc, vừa có tính lâu dài Mỗi vở kịch của ông đều chứa đựng những triết lí sống của con người và thời đại, đánh thức ở con người lương tâm,
Trang 31trách nhiệm và khả năng tự thanh lọc tâm hồn để vươn tới những điều tốt đẹp hơn Kịch của Lưu Quang Vũ ngoài sự phát hiện, xây dựng trên những nhân vật mang dáng nét con người mới hôm nay và ngày mai, tác gải còn không ngần ngại phê phán các kiểu nhân vật tiêu cực trong thực tế đời sống ở mọi tầng lớp, thậm chí những dạng nhân vật và những vấn đề mà trước kia người ta né tránh ngại đề cập đến
Với 55 vở kịch được viết trong 10 năm, với 47 vở được đưa lên sàn diễn, với 8 huy chương vàng, 2 huy chương bạc và nhiều giải thưởng khác thể hiện sức làm việc bền bỉ phi thường của Lưu Quang Vũ cũng như vai trò vị trí của ông trong nền sân khấu Chính những đóng góp ấy mà khi nghiên cứu về ông, một học giả người Pháp đã gọi ông là “Moliere ở Việt Nam tên là Lưu Quang Vũ” [23,tr.162] Hay như G.S Phan Ngọc nhận định “Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch lớn nhất thế kỉ này của Việt Nam, là một nhà văn hóa” và “có một kịch pháp Lưu Quang Vũ” Tác giả Cao Minh “Thông qua kịch của mình, Lưu Quang Vũ đã góp phần quan trọng làm nên bộ mặt sân khấu thập kỉ tám mươi
Và cất tiếng nói dũng cảm thức tỉnh cái tốt đẹp đang bị lấp phủ, cảnh tỉnh cái xấu đang hoành hành, ngự trị trong cuộc sống đương đại” Thời gian và sự yêu mến của khán giả chính là thước đo rõ nhất giá trị của một tác phẩm nghệ thuật Những tác phẩm của Lưu Quang Vũ đã vượt qua được những thử thách khốc liệt của thời gian để khẳng định chỗ đứng của mình
1.3 Những đóng góp nổi bật từ mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ là một tài năng nhiều mặt, ngay trong sân khấu kịch người đọc người xem cũng sẽ thấy sự thành công đa dạng ở nhiều thể loại, đề tài Theo
tác giả Ngô Thảo trong bài nghiên cứu “Con đường sáng tạo của một tài năng”
[23,tr.143], có thể chia những sáng tác kịch của ông thành ba loại:
Trang 32Loại 1: Dựa vào một số tích cũ của văn học dân gian trong và ngoài nước
rồi viết lại như: Lời nói dối cuối cùng, Hồn Trương Ba da hàng thịt, nàng Sita, Đam San, Ông vua hóa hổ, Linh hồn của đá…
Loại 2: Dựa vào một cốt truyện văn học để chuyển thành kịch như: Đôi dòng sữa mẹ, Hẹn ngày trở lại, Chết cho điều chưa có, Muối mặn của đời em…
Loại 3: Hoàn toàn do sáng tác: Đây là phần chủ yếu và đề tài đều là hiện đại
Trong số đó, khối lượng những vở kịch khai thác từ cốt truyện dân gian không nhiều, chiếm một phần nhỏ trong những sáng tác của ông nhưng có thể khẳng định hầu hết những vở kịch này đều đạt tới hiệu quả tương đối cao Nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ đã nhận xét: “Việc khai thác các mô típ dân gian, dựa vào đó để viết kịch bản mang đậm dấu ấn cá nhân và phong cách của mình
đã tạo cho kịch Lưu Quang Vũ một chiều sâu đáng kể Nó tạo cho kịch của anh
sự phong phú về đề tài, hấp dẫn ở cốt truyện, lôi cuốn ở nghệ thuật xây dựng
nhân vật” [23,tr166] Trong số những vở kịch khai thác từ cốt truyện dân gian
của Lưu Quang Vũ có nhiều tác phẩm xuất sắc, cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị và được công diễn nhiều lần trên sân khấu trong và ngoài nước
Tiêu biểu như vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được ra mắt công chúng
năm 1984, giới phê bình nghiên cứu đánh giá đây là một trong những vở kịch hay nhất của Lưu Quang Vũ Vở kịch lấy cốt từ câu chuyện dân gian, về tích này sân khấu dân tộc đã nhiều người khai thác Tuồng Trương Đồ Nhục đã nhắc nhiều đến những câu chuyện vui hài hước do anh đồ tể gây ra “Đến lượt mình, Lưu Quang Vũ đọc từ trong cốt truyện dân gian xưa những ý tưởng mà con người hiện đại cũng phải kính nể” [23,tr.144] Một cốt truyện dân gian bình thường quen thuộc vậy mà khi đưa lên sân khấu vở kịch đã không chỉ dừng lại
ở những giá trị ban đầu mà đặt ra những vấn đề mới mẻ, những bài học nhân sinh sâu sắc Những bi kịch và những rắc rối mà Trương Ba phải trải qua vì
Trang 33sông vay mượn chắp vá bằng thân xác anh hàng thịt đã cho người đọc người xem bài học muôn đời: Cuộc sống là sự hòa hợp giữa thể xác và linh hồn Tạo hóa sinh ra mỗi con người chỉ có một lần, cần phải biết gìn giữ nuôi dưỡng và trân trọng nó Cuộc sống này thật đáng quý với mỗi người, nhưng phải sống hài hòa giữa phần hồn và phần xác, cuộc sống chỉ có giá trị khi “con người được sống đúng là mình” Sống vay mượn chắp vá sẽ tạo ra những xộc xệch mất cân đối và đem lại bi kịch cho con người Con người phải không ngừng đấu tranh
ngay cả với chính mình để vươn tới lẽ sống cao đẹp… Vở kịch Hồn Trương
Ba, da hàng thịt được công diễn nhiều lần trên sân khấu và đến nay vẫn còn
nguyên sức hút, hiện nay văn bản kịch này đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường THPT, điều đó cho thấy ý nghĩa tư tưởng sâu sắc và giá trị lâu bền của tác phẩm
Vở kịch “Lời nói dối cuối cùng” cũng là một vở kịch gặt hái được nhiều
thành công của Lưu Quang Vũ, khai thác vốn cổ dân gian mà vẫn giàu ý nghĩa hiện đại Hình tượng chú Cuội với những lời nói dối truyền miệng trong dân gian đã được tác gải xây dựng nên một hình tượng nhân vật sinh động, hấp dẫn Trong vở kịch, Cuội thông minh lém lỉnh nhanh ý đã làm được nhiều việc tốt việc thiện để giúp đỡ mọi người, chỉ có điều những việc tốt ấy cũng như những hành động có ý nghĩa đẹp đẽ ấy đều được thực hiện dựa trên những lời nói dối vòng quanh không đúng sự thực Kết cục những mong muốn và ý định tốt đẹp
mà Cuội mong muốn làm cho mọi người đã dẫn đến thất bại, những người được Cuội giúp đều trở thành nạn nhân của những tình huống trớ trêu Và ngay chính Cuội cũng là nạn nhân bởi những lời nói dối của chính mình Vở kịch kết thúc
để lại cho người đọc người xem những bài học chân lí sâu xa: Những điều tốt đẹp chỉ thực sự có ích với con người khi nó được dựa trên nền tảng của sự trung thực và lòng ngay thẳng Điều tốt đẹp không thể đến từ những lời nói dối Ngoài hai vở kịch tiêu biểu kể trên, còn một số vở kịch khác lấy từ tích
Trang 34truyện dân gian mà vẫn giàu giá trị hiện đại được bạn đọc đón nhận và để lại
cho người xem nhiều dư ba cảm xúc như: Ông vua hóa hổ, Linh hồn của đá, Nàng Sita…
Như vậy có thể thấy những vở kịch sáng tác dựa trên cốt truyện dân gian của Lưu Quang Vũ đã đem đến cho người đọc, người xem những vấn đề có nghĩa sâu sắc mới mẻ, giúp mỗi người chúng ta có cái nhìn cuộc sống, nhìn lại bản thân một cách đầy đủ sâu sắc hơn “Tài năng của nhà viết kịch một lần nữa được khẳng định trong việc biến cổ tích, huyền thoại thành chuyện của thời hiện đại, nêu lên cái muôn đời trong những cái bình thường” [23,tr169] Thành công ở mảng kịch này góp phần làm nên tên tuổi của Lưu Quang Vũ trên sân khấu kịch Những ý tưởng tốt đẹp của ông cùng những kịch phẩm ông để lại cho đời, những vở diễn đêm đêm còn đang sống trên sàn diễn của mọi thời đại
đã chứng minh một tài năng lớn, một tư tưởng lớn!
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 chúng tôi tập trung giải quyết ba vấn đề chính như sau:
1 Kịch là thể loại văn học ra đời muộn hơn các thể loại khác, gồm những đặc trưng cơ bản: Xung đột kịch, hành động kịch, nhân vật kịch và ngôn ngữ kịch Với những đặc trưng riêng như vậy cho nên kịch tuy ra đời sau nhưng có sức hấp dẫn riêng và có sự kết hợp chặt chẽ với sân khấu Kịch ở Việt Nam ra đời vào khoảng những năm 20 của thế kỉ XX, và từ đó cho đến nay đã có những thành tựu đáng kể và đóng góp lớn cho nền văn học dân tộc với nhiều tên tuổi lớn và nhiều tác phẩm đặc sắc
2 Lưu Quang Vũ là một con người tài năng về nhiều mặt Trước khi đến với
Trang 35sân khấu kịch, ông là một nhà thơ và nhà văn tài năng Ông là người góp phần làm nên diện mạo sân khấu kịch những năm 80 của thế kỉ XX, những tác phẩm của ông cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị
3 Ở mảng kịch khai thác truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã đạt được những thành công nhất định Những câu chuyện dân gian quen thuộc nhưng lại có ý nghĩa hiện đại mới mẻ giúp người đọc người xem có những nhận thức về bài học nhân sinh quý báu trong cuộc sống
CHƯƠNG 2 LOẠI HÌNH NHÂN VẬT NỮ TRONG MẢNG KỊCH KHAI THÁC
TRUYỆN DÂN GIAN CỦA LƯU QUANG VŨ
Nhân vật được coi là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, là yếu
tố tập trung giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm văn học Trong tác phẩm văn học kịch, do đặc trưng của kịch là xung đột nên khi đứng trước những xung đột đó nhân vật bắt buộc phải hành động Nhân vật kịch là nhân vật hành động, qua hành động nhân vật bộc lộ tính cách của mình, vì vậy nhân vật thường rất nổi bật về tính cách và chia thành nhiều tuyến rõ rệt Một vở kịch muốn hay, muốn thể hiện rõ tính xung đột thì nhân vật kịch phải có tích cách nổi bật (hoặc
Trang 36tốt, hoặc xấu, hoặc anh hùng, hoặc đê hèn…) Mâu thuẫn xung đột kịch cũng chính là mâu thuẫn xung đột của các tuyến nhân vật này
Thế giới nhân vật nữ trong mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ hiện lên đa dạng và phong phú, sự đa dạng thể hiện ở chỗ người phụ
nữ trong tác phẩm với đủ mọi lứa tuổi: Từ những bé gái (cái Gái, cái Tâm ) đến các cô gái trong độ tuổi yêu đương (Lụa, quận chúa Kim Hoa, cô Sim…) đến những phụ nữ có chồng (Thanh, chị con dâu, hoàng hậu ) và những phụ
nữ đã có tuổi (vợ Trương Ba ) Trong các tác phẩm kịch khai thác từ truyện dân gian này, tính cách số phận của họ được hiện lên rõ nét thông qua các hành động để giải quyết mâu thuẫn xung đột kịch Họ được đặt vào trong những tình huống đầy mâu thuẫn, thậm chí đầy biến cố và bắt buộc phải có sự lựa chọn và thể hiện đậm nét tính cách của mình Mỗi người có những nét tính cách riêng khác biệt nhưng nhìn chung họ đều là những nhân vật nữ có nhiều phẩm chất tâm hồn cao đẹp, trong sáng, lương thiện trung thực, có sự hi sinh cao cả trong tình yêu, cuộc sống Người đọc sẽ cảm nhận được ở họ vẻ đẹp của người phụ
nữ Việt Nam truyền thống Đối với nhân vật của mình, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ thể hiện tấm lòng sẻ chia cảm thông trước những bi kịch, những biến
cố đồng thời trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của họ
2.1 Nhân vật nữ với những éo le, trắc trở trong tình yêu
Điều đẹp đẽ và kì diệu nhất trong cuộc sống chính là tình yêu – một tình
cảm sâu sắc nhất lãng mạn nhất và cũng chính là nguồn động viên tinh thần mạnh mẽ nhất đối với bất kì ai Một tình yêu tuyệt đối luôn là niềm khao khát của tất cả phụ nữ Nhà văn Võ Thị Hảo cho rằng: “Phụ nữ hay quan niệm tình yêu là tất cả cuộc đời Còn đàn ông thì không Họ quan niệm tình yêu như nó vốn có, chỉ là một phần cuộc đời Vì thế phụ nữ thường dại khờ và bất hạnh hơn” Những nhận vật nữ trong mảng kịch khai thác truyện dân gian của Lưu Quang Vũ phần lớn là những cô gái đã tìm được tình yêu, trái tim từng thổn
Trang 37thức đập loạn nhịp khi đứng trước một chàng trai của đời mình Tuy nhiên con đường tình yêu của họ không phải êm ái dễ dàng trải đầy hoa hồng Nói cách khác, tình yêu đem đến cho họ sự ngọt ngào nhưng cũng nhiều éo le, trắc trở
Thanh trong Linh hồn của đá là một cô gái đáng mơ ước của nhiều chàng
trai, một cô gái ở một ở một làng đá ven biển hiền hành chăm chỉ nết na Thanh gặp Vịnh trong một lần Vịnh và các bạn lính bị lạc đến xóm đá Trong những ngày chăm sóc vết thương cho Vịnh, nhìn vào mắt nhau cả hai dường như đã
có cảm giác thật quen thuộc Trái tim Thanh đã dành trọn cho người lính ấy và cũng nhận được sự đồng cảm Nhưng số phận thách thức tình yêu của họ, bắt Thanh phải chờ đợi Vịnh là người lính cầm súng và dĩ nhiên sự chờ đợi của Thanh sẽ là mỏi mòn bởi không biết trước ngày gặp lại Suốt hai năm chờ đợi rồi âu lo khi giặc giã đã yên, lính tráng ai còn sống đã lục đục trở về vậy mà Thanh vẫn có tin tức của Vịnh Cô kiên quyết từ chối lời cầu hôn của anh chàng thợ mộc và anh chàng buôn sắt để trọn vẹn với lời hứa hẹn cùng Vịnh Thanh xuân tuổi trẻ của người con gái chỉ có một lần và trôi qua không chờ đợi ai, vậy
mà Thanh phải trải qua những năm tháng chờ đợi mỏi mòn không biết trước ngày gặp gỡ
Sự thủy chung chờ đợi của Thanh đã được đền đáp, Vịnh trở về sau lấm láp bom đạn của chiến tranh, họ nên nghĩa vợ chồng Với tình yêu đẹp, những tưởng hạnh phúc sẽ ở bên họ mãi mãi Nhưng số phận lại nghiệt ngã éo le thay:
“Em ngờ đâu anh ngờ đâu/ Biển xót xa, biển khổ đau/ Bởi vì ai bởi vì đâu/ Mười năm sống bên nhau/ Bỗng tan thành nước mắt/ Ngàn triệu sóng tan thành biển mặn/ Để kể hoài kể mãi chuyện buồn đau” [46, tr.13] Tình yêu của họ và mười năm vợ chồng gắn bó ra hoa kết trái lại là bi kịch đau xót của cuộc đời Trong một lần chải tóc cho vợ cùng câu chuyện Thanh kể, Vịnh đã phát hiện ra một sự thật nghiệt ngã, cay đắng: Thanh chính là người em gái ruột bao nhiêu năm thất lạc của mình Còn gì đau khổ, éo le hơn cho tình yêu của họ, số phận
Trang 38trêu ngươi để họ yêu nhau và lấy nhầm nhau Cái Tâm, con gái của họ lại là kết quả của một tình yêu oan trái Vịnh đau khổ không muốn Thanh biết sự thật nên tìm mọi cách trốn tránh rồi một lần nữa rời xa Thanh Nhưng lần ra đi này
là mãi mãi bởi anh không thể đối mặt với sự thật khủng khiếp này, ra đi để chôn vùi một tình yêu trớ trêu, đau khổ Và Thanh lại một lần nữa chờ đợi – sự chờ đợi vô vọng mà mãi mãi không thể nào hiểu được nguyên nhân vì sao hơn mười năm tình nghĩa vợ chồng gắn bó mặn nồng Vịnh lại ra đi bỏ lại vợ con
Sự chờ đợi của Thanh hóa thành đá, linh hồn lặn vào trong đá lạnh Bi kịch tình yêu của Thanh và sự chờ đợi hóa đá gợi nhắc về câu chuyện cổ tích “Sự tích đá vọng phu” trong dân gian Nhân vật trung tâm là người phụ nữ chung thủy với
bi kịch tình yêu ngang trái éo le và sự chờ đợi mỏi mòn hóa đá với những nỗi đau câm nín không nói được nên lời
Trong vở kịch “Lời nói dối cuối cùng” có một số nhân vật nữ để lại nhiều
thiện cảm với người đọc, nhưng trước tình yêu họ cũng phải trải qua nhiều éo
le khó khăn ngang trái
Lụa là một cô gái đẹp người đẹp nết, khéo léo chăm chỉ trong lao động nhưng trong con đường tình duyên cô trở thành người hoàn toàn bị động, thậm chí phải đối mặt với nhiều rắc rối do chính những người dành tình cảm cho mình gây ra Lụa chăm chỉ lao động nhưng vì món nợ của gia đình từ lúc cha mất nên lão Chánh tổng đã o ép đến tịch thu nhà cửa, khiến cho cô gái dệt lụa nổi tiếng khắp vùng không còn đường sống, nhắm mắt đưa chân suýt phải làm
vợ công tử Lãn Một kẻ giàu có hống hách, tâm hồn thô kệch rỗng tuếch, tính tình hung hăng Lụa cũng là người trong mộng của Cuội – một người mặt mũi sáng sủa có bản chất tốt nhưng lại chuyên bày trò với sự tinh quái và tính cách dối trá Cuội thổi sáo hay làm thơ giỏi, nói năng đi vào lòng người Mỗi lần đứng đằng sau bóng công tử Lãn để thổi sáo và nói những lời có cánh là mỗi lần Cuội bày tỏ bằng tiếng lòng chân thật và sâu thẳm trong trái tim mình Lụa
Trang 39đã rung động vì điều ấy Tuy nhiên cách làm của Cuội đã khiến cho cô Lụa nhầm lẫn, đẩy Lụa đến đám cưới với công tử Lãn Rồi Cuội bằng sự tinh quái, tài nói dối đã cứu cô Lụa ra khỏi cuộc hôn nhân không mong muốn Và cứ như vậy, cho dù tình cảm của Cuội với cô Lụa là thật nhưng Cuội vẫn đưa Lụa vào những rắc rối do chính sự dối trá của mình gây ra Câu chuyện rắc rối trong cung vua đã khiến Lụa phải quyết định rời bỏ Cuội vì không thể chấp nhận được những điều dối trá do Cuội gây ra ngày càng nhiều, càng nghiêm trọng Những điều dối trá đó đã biến cô thành con rối một cách bị động Như vậy, cho
dù được Cuội yêu mến và dành trọn tình cảm nhưng Lụa lại trở thành nạn nhân của của chính tình yêu đó
Quận chúa Kim Hoa – em gái của hoàng hậu đem lòng yêu mến Cuội khi Cuội vào cung trong vai một danh y tài giỏi Nhưng những gì Cuội làm và thể hiện đều chỉ là một màn kịch không hơn không kém, để rồi tất cả bị lừa bịp và quận chúa cũng không phải là một ngoại lệ Đám cưới với Cuội mãi chỉ là một giấc mơ rồi tan tành như mây khói khi màn kịch hạ xuống, Cuội cũng biến mất cùng những lời nói dối
Trong vở kịch còn có một nhân vật nữ cũng bị cuốn theo câu chuyện dối trá của Cuội và gặp những éo le trong tình yêu Đó là cô Sim – nữ tỳ của quận chúa – một cô gái xinh đẹp ngây thơ đã đem lòng yêu thầm Nam trang tài nhân
mà không hề biết người đó chính là cô Lụa Tình cảm chân thành thầm kín của Sim với Nam trang tài nhân cũng là hậu quả của những chiêu trò dối trá do Cuội gây ra
Nhân vật Thảo trong “Ông vua hóa hổ” lại phải chịu những éo le, trắc
trở, bi kịch khác trong tình yêu Thảo là người may mắn khi được cả hai chàng trai Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không đem lòng yêu mến Đạo Hạnh quắc thước sôi nổi, thẳng thắn bộc trực, mang chí lớn Minh Không- người bạn trai thân thiết từ thời thơ ấu tuấn tú khôi ngô, trí dũng, tính tình điềm đạm Cả hai
Trang 40đều là những người trượng nghĩa anh hùng, cùng chung mối thù nhà nợ nước,
bỏ qua những hiểu lầm ban đầu, họ nắm tay nhau kết nghĩa anh em Thảo vì nghĩa lớn nước non, vì tình cảm dành cho cả hai người sâu nặng nên tự nguyện
đi theo Đạo Hạnh và Minh Không phất cờ dấy binh Tuy nhiên, sự biến đã bắt buộc nàng buộc phải chọn lựa đi cùng một trong hai người Minh Không vì không thể tiếp tục cảnh giết chóc hận thù vấy máu nên quyết định từ bỏ tất cả
để tìm một nơi heo hút lánh ẩn giũ sạch tội trần Đạo Hạnh lại kiên quyết chiến đấu đến tận cùng cho chí lớn cho dù phải gây tội ác, lưỡi gươm vấy máu Bắt buộc phải lựa chọn giữa hai người là điều vô cùng khó khăn với Thảo bởi cả hai người nàng đều quý mến, không muốn rời bỏ ai Quyết định ở lại cùng Đạo Hạnh kiên quyết nhưng thật khó khăn đối với Thảo Và quyết định này cũng mở đầu cho cuộc đời đầy biến cố éo le bi kịch của Thảo sau này Tình yêu thủy chung sâu nặng và đầy hi sinh của Thảo đã khiến cô phải dùng chính máu, chính mạng sống của mình để cứu Đạo Hạnh – chồng nàng khỏi thân xác hổ dữ Thảo
là người phụ nữ thủy chung sống hết mình cho tình yêu nhưng cũng gặp nhiều
éo le ngang trái Chính trên con đường tình yêu và hạnh phúc gia đình số phận luôn buộc Thảo phải đứng trước những chọn lựa, thậm chí là những hi sinh cả bản thân cho người mình yêu
Tình yêu là tình cảm nguyên thủy nhất của con người, bất cứ ai khi đến với nhân thế đều mong muốn một lần được nếm trải Tình yêu có ngọt ngào và cay đắng, có hạnh phúc và khổ đau, đó là đạo lý ở đời, không ai thoát khỏi vòng quay của số phận Ai đến với tình yêu cũng mong muốn nếm trải hương vị ngọt ngào của nó, nhưng cũng không ít người gặp éo le ngang trái trong tình yêu Qua việc thể hiện bi kịch tình yêu của nhân vật nữ trong mảng kịch khai khác truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã thể hiện sự cảm nhận sâu sắc về sự bất hạnh ngang trái trong tình yêu của người phụ nữ Khám phá con người với tấm lòng cảm thông chia sẻ, Lưu Quang Vũ đã đi sâu vào cuộc đời của họ, để họ được