1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt

111 4,6K 27
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh
Người hướng dẫn PGS TS Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 683,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GDKNS nhằm giúp các em có thêm kiến thức về hành vi, thái độ, thói quenlành mạnh, phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xửphù hợp với những người khác và với xã h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ NGỌC MINH

TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 4 TRONG

DẠY HỌCMÔN TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Giáo Dục Học (Bậc Tiểu Học)

Mã số: 60.14.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN THỊ MỸ TRINH

NGHỆ AN, 2012

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp của luận văn 4

9 Cấu trúc của luận văn 4

NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu 5

1.2 Các khái niệm cơ bản 8

1.3 Một số đặc điểm tâm sinh lí của HS 12

1.4 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tích hợp GDKNS cho HS 15

1.5 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tích hợp GDKNS cho HS trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4: 20

* Kết luận chương 1 37

Chương 2: THỰC TRẠNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4 38

2.1 Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng 38

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 39 2.3 Thực trạng kết quả tích hợp GDKNS và công tác kiểm tra, đánh

Trang 3

giá kết quả tích hợp GDKNS trong DH phân môn Tập đọc lớp 4 57

* Kết luận chương 2 61

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ

NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 4 TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT 63

3.1 Nguyên tắc xây dựng giải pháp 633.2 Các biện pháp tích hợp GDKNS cho HS trong DH môn Tiếng

Việt lớp 4 643.3 Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất

84

* Kết luận chương 3 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

GD & ĐT Giáo dục và Đào tạo

1 Lí do chọn đề tài:

Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hộikhóa X, kì họp thứ 10 về phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự

Trang 5

giác, chủ động, sáng tạo của học sinh (HS); phù hợp với đặc điểm của từng lớphọc, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm;rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đemlại niềm vui, hứng thú học tập cho HS Nội dung giáo dục phổ thông phải bảođảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 và Kế hoạch số BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD & ĐT)trong đó chú trọng các hoạt động về giáo dục kĩ năng sống (GDKNS) cho HSthông qua các môn học, về hoạt động giáo dục đạo đức và xây dựng quy tắc ứng

307/KH-xử văn hoá trong nhà trường Đứng trước cảnh báo một lớp trẻ thiếu kĩ năngsống, thiếu kiến thức tối thiểu để các em tự lập và tự tin trong cuộc sống…Bộ

GD & ĐT đặt ra yêu cầu GDKNS cho HS phải bảo đảm các yếu tố: giúp HS ýthức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; giúp HS hiểu biết vềthể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành vi, thói quen ứng xử có văn hoá,hiểu biết và chấp hành pháp luật

GDKNS nhằm giúp các em có thêm kiến thức về hành vi, thái độ, thói quenlành mạnh, phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xửphù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực phùhợp trước các tình huống của cuộc sống Vì các em chính là mầm non của đấtnước, là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội

Từ nhiều năm nay, các nước trên thế giới đưa môn GDKNS vào chươngtrình học ở bậc Tiểu học Tại Việt Nam Những năm gần đây cũng đã xuất hiệnloại hình GDKNS vào chương trình, song chủ yếu ở các thành phố lớn như HàNội, Thành phố Hồ Chí Minh… và tập trung chủ yếu vào môn Đạo đức và hoạtđộng ngoài giờ lên lớp mà chưa chú trọng tích hợp GDKNS trong các môn học

và hoạt động khác Tiếng Việt là môn học quan trọng ở trường Tiểu học, chứanhiều tiềm năng để tích hợp GDKNS cho HS Qua từng nội dung bài học có thể

Trang 6

phát triển rất nhiều kĩ năng cho HS như: vấn đáp, giải quyết vấn đề, tư duy sángtạo, trình bày suy nghĩ, thể hiện xúc cảm …

Vì các lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Tích hợp giáo dục kĩnăng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn Tiếng Việt.”

2 Mục đích nghiên cứu:

Đề xuất các biện pháp tích hợp nội dung GDKNS trong môn Tiếng Việtlớp 4, từ đó góp phần nâng cao chất lượng GDKNS cho HS Tiểu học

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Khách thể nghiên cứu:

Quá trình GDKNS cho HS lớp 4 thông qua dạy học (DH) môn Tiếng Việt

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Biện pháp tích hợp nội dung GDKNS trong DH môn Tiếng Việt cho HS lớp4

3.3 Phạm vi nghiên cứu:

Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng và tổ chức thực nghiệm để kiểmchứng tính hiệu quả của các biện pháp tích hợp nội dung GDKNS ở TrườngTiểu học Tân Sơn Nhì, Trường Tiểu học Lê Văn Tám, Trường Tiểu học ĐoànThị Điểm Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh với 30 cán bộ quản lí(CBQL), 60 giáo viên (GV) cùng 120 học sinh (HS) lớp 4 và 120 phụ huynh(PH) của các trường này

4 Giả thuyết khoa học:

Nếu đề xuất thực hiện được các biện pháp tích hợp nội dung GDKNS trong

DH môn Tiếng Việt có tính khoa học, khả thi thì có thể nâng cao chất lượngGDKNS cho HS

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về vấn đề tích hợp nội dung GDKNS trong

DH môn Tiếng Việt lớp 4

Trang 7

5.2 Nghiên cứu thực trạng tích hợp nội dung GDKNS trong môn TiếngViệt cho HS lớp 4

5.3 Đề xuất và tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biệnpháp tích hợp nội dung GDKNS trong DH môn Tiếng Việt lớp 4

6 Phạm vi nghiên cứu:

6.1 Không gian và địa điểm nghiên cứu:

Đề tài được thực hiện có phạm vi nghiên cứu ở các trường Tiểu học trên địabàn Quận Tân Phú,TP.HCM

6.2 Về nội dung nghiên cứu:

Tập trung xây dựng một số biện pháp tích hợp GDKNS cho HS lớp 4 trongdạy học môn Tập đọc

7 Phương pháp nghiên cứu:

7.1.Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:

Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, cụ thể hóa các tàiliệu lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu

7.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Sử dụng phương pháp điều tra, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu sản phẩmhoạt động nhằm tìm hiểu thực trạng về vấn đề tích hợp nội dung GDKNS trong

DH Tiếng Việt lớp 4

Sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia để khảo nghiệm tính khả thi củacác biện pháp được đề xuất

7.3.Phương pháp thống kê toán học:

Sử dụng toán thống kê để xử lí số liệu thu được về phương diện định lượng

và định tính

8 Đóng góp của luận văn :

Đóng góp về mặt lí luận: làm sáng tỏ cơ sở lí luận về GDKNS và GDKNScho HS lớp 4 trong DH môn Tiếng Việt

Trang 8

Đóng góp về mặt thực tiễn: đề xuất những giải pháp có tính hiện thực vàkhả thi góp phần GDKNS cho HS lớp 4, nhằm nâng cao chất lượng GDKNScho HS Tiểu học của quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

9 Cấu trúc luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luậnvăn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng sống trong dạy

học Tiếng Việt lớp 4

Chương 3: Một số biện pháp tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng sống trong

dạy học Tiếng Việt lớp 4

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 4 TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài:

Năm 1996 Uỷ ban Quốc tế về Giáo dục cho thế kỉ XXI do Jaccque Delorlàm chủ tịch đưa ra báo cáo nhằm khẳng định vai trò quan trọng của giáo dụcđối với sự phát triển tương lai của cá nhân, dân tộc, nhân loại và xem giáo dục là

“kho báu tiềm ẩn” với 4 vấn đề chính là mục tiêu hàng đầu của UNIDEF, màthực chất đó chính là cách tiếp cận kĩ năng sống (KNS):

- Học để biết

- Học để làm

- Học để tự khẳng định mình

Trang 9

Với tổ chức UNIDEF đã tiến hành dự án ở 5 nước Đông Nam Á nhằm vào cácvấn đề khác nhau liên quan đến KNS Dự án này chia làm 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Xác định quan niệm của từng nước

- Giai đoạn 2: Đưa ra những chỉ dẫn đo đạc, đánh giá và xây dựng cáccông cụ kiểm tra

Ở một số quốc gia khác, GDKNS được lồng ghép vào các môn học, chủ

đề, nội dung có liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc trên thực tế

Như vậy, việc GDKNS cho HS là một vấn đề mà hiện nay được quan tâm

và thực hiện rộng rãi và trở thành xu thế chung của nhiều quốc gia trên thế giới

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước:

Trang 10

Thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông Việt Nam từnhững năm 1995 - 1996 thông qua dự án “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sứckhoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhàtrường” do UNICEF phối hợp Bộ GD & ĐT cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Namthực hiện Từ đó đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã tiếnhành GDKNS gắn với giáo dục các vấn đề xã hội như: phòng chống ma túy,phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em…Giáo dục phổthông nước ta những năm vừa qua đã được đổi mới cả về mục tiêu, nội dung vàphương pháp dạy học gắn với 4 trụ cột giáo dục của thế kỉ XXI : “Học để biết,học để làm, học để tự khẳng định, học để cùng chung sống”.

Vấn đề tích hợp GDKNS còn mới mẻ nên chưa có nhiều công trìnhnghiên cứu về nó, nếu có cũng mới chỉ dừng lại ở sự tiếp cận trên một vàiphương diện Có thể thấy điều đó qua một số dự án như: Dự án "Trường họcnâng cao sức khoẻ” của Bộ GD & ĐT, Bộ y tế, tổ chức Y tế thế giới (WHO);

Dự án “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở” của Bộ GD & ĐT.Còn ở bậc Tiểu học thì dự án này đang triển khai thực hiện

Bên cạnh đó, ở Việt Nam ta cũng có thể điểm qua một số công trình nghiên

cứu xem xét vấn đề GDKNS cho HS Tiểu học như: Giáo dục kỹ năng sống của

Giáo sư Nguyễn Võ Kỳ Anh (Giám đốc trung tâm giáo dục môi trường và sứckhoẻ cộng đồng (CECHE) [1]; Giáo dục kỹ năng sống bảo vệ sức khoẻ vàphòng chống HIV/AIDS trong trường học (Bộ GD&ĐT, Vụ Giáo dục thể chất);Tiếp cận giáo dục kĩ năng sống trong trong giảng dạy vệ sinh môi trường ở Tiểuhọc (Bộ GD&ĐT, Vụ Giáo dục thể chất); Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em cóhoàn cảnh khó khăn (Bộ GD & ĐT, Viện chiến lược và chương trình giáo dục);Tài liệu tập huấn "Giáo dục sống khoẻ mạnh, kĩ năng sống và kĩ năng truyềnthông" cho trẻ em và trẻ chưa thành niên (Lê Thị Minh Châu, UNICEF),

Đã có nhiều bài viết cũng như nhiều công trình nghiên cứu khoa học vềvấn đề này của các tác giả như: TS Lưu Thị Thuỷ; TS Nguyễn Kim Dung; TS

Trang 11

Vũ Thị Sơn; TS Huỳnh Văn Sơn; PGS.TS Nguyễn Thị Hường; PGS.TSNguyễn Thanh Bình, PGS TS Nguyễn Dục Quang; Bác sĩ Lê Công Phượng, Mặc dầu vậy, cho đến hiện tại thì chưa có một công trình nào nghiên cứu vấn

đề tích hợp GDKNS cho cho HS lớp 4 trong DH môn Tiếng Việt

Trang 12

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài:

1.2.1 Tích hợp:

Theo từ điển tiếng Việt, “tích hợp” là “sự hợp nhất, sự hòa nhận, sự kết

hợp” Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp.[24]

Theo Từ điển Giáo dục học thì tích hợp là “hành động liên kết các đốitượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vựckhác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” Kế hoạch giảng dạy ở đây cầnđược hiểu trong một phạm vi rộng, từ kế hoạch giảng dạy của một chương trìnhđến kế hoạch giảng dạy của một môn học, kế hoạch giảng dạy của bài học Cũngtheo các tác giả của từ điển này thì có hai kiểu tích hợp là tích hợp dọc và tíchhợp ngang với nhiều nội dung tích hợp khác nhau

Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sựhợp nhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thốngnhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng Hiểu như vậy,tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau đó

Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác

động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội

nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống

Như vậy, trong dạy học, tích hợp có thể được xem như sự liên kết các đốitượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sựthống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy họctốt nhất.[33]

Trang 13

1.2.2 Kĩ năng sống:

Có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống:

- Quan niệm cho rằng KNS (life skill) là năng lực cá nhân để thực hiệnđầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày

- Quan niệm xem KNS là những kĩ năng thiết thực mà con người cần có

để có cuộc sống an toàn và khoẻ mạnh

- Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), KNS là những kĩ năng tâm lí xã hội

để tương tác với người khác và giải quyết những vấn đề, những tình huống củacuộc sống hàng ngày một cách có hiệu quả

- Quan niệm cho rằng, KNS là những khả năng tâm lí xã hội của ngườicho những hành vi thích ứng và tích cực giúp cho bản thân đối phó hiệu quả vớinhững đòi hỏi và thử thách của cuộc sống

- Theo UNICFEE, “Kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hìnhthành hành vi nới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức,hình thành thái độ và kĩ năng.”

- Theo từ điển Wikipedia, “Kĩ năng sống là tập hợp các kĩ năng của conngười có được qua việc học hoặc việc trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống,dùng để giải quyết những vấn đề mà con người thường phải đối mặt trong cuộcsống hằng ngày.”

- Theo Y tế thế giới (WHO) “Kĩ năng sống là khả năng để có hành vithích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu

và thách thức của cuộc sống hàng ngày

- Theo từ điển Wikipedia, “Kĩ năng sống là tập hợp các kĩ năng của conngười có được qua việc học hoặc việc trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống,dùng để giải quyết những vấn đề mà con người thường phải đối mặt trong cuộcsống hằng ngày.”

Từ những quan điểm trên có thể thấy KNS bao gồm một loạt các kĩ năng

cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Cần phân biệt KNSvới các kĩ năng quan trọng được gọi là “kĩ năng của cuộc sống” mà con ngưới

Trang 14

có được trong quá trình trưởng thành như đọc, đếm, các kĩ năng kĩ thuật và thựchành…

Bản chất của KNS là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cầnthiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói mộtcách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xửphù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trướccác tình huống của cuộc sống.[3]

1.2.3 Giáo dục kĩ năng sống:

Trong thực tiễn, GDKNS được xem xét ở các mặt:

- Như là một lĩnh vực học tập: như giáo dục sức khoẻ, HIV/AIDS Ở lĩnh

vực này đã tồn tại cách tiếp cận kỹ năng sống từ khá lâu

- Như là một cách tiếp cận giúp giáo viên tiến hành giáo dục có chất

lượng xuyên suốt các lĩnh vực học tập

UNICEF, UNESCO cũng quan niệm rằng, GDKNS không phải là lĩnhvực hay môn học, nhưng nó được áp dụng lồng vào những kiến thức, giá trị và

kỹ năng quan trọng trong quá trình phát triển của cá nhân và học tập suốt đời

Như vậy, GDKNS được xem như là một cách tiếp cận giáo dục nhằm mụcđích giúp con người có những khả năng tâm lý xã hội để tương tác với ngườikhác và giải quyết những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngàymột cách có hiệu quả

Có thể nói GDKNS không thể thiếu được trong giáo dục, cả giáo dụcchính qui và không chính qui

1.2.4 Tích hợp GDKNS:

Theo UNICFEE thì tích hợp GDKNS là giáo dục dựa trên các KNS cơbản và là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sựcân bằng giữa kiến thức, thái độ, hành vi Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyểnđổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, haytin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và như thế nào)

Trang 15

KNS được hình thành theo một quá trình với một cách tự nhiên quanhững va chạm, những trải nghiệm trong cuộc sống và qua giáo dục mà có Vìthế, tích hợp GDKNS là con đường hiệu quả để hình thành KNS cho HS Tiểuhọc

Có 21 KNS được xem là nội dung giáo dục trong nhà trường phổ thôngnhư:

1 Kĩ năng tự nhận thức

2 Kĩ năng xác định giá trị

3 Kĩ năng kiểm soát cảm xúc

4 Kĩ năng ứng phó với căng thẳng

5 Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ

6 Kĩ năng thể hiện sự tự tin

7 Kĩ năng giao tiếp

8 Kĩ năng lắng nghe tích cực

9 Kĩ năng thể hiện sự cảm thông

10 Kĩ năng thương lượng

11 Kĩ năng hợp tác

12 Kĩ năng tư duy phê phán

13 Kĩ năng tư duy sáng tạo

19 Kĩ năng quản lý thời gian

20 Kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin

21 Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn

Trang 16

Nhìn chung ta thấy có nhiều KNS, nhưng qua các nghiên cứu lý luận vàthực tiễn giáo dục tiểu học, chúng tôi nhận thấy các KNS đặc thù và có nhiều ưuthế tích hợp trong DH môn Tiếng Việt bao gồm:

- Kĩ năng giao tiếp; lắng nghe; thể hiện sự tự tin

- Kĩ năng nhận thức (gồm kĩ năng đặt mục tiêu, xác định giá trị, tư duysáng tạo, )

Khi lựa chọn tích hợp giáo dục các KNS nói trên, người giáo viên (GV)cần lưu ý đến các đặc điểm về tâm sinh lí của HS ở bậc Tiểu học và đặc trưngmôn Tiếng Việt để đạt kết quả tối ưu

1.3 Tầm quan trọng, mục đích và nguyên tắc của tích hợp GDKNS cho HS: 1.3.1 Tầm quan trọng của tích hợp GDKNS cho HS:

KNS góp phần thúc đẩy sự phát triển nhân cách cá nhân của HS Tiểu học,

từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội KNS như những nhịp cầu giúp conngười biến kiến thức thành hành vi cụ thể, thành những thói quen lành mạnh.Nếu có một vốn KNS cơ bản vững chắc thì người ta sẽ luôn vững vàng trướcnhững khó khăn, thử thách, họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêuđời và làm chủ cuộc đời

Đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, GDKNS cho HS trong cácnhà trường phổ thông là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới

Đối với HS Tiểu học thì vấn đề GDKNS càng có ý nghĩa quan trọng Vì ởlứa tuổi của các em tính tò mò, bắt chước là đặc tính phổ biến và các em cũngthường chịu nhiều ảnh hưởng của bạn bè đồng trang lứa, vốn kinh nghiệm sốngcủa các em còn nông cạn nên có thể dẫn đến những hành vi ứng phó không lànhmạnh, kết quả là làm tổn hại đến chính các em Trong điều kiện hiện nay, các

em sớm được tiếp xúc với xã hội bên ngoài, vì vậy mà bên cạnh những yếu tốtích cực của sự phát triển xã hội, các em còn chịu những ảnh hưởng tiêu cực màngười ta gọi là mặt trái của cơ chế thị trường dẫn đến những căng thẳng, tạo ranhững sự lôi kéo, dụ dỗ Vì thế các em dễ trở thành nạn nhân của tình trạng lạmdụng hay bạo lực, căng thẳng, mất lòng tin, mặc cảm,

Trang 17

Do đó, việc tích hợp GDKNS cho HS bậc Tiểu học là hết sức cần thiết,giúp các em có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng; có khả năngứng phó một cách có hiệu quả trước sự lôi kéo của bạn bè đồng trang lứa; giúpcác em có một cuộc sống an toàn, có hành vi, thói quen lành mạnh về thể chất vàtinh thần.

1.3.2 Mục đích tích hợp GDKNS cho HS:

Việc tích hợp GDKNS làm cho quá trình học tập của HS có ý nghĩa Các quá trình học tập không bị cô lập với cuộc sống hằng ngày mà được tiến hành trong mối quan hệ với những tình huống có ý nghĩa đối với người học

Tích hợp GDKNS cũng chính là thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, làm cho người học trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có năng lực và tự lập; giúp cho người học khả năng huy động những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách có hiệu quả một tình huống xuất hiện, đối với một khó khăn bất ngờ hay một tình huống chưa từng gặp.

Đặc biệt, GDKNS góp phần thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội,ngăn ngừa các vấn đề về sức khoẻ, xã hội và bảo vệ quyền con người GDKNS

có thể thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực và do vậy sẽ làm giảmbớt tệ nạn xã hội

Như vậy, GDKNS giúp HS ở Tiểu học sống an toàn, lành mạnh, có chấtlượng trong một xã hội hiện đại với văn hoá đa dạng và với nền kinh tế phát triển -nơi mà thế giới được coi là một mái nhà chung

1.3.3.Nguyên tắc tích hợp GDKNS:

Để đảm bảo sự tương tác của HS với GV, GV với nhóm HS thì KNSkhông thể được hình thành qua việc nghe giảng, tự đọc tài liệu mà cần tổ chứccho HS tham gia các hoạt động, được trải nghiệm, được tương tác cùng với GVtrong quá trình giáo dục

Trang 18

Nhằm đảm bảo cho sự trải nghiệm trên: HS cần được đặt vào các tìnhhuống để trải nghiệm và thực hành Lưu ý đảm bảo về thời gian, không gian phùhợp vì GDKNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốtđối với trẻ em.

Mức độ cao nhất của GDKNS là kết quả đạt được giúp HS thay đổi hành

vi theo hướng tích cực Việc thực hiện GDKNS có thể được xem cụ thể như sau:

Muốn kết quả này được tốt thì tất yếu cần một thời gian nhất định, không thể hình thành trong “ ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình, không thể hình thành ngay cho các em được

1.4 Một số đặc điểm tâm sinh lí của HS lớp 4 có liên quan đến việc tích hợp GDKNS trong DH môn Tiếng Việt:

1.4.1 Đặc điểm về mặt cơ thể và giới tính:

Đây là thời kì cơ thể và giới tính phát triển mạnh mẽ về cả chiều cao vàcân nặng Trọng lượng não phát triển bằng người lớn, đặc biệt thùy trán pháttriển mạnh Có sự cân bằng hơn trong hoạt động của quá trình hưng phấn và ứcchế

Ở lứa tuổi này, các em đang có sự hoàn thiện về cơ thể và bước vào dấuhiệu của tuổi dậy thì Các em có biểu hiện ưa thích việc tham gia vào các hành

Trang 19

Ở lứa tuổi Tiểu học, hệ thống tín hiệu thứ nhất còn chiếm ưu thế nên nhậnthức của các em còn mang nặng màu sắc cảm tính Các em rất nhạy cảm với cáctác động bên ngoài, điều này phản ánh rõ trong các quá trình nhận thức của HSnhư: tri giác, chú ý, trí nhớ, tư duy và trí tưởng tượng.

Về nhu cầu nhận thức thì HS ở Tiểu học có nhu cầu được thoả mãn tronghành động và nhận thức Nhận thức của HS còn phần nào mang tính khái quát.Các em đã biết tìm các dấu hiệu đặc trưng cho sự vật, hiện tượng Chính vì vậy

mà người GV Tiểu học phải biết cách làm cho trẻ tin vào khả năng nhận thứccủa mình, giúp các em xác định được giá trị, niềm tin, chính kiến, thái độ vàđịnh hướng cho hoạt động, hành vi của bản thân.[6]

Tri giác của HS còn mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và khôngchủ động Do đó, các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ sailầm, có khi còn lẫn lộn Đối với các em những hình ảnh rực rỡ, sinh động rất dễgây ấn tượng và giúp các em tri giác tốt hơn Càng về sau, khi tham gia các hoạtđộng học tập, tri giác trở thành hoạt động có mục đích, phức tạp và có phân tích,phân hoá đơn giản thì tri giác mang tính chất của sự quan sát có tổ chức hơn

Tri giác của HS cuối Tiểu học mang màu sắc xúc cảm và bắt đầu có tínhmục đích, có phương hướng rõ ràng, các em biết lập kế hoạch học tập, biết sắpxếp công việc nhà, biết làm bài tập từ dễ đến khó,…

Vì vậy, với vai trò của nhà giáo dục thì GV cần phải thu hút HS bằng cáchoạt động mới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường Cónhư vậy mới kích thích HS cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác

1.4.2.2 Tư duy:

Tư duy của HS giai đoạn này đã thay đổi về chất, tư duy trừu tượng pháttriển mạnh mẽ, biết tổng hợp các sự vật hiện tượng, tích lũy được nhiều kinhnghiệm hơn so với các lớp đầu bậc học Các em đã có khả năng phân tích, kháiquát, biết phê phán và kiến thức lĩnh hội không chỉ một chiều

Trang 20

Tư duy trực quan còn chiếm ưu thế ở HS Tiểu học nhưng đến giai đoạnlớp 4 thì các em đã có thể phân tích đối tượng mà không cần đến những hànhđộng thực tiễn đối với các đối tượng đó Ở các em đã hình thành tư duy trừutượng Đây là cơ sở để tích hợp GDKNS cho các em trong quá trình dạy họcmôn Tiếng Việt Chính vì vậy mà trong quá trình DH người GV vần chú ý cáchoạt động kích thích tư duy và khả năng phân tích, tổng hợp của các em.

1.4.2.3 Tưởng tượng:

Ở lứa tuổi này, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hìnhảnh cũ, trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đốiphát triển, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,… Đặc biệt,trí tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúccảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rungđộng tình cảm của các em

Tưởng tượng của HS Tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với giaiđoạn trước HS nào càng có nhiều tưởng tượng thì HS càng gần hiện thực hơn

Sở dĩ như vậy là do các em đã có kinh nghiệm khá phong phú, đã lĩnh hội đượcnhững tri thức do nhà trường đem lại

Trong quá trình DH môn Tiếng Việt, GV cần khơi dậy trí tượng tượngcủa HS trong các điều kiện thực tế, dần hình thành những KNS cần thiết ban đầutrong hoàn cảnh cụ thể để phát triển các khả năng ứng xử, đối phó phù hợp

Bên cạnh đó, ở HS Tiểu học thì trí nhớ trực quan hình tượng phát triển tốthơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Các em nhớ và giữ gìn chính xác các sự vật, hiện

Trang 21

tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn là những định nghĩa, giải thích dài dòng Vìvậy, khi GDKNS cho HS trong quá trình DH môn Tiếng Việt cần vận dụngnhiều hình thức, các phương pháp mới, sinh động, gây cảm xúc, ấn tượng để các emghi nhớ tốt.

1.4.3 Đặc điểm nhân cách của HS lớp 4:

Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên Trongquá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩcủa mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng Nhân cách hoặcnhững năng lực, những tố chất của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, chưabộc lộ rõ rệt, đặc biệt là nhân cách còn đang được hình thành.[22]

Do nhân cách còn mang tính tiềm ẩn nên ở lứa tuổi này các em dễ bị ảnhhưởng bởi các yếu tố tác động từ bên ngoài như: ảnh hưởng từ hành vi, lời đánhgiá của bạn bè, ảnh hưởng từ những người xung quanh như ông bà, cha mẹ, thầy

cô, bạn bè,…

1.4.3.1 Ý chí:

Đến lứa tuổi lớp 4, các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớnthành mục đích hành động của mình Tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bềnvững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em

Với các em HS Tiểu học hành vi của các em dễ có tính tự phát Nguyênnhân là do tự điều chỉnh của ý chí với hành vi còn yếu Vì vậy cần giáo dục các

em từng bước kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng kiên định, ra quyết định và kĩ năngđặt mục tiêu

1.4.3.2 Chú ý:

Giai đoạn này, chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế Ở trẻ đã

có sự nổ lực về ý chí trong hoạt động học tập Tuy nhiên, cùng một lúc các emchưa có khả năng chú ý được nhiều đối tượng, sức tập trung chú ý của các emchỉ kéo dài trong một thời gian ngắn Vì vậy, khi tổ chức DH ở bậc Tiểu học cầnchú ý thay đổi nhiều hình thức hoạt động để tránh được sự nhàm chán, mất trật

Trang 22

tự ở các em, tạo được sự tập trung chú ý, hứng thú và thu hút các em tham giavào hoạt động chung.[16]

Bên cạnh đó GV lưu ý sự tập trung chú ý của các em có thể kéo dàikhoảng từ 30 đến 35 phút GV vận dụng sao cho có thể tác động vào khả năngchú ý của các em, có thể lôi cuốn các em vào hoạt động học tập nắm kiến thức

và GDKNS cho các em

Trang 23

1.4.3.3 Tính cách:

Tính cách của các em thường được hình thành từ rất sớm ở thời kỳ trướctuổi đi học Song những nét tính cách của các em mới được hình thành, chưa ổnđịnh và có thể thay đổi dưới sự tác động của giáo dục, của gia đình

Phần lớn các em có những nét tính cách tốt như lòng vị tha, tính ham hiểubiết, hồn nhiên trong quan hệ với thầy cô, bạn bè và rất cả tin Dựa vào đặc điểmnày có thể tác động, hình thành khả năng giao tiếp hiệu quả của các em nhất làthiết lập tình bạn, bày tỏ sự cảm thông

Bên cạnh đó các em còn có một đặc điểm là tính hay bắt chước Đây thực

sự là một con dao hai lưỡi bởi vì các em có thể bắt chước cái tốt và cả cái xấu.Các em cần có khả năng cần tự nhận thức để quyết định hành động đúng chomình đồng thời tránh bị lợi dụng, xâm hại

1.4.3.4 Tình cảm:

Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý nói chung Đốivới HS bậc Tiểu học, tình cảm còn có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắnliền với nhận thức, với hoạt động của trẻ em Tình cảm tích cực không chỉ kíchthích trẻ em nhận thức mà còn thúc đẩy trẻ em hoạt động

Ở lứa tuổi Tiểu học, các em dễ xúc cảm, xúc động Các em còn chưa biếtkiềm chế tình cảm của mình nên thường bộc lộ tình cảm một cách chân thật, hồnnhiên và chưa có khả năng điều khiển, điều chỉnh được những cảm xúc củamình Do đó, cần khơi dậy những cảm xúc tự nhiên của HS đồng thời khéo léo,

tế nhị rèn luyện cho các em khả năng tự làm chủ cảm xúc, tình cảm của mình

Tình cảm của HS lớp 4 nói riêng và HS bậc Tiểu học nói chung mang tính

cụ thể, trực quan và giàu cảm xúc Các em thích được nghe kể chuyện, yêu vậtnuôi, cây trồng, dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, dễ khóc mà cũng nhanh cười

Trang 24

Chính vì thế mà GDKNS là cách hữu hiệu nhất để bồi dưỡng những tình cảm tốtđẹp và các kĩ năng cần thiết cho các em.

Vì vậy trong quá trình DH, người GV luôn chú ý phát huy tính tích cực xãhội, điều kiện hình thành nhân cách mang đậm nét xã hội nơi trẻ Bên cạnh đó,phát huy vai trò làm gương của người lớn cho các em noi theo

Nếu tình trạng phát triển tâm lí xã hội thành công thì sẽ có tác động tốtđến sự phát triển của HS, ngược lại những rắc rối trong giai đoạn này sẽ khiến

HS có cảm giác thất bại và thua sút Việc hình thành và phát triển nhân cáchkhông thể trong một thời gian ngắn, mà nó được thực hiện theo dần thời giannhằm phát triển nhân cách HS một cách toàn diện

1.5 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tích hợp GDKNS cho HS trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4:

1.5.1 Mục đích tích hợp GDKNS cho HS trong DH môn Tiếng Việt lớp 4:

Môn Tiếng Việt chú trọng rèn kĩ năng nhận thức cho HS thông quachương trình mang tính tích hợp:

- Tích hợp giữa kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về tự nhiên,

xã hội và con người theo nguyên tắc đồng quy Hướng tích hợp được thực hiệnthông qua hệ thống chủ điểm học tập Qua các chủ điểm học tập qua sách giáokhoa, HS có điều kiện mở rộng hệ thống hoá vốn từ một cách tự nhiên và cóhiệu quả

- Tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới với những kiến thức và

kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm Kiến thức và kĩ năng của lớptrên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, nhưng mức độ cao hơn và sâuhơn

Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở

HS các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và kĩ nănggiao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Bên cạnh đó môn học này

có nhiều thuận lợi vì bản thân môn học đã buộc HS phải vận dụng rất nhiều kĩ

Trang 25

năng như: kĩ năng lắng nghe, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩnăng xác định giá trị…[20]

Thông qua hoạt động dạy và học môn Tiếng Việt góp phần rèn luyện cácthao tác tư duy, góp phần mở rộng hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người

Do vậy chương trình và nội dung liên quan đến KNS và có khả năng tích hợpGDKNS rất cao KNS đặc thù, thể hiện ưu thế của môn Tiếng Việt là kĩ nănggiao tiếp, sau đó là kĩ năng nhận thức, bao gồm nhận thức thế giới xung quanh,

tự nhận thức,…

Trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học, có nhiều bài học mà tên gọicủa nó đã nói rõ mục tiêu giáo dục các kĩ năng giao tiếp xã hội (Ví dụ như bài

Thư thăm bạn, Thưa chuyện với mẹ, ), có nhiều bài Tập đọc giới thiệu những

văn bản mẫu chuẩn bị cho việc hình thành một số kĩ năng giao tiếp cộng đồng.Qua những câu chuyện, HS có thể hình thành một số kĩ năng giao tiếp cộngđồng hoặc có thể rút ra những nội dung cần rèn KNS Từ đó giúp HS bước đầuhình thành và rèn luyện cho HS các KNS cần thiết, phù hợp với lứa tuổi, giúpcác em nhận biết được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, từ đó biết tự nhìnnhận, đánh giá đúng về bản thân để tự tin, tự trọng và không ngừng vươn lêntrong cuộc sống

1.5.2 Nội dung tích hợp GDKNS trong DH phân môn Tập đọc lớp 4:

Nội dung môn Tiếng Việt lớp 4 có 49 tiết điển hình Trong đó có 27 giờTập đọc, 12 giờ Tập làm văn, còn lại là Kể chuyện và Luyện từ và câu Chươngtrình Tiếng Việt rất giàu tiềm năng GDKNS, có thể giúp cho các HS chuẩn bịcác kĩ năng ứng dụng điều đã học vào cuộc sống tốt hơn; dễ dàng hơn qua bàihọc và đặc biệt là kiểu bài tập luyện nghe, nói

Tập đọc là phân môn nhằm phát triển các kĩ năng nghe, nói, sử dụng tiếngViệt của HS trên cơ sở những kiến thức cơ bản về nghe, đọc Phân môn nàynhằm từng bước giúp HS làm chủ được ngôn ngữ tiếng Việt để học tập trongnhà trường và giao tiếp một cách đúng đắn, mạch lạc, tự nhiên, tự tin trong môitrường xã hội thuộc phạm vi hoạt động của lứa tuổi

Trang 26

Sau đây là một số KNS được tích hợp vào phân môn Tập đọc:

- Kĩ năng lắng nghe tích cực

- Kĩ năng giao tiếp

- Kĩ năng đặt mục tiêu

- Kĩ năng xác định giá trị

- Kĩ năng tư duy sáng tạo

- Kĩ năng thể hiện sự tự tin

- Kĩ năng tự nhận thức về bản thân

- Kĩ năng thể hiện sự cảm thông

Tên bài và các KNS được tích hợp trong phân môn Tập đọc được chúngtôi trình bày vào từng bài cụ thể ở phần phụ lục

1.5.3 Các KNS cụ thể được tích hợp giáo dục trong DH môn Tiếng Việt lớp 4:

1.5.3.1 Kĩ năng lắng nghe tích cực:

Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kĩ năng giao tiếp Người có

kĩ năng lắng nghe tích cực thường được nhìn nhận là biết tôn trọng và quan tâmđến ý kiến người khác

Lắng nghe tích cực có nghĩa là đôi tai và nhận thức của HS rất tập trung

và sẵn sàng lắng nghe người khác Lắng nghe là sự biểu hiện của sự kính trọng.Lắng nghe cũng giúp HS phản xạ chính xác hơn

Có rất nhiều kĩ năng giúp HS trở thành người biết lắng nghe tích cực cóthể bằng mắt, điều đó sẽ chuyển tải mối quan tâm chân thành; có thể hỏi cácthông tin bổ sung, điều đó cho thấy thực sự muốn biết về suy nghĩ của nhữngngười đang nói hoặc trình bày lại hoặc diễn giải các ý chính Ngoài ra có thểtóm tắt cả nội dung và ý nghĩa của thông điệp Nội dung là những gì được nói, làcác sự kiện thực tế Ý nghĩa là những thâm ý sâu xa, những cảm nhận đằng saunhững gì được chuyển tải Việc đó cũng giúp người nói biết người nghe thực sự

đã nghe những gì

Nói chung, lắng nghe tích cực là:

Trang 27

- Lắng nghe một cách chân thành, chăm chú, gợi mở (lắng nghe bằng cảánh mắt và trái tim)

- Phản ánh lại nội dung của người nói

- Phản ánh lại cảm xúc của người nói

Kĩ năng lắng nghe tích cực cũng có mối quan hệ mật thiết với với kĩ nănggiao tiếp

1.5.3.2 Kĩ năng giao tiếp:

Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, giữa cácthành viên trong xã hội Gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin), kí mã (phátthông tin) qua : nghe, nói và đọc, viết

Giao tiếp là bản chất của các mối quan hệ của con người Mối quan hệ củathanh thiếu niên nói chung, HS nói riêng rất phong phú, đa dạng: quan hệ vớingười thân trong gia đình, họ hàng, với thầy cô giáo, với bạn bè cùng lứa tuổitrong và ngoài trường học, với những người mà các em gặp gỡ trong cuộc sống

HS cần phải biết cách giao tiếp và đối xử một cách phù hợp trong từng mối quan

hệ để có thể phát triển tối đa tiềm năng sẵn có trong môi trường sống của mình

Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hìnhthức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh vàvăn hoá, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bấtđồng quan điểm

Kĩ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kĩ năng khác, giúp conngười biết đánh giá tình huống và có mối quan hệ tích cực với người khác

Kĩ năng giao tiếp giúp cho quá trình tương tác giữa các cá nhân và tươngtác trong nhóm và với tập thể đông đảo hơn Nó giúp cá nhân bày tỏ suy nghĩ,cảm xúc và tâm trạng của mình, giúp người khác hiểu rõ mình hơn Thái độ cảmthông đối với người khác cũng góp phần giúp họ giải quyết vấn đề mà họ gặpphải

Kĩ năng giao tiếp giúp HS:

- Nhận thức rõ tầm quan trọng của giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày

Trang 28

- Có khả năng giao tiếp có hiệu quả.

- Biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác

- Biết thông cảm, chia sẻ với người khác khi họ gặp khó khăn

1.5.3.3 Kĩ năng đặt mục tiêu:

Mục tiêu là điều chúng ta muốn thực hiện, muốn đạt tới Mục tiêu có thể

là sự mong muốn hiểu biết (muốn biết một cái gì đó), một sự thay đổi về thái độhay thay đổi một hành vi (làm được cái gì đó)

Kĩ năng đặt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu chobản thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó

Đặt mục tiêu là kĩ năng quan trọng giúp HS có sự chuẩn bị sẵn sàng, địnhhướng tốt và biết xây dựng kế hoạch trong cuộc sống Tùy thuộc vào mỗi hoàncảnh, đối tượng và mục đích mà GV hướng dẫn HS có nhiều cách khác nhau đểđặt ra mục tiêu Thời gian để đạt mục tiêu mà chúng ta đề ra cũng dài ngắn khácnhau Ví dụ: mục tiêu dài hạn, ngắn hạn, trung hạn

Kĩ năng đặt mục tiêu cần được vận dụng kết hợp với nhiều KNS khácnhau như kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng ra quyết định

1.5.3.4 Kĩ năng xác định giá trị:

Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, có ý nghĩa đối với bảnthân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bảnthân trong cuộc sống

Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ, vàthậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…

Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị về tinh thần, có thể thuộc cáclĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế,…

Giá rị không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian, theo cácgiai đoạn trưởng thành của con người Giá trị phụ thuộc vào giáo dục, vào nềnvăn hoá, vào môi trường sống, học tập và làm việc của cá nhân

Mỗi người đều có hệ thống giá trị riêng Kĩ năng xác định giá trị là khảnăng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình Kĩ năng xác định

Trang 29

giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của mỗi người và còn giúpngười ta biết tôn trọng người khác có những giá trị và niềm tin khác nhau.

1.5.3.5 Kĩ năng tư duy sáng tạo:

Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cáchmới, theo phương thức mới; có khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữacác khái niệm, ý tưởng quan điểm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ

Kĩ năng tư duy sáng tạo là một kĩ năng quan trọng vì trong cuộc sống conngười thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy

ra Khi gặp những hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sáng tạo

để có thể ứng phó một cách linh hoạt và kịp thời

1.5.3.6 Kĩ năng thể hiện sự tự tin:

Kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạnbày tỏ ý kiến của mình, quyết đoán trong công việc, ra quyết định giải quyết vấn

đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực vàlạc quan trong cuộc sống

1.5.3.7 Kĩ năng tự nhận thức về bản thân:

Kĩ năng tự nhận thức là khả năng của con người về chính bản thân mình,như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánhgiá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,…của bản thân mình từ đó quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cảnhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng

Tự nhận thức là một KNS cơ bản, nó giúp cá nhân hiểu rõ về bản thânmình: đặc điểm, tính cách, thói quen, thái độ, ý kiến, cách suy nghĩ, cảm xúc,nhu cầu của chính mình, các mối quan hệ xã hội cũng như những điểm tích cực

và hạn chế của bản thân Mỗi cá nhân đều có bản sắc riêng, có những điểmmạnh, điểm yếu riêng, không ai là hoàn thiện cả, nhưng cũng không có ai chỉ cótoàn nhược điểm Chúng ta ai cũng có những ưu điểm đáng tự hào và nhữngnhược điểm cần cố gắng hoàn thiện thêm Vì vậy mỗi người cần tự tin vào bảnthân, đừng mặc cảm tự ti Điều quan trọng là phải phát huy những điểm mạnh,

Trang 30

khắc phục những điểm yếu để ngày càng hoàn thiện mình hơn Đồng thời chúng

ta cũng nên tôn trọng người khác, thừa nhận những điểm hay, điểm mạnh củangười khác để hoàn thiện bản thân

Tự nhận thức là cơ sở quan trọng giúp cho việc giao tiếp có hiệu quả và

có tinh thần trách nhiệm đối với người khác Tự nhận thức cũng liên quan đến kĩnăng xác định giá trị, tức là thái độ, niềm tin của bản thân và điều mình cho làquan trọng hay cần thiết Nhận thức rõ về bản thân giúp HS thể hiện sự tự tin vàtính kiên định để có thể giải quyết vấn đề một cách hiệu quả Tự nhận thức cũnggiúp bản thân đặt ra những mục tiêu phấn đấu phù hợp và thực tế

Đối với HS ở bậc Tiểu học, kĩ năng này nhằm giúp các em biết nhận thức

và thể hiện được bản thân mình, đồng thời có thể đánh giá được mặt tốt và chưa

tốt của bản thân, học hỏi những điểm tích cực của người khác để tiến bộ

1.5.3.8 Kĩ năng thể hiện sự cảm thông:

Kĩ năng thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mìnhtrong hoàn cảnh người khác giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn lànhững người rất khác mình Qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảmcủa người khác và thông cảm với hoàn cảnh và nhu cầu của họ

1.5.4 Quy trình và phương pháp tích hợp GDKNS trong DH môn Tiếng Việt lớp 4:

1.5.4.1 Quy trình tích hợp GDKNS:

Bước 1: Xác định mục tiêu bài dạy và mục tiêu tích hợp GDKNS cần lồngghép, tích hợp

Bước 2: Xác định nội dung, các mức độ tích hợp

Bước 3: Xác định các phương pháp, phương tiện, các hình thức tích hợp.Bước 4: Thiết kế và thực hiện bài dạy có tích hợp mục tiêu, nội dung,phương pháp dạy học

Bước 5: Kiểm tra, đánh giá

Việc tích hợp GDKNS cho HS trong nhà trường được thực hiện thông quadạy học các môn học và tổ chức các hoạt động giáo dục với một cách tiếp cận

Trang 31

mới, đó là sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điềukiện, cơ hội cho HS được thực hành, trải nghiệm KNS trong quá trình học tập

Trang 32

1.5.4.2 Phương pháp tích hợp GSKNS:

a) Phương pháp thảo luận nhóm:

Làm việc theo nhóm là một hình thức xã hội của DH, là tổ chức cho HSbàn bạc, trao đổi trong nhóm nhỏ trong khoảng không gian giới hạn, trongkhoảng thời gian cụ thể để thảo luận về một chủ đề xác định

Dạy học theo phương pháp thảo luận nhóm còn được gọi bằng những tênkhác nhau như: Dạy học hợp tác, Dạy học theo nhóm nhỏ Trong đó HS của mộtlớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗinhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp táclàm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trướctoàn lớp

Phương pháp làm việc theo nhóm tạo môi trường làm việc thân thiện,giúp các em cải thiện hành vi giao tiếp thông qua các hoạt động trao đổi diễn rathường xuyên Các em trở nên thân thiện, từ đó giúp bầu không khí học tập, laođộng trở nên sôi động hơn Tham gia sinh hoạt theo nhóm giúp các em HS hưngphấn hơn trong học tập và tạo nên cách ứng xử hợp lý trong mọi tình huống Khisinh hoạt nhóm, GV nên luôn đưa ra nhiều tình huống tạo sự phát triển tư duycho các em Đó cũng là cách tạo sự gần gũi giữa các em với nhau

Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi HS tham giamột cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho HS có thể chia sẻ kiếnthức, kinh nghiệm, ý kiến giải quyết một vấn đề có liên quan đến cuộc sống.Thảo luận nhóm còn rèn cho HS kĩ năng giao tiếp trong học tập, tự tin trong việctrình bày ý kiến của mình, kĩ năng lắng nghe tích cực và có phê phán ý kiến củacác thành viên khác Tuy nhiên, nếu tổ chức không tốt thì giờ học sẽ ồn ào, một

số HS sẽ ỷ lại vào HS khác, dễ làm mất thời gian

Trang 33

b) Phương pháp đóng vai:

Phương pháp đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, "làmthử" một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phươngpháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào mộtcách ứng xử cụ thể mà HS quan sát được Việc "diễn" không phải là phần chínhcủa phương pháp này, mà điều quan trọng hơn là sự thảo luận sau phần diễn ấy

Phương pháp này giúp HS được rèn luyện, thực hành những kĩ năng giaotiếp ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trongthực tiễn Bên cạnh đó, việc HS đóng vai còn giúp tiết học thêm hứng thú, khích

lệ sự thay đổi thái độ, hành vi theo hướng tích cực mà có thể thấy ngay tác động

và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn

Tuy nhiên phương pháp này cũng có những nhược điểm như: đòi hỏi HSphải mạnh dạn, sáng tạo Vì dễ gây cười cho cả người diễn và người xem nên cókhả năng HS không quan tâm được hết diễn biến, cách giải quyết tình huống củacác nhân vật

Phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm như :

- HS được rèn luyện thực hành những kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độtrong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

- Gây hứng thú và chú ý cho HS

- Tạo điều kiện làm phát triển óc sáng tạo của HS

- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HS theo hướng tích cực

- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm củacác vai diễn

Có thể tiến hành phương pháp đóng vai theo các bước sau:

- GV nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống và yêu cầu đóng vai chotừng nhóm Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai củamỗi nhóm

- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai

Trang 34

Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn

đề hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông quamột trò chơi nào đó hoặc được bày tỏ thái độ hay hành vi, việc làm phù hợptrong một tình huống cụ thể

Phương pháp này được hiểu rộng bao gồm các trò chơi đóng vai, trò chơivận động, trò chơi xây dựng nhóm, trò chơi dân gian, Với hình thức phongphú, mang lại sự hứng thú, nhiệt tình khi tham gia, giúp người học tiếp nhậnnhững nội dung giáo dục một cách nhẹ nhàng, sinh động và có hiệu quả cao.Bên cạnh đó, qua trò chơi HS có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vicủa mình Chính nhờ sự thể nghiệm này mà hình thành ở HS niềm tin vào nhữngthái độ, hành vi tích cực, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi, ứng xửtrong cuộc sống

Thông qua trò chơi, HS sẽ được rèn luyện khả năng đặt mục tiêu lựa chọncho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp, qua việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp,thể hiện sự tự tin, biết nhận xét và đánh giá hành vi

Phương pháp trò chơi gây hứng thú học tập cho người học, tạo không khígiờ học thêm sinh động, sôi nổi Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một sốhạn chế như: nếu tổ chức không tốt sẽ dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến cáchoạt động tiếp theo của tiết học

d) Phương pháp nghiên cứu tình huống:

Nghiên cứu tình huống là tổ chức cho người học nghiên cứu một câuchuyện, mô tả một tình huống xảy ra trong thực tiễn cuộc sống Đôi khi nghiên

Trang 35

cứu tình huống có thể được thực hiện trên băng hình mà không phải dưới dạngchữ viết Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộcsống thực, nên nó phải tương đối phức tạp với nhiều nhân vật và chứa đựngnhiều mâu thuẫn.

Phương pháp nghiên cứu tình huống là phương pháp sử dụng một câuchuyện có thật hoặc chuyện được viết dựa trên những trường hợp thường xảy ratrong cuộc sống thực tiễn để minh chứng cho một vấn đề hay một số vấn đề

Phương pháp nghiên cứu tình huống tác động mạnh mẽ tới nhận thức, tìnhcảm, thái độ, hành vi của HS qua những tình huống thực tế sinh động, hấp dẫn

Từ đây tạo điều kiện cho HS bộc lộ quan điểm, thái độ của mình, biết phân tíchvấn đề, đưa ra cách giải quyết vấn đề một cách phù hợp

Xuất phát từ mục tiêu của môn học, dạy Tiếng Việt là dạy HS ngoàinhững nội dung của môn học còn dạy cho các em các hành vi ứng xử phù hợpvới các chuẩn mực đạo đức xã hội và quyền trẻ em trong các tình huống đơngiản cụ thể của cuộc sống hàng ngày Chính vì vậy khi sử dụng phương phápnghiên cứu tình huống, người GV có thể tiến hành theo các bước sau:

- Đọc (hoặc xem hoặc nghe) tình huống thực tế

- Suy nghĩ về nó (có thể viết một vài lĩnh vực đó trước khi thảo luận điều

đó với người khác)

- Đưa ra một hay nhiều câu hỏi hướng dẫn liên quan đến tình huống (trongtài liệu viết hay từ GV)

- Thảo luận tình huống thực tế

- Thảo luận vấn đề chung hay các vấn đề được minh chứng bằng thực tế

e) Phương pháp giải quyết vấn đề:

Phương pháp giải quyết vấn đề là phương pháp giúp HS xem xét, phântích những vấn đề, tình huống cụ thể thường gặp phải trong đời sống hàng ngày

và xác định cách giải quyết, xử lí vấn đề, tình huống đó một cách có hiệu quả.Đây là phương pháp giúp GDKNS cho HS đạt hiệu quả ở nhiều mặt: tư duy, tìnhcảm, ứng xử,

Trang 36

Bên cạnh đó phương pháp này đặt ra trước HS các vấn đề về nhận thức cóchứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tìnhhuống có vấn đề, kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn đượcgiải quyết.

g) Phương pháp dạy học theo dự án:

Phương pháp dạy học theo dự án là phương pháp DH trong đó HS thựchiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết vớithực hành, tự lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả Hình thức làm việcchủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm có thể giới thiệu được

Kết hợp với phương pháp trên, GV có thể áp dụng một số kĩ thuật như: kĩthuật khăn trải bàn, kĩ thuật các mảnh ghép, kĩ thuật hỏi chuyên gia, kĩ thuật chianhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi,

Nói chung, ở mỗi phương pháp, mỗi kĩ thuật đều có mặt ưu, khuyết điểmriêng, thế nên, người GV phải linh động lựa chọn các phương pháp, kĩ thuật phùhợp với đối tượng HS, thực tế nhà trường, nội dung, mục tiêu bài học

Tiến trình của phương pháp dạy học theo dự án:

Trang 37

1.5.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tích hợp GDKNS trong DH môn Tiếng Việt lớp 4:

1.5.5.1 Yếu tố nhà trường:

Giáo dục ở nhà trường là hoạt động giáo dục trong các trường, lớp thuộc

hệ thống giáo dục quốc dân theo mục đích, nội dung, phương pháp có chọn lọctrên cơ sở khoa học và thực tiễn nhất định Giáo dục ở nhà trường được tiếnhành có tổ chức, tác động trực tiếp, có hệ thống đến sự hình thành và phát triểncủa nhân cách Thông qua giáo dục ở trường học mà mỗi cá nhân được bồidưỡng phẩm chất đạo đức, kiến thức khoa học, kĩ năng thực hành cần thiết, đápứng yêu cầu trình độ phát triển của xã hội trong từng giai đoạn

Nhà trường là một hệ thống giáo dục được tổ chức quản lý chặt chẽ, làyếu tố quan trọng nhất trong quá trình GDKNS cho HS Với hệ thống chươngtrình giáo dục, các tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo, các phương tiện hỗtrợ giáo dục ngày càng hiện đại, đặc biệt là với một đội ngũ cán bộ, GV, GVCNđược đào tạo cơ bản có đủ phẩm chất và năng lực tổ chức lớp là yếu tố có tínhchất quyết định hoạt động GDKNS cho HS

Đối với HS trong quá trình hình thành tri thức thì trường học chính là nơicác em chính thức được học tập và rèn luyện một cách nghiêm túc nhất Bướcvào trường học, mỗi HS được tạo ra cơ hội để tiếp thu giáo dục, ý thức đầy đủ

về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với toàn bộ các hoạt động học tập rèn luyện củamình

1.5.5.2 Yếu tố gia đình:

Gia đình là cơ sở đầu tiên, có vị trí quan trọng và ý nghĩa lớn đối với quátrình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người Vì vậy, mỗi người luônhướng về gia đình để tìm sự bao bọc, chia sẻ

Trang 38

Trong gia đình, cha mẹ là những người đầu tiên dạy dỗ, truyền đạt chocon cái những phẩm chất, nhân cách cơ bản, tạo nền tảng cho quá trình pháttriển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể lực, thẩm mĩ,…đáp ứng yêu cầu phát triểncủa xã hội Đây là điều có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển củacác em trong xã hội hiện đại Tuy vậy, giáo dục tại gia đình vẫn không thể thaythế hoàn toàn giáo dục của nhà trường.

Nền kinh tế thị trường hiện nay đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộđời sống vật chất và tinh thần của gia đình Các tệ nạn xã hội tạo ra nhiều tháchthức và khó khăn trong việc lựa chọn các giá trị chân, thiện, mĩ trong giáo dụctại gia đình Mặt khác, giáo dục ở gia đình chịu ảnh hưởng lớn của điều kiệnkinh tế, tiện nghi, nếp sống, nghề nghiệp của cha mẹ,…đặc biệt là mối quan hệgắn bó, gần gũi giữa cha mẹ và con cái Vì vậy, cha mẹ cần dành thời gian đểtìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng của con, gần gũi và chia sẻ với con nhữngđiều con cảm thấy vướng mắc, khó khăn, tiếp thêm cho con sức mạnh và bảnlĩnh để ứng phó với các tình huống, vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Bên cạnh

đó phụ huynh học sinh (PHHS) cần phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể, vớinhà trường và GV nhất là trong công tác GDKNS Vì giáo dục trong nhàtrường dù có tốt đến mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hộithì kết quả cũng không hoàn toàn

1.5.5.4 Năng lực và trình độ chuyên môn của các GV:

GV là một tấm gương sáng cho HS Vì vậy, HS đến lớp luôn luôn dõi theo và bắt chước từng hành động của cô Việc vận dụng quan điểm tích

Trang 39

hợp vào quá trình tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học có đạt hiệu quả cao nhờ vào năng lực và trình độ chuyên môn của GV

GV cần gần gũi và tạo mối thân thiện với HS ngay từ buổi đầu tiên củatiết học tạo ra một môi trường học tập thân thiện, gần gũi với các em Sau đó

GV có thể động viên khuyến khích các em chia sẻ với nhau về những sở thích,ước mơ tương lai cũng như mong muốn của các em Đây là hoạt động giúp GV -

HS hiểu nhau, đồng thời tạo một môi trường học tập thân thiện, nơi mà "Trườnghọc thật sự trở thành ngôi nhà thứ hai của các em, các thầy cô giáo là những

người thân trong gia đình" Đây cũng là một điều kiện rất quan trọng để phát

triển kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự tin của HS Bởi HS không thể mạnh dạn, tự tintrong một môi trường mà GV luôn gò bó và áp đặt

Ngoài ra để đạt hiệu quả khi GDKNS cho HS thì GV cần có KNS và nắmvững về nội dung, hình thức, phương thức, phương pháp, có nghiệp vụ sư phạmvững vàng, có năng lực tổ chức các hoạt động phù hợp khi DH ở Tiểu học

1.5.5.5 Yếu tố từ bản thân HS:

Tự giáo dục là một bộ phận của quá trình giáo dục, là hoạt động có ýthức, mục đích của mỗi cá nhân để tự hoàn thiện những phẩm chất nhân cáchbản thân theo định hướng giá trị xác định Nhu cầu tự giáo dục nảy sinh theotừng giai đoạn phát triển của cá nhân Ở lứa tuổi học sinh HS Tiểu học thì nhucầu tự giáo dục mạnh mẽ, các em đã tự ý thức được những giá trị mà các em cho

là hữu ích với cuộc sống như: rèn luyện thân thể, tập thói quen tốt,… Quá trình

tự giáo dục bao gồm 4 yếu tố cơ bản:

- Năng lực tự ý thức của HS về sự phát triển nhân cách bản thân

- Năng lực tổ chức tự giáo dục: lập kế hoạch, lựa chọn phương pháp,phương tiện thực hiện…

- Sự nỗ lực của bản thân để vượt qua khó khăn, trở ngại trong quá trìnhthực hiện kế hoạch tự giáo dục

- Tự kiểm tra kết quả tự giáo dục để rút ra bài học kinh nghiệm cho bảnthân

Trang 40

HS khoẻ mạnh, vui vẻ, hoạt bát là một yếu tố cần thiết khi vận dụng tích hợp KNS trong DH môn Tiếng Việt cho HS Tích hợp giáo dục đòi hỏi

HS phải tiếp nhận một lượng kiến thức nhiều và sâu Do đó, các em phải có một tâm thế thoải mái, tinh thần sảng khoái, có sức khoẻ thì quá trình tích hợp mới đạt hiệu quả cao, trẻ mới ghi nhớ và tiếp nhận dễ dàng.

Tiểu kết chương 1:

Trong chương 1, chúng tôi đã phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản

về tích hợp GDKNS; tầm quan trọng và các KNS cần GD cho HS cũng như việctích hợp GDKNS cho HS bậc Tiểu học Trên cơ sở đó chúng tôi rút ra kết luậnnhư sau:

Việc tích hợp GDKNS cho HS trong DH môn Tiếng Việt có ý nghĩa vôcùng quan trọng, và là việc làm rất cần thiết, giúp HS thoả mãn được nhu cầukhám phá cuộc sống Đây là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi khảo sát thựctrạng và đề xuất các giải pháp tích hợp GDKNS cho HS trong DH phân mônTập đọc lớp 4 ở chương 2 và 3 của luận văn

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. GD và ĐT (2010), Giáo dục kỹ năng sống trong các môn học ở TIểu học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống trong các môn học ở TIểu học
Tác giả: GD và ĐT
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
3. Bộ GD và ĐT (2010), Giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động Giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động Giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học
Tác giả: Bộ GD và ĐT
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
4. Bộ GD và ĐT (2011), Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2011-2012, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2011-2012
Tác giả: Bộ GD và ĐT
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
5. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996), Đại cương về quản lý, (Giáo trình dành cho các lớp Cao học quản lý giáo dục), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 - Trường Cán bộ quản lý GD&ĐT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về quản lý, (Giáo trình dành cho các lớp Cao học quản lý giáo dục)
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 1996
6. DIANETILLMAN (2009), Những giá trị sống cho tuổi trẻ, NXB Tổng hợp TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giá trị sống cho tuổi trẻ
Tác giả: DIANETILLMAN
Nhà XB: NXB Tổng hợp TPHCM
Năm: 2009
7. Nguyễn Huy Du (2000), Trò chuyện với tuổi trẻ về chìa khóa vạn năng, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chuyện với tuổi trẻ về chìa khóa vạn năng
Tác giả: Nguyễn Huy Du
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2000
9. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh - Đài Tiếng nói Việt Nam - Ban biên tập phát thanh thanh Thiếu nhi (2004), Sổ tay hướng dẫn thanh niên về ứng xử trong cuộc sống hiện đại, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn thanh niên về ứng xử trong cuộc sống hiện đại
Tác giả: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh - Đài Tiếng nói Việt Nam - Ban biên tập phát thanh thanh Thiếu nhi
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2004
11. Giáo dục KNS cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (2006), NNXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục KNS cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
Tác giả: Giáo dục KNS cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
13. Nguyễn Hữu Hợp (2011), Sổ tay GV dành cho GV Tiểu học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay GV dành cho GV Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Hữu Hợp
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2011
14. Nguyễn Thị Hường, Lê Công Phượng (2009), Giáo dục sống khỏe mạnh và Kỹ năng sống trong dạy học Tự nhiên Xã hội ở trường tiểu học, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục sống khỏe mạnh và Kỹ năng sống trong dạy học Tự nhiên Xã hội ở trường tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Hường, Lê Công Phượng
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2009
15. Phạm Minh Hùng (2008), Một số vấn đề thời sự của giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề thời sự của giáo dục Tiểu học
Tác giả: Phạm Minh Hùng
Năm: 2008
16. Phan Quốc Lâm (2009), Nhửng thuyết tâm lý học DH tiểu học hiện đại,Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhửng thuyết tâm lý học DH tiểu học hiện đại
Tác giả: Phan Quốc Lâm
Năm: 2009
17. Đặng Huỳnh Mai (2010), Môi trường học thân thiện – Phương pháp tổ chức quản lý lớp học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường học thân thiện – Phương pháp tổ chức quản lý lớp học
Tác giả: Đặng Huỳnh Mai
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010
18. Nguyễn Bá Minh (2012), Phát triển trí tuệ HS Tiểu học, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển trí tuệ HS Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Bá Minh
Năm: 2012
19. Hồ Chí Minh (1997), Về vấn đề giáo dục, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
20. Lê Phương Nga (2009), Bồi dưỡng HS giỏi Tiếng Việt ở TIểu học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng HS giỏi Tiếng Việt ở TIểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2009
21. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2005
22. Nhiều tác giả (1978), Một số kinh nhiệm giáo dục đạo đức của GV chủ nhiệm lớp, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nhiệm giáo dục đạo đức của GV chủ nhiệm lớp
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1978
24. Nhóm biên soạn (2005), Từ điển tiếng Việt, NXB Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nhóm biên soạn
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
25. Nguyễn Thị Oanh (2009), Tư vấn tâm lý học đường - Hãy là chính mình, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn tâm lý học đường - Hãy là chính mình
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH THÀNH THÁI ĐỘ - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
HÌNH THÀNH THÁI ĐỘ (Trang 17)
Bảng 2.1. Ý kiến của CBQL, GV, HS và PH trong lựa chọn môn học chiếm ưu thế nhất khi tích hợp GDKNS - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng 2.1. Ý kiến của CBQL, GV, HS và PH trong lựa chọn môn học chiếm ưu thế nhất khi tích hợp GDKNS (Trang 41)
Bảng 2.4. Ý kiến đánh giá của CBQL, GV về các nội dung cần tích hợp  GDKNS trong DH môn Tiếng Việt lớp 4: - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng 2.4. Ý kiến đánh giá của CBQL, GV về các nội dung cần tích hợp GDKNS trong DH môn Tiếng Việt lớp 4: (Trang 43)
Bảng 2. 5 Nhận thức về quy trình tích hợp: - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng 2. 5 Nhận thức về quy trình tích hợp: (Trang 45)
Bảng số liệu nhận thấy được 100% GV đồng ý với qui trình 1. Ngoài ra tỉ  số đồng ý ở qui trình 2 và 3 lại rất thấp - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng s ố liệu nhận thấy được 100% GV đồng ý với qui trình 1. Ngoài ra tỉ số đồng ý ở qui trình 2 và 3 lại rất thấp (Trang 45)
Bảng 2.7. Những căn cứ của GV khi lựa chọn nội dung tích hợp GDKNS - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng 2.7. Những căn cứ của GV khi lựa chọn nội dung tích hợp GDKNS (Trang 46)
Bảng 2.8. Ý kiến của GV về mức độ thực hiện về các nội dung cần tích hợp  trong DH môn Tiếng Việt cho HS  lớp 4 - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng 2.8. Ý kiến của GV về mức độ thực hiện về các nội dung cần tích hợp trong DH môn Tiếng Việt cho HS lớp 4 (Trang 47)
Bảng 2.9. Thực trạng tích hợp GDKNS vào tiết học - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng 2.9. Thực trạng tích hợp GDKNS vào tiết học (Trang 48)
Bảng 2.10. Mức độ tích hợp GDKNS trong DH môn Tiếng Việt lớp 4 - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng 2.10. Mức độ tích hợp GDKNS trong DH môn Tiếng Việt lớp 4 (Trang 49)
Bảng 2.12. Phương pháp tích hợp nào gây hứng thú nhiều nhất cho  HS trong DH môn Tiếng Việt lớp 4: - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng 2.12. Phương pháp tích hợp nào gây hứng thú nhiều nhất cho HS trong DH môn Tiếng Việt lớp 4: (Trang 50)
Bảng 2.13. Kết quả của việc tích hợp GDKNS trong DH môn - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng 2.13. Kết quả của việc tích hợp GDKNS trong DH môn (Trang 51)
Bảng 2.14. Chất lượng thực hiện tích hợp GDKNS trong DH  môn Tiếng Việt lớp 4: - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng 2.14. Chất lượng thực hiện tích hợp GDKNS trong DH môn Tiếng Việt lớp 4: (Trang 52)
Bảng 2.15. Các tiêu chí đánh giá của CBQL về kết quả tích hợp GDKNS - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng 2.15. Các tiêu chí đánh giá của CBQL về kết quả tích hợp GDKNS (Trang 53)
Bảng 2.14. Nhà trường cần làm gì để HS tích cực tham tích hợp  GDKNS trong DH môn Tiếng Việt cho HS  lớp 4 - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng 2.14. Nhà trường cần làm gì để HS tích cực tham tích hợp GDKNS trong DH môn Tiếng Việt cho HS lớp 4 (Trang 55)
Bảng số liệu cho thấy các biện pháp đưa ra về cơ bản đều được các đối  tượng khảo sát đánh giá là có tính cần thiết cao - Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 trong dạy học môn tiếng việt
Bảng s ố liệu cho thấy các biện pháp đưa ra về cơ bản đều được các đối tượng khảo sát đánh giá là có tính cần thiết cao (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w