1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quá trình hình thành, đặc điểm phân bố và tiềm năng dầu khí bẫy địa tầng trong trầm tích oligocen thượng khu vực đông nam bể cửu long

195 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 26,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA NGUYỄN ĐÌNH CHỨC NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ TIỀM NĂNG DẦU KHÍ BẪY ĐỊA TẦNG TRONG TRẦM TÍCH OLIGOCEN THƯỢNG KHU VỰC ĐÔNG

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

NGUYỄN ĐÌNH CHỨC

NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ

VÀ TIỀM NĂNG DẦU KHÍ BẪY ĐỊA TẦNG TRONG TRẦM TÍCH OLIGOCEN THƯỢNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỂ CỬU LONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT

TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

NGUYỄN ĐÌNH CHỨC

NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ

VÀ TIỀM NĂNG DẦU KHÍ BẪY ĐỊA TẦNG TRONG TRẦM TÍCH OLIGOCEN THƯỢNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỂ CỬU LONG

Chuyên ngành: Kỹ thuật Dầu khí

Mã số chuyên ngành: 62.52.06.04

Phản biện độc lập 1: PGS TS Hoàng Văn Quý

Phản biện độc lập 2: PGS TS Nguyễn Trọng Tín

Phản biện 1: GS TS Trần Văn Trị

Phản biện 2: TS Bùi Thị Luận

Phản biện 3: TS Mai Cao Lân

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 GS TSKH Mai Thanh Tân

2 PGS TS Trần Văn Xuân

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận án “Nghiên cứu quá trình hình thành, đặc điểm phân bố và

tiềm năng dầu khí bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long” là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn

khoa học của GS.TSKH Mai Thanh Tân và PGS.TS Trần Văn Xuân Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận án này là trung thực, và không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả luận án

Chữ ký

Nguyễn Đình Chức

Trang 4

ii

TÓM TẮT LUẬN ÁN

Bể Cửu Long là bể trầm tích Kainozoi có tiềm năng dầu khí lớn và quan trọng nhất trong thềm lục địa Việt Nam Các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trong bể chủ yếu tập trung vào các bẫy cấu tạo mà chưa thực sự quan tâm vào các đối tượng phi cấu tạo như bẫy địa tầng, hỗn hợp Khu vực nghiên cứu thuộc vùng Đông Nam của bể Cửu Long, nơi tiếp giáp với đới nâng Côn Sơn và có điều kiện địa hình thuận lợi cho việc hình thành các bẫy địa tầng Một số phát hiện dầu khí dạng bẫy địa tầng trong Oligocen thượng gần đây tại khu vực Đông Nam của bể đã mở ra một hướng mới và minh chứng rằng đối tượng tiềm năng này có vai trò ngày càng quan trọng trong công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí của bể Để thăm dò hiệu quả các bẫy địa tầng, cần thiết nghiên cứu đánh giá chi tiết về cơ chế hình thành cũng như đặc điểm phân bố của chúng nhằm giảm thiểu rủi ro Trên cơ sở thu thập, phân tích và đánh giá các tài liệu địa chất, địa vật lý hiện có tại vùng nghiên cứu, bằng cách áp dụng tổ hợp các phương pháp nghiên cứu về địa chấn địa tầng và địa tầng phân tập, phân tích tài liệu địa vật lý giếng khoan cũng như các kết quả phân tích tài liệu thạch học và cổ sinh, tác giả đã làm sáng tỏ được sự tồn tại

và các đặc trưng hình thái của các bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long Cùng với đó, trên cơ sở phân tích địa tầng phân tập, sử dụng thuộc tính địa chấn, luận giải tướng – môi trường lắng đọng , tác giả đã làm sáng tỏ quá trình hình thành, khả năng chứa, chắn để từ đó đánh giá tiềm năng dầu khí của chúng Trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long được phân chia thành hai tập, tập C ở trên và tập D ở dưới Mỗi tập được phân tích thành ba hệ thống trầm tích khác nhau bao gồm hệ thống trầm tích biển thấp (LST) ở dưới, hệ thống trầm tích biển tiến (TST) ở giữa và hệ thống trầm tích biển cao (HST) ở trên Trong đó, hệ thống trầm tích biển thấp thuộc tập C và hệ thống trầm tích biển cao thuộc tập D có liên quan đến các bẫy địa tầng được nhận diện trong khu vực nghiên cứu Môi trường lắng đọng của các hệ thống trầm tích trong tập D chủ yếu là môi trường đầm hồ nông đến hồ sâu Các tướng sông ngòi và đồng bằng bồi tích chủ yếu tập trung tại khu vực phía Đông và Đông Nam vùng nghiên cứu trong LST và HST Môi trường lắng đọng của các hệ thống trầm tích trong tập C chủ yếu là sông ngòi, đồng bằng bồi tích đến ven hồ, hồ nước nông Nguồn cung cấp vật liệu cho các hệ thống trầm tích của các tập C và D trong Oligocen

Trang 5

Nhóm bẫy địa tầng lắng đọng trầm tích bao gồm các bẫy dạng biến đổi tướng (hay dạng thân cát) và bẫy vát nhọn địa tầng Các bẫy dạng biến đổi tướng bao gồm bẫy quạt sườn và quạt đáy bể thuộc hệ thống trầm tích biển thấp của tập C và bẫy thân cát lòng sông thuộc hệ thống trầm tích biển cao của tập D Các bẫy vát nhọn địa tầng được phát hiện trong trầm tích của tập C

Nhóm bẫy địa tầng liên quan đến bất chỉnh hợp gồm bẫy cắt cụt địa tầng (nằm dưới bất chỉnh hợp) trong hệ thống trầm tích biển cao của tập D

Trong khu vực nghiên cứu, các bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng được đặc trưng bởi các phản xạ địa chấn dạng xiên chéo, hỗn độn, xicma, chữ S, song song đến dạng phân kỳ Biên độ phản xạ từ trung bình tới cao, độ liên tục thay đổi, tần số trung bình Trên tài liệu địa vật lý giếng khoan, chúng được đặc trưng bởi dạng đường cong hình cánh cung đến dạng hình trụ Các bẫy địa tầng này được thành tạo trong môi trường lục địa ven bờ với các tướng chủ đạo là đầm hồ, sông, tam giác châu được cung cấp vật liệu từ đới nâng Côn Sơn

Các bẫy địa tầng này chủ yếu tập trung theo dạng dải ven rìa đới nâng Côn Sơn, trên các sườn dốc hoặc đới nâng đơn nghiêng, mật độ phân bố giảm dần về phía trung tâm bể Các bẫy này được hình thành trong hệ thống trầm tích biển cao ở thời kỳ sớm của Oligocen muộn (tập D) và trong hệ thống trầm tích biển thấp ở thời kỳ muộn của Oligocen muộn (tập C) Chúng có khả năng chứa từ trung bình tới tốt (ngoại trừ bẫy quạt đáy bể ở mức kém – trung bình), khả năng chắn nóc từ trung bình tới tốt (ngoại trừ bẫy vát nhọn địa tầng ở mức kém – trung bình) và khả năng chắn đáy/chắn biên từ kém tới trung bình Với tổng tiềm năng dầu khí đáng kể (gần 600 triệu thùng tại chỗ mức xác suất P50) và phân bố gần hoặc cùng vị trí với các phát hiện dầu khí dạng cấu tạo có trữ lượng lớn đã được xác minh, các bẫy địa tầng trong Oligocen thượng có ý nghĩa quan

Trang 6

iv

trọng trong tìm kiếm thăm dò dầu khí khu vực Đông Nam của bể Điều này cho thấy,

việc đầu tư cho công tác tìm kiếm thăm dò các loại bẫy địa tầng khu vực này là đáng

quan tâm Do chưa có số liệu về thử vỉa và mẫu lõi của các bẫy địa tầng trong Oligocen

thượng khu vực nghiên cứu, trong tương lai cần tiếp tục áp dụng các công nghệ mới (địa

chấn địa tầng phân tập kết hợp với tài liệu giếng khoan, phân tích mẫu lõi, thuộc tính

địa chấn, đặc biệt là mạng trí tuệ nhân tạo ) nhằm nâng cao độ tin cậy trong các kết quả

phân tích đánh giá Để tối ưu hóa hiệu quả của công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí tại

các vùng có điều kiện địa chất tương tự như khu vực Đông Nam bể Cửu Long, việc tiến

hành đồng thời thăm dò các bẫy cấu tạo và bẫy địa tầng là cần thiết

Trang 7

v

ABSTRACT

Cuu Long basin is the most important Cenozoic sedimentary basin in continental shelf

of Vietnam Previous hydrocarbon exploration and production activities in the basin focused mainly on structural traps, while non-structural traps such as stratigraphic and combination traps were not paid enough attention The research area is located at the Southeastern region of Cuu Long basin, adjacent to Con Son Swell, which provides favorable conditions for the formation of stratigraphic/combination traps Several recent discoveries of stratigraphic/combination traps within Upper Oligocene section at the Southeastern margin have proven the increasing importance of these targets and opened

up new direction in future petroleum exploration activities in Cuu Long basin In order

to sufficiently explore stratigraphic traps and to minimize risks involved, detailed investigations regarding formation mechanisms of these traps as well as their distribution characteristics are essential Based on analysis and evaluation of collected geological, geophysical data of the research area, and by applying integrated studies of seismic stratigraphy and sequence stratigraphy, well logs interpretations as well as lithology and biostratigraphy, the author clarifies the existence and configuration of stratigraphic traps in Upper Oligocene deposits at the Southeastern area of Cuu Long basin Along with that, based on analysis of sequence stratigraphy incorporating with seismic attributes, facies - depositional environments and others, the author identifies the forming processes and mechanisms of stratigraphic traps within the research area as well as evaluates the storage capacity and seal capability of the stratigraphic reservoirs

in order to assess their hydrocarbon potential

Upper Oligocene clastics section of the Southeastern area of Cuu Long basin is divided into two subsets: Oligocene C sequence above and Oligocene D sequence below Each sequence is subdivided into three system tracts: lowstand (bottom), transgressive (middle) and highstand (top) Among these, the lowstand system tract of Oligocene C and the highstand system tract of Oligocene D are related to stratigraphic traps identified within the research area The depositional environments of Oligocene D system tracts are majorly shallow to deep lacustrine Delta plain, alluvial/fluvial environments are mainly found within lowstand and highstand system tracts at the Eastern and

Trang 8

vi

Southeastern regions of the research area The depositional environments of Oligocene

C system tracts are majorly fluvial/alluvial, alluvial plain to deltaic and lacustrine ones Sediments of Oligocene C and Oligocene D system tracts are supplied from Con Son swell, generally transported through NE-SW and E-W channel systems

In Upper Oligocene clastics of the Southeastern area of Cuu Long Basin, there are several trap types categorized in two different groups: depositional stratigraphic traps and unconformity-related traps

Depositional stratigraphic traps include facies change (or sand bodies) traps and pinch-out traps Facies change traps includes slope fans and basin floor fans in lowstand system tract of Oligocene C sequence and channel sand deposits in highstand system tract of Oligocene D sequence Pinch-out traps are identified within Oligocene C sequence

Unconformity-related trap includes truncation trap (below unconformity) in highstand system tract Oligocene D sequence

In the research area, Upper Oligocene stratigraphic traps are characterized by sigmoid, sigmoid-oblique, parallel to divergent seismic reflection configurations Their seismic amplitudes are moderate to high accompanied with varied continuities and low to moderate frequencies On well logs, these traps are identified with bow- to cylinder-shaped trends of log curves These traps were formed in near-shore continental environments with dominant lacustrine, fluvial, and deltaic facies Sediments were supplied to these traps from Con Son Swell

Upper Oligocene stratigraphic traps in the research area distribute along the western side

of Con Son swell, on slopes or monoclines with less and less distribution toward the center of Cuu Long basin Chronologically, these traps were formed within highstand system tract of early Late Oligocene (D sequence) and within lowstand system tract of late Late Oligocene (C sequence) Storage capability of these traps is from moderate to good (except for poor to moderate storage capability of basin-floor fans) with moderate

to good top seal capacity (except for poor to moderate top seal capacity of pinch-out traps) and poor to moderate bottom seal capacity Being located in or close to the

Trang 9

vii

structural traps with proven hydrocarbon discoveries and having high total hydrocarbon potential (approximate 600 MMbbls at P50 category) makes these Upper Oligocene stratigraphic traps hold considerable importance in petroleum exploration in the Southeastern area of Cuu Long basin This requires more attention to future exploration

of stratigraphic traps in this area Due to the lack of DST and core data of stratigraphic traps within Upper Oligocen section in the research area, in the future, application of new technologies (seismic sequence stratigraphy in combination with well data, core analysis, seismic attributes, especially artificial neural network…) is needed in order to minimize risks and improve the reliability of the research results In order to optimize oil and gas exploration activities at areas with similar geological conditions as the Southeastern area of CLB, simultaneous exploration of structural traps and stratigraphic/combination traps is necessary

Trang 10

viii

LỜI CẢM ƠN

Luận án được hoàn thành tại Bộ môn Địa chất – Dầu khí, khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí, trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TSKH Mai Thanh Tân Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội và PSG TS Trần Văn Xuân Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả xin chân thành cảm ơn GS TSKH Mai Thanh Tân và PSG TS Trần Văn Xuân

đã hướng dẫn tận tình, chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh, đồng nghiệp ở các phòng Thăm dò, Công Nghệ mỏ của Công ty Điều hành Thăm dò Khai thác Dầu khí Trong nước (PVEP POC), Ban Tìm kiếm Thăm dò Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) và một số đơn vị khác trong ngành đã giúp đỡ và đóng góp ý kiến để tác giả hoàn thành luận án này

Tác giả cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Tập đoàn Dầu Khí Quốc gia Việt Nam, Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí, Công ty PVEP POC đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tác giả sử dụng tài liệu để thực hiện, hoàn thành và công bố kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài

Sự động viên tinh thần lớn lao của gia đình và bạn bè đã khích lệ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận án

Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến những nhà nghiên cứu đi trước cùng lĩnh vực trong và ngoài nước có và chưa có nêu tên trong danh sách các trích dẫn của luận án đã tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận án này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 11

ix

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH xii

DANH MỤC BẢNG BIỂU xvii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xviii

MỞ ĐẦU xix

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC ĐÔNG NAM BỂ CỬU LONG VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BẪY ĐỊA TẦNG 1

Vị trí địa lý tự nhiên khu vực Đông Nam bể Cửu Long 1

Đặc điểm địa chất khu vực Đông Nam bể Cửu Long 2

1.2.1 Đặc điểm kiến tạo 2

1.2.2 Cấu trúc địa chất 4

1.2.3 Đặc điểm địa tầng 6

1.2.4 Hệ thống dầu khí 9

Lịch sử tìm kiếm thăm dò 12

Tình hình thăm dò nghiên cứu bẫy địa tầng ở Việt Nam 14

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ BẪY ĐỊA TẦNG VÀ HỆ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

Khái quát về bẫy và bẫy địa tầng 19

2.1.1 Bẫy và phân loại bẫy 19

2.1.2 Bẫy địa tầng và phân loại 19

2.1.3 Quá trình nghiên cứu bẫy địa tầng 21

2.1.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu bẫy địa tầng trong thăm dò dầu khí 24

Hệ phương pháp nghiên cứu bẫy địa tầng 24

2.2.1 Phân tích địa chấn địa tầng và địa tầng phân tập 25

2.2.2 Phân tích thuộc tính địa chấn 36

2.2.3 Phân tích tài liệu địa vật lý giếng khoan 40

2.2.4 Phân tích tài liệu thạch học và cổ sinh 44

2.2.5 Phương pháp đánh giá tiềm năng dầu khí 47

Chu trình nghiên cứu 49

CHƯƠNG 3 ĐẶC TRƯNG HÌNH THÁI VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC BẪY ĐỊA TẦNG TRONG TRẦM TÍCH OLIGOCEN THƯỢNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỂ CỬU LONG 52

Trang 12

x

Cơ sở dữ liệu và khu vực nghiên cứu 52

Đặc điểm địa tầng phân tập trầm tích Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 54 3.2.1 Nhận diện và liên kết các ranh giới địa tầng trong Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 54

3.2.2 Phân tích địa chấn địa tầng và địa tầng phân tập Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 60

Đặc điểm tướng – môi trường lắng đọng trầm tích Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 66

3.3.1 Phân tích tướng địa chấn 66

3.3.2 Phân tích thuộc tính địa chấn 68

3.3.3 Xác định môi trường lắng đọng trầm tích từ tài liệu giếng khoan 69

3.3.4 Luận giải tướng môi trường trầm tích Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 70

Đặc trưng hình thái các bẫy địa tầng trong Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 76

3.4.1 Bẫy địa tầng lắng đọng trầm tích 77

3.4.2 Bẫy địa tầng kề áp bất chỉnh hợp 84

Cơ chế và quá trình hình thành các bẫy địa tầng trong Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 85

3.5.1 Bẫy địa tầng lắng đọng trầm tích 85

3.5.2 Bẫy địa tầng kề áp bất chỉnh hợp 89

CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ, ĐẶC TRƯNG VỈA CHỨA VÀ TIỀM NĂNG DẦU KHÍ CÁC BẪY ĐỊA TẦNG TRONG TRẦM TÍCH OLIGOCEN THƯỢNG KHU VỰC ĐÔNG NAM BỂ CỬU LONG 91

Đặc điểm phân bố các bẫy địa tầng trong Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 91

4.1.1 Đặc điểm phân bố các bẫy địa tầng trong các phân vị địa tầng Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 91

4.1.2 Đặc điểm phân bố các bẫy địa tầng trong Oligocen thượng theo không gian 93

Đặc trưng chứa - chắn của các bẫy địa tầng trong Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 99

4.2.1 Đặc trưng chứa các bẫy địa tầng trong Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 104

Trang 13

xi

4.2.2 Đánh giá khả năng chắn cho các bẫy địa tầng trong Oligocen thượng khu

vực nghiên cứu 111

Tiềm năng dầu khí và đánh giá rủi ro trong tìm kiếm thăm dò các bẫy địa tầng trong Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long 115

4.3.1 Đánh giá tiềm năng dầu khí bẫy địa tầng trong Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 116

4.3.2 Đánh giá rủi ro 119

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 124

Kết luận 124

Kiến nghị 125

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

Trang 14

xii

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu 1Hình 1.2 Sơ đồ vị trí kiến tạo của bể Cửu Long và khu vực nghiên cứu trong bình đồ kiến tạo khu vực Đông Nam Á, thời kỳ trước tách giãn – Eocen giữa [3] 3Hình 1.3 Sơ đồ minh họa các hoạt động kiến tạo khu vực Đông Nam Á thời kỳ Eocen giữa - Oligocen [3] 4Hình 1.4 Sơ đồ minh họa hoạt động kiến tạo khu vực Đông Nam Á thời kỳ tạo rift muộn – Miocen sớm [3] 5Hình 1.5 Sơ đồ phân vùng kiến tạo bể Cửu Long Vẽ lại theo [1] 6Hình 1.6: Cột địa tầng tổng hợp bể Cửu Long [5] 7Hình 1.7 Nghiên cứu địa tầng phân tập khu vực phía Bắc [18], khu vực Bạch Hổ và Rồng [16] trong bể Cửu Long 16Hình 1.8 Một số kết quả nghiên cứu tướng môi trường trầm tích (theo nhiều tác giả) khu vực phía Bắc bể Cửu Long [12], Bạch Hổ [16] và Đông Nam bể Cửu Long [19] 17Hình 1.9 Một số kết quả nghiên cứu về bẫy địa tầng/hỗn hợp trong bể Cửu Long: a) khu vực phân bố bẫy phi cấu tạo phía Bắc của bể [12]; b) mặt cắt địa chấn thể hiện khả năng tồn tại bẫy phi cấu tạo lô 09-3 [7]; c) sơ đồ phân bố khả năng tồn tại các bẫy địa tầng trong bể [11] 18Hình 2.1 Sơ đồ phân loại bẫy địa tầng Tổng hợp từ nhiều tác giả [21], [22], [23], [24], [25], [26] 21Hình 2.2 Đóng góp của các phương pháp nghiên cứu trong thăm dò các bẫy địa tầng [25] 22Hình 2.3 Mô hình tập tích tụ [34], [40] 26Hình 2.4 Hệ thống trầm tích biển thấp và các đơn vị trầm tích: (1) Quạt đáy bể; (2) Quạt sườn; (3) Nêm lấn (turbidit xiên chéo); (4) Trầm tích lấp đầy thung lũng sông [34], [35] 27Hình 2.5 Hệ thống trầm tích biển tiến và các đơn vị trầm tích: (1) Các thành tạo cửa sông; (2) Tướng vũng vịnh, bãi bồi do sóng, châu thổ triều cường; (3) Các đảo cát chắn; (4) Châu thổ triều kiệt [34], [35] 29Hình 2.6 Hệ thống trầm tích biển cao và các đơn vị trầm tích: (1) Đồng bằng bồi tích; (2) Đồng bằng ven biển; (3) Tướng biển nông; (4) Sườn dốc [34], [35] 30Hình 2.7 Các kiểu nhóm phân tập tương ứng với các thời kỳ biển lùi, biển tiến và biển dừng A = tốc độ hình thành không gian tích tụ; D = tốc độ lắng đọng trầm tích [34], [41] 31Hình 2.8 Các chỉ tiêu xác định ranh giới bất chỉnh hợp và ý nghĩa địa chất của chúng [34] 32Hình 2.9 Phân loại các kiểu phân lớp phản xạ địa chấn và ý nghĩa của chúng trong luận giải môi trường trầm tích Tổng hợp từ [32], [34] 33

Trang 15

xiii

Hình 2.10 Mô hình một số hình dạng tướng địa chấn trong không gian 3 chiều Tổng

hợp từ [32], [34] 34

Hình 2.11 Sơ đồ chuyển đổi tài liệu địa chấn theo thời gian sang miền tần số sử dụng biến đổi Fourier rời rạc (Discrete Fourier Transform – DFT) [47] 38

Hình 2.12 Mô hình mạng trí tuệ nhân tạo nhiều lớp, nhiều nút kiểu lan truyền ngược đơn giản [34] 39

Hình 2.13 Các xu hướng biến đổi đường cong và ý nghĩa của chúng trong luận giải môi trường lắng đọng trầm tích Tổng hợp từ nhiều tác giả [34], [35], [52] 41

Hình 2.14 Sự phân bố của các nhóm vi cổ sinh trong các môi trường khác nhau [57]46 Hình 2.15 Mối liên hệ giữa các kiểu thực vật và môi trường trầm tích [58], [59] 47

Hình 2.16 Mô hình lắng đọng trầm tích giai đoạn cuối thời kỳ đồng tách giãn (Oligocen muộn - tập C và D) Chỉnh sửa từ nhiều tác giả [62], [63], [64] 50

Hình 2.17 Chu trình nghiên cứu, đánh giá các bẫy địa tầng 51

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu trong bể Cửu Long 52

Hình 3.2 Quy trình phân tích địa chấn địa tầng và địa tầng phân tập 55

Hình 3.3 Liên kết tài liệu địa chất giếng khoan-địa chấn địa tầng trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long 56

Hình 3.4 Các dấu hiệu nhận biết ranh giới địa tầng trên tài liệu địa chấn – Mặt cắt dọc khu vực nghiên cứu 57

Hình 3.5 Đặc trưng ranh giới của tập C và D theo tài liệu địa vật lý giếng khoan 59

Hình 3.6 Phân chia các hệ thống trầm tích cho tập C trên tài liệu ĐVLGK giếng K1 60 Hình 3.7 Phân chia các hệ thống trầm tích cho tập D trên tài liệu ĐVLGK giếng K1 60 Hình 3.8 Phân tích địa chấn địa tầng trên tuyến dọc vùng nghiên cứu cho các thành hệ địa chất Oligocen thượng (các tập C và D): a) đặc trưng địa chấn các tập và hệ thống trầm tích; b) kết quả phân tích địa chấn địa tầng 62

Hình 3.9 Phân tích địa chấn địa tầng trên tuyến cắt ngang vùng nghiên cứu cho các thành hệ địa chất Oligocen thượng (các tập C và D): a) đặc trưng địa chấn các tập và hệ thống trầm tích; b) kết quả phân tích địa chấn địa tầng 63

Hình 3.10 Kết quả phân tích địa chấn địa tầng cho tập C trên tuyến dọc vùng nghiên cứu 64

Hình 3.11 Bản đồ đẳng dày tập C 64

Hình 3.12 Kết quả phân tích địa chấn địa tầng cho tập D trên tuyến dọc vùng nghiên cứu 65

Hình 3.13 Bản đồ đẳng dày tập D 65

Hình 3.14 Kết quả phân tích tướng địa chấn cho các hệ thống trầm tích trên tuyến dọc khu vực nghiên cứu 67

Hình 3.15 Kết quả phân tích tướng địa chấn cho HST tập D 67

Hình 3.16 Bản đồ thuộc tính giải chập phổ tại 25Hz cho hệ thống trầm tích biển thấp của tập C 69

Hình 3.17 Kết quả luận giải môi trường lắng đọng trầm tích trong giếng khoan N-2 71

Trang 16

xiv

Hình 3.18 Quy trình luận giải môi trường lắng đọng trầm tích từ kết quả phân tích các nguồn tài liệu khác nhau 72Hình 3.19 Bản đồ phân bố tướng – môi trường trầm tích hệ thống trầm tích biển thấp trong tập D 73Hình 3.20 Bản đồ phân bố tướng – môi trường trầm tích hệ thống trầm tích biển tiến trong tập D 73Hình 3.21 Bản đồ phân bố tướng – môi trường trầm tích hệ thống trầm tích biển cao trong tập D 74Hình 3.22 Bản đồ phân bố tướng – môi trường trầm tích hệ thống trầm tích biển thấp trong tập C 75Hình 3.23 Bản đồ phân bố tướng – môi trường trầm tích hệ thống trầm tích biển tiến trong tập C 75Hình 3.24 Bản đồ phân bố tướng – môi trường trầm tích hệ thống trầm tích biển cao trong tập C 76Hình 3.25 Kết quả khoan trên bẫy địa tầng dạng quạt sườn thuộc LST tập C 78Hình 3.26 Đặc trưng hình thái bẫy địa tầng dạng quạt sườn thuộc hệ thống trầm tích biển thấp trong tập C trên mặt cắt song song hướng đổ trầm tích 78Hình 3.27 Đặc trưng hình thái bẫy địa tầng dạng quạt sườn thuộc LST của tập C trên mặt cắt địa chấn vuông góc hướng đổ trầm tích 79Hình 3.28 Đặc trưng hình thái bẫy địa tầng dạng quạt sườn trong LST tập C trên tài liệu ĐVLGK 80Hình 3.29 Kết quả khoan thăm dò trên bẫy địa tầng dạng cát lòng sông thuộc HST tập D: a) Bản đồ cấu trúc nóc; b) Tài liệu giếng khoan S1 cho khoảng vỉa của bẫy 80Hình 3.30 Đặc trưng hình thái bẫy địa tầng dạng thân cát lòng sông cổ thuộc HST trong tập D dọc theo mặt cắt đi qua giếng khoan S-1 81Hình 3.31 Đặc trưng hình thái bẫy địa tầng dạng thân cát lòng sông cổ thuộc HST trong tập D trên mặt cắt được làm phẳng tại nóc tập D 81Hình 3.32 Đặc trưng hình thái bẫy địa tầng dạng thân cát lòng sông trong HST của tập

D trên tài liệu địa vật lý giếng khoan 82Hình 3.33 Đặc trưng hình thái bẫy địa tầng quạt đáy bể trên tài liệu địa chấn theo hướng

đổ vật liệu 83Hình 3.34 Đặc trưng hình thái bẫy địa tầng quạt đáy bể trên tài liệu địa chấn theo tuyến vuông góc với hướng đổ vật liệu 83Hình 3.35 Đặc trưng hình thái bẫy vát nhọn địa tầng trong tập C trên tài liệu địa chấn: a) mặt cắt song song với hướng đổ vật liệu; b) mặt cắt vuông góc với hướng đổ vật liệu 84Hình 3.36 Đặc trưng hình thái bẫy cắt cụt địa tầng (bẫy nằm dưới bất chỉnh hợp) trong

hệ thống trầm tích biển cao tập D trên tài liệu địa chấn 85Hình 3.37 Sơ đồ phân bố bất chỉnh hợp và chỉnh hợp liên kết ranh giới nóc tập D 86

Trang 17

xv

Hình 3.38 Mô hình thành tạo các bẫy địa tầng dạng quạt đáy bể và quạt sườn thuộc LST trong tập C 87Hình 3.39 Mô hình thành tạo bẫy địa tầng dạng cát lòng sông cổ trong HST tập D 88Hình 3.40 Sơ đồ hình thái thể hiện các yếu tố hình thành bẫy vát nhọn địa tầng (a) và dạng phân bố của bẫy (b) 89Hình 3.41 Sơ đồ hình thái phân bố các yếu tố hình thành bẫy cắt cụt địa tầng trong khu vực Đông Nam bể Cửu Long 90Hình 4.1 Sơ đồ phân bố các bẫy địa tầng trong các phân vị trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long 92Hình 4.2 Sơ đồ phân bố các các bẫy địa tầng theo không gian trong trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long 93Hình 4.3 Dự báo phân bố thân cát các bẫy địa tầng quạt sườn trong LST tập C trên cơ

sở phân tích thuộc tính biên độ trung bình bình phương 96Hình 4.4 Dự báo phân bố thân cát các bẫy địa tầng lòng sông cổ trong HST tập D trên

cơ sở phân tích thuộc tính địa chấn biên độ trung bình bình phương 97Hình 4.5 Dự báo phân bố thân cát các bẫy địa tầng trên cơ sở phân tích thuộc tính địa chấn: a) Bản đồ biên độ trung bình bình phương bẫy vát nhọn địa tầng trong tập C; b) Bản đồ biên độ trung bình bình phương bẫy cắt cụt địa tầng trong HST tập D 98Hình 4.6 Bản đồ biên độ trung bình bình phương của bẫy địa tầng quạt đáy bể biển thấp trong LST tập C 98Hình 4.7 Biểu đồ quan hệ giữa thuộc tính địa chấn (“Quadrature trace” của trở kháng

âm học) và đặc trưng vỉa chứa (độ rỗng) cho trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long 100Hình 4.8 Biểu đồ quan hệ giữa các giá trị độ rỗng tính toán theo tài liệu ĐVLGK và theo

dự báo từ tài liệu địa chấn: a) Sử dụng tập hợp 11 thuộc tính địa chấn; b) Sử dụng mạng trí tuệ nhân tạo với 11 thuộc tính đầu vào 101Hình 4.9 Kết quả chạy hồi quy đa tuyến từng bước cho việc xác định số lượng thuộc tính và chiều dài toán tử sử dụng trong dự báo độ rỗng hiệu dụng các trầm tích Oligocen thượng khu vực nghiên cứu: a) Biểu đồ sai số bình phương trung bình theo số lượng thuộc tính và chiều dài toán tử; b) Biểu đồ sai số bình phương trung bình theo số lượng thuộc tính với chiều dài toán tử bằng 7 103Hình 4.10 Kết quả xác định trọng số đóng góp của các thuộc tính trong dự báo độ rỗng cho trầm tích Oligocen thượng từ địa chấn 105Hình 4.11 Biểu đồ quan hệ giữa các giá trị hàm lượng sét theo tài liệu giếng khoan và theo dự đoán từ địa chấn cho trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long 106Hình 4.12 Biểu đồ quan hệ giữa các giá trị độ rỗng tính toán theo tài liệu địa vật lý giếng khoan và theo dự đoán từ địa chấn cho trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam

bể Cửu Long 106

Trang 18

xvi

Hình 4.13 Đặc trưng chứa của bẫy địa tầng quạt sườn trong LST tập C khu vực Đông Nam bể Cửu Long theo tài liệu ĐVLGK (a) và theo tài liệu thạch học (b) 108Hình 4.14 Đặc trưng chứa của bẫy địa tầng lòng sông cổ trong HST tập D khu vực Đông Nam bể Cửu Long theo tài liệu thạch học (a) và theo tài liệu ĐVLGK (b) 108Hình 4.15 Bản đồ phân bố độ rỗng của bẫy địa tầng quạt sườn trong LST tập C sử dụng mạng trí tuệ nhân tạo 110Hình 4.16 Dự báo phân bố độ rỗng vỉa chứa sử dụng mạng trí tuệ nhân tạo cho bẫy địa tầng quạt đáy bể trong LST tập C (hình a) và cho bẫy vát nhọn địa tầng (hình b) 110Hình 4.17 Đặc điểm thạch học giếng khoan (a) và đặc trưng địa vật lý giếng khoan (b) cho các tầng chắn nóc và đáy cho bẫy địa tầng quạt sườn trong LST tập C 112Hình 4.18 Đặc điểm các tầng chắn nóc và chắn đáy cho bẫy địa tầng dạng cát lòng sông trên tài liệu thạch học giếng khoan (a) và tài liệu địa vật lý giếng khoan (b) 113Hình 4.19 Dự báo sự phân bố tầng chắn cho bẫy địa tầng quạt sườn trong LST tập C sử dụng mạng trí tuệ nhân tạo: a) Bản đồ phân bố thạch học (hàm lượng sét) cho tầng chắn nóc/chắn biên; b) Bản đồ phân bố thạch học cho tầng chắn đáy/chắn biên 114Hình 4.20 Dự báo sự phân bố tầng chắn cho bẫy vát nhọn địa tầng trong tập C sử dụng mạng trí tuệ nhân tạo: a) Bản đồ phân bố thạch học (hàm lượng sét) cho tầng chắn nóc/chắn biên; b) Bản đồ phân bố thạch học cho tầng chắn đáy/chắn biên 114

Trang 19

xvii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Lịch sử thăm dò – khai thác bể Cửu Long và vùng nghiên cứu [1] có cập nhật 13Bảng 2.1 Tiềm năng về yếu tố hệ thống dầu khí trong các hệ thống trầm tích khác nhau [33] có chỉnh sửa 28Bảng 3.1 Cơ sở dữ liệu các giếng khoan sử dụng trong luận án 53Bảng 4.1 Kết quả chạy hồi quy đa tuyến từng bước theo loại và số lượng thuộc tính địa chấn cho dự đoán độ rỗng các trầm tích Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 103Bảng 4.2 Tham số đầu vào cho đánh giá tiềm năng dầu khí các loại bẫy địa tầng trong Oligocen thượng khu vực nghiên cứu 118Bảng 4.3 Kết quả đánh giá tiềm năng dầu khí các loại bẫy địa tầng trong Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long 119Bảng 4.4 Xác suất thành công các bẫy địa tầng trong Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long 123

Trang 20

ĐN Hướng Đông Nam

ĐVLGK Địa vật lý giếng khoan

Trang 21

xix

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Bể Cửu Long là bể trầm tích Kainozoi nằm ở Đông Nam thềm lục địa Việt Nam Mặc

dù được triển khai từ rất sớm, tuy nhiên cho đến nay các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trong bể chủ yếu tập trung vào các bẫy cấu tạo trong trầm tích Kainozoi có tuổi Oligocen và Miocen và các đới nứt nẻ phong hoá trong các khối nhô của móng trước Kainozoi Các đối tượng liên quan đến các dạng bẫy phi cấu tạo như bẫy địa tầng, bẫy hỗn hợp có quy mô nhỏ, phân bố phức tạp chưa được quan tâm đầu tư thích đáng, dẫn đến tiềm năng dầu khí của chúng chưa được đánh giá đầy đủ

Nhằm đáp ứng ngày càng cao về nhu cầu năng lượng phục vụ cho an ninh năng lượng, phát triển kinh tế xã hội của đất nước, những năm gần đây ngoài các bẫy cấu tạo trong

bể Cửu Long, công tác tìm kiếm thăm thăm dò dầu khí đòi hỏi phải đầu tư hơn nữa vào những đối tượng tiềm năng khó khăn phức tạp hơn như bẫy địa tầng/hỗn hợp Với đối tượng này, để thăm dò hiệu quả và giảm thiểu rủi ro, cần có các nghiên cứu đánh giá chi tiết về cơ chế hình thành cũng như đặc điểm phân bố của chúng

Các tập trầm tích Oligocen thượng trong bể Cửu Long trước đây thường được đánh giá

là có tiềm năng dầu khí thấp hơn so với các đối tượng Oligocen hạ và móng trước Kainozoi Mặc dù đã có những phát hiện dầu khí trong trầm tích Oligocen thượng trong

bể Cửu Long, song chúng được đánh giá có diện phân bố hạn chế, quy mô nhỏ, trữ lượng không lớn nên thường được coi là đối tượng phụ và hệ quả là chưa được quan tâm đúng mức Tuy nhiên, các hoạt động tìm kiếm thăm dò gần đây với kết quả phát hiện dầu khí trong trầm tích Oligocen thượng ngày càng nhiều, đặc biệt là các phát hiện trong bẫy dạng địa tầng đã minh chứng rằng đối tượng tiềm năng bẫy địa tầng có vai trò ngày càng quan trọng trong công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí của bể

Khu vực Đông Nam bể Cửu Long, nơi tiếp giáp với đới nâng Côn Sơn có cấu trúc địa chất phức tạp khác với vùng trung tâm và rìa Tây của bể Khu vực này có điều kiện địa hình độ dốc lớn, tồn tại các đới vát nhọn và nguồn vật liệu trầm tích được cung cấp chủ yếu từ đới nâng Côn Sơn Một số nghiên cứu trước đây tuy đã khẳng định được tại khu

Trang 22

xx

vực này tồn tại các bẫy dạng vát nhọn địa tầng trong các trầm tích tuổi từ Miocen đến Oligocen và cổ hơn nhưng cho rằng tiềm năng dầu khí thấp Tuy nhiên kết quả hoạt động tìm kiếm thăm dò gần đây (đã được khẳng định bằng kết quả một số giếng khoan thăm dò) trong khu vực cho thấy, bên cạnh các bẫy vát nhọn địa tầng, tồn tại các loại bẫy địa tầng dạng biến đổi tướng trong trầm tích Oligocen thượng Đây chính là cơ sở tiền đề mới cho công tác tìm tiếm thăm dò các đối tượng tiềm năng trong bẫy dạng địa tầng/hỗn hợp tại khu vực Đông Nam nói riêng và toàn bể Cửu Long nói chung Để đánh giá tiềm năng các bẫy địa tầng trong khu vực Đông Nam bể Cửu Long, nhiều vấn đề cần giải quyết như xác định sự tồn tại của các loại bẫy địa tầng, điều kiện lắng đọng và đặc trưng tướng - môi trường, cơ chế hình thành, đặc điểm phân bố và tiềm năng dầu khí

của chúng

Để giải quyết các vấn đề nói trên, đề tài “Nghiên cứu quá trình hình thành, đặc điểm

phân bố và tiềm năng dầu khí bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long” đã được tác giả chọn làm luận án cho trương trình nghiên

cứu sinh

Mục tiêu của đề tài

Làm sáng tỏ sự tồn tại, cơ chế hình thành, khả năng chứa – chắn của các bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng tại khu vực Đông Nam bể Cửu Long

Xác định được đặc điểm phân bố và tiềm năng dầu khí của chúng phục vụ cho công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí tại khu vực trong tương lai

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án tập trung vào giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Phân tích đặc điểm hình thái để xác định sự tồn tại các bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu quá trình hình thành các bẫy địa tầng

- Nghiên cứu đặc điểm phân bố các bẫy địa tầng

- Đánh giá khả năng chứa - chắn của bẫy địa tầng

Trang 23

xxi

- Đánh giá tiềm năng dầu khí các bẫy địa tầng trong Oligocen thượng khu vực nghiên cứu

Cơ sở tài liệu

Luận án được thực hiện trên cơ sở kết quả phân tích các tài liệu địa chất, địa chấn, địa vật lý giếng khoan, đánh giá thành hệ, thạch học và cổ sinh trong khu vực lô 09-2/09 và lân cận cùng nhiều tư liệu của vùng kế cận Các báo cáo chưa được công bố của một số nhà điều hành dầu khí trong khu vực cũng được sử dụng như là cơ sở dữ liệu, tham khảo cho luận án

Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ đã đặt ra, tác giả sử dụng kết hợp các hệ phương pháp nghiên cứu bao gồm:

trong Oligocen thượng khu vực nghiên cứu, làm sáng tỏ khả năng tồn tại các bẫy địa tầng, phân tích đặc trưng hình thái và giải đoán quy mô phân bố của chúng theo không gian và trong các phân vị địa tầng

đánh giá các đặc trưng chứa - chắn và dự báo phân bố các bẫy địa tầng trong khu vực nghiên cứu

các đặc trưng chứa - chắn của các bẫy địa tầng trong vùng nghiên cứu, xác định các tham số vỉa chứa phục vụ cho đánh giá tiềm năng dầu khí các bẫy địa tầng

- Phân tích tài liệu thạch học và cổ sinh xác định thành phần thạch học, đặc điểm

tướng – môi trường và các đặc điểm chứa – chắn tại vị trí giếng khoan Hỗ trợ các phương pháp địa vật lý khác trong việc dự báo sự phân bố theo diện

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của nghiên cứu là bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng khu vực nghiên cứu

Trang 24

xxii

Phạm vi của nghiên cứu nằm trong diện tích lô 09-2/09 và một phần các lô 09-1, 09-2, 09-3/12, 15-2 và 02/10 thuộc khu vực Đông Nam bể Cửu Long, tách biệt với khu vực trung tâm bởi đới nhô cao Bạch Hổ - Cá Ngừ Vàng - Rạng Đông – Phương Đông

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học

Làm sáng tỏ đặc điểm các bẫy địa tầng và vai trò của chúng trong thăm dò dầu khí khu vực Đông Nam bể Cửu Long

Làm sáng tỏ hiệu quả hệ phương pháp nghiên cứu các dạng bẫy địa tầng có quy mô nhỏ

và quy luật phân bố phức tạp

Ý nghĩa thực tiễn

Xác định sự tồn tại, cơ chế hình thành và đặc điểm phân bố các bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng phục vụ đánh giá tiềm năng dầu khí khu vực Đông Nam bể Cửu Long

Các kết quả nghiên cứu về phương pháp xác định bẫy địa tầng trong khu vực Đông Nam

bể Cửu Long cho phép áp dụng mở rộng đối với những khu vực có điều kiện địa chất tương tự

Giúp hoạch định cho công tác tìm kiếm thăm dò các đối tượng dầu khí tiềm năng mới cũng như thẩm lượng – phát triển các phát hiện dầu khí trong khu vực Đông Nam bể Cửu Long

Luận điểm bảo vệ

Luận điểm 1:

Các bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long có dạng thân cát (biến đổi tướng), vát nhọn và bào mòn cắt cụt (nằm dưới bất chỉnh hợp), được hình thành do sự biến đổi thành phần thạch học, vát nhọn các thân cát hoặc do quá trình cắt cụt và chôn vùi địa tầng phía dưới Chúng được thành tạo trong môi trường lục

Trang 25

Những điểm mới của luận án

- Luận giải chi tiết tướng – môi trường trầm tích cho từng hệ thống trầm tích trong Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long

- Khẳng định được sự tồn tại, đặc trưng hình thái và quá trình hình thành các bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long

- Xác định được đặc điểm phân bố, đặc trưng chứa – chắn của các bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng từ đó đánh giá tiềm năng dầu khí của chúng trong khu vực Đông Nam bể Cửu Long

Cấu trúc của luận án

Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương, phần kết luận và kiến nghị, danh mục các công trình đã công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo, 07 bảng biểu, 87 hình vẽ minh họa Các chương mục chính của luận án bao gồm:

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan về khu vực Đông Nam bể Cửu Long và tình hình nghiên cứu bẫy địa tầng

Trang 26

xxiv

Chương 2: Tổng quan về bẫy địa tầng và hệ phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Đặc trưng hình thái và quá trình hình thành các bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long

Chương 4: Đặc điểm phân bố, đặc trưng vỉa chứa và tiềm năng dầu khí các bẫy địa tầng trong trầm tích Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể Cửu Long

Kết luận và kiến nghị

Trang 27

1

LONG VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BẪY ĐỊA TẦNG

Vị trí địa lý tự nhiên khu vực Đông Nam bể Cửu Long

Bể Cửu Long có hình bầu dục nằm dọc theo bờ biển Nam Việt Nam kéo dài từ bờ biển Bình Thuận xuống bờ biển Bạc Liêu, bao gồm một phần đất liền cửa sông Cửu Long ở địa phận các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang và Bạc Liêu [1] Khu vực nghiên cứu nằm trong phần diện tích phía Đông Nam của bể Cửu Long thuộc lô dầu khí 09-2/09 và một phần thuộc các lô 15-2, 02/10 và 09-3/12 (Hình 1.1)

Khí hậu khu vực nghiên cứu thuộc miền khí hậu á xích đạo đại dương Nam Biển Đông (nam vĩ tuyến 14), nhiệt độ trung bình năm là 27,9 oC với biên độ nhiệt năm vào khoảng 2,5 oC, chia thành 2 mùa: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm với lượng mưa tương đối cao (khoảng 2000 mm/năm) Gió mùa Đông Bắc chiếm ưu thế từ tháng 10 đến tháng 4, gió mùa Tây Nam chiếm ưu thế từ tháng 5 đến tháng 9 Tốc độ gió trung bình năm là 6,5 m/giây, gió trong bão vượt

Hình 1.1 Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu

Trang 28

2

quá 30-40 m/giây Sóng phụ thuộc vào gió mùa, vào mùa gió Đông Bắc sóng lớn hơn mùa gió Tây Nam Trong bão, sóng có thể lên đến 18m Thủy triều có chế độ bán nhật triều không đều, độ cao thủy triều khoảng 2 – 3,5m [2]

Đặc điểm địa chất khu vực Đông Nam bể Cửu Long

1.2.1 Đặc điểm kiến tạo

Trên bình đồ kiến tạo khu vực hiện tại, bể Cửu Long nằm về phía Nam của phần Đông Nam mảng Âu-Á Đây là bể rift nội lục điển hình, được hình thành và phát triển trên mặt đá kết tinh trước Kainozoi Lịch sử phát triển địa chất của bể Cửu Long có thể chia

ra 3 giai đoạn [1], [3], [4]: 1) Trước tách giãn (Pre-rift): thành tạo và nâng cao tầng

móng trước Kainozoi; 2) Đồng tách giãn (Syn-rift): bắt đầu vào cuối Eocen/đầu

Oligocen - Miocen sớm?, thành tạo các trầm tích của tập F/E dưới, E trên, D, C, BI và

3) Sau tách giãn: Miocen giữa đến hiện nay, thành tạo các trầm tích tập BII, BIII và A

Thời kỳ trước tách giãn: trước Kainozoi, đặc biệt vào cuối Jura đến đầu Paleogen là

thời gian thành tạo và nâng cao đá móng macma xâm nhập Do tác động của quá trình

va chạm mảng Ấn Độ vào mảng Âu-Á và hình thành đới hút chìm dọc theo cung Sunda (Hình 1.2) Các thành tạo đá macma Mezozoi muộn – Kainozoi sớm và trầm tích cổ trước đó bị phá vỡ thành các khối tảng và căng giãn khu vực theo phương TB-ĐN Đây

là giai đoạn san bằng địa hình trước khi hình thành bể trầm tích Cửu Long Địa hình bề mặt bóc mòn của móng kết tinh trong phạm vi khu vực bể lúc này không hoàn toàn bằng phẳng, có sự đan xen giữa các thung lũng và đồi núi thấp, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các trầm tích lớp phủ sau đó [1]

Thời kỳ đồng tách giãn: Được khởi đầu vào cuối Eocen/đầu Oligocen Sự va chạm giữa

các mảng Ấn Độ và Âu-Á vào đầu Kainozoi đã làm cho vi mảng Indonisia bị thúc trồi

về phía ĐN theo các đứt gãy trượt bằng lớn như Sông Hồng, Sông Hậu – Three Pagoda tạo nên các trũng Kainozoi trên các đới khâu ven rìa, trong đó có bể Cửu Long Bể Cửu Long được hình thành trên các vùng sụt lún khu vực và đã trải qua 2 pha căng giãn trong thời kỳ tách giãn [1], [4]

Trang 29

3

Pha thứ nhất diễn ra trong giai đoạn Eocen giữa – Oligocen sớm, ứng với thời kỳ hình thành bể Đây là thời kỳ tạo ra các trũng nhỏ hẹp và cục bộ có hướng TB-ĐN và Đ-T (Hình 1.3) [4]

Hình 1.2 Sơ đồ vị trí kiến tạo của bể Cửu Long và khu vực nghiên cứu trong bình

đồ kiến tạo khu vực Đông Nam Á, thời kỳ trước tách giãn – Eocen giữa [3]

Trang 30

4

Pha căng giãn thứ hai diễn ra vào cuối Oligocen muộn - Miocen sớm (?) với hướng chủ yếu là ĐB-TN Hoạt động căng giãn mở rộng thời kỳ này đã tạo nên một bể trầm tích

có ranh giới khép kín như một hồ lớn, ít chịu ảnh hưởng của biển (Hình 1.4) [4]

Thời kỳ sau tách giãn: từ Miocen giữa (?) đến nay, là giai đoạn sụt lún nhiệt bình ổn,

chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường biển [4]

1.2.2 Cấu trúc địa chất

Bể Cửu Long tiếp giáp với đất liền về phía TB, ngăn cách với bể Nam Côn Sơn bằng đới nâng Côn Sơn, phía TN là đới nâng Khorat- Natuna và phía ĐB là đới cắt trượt Tuy Hòa ngăn cách với bể Phú Khánh Bể Cửu Long được xem là bể trầm tích Kainozoi Hình 1.3 Sơ đồ minh họa các hoạt động kiến tạo khu vực Đông Nam Á thời kỳ

Eocen giữa - Oligocen [3]

Trang 31

5

khép kín điển hình của Việt Nam Tuy nhiên, nếu tính theo đường đẳng dày trầm tích

1000 m thì bể có xu hướng mở về phía đông bắc, về phía Biển Đông hiện tại [1]

Theo các tác giả địa chất dầu khí Việt Nam [1], đơn vị cấu trúc bậc I bể Cửu Long được chia thành các đơn vị cấu trúc bậc II bao gồm: Trũng phân dị Bạc Liêu, Trũng phân dị

Cà Cối, Đới nâng Cửu Long, Đới nâng Phú Quý và Trũng chính bể Cửu Long Trũng chính bể Cửu Long được phân chia chi tiết thành các đơn vị cấu trúc nhỏ hơn (bậc III) bao gồm: trũng Đông Bắc, trũng Tây Bạch Hổ, trũng Đông Bạch Hổ, sườn nghiêng Tây Bắc, sườn nghiêng Đông Nam, đới nâng Trung tâm, đới nâng phía Bắc, đới nâng phía Đông, đới phân dị Đông Bắc và đới phân dị Tây Nam (Hình 1.5) [1] Khu vực nghiên cứu thuộc sườn nghiêng Đông Nam và một phần trũng Đông Bạch hổ

Hình 1.4 Sơ đồ minh họa hoạt động kiến tạo khu vực Đông Nam Á thời kỳ tạo rift

muộn – Miocen sớm [3]

Trang 32

6

1.2.3 Đặc điểm địa tầng

Trong khu vực Đông Nam của bể Cửu Long đã có nhiều giếng khoan thăm dò/thẩm lượng xuyên qua các tập trầm tích Kainozoi và vào móng Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu giếng khoan trong khu vực và kết hợp với cột địa tầng chung của bể Cửu Long, các phân vị địa tầng có mặt trong vùng nghiên cứu bao gồm đá móng cổ trước Kainozoi và trầm tích lớp phủ Kainozoi [1], [5] (Hình 1.6):

Trang 33

7

Hệ Paleogen

Thống Eocen

đất liền) Hệ tầng được đặc trưng bởi trầm tích vụn thô: cội sạn kết, cát kết đa khoáng, xen kẽ các lớp mỏng bột kết và sét kết hydromica – clorit – sericit Trầm tích có màu

Hình 1.6: Cột địa tầng tổng hợp bể Cửu Long [5]

Trang 34

8

nâu đỏ, đỏ tím, tím lục sặc sỡ với độ chọn lọc rất kém, đặc trưng kiểu molas lũ tích lục địa Chiều dày có thể đạt đến 600 m tại các vùng trũng sâu [1]

Thống Oligocen

Trầm tích gồm chủ yếu là sét kết, bột kết và cát kết, có chứa các vỉa than mỏng và sét – vôi, được thành tạo trong môi trường lục địa, tướng sông hồ Chiều dày trầm tích biến đổi từ 0 m tại các phần nâng và có thể đạt tới 800 m trong các địa hào [1]

hệ tầng Trà Tân đôi chỗ nằm bất chỉnh hợp lên hệ tầng Trà Cú [1]

Liên kết với tài liệu địa chấn, nóc hệ tầng Trà Tân tương ứng với mặt phản xạ địa chấn

C Hệ tầng Trà Tân chia thành hai phần mặt cắt tương ứng với hai tập địa chấn D (phần dưới) và C (phần trên) [5] Trầm tích tập D gồm chủ yếu là sét nâu đậm, nâu đen, cát kết và bột kết, tỉ lệ cát/sét khoảng 40-60%, đôi nơi có xen lớp mỏng đá vôi, than Đi ra vùng rìa nơi tiếp giáp với đới nâng Côn Sơn, phần trên của tập D có các lớp cát dày Tập

C gồm chủ yếu sét kết màu nâu đến nâu đậm, nâu đen, rất ít sét màu đỏ, cát kết và bột kết, tỉ lệ cát/sét khoảng 35-50% Các trầm tích của hệ tầng được tích tụ chủ yếu trong các môi trường đồng bằng sông, bồi tích, đồng bằng ven biển và hồ [1]

Hệ Neogen

Thống Miocen

trầm tích của hệ tầng được tích tụ trong môi trường đồng bằng aluvi - đồng bằng ven bờ

ở phần dưới, chuyển dần lên đồng bằng ven bờ - biển nông ở phần trên Hệ tầng Bạch

Trang 35

9

bao gồm chủ yếu là cát kết hạt thô - trung, bột kết xen kẽ với các lớp sét kết màu xám, nhiều màu, đôi khi bắt gặp lớp than mỏng, lắng đọng chủ yếu trong các môi trường sông – aluvi, đầm lầy và đồng bằng ven bờ Bề dày hệ tầng thay đổi từ 250 – 900 m [1]

bao gồm chủ yếu là cát hạt trung, xen kẽ với bột và các lớp sét mỏng màu xám hay nhiều màu, đôi khi gặp các vỉa carbonat hoặc than mỏng, thành tạo trong môi trường đầm lầy – đồng bằng ven bờ đến biển nông Chiều dày trầm tích của hệ tầng này khá ổn định và dao động trong khoảng 500 - 750m [1]

mịn với ít lớp mỏng bùn, sét màu xám nhạt chứa phong phú hóa đá biển và glauconit thuộc môi trường trầm tích biển nông, ven bờ, một số nơi có gặp đá carbonat Chúng phân bố và trải đều khắp toàn bể, với bề dày khá ổn định trong khoảng 400 – 700m [1]

1.2.4 Hệ thống dầu khí

Hệ thống dầu khí khu vực nghiên cứu nói riêng cũng như cho bể Cửu Long nói chung

đã được đề cập khá chi tiết trong nhiều công trình nghiên cứu [1], [7], [8]

Đá sinh: Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau [1], [7], [8], [9] cho thấy trong

bể Cửu Long tồn tại ba tầng đá mẹ, bao gồm: Miocen hạ, Oligocen thượng và Oligocen

hạ + Eocen (?) Trong đó hai tầng đủ điều kiện trở thành tầng sinh là: các tập sét

Oligocen thượng chứa phong phú vật liệu hữu cơ với hàm lượng TOC khoảng 3,5 –

6,1% Wt (đôi nơi tới 11 - 12%), kerogen chủ yếu loại II; và các tập sét Oligocen hạ +

Eocen (?) với hàm lượng TOC khoảng 0,97 – 2,5% Wt, kerogen chủ yếu loại II và một

ít loại III [1] Tại khu vực Đông Nam của bể, tầng sinh chủ yếu cho các bẫy địa tầng là tầng Oligocen thượng tại khu vực trũng Trung tâm và khu vực phía Đông Bạch Hổ [10]

Đá chứa: Đá chứa trong khu vực Đông Nam của bể bao gồm đá granitoid nứt nẻ, hang

hốc của móng kết tinh; đá cát kết trong Kainozoi có tuổi từ Oligocen sớm đến Miocen trung [1], [7]

Trang 36

10

Đá móng granitoid nứt nẻ-hang hốc: Là các đới nứt nẻ xen kẽ với các đới chặt xít, chiều

dày biến đổi từ vài centimet tới vài chục mét, đôi khi lớn hơn trăm mét Đá có đặc trưng

độ rỗng thấp (trung bình 1-3%), độ thấm rất cao (hàng nghìn mD) [1]

Đá chứa Oligocen hạ: là các tập cát kết thuộc E trên và E dưới lắng đọng trong các môi

trường quạt bồi tích, sông ngòi trên các phần cao của móng và chuyển dần sang môi trường tiền châu thổ và đầm hồ tại các phần sâu của bể [1] Độ rỗng trung bình trong khoảng 12-16% Độ thấm dao động trong khoảng 1-250 milidarcy [1]

Đá chứa Oligocen thượng: Phần dưới (tập D) cát kết thuộc loại arkose và arkose lithic,

kích thước hạt trung bình tới mịn, đôi khi hạt thô Độ rỗng trong khoảng 10-20% [7] Phần trên (tập C) đá chứa là cát bột kết xen lớp với các tập sét nâu thành tạo trong môi trường châu thổ: lòng sông, đồng bằng ngập lụt và tiền châu thổ Độ rỗng của các đá chứa này khá cao, trong khoảng 12-21%, trung bình khoảng 14% Độ thấm dao động 2-26mD [1] Đá chứa của các bẫy địa tầng trong khu vực nghiên cứu có độ rỗng khoảng 18,3% (tập D) và khoảng 15,5 – 17,3% (tập C) Trong nhiều năm, đối tượng đá chứa Oligocen thượng ít được quan tâm, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu bẫy địa tầng đã chỉ

ra cần đánh giá đầy đủ hơn tiềm năng trong hệ tầng này

Đá chứa Miocen hạ: Phần dưới (BI.1) là các tập cát kết xen kẽ với bột và sét, độ rỗng

13-25% (trung bình 19%), độ thấm trung bình 137 mD Đá chứa thuộc phần trên (BI.2)

có độ rỗng trong khoảng 14-28%, độ thấm trong khoảng 1 – 1300 mD [1]

Đá chứa Miocen trung: gồm các tập cát kết có chiều dày khá lớn Độ rỗng có thể đạt

30% và độ thấm có thể tới hàng trăm mD [7]

Đá chắn: Trong khu vực Đông Nam cũng như trong bể Cửu Long có bốn tầng chắn

chính, bao gồm một tầng chắn khu vực và ba tầng chắn địa phương [1], [7]

Tầng chắn khu vực là tầng sét Rotalid thuộc nóc hệ tầng Bạch Hổ, có tuổi Miocen sớm

Đây là tầng sét khá sạch, phát triển rộng khắp, chiều dày khá ổn định khoảng 180-200m

Đá có cấu tạo khối, hàm lượng sét cao (90 – 95 %), kiến trúc thuộc loại phân tán, kích thước hạt mịn Đây là tầng chắn tốt cho cả dầu và khí [1], [7] Trong khu vực nghiên cứu, đây là tầng chắn liên quan đến bẫy địa tầng dạng cắt cụt trong Tập D

Trang 37

11

Tầng sét địa phương I – là các tập sét nằm trong tầng Miocen hạ, chiều dày dao động

60-150m, hàm lượng sét trung bình khoảng 51% Đây là tầng chắn thuộc loại tốt [1] Trong vùng nghiên cứu, tầng chắn này có liên quan đến chắn nóc/chắn biên cho các bẫy địa tầng dạng cắt cụt trong tập D và bẫy địa tầng dạng vát nhọn trong tập C

Tầng sét địa phương II – tầng sét thuộc hệ tầng Trà Tân (tập D và C) bao gồm các vỉa

sét riêng lẻ Chiều dày của vỉa sét dao động từ vài mét đến vài trăm mét, có nơi đạt trên nghìn mét Sét chủ yếu có nguồn gốc đầm hồ, tiền châu thổ, phân lớp dày và có khả năng chắn tốt [1] Đây là các tầng chắn quan trọng đối với các bẫy địa tầng trong khu vực nghiên cứu Chúng đóng vai trò cả chắn nóc, chắn biên và chắn đáy

Tầng sét địa phương III – tầng sét thuộc hệ tầng Trà Cú Đây là tầng chắn mang tính

cục bộ, có diện phân bố hẹp Chúng thường phát triển bao quanh các khối nhô móng cổ, hiếm khi phủ cả phần đỉnh của khối nâng móng Sét chủ yếu là đầm hồ, phân lớp dày,

có khả năng chắn tốt [1]

Bẫy: Các loại bẫy trong khu vực Đông Nam nói riêng cũng như trong bể Cửu Long nói

chung bao gồm bẫy cấu tạo, bẫy địa tầng và bẫy hỗn hợp [1], [7], [11] Chúng được hình

thành chủ yếu vào giai đoạn đồng tách giãn và đầu giai đoạn sau tách giãn [1]

Bẫy cấu tạo: là loại bẫy phổ biến ở bể Cửu Long gồm hai loại chính: bẫy nếp lồi và bẫy

tựa vào đứt gãy, được hình thành do sự biến dạng của các lớp đất đá gây nên bởi hoạt động kiến tạo sau trầm tích hoặc phủ lên các địa lũy

Bẫy phi cấu tạo (địa tầng): Một số nghiên cứu cho thấy có thể tồn tại các bẫy phi cấu

tạo trong bể Cửu Long cũng như tại khu vực Đông Nam của bể [1], [7], [11], [12] Đây

là một dạng bẫy khó phát hiện và mức độ rủi ro cao trong quá trình tìm kiếm thăm dò,

có thể tồn tại ở một số lô như 17, 09-2/09, 01/10&02/10, 09-3/12 cũng như tại khu vực phía Bắc bể Cửu Long Tại khu vực lô 09-2/09, các bẫy này có thể là dạng thạch học, địa tầng hay liên quan đến bất chỉnh hợp Các nghiên cứu trong luận án này góp phần làm sáng tỏ sự tồn tại và đặc điểm các bẫy địa tầng ở khu vực Đông Nam bể Cửu Long

Bẫy hỗn hợp: được hình thành do sự kết hợp của các yếu tố cấu trúc và địa tầng

Trang 38

12

Thời gian/ Dịch chuyển dầu khí và nạp bẫy: Trong phạm vi bể Cửu Long, dầu khí

được sinh ra từ hai tầng đá mẹ chính là Oligocen thượng và Oligocen hạ + Eocen (?) Thời điểm sinh dầu của tầng đá mẹ Oligocen hạ bắt đầu từ Miocen sớm song cường độ sinh dầu mạnh và giải phóng dầu ra khỏi đá mẹ và đặc biệt khối lượng đá mẹ đáng kể nằm trong pha sinh dầu lại xảy ra vào khoảng thời gian cuối Miocen giữa, đầu Miocen muộn tới ngày nay Quá trình sinh dầu của tầng đá mẹ Oligocen thượng xảy ra muộn hơn, chủ yếu mới bắt đầu từ cuối Miocen [1] Tại khu vực nghiên cứu, dầu khí được sinh ra từ các trũng Trung tâm và phía Đông Bạch Hổ [10] Dầu khí từ tầng đá mẹ này sau khi được sinh ra sẽ di chuyển dọc theo các lớp trầm tích vào bẫy Thời gian sinh dầu khí trong bể muộn hơn thời gian hình thành các bẫy, do đó có điều kiện thuận lợi cho việc tích tụ dầu khí vào các bẫy [1]

1975 Nằm trong chương trình khảo sát địa vật lý khu vực nhằm phân chia các lô, một

số tuyến địa chấn được thực hiện cắt qua bể Cửu Long, qua đó xác định được sự tồn tại của bể Sau khi khảo sát địa vật lý trong lô 09 và phân tích các tài liệu này, công ty Mobil đã khoan giêng khoan tìm kiếm đầu tiên trong bể Cửu Long trên cấu tạo Bạch Hổ (BH-1X) và thu được dòng dầu công nghiệp từ thử vỉa với lưu lượng 342 m3/ngày đêm trong cát kết Miocen hạ Kết quả này đồng thời khẳng định được tiềm năng dầu khí của

bể Sau đó, công ty Deminex đã khoan bốn giếng khoan trên các cấu tạo triển vọng nhất Trà Tân (15-A-1X), Sông Ba (15-B-1X), Cửu Long (15-C-1X) và Đồng Nai (15-G-1X) Bốn giếng này đều có biểu hiện dầu khí trong cát kết tuổi Miocen sớm và Oligocen và khẳng định được sự có mặt của đá chứa trong các tầng này

Sau những thành công đó, các hoạt động thu nổ địa chấn và khoan thăm dò được triển khai tích cực hơn nhằm đánh giá tiềm năng dầu khí của các khu vực khác nhau trong bể Cửu Long Tuy nhiên, đối tượng tìm kiếm thăm dò trong bể còn giới hạn tập trung vào các nếp lồi trong trầm tích Oligocen và Miocen

Trang 39

13

Từ sau phát hiện dầu trong móng nứt nẻ trước Kainozoi của Vietsopetro, các hoạt động dầu khí trong bể Cửu Long đã được triển khai tích cực hơn Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí không chỉ giới hạn trong các thành tạo lục nguyên tuổi Oligocen – Miocen dạng nếp lồi mà còn mở rộng ra các đối tượng móng granitoid nứt nẻ trước Kainozoi Bên

Bảng 1.1 Lịch sử thăm dò – khai thác bể Cửu Long và vùng nghiên cứu [1] có cập

Trước

1975

~15.000 km tuyến địa chấn

2D (Ray Geophysical Mandrel, Mobil)

BH-1X (Mobil)

- Xác định được bể Cửu Long

- Phát hiện dầu trong tầng Miocen hạ

- Khẳng định được triển vọng và tiềm năng dầu khí của bể Cửu Long

1975

-

1979

> 16.000 km tuyến địa chấn

2D (CGG, Geco, Deminex)

6 GK (Deminex:

4 GK;

PVN: 2 GK)

- Xác định được các tầng phản xạ chính trong bể Cửu Long

- Khẳng định tồn tại đá chứa dầu khí trong Miocen hạ và Oligocen

Một loạt phát hiện dầu khí rộng khắp bể Cửu Long và đưa vào khai thác các mỏ: STĐ, SV, RĐ, CNV với các đối tượng địa chất chính: Móng granitoid nứt nẻ trước Kainozoi, Oligocen và Miocen

>400 GK

TD, TL và

KT của các JOCs, PSCs, VSP và PVEP

- Một loạt các phát hiện dầu khí nhỏ-cận biên trong các đối tượng chứa truyền thống: khối nhô Móng nứt nẻ trước Kainozoi và nếp lồi tuổi Oligocen đến Miocen trung

- Phát hiện dầu khí trong bẫy địa tầng thuộc Oligocen thượng khu vực Đông Nam bể (Cá Tầm, Song Ngư, Kình Ngư Trắng Nam )

Trang 40

14

cạnh đó, công tác khai thác dầu khí trong bể Cửu Long cũng được đánh dấu bằng việc Vietsevpetro khai thác tấn dầu đầu tiên từ hai đối tượng Miocen và Oligocen hạ của mỏ Bạch Hổ Từ đó công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí được triển khai mạnh

mẽ tại nhiều khu vực trong bể

Cho đến nay sau một thời gian đẩy mạnh công tác TKTD, bằng kết quả các giếng khoan, một loạt các tích tụ dầu mỏ có dạng bẫy cấu tạo truyền thống được phát hiện như Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Sư Tử Trắng, Sư Tử Nâu, Hải Sư Đen, Thăng Long, Đông Đô Gần đây hơn là các phát hiện dầu khí Kình Ngư Trắng, Kình Ngư Vàng, Kình Ngư Trắng Nam, Cá Tầm đã cho thấy tiềm năng dầu khí của khu vực Đông Nam của bể có triển vọng cao và cần tiếp tục đầu tư cho công tác TKTD Đặc biệt các kết quả khoan thăm

dò – thẩm lượng tại những tích tụ dầu khí khu vực này (Kình Ngư Trắng Nam, Song Ngư, Cá Tầm ) cho thấy dầu khí được tích tụ trong cả các bẫy dạng địa tầng Điều này

mở ra một hướng mới trong tìm kiếm thăm dò không chỉ cho khu vực Đông Nam mà cho toàn bể Cửu Long nói chung, đòi hỏi các hoạt động tìm kiếm thăm dò trong bể cần được đầu tư hơn nữa vào các đối tượng bẫy dạng địa tầng/hỗn hợp Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, việc nghiên cứu chi tiết về cơ chế hình thành cũng như quy luật phân bố các bẫy dạng địa tầng trong khu vực Đông Nam bể Cửu Long là cấp thiết để từ đó có thể đánh giá sát thực hơn tiềm năng dầu khí của chúng giúp hoạch định chiến lược tìm kiếm thăm dò dầu khí của khu vực nghiên cứu trong giai đoạn tiếp theo

Tình hình thăm dò nghiên cứu bẫy địa tầng ở Việt Nam

Trong quá trình tìm kiếm thăm dò dầu khí ở Việt Nam, ngoài các đối tượng bẫy cấu tạo trong trầm tích Oligocen, Miocen và các đới nứt nẻ trong móng granitoid trước Kainozoi thì việc tìm kiếm thăm dò các bẫy địa tầng cũng đã được quan tâm từ nhiều năm nay

Từ những năm 1980s, công tác nghiên cứu các bẫy địa tầng phục vụ cho tìm kiếm thăm

dò dầu khí trong bể Cửu Long đã được đề cập trong công trình nghiên cứu giữa Xí nghiệp liên doanh Dầu khí VietsovPetro và Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội Sau đó vào những năm 1990s, Trương Minh đã chủ biên công trình nghiên cứu các bẫy phi cấu tạo thềm lục địa Việt Nam Những công trình nghiên cứu đó đã định hướng cho việc tìm kiếm thăm dò các bẫy phi cấu tạo mang tính chất khu vực [13]

Ngày đăng: 18/06/2021, 10:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm