Luận văn, khóa luận, đề tài, báo cáo, chuyên đề
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
NGUYỄN ĐÌNH ĐỀ
ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI
TẠI KHU VỰC MỎ ĐÁ Ở HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN NGỌC HỢI
Trang 2Vinh, 2012
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
NGUYỄN ĐÌNH ĐỀ
ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI
TẠI KHU VỰC MỎ ĐÁ Ở HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN NGỌC HỢI
Vinh, 2012
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn
Đình Nhâm, người thầy đã tận tình, hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Sau Đại học, khoa Sinh học và các thầy, cô giáo trường Đại học Vinh, đại học Sư phạm Hà Nội, đại học Sư phạm Huế đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ về tài liệu, phương pháp nghiên cứu trong quá trình chúng tôi học tập và nghiên cứu tại trường.
Cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô trong tổ Sinh và học sinh các trường THPT mà tôi tiến hành điều tra, thực nghiệm sư phạm đã tạo điều kiện và hợp tác cùng với tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Bên cạnh đó cũng xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Vinh, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Ngô Thị Hương
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3
5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
7 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 6
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Tổng quan về vệ sinh an toàn thực phẩm 7
1.1.2 Nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm 16
1.1.3 Vận dụng tích hợp GDVSATTP vào giảng dạy sinh học phần kiến thức Sinh học vi sinh vật, sinh học 10- THPT 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 30
1.2.1 Thực trạng GDVSATTP ở trường THPT 30
Chương 2: TÍCH HỢP GIÁO DỤC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG DẠY HỌC PHẦN “SINH HỌC VI SINH VẬT” SINH HỌC 10 THPT 38
2.1 Phân tích mục tiêu, cấu trúc nội dung phần Sinh học vi sinh vật 38
2.1.1 Mục tiêu phần “Sinh học vi sinh vật” 38
2.1.2 Phân tích cấu trúc “Sinh học vi sinh vật” 39
2.2 Thiết kế một số giáo án dạy học phần “Sinh học vi sinh vật” Sinh học 10 - THPT.41 Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61
3.1 Mục đích nghiên cứu 61
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 61
3.3 Nội dung thực nghiệm 61
Trang 63.4.1 Chọn đối tượng thực nghiệm 61
3.4.2 Bố trí thực nghiệm 62
3.4.3 Tiến hành kiểm tra 62
3.5 Xử lí số liệu 62
3.6 Kết quả thực nghiệm 63
3.6.1 Phân tích định lượng 63
3.6.2 Phân tích định tính 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Kiến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 7Các chữ viết tắt Ý nghĩa chữ viết tắt
GDVSATTP Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vệ sinh an toàn thực phẩm(VSATTP) hiện nay đang là mối quan tâmhàng đầu của nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển Trên thếgiới, các vụ ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm có xuhướng ngày càng tăng Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới, hơn 1/3 dân sốcác nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm.Đối với các nước đang phát triển, tình trạng lại càng trầm trọng nhiều hơn,hàng năm hơn 2,2 triệu người tử vong, trong đó hầu hết là trẻ em Tại ViệtNam, công tác bảo đảm VSATTP diễn ra trong bối cảnh vô cùng phức tạp.Một trong những nguyên nhân quan trọng là do nhận thức của người dân vềVSATTP chưa đầy đủ và xác đáng, vì thế nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm đã
và đang đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng Tình hình ngộ độcthực phẩm gia tăng, đặc biệt tại các bếp ăn tập thể trường học Chất lượngVSATTP liên quan đến quá trình từ khâu sản xuất tới khâu tiêu dùng, nêncông tác này đòi hỏi có tính liên ngành cao và là công việc của toàn dân
Trong nỗ lực giải quyết một cách khoa học và có hệ thống về vấn đềVSATTP cho xã hội, việc giáo dục cộng đồng dân cư những kiến thức và kĩnăng thực hành về VSATTP là điều cốt lõi, có tính chất quyết định Xuất phát
từ yêu cầu thực tiễn Đảng và nhà nước đã có nhiều kế hoạch, chương trình
hành động quốc gia về VSATTP Cụ thể như: Ngày 7/8/2003 chủ tịch nước
Trần Đức Lương ký lệnh công bố pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm, đã
được Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội khóa XI thông qua ngày 26/7/2003 Pháp lệnh gồm 7 chương, 54 điều có hiệu lực từ ngày 1/11/2003 Để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người, duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
Chính phủ đã và đang thực hiện kế hoạch hành động quốc gia đảm bảo VSATTP từ năm 2008 đến năm 2010, trong đó xác định đưa nội dung VSATTP vào chương trình giáo dục của các bậc học là một nhiệm vụ của Bộ
Trang 9giáo dục – đào tạo Nghị định 79/2008/ NĐ- CP ngày 18/07/2008 của chínhphủ quy định hệ thống tổ chức quản lý thanh tra và kiểm nghiệm về VSATTP.Trong thông tư liên tịch số 08/2008/TT LT- BYT- BGDĐT ngày 08/07/2008
của Bộ y tế - Bộ giáo dục và đào tạo đã có hướng dẫn công tác đảm bảo VSATTP trong các cơ sở giáo dục
Vì vậy lồng ghép giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm(GDVSATTP)trong các môn học ngày càng được chú trọng và trở nên phổ biến
Trong thực tiễn để giúp HS có thái độ và hành vi đúng đắn về VSATTP
và các vấn đề liên quan thì có rất nhiều biện pháp, trong đó có tích hợp giáodục VSATTP - là biện pháp vừa đảm bảo cung cấp đủ kiến thức cơ bản, vừathực hiện được mục đích giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm Việc sử dụngphương pháp tích hợp VSATTP như thế nào cho hiệu quả, đặc biệt trong phầnkiến thức Sinh học vi sinh vật là vấn đề rất được quan tâm
Từ khi đổi mới sách giáo khoa trung học phổ thông diễn ra trên toànquốc đến nay thì chưa có một công trình nghiên cứu nào hoàn thiện được đưa
ra để phục vụ cho việc tích hợp giáo dục VSATTP Đặc biệt là phần Sinh học
vi sinh vật sinh học 10, là phần nội dung tương đối khó nhưng kiến thức mà
nó cung cấp lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nó không chỉ dừng lại hiểukiến thức cơ bản mà còn góp phần giáo dục và nâng cao ý thức vệ sinh antoàn thực phẩm giúp học sinh tự điều chỉnh các hành vi nhằm nâng cao chấtlượng cuộc sống
Từ những lý do trên mà chúng tôi chọn đề tài: “Tích hợp giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học sinh học phần Sinh học vi sinh vật, sinh học 10 - THPT” làm đề tài nghiên cứu.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tích hợp giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy họcphần Sinh học vi sinh vật, sinh học 10 – THPT nhằm góp phần giáo dục vànâng cao ý thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh
Trang 103 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu cơ sở lý luận & thực tiễn của vấn đề nghiên cứu của vấn đềnghiên cứu
- Điều tra thực trạng về sự tích hợp giáo dục VSATTP của giáo viên ởtrường THPT, rút ra nhận xét đánh giá
- Phân tích nội dung chương trình phần ba: SINH HỌC VI SINH VẬT,sinh học 10 - THPT để xác định địa chỉ tích hợp giáo dục VSATTP
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm và thăm dò kết quả thực nghiệm
- Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
- Tích hợp GDVSATTP trong dạy học phần kiến thức Sinh học vi sinhvật, sinh học 10 – THPT
- Khách thể nghiên cứu:
+ GV và HS ở một số trường THPT
+ Các hoạt động học tập của HS trong dạy học sinh học phần kiến thứcSinh học vi sinh vật, sinh học 10 - THPT
5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu sử dụng tích hợp GDVSATTP một cách hợp lý không nhữngnâng cao chất lượng dạy học phần kiến thức sinh học vi sinh vật mà còngiúp học sinh ý thức được tầm quan trọng chăm sóc sức khỏe của bản thân
và cộng đồng
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Tìm hiểu các Chủ trương, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về GD
- Phân tích nội dung chương trình Sinh học 10, phần ba “sinh học visinh vật” và các tài liệu hướng dẫn giảng dạy hiện hành
- Tìm hiểu các hướng đề tài và các tài liệu liên quan để làm cơ sở choviệc xác định mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Trang 116.2 Phương pháp thực nghiệm
6.2.1 Thực nghiệm thăm dò
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm thăm dò ở một số lớp để chọn phương
án thực nghiệm hiệu quả và sửa chữa giáo án thực nghiệm
6.2.2 Phương án thực nghiệm
- Mỗi trường chọn hai lớp có kết quả học tập, về mọi phương diện: sốlượng nam, nữ, lực học, hạnh kiểm, phong trào học, số HS cá biệt … (dựa vàokết quả học tập của học kì I năm lớp 10 và sự đánh giá của GV sở tại) Tácgiả trực tiếp dạy cả 2 nhóm lớp đối chứng và lớp thực nghiệm Giáo án thựcnghiệm là bài giảng có vận dụng tích hợp GDVSATTP, giáo án đối chứng làbài giảng của GV của trường sở tại
- Các bước thực nghiệm bao gồm:
+ Thiết kế giáo án cho lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
+ Tổ chức thực nghiệm ở trường THPT:
* Liên hệ với nhà trường và GV THPT
* Chọn lớp đối chứng và lớp thực nghiệm phù hợp
* Tiến hành thực nghiệm
* Phân tích, xử lý và thống kê số liệu thực nghiệm
6.2.3 Kiểm tra HS sau thực nghiệm
- Phương pháp kiểm tra: Test câu hỏi trắc nghiệm
- Thời gian kiểm tra: 10 phút
- Thu thập, phân tích số liệu và rút ra kết luận từ những số liệu đã quakiểm tra, xử lí
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Chấm bài rồi quy ra thang điểm 10, phân tích kết quả bằng phươngpháp thống kê toán học xác định tham số:
- Định tính: Phân tích và nhận xét khái quát những kiến thức của HSthông qua các bài kiểm tra nhằm xác định rõ mức độ lĩnh hội về tri thức vàthái độ đối với VSATTP của HS ở nội dung nghiên cứu
Trang 12- Định lượng: Phân tích kết quả thực nghiệm bằng thống kê toán học.
+ Biểu diễn bằng đồ thị: xi là trục tung, ni là trục hoành
+ Tính trung bình cộng (X ): Là tham số xác định giá trị trung bình củadãy số thống kê, được tính theo công thức:
1
1 k
i i i
Độ lệch chuẩn càng nhỏ số liệu càng đáng tin cậy
+ Hệ số biến thiên (Cv%) : Biểu thị mức độ biến thiên trong nhiều tậphợp có X khác nhau
V
S C
đTN – ĐC = X TN - X ĐC
Trong đó: X TN : X của lớp thực nghiệm
Trang 13- n1,, n2 là số bài kiểm tra làm theo phương án thực nghiệm và đối chứng.
Tα : Tra bảng phân phối student tìm xác suất độ tin cậy với α = 0.05,bậc tự do là f = n1 + n2 - 2
Nếu Td > Tα thì sự khác nhau giữa X TN và X ĐC là có ý nghĩa
Nếu Td < Tα thì sự khác nhau giữa X TN và X ĐC là không có ý nghĩaKết quả xử lí các số liệu sẽ cho phép chúng ta đi đến kết luận mức độđáng tin giữa lớp đối chứng và thực nghiệm
7 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Bổ sung cơ sở lý luận tích hợp giáo dục VSATTP trong dạy học
- Xây dựng bộ giáo án sử dụng tích hợp nội dung giáo dục VSATTPtrong dạy học phần sinh học vi sinh vật
Trang 14NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Tổng quan về vệ sinh an toàn thực phẩm
1.1.1.1 Khái niệm về thực phẩm
a, Thực phẩm
Thực phẩm là tất cả các chất đã hoặc chưa chế biến nhằm sử dụng cho
con người bao gồm đồ ăn, uống, nhai, ngậm, hút và các chất sử dụng để sảnxuất, chế biến hoặc xử lí thực phẩm, nhưng không bao gồm mĩ phẩm vànhững chất chỉ được dùng như dược phẩm
Các nhóm chất dinh dưỡng chính mà thực phẩm cung cấp bao gồmnăng lượng, chất đạm, chất béo, chất xơ, khoáng chất, nước Có vô số loạithực phẩm khác nhau, mỗi thực phẩm cung cấp đồng thời nhiều chất dinhdưỡng cùng một lúc Tuy nhiên mỗi thực phẩm thường có xu hướng cung cấpmột nhóm chất dinh dưỡng chủ đạo trong số các nhóm chất kể trên Chính vìthế thực phẩm thường có thành phần và cấu trúc hóa học rất khác nhau
Khi không đảm bảo vệ sinh thực phẩm chính là nguồn bệnh Bởi giàuchất dinh dưỡng nên thực phẩm cũng là môi trường hấp dẫn cho các vi sinhvật sinh sống và phát triển bao gồm các loại vi khuẩn, nấm mốc, kí sinh trùng
Ở nhiệt độ bình thường đặc biệt là trong mùa hè nóng nực, các vi khuẩn xâmnhập và phát triển nhanh chóng, làm thực phẩm bị ô nhiễm nguy hiểm Mặtkhác khi thực phẩm bị để lâu, nếu không được bảo quản thì các thành phầndinh dưỡng trong thực phẩm tự phân huỷ làm cho chất lượng của thực phẩm
bị giảm hoặc bị hỏng và trở nên độc Trong suốt cả quá trình từ sản xuất, chếbiến, phân phối, vận chuyển, bảo quản và sử dụng, thực phẩm đều có nguy
cơ bị ô nhiễm bởi các tác nhân sinh học, hoá học và lý học nếu thực hành sảnxuất không tuân thủ các quy định vệ sinh an toàn Khi ấy thực phẩm trở nênnguy hại cho sức khoẻ và là nguyên nhân của các vụ ngộ độc
Trang 15c, Thực phẩm chức năng
“Thực phẩm chức năng” là thực phẩm dùng để hỗ trợ hoạt động của
các bộ phận trong cơ thể, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạngthoải mái và giảm bớt nguy cơ gây bệnh Thông tư 08/2004/TT- BYT của Bộ
Y Tế ngày 23/08/2004 được ban hành nhằm quy định chi tiết đối với thựcphẩm chức năng Thực phẩm chức năng bao gồm thực phẩm bổ sung vi chấtdinh dưỡng, thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và thực phẩmdinh dưỡng y học
d, Thực phẩm có nguy cơ cao
“Thực phẩm có nguy cơ cao” là thực phẩm có nhiều khả năng bị các
tác nhân sinh học, hóa học, lí học xâm nhập gây ảnh hưởng tới sức khỏengười tiêu dùng Nghị định 163/2004/NĐ- CP ngày 07/09/2004 quy địnhdanh sách các thực phẩm các thực phẩm có nguy cơ cao trong đó bao gồm thịt
và các sản phẩm từ thịt, sữa và các sản phẩm từ sữa, trứng và các sản phẩmchế biến từ trứng, thuỷ sản tươi sống và đã qua chế biến, các loại kem, nướckhoáng thiên nhiên, thực phẩm chức năng, thực phẩm đông lạnh…
e, Thực phẩm được bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ
“Thực phẩm được bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ” là thực phẩm
được chiếu xạ bằng các nguồn có hoạt tính phóng xạ để đảm bảo và ngănngừa sự biến chất của thực phẩm
Trang 16f, Thực phẩm có gen bị biến đổi
“Thực phẩm có gen bị biến đổi” là thực phẩm có nguồn gốc từ sinh vật
có gen bị biến đổi do sử dụng công nghệ gen
1.1.1.2 Vệ sinh an toàn thực phẩm
a, Khái niệm
Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) cần được hiểu là mọi biện pháp
mọi nỗ lực nhằm đảm bảo cho thực phẩm ăn vào không gây hại cho sức khỏecủa người tiêu dùng Mục đích của công tác vệ sinh an toàn thực phẩm xétcho cùng là để ngăn ngừa không để xẩy ra các vụ ngộ độc thực phẩm cấp tínhhoặc nhiễm độc tích lũy do thực phẩm bị ô nhiễm Vì vậy, VSATTP là côngviệc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành nhiều khâu có liên quan từ khâu sảnxuất cho đến chế biến, bảo quản và sử dụng Về phía người tiêu dùng, có cáckiến thức cơ bản về thực phẩm và VSATTP là cách tốt nhất để có thể bảo vệsức khỏe cho bản thân và gia đình mình
Pháp lệnh VSATTP 2003 định nghĩa: Vệ sinh an toàn thực phẩm là các
điều kiện và biện pháp cần thiết đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sứckhỏe, tính mạng con người
b, Các mối nguy vệ sinh an toàn thực phẩm
b1, Định nghĩa
Mối nguy là tác nhân sinh học, hóa học hay vật lý có trong thực phẩm hoặc domôi trường chế biến thực phẩm ô nhiễm vào thực phẩm có khả năng gây táchại đến sức khỏe người tiêu dùng
b2, Các mối nguy vệ sinh an toàn thực phẩm
Các mối nguy VSATTP rất đa dạng và biểu hiện cũng rất phức tạp Tuy nhiêncác nhà khoa học phân chia ngộ độc ra 4 nhóm nguy cơ sau:
- Mối nguy sinh học
+ Do vi khuẩn và độc tố của vi khuẩn: Đây là nguyên nhân phổ biếntrong ngộ độc thực phẩm Thường gặp do vi khuẩn gây bệnh thương hàn
Trang 17(Salmonella) vi khuẩn gây bệnh lỵ (Shigella), vi khuẩn gây ỉa chảy (E.Co li)hoặc nhiễm các độc tố của vi khuẩn tụ cầu (Staphylococcus aureus)
+ Do vi rút: thường gặp do các loại vi rút gây viêm gan A (Hepatis virutA), vi rút gây bệnh bại liệt (Polio Picornavirus), vi rút gây ỉa chảy (Rota virus)
+Do kí sinh trùng: Sán lá gan, sán bò, ấu trùng sán lợn, các loại đơnbào (Amip, trùng lông ), các loại giun và ấu trùng giun
+ Do nấm mốc và nấm men: Thường gặp do loài Aspergillus,Penicilium, Candida Nguy hiểm hơn là một số loài nấm mốc có khả năngsinh độc tố như Aflatoxin gây ung thư
Hình 1.1 Các con đường gây ô nhiễm sinh học vào thực phẩm
- Mối nguy các chất hoá học
+ Do ô nhiễm các kim loại nặng: Thường gặp do ăn các thức ăn đónghộp hay ăn thực phẩm được nuôi trồng từ những vùng đất nước ô nhiễm kimloại nặng Các kim loại thường gây ô nhiễm như: Chì, Đồng, Asen, Thuỷngân, Cadimi
Sinh vật có độc tố
- Độc tố nấm mốc
- Thực phẩm có độc
- Động vật có độc Vệ sinh cá nhân(tay
mang vi trùng, hắt hơi…)
Chế biến thực phẩm
Bảo quản thực phẩm
Điều kiện mất
vệ sinh, không che đậy ruồi, bọ,…
THỰC PHẨM
Trang 18+ Do thuốc bảo vệ thực vật: thường là các loại thuốc diệt côn trùng,thuốc trừ động vật ăn hại, thuốc diệt mối, mọt Nguyên nhân thường do ăn rauxanh, hoa quả có lượng tồn dư thuốc bảo vệ thực vật quá cao
+ Do các loại thuốc thú y: thường gặp là các loại thuốc kích thích tăngtrưởng, tăng trọng, các loại kháng sinh
+ Do các loại phụ gia thực phẩm: thường gặp là các loại thuốc dùngbảo quản thực phẩm (cá, thịt, rau, quả ), các loại phẩm màu độc dùng trongchế biến thực phẩm
- Mối nguy thức ăn bị biến chất, thức ăn ôi thiu
Một số loại thực phẩm khi để lâu hoặc bị ôi thiu thường sinh ra các chấtđộc như: Các chất Amoniac, hợp chất amin sinh ra trong thức ăn nhiều đạm(thịt, cá, trứng ) hay các Peroxit có trong dầu mỡ để lâu là các chất độc hạitrong cơ thể Các chất độc này thường không bị phá huỷ hay giảm khả nănggây độc khi được đun sôi Thực phẩm luôn có một ý nghĩa quan trọng đối vớisức khoẻ con người, sử dụng thực phẩm không hợp vệ sinh, không an toànđều có thể bị ngộ độc Hiểu rõ được nguyên nhân gây ngộ độc thức ăn và cácbiện pháp phòng tránh là việc cần thiết để bảo vệ sức khoẻ của bản thân, giađình và mọi người trong xã hội
c) Tác hại của thực phẩm không vệ sinh an toàn
Khi thực phẩm không an toàn hay “bẩn” gây ra những tác hại không thểlường trước được như:
Trang 19- Ngộ độc thực phẩm thường biểu hiện dưới nhiều dạng khác dạng:Nhiễm độc tiềm ẩn, bệnh bán cấp tính (ngộ độc thức ăn), ngộ độc cấp tính vàngộ độc mãn tính
+ Nhiễm độc tiềm ẩn: là sự nhiễm các chất độc hại dưới ngưỡng có thểgây ra các triệu chứng cấp tính, bán cấp tính; có thể bị nhiễm liên tục hoặckhông liên tục; có thể sau một thời gian không biết trước sẽ có: ung thư, cácrối loạn chức năng không rõ nguyên nhân, vô sinh, quái thai
+ Bệnh bán cấp tính (ngộ độc thức ăn): các rối loạn tiêu hóa hoặc thầnkinh nhẹ, hoặc các triệu chứng cấp tính, có thể tự chữa khỏi hoặc tự khỏi
+ Ngộ độc cấp tính: thường xuất hiện sau 30 phút đến vài ngày sau khi
ăn thức ăn bị ô nhiễm Ngộ độc cấp tính có các biểu hiện sau: Đi ngoài phânlỏng nhiều lần trong ngày, đau bụng, buồn nôn hoặc nôn mửa liên tục, mệtmỏi, khó chịu, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt Ngộ độc cấp tính thường do
ăn phải các thức ăn có nhiễm vi sinh vật hay các hoá chất với lượng lớn
+ Ngộ độc mãn tính: thường không có các dấu hiệu rõ ràng sau khi ănphải các thức ăn bị ô nhiễm, nhưng chất độc có trong thức ăn này sẽ tích luỹ ởnhững bộ phận trong cơ thể, gây ảnh hưởng đến quá trình chuyển hoá cácchất, rối loạn hấp thụ gây nên suy nhược, mệt mỏi kéo dài hay các bệnh mãntính khác, cũng có khi các chất độc gây biến đổi các tế bào và gây ung thư.Ngộ độc mãn tính thường do ăn phải các thức ăn ô nhiễm các chất hoá họcliên tục trong thời gian dài.Vệ sinh an toàn thực phẩm vì sức khoẻ của chúng
ta và vì sự phát triển bền vững của cộng đồng
Tử vong là hậu quả của ngộ độc cấp rất nặng, ngộ độc cấp không đượccứu chữa kịp thời hoặc hậu quả của nhiễm độc tiềm ẩn kéo dài đã dẫn đếnbệnh hiểm nghèo không cứu chữa được
d) Nguyên tắc về vệ sinh an toàn thực phẩm
Tổ chức y tế thế giới WHO đã đề 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh antoàn thực phẩm:
Trang 20Nguyên tắc 1 Chọn thực phẩm an toàn Chọn thực phẩm tươi, quả ănsống phải được ngâm và rửa kĩ bằng nước sạch Quả nên gọt vỏ trước khi ăn.Thực phẩm đông lạnh để tan đá, rồi đem làm tan đá là kém an toàn.
Nguyên tắc 2 Nấu chín kĩ thức ăn Nấu chín kĩ hoàn toàn thức ăn, làbảo đảm nhiệt độ trung tâm thực phẩm phải đạt tới trên 700C
Nguyên tắc 3 Ăn ngay sau khi nấu Hãy ăn ngay sau khi vừa nấu xong,
vì thức ăn càng để lâu thì càng nguy hiểm
Nguyên tắc 4 Bảo quản cẩn thận thức ăn đã nấu chín Muốn giữ thức
ăn quá 5 tiếng đồng hồ, cần giữ nóng liên tục trên 600C hoặc lạnh dưới 100C.Thức ăn cho trẻ không nên dùng lại
Nguyên tắc 5 Nấu lại thức ăn thật kĩ Các thức ăn chín dùng lại sau 5tiếng, nhất thiết phải được đun kĩ
Nguyên tắc 6 Tránh ô nhiễm chéo giữa thức ăn chín và sống, với bềmặt bẩn Thức ăn đã được nấu chín có thể bị nhiễm mầm bệnh do tiếp xúctrực tiếp với thức ăn sống hoặc gián tiếp với các bề mặt bẩn (như dùng daochung, thớt để chế biến thực phẩm sống và chín)
Nguyên tắc 7 Rửa tay sạch trước khi chế biến thức ăn và sau mỗi lầngián đoạn làm việc khác Nếu bạn bị nhiễm trùng ở tay, hãy băng kĩ và kín vếtthương nhiễm trùng đó trước khi chế biến thức ăn
Nguyên tắc 8 Giữ sạch các bề mặt chế biến thức ăn Do thức ăn dễ bịnhiễm khuẩn, bất kì bề mặt nào dùng để chế biến thức ăn cũng phải được giữsạch Khăn lau bát đĩa cần phải luộc nước sôi và thay thường xuyên trước khi
sử dụng lại
Nguyên tắc 9 Che đậy thực phẩm để tránh côn trùng và các động vậtkhác Che đậy giữ thực phẩm trong hộp kín, chạn, tủ lạnh, lồng bàn…Đó làcách bảo vệ tốt nhất Khăn được dùng che đậy thức ăn chín phải được giặtsạch lại
Nguyên tắc 10 Sử dụng nguồn nước sạch an toàn Nước sạch là nướckhông màu, không mùi, không vị lạ, không chứa mầm bệnh Hãy đun nước
Trang 21sôi trước khi làm đá uống Đặc biệt cẩn thận với nguồn nước dùng nấu thức
ăn cho trẻ nhỏ
1.1.1.3 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam
VSATTP đang trở thành vấn đề ngày càng được quan tâm của ngườidân cũng như các tổ chức nhà nước
Tại Việt Nam theo thống kê của Bộ Y Tế, từ năm 1999 đến nay, nước
ta đã có 1000 vụ ngộ độc thực phẩm với 25000 người mắc, trên 300 ca tửvong Trong đó 60% xẩy ra các bếp ăn tập thể tại các nhà máy, xí nghiệp, khucông nghiệp Ngành Y Tế đã chi phí giả quyết thiệt hại trung bình 500 tỷđồng/năm
Cũng theo Bộ Y Tế, các “điểm nóng” vệ sinh thực phẩm là ngộ độc tậpthể tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, ngộ độc nấm, cá nóc, tồn dư hóachất bảo quản và thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trọng cá, thịt rau, quả…Tỉ
lệ các cơ sở kinh doanh chế biến thực phẩm được cấp giấy chứng nhận có đủđiều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm còn rất thấp và chậm
Trong năm 2002, số vụ ngộ độc thực phẩm trên toàn quốc là 218 vụ với4.984 người mắc, tử vong 71 người Nguyên nhân do: vi sinh vật (42,2%); hóachất (25,2%); thực phẩm chứa chất độc (25,2%); nguyên nhân khác (7,4%)
Theo báo cáo của Cục Quản lý Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm,
số vụ ngộ độc năm 2002 đều tăng hơn so với những năm trước Còn trong
2004 số vụ ngộ độc là 145 (trong đó có 41 vụ tử vong), số mắc và số vụ ngộđộc hàng loạt đều giảm đáng kể so với cùng kì năm 2003 (238 vụ trong đó có
37 vụ tử vong) Tuy nhiên số tử vong lại tăng hơn nhiều hơn so với 2003.Nguyên nhân thường gặp hơn cả của các vụ ngộ độc thực phẩm là do ăn phảithực phẩm nhiễm vi sinh vật (55,8%), và thực phẩm độc (22,8%)
Theo báo cáo số 562/BC-BYT, ngày 04/7/2006 của Bộ Y Tế, trong
“Tháng hành động” năm 2006 trên địa bàn cả nước xẩy ra 22 vụ ngộ độc thựcphẩm, với 534 người mắc, trong đó 14 người tử vong So với năm 2005 là 17
vụ, 174 người mắc, 2 người tử vong Số vụ ngộ độc thực phẩm quy mô >=50
Trang 22người mắc: 4 vụ với tổng 265 người mắc Về nguyên nhân ngộ độc thực phẩmcho thấy 31,8% số vụ ngộ độc do thực phẩm bị nhiễm vi sinh vật; 22,7% dohóa chất; 18,2% do thực phẩm chứa chất độc tự nhiên; 27,3% là các vụ cónguyên nhân không xác định được Trong khi tỷ lệ nguyên nhân ngộ độc thựcphẩm năm 2005 tương ứng 60% do vi sinh vật; 0% hóa chất; 20% do thựcphẩm độc; 20% không rõ nguyên nhân Cho thấy số vụ ngộ độc xẩy ra trong
“tháng hành động” năm 2006 cao hơn hẳn Điều này cho thấy phải tiếp tục đẩymạnh, tăng cường công tác truyền tới mọi người trong cộng đồng, hướng dẫnnâng cao ý thức người dân trong sản xuất, chế biến và tiêu dùng sản phẩm
Qua kiểm tra các tỉnh thành vào tháng 7 năm 2007, tại Hà Nội 554 cơ
sở được cấp giấy chứng nhận VSATTP (trong tổng số 33.000 cơ sở, chiếm1,67%) Thành phố Hồ chí Minh 1.655 cơ sở (trong tổng só 30.000 cơ sở,chiếm 5,5%)- một tỷ lệ quá thấp
Theo thống kê mới nhất 9 tháng đầu năm 2009, cả nước có 111 vụ ngộđộc thực phẩm với 4128 trường hợp mắc và 31 trường hợp tử vong So vớicùng kì năm 2008, số vụ ngộ độc giảm 66 vụ (37,3%); số người mắc giảm
2165 người (34,4%); số người tử vong giảm 23 người (42,6%) Nhũng vụ ngộđộc >= 30 người giảm 15%
Năm 2010 trở lại đây, ở Việt Nam phát hiện hàng loạt các vụ việc liênquan đến việc buôn bán, chế biến các thực phẩm không an toàn như thịt gàhỏng, mỡ thối thu gom để chế biến,… làm cho cả xã hội xôn xao, người tiêudùng mất lòng tin vào sản phẩm, thị trường bị tác động mạnh mẽ
Thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm còn là nguyênnhân gây ra nhiều bệnh hiểm nghèo khác mà điển hình là bệnh ung thư Theothông tin của Bộ Y Tế, hàng năm Việt Nam có tới khoảng 200.000 người mắcbệnh ung thư, trong đó có khoảng 35% số bệnh nhân ung thư (tức là khoảng70.000 người) được chẩn đoán mắc bệnh do nguyên nhân liên quan đến sửdụng thực phẩm có nguồn gốc độc hại
Trang 23Khó khăn, thách thức lớn nhất hiện nay trong công tác đảm bảoVSATTP của việt nam đó là: Hệ thống tổ chức quản lí chưa thống nhất, chưa
đủ mạnh; việc ban hành các văn bản vi phạm pháp luật còn chậm, chưa đápứng kịp thời cho công tác quản lý trong giai đoạn mới Trong hệ thống quản
lý, thanh tra chuyên ngành kiểm nghiệm đang giai đoạn xây dựng còn yếunhân lực, kém trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trang thiết bị Nhận thức vềnhững tác hại từ thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm củanhiều tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng còn kém Như Bộ
trưởng Bộ Y Tế Nguyễn Quốc triệu đã nói “Công tác đảm bảo VSATTP đang phải đối mặt với những thách thức to lớn, đó là: tình trạng vi phạm các quy định về VSATTP từ chăn nuôi, trồng trọt, thu hái, chế biến và kinh doanh thực phẩm vẫn đang ở mức cao; ô nhiễm vi sinh vật và các hóa chất độc hại trên nông sản, nguyên liệu, phụ gia chế biến thực phẩm còn chiếm tỷ lệ cao; việc không đảm bảo điều kiện vệ sinh tại cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm còn khá phổ biến Ngộ độc thực phẩm tại các bếp ăn tập thể các khu công nghiệp, công trường, bệnh viện, trường học đang có chiều hướng gia tăng Đáng lo ngại là thực phẩm nhập lậu qua biên giới đang diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, dẫn đến thực phẩm giả, kém chất lượng còn lưu thông trên thị trường” Hiện nay nhận thức và nhu cầu VSATTP của người dân ngày càng
được nâng cao, tuy nhiên hiểu biết của người dân về VSATTP còn hạn chế.Thực trạng VSATTP thật đáng lo ngại, cần phải giải quyết
Qua những vấn đề trên cho thấy VSATTP đã trở thành vấn đề của toàn
xã hội, không chỉ giới hạn một số cơ quan, bộ ngành hay một số đối tượngtham gia vào chuỗi sản xuất thực phẩm Mỗi người cần phải có những hiểubiết khoa học cơ bản về VSATTP để trở thành “Người tiêu dùng thông thái”hay nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm có uy tín Và nhà nước ta đang rất nỗlực để xây dựng hệ thống pháp lý, quản lý và giáo dục về VSATTP
1.1.2 Nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
1.1.2.1 Nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 24Nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm được hình thành trên cơ
sở phân tích những nguyên nhân mất vệ sinh an toàn thực phẩm và nhữngyếu tố liên quan đến tình trạng sức khỏe con người
- Bao gồm: Các mối nguy về vệ sinh an toàn thực phẩm; điều kiện vệ
sinh an toàn thực phẩm; phương pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm;thực hành tốt vệ sinh an toàn thực phẩm; các kiến thức: thực hành sản xuấttốt, thực hành vệ sinh tốt, phân tích mối nguy hiểm và kiểm soát điểm tới hạn,các quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm
- Cơ sở lựa chọn nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong giảng dạy.
VSATTP có nhiều nội dung, cần lựa chọn nội dung nào đưa vàochương trình giảng dạy, lựa chọn những tiêu chí nào? Đây là vấn đề đangđược quan tâm Dựa trên 4 cơ sở sau:
Cơ sở thứ nhất là những quy định ghi trong Luật Giáo dục
Luật Giáo dục 2005 nêu rõ: Nội dung giáo dục phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân…Luật cũng đã nêu rõ việc lựa chọn các nội dung và
phương pháp giáo dục đưa vào chương trình giáo dục được giao cho Bộ Giáodục- Đào tạo Đây là cơ sở chung nhất cho định hướng lựa chọn nội dung giáodục đưa vào chương trình các cấp học
Cơ sở thứ hai là hệ thống nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
có thể chia thành các nhóm sau đây căn cứ mục đích của quá trình giáo dục:
- Nhóm kiến thức về cơ sở khoa học của vấn đề VSATTP:
+Thành phần và tính chất của thực phẩm
+ Yếu tố gây mất VSATTP
+ Phương pháp kiểm tra phân tích thực phẩm
+ Dinh dưỡng, sức khỏe và bệnh học
- Nhóm kiến thức về quản lí VSATTP
+ Văn bản luật và quy định về VSATTP
Trang 25+ Kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm
+ Thông tin về VSATTP
Cơ sở thứ ba là đặc trưng tâm lý lứa tuổi học sinh các cấp học Dựa trên
cơ sở này chúng ta lựa chọn các nội dung phù hợp với mức độ nhận thức, khảnăng thực hành đảm bảo cho sự phát triển, đồng thời lựa chọn phương phápgiáo dục thích hợp và hiệu quả nhất
Cơ sở thứ tư là chương trình các môn học cơ bản ở phổ thông Đây là
cơ sở quan trọng để tích hợp, lồng ghép giáo dục VSATTP vào chương trìnhgiáo dục phổ thông một cách hiệu quả
1.1.2.2 Sự cần thiết phải giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm là một hoạt động cơ bản nhằm cảithiện tình trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm và đảm bảo sức khỏe chongười dân Đây là hoạt động cần được ưu tiên bởi nguyên nhân gốc rễ củamất vệ sinh an toàn thực phẩm là sự thiếu kiến thức
Mọi người chúng ta đều nhận thấy tầm quan trọng của thực phẩm, đó lànhu cầu hàng ngày, rất cấp bách và phải đáp ứng Tuy nhiên, nếu thực phẩmkhông đảm bảo vệ sinh an toàn thì lại có thể là nguồn gây bệnh Thực phẩm
có thể gây bệnh ở nhiều khâu từ sản xuất đến vận chuyển, bảo quản, chế biến,nấu ăn và cách ăn
Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) tác động thường xuyên, trực tiếpđến sức khoẻ của mỗi người dân, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thương mại,
du lịch và an sinh xã hội, về lâu dài còn ảnh hưởng đến phát triển nòi giống dântộc Ngộ độc thực phẩm chủ yếu do hiểu biết và ý thức của người dân và đạođức nghề nghiệp của người sản xuất, người kinh doanh còn hạn chế
Trang 26Vì vậy, cần thiết và cấp bách phải tuyên truyền, giáo dục để nâng caonhận thức của người dân về VSATTP nhằm bảo vệ sức khoẻ của người dân
và góp phần phát triển cộng đồng bền vững
1.1.2.3 Mục tiêu giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm (GDVSATTP) là một chiến lượcphát triển của toàn xã hội mà nó là quá trình liên tục Bản chất là sự chia sẻthông tin, kinh nghiệm và kiến thức Gồm 4 mục tiêu có mối quan hệ tương
hỗ lẫn nhau:
- Kiến thức: Giúp các tổ chức và cá nhân trong xã hội tích luỹ được nhiều
kinh nghiệm khác nhau, và có được sự hiểu biết khoa học cơ bản về VSATTP
- Nhận thức: Giúp cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội đạt được
một sự nhận thức và nhạy cảm đối vấn đề VSATTP
- Kỹ năng: Giúp các tổ chức và cá nhân trong xã hội có được những kỹ
năng trong việc xác định và giải quyết các vấn đề VSATTP, tham gia tích cựcvào các vấn đề VSATTP
- Thái độ: Giúp các tổ chức, đoàn thể xã hội và cá nhân hình thành
được những giá trị của việc đảm bảo VSATTP, có ý thức quan tâm đến cácvấn đề VSATTP, có những hành động tham gia tích cực thực hành VSATTP
và các vấn đề về VSATTP
1.1.2.4 Mục đích và nội dung GDVSATTP ở trường phổ thông
a, Mục đích GDVSATTP ở trường phổ thông
Mục đích chủ yếu của việc GDVSATTP trong nhà trường phổ thông làphải làm cho HS không những hiểu rõ khái niệm VSATTP và những mốiquan hệ của nó đối với hoạt động sinh sống của con người mà còn phải có sựchuyển biến về thái độ, hành vi đối với VSATTP và môi trường sống
Để tạo nên sự chuyển biến các mặt trên thì trong nhà trường phải đồngthời chú ý cả các mặt giáo dục, kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi Kiếnthức là cơ sở để hình thành thái độ và hành vi Do vậy, mục đích GDVSATTP
ở trường phổ thông phải:
Trang 27a1, Cung cấp cho HS những kiến thức nhất định về VSATTP:
+ Thành phần và tính chất của thực phẩm
+ Yếu tố gây mất VSATTP
+ Nguyên tắc VSATTP
+ Dinh dưỡng và sức khỏe
+ Thông tin về VSATTP
+ Quy tắc thực hành VSATTP cho cá nhân, tập thể người tiêu dùngthực phẩm
+ Các quy phạm thực hành trong sản xuất, chế biến, bảo quản, lưuthông thực phẩm, tức là những người tham gia chuỗi thực phẩm
+ Văn bản luật và quy định về VSATTP
a2, Trên cơ sở những kiến thức đó, bồi dưỡng cho HS thái độ và hành vi đúng đắn với vấn đề VSATTP.
+ Trước hết, phải xây dựng cho HS từng bước về quý trọng sức khỏebản thân
+ Sau đó, phải làm cho việc VSATTP trở thành phong cách, nếp sốngcủa HS Họ phải có thái độ thích hợp chống các hoạt động làm mất VSATTPmột cách vô ý thức hoặc có ý thức
a3, Trang bị cho HS một số kĩ năng và giúp cho họ nắm được những biện pháp, nguyên tắc VSATTP thông thường ở địa phương để sau này họ có thể tham gia một cách có hiệu quả vào công cuộc xây dựng đất nước
Như vậy, mục đích cuối cùng của VSATTP là tiến tới xã hội hoá cácvấn đề VSATTP, tạo ra những công dân có nhận thức, có trách nhiệm vớichất lượng cuộc sống con người và biết sống vì sức khỏe cộng đồng theologic (Nhận thức và giác ngộ về vấn đề VSATTP để trở thành người công dân
có trách nhiệm với VSATTP và lên cao nữa là sự thấu hiểu về VSATTP)
b Nội dung giáo dục VSATTP ở trường phổ thông
Xuất phát từ những mục đích trên, nội dung GDVSATTP ở trường phổthông phải đề cập đến nội dung kiến thức và thực hành VSATTP, mối quan hệ
Trang 28giữa con người và môi trường, các biện pháp bảo vệ, chăm sóc và phục hồi sứckhỏe, làm phong phú nguồn thực phẩm, chống ô nhiễm môi trường Cụ thể :
- GDVSATTP mang tính liên ngành rộng, VSATTP như một tổng thểhợp thành bởi nhiều thành phần
- Nhấn mạnh nhận thức về giá trị nhân cách, đạo đức, trong thái độ ứng
xử và hành động về các vấn đề VSATTP
- Bên cạnh việc cung cấp những kiến thức cụ thể cho người học, cònphải có cả những kĩ năng thực hành, phương pháp phân tích và đánh giá vàđưa ra các quyết định phù hợp
- Phải đề cập đến vấn đề VSATTP và phát triển bền vững của địaphương, vùng, quốc gia, khu vực, quốc tế của người được GDVSATTP
- Giáo dục liên hệ giữa VSATTP và môi trường
- Toàn bộ những nội dung trên là một hệ thống kiến thức bao gồmnhiều khái niệm có liên quan đến nhiều môn học khác nhau trong nhà trườngphổ thông Nội dung đó được tích hợp chủ yếu trong những môn học mà đốitượng nghiên cứu của chúng có nhiều mối quan hệ với VSATTP như cácmôn: tìm hiểu tự nhiên và xã hội ở tiểu học, sinh học, kĩ thuật nông nghiệp,hóa học,…
Có nhiều con đường để thực hiện GDVSATTP Tại các nước trên thếgiới người ta thường xuyên tổ chức các lớp học khóa huấn luyện về VSATTPcho các đối tượng khác nhau, tùy vào đối tượng người ta thiết kế bài giảngphù hợp với trình độ người học, mục tiêu khoa học Tổ chức WHO/FAOthường xuyên xuất bản các tài liệu hướng dẫn về VSATTP Ở một số nướcnội dung GDVSATTP thường được tích hợp (lồng ghép) vào chương trìnhcác môn sinh, hóa học
Ở nước ta, vấn đề GDVSATTP cho HS phổ thông mới được chú ýtrong những năm gần đây, do thời gian trong kế hoạch dạy học bị hạn chế,nên chưa bao giờ nó được coi là một môn học riêng mà chỉ được lồng ghépvào nội dung các môn học khác, đặc biệt là trong các môn Sinh học, hóa học
Trang 29và GD công dân Ở tiểu học có môn tìm hiểu tự nhiên và xã hội Từ khi đổimới chương trình SGK nội dung GDVSATTP đã được thể hiện trong các sáchgiáo khoa cho HS và sách hướng dẫn cho GV Tuy nhiên, mức độ tích hợpGDVSATTP vào các tài liệu này hạn chế và thiếu chặt chẽ Vì vậy, trong cácsách giáo khoa Sinh học các lớp đã đề cập đến vấn đề VSATTP, nhưng còn
sơ sài, chưa được quan tâm đúng mức Về bồi dưỡng GV cũng chưa có mộthội nghị chuyên đề chính thức nào bàn thật kĩ về vấn đề này, nhất là các hìnhthức và phương pháp GDVSATTP trong môn Sinh học
1.1.2.5 Các phương thức GDVSATTP
- Đưa GDVSATTP vào các bậc học: thông qua bài giảng các môn họctrong nhà trường và thông qua cách tổ chức các hoạt động tuyên truyền Cácmôn học thường được lồng ghép trong các trường phổ thông là: Sinh học,Hoá học, Vật lí, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội, Kỹ thuật nôngnghiệp, Còn ở bậc Đại học thì GDVSATTP được tiến hành như một mônhọc mới Ngoài ra số cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ chuyên ngành được đào tạonhiều hơn, chuyên sâu hơn về VSATTP
- GDVSATTP cho cán bộ quản lí: Đối với cán bộ quản lí, GDVSATTP
cố gắng cho họ thấy được một cách tổng quan các khối kiến thức vềVSATTP- Khoa học – Kinh tế - Xã hội trong nước và trên TG, để họ đưa rađược cách quản lí hài hoà hợp lí
- GDVSATTP cho cộng đồng: Nâng cao nhận thức về VSATTP chocộng đồng thường thông qua các hoạt động xã hội, các tổ chức quần chúng,các đoàn thể chính trị - xã hội
1.1.3 Vận dụng tích hợp GDVSATTP vào giảng dạy sinh học phần kiến thức Sinh học vi sinh vật, sinh học 10- THPT
1.1.3.1 Sự cần thiết của dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp được nghiên cứu và ứng dụng bắt đầu những năm
1980 do nhiều nguyên nhân Thứ nhất do người ta cho rằng chương trình dạyhọc của nhà trường chưa phù hợp, nhàm chán làm cho học sinh không thích
Trang 30thú học tập Thứ hai, nghiên cứu về não bộ cho thấy quá trình nhận thức hiệuquả hơn khi có sự kết nối các kiến thức với nhau Sự tích hợp cũng cho phéplàm giảm sự trùng lặp giữa các môn Thứ ba là do sự giao thoa và phân ngànhcủa các khoa học dẫn đến các kiến thức trong thực tế cuộc sống không chỉ bóhẹp ở khái niệm những môn học riêng rẽ, mà có sự liên hệ, rằng buộc và bổtrợ lẫn nhau Như vậy dạy học tích hợp giúp học sinh tri thức xác thực và toàndiện, phát triển tư duy tổng hợp và hệ thống, nâng cao năng lực hành độngthực tiễn của người học Nhiều nhà nghiên cứu có quan điểm cho rằng dạyhọc tích hợp là giải pháp quan trọng để năng cao chất lượng và hiệu quả giáodục, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho thế kỷ 21.
1.1.3.2 Khái niệm tích hợp
Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp Khái niệmtích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất, sự nhất thể hóa đưa tớimột đối tượng mới như là một thể thống nhất chứ không phải là phép cộnggiản đơn những thuộc tính của các thành phần
Tích hợp có hai tính chất cơ bản liên hệ mật thiết với nhau, quy địnhlẫn nhau là tính liên kết và tính toàn vẹn Không thể gọi là tích hợp nếu các trithức, kĩ năng chỉ được cộng lại, không có sự liên kết, tác động, phối hợp vớinhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, giải quyết một tìnhhuống nào đó
1.1.3.3 Khái niệm dạy học tích hợp
Trong lý luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu
cơ, có hệ thống ở những mức độ khác nhau các kiến thức, các kĩ năng thuộccác môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dungthống nhất dựa trên cơ sở các mối liên hệ lí luận và thực tiễn được đề cập đếntrong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó Quá trình học tập gópphần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, góp phần hình thành và pháttriển tư duy cho HS năng lực này là hoạt động phức tạp đòi hỏi sự tích hợpcác kiến thức và kĩ năng để giải quyết những tình huống cụ thể
Trang 31Tích hợp GDVSATTP trong môn Sinh học là kết hợp một cách có hệthống các kiến thức Sinh học với GDVSATTP, làm cho chúng hòa quyện vàonhau hợp thành một thể thống nhất
1.1.3.4 Các phương thức tích hợp các môn học
Tuỳ theo quan điểm mà có những phương thức khác nhau trong việcthực hiện tích hợp các môn học Theo D’Hainaut, có thể chấp nhận bốn quanđiểm tích hợp khác nhau :
- Quan điểm “trong nội bộ môn học”: Trong đó ưu tiên các nội dung
khái quát cốt lõi của môn học Quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng
- Quan điểm “đa môn”: Đề nghị những tình huống, những “đề tài” có
thể được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau Ví dụ, giáo dục côngnghệ hóa thực phẩm có thể được thực hiện thông qua nhiều môn học khácnhau (Sinh học, Hoá học) v.v Theo quan điểm này, giáo dục công nghệ hóathực phẩm được tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thờiđiểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài Nó không thực sự được tích hợp
- Quan điểm “liên môn”: Đề xuất những tình huống chỉ có thể được tiếp
cận một cách hợp lí qua sự soi sáng của nhiều môn học Ví dụ, câu hỏi “Tạisao cần chống ô nhiễm nguồn nước ? và chống ô nhiễm nguồn nước như thếnào ? chỉ có thể được xem xét từ nhiều góc độ bằng cách huy động kiểutích hợp và phương pháp của một số môn học như: Sinh học, Vật lý, Hoáhọc Ở đây chúng ta nhấn mạnh đến sự liên kết các môn học, làm cho chúngtích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trước Khi đó, các quátrình học tập sẽ không rời rạc mà chúng liên kết với nhau xung quanh vấn đềphải được giải quyết
- Quan điểm “xuyên môn”: Chủ yếu phát triển những kĩ năng mà học
sinh có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống Đó
là những kĩ năng xuyên môn Khi đó có thể tạo thành môn học mới Ví dụ
môn Khoa học vật thể ở THCS Mỹ, môn Thực tế cuộc sống cho lớp 1, 2 ở
Nhật Bản
Trang 32Ngày nay, xu thế phát triển của khoa học và những nhu cầu của xã hộiđòi hỏi chúng ta phải hướng tới quan điểm liên môn và xuyên môn Quanđiểm liên môn trong đó chúng ta phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học đểnghiên cứu và giải quyết một tình huống Quan điểm xuyên môn, trong đóchúng ta tìm cách phát triển ở học sinh những kĩ năng xuyên môn, nghĩa lànhững kĩ năng có thể áp dụng rộng rãi
Để tích hợp các môn học một cách thiết thực và hiệu quả, cần vận dụngphối hợp những cách khác nhau và thể nhận ra hai nhóm lớn như sau:
a Nhóm thứ nhất: Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học
- Cách tích hợp thứ nhất: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học ởcuối năm học hay cuối bậc học
- Cách tích hợp thứ hai: Những ứng dụng chung cho nhiều môn họcthực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học Quá trình học tập cácmôn học riêng rẽ luôn luôn được định hướng tích hợp nhằm dạy học sinh lậpmối liên hệ giữa các kiến thức đã được lĩnh hội phối hợp được những đónggóp của các môn học khác nhau
b Nhóm thứ hai: Phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn học
Cách tích hợp này tiến xa hơn cách tích hợp thứ nhất vì nó dẫn đến sựhợp nhất hai môn học theo những nguyên lí chung sau đây:
- Dạng tích hợp này nhằm hợp nhất hai hay nhiều môn học thành mộtmôn học duy nhất Đó là sự khái quát hoá hoặc hệ thống hoá của quan điểmliên môn áp dụng cho những môn học đủ gần nhau về bản chất hoặc mục tiêu,hoặc cho những môn học có những đóng góp bổ sung cho nhau Ở đây, cácmôn học được tích hợp hoàn toàn
- Vấn đề mà kiểu tích hợp này đặt ra không chỉ đơn thuần có tính chất
sư phạm, mà còn là vấn đề khoa học luận, nghĩa là các khoa học phải đượcgiảng dạy bên trong các môn học Nói khác đi, các môn học cần được pháttriển theo một lôgíc nhằm làm cho học sinh lập được những tập hợp kháiniệm có ý nghĩa
Trang 33c Nhóm thứ ba: Sự nhóm lại theo đề tài tích hợp
- Đây là phương pháp đầu tiên tích hợp các môn học Thay cho việc tìmnhững môn học theo đuổi những mục tiêu như nhau, ta tìm những môn họctheo đuổi những mục tiêu bổ sung cho nhau, và ta khai thác tính bổ sung lẫnnhau đó Dạng tích hợp này duy trì những mục tiêu riêng rẽ trong mỗi mônhọc, đồng thời liên kết các môn này một cách hài hoà trên cơ sở xây dựng các
đề tài, nó có những ưu điểm chung nhưng cũng có những hạn chế sau đây:
+ Cách tiếp cận này chủ yếu có giá trị trong giảng dạy đối với những đềtài đơn giản, nó khó có thể tích hợp trong những môn học có tính lôgíc cao ởbậc phổ thông trung học
+ Các phương pháp giảng dạy dựa trên sự phát triển các đề tài tích hợpđơn giản nên không bảo đảm chắc chắn học sinh thực sự có khả năng đối phóvới một tình huống thực tế
+ Cách tiếp cận này càng khó thực hiện hơn ở những môn học có đốitượng nghiên cứu quá khác xa nhau
+ Cách tiếp cận này chỉ đáng chú ý nếu chúng ta muốn phát triển những
kĩ năng xuyên môn, đó là dạng tích hợp của nhiều môn học
Tóm lại, cách tiếp cận bằng đề tài tích hợp là dạng tích hợp các mônhọc trong các quá trình học tập Nó khai thác tính bổ sung lẫn nhau giữa cácmôn học trên cơ sở thiết lập các đề tài Nhưng cách tiếp cận này không bảođảm chắc chắn học sinh có thể giải quyết được những tình huống phức hợp
d Nhóm thứ tư: Tích hợp các môn học xung quanh những mục tiêu chung cho nhiều môn học
- Cách tích hợp này dựa trên những mục tiêu chung của nhiều môn học
Đó là mục tiêu tích hợp Các mục tiêu chung trong các môn học khác nhauđòi hỏi sự vượt lên trên các nội dung môn học đó, nó được nhấn mạnh hơntrong dạng tích hợp trước Như vậy, khái niệm “đề tài” trong cách tích hợpthứ ba không còn là trung tâm nữa mà là khái niệm “tình huống”, ở bên trong
Trang 34một đề tài Đó là một tình huống phức hợp và đa phương diện được đưa đếncho học sinh
- Dạng tích hợp này dựa trên quan điểm liên môn, vừa dựa trên cáchtiếp cận các tình huống phức hợp đòi hỏi sự soi sáng của nhiều môn học, vàquan điểm xuyên môn vì dạng tích hợp này tạo điều kiện phát triển các kĩnăng xuyên môn Cách tích hợp này là một sự tích hợp đầy đủ hơn và dễ thựchiện hơn nếu chúng ta xác định được những mục tiêu tích hợp giữa nhữngmôn học
Tóm lại, cách tiếp cận bằng tình huống tích hợp là dạng tích hợp cácmôn học ở mức độ quá trình học tập Dạng tích hợp này phong phú hơn badạng tích hợp trước, vì dạy cho học sinh cách giải quyết những tình huốngphức hợp có sự vận dụng nhiều môn học Dạng tích hợp này chỉ có thể thựchiện với những môn học nhằm những kỹ năng như nhau và ta có thể phát biểumột mục tiêu tích hợp chung cho những môn học đó
1.1.3.5 Các khả năng GDVSATT thông qua môn sinh học
Hoạt động giáo dục VSATTP có thể tiến hành thông qua hai hoạt độngchủ yếu:
- Giáo dục VSATTP thông qua chương trình giảng dạy của môn họctrong trường THPT
- Giáo dục VSATTP thông qua hoạt động ngoài giờ và hoạt động xã hội.Thông qua chương trình giảng dạy môn sinh học có ba khả năng tíchhợp giáo dục VSATTP:
+ Nội dung chủ yếu của bài học hay một số nội dung của môn học cótích hợp nội dung giáo dục VSATTP
+ Một số nội dung của bài học hay một phần nhất định của môn họcliên quan trực tiếp đến nội dung giáo dục VSATTP
+ Ở một số nội dung của môn học, bài học khác, các ví dụ, bài tập… đượcxem như là một dạng vật liệu dùng để khai thác các nội dung giáo dục VSATTP
Trang 35Cơ hội giáo dục VSATTP trong nhà trường
Nội dung chủ yếu của
bài học hay một số nội
dung của môn học
Một số nội dung của bàihọc hay một phần nhấtđịnh của môn học
Ở một số nội dung củamôn học, bài học khác,các ví dụ, bài tập…dùng để khai thác cácnội dung giáo dụcVSATTP
Hình 1: Khả năng áp dụng giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
1.1.3.6 Các nguyên tắc cơ bản khi tích hợp GDVSATTP thông qua môn Sinh học ở trường THPT
Quá trình khai thác các cơ hội GDVSATTP cần phải đảm bảo 3 nguyêntắc cơ bản:
- Không làm thay đổi tính đặc trưng môn học, không biến bài học của
bộ môn thành bài GDVSATTP
- Khai thác nội dung GDVSATTP có chọn lọc, có tính tập trung vàonhững chương, mục nhất định
- Phát huy cao độ các hoạt động nhận thức của HS và các kinh nghiệmthực tế mà các em đã có, vận dụng tối đa mọi khả năng để HS tiếp xúc trựctiếp với môi trường
1.1.3.7 Nội dung và địa chỉ tích hợp GDVSATTP vào phần kiến thức “Sinh học vi sinh vật” Sinh học 10 - THPT.
Bảng 1.1 Địa chỉ tích hợp VSATTP phần ba “Sinh học vi sinh vật”,
Bài 25: mục II.2 Nuôi cấyliên tục
Trang 36vật dưỡng…
4 Ngộ độc do thực phẩm
mang độc tố Vệ sinh ăn uống
Bài 23: mục II.1 Phân giảiprotein và ứng dụng
Bài 26: mục I.2 Nảy chồi
và tạo thành bào tử
5 Tác động của thực phẩm
nhân tạo
Vấn đề an toàn thực phẩm
Bài 23: mục I Quá trình tổng hợp
Bài 25: mục II.2 Nuôi cấyliên tục
6 Tác động của thực phẩm
nhiễm virut
Vấn đề an toàn thực phẩm
Bài 32: + mục I.2 Phươngthức lây truyền
+ mục I.3 Các bệnh truyền nhiễm thường gặp
Bài 25: mục II.2 Nuôi cấyliên tục
Bài 32: mục I.2 Phương thức lây truyền
+ mục I.3 Các bệnh truyền nhiễm thường gặp
do virut
3 Phân tích thông tin Lập sơ đồ, thảo luận
Bài 32: mục I.2 Phương thức lây truyền
+ mục I.3 Các bệnh truyền nhiễm thường gặp
Bài 32: mục II.3 Phòng chống bệnh truyền nhiễm
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng GDVSATTP ở trường THPT
Trang 37Để phục vụ cho hướng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tìm hiểu vềthực trạng tích hợp VSATTP qua bộ môn sinh học của giáo viên và học sinh ởmột số trường THPT thuộc địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nămhọc 2011 – 2012.
1.2.1.1 Thực trạng giáo dục VSATTP trong giảng dạy của giáo viên
Mặc dù chương trình cải cách giáo dục phổ thông đã đề cập đến vấn đềđưa giáo dục VSATTP vào bộ môn Sinh học, nhưng thực tế ở các trườngTHPT việc thực hiện chưa mang lại hiệu quả rõ rệt thể hiện ở cả hai mặt sốlượng và chất lượng Khi điều tra và trao đổi với 20 giáo viên dạy Sinh học ởmột số trường THPT (THPT Quỳnh Lưu I, THPT Quỳnh Lưu II, THPTQuỳnh Lưu IV) được thể hiện ở bảng 1.2
Bảng 1.2 Kết quả thăm dò giáo viên về vấn đề giáo dục vệ sinh
an toàn thực phẩm
Nội dung thăm dò Số ý kiến đồng ý Tỉ lệ %
1 Về nội dung chương trình, SGK
c Cần phải có tài liệu hướng dẫn trong từng
bài, từng chương về vấn đề vệ sinh an toàn
thực phẩn
2 Việc thực hiện lồng ghép nội dung giáo vệ
sinh an toàn thực phẩm trong chương trình
sinh học
a Có chú ý lồng vào bài giảng
b Có lúc đưa vào có lúc không
c Chưa đưa vào bài dạy vì thời gian ít và tài
liệu chưa đủ
12/20
11/2018/20
5/209/206/20
60
5590
254530
Trang 38c Bồi dưỡng thái độ, thúc đẩy hành vi đúng
4 Có cần thiết đưa giáo dục vệ sinh an toàn
thực phẩm vào trường trung học phổ thông
17/203/200
1008540
85150
Từ kết quả khảo sát trên này cho thấy, vấn đề giáo dục vệ sinh an toànthực phẩm trong nhà trường có vai trò rất quan trọng Đối với một bộ mônđược coi là rất thuận lợi trong giáo dục VSATTP như môn Sinh học, trongquá trình giảng dạy giáo viên vẫn còn lúng túng nhiều trong việc đưa kiếnthức VSATTP vào bài giảng giáo viên chưa vận dụng linh hoạt và cũng chưakết hợp những kiến thức Sinh học và kiến thức VSATTP Điều này do nhữngnguyên nhân sau:
- Quan niệm về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong các môn học,
cụ thể môn sinh học chưa rõ ràng, chưa có quy định chặt chẽ về việc phải tiếnhành giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh thông qua môn học,dạy ở mức độ nào, kiến thức gì, dẫn đến tình trạng giáo viên có giáo dục vệsinh an toàn thực phẩm hay không cũng chẳng ảnh hưởng tới chất lượng đàotạo Hơn nữa, các kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm đưa vào phải mấtthời gian tìm tòi, suy nghĩ, phải đầu tư công sức cho nên họ thường ngại đềcập đến vấn đề này
Trang 39- Việc cải cách giáo dục và cải cách sư phạm không đồng bộ, nênmột số khoá trước kia ra trường chưa được trang bị thêm một số chuyên đềmới mang tính thời sự cấp bách như: Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm,giáo dục môi trường, vấn đề bồi dưỡng giáo viên cũng chưa đề cập đến vấn
đề này cho nên hiệu quả giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm không caocũng là một thực tế
- Tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo, các phương tiện thiết bị dạyhọc, các tài liệu thông tin tuyên truyền còn quá ít ỏi, nhất là đối với đại đa sốcác trường ở nông thôn, miền núi Ở nhiều trường ngay cả những phương tiệntối thiểu của sinh học như: tranh vẽ, đồ dùng thí nghiệm vẫn còn thiếu, vìvậy không thể đòi hỏi trang bị ngay được các phương tiện dạy học hiện đạinhư video, báo chí, máy chiếu những phương tiện này rất cần cho giáo dục
vệ sinh an toàn thực phẩm
- Do thói quen trong giảng dạy từ trước đến giờ giáo viên chỉ cung cấpcác kiến cơ bản trong SGK mà quên đi việc cung cấp các kiến thức ứng dụngthực tiễn, đặc biệt là các kiến thức về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
- Trong các trường THPT hiện nay ít có các hoạt động ngoại khóa,tham quan hay các diễn đàn vì vậy mà việc giáo dục vệ sinh an toàn thựcphẩm cũng có nhiều khó khăn về mặt thực tiễn
Qua điều tra cũng cho thấy 100% giáo viên được khảo sát (Trong đó85% cho rằng rất cần thiết, 15% cho rằng cần thiết) nhận thấy cần thiết phải
tổ chức giảng dạy học tập có tích hợp GDVSATTP cho học sinh trung họcphổ thông Vì vậy cần phải có chương trình đào tạo giáo viên về nội dung tíchhợp GDVSATTP, và có tài liệu hướng dẫn cụ thể để tổ chức giảng dạy cóchất lượng và hiệu quả
1.2.1.2 Thực trạng hiểu biết và tình hình hứng thú, tích cực của học sinh đối với giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 40Ở lứa tuổi học sinh THPT cũng có những đặc điểm về tâm sinh lí lứatuổi chung, đó là sự phát triển nhảy vọt về thể chất và tâm sinh lí trong thời kìgiao thời của sự chuyển dần từ trẻ con sang người lớn, tạo cho lứa tuổi nàyluôn những mâu thuẫn nội tâm Các em thường xuyên bộc lộ những hànhđộng và cử chỉ hồn nhiên vô ý thức của tuổi nhỏ như tò mò, ham hiểu biết, cókhát vọng nhận thức Mặt khác, các em lại có những suy nghĩ và ham muốnnhư người lớn Các em bước đầu đã có ý thức về bản thân mình, về vị trí củamình trong gia đình, nhà trường và xã hội, bắt đầu đã có xu hướng tích cựctrong các hoạt động giáo dục như tính tự lực, lòng tự trọng, tự ái
Về tình cảm, các em đã có những rung cảm mang ý nghĩa xã hội nhưbiết yêu thương cộng đồng, kính trọng, yêu mến những cái tốt, căm ghétnhững cái xấu Các mối quan hệ tập thể, bạn bè trong trường, lớp đã có tácdụng lớn đến sự phát triển nhân cách của các em Điều này rất thuận lợi đểgiáo viên hướng dẫn cho các em biết phân biệt những việc nên hay không nêntrong những hành vi tác động đến sức khỏe con người, mà vấn đề vệ sinh antoàn thực phẩm là thiết thực nhất
Trong hoạt động nhận thức, các em chuyển dần từ sự nhận biết nhữngkhái niệm cụ thể sang khái niệm trìu tượng, khái quát hơn, đã có khả năngtiến hành các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp và ứng dụng những tríthức trong sách vở vào thực tiễn Nhờ vậy, các em có thể nắm bắt được bảnchất sự vật, hiện tượng và có thể diễn đạt các bài luận, bằng chính ngôn ngữcủa mình Vì chưa rời hẳn tuổi thơ nên các em vẫn ham thích những hoạtđộng vui nhộn, không thích những việc bị gò bó, câu thúc, căng thẳng vàbuồn tẻ Sự phát triển tâm sinh lí, đặc biệt là sự tự ý thức về vai trò và vị trícủa mình trong cộng đồng và xã hội của lứa tuổi này là điều kiện cần thiết đểtác động vào các mặt giáo dục nói chung và giáo dục vệ sinh an toàn thựcphẩm nói riêng, do đó người giáo viên nên lựa chọn những hình thức vàphương pháp giáo dục phù hợp để áp dụng cho có kết quả