1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật tổ chức tự sự trong truyện ngắn sương nguyệt minh

110 77 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 769,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Luận văn của chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn sương Nguyệt Minh bởi ba lý do cơ bản sau đây: Th nhất, văn học Việt Nam từ sau năm 1

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

ĐẶNG VIỆT HƯNG

NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN SƯƠNG NGUYỆT MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Thái Nguyên – 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

ĐẶNG VIỆT HƯNG

NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN SƯƠNG NGUYỆT MINH

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP

Thái Nguyên – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chƣa từng đƣợc công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

ĐẶNG VIỆT HƢNG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm

ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo

đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

ĐẶNG VIỆT HƯNG

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 7

5 Phạm vi nghiên cứu 8

6 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1: NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA TRUYỆN NGẮN SƯƠNG NGUYỆT MINH 9

1.1 Một số vấn đề lý thuyết 9

1.1.1 Khái niệm truyện ngắn 9

1.1.2 Tự sự và nghệ thuật tự sự 13

1.2 Khái quát về truyện ngắn Việt Nam sau 1986 16

1.2.1 Sự phát triển về lực lượng sáng tác truyện ngắn 16

1.2.2 Nh ng i m i về tư uy nghệ thuật 17

1.2.3 Các huynh hư ng c n 19

1.3 Sự xuất hiện của truyện ngắn Sương Nguyệt Minh 22

1.3.1 uá tr nh sáng tác 22

1.3.2 u n niệm nghệ thuật 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29

Chương 2: X Y DỰNG T NH HU NG, T CHỨC KẾT CẤU, B T PHÁP K ẢO TRUYỆN NGẮN SƯƠNG NGUYỆT MINH 30

2.1 Tình huống truyện 30

2.1.1 i i thuy t hái niệm 30

2.1.2 T nh huống hành ộng 31

Trang 6

2.1.3 T nh huống giàu ịch tính 36

2.1.4 T nh huống nhận th c 39

2.2 T chức kết cấu 42

2.2.1 i i thuy t hái niệm 42

2.2.2 K t cấu n tuy n 44

2.2.3 K t cấu phi tuy n tính 49

2.2.4 K t cấu ph c hợp 56

2.3 Bút pháp kì ảo và tạo dựng chi tiết đắt giá 60

2.3.1 Bút pháp o 60

2.3.2 Tạo ựng chi ti t ắt giá 63

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 67

Chương 3: NGƯỜI KỂ CHUYỆN – ĐIỂM NH N TRẦN THUẬT VÀ NGÔN NGỮ TRUYỆN NGẮN SƯƠNG NGUYỆT MINH 68

3.1 Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật 68

3.1.1 Tự sự ngôi th nhất theo iểm nh n n tuy n 71

3.1.2 Tự sự ngôi th theo iểm nh n ên ngoài 74

3.1.3 Tự sự ngôi th theo iểm nh n ên trong 78

3.1.4 Tự sự ngôi th theo iểm nh n ph c hợp 82

3.2 Các dạng thức ngôn ngữ trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh 85

3.2.1 Ngôn ng miêu t giàu chất th 87

3.2.2 Ngôn ng tính ục 90

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 98

PHẦN KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Luận văn của chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn sương Nguyệt Minh bởi ba lý do cơ bản sau đây:

Th nhất, văn học Việt Nam từ sau năm 1986 đến nay phát triển mạnh

mẽ với nhiều xu hướng khác nhau Sự đa dạng, phức tạp của văn học Việt Nam đương đại được thể hiện trên các bình diện: đề tài, chủ đề, khuynh hướng thẩm mĩ, phong cách nghệ thuật Bên cạnh các nhà văn tên tu i như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thụy, Trung Trung Đỉnh là sự xuất hiện một lớp nhà văn giàu tiềm năng như Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Bình Phương, Trần Anh Thái, Nguyễn Đình

Tú, Phạm Duy Nghĩa Có thể nói, các nhà văn quân đội thế hệ này đã b sung cho văn học đương đại một cái nhìn mới mẻ, đa chiều về về cuộc sống thường nhật, cuộc sống của người lính trong và sau chiến tranh Nếu như truyện ngắn trước đ i mới chỉ tập trung khắc họa những hình tượng mang tính sử thi thì sau đ i mới chiến tranh và con người lại được thể hiện ở những góc khuất như

sự mất mát đau thương, thất bại, phản bội, bi kịch xã hội, tình yêu Đó là biểu hiện cho sự kế thừa và ảnh hưởng của xã hội, của các thế hệ đi trước đối với các nhà văn quân đội thế hệ trẻ

Th h i, Sương Nguyệt Minh là một trong những cây bút đáng chú ý

trong thời kỳ đ i mới Ông luôn có ý thức tìm tòi cách thức biểu hiện mới để tạo nên phong cách nghệ thuật riêng Mặc dù viết nhiều thể loại như kí, tùy bút, tản văn, truyện ngắn, tiểu thuyết nhưng sở trường của Sương Nguyệt Minh vẫn là truyện ngắn Các tập truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh đã nhận được nhiều giải thưởng trong nước, có sức thu hút đặc biệt với người đọc và giới nghiên cứu phê bình Việc nghiên cứu các sáng tác của Sương Nguyệt Minh sẽ giúp chúng ta thấy được những đóng góp và có sự đánh giá đúng đắn vai trò của các nhà văn áo lính trong văn học thời kì đ i mới

Trang 8

Th , cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn

và tiểu thuyết Sương Nguyệt Minh ở những mức độ khác nhau và góc nhìn khác nhau song chưa có ai đặt vấn đề nghiên cứu nghệ thuật tự sự một cách

hệ thống Vì thế chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài Nghệ thuật tổ chức tự sự

trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh nhằm trả lời câu hỏi nhà văn đã t

chức tự sự như thế nào và ý nghĩa nghệ thuật của nó ra sao? Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với sáng tác của Sương Nguyệt Minh mà còn cắt nghĩa thành công nghệ thuật tự sự văn học Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề

Hiện nay số lượng bài viết, đánh giá, công trình nghiên cứu về Sương Nguyệt Minh khá phong phú theo tiến trình thời gian, tuy nhiên có thể quy vào 3 nhóm vấn đề chính:

2.1 Nghiên cứu tổng quát về truyện ngắn Sương Nguyệt Minh

Đã có khá nhiều bài phê bình đánh giá và công trình nghiên cứu về truyện ngắn Sương Nguyệt Minh Điều đó chứng tỏ sáng tác của Sương Nguyệt Minh đã chiếm được sự quan tâm của giới phê bình văn học và công chúng yêu nghệ thuật

Ngay từ khi xuất hiện lần đầu trên Văn nghệ quân ội,truyện ngắn Nỗi

u òng họ đã gây ấn tượng mạnh trong dư luận Có ý kiến đánh giá đó là

“Truyện ầu t y, nhưng c m thấy ã rõ h nh hài cốt cách một người vi t chuyên nghiệp”[66] với những trang văn“có mùi có vị, rõ r tư chất nhà văn” Liên tiếp sau đó, cùng với sự ra đời đều đặn của các tập truyện ngắn, số

ý kiến bình luận về tác phẩm của Sương Nguyệt Minh ngày càng nhiều hơn

Ở những sáng tác đầu tay, Sương Nguyệt Minh chủ yếu viết về không gian làng quê với những con người mộc mạc nghĩa tình mà bộn bề những bi kịch trước sự tấn công của cơ chế thị trường với tấm lòng lo âu của một con người nặng tình với quê hương Làng quê chính là mảnh đất giúp tài năng của

Trang 9

Sương Nguyệt Minh nảy nở và phát triển, chính vì vậy mà nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức đã gọi Sương Nguyệt Minh là “nhà văn của cảnh sắc đồng quê lung linh” Nhà phê bình Đoàn Minh Tâm đã viết một bài tiểu luận

đăng trên tạp chí Văn nghệ quân ội với nội dung Không gian làng quê trong truyện ngắn Sư ng Nguyệt Minh (11/2009) khám phá riêng về không gian

nghệ thuật đặc trưng của truyện ngắn Sương Nguyệt Minh – một không gian làng quê đẹp đẽ, đậm chất trữ tình với ngôn ngữ giản dị mà giàu chất thơ Qua quá trình sáng tác của Sương Nguyệt Minh, các nhà phê bình đều nhận ra những bước chuyển đáng mừng trong văn phong của ông Nếu trong

những tập truyện đầu tay như Đêm làng Trọng Nhân, Người ở n sông Châu,

Đi qu ồng chiều, Sương Nguyệt Minh được đánh giá là “mang đến cho

người đọc một khuôn mặt văn chương theo lối truyền thống, nhuần nhụy từ

giọng văn cho tới tên của các nhân vật trong tác phẩm” (Thu Phố, Tạp chí tuyên giáo, 10/2009), thì càng về sau các tập truyện Mười n nư c, Chợ tình và đặc biệt là Dị hư ng, Sương Nguyệt Minh càng thể hiện những tìm tòi, bứt phá mới như chính ông quan niệm: Nhà văn là người sáng tạo hông ngừng như òng sông ch y liên tục nặng phù s tư i tốt ồi ắp cho ờ ãi, ruộng ồng Dòng sông hông ch y là òng sông lấp, sông ch t Nhà văn ngừng sáng tạo là nhà văn r i vào lãng quên trong lòng ạn ọc Các nhà phê

bình quan tâm tới sáng tác của Sương Nguyệt Minh đã tìm ra con đường vận động trong văn chương của Sương Nguyệt Minh là đi từ “hiện thực – lãng mạn” đến “hiện thực – lãng mạn và kỳ ảo” Phạm Xuân Nguyên khẳng định

“Nhà văn không nhất thiết phải viết hay hơn người khác, nhưng đến một lúc nào đó, nhà văn phải biết khác mình Nhà văn Sương Nguyệt Minh đã làm

được điều này” (Phát biểu nhân bu i tọa đàm ra mắt tập truyện ngắn Dị

hư ng) Nhà văn Di Li trên tờ An ninh thủ ô (Số ngày 18/10/2009) cho rằng:

“Trước nay, cái tên Sương Nguyệt Minh thường gắn liền với những câu chuyện viết về đề tài chiến tranh và nông thôn bằng ngòi bút dù dữ dội song

Trang 10

vẫn lung linh, trữ tình, nên việc ra đời những truyện ngắn ma mị và nhiều tính

dục với bút pháp huyền ảo và giả tưởng trong tập Dị hư ng khiến nhiều người

đọc lạ lẫm, bất ngờ” [67]

Có thể nói, phần lớn giới nghiên cứu, phê bình văn học đều thống nhất khẳng định những bước phát triển đáng chú ý trong tư duy nghệ thuật Sương Nguyệt Minh, ghi nhận đóng góp đáng chú ý của ông đối với văn học Việt Nam đương đại

2.2 Nghiên cứu về thế giới nhân vật

Sương Nguyệt Minh đã rất có lý khi lựa chọn thể loại truyện ngắn, bởi với ông, đây là thể loại có sức tải lớn, chứa đựng được nhiều tâm tưởng Đọc truyện của Sương Nguyệt Minh dễ thấy yếu tố cốt truyện, tình huống và sự đậm đặc của các chi tiết là thế mạnh của ông Bên cạnh đó thế giới nhân vật trong truyện rất phong phú, có những nét tính cách chân thực, sinh động, thường để lại ấn tượng sâu, như Hoài Anh nhận xét: “Tâm lý nhân vật được tác giả phân tích khá kỹ ý nghĩ được biến đ i thành các hành động minh họa dẫn người đọc tới thế giới trong câu chuyện” và “Đọc truyện của Sương Nguyệt Minh thấy cuộc sống lần lượt đi qua trang viết nhẹ nhàng, hư và thực lẫn lộn, quá khứ và hiện tại, nam và nữ ” [55]

Đặc biệt sự xuất hiện của tập truyện ngắn Dị hư ng đã đánh dấu bước đột phá trong sáng tác của Sương Nguyệt Minh Truyện ngắn Dị hư ng đã gây

được sự quan tâm của dư luận với nhiều khen, chê ở mức độ khác nhau Theo

Phạm Xuân Nguyên, Sương Nguyệt Minh thực sự“có nh ng i m i về tư

uy, ám ư c vào phong cách m i” còn Đoàn Ánh Dương lại nhận thấy ở Dị

hư ng:“cách đặt nhan đề của tác giả như một kiểu xếp chồng ẩn dụ và nếu

phân tích, ta sẽ thấy được yếu tố trung gian trong cấu trúc tam phần của huyền

thoại” Ở góc nhìn khác, Nguyễn Hoàng Đức nhận xét: “Sư ng Nguyệt Minh

vi t về àn à rất h y”và cho rằng “ ây là cây út có mặt trong hàng ngũ i

Trang 11

tốp ầu hiện n y củ văn chư ng quân ội” Sau khi đọc truyện ngắn Dị

hư ng, Hoàng Long Giang cũng khẳng định:“Ông Đại tá – nhà văn Sư ng Nguyệt Minh lại ể nh ng câu chuyện m i về thân phận con người tr i qu ầy

hỉ, nộ, ái, ố, rất ời thường” Văn Giá khi đọc sương Nguyệt Minh đã tặng

người bạn của mình ba chữ: “Hoạt – Phiêu – Thõa Hoạt là sự linh hoạt trong trần thuật, trong lời văn Phiêu là sự chuyển đ i trong bút pháp, từ chỗ trước kia Sương Nguyệt Minh chú trọng tâm linh, đến tập này, tác giả đã đi vào bút pháp siêu thực, huyền ảo, và Thõa là chất liệu sex được viết một cách cao tay

Hoạt- Phiêu- Thõa là nói đến chất “trẻ” của Dị hư ng và chính tác giả của nó”

Chỉ với ba từ ấy đã phản ánh đầy đủ điểm mạnh trong truyện ngắn của nhà văn quân đội này Phát hiện ra giá trị của những trang viết về tình dục giàu chất

nghệ thuật, Minh Minh trong bài Nhà văn Sương Nguyệt Minh: “Sex” với “Dị

hư ng” viết: “Ông không đi theo lối mòn của bất kì ai trong ý tưởng sáng tác

cũng như nghệ thuật chuyển hóa “thế giới sex” mang tính thẩm mĩ vào văn học” Điều đáng quý là tác giả Sương Nguyệt Minh đã không sử dụng sex như một món ăn câu khách mà “Sương Nguyệt Minh sử dụng như một phương tiện nghệ thuật để đưa ý tác giả, tác phẩm đến với người đọc Đó là thứ tình dục sống trong thanh tao, đầy gợi cảm” [68]

Nghiên cứu chuyên sâu về thế giới nhân vật có thể kể đến luận văn Thạc

sĩ của Trần Thị Phương Loan - Th gi i nghệ thuật trong truyện ngắn củ

Sư ng Nguyệt Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Luận văn của Giang Thị Hà - Đặc iểm nghệ thuật truyện ngắn Sư ng Nguyệt Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, năm

2011 cũng chỉ ra những đặc trong nghệ sắc thuật xây dựng nhân vật qua hình tượng nhân vật người phụ nữ, hình tượng người lính trở về và hình tượng nhân vật cô đơn

Trang 12

2.3 Nghiên cứu về nghệ thuật tự sự

Nhận xét về cách viết văn của Sương Nguyệt Minh, Phong Điệp trên tờ

Văn nghệ trẻ (2002) khẳng định: “Truyện của anh viết kĩ đến từng câu, từng

chi tiết Đặc biệt anh rất dụng công trong việc dựng cốt truyện Anh viết giống như chuẩn bị bước vào một trận đánh Lực lượng được chuẩn bị sẵn sàng Lúc nào cần tung ra, lúc nào đánh chiến thuật nhịp nhàng, bài bản không tạo cảm giác cứng nhắc Người đọc hoàn toàn bị người viết dẫn dụ,

vừa hồi hộp vừa thích thú” Khi đọc Mười n nư c, nhà văn Văn Chinh trong bài viết Tôi muốn cái lục lạc ấy ằng ất nung (www.vanchinh.net,

18/12/2008) nhận thấy: “Một trong những yếu tố đảm bảo cho sự thành công của Sương Nguyệt Minh là sự tích tụ các chi tiết và các tình huống khác lạ”

Nhà văn Khuất Quang Thụy viết: “cuộc hành tr nh ấy ù là hông có

n ờ nhưng “thuyền i ể lại ấu ằm”, người l hành ể lại ấu chân trên chặng ường ầy gió ụi” Khuất Quang Thụy còn phát hiện ra “nh ng cái hông thông thường” trong cách viết của Sương Nguyệt Minh, ngay ở những

“bến nước” đầu tiên trên con đường sáng tác văn học nghệ thuật, từ việc phá

vỡ bút pháp truyền thống của thể loại đến việc phá vỡ môtíp, chủ đề và tạo ra

sự đa thanh trong tác phẩm Tất cả những cái “không thông thường” ấy thể hiện sự tìm tòi không mệt mỏi của tác giả Sương Nguyệt Minh trong quá trình sáng tác Chính nhờ sự tìm tòi ấy các tác phẩm của ông luôn không ngừng đ i mới, mang lại nhiều phong vị khác nhau trong từng giai đoạn sáng tác (Lời

tựa cho tập truyện ngắn Mười n nư c) [42]

Về ngôn ngữ và giọng điệu truyện ngắn Sương Nguyệt Minh, luận văn của Giang Thị Hà cũng bước đầu nêu được những đặc sắc là ngôn ngữ miêu

tả giàu chất thơ, độc thoại nội tâm và các sắc thái giọng điệu như trữ tình mộc

mạc; khách quan gai góc lạ lùng; mỉa mai, giễu nhại, bỡn cợt

Trang 13

Có thể thấy những nhận định, ý kiến của các nhà phê bình, các công trình nghiên cứu văn học đã góp phần giúp bạn đọc dần dần khám phá những nét đặc sắc trong sáng tác của Sương Nguyệt Minh Song đến nay, các công trình đề cập đến nghệ thuật t chức kết cấu – ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh vẫn chỉ là tản mạn và chưa thành hệ thống, đó chính là những gợi

ý quý báu, là nguồn tư liệu hữu ích cho chúng tôi thực hiện luận văn này

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghệ thuật t chức tự sự trong

truyện ngắn Sương Nguyệt Minh

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

Tập trung phân tích sự độc đáo trong cách t chức tự sự của Sương

Nguyệt Minh, lí giải sự mới mẻ và tính sáng tạo trong nghệ thuật kể chuyện

của ông

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi đặt nhiệm vụ khám phá, phát hiện về nghệ thuật t chức tự sự trong truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh, từ đó khẳng định những đóng góp của ông đối với văn học Việt Nam đương đại

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để khai thác nghệ thuật t chức tự sự trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh, chúng tôi sử dụng các phương pháp:

+ Phương pháp hệ thống: đặt truyện ngắn Sương Nguyệt Minh trong bức tranh truyện ngắn Việt Nam đương đại, đặt nghệ thuật t chức tự sự truyện ngắn của nhà văn trong đ i mới cách thức trần thuật truyện ngắn từ

1986 đến nay

Trang 14

+ Phương pháp phân tích tác phẩm theo thể loại: giúp cho việc nghiên cứu, phân tích các vấn đề như t chức kết cấu,cốt truyện,xây dựng chi tiết, ngôn ngữ,… theo đúng đặc trưng thể loại

+ Phương pháp tiếp cận tự sự học: là hướng tiếp cận cho phép người viết nhìn thấy những phương thức kiến tạo độc đáo,kỹ thuật xây dựng các văn bản nghệ thuật đa nghĩa và sống động

+ Phương pháp so sánh: nhằm làm n i bật những đặc trưng riêng trong cách t chức tự sự trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh trong tương quan với các sáng tác khác thời kỳ đ i mới, nhất là với các sáng tác về đề tài chiến tranh và những bi kịch thời hậu chiến, bi kịch đời thường

5 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu 06 tập truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh và so sánh với một số tác giả văn học Việt Nam đương đại

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm

Trang 15

Chương 1 NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA TRUYỆN NGẮN

SƯƠNG NGUYỆT MINH 1.1 Một số vấn đề lý thuy t

1.1.1 Khái niệm truyện ngắn

Thể loại truyện ngắn có lịch sử lâu dài Trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều nhà văn thành danh với truyện ngắn Cùng với thời gian, đội ngũ những người viết truyện ngắn ngày càng đông đảo, đặc biệt từ thời kỳ đ i mới với một số lượng ấn phẩm phong phú trong đó nhiều cây bút đã tạo được dấu ấn phong cách

Trong thực tiễn thì vấn đề về lý thuyết truyện ngắn trở thành đề tài của những cuộc tranh biện, đối thoại Những phát biểu về truyện ngắn vẫn không ngừng ra đời Nguồn tư liệu nước ngoài về lý thuyết truyện ngắn vốn rất phong phú, tuy nhiên vì nhiều lý do, chúng tôi chưa thể bao quát được hết Bởi vậy, khảo sát của luận văn chủ yếu dựa trên nguồn tài liệu đã được giới

thiệu trong nước và có tham khảo công trình nghiên cứu Truyện ngắn Việt

N m từ 1986 n n y nh n từ góc ộ thể loại của Lê Thị Hương Thủy (Học

viện Khoa học xã hội, 2013, Hà Nội)

Về thuật ngữ Truyện ngắn (tiếng Pháp: Nouvelle; tiếng Anh: Short Story; tiếng Trung Quốc: Đoản thiên tiểu thuyết) hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách nhìn, quan niệm khác nhau tuỳ theo quan niệm của người nghiên cứu

Đã có nhiều công trình nghiên cứu hoặc tập hợp những bài nghiên cứu

về truyện ngắn với tư cách là một thể loại tự sự trong đó có đề cập đến khái

niệm thể loại Đáng chú ý là các công trình S t y truyện ngắn của Vương Trí Nhàn [45], Nghệ thuật vi t truyện ngắn và ý của nhiều tác giả [46], Bình luận truyện ngắn [54], Truyện ngắn nh ng vấn ề lý thuy t và thực tiễn thể loại của Bùi Việt Thắng [55]; Truyện ngắn Việt N m, lịch sử, thi pháp, chân

Trang 16

dung [50], Nh ng vấn ề thi pháp củ truyện của Nguyễn Thái Hòa [27], Tìm hiểu truyện ngắn của Trần Thanh Địch [23], Truyện ngắn: lí luận, tác gi và tác phẩm của Lê Huy Bắc [9]

Mặc dù chưa có một định nghĩa nhất quán nhưng thuật ngữ “truyện ngắn” đã được nhiều tác giả công trình lý luận, từ điển và người viết truyện

ngắn định danh Từ iển thuật ng văn học định nghĩa truyện ngắn là “tác

phẩm tự sự cỡ nhỏ”, “khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người” [52, tr.304]

Trong Từ iển văn học (tập 2, Nxb Khoa học xã hội, 1984) truyện ngắn

được quan niệm: “Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy

ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào

đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội.” [53, tr.457]

Theo 150 thuật ng văn học, truyện ngắn là: "thể tài tác phẩm tự sự cỡ

nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét n i bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ" [7, tr.345]

Các nhà nghiên cứu, phê bình, các nhà văn từ trước tới nay cũng đã đưa

ra những cách hiểu của mình về truyện ngắn Từ góc độ người sáng tác nhà văn Nguyễn Quang Sáng cho rằng: “truyện ngắn phải có “chuyện”, tức có thể

kể lại cho người khác nghe được Mà muốn kể, câu chuyện phải chặt chẽ, hấp dẫn” [45, tr.36] Theo nhà văn Nguyễn Kiên thì “truyện ngắn là một trường hợp” trong khi Nguyễn Công Hoan lại quan niệm: “Truyện ngắn không phải

Trang 17

là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ

và bằng thái độ với cách đặt câu dùng tiếng có cân nhắc”, “muốn truyện là truyện ngắn, chỉ nên lấy một ý chính làm chủ đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy Không có chi tiết thừa, rườm rà, miên man” [45, tr.14]

Nhiều nhà văn cũng đã chia sẻ về những kinh nghiệm, kỹ thuật viết

truyện ngắn Công trình biên soạn S t y truyện ngắn (Vương Trí Nhàn) hệ

thống lại những kinh nghiệm viết truyện của một số nhà văn như Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Kiên, Đỗ Chu, Ma Văn Kháng Từ kinh nghiệm viết truyện ngắn của bản thân, nhà văn Tô Hoài đúc kết: “truyện ngắn là một thể văn tạo cho người viết nhiều nết quý lắm Chỉ với truyện ngắn, người ta mới biết tận dụng từng chữ, lo săn sóc từng chữ Nhà văn mình thường yếu không tạo được phong cách riêng Truyện ngắn là nơi là

có thể thử tìm phong cách cho mình Truyện ngắn đòi hỏi sự hoàn thiện” [45,tr 8] Với quan niệm viết truyện ngắn là một công việc rất thiêng liêng, bởi đó là một cuộc gặp gỡ giữa người viết và người đọc, một cuộc gặp gỡ phút chốc, nhưng để lại một ấn tượng sâu đậm, làm người ta khó quên, nhà văn Đỗ Chu chia sẻ: “Với tôi, thường cốt truyện không thành vấn đề lắm Và

cả nhân vật nữa, giữa nhân vật với tôi không có sự phân biệt đáng kể Tôi không bám vào hiện tượng quan sát được, mà thường ướm mình vào nhân vật, không giả sử mình đóng vai người khác sẽ ra sao, mà thường giả sử trong trường hợp đó, mình sẽ xử sự ra sao Tôi muốn huy động vai trò của bản thân một cách cao nhất Và mỗi truyện ngắn trở thành một mảnh của sự phân thân” [45, tr.68]

Ngoài ra còn có những công trình khảo cứu truyện ngắn không chỉ ở

Việt Nam mà còn ở các nước phương Tây: Truyện ngắn ư i ánh sáng so sánh (Đào Ngọc Chương) [13], Truyện ngắn Pháp cuối th ỷ XX một số vấn

ề lý thuy t và thực tiễn sáng tác (Phạm Thị Thật) [57]

Trang 18

Tuy nhiên, "mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu để phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự truyện ngắn Trong văn học hiện đại các tác phẩm rất ngắn nhưng lại là truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn thời trung đại cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa Các hình thức kể chuyện dân gian rất ngắn gọn như c tích, thần thoại, truyện cười…lại càng không phải là truyện ngắn " [24, tr.370 - 371]

Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện bản chất quan niệm nhân sinh, nó là một khoảnh khắc, một nhát cắt có ý nghĩa Vì thế, truyện ngắn thường "ít nhân vật và ít sự kiện phức tạp Truyện ngắn không nhằm tới việc khắc hoạ những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái phụ thuộc của con người" [24, tr.371].

Từ những định nghĩa và phân tích trên chúng tôi rút ra những điểm chính của thể loại truyện ngắn như sau:

Một là, truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ Nhỏ có nghĩa là từ vài

trang đến vài chục trang, một câu chuyện được kể nghệ thuật nhưng không được phép kể dài dòng, câu chuyện có sức ám ảnh, nghĩa là tạo ra một ấn tượng duy nhất mạnh mẽ đồng thời tạo liên tưởng ở người đọc

Hai là, tính quy định về dung lượng và cốt truyện của truyện ngắn

tập trung vào một vài biến cố, mặt nào đó của đời sống, các sự kiện tập trung trong một không gian, thời gian nhất định

Trang 19

Ba là, nhân vật truyện ngắn thường được làm sáng tỏ, thể hiện một

trạng thái tâm thế con người thời đại

Bốn là, chi tiết và lời văn là những yếu tố đóng vai trò quan trọng

Đặc biệt là chi tiết bởi nó có tính biểu tượng

Như vậy, truyện ngắn là một thể loại được nhiều nhà văn sử dụng trong tạo dựng sự nghiệp văn chương của mình Và chính thể loại truyện ngắn

đã góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng về thể loại của văn học Việt Nam

1.1.2 Tự sự và nghệ thuật tự sự

1.1.2.1 Khái niệm tự sự

Theo Từ iển thuật ng văn học thì sự tự là “phương thức tái hiện đời

sống bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở

để phân loại tác phẩm văn học” [24, tr.385] Trần thuật là một phương thức

nghệ thuật đặc trưng của tác phẩm tự sự

Còn với Đặng Anh Đào thì “tự sự là một khái niệm rất rộng, có thể xét ở hai bình diện: thứ nhất là đồng nghĩa với câu chuyện kể, đối lập với miêu tả;

thứ hai là được xem xét theo hành động kể chuyện, tức bao hàm vấn đề người

kể chuyện (điểm nhìn, giọng điệu)” Văn chương vốn đa dạng về loại thể, mỗi loại thể đều có phương thức biểu đạt khác nhau và những đặc trưng riêng về thủ pháp nghệ thuật cũng như nội dung.“ Khác với tác phẩm trữ tình, hiện thực đời sống được tái hiện qua những cảm xúc tâm trạng, ý nghĩ của con người, thể hiện trực tiếp qua những lời lẽ bộc bạch, th lộ, tác phẩm tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó” [24, tr.375]

Đặc điểm của tác phẩm tự sự là phản ánh hiện thực thông qua các yếu tố

sự kiện biến cố và hành vi con người; thường có cốt truyện gắn với hệ thống nhân vật Loại hình tự sự thể hiện tâm trạng, tư tưởng của chủ thể thông qua phản ánh hiện thực khách quan, tức là cái chủ quan ẩn đi hoặc hoà vào cái

Trang 20

khách quan Nhà văn phải dùng đến các yếu tố như sự kiện, nhân vật trong một thời gian và không gian nghệ thuật nhất định Chính vì thế truyện phải có chuyện và nhà văn phải sáng tạo ra hình tượng người kể chuyện, các yếu tố nghệ thuật khác như điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu,…làm nên những đặc trưng riêng cho loại hình tự sự

Theo Từ iển thuật ng văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi đồng chủ biên thì: trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật,

sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật Trần thuật không chỉ là lời kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi chú của tác giả… Ngôn ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, bộc lộ cách lý giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và cá tính sáng tạo của tác giả

Trong trường hợp tác giả đóng vai trò người trần thuật, tác phẩm có nhân

vật kể chuyện ở ngôi thứ nhất (first person), xưng “tôi” Điều này dễ nhận

thấy ở các tác phẩm tự truyện hoặc có dáng dấp tự truyện Theo nhà nghiên cứu Lê Nguyên Cẩn, việc sử dụng ngôi thứ nhất trong tự truyện ở các tác phẩm văn học thế kỷ XVIII ở phương Tây không phải là sự sử dụng tùy hứng hay ngẫu nhiên mà nó mang tính lịch sử, gắn liền với nhu cầu khách quan của thời đại Đó là yêu cầu các truyện phải là truyện kể về sự thật từ thế kỉ XIX

về trước thịnh hành kiểu trần thuật khách quan, do một người trần thuật biết hết sự việc tiến hành theo ngôi thứ ba, sang thế kỉ XX, có thêm kiểu trần thuật theo ngôi thứ nhất do một nhân vật trong truyện đảm nhiệm

Trần thuật là phương diện cấu trúc của tác phẩm tự sự thể hiện mối quan hệ chủ thể, khách thể trong loại hình nghệ thuật này Nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy ra bên ngoài mình khiến cho người đọc có cảm giác rằng

Trang 21

hiện thực được phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới tạo hình xác định đang tự phát triển, tồn tại bên ngoài nhà văn, không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của nhà văn

1.1.2.2 Nghệ thuật tự sự

Nghệ thuật tự sự hay nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm tự sự , theo

giáo sư Trần Đình Sử trong iáo tr nh ẫn luận thi pháp học “là một nghệ

thuật đặc biệt, nó đòi hỏi kể sao cho mỗi lúc hứng thú của người đọc gia tăng Một cốt truyện đơn giản nhất cũng có thể cấu tạo thành các sự kiện nghệ thuật hấp dẫn Nhà văn có thể không kể ngay một lúc tất cả mà có thể cấu tạo lại trật tự câu chuyện theo một ý nghĩa nào đó Nhà văn đồng thời với việc tạo lại trật tự hình thức là việc tạo ra nội dung mới, nói đúng hơn là việc khám phá ra nội dung mới quyết định việc tạo lại hình thức” Bàn về vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau tuy nhiên vẫn có điểm thống nhất, trước hết cần chú ý về khái niệm “nghệ thuật”nói chung “Nghệ thuật là hình thái đặc thù của ý thức xã hội và của hoạt động con người nói chung, một phương thức quan trọng để con người chiếm lĩnh các giá trị tinh thần của hiện thực, nhằm mục đích tạo thành và phát triển các năng lực chiếm lĩnh và cải tạo bản thân và thế giới xung quanh theo qui luật của cái đẹp”[24, tr.199] Nhà văn muốn tác phẩm của mình được độc giả thưởng thức với thái độ tích cực thì phải có nghệ thuật

tự sự cho phù hợp Thông qua tác phẩm nghệ thuật, nhà văn có thể “hình thành một công chúng biết hiểu nghệ thuật và có năng lực hưởng thụ vẻ đẹp”(Mác)

Nói đến nghệ thuật tự sự là nói đến nghệ thuật kể chuyện hay nghệ thuật trần thuật, một phương thức nhằm làm cho các sự việc, tình tiết trong tác phẩm được sống dậy, diễn ra

Theo Từ iển thuật ng văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi đồng chủ biên thì: “ trần thuật là phương diện cơ bản của phương

Trang 22

thức tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật,

sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật Trần thuật không chỉ là lời kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn

cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi chú của tác giả…” Ngôn

ngữ trần thuật do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, bộc lộ cách lý giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và cá tính sáng tạo của tác giả

Trần thuật là một phương thức nghệ thuật đặc trưng của tác phẩm tự sự

Sự trần thuật ở đây được triển khai trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền tải những nội dung cần thiết Với đặc điểm đó, trần thuật trong tác phẩm tự sự là một phương diện thi pháp đặc trưng của thể loại Trần thuật tồn tại với nội dung trần thuật và hình thức trần thuật Trong nội

dung của luận văn, chúng tôi sử dụng quan điểm của Từ iển thuật ng văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên

1.2 Khái quát về truyện ngắn Việt Nam sau 1986

Từ năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của đất nước Nhìn nhận và đánh giá đúng nghĩa vai trò của văn hóa, văn nghệ, Đảng đã có những chính sách đ i mới tích cực Những chính sách này tạo cơ sở tư tưởng cho xu hướng dân chủ hóa và kích thích văn học phát triển Sự đ i mới tư duy nghệ thuật và mở rộng phạm trù thẩm mĩ của văn học khiến truyện ngắn không những đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp Mỗi nhà văn đều nhìn cuộc sống và thể hiện bằng một ngôn ngữ riêng Chính vì vậy, truyện ngắn phát triển rất mạnh mẽ, gặt hái được những thành công trên nhiều phương diện

1.2.1 Sự phát triển về lực lượng sáng tác truyện ngắn

Nếu như trong chiến tranh, thơ ca phát triển mạnh mẽ thì sau đ i mới

Trang 23

1986 văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng lại chiếm một ưu thế lớn, đặc biệt là truyện ngắn thời kỳ 1986 – 2000 Nhìn vào tình hình sáng tác văn học trên một số tờ báo, tạp chí chuyên ngành văn học, ở các nhà xuất bản có

uy tín, các cuộc thi và các giải thưởng văn học chúng ta sẽ thấy điều này

Trong cuốn Văn học Việt N m s u 1975 trang 90 có viết: “Riêng tuần áo Văn nghệ (Hội nhà văn Việt N m) từ 1975 n 2000 ã t ch c chín cuộc thi truyện ngắn, út ý, phóng sự và th ” Các cuộc thi này đã tạo nên phong trào sáng tác; từ đây phát hiện và bồi dưỡng nhiều tài năng Báo Văn nghệ trở

thành cái nôi nuôi dưỡng nhiều cây bút văn trẻ dần dần đã trở nên thân quen với độc giả như Nguyễn Phúc Lai, Nguyễn Khắc Trường, Dạ Ngân, Ngô Thị

Kim Cúc, Tạ Duy Anh, Hoàng Minh Tường, Nhật Tuấn Tạp chí Văn nghệ uân ội cũng là một địa chỉ quen thuộc đào tạo nhiều nhà văn – chiến sĩ có

những đóng góp lớn vào nền văn học hiện đại Thời kỳ kháng chiến chống Pháp có Nguyễn Đình Thi, Nguyên Ngọc, Hồ Phương ; thời kỳ kháng chiến chống Mỹ có Lê Lựu, Nguyễn Trí Huân, Chu Lai, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Bảo Thêm vào đó còn có một thế hệ nhà văn mới với nhiều tiềm năng sáng tác như Nguyễn Thị Thu Huệ, Sương Nguyệt Minh, Y Ban, Nguyễn Bình Phương, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Phan Thị Vàng Anh Đặc biệt là hai cây bút gạo cội, trở thành điểm sáng cho văn xuôi, truyện ngắn thời kỳ đ i mới là Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp Sự xuất hiện của rất nhiều tên tu i nhà văn nhiều thế hệ, quen thân với người đọc

đã tạo ra một đội ngũ sáng tác đông đảo và hùng hậu Điều đáng chú ý là hầu hết trong các cuộc thi và các giải thưởng văn học đều nằm trong lãnh địa của văn xuôi, truyện ngắn Sự chiếm lĩnh ưu thế này đã cho thấy sự phát triển mạnh mẽ và vượt bậc của thể loại

1.2.2 Những ổi mới về tư uy nghệ thuật

Đ i mới để phát triển là đòi hỏi tất yếu của bất kỳ một giai đoạn văn học nào Hơn ai hết, đội ngũ các nhà văn ở mỗi thế hệ, mỗi thời kỳ đều ý thức

Trang 24

được quy luật tất yếu này và thấy được tầm quan trọng của nó Truyện ngắn Việt Nam sau 1986 đã đánh dấu bước ngoặt bằng những

đ i mới trong thi pháp thể loại Sự phong phú về hình thức, phong cách và bút

pháp đã mang lại một diện mạo mới Hầu hết các truyện ngắn đều sử dụng kỹ

thuật hiện đại như lối kết thúc bỏ ngỏ, nghệ thuật đồng hiện, độc thoại nội

tâm, dòng ý thức, lắp ghép, sử dụng huyền thoại, nghệ thuật giao cách hay đa

giọng điệu Những năm cuối thế kỷ XX xuất hiện cả loại “truyện ngắn mini”

hàm xúc, cô đọng cả về nội dung lẫn ngôn ngữ như Nh ng vùng lặng của

Phạm Sông Hồng, những truyện rất ngắn trong cuộc thi do Tạp chí Th gi i t

chức năm 1995 Đó là những tác phẩm có sự kết hợp giữa triết lý và chất thơ,

giữa tư tưởng và tình cảm, giữa hình ảnh thực và biểu tượng

Thời kỳ này, truyện ngắn Việt Nam rất phong phú về các dòng phong

cách và có thể chia tách thành những dòng phong cách chủ yếu bao gồm:

phong cách c điển (ứng với lớp nhà văn như Nguyễn Thành Long, Nguyên

Ngọc, Nguyễn Kiên, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải ); phong cách trữ tình

(ứng với các nhà văn Nguyễn Bản, Nguyễn Quang Thiều, Võ Thị Hảo, Võ

Thị Xuân Hà, Trần Huyền Trang ); phong cách hiện thực (ứng với các nhà

văn Y Ban, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Thị Thu Huệ )

Về hình thức, truyện ngắn khá đa dạng với truyền kỳ hiện đại như B n

trần gi n của Lưu Sơn Minh, H i người àn à xóm Trại của Nguyễn Quang

Thiều ; kiểu truyện giả c tích như Nh ng ngọn gió Hua – tát của Nguyễn

Huy Thiệp ; kiểu truyện ngắn kịch Kịch câm của Phan Thị Vàng Anh, Sang

sông của Nguyễn Huy Thiệp; kiểu truyện ngắn rất ngắn Nh ng vùng lặn,

Nghĩ cử của Phạm Sông Hồng ; kiểu truyện ngắn triết luận như Sống mãi

v i cây xn h của Nguyễn Minh Châu, Thư ng nh ồng quê của Nguyễn

Huy Thiệp

Trang 25

Đáng chú ý là sự xuất hiện của yếu tố huyền thoại trong truyện ngắn Mặc dù yếu tố này không phải xa lạ với chúng ta bởi nó tồn tại dày đặc trong văn học dân gian nhưng sự hiện diện của nó trong truyện ngắn Việt Nam sau

1986 là những thể nghiệm rất thú vị

Như vậy, trên cơ sở của xã hội sau đ i mới với những chính sách, đường lối mở đối với văn hóa – nghệ thuật thì truyện ngắn nói riêng và văn học nói chung đã có những chuyển biến nhất định Những thành quả rực rỡ thông qua đội ngũ sáng tác, thông tuan các tác phẩm xuất sắc làm nên một trong hai thời

kỳ hoàng kim của truyện ngắn Việt Nam thế kỷ XX chính là sự ưu ái của xã hội hiện đại với truyện ngắn

1.2.3 ác huynh hướng cơ n

Chiến thắng hào hùng năm 1975 đã mở ra một chặng đường phát triển mới cho dân tộc Chiến tranh đã lùi vào quá khứ, âm hưởng của chiến thắng

đã ít nhiều lắng xuống Chính vì vậy, các sáng tác thời kỳ này đã nhạt dần chất sử thi, bớt đi không khí hào sảng, anh hùng, thay vào đó là giọng điệu sâu lắng và đậm chất đời thường Theo đó, hướng khai thác và xây dựng nhân vật trong truyện ngắn cũng thay đ i Nếu trong chiến tranh, con người được khai thác thiên về khía cạnh dân tộc, lý tưởng, chiến trường, hi sinh, cống hiến thì trong thời bình, con người lại được khai thác ở những khía cạnh đối lập Không gian trong các tác phẩm chuyển từ rộng sang hẹp, từ không gian lịch sử sang không gian đời tư, từ chiến trường sang cuộc sống thường nhật Cảm hứng của các cây bút cũng thay đ i từ số phận chung của đất nước, dân tộc tới số phận riêng của mỗi con người Tâm thế đối thoại xuất hiện dày đặc trong các tác phẩm Điều này chứng tỏ sự xuất hiện của những thang bậc giá trị, quan niệm khác hoàn toàn trước đó

Các nhà văn sau 1986 đã có cái nhìn về chiến tranh toàn diện, khái quát, thẳng thắn và mới mẻ hơn Họ nhìn nhận chiến tranh với góc độ là biến cố

Trang 26

nghiệt ngã của đời sống xã hội, con người Nếu như truyện ngắn về chiến tranh trước đ i mới chỉ tập trung khắc họa những hình tượng mang tính sử thi, những hình tượng tạc vào thời đại thì sau đ i mới nó lại thể hiện con người và chiến tranh ở cả những góc khuất Dưới ngòi bút của các nhà văn thì chiến tranh và cái chết đã không còn là sự hồi sinh, thăng hoa mà là cả nỗi lạnh lẽo,

cô đơn, nỗi buồn đeo đẳng Những người lính từ chiến trường trở về cô đơn,

bơ vơ, lạc lõng và luôn bị ám ảnh bởi quá khứ Những éo le, xót xa, nỗi buồn

và cả những ký ức bàng hoàng về chiến tranh cứ đeo bám họ Mỗi tác phẩm là niềm thương cảm lớn mang tính nhân văn sâu sắc giúp con người sống tốt hơn, hiểu biết hơn Các nhà văn đã nhìn nhận và khai thác triệt để những khía cạnh, những góc khuất của chiến tranh nhưng không vì thế mà có cái nhìn sai lệch Đơn giản, họ chỉ có một cái nhìn độ lượng hơn, khái quát hơn, toàn diện hơn về mọi mặt trong cuộc chiến tranh ấy

Việc chuyển đ i trạng thái xã hội từ thời chiến sang thời bình, từ cuộc sống bất n, căng thẳng sang cuộc sống đời thường muôn màu muôn vẻ khiến con người có sự chuyển đ i trong tư duy Mọi nhu cầu cá nhân được thức tỉnh một cách mạnh mẽ Sự thức tỉnh ấy đã tác động trực tiếp đến truyện ngắn và trở thành chất liệu trong sáng tác của các tác giả Văn học bắt đầu chú ý đến cuộc sống riêng tư, đến cái tôi cá nhân, đến tất cả những gì liên quan đến cuộc

sống đời thường như Nguyễn Minh Châu với Người àn à trên chuy n tàu tốc hành, B n quê; Ma Văn Kháng với Ngày ẹp trời, Heo m y gió lộng, Trăng soi ngoài ngõ; Nguyễn Kiên với Đáy nư c, Nh ng m nh vỡ ; Nguyễn Quang Thân với Người hông i cùng chuy n tàu, i o thừ trắng; Lê Minh Khuê với Một chiều x thành phố, Bi ịch nhỏ, Đồng ô l vĩ ại Trong địa

hạt của văn học không có “vùng cấm” Nhà văn có thể viết tất cả những gì tồn tại trong cuộc sống, viết về mọi chuyện đời, chuyện người

Nhiều truyện ngắn có khuynh hướng nhận thức lại thực tại Lênin đã từng nói: Nhận thức lại thực tại không phải là “phản bội lịch sử” mà “khi nhờ

Trang 27

vào kinh nghiệm, người ta gạt bỏ sai lầm khỏi cái chủ quan mà nó bao hàm, người ta sẽ đi đến chân lý” [54, tr.98] Cũng theo Bùi Việt Thắng thì “khuynh hướng nhận thức lại thực tại trong văn xuôi thể hiện khát vọng phân tích và

t ng kết, chiêm nghiệm và suy ngẫm, triết luận về đời sống và con người của nhà văn Tác giả đã vận dụng hình thức bi kịch để tái tạo đời sống vì bi kịch

có tác động “thanh lọc tâm hồn”, có khả năng phát hiện các “tình huống thế giới” ” [54, tr.98]

Nhìn thẳng vào hiện thực, nhận thức lại thực tại, các nhà văn đã phát hiện và cảnh báo nguy cơ xuống cấp về đạo đức, những tư tưởng và thói quen

đã lỗi thời Khuynh hướng này phát triển mạnh vì nó đã đáp ứng được nhu cầu tự nhận thức cá nhân Nhà văn đã phản ánh rất chân thực, sâu sắc và ý nghĩa những cung bậc cuộc sống với tính “đa sự” của cuộc đời và tính “đa đoan” của con người Qua lăng kính của mình, họ lách sâu ngòi bút vào từng ngõ ngách cuộc đời để tìm tòi, phát hiện, khơi nguồn và chắt chiu những cái đẹp Đồng thời các nhà văn “truy kích đến cùng cái ác, cái xấu đang bao vây quanh con người” [45, tr 99] và tham gia vào cuộc đấu tranh nhằm hoàn thiện nhân cách Nguyễn Minh Châu trở thành tác giả đi đầu đại diện cho khuynh hướng văn xuôi – tâm lý, bằng nghệ thuật giúp con người nhận thức chính bản thân mình Bên cạnh đó, nhiều tác giả khác thành công trong khuynh hướng này như Lê Minh Khuê, Nguyễn Khải, Khuất Quang Thụy, Ma Văn Kháng Cảm hứng đạo đức – thế sự, tính chất đối thoại, sự sắc bén và chiều sâu tâm lý chính là những đặc điểm n i bật trong các tác phẩm văn xuôi thuộc khuynh hướng “văn xuôi thế sự”, “văn xuôi đời thường”

Một số tác phẩm viết về nông thôn đã phê phán nghiêm khắc những tập tục, tâm lý cố hữu của làng quê, những quan hệ gia đình, những cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa các dòng họ, những mối thù truyền kiếp đè nặng lên cuộc sống con người, ngăn cản tình yêu, hạnh phúc lứa đôi

Trang 28

Tinh thần sám hối được phát lộ và khắc họa trong các tác phẩm đã thể hiện được sự nhận thức của tác giả về con người, về thực tại Các nhà văn đã nhìn nhận và phản ánh theo lối “gạn đục khơi trong” vì thế việc để cho con người sám hối giống như một lối thoát và giải pháp tất yếu

1.3 Sự xuất hiện của truyện ngắn Sương Nguyệt Minh

1.3.1 uá tr nh sáng tác

Trong giới văn chương Việt Nam, cái tên Sương Nguyệt Minh không mấy xa lạ Sinh năm 1958, Sương Nguyệt Minh tên thật là Nguyễn Ngọc Sơn, quê ở xã Yên Mỹ - huyện Yên Mô – tỉnh Ninh Bình, một vùng quê có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời sáng tác của nhà văn Ông có các bút danh như: Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Yên Mô, Sương Nguyệt Minh Hiện ông đang công tác ở tạp chí văn nghệ Quân đội Ông là tác giả của bảy tập truyện ngắn, hai tập bút kí – tản văn và một cuốn tiểu thuyết đã được xuất bản Nhìn lại toàn bộ quá trình sáng tác của Sương Nguyệt Minh, chúng tôi xin được đánh giá trên một số vấn đề chính sau đây:

Thứ nhất, Sương Nguyệt Minh là một cây bút n i bật với thể tài truyện ngắn Ông đã để lại ấn tượng cho người đọc ngay từ những tác phẩm đầu tay

như Nỗi u òng họ, B n háng án ằng văn Tuy mức độ thành công của

hai truyện có khác nhau nhưng ở cả hai tác phẩm, người đọc đều tìm thấy “cái không bình thường” trong sự sáng tạo nghệ thuật của tác giả Sau đó là những

nỗ lực không ngừng trong việc đ i mới bút pháp truyện ngắn của nhà văn để

dần dà chiếm lĩnh độc giả Các tập truyện ngắn Đêm làng Trọng Nhân (1998), Người ở n sông Châu (2001), Đi qu ồng chiều (2004), Mười n nư c (2005), Chợ t nh (2007) là những bứt phá về các hướng khác nhau của Sương

Nguyệt Minh

Thứ hai, là một người đã thoát ly nông thôn, lên thành phố sống và làm việc nhiều năm nhưng hình bóng quê hương vẫn luôn in đậm trong tâm hồn

Trang 29

tác giả Điều đó lý giải cho việc trong nhiều câu chuyện có sự xuất hiện những địa danh như đầm Vạc, núi Ngọc Mỹ Nhân, các tên làng Sơn Hạ, hay

là Yên Hạ, bản Cón Nhợi – nơi các câu chuyện diễn ra mang đậm dấu ấn của quê hương Ninh Bình Với mảng truyện viết về đề tài nông thôn Việt Nam, Sương Nguyệt Minh đã mang đến cho người đọc một khuôn mặt văn chương theo lối truyền thống, nhuần nhụy từ giọng văn cho đến tên các nhân vật trong tác phẩm Đó là những truyện có lối dẫn chuyện không cầu kỳ, không vòng

vo nhưng có sức lôi cuốn bởi chính những chi tiết rất sống động mà chỉ có người gắn bó máu thịt với vùng đất ấy mới có thể tái hiện lại hấp dẫn như vậy Cũng là cây đa bến nước sân đình, những chuyện xóm giềng, dòng họ nhưng không hề bị lẫn với những tác phẩm viết về nông thôn của nhiều tác giả khác đã thành danh Phải nói rằng, ông viết rất có hồn và có duyên Chẳng

hạn, đọc tập truyện Người ở n sông Châu người đọc cứ bị ám ảnh bởi mảnh

đất bán sơn địa, vừa mang đặc trưng của vùng đồng bằng sông Hồng, vừa mang đặc trưng của một vùng núi trung du Bắc Bộ - quê tác giả Hay những câu văn bình dị đi vào lòng người như này: “Gió núi th i rười rượi kéo những đám mây màu xám nặng nề bay trên mặt đầm đang thẫm dần Tiếng mõ gọi trâu lốc cốc lần trong tiếng sáo rét rắt từ chân núi vọng đến Người thôn quê lam lũ ở đồng cỏ, thung dâu, mặt đầm đang lục tục kéo nhau về Các quán

cóc xập xệ ven đường đã lên đèn.” (Mây y cuối ường) Như vậy, chúng tôi

có thể đánh giá thành công của Sương Nguyệt Minh chính là ông đã tìm ra cho mình một mảnh đất riêng để “đi về” Đời sống nơi vùng quê ấy được ông tái hiện chân thật, sống động và có sức lôi cuốn Người đọc thấy rất rõ cái tâm của người viết thấm đẫm trên từng trang văn Từng câu, từng chữ đều thấy cái tình của người viết rừn rưng Hình ảnh người mẹ tần tảo, lo bữa ăn cho các con giữa bu i giáp hạt được dựng lên ấn tượng chỉ bằng những chi tiết đơn giản thế này: “Mẹ tôi đong gạo nấu cơm, ngần ngừ đắn đo, rồi bốc một nắm bớt lại”

Trang 30

Thứ ba, Sương Nguyệt Minh là nhà văn quân đội, ông đã dành phần nhiều trang viết của mình về người lính, về cuộc sống thời hậu chiến Đó là điều dễ hiểu Nhưng điều đáng nói ở đây là đằng sau mỗi câu chuyện ấy, nhà văn đã cho người đọc nhận thấy một phép so sánh: bi kịch con người trong chiến tranh và trong hậu chiến bên nào nặng hơn? Nhưng cái chắc chắn là các thân phận trong truyện của ông đã phải gánh cả hai tấm bi kịch đó Chẳng hạn

như nhân vật Sao trong Mười n nư c, một lòng ở hậu phương chờ chồng

đi chiến trận Khi chồng Sao trở về, anh ta được hưởng cái trinh tiết của Sao nhưng trớ trêu thay anh ta lại chỉ khiến Sao lần lượt sinh ra những cục thịt đỏ lòm Thế rồi, Sao phải chia tay để lấy cho chồng người vợ khác Thật xót xa!

Cô gái ấy cũng không hơn gì Sao, vẫn là sinh ra những cục thịt Sao lại phải qua cái bến nước thứ mười qua, phải trở lại chăm sóc chồng và mẹ chồng trong một kết thúc mở Vẫn là đề tài người lính trở về sau chiến tranh, nhưng truyện ngắn Sương Nguyệt Minh mang đến cho người đọc nhiều ám ảnh, đau đớn khôn nguôi mỗi khi chứng kiến một thân phận hay một cảnh ngộ truyện Trong văn học Việt Nam thời kỳ đ i mới, ta vẫn bắt gặp môtip quen thuộc: người lính sau khi đã vượt qua bom đạn và cái chết trở về thì người con gái

mà anh ta yêu, hay người vợ mà gia đình vội vàng cưới cho trước khi ra trận không còn giữ được sự thủy chung, hoặc đi lấy người khác thì Sương

Nguyệt Minh lại có những khám phá hoàn toàn mới mẻ Trong Người ở n sông Châu thì người từ chiến hào trở về là một cô gái, còn người ở lại hậu

phương lại là một chàng trai Và ngay trong câu đầu tiên của truyện: “Ngày dì Mây khoác ba lô trở về làng, chú San đi lấy vợ ” đã cho thấy sự mới mẻ của Sương Nguyệt Minh trong việc đề cập đến số phận của người phụ nữ Có thể nói cái chất của Sương Nguyệt Minh giai đoạn này nằm chủ yếu ở vẻ đẹp lãng mạn và hiện thực Một hiện thực có nhiều số phận đau đớn nhưng nhìn chung vẫn là sự ấm áp nhân tình, yêu đời, yêu người Văn chủ yếu là kể và tả, có chút nghiền ngẫm

Trang 31

Thứ tư, tập truyện ngắn Dị hư ng (2010) đã đánh dấu bước ngoặt trong

hành trình sáng tác của Sương Nguyệt Minh Ở đây, chất lãng mạn thăng hoa kết hợp với sự bí nhiệm, huyền bí đã mở lối cho truyện ngắn Sương Nguyệt

Minh bước vào thế giới văn chương kỳ ảo Dị hư ng đã thoát khỏi cách viết

về những đề tài quen thuộc của một nhà văn quân đội và cũng được coi là một mốc son trong sự nghiệp của tác giả Độc giả rất ngạc nhiên khi nhà văn thay

đ i hẳn phong cách với những truyện ngắn viết về nỗi cô đơn của con người

tha hương nơi phố thị (Đêm thánh vô cùng); sự lệch pha của những cặp mà một người là tri thức, một người thì trưởng giả học làm sang (Chi c nón mê thủng chóp)

Thứ năm, trong những năm gần đây, Sương Nguyệt Minh đã thử sức

mình với thể tài tiểu thuyết, ấn phẩm đầu tay là tiểu thuyết Miền ho ng được

xuất bản năm 2014 Điều đặc biệt là cuốn tiểu thuyết được trăn trở viết nên từ chính những trải nghiệm của nhà văn Sương Nguyệt Minh trong những năm tháng tham gia chiến đấu ở biên giới Tây Nam và làm người lính quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia Nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét: “Với

Miền ho ng, Sương Nguyệt Minh đã chọn một cách viết thích hợp, sáng tạo

về một cuộc chiến khiến chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều” Có thể nhận định,

tiểu thuyết Miền ho ng với hiện thực sinh động về đề tài chiến tranh trong

thời kì mới, nhà văn Sương Nguyệt Minh đã khẳng định được tài năng không chỉ trong truyện ngắn mà cả với thể loại tiểu thuyết Sương Nguyệt Minh đã

có những cách tân n i bật, góp phần vào khuynh hướng nỗi lực làm mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại vốn đã quen thuộc trong sáng tác của các nhà văn Trên đây, chúng tôi vừa khái quát lại toàn bộ quá trình sáng tác của nhà văn Sương Nguyệt Minh cũng như chỉ ra những đặc điểm chính về nội dung

và nghệ thuật trong tác phẩm của ông Có thể thấy những sáng tác truyện ngắn, tiểu thuyết của Sương Nguyệt Minh với lối viết giản dị, rất riêng và lạ

đã đem tới sức hút làm rung động rất nhiều tâm hồn đồng điệu

Trang 32

1.3.2 u n niệm nghệ thuật

Là một nhà văn quân đội luôn nghiêm túc trong nghề nghiệp, với khả năng quan sát và nắm bắt tinh nhạy sự vận động, phát triển của xã hội Sương Nguyệt Minh đã tạo ra trong thế giới nghệ thuật của mình một quan niệm mới

về hiện thực xã hội và con người Bên cạnh đó ông đã có những nỗ lực tìm tòi, thể nghiệm những phương thức mới trong thể tài truyện ngắn

Khi nói về quan niệm văn chương, về nghề văn, ông từng tâm sự: “Tôi vẫn nghĩ rằng dù viết gì thì viết, cuối cùng nhà văn vẫn phải chạm tới thân phận con người” Có thể thấy tinh thần nhân đạo luôn là quan niệm của nhà văn trong sự nghiệp sáng tác của mình Điều đó được thể hiện qua hai tuyến nhân vật đó là người lính và người phụ nữ Viết về mảng đề tài sau chiến tranh, người lính trong truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh bước ra với tư thế của người chiến thắng nhưng khi trở về với cuộc sống đời thường, họ phải chịu sự thất bại của số phận, mất mát, đau thương, chiến tranh tàn phá, không còn lành lặn, người yêu thì kết hôn cùng người khác, v.v Nhưng họ vẫn kiên cường để sống, để trở về và tiếp tục cuộc hành trình đi kiếm tìm hạnh phúc Nhân vật người phụ nữ trong sáng tác của ông cũng là những người phụ nữ cam chịu, nhẫn nhục, chấp nhận sự hi sinh của bản thân vì gia đình, vì người yêu Ở họ vẫn ngời lên những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ truyền thống Đó là cái nhìn nhân đạo của nhà văn đối với hệ thống nhân vật mà mình xây dựng

Ông luôn tâm niệm rằng: “Nhà văn phải khác biệt” Đó là quan niệm nhà văn phải có những cách tân trong nghệ thuật Trả lời trong cuộc phỏng vấn trên báo Phụ nữ online số ra ngày 5/11/2015 ông nói: “Mỗi lần viết là một lần làm mới, không chỉ mình khác với người khác, mà còn phải khác với chính mình trước đây Có lẽ cái “tạng” của tôi phải cựa quậy, luôn luôn thay đ i, để

đa giọng điệu, đa phong cách Miền ho ng đối với tôi là một bước ngoặt trong

nỗ lực thay đ i ấy Giai đoạn đầu tôi viết trong trường thẩm mỹ truyền thống

Trang 33

với những tác phẩm như Đêm làng Trọng Nhân, Người về n sông Châu, Nỗi

u òng họ, Mây y cuối ường Sau đó có sự thay đ i với những bút pháp hiện thực, huyền ảo như N i ho ng ã ồng vọng, Mười n nư c,

Dị Hư ng, hay m xẻ, nghĩ ngợi về các vấn đề tâm lý xã hội như tạp văn Đàn ông chọn he ngực sâu Còn bây giờ là sự thay đ i các điểm nhìn, cách kể khác biệt ở Miền ho ng” Nhà văn cũng chia sẻ những suy nghĩ của mình:

“Viết như thế nào, chứ không phải viết về cái gì, luôn là một thách thức khó khăn, khắc nghiệt đối với nhà văn” Đó chính là động lực để Sương Nguyệt Minh tìm tòi và đ i mới chính mình, từ đề tài cho đến hệ thống nhân vật và bút pháp nghệ thuật Hết mình hi sinh cho sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật, Sương Nguyệt Minh từng từ chức Trưởng ban văn xuôi để tìm thú vui đọc sách, viết văn, bởi ông quan niệm: làm biên tập chiếm mất nhiều thời gian, không có lúc nào mà sáng tác, vì thế công việc viết văn trở nên khó nhọc, trong thâm tâm ông muốn mình được tự do để những cảm xúc chân thành và những trải nghiệm đậm chất đời thường được trào ra từ đầu ngọn bút Ông luôn nghĩ mình phải cố gắng viết cái sau này hay hơn, độc đáo hơn, mới mẻ hơn cái trước Ông rất tâm đắc triết lí của doanh nhân Steve Jobs: “Cứ khao khát và cứ dại dột!” Ông chia sẻ: “Tôi vốn là kẻ ưa khám phá, thích lang thang, rong ru i nhiều nơi, thích đọc chính sử và dã sử lại chơi được với từ anh đạp xe xích lô, thợ cày đến ông tướng già, doanh nhân trẻ, nhà khoa học

“sinh bất phùng thời” Ở một chỗ, ăn cũng một chỗ, làm cũng một chỗ, sống đều đều, đơn điệu, tẻ nhạt là người cứ muốn phát điên Tiền nhân nói “văn

là người”, vì thế tôi viết về nhiều đề tài, nhiều loại con người khác nhau, vùng đất khác nhau, với các bút pháp khác nhau cũng chẳng có gì lạ Tất nhiên, tự tin và có bản lĩnh thì mới viết văn”

Mặc khác, Sương Nguyệt Minh cũng quan niệm: “tác phẩm bầu lên nhà văn, để trở thành một nhà tiểu thuyết thì hầu như nhà văn nào cũng khao khát, còn có được là nhà tiểu thuyết hay không thì hãy để bạn đọc đánh giá.” Có thể

Trang 34

thấy ông luôn đề cao vai trò của người đọc, có nhiều truyện ông để kết thúc

bỏ ngỏ để người đọc tự viết thêm trong suy nghĩ của mình, có những truyện ông sử dụng ngôi kể thứ ba và đặt ra những câu hỏi nghi vấn như muốn tương tác cùng người đọc Ông chia sẻ: “Tôi vẫn thường hỏi bạn bè có đọc được đến trang cuối cùng không? Nếu đọc đến trang cuối cùng thì nghĩa là tôi yên tâm, còn nếu bỏ dở có nghĩa là nhà văn thất bại” Từ đó trong những truyện ngắn của mình, ông đã sắp xếp hàng loạt những chi tiết nghệ thuật kết hợp với ngôn ngữ trần thuật linh hoạt, trang nào cũng xuất hiện những yếu tố bất ngờ làm cho bạn đọc bị dẫn dụ đến cuối cùng của câu chuyện

Sương Nguyệt Minh luôn có ý thức đ i mới cảm hứng, tư duy nghệ thuật Với ông, mỗi tác phẩm có một cách khai thác riêng, luôn gợi mở ở tâm trí người đọc những xúc cảm khó phai Đó cũng chính là sức mạnh, giá trị của văn chương luôn biết khêu gợi, đánh thức tiềm lực của người đọc khi tiếp nhận văn học

Trang 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1 của luận văn, chúng tôi đã đề cập đến một số vấn đề lý thuyết về truyện ngắn, tự sự và nghệ thuật tự sự Đồng thời luận văn cũng đã đưa ra cái nhìn tương đối khái quát về truyện ngắn Việt Nam sau 1986 Đó là

sự phát triển lực lượng sáng tác, sự đ i mới về tư duy nghệ thuật, và các khuynh hướng sáng tác cơ bản của truyện ngắn việc các nhà văn nhìn nhận

và khai thác triệt để những khía cạnh, những góc khuất của chiến tranh Đặc biệt quan tâm đến số phận con người sau chiến tranh với những biến cố trái ngang mà họ phải đối mặt Bên cạnh đó là cảm hứng đạo đức – thế sự, tính chất đối thoại, sự sắc bén và chiều sâu tâm lý được khai thác nhiều trong các tác phẩm truyện ngắn

Nhà văn Sương Nguyệt Minh là một gương mặt ưu tú, n i bật, tuy đến với văn chương khá muộn nhưng Sương Nguyệt Minh đã để lại những dấu ấn đậm nét với thể loại truyện ngắn Sương Nguyệt Minh đã vượt ra khỏi giới hạn của đề tài, của thế giới hiện thực trong nền văn học cách mạng mà khám phá và đi sâu vào đời sống hiện thực, đi vào những ngõ ngách, tầng sâu của tâm hồn con người Nhà văn có những quan niệm nghệ thuật rất rõ ràng: Thứ nhất “nhà văn phải chạm tới thân phận con người”, luôn thể hiện tinh thần nhân đạo trong từng tác phẩm

Thứ hai, nhà văn phải luôn “đ i mới với chính mình”, phải có sự cách tân về nghệ thuật

Thứ ba là đề cao vai trò của người đọc Với hệ thống quan niệm đó, Sương Nguyệt Minh đã có sự vận động và sáng tạo không ngừng trong nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn để tạo nên thành công trên con đường cầm bút của mình

Trang 36

Chương 2

Y ỰNG T NH HU NG TỔ CHỨC KẾT CẤU, BÚT PHÁP KÌ ẢO

TRUYỆN NGẮN SƯƠNG NGUYỆT MINH 2.1 Tình huống truyện

2.1.1 iới thuyết hái niệm

Nói về tình huống tự sự, Hêghen - nhà triết học, mỹ học lỗi lạc người Đức cho rằng: “Nói chung tình huống là một trạng thái có tính chất riêng biệt

và trở thành được quy định Ở trong thuộc tính này của nó, tình huống góp phần biểu lộ nội dung là cái phần có được một sự tồn tại bên ngoài bằng sự biểu hiện nghệ thuật” [55, tr.110]

Nhà văn Nguyễn Minh Châu quan niệm: “Với truyện ngắn và với một tác giả có kinh nghiệm viết, tôi nghĩ rằng đôi khi người ta nghĩ ra được một cái tình thế xảy ra chuyện, thế là coi như xong một nửa…Những nhà văn có tài đều là những người có tài tạo ra những tình thế xảy ra chuyện vừa rất cá biệt vừa mang tính ph biến hoặc tượng trưng” và “…những người cầm bút

có cái biệt tài có thể chọn ra trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất, một khoảnh khắc cuộc sống…nhưng bắt buộc con người ở vào một tình thế phải bộc lộ ra cái phần tâm can nhất, cái phần ẩn náu sâu kín nhất, thậm chí có khi

là khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người, một đời nhân loại” [12, tr.324] Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh nhấn mạnh: "Quan trọng nhất của truyện ngắn là tạo ra tình huống nào đó Từ tình huống n i một tính cách nhân

vật, bộc lộ một tâm trạng" [59]

Nhà văn Nguyên Ngọc khi bàn về truyện ngắn đã đặc biệt chú ý đến vấn

đề tình huống: “Truyện ngắn dẫu sao cũng phải ngắn, do đó thủ thuật chủ yếu của truyện ngắn là thủ thuật điểm huyệt […] Truyện ngắn điểm huyệt thực hiện

Trang 37

bằng cách nắm bắt trúng những tình huống cho phép phơi bày cái chủ yếu nhưng lại bị che giấu trong muôn mặt cuộc sống hàng ngày” [55, tr 114]

Từ một số ý kiến trên, có thể khái quát về tình huống truyện như sau: Đối với truyện ngắn, tình huống giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại,

nó chính là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt khiến cho tại đó, cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ sắc nét nhất

Qua khảo sát các truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh, dựa vào tính chất của tình huống để phân loại, chúng tôi nhận thấy nhà văn đã sử dụng các loại tình huống điển hình sau: tình huống hành động; tình huống giàu kịch tính; tình huống nhận thức

2.1.2 Tình huống hành ộng

Tình huống hành động là loại sự kiện đặc biệt mà trong đó nhân vật bị đẩy tới một tình thế (thường là éo le) chỉ có thể giải quyết bằng hành động

Tình huống này thường hướng tới một kiểu nhân vật : Nhân vật hành ộng

Tức là loại nhân vật chủ yếu được hiện lên bằng hệ thống hành vi, hành động của nó, các bình diện khác ít được quan tâm Do đó, nó quyết định đến diện

mạo của toàn truyện : truyện ngắn giàu ịch tính Tình huống hành động xuất

hiện khá nhiều trong truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh Khảo sát qua 8

truyện ngắn trong tập Mười n nư c thì có tới 6 truyện ngắn xuất hiện

tình huống hành động

Nhân vật Mây trong Người ở n sông Châu luôn phải trăn trở với

những tình thế lựa chọn đầy éo le, từ khi bước chân về bến đò quê hương sau những năm tháng tham gia chiến trận Tình huống đầu tiên mà Mây phải đối mặt là tiệc cưới của San và lời đề nghị “làm lại từ đầu” của chú rể; tiếp đến là việc Mây phải đỡ đẻ cho vợ San trong tình trạng vô cùng nguy kịch những tình huống ấy được đặt vào tác phẩm như những bản lề then chốt mà cách tác

Trang 38

giả giải quyết thế nào sẽ làm bật lên tính cách nhân vật đó Sương Nguyệt Minh đã cho nhân vật lựa chọn điều thua thiệt về mình sau những dằn vặt khôn nguôi Hành động của Mây trước những tình huống trớ trêu đã thể hiện một cách thống nhất tính cách đầy vị tha của cô

Người àn ông làng Yên Hạ mở đầu với tình huống hành động đầy kịch

tính của nhân vật Trương Hạ “Hạ cầm côn về làng sau 10 năm biệt tích” Việc đầu tiên hắn làm là tính s với anh rể về những trận đòn roi oan khuất Anh rể của hắn đã nằm dưới đất, hắn không tha! “Hắn thẳng tay quật xuống nấm đất hai chục roi Hắn đã thanh toán xong đối với người đã khuất” Sau một đêm thức trắng, hắn uống rượu với khoai luộc rồi cầm côn đến nhà Hội Dục để thanh toán món nợ vu khống 10 năm về trước Nhiều người can ngăn không được, Hạ quát: “Cút ngay! Muốn thủng mâm vỡ bát thì bảo” Tiếng quát tháo của một kẻ ngang tàng liều lĩnh nhưng cũng đầy khí phách Tình

huống mà Sương Nguyệt Minh xây dựng có nét giống môtip truyện Chí Phèo

của nhà văn Nam Cao Chí Phèo cũng bị vu oan mà phải ngồi tù bảy, tám năm mới trở về làng, rồi trở thành con quỷ dữ trong mắt người làng Vũ Đại Trương Hạ cũng bị vu oan ăn trộm bưởi của nhà Hội Dục mà bị anh rể đánh đến mức phải bỏ làng đi lang bạt 10 năm trời Nhưng khác với Chí Phèo, Trương Hạ có cái đầu thông minh và bản lĩnh của hắn khiến cả làng Yên Hạ phải nể sợ Hắn làm chánh trương ở làng, không ai qua mặt được hắn, những nhóm đánh bạc, đục khoét trèo tường, nấu rượu lậu,v.v đều bị hắn dẹp hết, không tên nào dám ho he Hắn chiếm đất dựng nhà, làm thêm khoản chèo đò đưa khách qua sông, hắn coi đó là một thú vui trong cuộc sống Tình huống hành động được Sương Nguyệt Minh đặt ra liên tục cho nhân vật này bộc lộ hết cá tính của mình Trương Hạ được Nhất Cẩn – một người giàu có nhất vùng quý mến và kết giao Hắn phải lòng vợ bé của Nhất Cẩn, hắn nghe theo lời Hội Dục đào trộm mộ bố của Nhất Cẩn và đặt điều kiện với ông ta Tất nhiên điều kiện nào ông ta cũng đồng ý và Trương Hạ đã được như ý muốn

Trang 39

Để cho dân làng nể phục, Trương Hạ xin lát nốt đường làng, tạo công ăn việc làm cho người làng Yên Hạ Hắn sống rất hào phóng, ai có việc cần nhờ là hắn giúp, ai mời hắn ăn thì hôm sau hắn mời lại, cỗ nhà hắn bao giờ cũng to hơn cỗ của người mời hắn Bản tính ngang tàng khiến nhiều người ghét hắn

Cứ nhắc đến Trương Hạ là ai cũng lắc đầu lè lưỡi Tuy nhiên trong con người này vẫn còn tồn tại tính người như nhân vật Chí Phèo Sau cơn say, Chí Phèo nhận được tình thương, sự chăm sóc của Thị Nở, tính người đã dần trở lại với hắn, hắn cảm nhận được những âm thanh và hương vị của cuộc sống, khát vọng về một mái ấm gia đình đang giúp hắn trở lại làm người Trương Hạ cũng được Sương Nguyệt Minh đặt trong tình huống tương tự như thế Hắn uống rượu say ở nhà Hội Dục và nửa đêm về đến túp lều nhà mụ Lài thì quỵ gục Mụ Lài vắt nước dong giềng cho hắn uống, mụ đánh cảm cho hắn “Hắn nằm im như trẻ nhỏ Hắn ước ao: giá mẹ hắn còn sống Hắn thèm có bàn tay chăm sóc của người mẹ Cái mà hắn thiếu đó là tình mẫu tử Hắn thấy biết

ơn bà già ăn mày cô đơn gần bảy mươi tu i đã cứu sống hắn lại Trương Hạ không khóc mà nước mắt rơi lã chã Hình như lần đầu tiên trong đời, hắn rơi những giọt lệ nóng h i” Ẩn sau tính tình ngang ngạnh, hành động liều lĩnh là một trái tim nồng ấm luôn khao khát tình yêu thương của Trương Hạ Tính nữ

đã đánh thức phần “thiện” trong Trương Hạ Theo nhà tâm lý học Carl Jung, tính nữ hiện thân cho một phương diện của vô thức gọi là anima “Anima là hiện thân của tất cả những khuynh hướng tâm lý nữ tính của tâm hồn con người, ví dụ như là những tình cảm, những tâm trạng mơ hồ, những trực giác tiên đoán ” Ở mặt tích cực, “anima cũng có thể tượng trưng cho một ảo mộng về tình yêu, về hạnh phúc, về hơi ấm người mẹ (cái t ), một giấc mơ xúi giục con người quay lưng với thực tại” [11, tr.708] Trường hợp cùa Trương Hạ khiến chúng ta liên tưởng đến nhân vật trong truyện ngắn của

Nguyễn Trí Những kẻ lang bạt như Thành Bụi, Minh Tàn, trong Bãi vàng,

á quý, trầm hư ng luôn nhấm nháp nỗi cô đơn, sau mỗi cơn say lúc nửa

Trang 40

đêm về sáng Thể xác mệt mỏi khiến cho tâm hồn cũng trở nên yếu đuối:

“Bệnh tật là chúa của sự mất ý chí Nó gây cho ta buồn và chán nản Những lúc như nầy Sao mà nhớ quá những ngày còn với gia đình Cả tôi, là

t ng mười ba người, mà giờ đây một mình trong ma thiêng nước độc Là may mắn hay bất hạnh? Chén cháo My nấu làm tôi nhớ những ngày xưa, và đôi mắt má tôi đen láy hiện ra Nhiều năm sau ngày ra đi, bị vùi dập bởi đời, tôi hiểu má tôi thương con, bà đã mạo hiểm cắp của chồng cho đứa con lính tráng, vì không biết nó sẽ phơi thây ngoài chiến địa lúc nào Còn tôi, vì vậy

mà ra đi Có lẽ bà sẽ rũ ra mà hối Tôi dại quá Biết sao mà quay lại hả trời? Tôi trở lại sau nhiều năm trôi n i, nhưng mùa hè 72 đã tiêu tan một căn cứ mười nghìn quân và vợ con họ Tôi đập tay lên ngực mà rằng lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng, vì vậy tôi xin Xin ai?” [63, tr.69] Sự chăm chút tuy vụng về nhưng dịu dàng của My gợi nhắc trong Minh Tàn bóng dáng mẹ:

“Có nét lo lắng và chút u ẩn buồn trong mắt My Đôi mắt cô làm tôi nhớ mắt mẹ” [63, tr.68] Tính nữ ở đây mang dáng dấp của một ảnh tượng về quá khứ xa xăm và ảo mộng đoàn viên không thành Dường như sự xuất hiện của những người phụ nữ đã phần nào làm hòa dịu sự hung bạo, ngang ngược trong những kẻ bị số phận nghiệt ngã xô đẩy Thành Bụi cảm nhận ở Dung một tình yêu mạnh mẽ, kiên định, vượt lên cả cảnh ngộ của cả hai My đem lại cho Minh Tàn cảm giác về hơi ấm của một bàn tay chăm sóc và khơi dậy nỗi thèm khát hai chữ “gia đình” Mụ Lài cũng gợi cho Trương Hạ khát khao

về tình mẫu tử mà hắn luôn thiếu thốn Rõ ràng, tính nữ ở đây như một ẩn dụ nhằm đánh thức phần “thiện” trong mỗi con người

Cha tôi là một câu chuyện thuộc môtip người lính trở về sau chiến tranh

và lạc lõng bơ vơ giữa thời bình Giống như nhân vật ông thiếu tướng Thuấn

n i tiếng trong Tư ng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, người cha trong Cha tôi

được Sương Nguyệt Minh đặt vào trong tình huống trớ trêu như thế Trong chiến tranh, cha là người chủ động, luôn xuất hiện ở tư thế quyết chiến và

Ngày đăng: 18/06/2021, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm