1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản sắc dân tộc trong các tác phẩm khí nhạc việt nam trường hợp piano

233 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 233
Dung lượng 11,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về văn hóa, bản sắc, bản sắc văn hóa, bản sắc dân tộc Các tài liệu nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đề cập đến văn hóa, bản sắc mà chúng tôi vận dụng trong luận án gồm có: Zdzilaw

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***

TRẦN THANH HÀ

BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG CÁC TÁC PHẨM KHÍ NHẠC VIỆT NAM

(Trường hợp Piano)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***

TRẦN THANH HÀ

BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG CÁC TÁC PHẨM KHÍ NHẠC VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án Bản sắc dân tộc trong các tác phẩm khí nhạc Việt

Nam (trường hợp piano) là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự trùng

lắp, sao chép của bất kỳ đề tài luận án hay công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả khác

Tác giả luận án

Trần Thanh Hà

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

BẢNG TRA CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ DÙNG TRONG LUẬN ÁN 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4 Giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 13

5 Kết quả đóng góp của luận án 15

6 Kết cấu và quy cách trình bày luận án 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN 18

1.1 Bản sắc văn hóa và nhận diện bản sắc văn hóa trong nghệ thuật Việt Nam 18

1.1.1 Khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa 18

1.1.2 Nhận diện bản sắc văn hóa trong nghệ thuật Việt Nam 26

1.2 Âm nhạc và nhận diện bản sắc văn hóa trong âm nhạc truyền thống 30

1.2.1 Âm nhạc 30

1.2.2 Nhận diện bản sắc văn hóa trong âm nhạc truyền thống 38

1.3 Nhận diện bản sắc văn hóa trong tác phẩm piano Việt Nam 51

1.3.1 Nhạc khí piano trong văn hóa âm nhạc châu Âu 51

1.3.2 Sơ lược về sự du nhập và phát triển nghệ thuật piano Việt Nam 55

Tiểu kết 62

CHƯƠNG 2: BẢN SẮC DÂN TỘC QUA HÌNH THÁI VÀ CẤU TRÚC ÂM NHẠC TRONG CÁC TÁC PHẨM PIANO VIỆT NAM 63

2.1 Nhận diện bản sắc dân tộc qua hình thái tác phẩm 63

2.1.1 Nhận diện bản sắc dân tộc qua tiêu đề 63

2.1.2 Nhận diện bản sắc dân tộc qua nhịp điệu, nhịp độ 76

Trang 5

2.2 Nhận diện bản sắc dân tộc qua cấu trúc âm nhạc 88

2.2.1 Cấu trúc bè giai điệu 88

2.2.2 Cấu trúc hợp âm bè đệm trong mối tương quan với bè giai điệu 114

Tiểu kết 129

CHƯƠNG 3: BẢN SẮC DÂN TỘC QUA KỸ THUẬT DIỄN TẤU NHẠC KHÍ PIANO Ở VIỆT NAM 131

3.1 Khả năng biểu đạt các yếu tố bản sắc của nhạc khí piano 131

3.1.1 Khả năng biểu đạt bản sắc dân tộc qua tầm âm và màu âm 132

3.1.2 Khả năng biểu đạt kỹ thuật diễn tấu nhạc khí truyền thống của piano 140

3.2 Kỹ thuật diễn tấu theo phong vị nhạc khí truyền thống Việt Nam 153

3.2.1 Mô phỏng từ nhạc khí truyền thống Việt Nam 153

3.2.2 Kết hợp kỹ thuật diễn tấu piano với nhạc khí truyền thống Việt Nam 161

Tiểu kết 176

KẾT LUẬN 177

TÀI LIỆU THAM KHẢO 182

PHỤ LỤC 196

Trang 6

Âm la thuộc quãng tám cực trầm

Âm đô quãng tám trầm

Âm đô quãng tám lớn

Âm đô quãng tám thứ nhất

Âm đô quãng tám thứ hai

Âm đô quãng tám thứ ba

Âm đô quãng tám thứ tƣ

Âm đô quãng tám thứ năm

Trang 7

BẢNG TRA CÁC BẢNG DÙNG TRONG LUẬN ÁN

Chương 2

Bảng 2.1 Cao độ tương ứng giữa thang năm âm Việt Nam với các âm

trong âm nhạc phương Tây

109

Bảng 2.2 Cao độ tương ứng giữa thang Bắc và thang Nam với các âm

trong âm nhạc phương Tây

110

Bảng 2.3 Cao độ tương ứng giữa thang Vọng cổ với các âm trong âm

nhạc phương Tây

110

Bảng 2.4 Cao độ tương ứng giữa thang âm Tây Nguyên với các âm

trong âm nhạc phương Tây

111

BẢNG TRA CÁC BIỂU ĐỒ DÙNG TRONG LUẬN ÁN

Biểu đồ 3.3 Khả năng biểu đạt kỹ thuật diễn tấu nhạc khí Hơi của piano 150

Biểu đồ 3.4 Khả năng biểu đạt kỹ thuật diễn tấu nhạc khí Gõ của piano 153

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi mối quan hệ giữa phổ quát và đặc thù ngày càng đa dạng, phức tạp, việc nghiên cứu bản sắc văn hóa là việc làm hết sức cần thiết, có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn Trước yêu cầu chung đó, chúng tôi nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc thông qua loại hình khí nhạc, cụ thể là nhạc khí piano

Nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc trong âm nhạc không chỉ thể hiện bản sắc dân tộc, mà còn thể hiện sự giao lưu, đặc biệt là giao lưu văn hóa đương đại Thông qua sự giao lưu này, bạn bè quốc tế có thể hiểu được văn hóa Việt Nam nói chung, âm nhạc Việt Nam nói riêng

Nghiên cứu quá trình tiếp biến văn hóa từ âm nhạc châu Âu vào âm nhạc Việt Nam góp phần tạo ra sản phẩm văn hóa mới, làm phong phú cho kho tàng văn hóa âm nhạc nước nhà

Quá trình hội nhập là cơ hội để chúng ta có thể giới thiệu âm nhạc Việt Nam nói chung, các tác phẩm piano Việt Nam nói riêng ra thế giới

Trải qua gần một thế kỷ hình thành và phát triển, khí nhạc Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định Việc nghiên cứu về bản sắc dân tộc trong các tác phẩm âm nhạc Việt Nam viết cho piano, góp phần xây dựng và phát triển nền âm nhạc Việt Nam nói chung “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” như Nghị quyết V khóa VIII (năm 2008) Trung ương Đảng đã đề ra

Trên đây là lý do của việc lựa chọn đề tài luận án: “Bản sắc dân tộc trong các tác phẩm khí nhạc Việt Nam (trường hợp piano)”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về văn hóa, bản sắc, bản sắc văn hóa, bản sắc dân tộc và vấn đề bản sắc dân tộc trong âm nhạc truyền thống Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu

Trang 9

đề cập đến trong một số sách, một số công trình nghiên cứu về văn hóa cũng như các công trình nghiên cứu trong ngành âm nhạc:

2.1 Về văn hóa, bản sắc, bản sắc văn hóa, bản sắc dân tộc

Các tài liệu nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đề cập đến văn hóa, bản sắc mà chúng tôi vận dụng trong luận án gồm có:

Zdzilaw Mach, trong sách “Biểu tượng, xung đột và bản sắc: những bài viết

về nhân học văn hóa” (Symbols, Conflict, and Identity: Essays in Political Anthropology) (1993), cho rằng “Bản sắc là một chỉnh thể phức hợp, đại diện cho tính cách hợp nhất, đa chiều kích và không thể giản hóa về những vai trò riêng lẻ

mà một cá nhân đóng vai trò trong những nhóm xã hội và những hoàn cảnh xã hội khác nhau” [120, tr 3] Tác giả đề cập đến chủ thể bản sắc ở hai cấp độ là cấp độ cá nhân và cấp độ cộng đồng Tác giả cho rằng: “Những vấn đề liên quan đến bản sắc

ở cả hai cấp độ dường như giống nhau trên nhiều bình diện, đặc biệt vì trong cả hai trường hợp bản sắc được hình thành trong sự thúc đẩy của sự liên kết, thích nghi và xung đột, và vì trong cả hai trường hợp bản sắc là thuộc về tính cách chủ quan và biểu trưng” [120, tr 4]

Robert Hauser, trong bài viết “Vũ điệu văn hóa Bản sắc văn hoá trong một thế giới toàn cầu hóa” (Dance of Cultures Cultural Identity in a Globalised World) (1998), mô tả các quan điểm đối lập giữa toàn cầu hóa và văn hóa và phác thảo khái niệm về bản sắc văn hóa nhằm nghiên cứu mối liên hệ giữa toàn cầu hóa và văn hóa

từ quan điểm sắc thái (nuanced) [137]

Chris Barker, trong Nghiên cứu văn hóa lý thuyết và thực hành (Đặng Tuyết Anh dịch) (2011) [05], nghiên cứu các vấn đề về tính chủ thể và bản sắc “Hỏi về tính chủ thể nghĩa là đưa ra câu hỏi: con người là gì? Khám phá bản sắc nghĩa là tìm hiểu: chúng ta nhìn nhận bản thân như thế nào và những người khác nhìn thấy chúng ta thế nào?” [05, tr 298], nghiên cứu về Nhà nước - dân tộc, bản sắc dân tộc

Các tác giả Việt Nam đã có nhiều công trình, bài viết đề cập đến văn hóa, bản sắc văn hóa Một trong những công trình đầu tiên với cái nhìn hệ thống, khoa

Trang 10

học, mở đầu cho việc nghiên cứu văn hoá Việt Nam là công trình “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh (Quan Hải Tùng Thư xuất bản năm 1938, NXB Văn hóa thông tin, HN tái bản năm 2002) [02]

Năm 1943, với Đề cương văn hoá Việt Nam, Đảng cộng sản Đông Dương chủ trương: Dân tộc - Khoa học - Đại chúng Đây là cương lĩnh đầu tiên của Đảng

về văn hóa

Từ những năm 1980, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa Có thể kể những tác giả tiêu biểu với các công trình nghiên cứu như sau: Tác giả Trần Văn Giàu (1980) với công trình “Giá trị tinh thần truyền thống

“Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á” [37] Tác giả Trần Ngọc Thêm (1997) với “Cơ sở văn hóa Việt Nam” [94] Tác giả Lê Văn Chưởng (1999), “Cơ sở văn hoá Việt Nam” [07] Tác giả Trần Quốc Vượng (2003) với “Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi suy ngẫm” [111], tiếp cận theo địa văn hóa Tác giả Trần Ngọc Thêm (2001, tái bản vào các năm 2004, 2006), với “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” [95], tiếp cận theo cái nhìn hệ thống - loại hình Tác giả Chu Xuân Diên (2002) với “Cơ sở văn hoá Việt Nam” [10] Tác giả Phạm Đức Dương (2002) với “Từ văn hóa đến văn hóa học” [13] Tác giả Phan Ngọc (2004, 2006) với

“Bản sắc văn hoá Việt Nam” [60], xem văn hoá là một quan hệ Tác giả Hà Văn Tấn (2005), với “Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam” [81] Tác giả Trần Quốc Vượng chủ biên (2007) với “Cơ sở văn hoá Việt Nam” [112] Tác giả Trần Ngọc Thêm (2013) với “Những vấn đề Văn hóa học lý luận và ứng dụng” [97]

Ngoài ra, còn các bài viết của các tác giả Quang Đạm, Trần Độ, Trần Đình

về bản sắc dân tộc của văn hóa” [107]; các bài viết của các tác giả Lê Ngọc Trà, Minh Chi, Dương Trung Quốc, Ngô Đức Thịnh được tập hợp và giới thiệu bởi Lê Ngọc Trà (2001) trong “Văn hóa Việt Nam - Đặc trưng và cách tiếp cận” [100], cũng như các bài viết của các tác giả khác

Trang 11

2.2 Về bản sắc dân tộc trong âm nhạc

Tác giả Đào Duy Anh, trong “Việt Nam văn hóa sử cương” (Thiên thứ tư, mục XI Nghệ thuật), có nói đến âm nhạc truyền thống với các đặc điểm về tính chất âm nhạc, hệ thống nhạc khí, biên chế dàn nhạc, âm luật Nhạc ta có đặc điểm thiên về giai điệu với tính chất êm dịu ngọt ngào chứ không theo lối hợp âm, hòa âm; âm nhạc không được ghi chép, “cao độ của mỗi tiếng thì mập mờ, cho nên người học nhạc chỉ học truyền khẩu mà người tấu nhạc thì tấu chừng với nhau, miễn

là thuận tay, vừa tai là được Bởi thế, xoang điệu thường không giữ được tính chất thuần túy mà thành tạp nhạp” [2, tr 352] Một đặc điểm quan trọng nữa theo tác giả

là âm nhạc ở nước ta có liên lạc mật thiết với sự hát xướng, “người ta tấu nhạc là để hòa theo bài hát, cho nên bài nhạc thường bị hạn chế bởi những giọng nói phiền phức của tiếng ta” và đây chính là nguyên nhân “khiến cho âm nhạc ta không có thể phá những khuôn khổ chật hẹp mà phát triển được” [2, tr 353] Về múa: “ở nước ta chỉ thấy lối múa về tôn giáo như lên đồng ở các điện phủ an tĩnh, múa Văn và múa

Võ ở lễ Nam Giao ” và tổng hợp: “Lối hát tuồng và hát chèo thì gồm cả âm nhạc, hát và múa” [2, tr 354] Tác giả cho rằng để âm nhạc của ta được giải phóng, phát triển tự do, thì “trước hết phải đem âm nhạc tách riêng hẳn với xướng ca, phải định giá trị của mỗi tiếng cho phân minh theo khoa học, và phải đặt phương pháp ghi chép bài nhạc cho thích hợp với những đặc tính của âm nhạc ta Khi âm nhạc đã phát đạt rồi thì nhạc khí tự nhiên sẽ phải thay đổi cho thích hợp” [2, tr 353]

Tác giả Trần Quốc Vượng, trong “Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm”

đã đưa ra mô hình âm nhạc Việt Nam [111, tr 2003], đó là một cấu trúc, bao hàm một số thành tố cơ bản, là mẫu số chung của ứng xử văn hóa, ứng xử âm thanh, ứng

xử tạo hình được gói ghém (cấu trúc hóa) và biểu lộ (triển khai) ở dạng biểu trưng (bao gồm “mã” (code), “chuẩn mực” (normes), “biểu tượng” (symboles), “giá trị” (valeurs), ở âm nhạc có thể hiểu là “tiết tấu”, “giai điệu”, “khúc thức” ) Đó là cách suy tư, cách (cái) nhìn, cách nghe, cách cảm thụ thế giới của một thời đại, một dân

Trang 12

tộc, một trường phái, thậm chí một tác giả được xây dựng trên toàn bộ dữ kiện của đời sống vật chất và tinh thần” [111, tr 452] Theo tác giả, âm nhạc Việt Nam - lịch

sử âm nhạc Việt Nam có thể sắp xếp theo ba mô hình: Mô hình Đông Sơn hay mô hình Trống Đồng là “tiết tấu, theo sát tự nhiên” Mô hình Đại Việt là “hòa tấu, bát

âm (hay mô hình Bát âm)” Mô hình Hiện đại hay mô hình Nhạc viện là “khoa học, hiện thực” [111, tr 454] Mô hình hiện đại bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ XIX, “nảy sinh từ một xã hội Pháp hóa và chống Pháp hóa Người Việt Nam, bắt đầu từ đô thị, phải chuyển biến, trăn trở, nhọc nhằn, quyết liệt thành một người khác thời Đại Việt Âm nhạc Pháp và phương Tây tràn vào đô thị và bắt đầu ảnh hưởng đến lớp thị dân Việt Nam Một nền âm nhạc mới, “hiện đại”, hay đúng hơn, một nền âm nhạc khác, ra đời và hôm nay, nó còn đang trong cơn trăn trở, chuyển mình để hội nhập cái truyền thống và cái cách tân, cái tinh túy nhạc Đông cả cái tinh túy nhạc Tây” [111, tr 457, 458]

Trong công trình “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm đã xếp âm nhạc thuộc nghệ thuật thanh sắc, “bao gồm những loại hình nghệ thuật có liên quan mật thiết với nhau mà phương Tây gọi là ca, múa, nhạc, kịch với đặc điểm chung là sự coi trọng thanh và sắc” [95, tr 298] Theo tác giả, nghệ thuật thanh sắc Việt Nam mang các đặc tính sau: (1) Tính biểu trưng: với nguyên lý đối xứng, hài hòa, được thực hiện bằng các thủ pháp “ước lệ” và “mô hình hóa” [95, tr 306]; (2) Tính biểu cảm: âm nhạc Việt Nam nhất là các làn điệu dân ca diễn tả tình cảm nội tâm, trữ tình với tốc độ chậm, luyến láy (âm tính), âm sắc trầm (âm tính),

“gợi nên tình cảm quê hương với những nỗi buồn man mác (âm tính) ” [95, tr 309]; (3) Tính tổng hợp: “trong sân khấu truyền thống Việt Nam không hề có sự phân biệt các loại hình ca, múa, nhạc, kịch - tất cả đều có mặt đồng thời trong một

vở diễn, một đêm diễn, một đoạn diễn” [95, tr 309] và (4) Tính linh hoạt

Tác giả Dương Viết Á, trong “Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa”, ở phần thứ nhất - Một dòng chảy (Bản sắc Việt Nam), tác giả đã khẳng định sự hiện hữu lịch sử của âm nhạc Việt Nam với bản sắc văn hóa của riêng “được kết đọng qua các tác phẩm âm nhạc, một hệ thống gồm nhiều họ hàng nhạc cụ, hình thức ứng

Trang 13

diễn, ứng tác, biểu diễn, trình độ và thị hiếu thưởng thức và cao hơn, là những chuẩn mực thẩm mỹ âm nhạc” [01, tập 1, tr 7] Tác giả đã tập hợp các ý kiến của các nhà nghiên cứu để đưa ra những nhận định, phân tích và tổng hợp tiến trình của

âm nhạc Việt Nam Tác giả đã dành phần lớn công trình viết về âm nhạc Việt Nam giai đoạn từ đầu thế kỷ XX với “hai điểm sáng” là âm nhạc sân khấu cải lương và trào lưu tân nhạc: “trào lưu tân nhạc đã được ấp ủ, thai nghén trong tâm thức Việt từ năm 1885 để rồi khoảng năm mươi năm sau mới cất tiếng chào đời, để rồi cũng khoảng hai mươi năm sau, trào lưu đó lại được tiếp biến và phát triển trên một chặng đường mới của nền văn hóa Việt Nam” [01, tập 1, tr 39]

2.3 Tài liệu của các tác giả nghiên cứu âm nhạc học

Các tác giả Lê Huy - Huy Trân (1984), với “Nhạc khí dân tộc Việt Nam” [31] cùng với sách “Nhạc khí dân tộc Việt” của tác giả Võ Thanh Tùng (2001) [87], nghiên cứu đặc điểm, tính năng, kỹ thuật diễn tấu các nhạc khí truyền thống

Tác giả Nguyễn Thụy Loan (1993), với “Lược sử âm nhạc Việt Nam” [50], trình bày sự hình thành và phát triển của âm nhạc Việt Nam qua từng giai đoạn lịch

sử Nhạc cổ truyền Việt Nam là sự kết hợp, “hòa quyện các yếu tố truyền thống bản

chọn lấy những cái hay, cái đẹp ở đó để làm giàu thêm cho vốn văn hóa nghệ thuật

cổ truyền của dân tộc vốn là một truyền thống đã được hình thành từ lâu đời của người Việt Nam và được kế thừa liên tục qua các thời đại” [50, tr 9, 10]

Tác giả Phạm Phúc Minh (1994), với “Tìm hiểu dân ca Việt Nam” [56], cùng với sách “Dân ca người Việt thể loại và hình thức” của tác giả Tú Ngọc (1994) [61], nghiên cứu đặc điểm dân ca Việt Nam

Tác giả Trần Vân Anh (1997), “Tìm hiểu cách sử dụng hòa âm trong các tác phẩm piano độc tấu của các tác giả Việt Nam” (Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật học, Nhạc viện Tp HCM) [03] Trong luận văn này, trên cơ sở lý thuyết hòa âm trong

âm nhạc cổ điển châu Âu, tác giả đã xem xét hòa âm trong các tác phẩm piano Việt

Trang 14

Nam về các mặt: (1) Thang âm điệu thức; (2) Cấu trúc hợp âm, chồng âm; (3) Các thủ pháp hòa âm Đây là công trình chuyên sâu về âm nhạc học

Tác giả Hoàng Hoa (1997), “Một số yếu tố biểu hiện bản sắc dân tộc trong sáng tác cho piano của nhạc sỹ Việt Nam” (Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật học, Nhạc viện Hà Nội) [28] Luận văn gồm hai chương Trong luận văn này, tác giả đã xem xét, xác định một số tác phẩm piano của các tác giả Việt Nam về các mặt: (1) Chất liệu dân ca trong các tác phẩm cho piano (chương 1); và (2) Thang âm điệu thức và hòa âm (chương 2) Công trình phân tích về mặt âm nhạc học gồm các yếu tố: phương thức sử dụng giai điệu từ các bài bản làn điệu dân ca (chương 1) và phương thức sử dụng thang âm điệu thức, hòa âm (chương 2) trong các tác phẩm piano Việt Nam Công trình chú trọng đến âm nhạc học mà chưa có những lý giải theo góc nhìn văn hóa học

Tác giả Tô Vũ (2002), với “Âm nhạc Việt Nam truyền thống và hiện đại” [110], tập hợp nhiều công trình và tiểu luận khảo cứu Tác giả trình nghiên cứu “Cổ nhạc người Việt và truyền thống phương Nam”, phân tích âm nhạc dân gian các dân tộc, giá trị của âm nhạc dân gian, sự hình thành tính cách, tâm hồn, bản sắc dân tộc Việt Nam và nghiên cứu nhạc khí truyền thống

Tác giả Trịnh Hoài Thu (2009), “Nghiên cứu ảnh hưởng của âm nhạc dân gian trong tác phẩm khí nhạc mới Việt Nam thế kỷ XX” (Luận án Tiến sĩ Văn hóa học Viện Văn hóa, Hà Nội) [99] Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của âm nhạc dân gian trong các tác phẩm khí nhạc viết cho các loại nhạc khí trong các thể loại khác nhau, từ các tác phẩm độc tấu của các nhạc cụ có xuất xứ từ châu Âu đến các tác phẩm hòa tấu thính phòng và tác phẩm giao hưởng Mục đích của công trình là tìm hiểu sự khai thác âm nhạc dân gian Việt Nam trong các tác phẩm khí nhạc viết cho nhạc cụ phương Tây nhằm “hệ thống những kinh nghiệm sáng tác khí nhạc mới của các nhạc sỹ Việt Nam thế kỷ XX” [99, tr 9] Luận án gồm ba chương: Chương 1, Phác thảo diện mạo khí nhạc mới Việt Nam thế kỷ XX, tác giả nghiên cứu sự hình thành và phát triển khí nhạc mới Việt Nam Chương 2,

Trang 15

Âm nhạc dân gian trong tác phẩm khí nhạc mới Việt Nam, nghiên cứu việc khai thác các yếu tố dân gian trong tác phẩm khí nhạc mới Việt Nam: cách sử dụng nguyên dạng và không nguyên dạng các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc; cách sử dụng điệu thức, thang âm từ âm nhạc truyền thống trong tác phẩm khí nhạc mới Việt Nam Chương 3, Xu hướng sử dụng chất liệu dân gian trong tác phẩm khí nhạc mới Việt Nam, đề cập đến giá trị của âm nhạc dân gian trong tác phẩm khí nhạc, sự

kế thừa và phát triển âm nhạc dân gian trong tác phẩm khí nhạc mới Việt Nam

Có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu một cách có hệ thống bản sắc dân tộc trong các tác phẩm khí nhạc Việt Nam (trường hợp piano) Những vấn đề đặt ra trong luận án không trùng lặp với các công trình đã có Chúng tôi khẳng định tính độc lập và mới mẻ của công trình Công trình mang tính mở đầu, định hướng chuyên ngành nói riêng, ngành nghiên cứu âm nhạc nói chung, góp phần bổ sung lý luận, thực tiễn sáng tác và biểu diễn

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Từ góc nhìn văn hóa học, mục đích nghiên cứu của chúng tôi là làm rõ bản sắc văn hóa dân tộc Việt trong các tác phẩm khí nhạc Việt Nam viết cho piano

Đối tượng nghiên cứu của luận án là bản sắc dân tộc, cụ thể là các yếu tố tạo

nên bản sắc dân tộc Việt trong các tác phẩm khí nhạc Việt Nam viết cho piano

Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là các tác phẩm khí nhạc Việt Nam viết cho piano có chất liệu nguồn bảo đảm thể hiện được bản sắc văn hóa dân tộc Việt Chất liệu nguồn là âm nhạc truyền thống Việt Nam: âm nhạc trong dân ca, âm nhạc thính phòng, âm nhạc trong sân khấu dân gian và âm nhạc trong các điệu múa dân gian

Theo quan điểm cá nhân, giới hạn dân ca dùng làm chất liệu nguồn là những bài hát dân ca ba miền Việt Nam Công trình có sử dụng một số tác phẩm piano của nước ngoài để đối chiếu Công trình không đề cập đến các tác phẩm của các tác giả

là Việt kiều hiện đang định cư tại nước ngoài

Trang 16

4 Giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

4.1 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào một số vấn đề chủ yếu sau:

a Lịch sử văn hóa dân tộc tác động đến bản sắc dân tộc trong nghệ thuật âm nhạc truyền thống của dân tộc

b Nghệ thuật nói chung, nghệ thuật âm nhạc nói riêng, với tư cách một tiểu văn hóa (sub-culture), là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ, với những đặc điểm riêng gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc

c Bản sắc văn hóa dân tộc không nhất thành bất biến Quá trình tiếp xúc, tiếp thu có chọn lọc âm nhạc từ các nền văn hóa nước ngoài đã làm thay đổi các phương thức biểu hiện của âm nhạc Việt Nam

d Bản sắc văn hóa trong âm nhạc truyền thống thể hiện trong tác phẩm piano Việt Nam từ các yếu tố cấu thành tác phẩm đến khả năng biểu đạt của nhạc khí

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chúng tôi vận dụng trong luận án bao gồm:

- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: chúng tôi xem văn hóa như một hệ thống lớn và âm nhạc là một thành tố trong hệ thống cấu trúc ấy Đồng thời, bản thân âm nhạc lại trở thành một hệ thống - cấu trúc nhỏ hơn, bao gồm nhiều yếu tố trong hệ thống của mình

- Phương pháp so sánh: so sánh một số yếu tố đặc trưng trong các tác phẩm piano Việt Nam với các tác phẩm piano của các nhạc sỹ nước ngoài ở các mặt như cấu trúc âm nhạc trong xây dựng bè giai điệu, hợp âm bè đệm và kỹ thuật diễn tấu nhằm làm nổi bật lên bản sắc văn hóa dân tộc trong các tác phẩm viết cho piano của các tác giả Việt Nam

Trang 17

- Phương pháp thực nghiệm: tìm hiểu các tác phẩm khí nhạc viết cho piano của các nhạc sỹ Việt Nam thông qua việc đàn, nghe, quan sát từ biểu diễn thực tế

- Phương pháp quan sát tham dự và phỏng vấn sâu (deep - interview): Bên

cạnh nguồn tư liệu tham khảo, chúng tôi đã áp dụng phương pháp tham dự các buổi chuyên đề về âm nhạc truyền thống, các buổi biểu diễn âm nhạc piano; đồng thời có các cuộc phỏng vấn (bán cấu trúc) các tác giả sáng tác cho piano, các nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc truyền thống, các nghệ sĩ biểu diễn piano

Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng kiến thức của chuyên ngành âm nhạc như

lý thuyết âm nhạc, hòa âm, tính năng nhạc khí, kỹ thuật diễn tấu nhạc khí; dùng thao tác thống kê (thông qua các tác phẩm được khảo sát, chúng tôi thống kê các yếu tố thể hiện bản sắc được các tác giả vận dụng) để có thể làm rõ hơn bản sắc dân tộc trong tác phẩm piano Việt Nam

4.2 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng khi nghiên cứu là các tác phẩm piano của các tác giả Việt Nam Các tác phẩm này đã được xuất bản, hoặc đã được sử dụng trong chương trình giảng dạy tại các nhạc viện, các cơ sở đào tạo âm nhạc chính quy trong nước, hoặc đã được biểu diễn

Nguồn tư liệu về văn hóa, bản sắc văn hóa Việt Nam, các lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa, về âm nhạc truyền thống là các sách chuyên khảo, các công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước thuộc các lĩnh vực như: văn hóa học, âm nhạc học và nghệ thuật học

Ngoài việc chúng tôi thực hiện các cuộc phỏng vấn trực tiếp với những chuyên gia, nhà nghiên cứu về âm nhạc, chúng tôi còn gián tiếp kết hợp với việc sưu tầm trên mạng Internet gồm các bài viết, các băng, đĩa về văn hóa học, âm nhạc học, các bản nhạc, âm thanh các tác phẩm piano Việt Nam và nước ngoài Chúng tôi có đủ nguồn tư liệu để thực hiện luận án

Trang 18

5 Kết quả đóng góp của luận án

Về phương diện khoa học

Luận án là công trình nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về bản sắc văn hóa dân tộc trong các tác phẩm khí nhạc viết cho nhạc khí piano của các tác giả Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa học

Luận án khảo sát, tổng hợp các yếu tố hình thành bản sắc dân tộc trong nghệ thuật truyền thống, trong âm nhạc truyền thống, từ đó phác họa quá trình tiếp cận, vận dụng các yếu tố bản sắc trong sáng tác các tác phẩm cho piano của các nhạc sỹ Việt Nam

Luận án định dạng và nhận biết những yếu tố tạo nên bản sắc dân tộc trong các tác phẩm khí nhạc viết cho nhạc khí piano của các tác giả Việt Nam Những yếu

tố này đã và đang chi phối nghệ thuật sáng tạo, xây dựng các tác phẩm cho piano của các nhà soạn nhạc Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của công trình góp phần định hướng chuyên ngành sáng tác, biểu diễn piano cũng như nghiên cứu âm nhạc ở Việt Nam

Về phương diện thực tiễn

Luận án hệ thống hóa các yếu tố thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc trong các sáng tác cho piano của các tác giả Việt Nam Những thuận lợi và khó khăn trong việc thể hiện bản sắc trong các tác phẩm piano Việt Nam

Luận án góp phần làm rõ hơn vai trò, giá trị của khí nhạc Việt Nam nói chung, của piano nói riêng; góp phần vào công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng nền văn hóa nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng mang bản sắc Việt trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay

Luận án có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo để giảng dạy âm nhạc, nhất là bộ môn sáng tác âm nhạc tại các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp cũng như các trường văn hóa nghệ thuật trong cả nước, cho các công trình liên quan

Trang 19

6 Kết cấu và quy cách trình bày luận án

Phần chính văn, ngoài mở đầu và kết luận, luận án được chia làm ba

chương:

Chương 1 (45 trang): Cơ sở lý thuyết và hướng tiếp cận Trong chương này,

chúng tôi vận dụng kết quả nghiên cứu từ những công trình của các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước, tìm hiểu các khái niệm văn hóa, bản sắc, bản sắc văn hóa, bản sắc dân tộc để từ cơ sở này có thể xác định hướng nhận diện bản sắc văn hóa Việt Nam Từ cơ sở này có thể tiến tới các bước tiếp theo, nghiên cứu hướng tiếp cận, nhận diện bản sắc văn hóa trong nghệ thuật Việt Nam, nhận diện bản sắc văn hóa trong âm nhạc truyền thống Việt Nam và xác định các tiêu chí nhận diện bản sắc văn hóa trong tác phẩm piano Việt Nam; nghiên cứu sự du nhập và phát triển nghệ thuật sáng tác, biểu diễn piano ở Việt Nam

Tác phẩm khí nhạc viết cho piano của các tác giả Việt Nam là sự thể hiện tâm tư, tình cảm, tâm hồn người Việt thông qua phương tiện thể hiện là nhạc khí piano Bản sắc văn hóa dân tộc trong tác phẩm piano thể hiện thông qua các hình thái, thông qua cấu trúc âm nhạc của tác phẩm và thông qua kỹ thuật diễn tấu của nhạc khí piano ở Việt Nam

Chương 2 (68 trang): Nghiên cứu bản sắc dân tộc qua hình thái và cấu trúc

âm nhạc trong các tác phẩm piano Việt Nam Trong chương này chúng tôi nghiên

cứu bản sắc dân tộc qua hình thái và qua cấu trúc âm nhạc tác phẩm piano Việt Nam Bản sắc dân tộc trong tác phẩm piano Việt Nam là một hệ thống cấu trúc, gồm sự kết hợp của những yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Mỗi yếu tố lại có chức năng riêng trong việc xây dựng và thể hiện bản sắc dân tộc của tác phẩm Những yếu tố bên ngoài có thể nhìn thấy giúp nhận diện bản sắc dân tộc trong tác phẩm là tiêu đề tác phẩm, nhịp điệu, nhịp độ tác phẩm Yếu tố bên trong chính là cấu trúc

âm nhạc, là những âm điệu đặc trưng được thể hiện bằng các quãng nhạc Các quãng nhạc này đã trở thành “mẫu số chung” trong “ứng xử âm thanh” của âm nhạc truyền thống Trong tác phẩm piano, nghiên cứu bản sắc dân tộc qua cấu trúc âm

Trang 20

nhạc chính là nghiên cứu việc vận dụng những quãng nhạc mang “âm điệu đặc trưng” của nhạc truyền thống trong cấu trúc bè giai điệu cũng như cấu trúc hợp âm

bè đệm tác phẩm piano Việt Nam

Chương 3 (47 trang): Nghiên cứu bản sắc dân tộc qua kỹ thuật diễn tấu nhạc khí piano ở Việt Nam Chương này nghiên cứu khả năng biểu đạt các yếu tố bản sắc

của nhạc khí piano, cụ thể là các yếu tố về đặc điểm, tính năng của nhạc khí cần được xem xét, đối chiếu với đặc điểm, tính năng các nhạc khí truyền thống để khẳng định khả năng biểu đạt bản sắc trong tác phẩm Từ việc xem xét khả năng biểu đạt bản sắc dân tộc của nhạc khí piano, luận án nghiên cứu việc thể hiện bản sắc thông qua việc vận dụng các kỹ thuật diễn tấu của nhạc khí piano trong sự đối chiếu với kỹ thuật diễn tấu của các nhạc khí truyền thống, ý nghĩa của nghệ thuật sáng tác và biểu diễn piano ở Việt Nam

Trang 21

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN

1.1 Bản sắc văn hóa và nhận diện bản sắc văn hóa trong nghệ thuật Việt Nam

1.1.1 Khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa

Văn hóa là sản phẩm vật chất và tinh thần của con người, do con người sáng tạo Chính văn hóa đã tạo cho con người sự khác biệt với các động vật khác Ruth

Bennedict (1887-1948), nhà Nhân học người Mỹ đã nhận định rằng: "Văn hoá là lối

sống mà con người học được chứ không phải là sự kế thừa sinh học” [138] Bắt đầu

từ định nghĩa năm 1871 của nhà dân tộc học Edward Burnett Tylor (1832-1917), người sáng lập ngành nhân học xã hội Anh, đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Số lượng định nghĩa về văn hóa hiện nay rất lớn, tới 400, 500 hoặc

nhiều hơn nữa, không thể thống kê được Trong tác phẩm Văn hóa nguyên

thủy, E.B Tylor đã đưa ra khái niệm văn hóa: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa

rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm

Văn hóa theo nhà nghiên cứu người Anh Raymond Wiliams (1921-1988):

“Từ văn hóa (culture) bắt nguồn từ danh từ chỉ quá trình lên quan tới việc trồng trọt các cây trồng (cultivation) Sau đó, ý tưởng về trồng trọt được mở rộng ra để bao trùm trí tuệ con người hay “tâm hồn” con người Điều này đưa đến ý tưởng về con người được nuôi dưỡng hay có văn hóa”, “Văn hóa được cấu thành bởi “một cách tổng thể của đời sống”” [05, tr 67] Theo Wiliams, “một nền văn hóa có hai khía cạnh: những ý nghĩa và chiều hướng được biết đến, những cái mà các hành viên của

nó được dạy dỗ, và những quan sát và ý nghĩa mới, những cái được đưa ra và được kiểm tra Đây là những quá trình thông thường của các xã hội con người, và thông qua chúng, chúng ta nhìn thấy bản chất của văn hóa: rằng văn hóa luôn vừa mang tính truyền thống vừa mang tính sáng tạo; rằng văn hóa vừa có ý nghĩa phổ biến bình thường nhất và lại có những ý nghĩa cá nhân tốt đẹp nhất Chúng ta sử dụng từ

Trang 22

văn hóa theo hai nghĩa này để nói đến cái tổng thể của đời sống - ý nghĩa bình thường; Và để nói đến nghệ thuật và việc học hỏi - những quá trình đặc biệt của sự khám phá và nỗ lực sáng tạo” [05, tr 69]

Tại Hội nghị quốc tế của UNESCO (từ ngày 26/7 đến ngày 06/8/1982), văn hóa được xem là sản phẩm vật chất và tinh thần được tạo ra bởi trí tuệ và cảm xúc, mang những đặc trưng riêng của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm: “Nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống những giá trị, những tập quán và những tín ngưỡng” [65,

tr 7]

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều khái niệm, định nghĩa về

văn hóa Sách Cơ sở văn hóa Việt Nam do Trần Quốc Vượng chủ biên có đưa ra

định nghĩa về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo

đó tức là văn hóa” [112, tr 21] Hồ Chí Minh quan niệm văn hóa bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra, liên quan đến cuộc sống, sinh hoạt của con người

Phạm Văn Đồng cũng cho rằng: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà

có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới

từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng

và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [112, tr 21]

Theo Hà Văn Tấn, trong Bản sắc văn hóa Việt cổ (1995): “Văn hóa là hệ

thống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội, trong hoạt động sinh tồn và phát triển của mình Nói khác đi, văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người

Trang 23

trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và xã hội diễn ra trong không gian, thời gian và hoàn cảnh nhất định” [81, tr 151] Tác giả cho rằng văn hóa gắn liền với môi trường tự nhiên, không thể tách rời khỏi môi trường tự nhiên, đồng thời văn hóa gắn liền với ứng xử (ứng xử với thiên nhiên và xã hội) Cùng với môi trường tự nhiên và ứng xử, văn hóa cũng biến đổi bởi phụ thuộc vào lịch sử: “lịch sử biến đổi

và do đó, văn hóa cũng biến đổi theo, do những điều kiện mà lịch sử đưa lại” [81, tr 153]

Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, trong công trình Những vấn đề văn hóa

học lý luận và ứng dụng (2013), đã xây dựng một định nghĩa văn hóa như sau: “Văn

hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [97, tr 56] Định nghĩa này giúp nhận diện văn hóa và định vị các nền văn hóa thông qua “bộ chìa khóa” thứ nhất là chùm bốn đặc trưng: tính hệ thống, tính giá trị/ tính biểu tượng, tính nhân sinh và tính lịch sử; thông qua “bộ chìa khóa” thứ hai là hệ tọa độ ba chiều mà trong đó văn hóa tồn tại: chủ thể văn hóa (C), không gian văn hóa (K), và thời gian văn hóa (T)

Bản sắc, bản sắc văn hóa, bản sắc dân tộc: Trong xu thế hội nhập, toàn cầu

hóa hiện nay, vấn đề bản sắc nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong

và ngoài nước Sự phát triển kinh tế xã hội đồng thời vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc đã trở thành vấn đề không chỉ của riêng Việt Nam mà còn là vấn đề của rất nhiều quốc gia trên thế giới

Theo các nhà nghiên cứu, bản sắc gồm có bản sắc cá nhân và bản sắc cộng đồng cùng với mối liên hệ giữa các cá nhân trong cộng đồng Theo tác giả Zdzislaw Mach: “Ở cấp độ bản sắc cá nhân là câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai trong quan hệ với những người khác?” Ở cấp độ xã hội đó là câu trả lời cho câu hỏi: “Chúng tôi

là ai trong quan hệ với những nhóm người khác?” [120, tr 4] và “Những vấn đề liên quan đến bản sắc ở cả hai cấp độ dường như giống nhau trên nhiều bình diện, đặc biệt vì trong cả hai trường hợp bản sắc được hình thành trong sự thúc đẩy của sự

Trang 24

liên kết, thích nghi và xung đột, và vì trong cả hai trường hợp bản sắc là thuộc về tính cách chủ quan và biểu trưng” [120, tr 4] Từ bản sắc tộc người đến bản sắc dân tộc: “Ở một cấp độ chung nhất, bản sắc tộc người tự nó chuyển thành bản sắc quốc gia/dân tộc (national identity) khi có niềm tin vào tổ tiên và cội nguồn chung và sự đồng nhất của một nền văn hóa được liên kết với ước muốn đạt được một nhà nước

có chủ quyền để bảo vệ sự thống nhất và phát triển tự do của văn hóa của tộc người đó” [120, tr 4]

Theo Chris Barker: “Bản sắc là một bản chất (essense) mà có thể được biểu đạt thông qua những kí hiệu về thị hiếu, niềm tin, thái độ và phong cách sống” và

“bản sắc là sự giống nhau và điểm khác biệt, về những cái mang tính cá nhân và những cái mang tính xã hội, “về việc bạn có gì chung với một số người và điều gì khiến bạn khác những người khác”” [05, tr 302] Bản sắc văn hóa thuộc bản sắc cộng đồng/dân tộc Các tác giả Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp

đã đưa ra định nghĩa về dân tộc/tộc người như sau: “Dân tộc (tộc người) là một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối liên hệ chung về một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hóa, trên cơ sở những mối liên hệ đó, mỗi tộc người có một ý thức về thành phần tộc người và tên gọi của mình” [45, tr 23]

Bản sắc trong từ điển tiếng Việt là “Màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính” [71, tr 31] Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra nhiều cách nhìn nhận, tiếp cận về bản sắc văn hóa Tuy nhiên, các tác giả Việt Nam hầu hết tập trung đề cập đến bản sắc cộng đồng/dân tộc “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc; một dân tộc đánh mất truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả” [36, tr 13]

Tác giả Quang Đạm đã xem xét bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa Việt Nam

từ những dữ liệu cơ bản về mặt xã hội và lịch sử, từ những dữ kiện dân tộc học, xã hội học và những hoàn cảnh địa lý, lịch sử và sự hòa quyện các yếu tố ấy: “Bản sắc dân tộc là sắc thái bao quát một cách uyển chuyển, linh hoạt những đặc điểm của

Trang 25

một dân tộc tạo nên diện mạo và dạng hình riêng của dân tộc ấy không thể đồng nhất với các dân tộc khác trong một cộng đồng khu vực hay cộng đồng loài người” [15, tr 15] Theo tác giả, về mặt dân tộc học và xã hội học, bản sắc dân tộc là cái tổng hòa những đặc điểm dân tộc, gồm các đặc điểm mang sắc thái chủng tộc, giai cấp, giới, địa phương và tôn giáo Về lịch sử, bản sắc dân tộc là cái tổng hòa những đặc điểm gắn với các quá trình phát triền đa dạng nối tiếp nhau, có sự nối tiếp truyền thống với “những bước thay đổi màu sắc ít nhiều” và “Nhìn cả hai mặt bên trong và bên ngoài, bản sắc dân tộc là cái tổng hòa những đặc điểm gắn với các nhân tố nội tại và các nhân tố ngoại tại cùng nhau thúc đẩy sự vận động của dân tộc” [15, tr 15] Tác giả còn cho rằng, dưới chế độ tư hữu, bản sắc dân tộc gồm nền văn hóa của đông đảo nhân dân lao động và nền văn hóa của giai cấp thống trị Hai nền văn hóa này thâm nhập, hòa lẫn vào nhau nhưng đồng thời có sự phân biệt Bản sắc dân tộc phản ánh truyền thống của đông đảo nhân dân lao động và các truyền thống tiến bộ là tiêu biểu Chính điều này đã làm cho “Văn hóa và bản sắc của một dân tộc thường liên kết chặt chẽ với nhau, hầu như đồng nhất với nhau Bởi vậy người ta cũng thường coi bản sắc dân tộc là bản sắc văn hóa (indentité culturelle) của dân tộc” [15, tr 16]

Tác giả Trần Đình Hượu đề cập đến đặc sắc văn hóa: “Đặc sắc dân tộc của văn hóa làm cho mỗi dân tộc hiện ra với những nét độc đáo, phân biệt với các dân tộc khác” và “Đặc sắc văn hóa dân tộc là bằng chứng về bản lĩnh sáng tạo của dân tộc đó Sáng tạo chịu sự quy định của những điều kiện sống (hoàn cảnh địa lý, hoàn cảnh lịch sử)” [34, tr 38] Về sự thay đổi của đặc sắc văn hóa, tác giả cho rằng:

“Đặc sắc văn hóa cũng phát triển, kết hợp với những yếu tố mới, nhưng trong cái phức hợp hình thành về sau, cái “vốn có” vẫn là xương sống; bản lĩnh sáng tạo biểu hiện ở mô dạng kết hợp cái mới với cái “vốn có”, thích ứng cái “vốn có” với điều kiện mới” [34, tr 38, 39]

Tác giả Hà Văn Tấn: “Bản sắc văn hóa là những nét văn hóa riêng làm thành

hệ giá trị được một dân tộc chấp nhận, được xem như phù hợp và thích hợp, được đem vào vận hành nhằm thỏa mãn nhu cầu sống và phát triển của dân tộc mình

Trang 26

trong nền cảnh lịch sử tương ứng” [81, tr 152] “Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống các giá trị văn hóa mà mỗi dân tộc chấp nhận Tất nhiên nói “giá trị” ở đây, ta không hề dùng khái niệm đó theo nghĩa giá trị học (axiologic), nghĩa là tiến bộ hay không tiến bộ, theo nhận thức chủ quan của chúng ta Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng gồm những giá trị phù hợp với nó, kể cả những giá trị trung tính (neuter)” [81, tr 153] Tác giả cho rằng văn hóa phụ thuộc vào lịch sử nên văn hóa biến đổi theo lịch sử, do những điều kiện mà lịch sử đưa lại Vì vậy “bản sắc văn hóa dân tộc cũng thay đổi” [81, tr 155]

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm: “Bản sắc văn hóa của một dân tộc là một hệ thống các giá trị tinh thần ổn định tồn tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn hóa dân tộc, tạo nên tính đặc thù của dân tộc, khu biệt dân tộc ấy với các dân tộc khác” [96, tr 49] Tác giả đã chỉ ra việc nhận diện một giá trị văn hóa có đặc trưng bản sắc hay không dựa vào ba dấu hiệu: (a) Là một giá trị tinh thần đã tồn tại tương đối lâu dài; (b) Có tác dụng chi phối các đặc điểm khác của văn hóa (các cách ứng xử và hoạt động, các giá trị vật chất); (c) Nằm trong hệ thống các đặc trưng bản sắc, có tác dụng khu biệt nền văn hóa đó Theo tác giả, “bản sắc văn hóa mang tính ổn định, lâu bền tương đối, nghĩa là nó vẫn có thể được điều chỉnh, biến đổi, nhưng sự thay đổi này rất chậm và khó khăn” [97, tr 47]

Theo tác giả Lê Ngọc Trà: “Cái tạo nên bản sắc riêng, nét đặc trưng riêng trong văn hóa của một dân tộc chính là toàn bộ những cái vốn có trong bản thân nó, những cái nằm trong bản chất, tạo thành cốt lõi, diện mạo của nó, những cái mà khi nhắc đến dân tộc ấy, nền văn hóa ấy, người ta không thể không nói tới” [100, tr 4] Tuy nhiên, tác giả cũng lưu ý rằng những đặc trưng tạo nên bản sắc có thể có ở nhiều dân tộc khác nhau, chẳng hạn như lòng yêu nước, tinh thần lạc quan, hiếu học Do đó: “Sự khác nhau về bản sắc giữa các dân tộc là ở chỗ mỗi dân tộc nhấn mạnh những yếu tố khác nhau, ưu tiên những mặt khác nhau và ở từng dân tộc, mỗi mặt, mỗi yếu tố cũng bộc lộ theo kiểu khác nhau” Tác giả cho rằng: “Để hiểu đầy

đủ về dân tộc và văn hóa dân tộc, chỉ vận dụng riêng một quan điểm có tính chất giá

Trang 27

trị học không thôi, có lẽ chưa đủ Đặc sắc của văn hóa là ở chỗ nó không chỉ là vấn

đề trình độ giá trị, mà còn là phong cách” [100, tr 5]

Bản sắc văn hóa dân tộc theo tác giả Ngô Đức Thịnh: “Đó là một tổng thể các giá trị đặc trưng của văn hóa, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc, các giá trị đặc trưng ấy mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn, do vậy muốn nhận biết nó phải thông qua vô vàn các sắc thái văn hóa, với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hóa” Tác giả cho rằng

“nếu bản sắc văn hóa là cái trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững thì các sắc thái biểu hiện của nó tương đối cụ thể, bộc lộ và khả biến hơn” [98, tr 167, 168]

Tác giả Trần ngọc Thêm, trong công trình “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, bằng cái nhìn loại hình kinh tế - văn hóa, dựa vào các đặc trưng về địa lý cùng với các đặc điểm mang tính lịch sử - kinh tế đã xác định loại hình văn hóa Việt Nam là văn hóa gốc nông nghiệp trọng tĩnh, với các đặc trưng như: “Lối nhận thức,

tư duy thiên về tổng hợp và biện chứng, chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm Trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng nữ; linh hoạt, dân chủ trong tổ chức cộng đồng Trong ứng xử với môi trường xã hội là thái độ mềm dẻo hiếu hòa trong đối phó, dung hợp trong tiếp nhận” [95, tr 48] Đối lập với loại hình văn hóa gốc du mục của phương Tây với “Lối nhận thức, tư duy thiên về phân tích, siêu hình; khách quan, lý tính và thực nghiệm Trọng sức mạnh, trọng tài trọng võ, trọng nam Nguyên tắc và quân chủ trong tổ chức cộng đồng Trong ứng xử với môi trường xã hội là độc tôn trong tiếp nhận; cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó” [95, tr 48]

Việt Nam có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài Trong lịch sử của mình, bản sắc văn hóa Việt Nam được thể hiện thông qua những yếu tố ổn định Tuy nhiên, trải qua quá trình giao lưu tiếp biến, những yếu tố này đã tự điều chỉnh, biến đổi, giúp cho văn hóa Việt Nam có được diện mạo mới mà vẫn giữ được bản sắc Sự tự điều chỉnh, biến đổi ấy được vận hành thành công bởi văn hóa Việt Nam

là một “hệ thống mở” gồm nhiều cơ tầng có liên quan tới những đợt tiếp xúc với những nền văn hóa bên ngoài Sự tiếp nhận văn hóa từ bên ngoài đều phải được đi

Trang 28

qua “bộ lọc” bao gồm các yếu tố khác nhau, chẳng hạn theo Nguyễn Kiến Giang là

“ứng xử, ngôn ngữ và tâm thức” [24, tr 20]; theo Trần Đình Hượu là “những quy định của điều kiện sống (hoàn cảnh địa lý, hoàn cảnh lịch sử )” [34, tr 38]

hóa, lịch sử, ngôn ngữ của một cộng đồng, thuộc về một nhà nước, gắn với dân tộc

và nhà nước Bản sắc văn hóa theo các nhà nghiên cứu có những điểm tương đồng, thống nhất: (1) Là hệ thống các giá trị đặc trưng, tồn tại lâu bền trong truyền thống văn hóa được mỗi dân tộc chấp nhận; (2) Thông qua các sắc thái, cách biểu hiện có tác dụng khu biệt nền văn hóa này với nền văn hóa khác và (3) Có thể biến đổi Đề cập đến sự biến đổi của bản sắc, tác giả Trần Độ cho rằng: “Bản sắc dân tộc cũng có

sự biến đổi và phát triển, nhưng nó biến đổi theo quy luật của nó, của cái gốc” [20,

tr 36]

Để tiếp cận với văn hóa (vừa biến đổi liên tục, vừa bảo lưu bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc), tác giả Phạm Đức Dương áp dụng cấu trúc ký hiệu để phân xuất cấu trúc văn hóa và chia cấu trúc văn hóa thành hai bậc: cấu trúc bề mặt (biểu tầng)

và cấu trúc chiều sâu (cơ tầng), trong đó: “Cấu trúc bề mặt bao gồm tất cả các hệ thống ký hiệu văn hóa nằm trên biểu tầng (tức là những biểu hiện văn hóa) được thay đổi liên tục Ta gọi đó là những biến số, là yếu tố động của văn hóa Cấu trúc chiều sâu là bộ phận chìm khó nhìn thấy nằm dưới cơ tầng (tức nằm trong tâm thức của con người), là yếu tố tĩnh của văn hóa Đó chính là những hệ giá trị văn hóa” [13, tr 215] Theo Phạm Đức Dương, cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu có mối quan hệ tương tác nhau Cấu trúc chiều sâu giữ vai trò quan trọng trong định hướng

và điều chỉnh những biến đổi trên bề mặt Đồng thời, sự biến đổi các yếu tố trên bề mặt sẽ thẩm thấu, tác động đến cấu trúc chiều sâu, làm cấu trúc chiều sâu biến đổi:

“Do đó văn hóa không phải là cái gì nhất thành bất biến, mà cũng như mọi sự vật đều biến đổi” [13, tr 215] Tác giả cho rằng cái gốc của văn hóa chính là hệ thống các giá trị “Các giá trị được chắt lọc và được kết tinh thành truyền thống của mỗi dân tộc, được cộng đồng lựa chọn tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc đó và được truyền từ đời này sang đời khác Truyền thống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử

Trang 29

cộng đồng, được gạn đục khơi trong để chỉ giữ lấy những gì là tinh hoa, là vốn quý của dân tộc” [13, tr 229] Chính các hệ giá trị giúp con người trong cộng đồng “lựa chọn những gì phù hợp với bản sắc văn hóa cộng đồng, tạo nên những tập quán, những thói quen, những nếp sống đẹp gắn chặt cố kết cộng đồng và khu biệt với cộng đồng khác” [13, tr 229]

Bản sắc văn hóa Việt Nam được nhận diện trên ba đặc thù là: (1) Văn hóa

hóa dân tộc cũng thay đổi

1.1.2 Nhận diện bản sắc văn hóa trong nghệ thuật Việt Nam

Từ các đặc thù để nhận diện bản sắc văn hóa, chúng tôi tìm hiểu sự ảnh hưởng của nó đến nghệ thuật Việt Nam Theo tác giả Trần Độ: “Tìm bản sắc là tìm cái cốt lõi, cái tinh túy của tính dân tộc ở mỗi lĩnh vực cụ thể của văn hóa và nghệ thuật” [20, tr 25] Nói cách khác, tìm hiểu bản sắc văn hóa trong nghệ thuật và trong âm nhạc truyền thống của dân tộc chính là xác định những đặc thù của nghệ thuật Việt Nam trong môi trường tự nhiên, trong môi trường xã hội và sự thay đổi của bản sắc văn hóa

Môi trường tự nhiên: Văn hóa Việt Nam với chủ thể là người Việt (Kinh)

chiếm đa số, chịu tác động, chi phối của đặc điểm nơi cư trú, của vị trí địa lý thấp dần theo hướng Đông - Nam, từ vùng đồi núi đến vùng đồng bằng sông nước và vùng ven biển Người Việt là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, thường xảy ra bão lụt Những đặc điểm điều kiện tự nhiên đã gây nên những khó khăn cho cuộc sống con người, do đó cách ứng xử với môi trường tự nhiên của cư dân Việt là tôn trọng thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên Về mặt nhận thức thế giới tự nhiên, tư duy của người Việt “thiên về tổng hợp và biện chứng (trọng quan hệ), chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm” [95, tr 48]

Theo tác giả Trần Độ, một trong những đặc điểm, giá trị tinh thần của dân tộc là tính cách bình dị của tâm hồn “Bình dị không phải là một phẩm chất đạo đức

Trang 30

Nó là một nét đẹp, nét cao cả của tâm hồn” Tính cách bình dị này biểu hiện trong lối sống, trong thị hiếu thẩm mĩ và thị hiếu nghệ thuật Việt Nam: “Các cảnh quan, công trình xây dựng của Việt Nam từ lịch sử nhiều năm lưu lại đều để cho đời sau những ấn tượng một vừa hai phải, xinh gọn trang nhã Công trình đồ sộ nhất của ta

là hệ thống đê chống lũ lụt của đồng bằng sông Hồng” [20, tr 29] Trong văn học nghệ thuật Việt Nam không có những trường ca với độ dài hàng ngàn câu, những tiểu thuyết hàng chục ngàn trang với hàng ngàn nhân vật, “những tác phẩm hay nhất

là những bài thơ xinh gọn độ 50 chữ hoặc vài trăm chữ ” [20, tr 29] Về màu sắc:

“Người Việt Nam ưa thích các màu sắc dịu dàng, nhẹ nhàng, sáng sủa, thanh nhã, hài hòa, ưa thích các màu sắc của thiên nhiên, bắt nguồn từ thiên nhiên” [20, tr 31] Theo tác giả Thái Bá Vân, thẩm mĩ tạo hình của nghệ thuật Việt Nam được hình thành từ thời Đông Sơn với đặc điểm: “Nhịp nhàng, cân xứng đến trong sáng và thuần khiết là hai mĩ cảm lạc quan rất rõ trên thứ hình học Đông Sơn bám sát tự nhiên, hình học hóa tự nhiên một cách phân minh và khúc chiết Nhịp nhàng, cân xứng cũng là hai chỉ tiêu nền tảng sau này vẫn nằm trong mẫu số chung của thẩm

mĩ Việt Nam” [103, tr 196]

Đặc thù này dẫn đến tính chất nhẹ nhàng, nhịp nhàng, cân xứng trong nghệ

thuật; đến quy mô cấu trúc, độ lớn tác phẩm nghệ thuật Việt Nam

Môi trường xã hội: Là cư dân của nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước,

người Việt có quan hệ định cư co cụm theo xóm, làng Làng giữ vai trò quan trọng

thì “dưới tầng quốc gia, dân tộc thì tầng làng và người làng là quan trọng nhất” [75,

tr 68] Thật vậy, ngoài nông nghiệp thì vai trò quốc gia của công thương đều được bắt đầu từ làng, đó là các làng nghề, là các trung tâm kinh tế Các làng nghề và các trung tâm kinh tế này đã “quyết định hình thái kinh tế ngoài nông nghiệp tự cấp tự túc”, các cơ sở này đã tạo nên “đặc trưng kinh tế của làng Việt Nam” [75, tr 68] Làng không chỉ đóng vai trò quan trọng về kinh tế, thông qua tôn giáo, thầy đồ, các nhà sư làng còn là nơi giáo dục con người, cung cấp những người tài giỏi, trí thức cho quốc gia “Văn hóa làng là một mô thức thể hiện văn hóa dân tộc mang tính đặc

Trang 31

thù, nó gắn liền với môi trường sinh thái của làng, dân cư và truyền thống lịch sử, từ

đó hình thành nên hệ thống các đặc trưng về nếp sống và tâm lí, về tín ngưỡng, phong tục và lễ hội, các sinh hoạt ăn mặc, ở, đi lại, các hoạt động văn hóa nghệ thuật” [75, tr 170] Theo tác giả Trần Độ, bản sắc dân tộc Việt còn được thể hiện ở

một điểm quan trọng là: tình nghĩa, “là thứ tình cảm đặc biệt sâu sắc có ràng buộc,

ràng buộc ở đây không phải ràng buộc bằng nghĩa vụ mà bằng nghĩa tình Đặc điểm tình nghĩa trong bản sắc dân tộc Việt Nam có một ý nghĩa nhân đạo sâu sắc” [20, tr 33-35]

Vị trí địa lý của Việt Nam là nơi giao lưu của hai nền văn hóa lớn là Trung Hoa và Ấn Độ Ngay từ xa xưa, Việt Nam đã luôn phải đụng độ, hứng chịu bởi xu hướng bành trướng của người Hán; luôn bị đe dọa bởi các cuộc xâm lược của các thế lực bên ngoài Trong các cuộc chiến bảo vệ tổ quốc ấy, người Việt Nam luôn ở thế phòng thủ, “tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, hài hòa” [34, tr 45] Người Việt không trông chờ ở các thế lực thần bí, siêu hình mà phải tận dụng khả năng của bản thân để có thể tồn tại và phát triển, vì thế tư duy biện chứng duy vật của Người Việt được hình thành rất sớm Người Việt nhạy cảm, khéo léo trong việc khắc phục những khó khăn, những bất trắc trong thực tế cuộc sống Đây cũng là lý do người ta “khó có thể tìm thấy những học thuyết, triết thuyết mang tính bác học ở Việt Nam” [53, tr 141] “Không có công trình kiến trúc nào,

kể cả của vua chúa, nhằm tạo sự vĩnh viễn Hình như ta coi trọng Thế hơn Lực, quý

sự kín đáo hơn sự phô trương, sự hòa đồng hơn rạch ròi trắng đen Phải chăng đó là kết quả của ý thức lâu đời về sự nhỏ yếu, về thực tế nhiều khó khăn, bất trắc?” [34,

tr 45] Đặc thù này dẫn đến đặc điểm đề tài trong nghệ thuật là cuộc sống lao động

nông nghiệp, hòa bình

Bản sắc văn hóa dân tộc cũng thay đổi: Sự tiếp xúc, giao lưu văn hoá dẫn

đến sự biến đổi văn hoá được gọi là tiếp biến văn hoá Thuật ngữ Acculturation đã xuất hiện trong văn hóa nhân văn Âu - Mỹ từ thập kỷ 30 của thế kỷ XX, được học giả Herkovits viết như sau: “Dưới từ Acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra những

Trang 32

biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm” [112, tr 50] Trong tiếng Nga, tiếp biến văn hoá (Аккультурация) là: “Sự làm quen, tiếp xúc của một dân tộc với văn hoá của một dân tộc khác diễn ra do sự giao tiếp của các dân tộc đó; (hay) đó cũng chính là quá trình ảnh hưởng qua lại của các nền văn hoá” [126, tr 31] Trong tiếng Việt, tiếp biến văn hoá (đan xen văn hoá) là: “Thuật ngữ mới để chỉ vào hiện tượng của các thực thể chịu những ảnh hưởng văn hoá khác nhau, trái ngược hay đồng quy để tạo nên những diện mạo, những sắc thái mới” [38,

tr 888] Như vậy, tiếp biến văn hoá không làm đồng nhất văn hoá, không làm mất bản sắc của một nền văn hoá mà ngược lại, nó làm giàu thêm, làm đa dạng hơn,

của mình, nước ta đã trải qua hai lần tiếp xúc và biến đổi mô hình văn hóa

Lần tiếp xúc thứ nhất với văn hóa Trung Hoa Sự tiếp xúc, tiếp thu và biến đổi này đã góp phần tạo nên mô hình văn hóa dân tộc mô phỏng theo mô hình văn hóa Trung Hoa nhưng mang bản sắc Việt Nam, khu biệt với văn hóa Hán Người Việt đã bản địa hóa mô hình văn hóa Hán và cả văn hóa Ấn Độ, đồng thời tích hợp văn hóa Phù Nam, văn hóa Champa là các nền văn hóa chịu ảnh hưởng của văn hóa

Ấn Độ, để xây dựng nền văn hóa dân tộc gồm hai dòng: văn hóa bác học (mô phỏng theo mô hình văn hóa Trung Hoa) và văn hóa dân gian Hai dòng văn hóa này có mối quan hệ tương tác trong một thể thống nhất

Lần tiếp xúc thứ hai là tiếp xúc với văn hóa phương Tây (từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945) thông qua văn hóa Pháp Lần tiếp xúc tiếp thu và biến đổi này đã góp phần hiện đại hóa nền văn hóa dân tộc Sự mô phỏng mô hình văn hóa phương Tây được thể hiện bằng cách du nhập các yếu tố từ nền văn hóa Pháp - văn hóa phương Tây và biến đổi chúng bằng cách Việt hóa các yếu tố đó

Sự giao lưu văn hóa đã tạo nên con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam với một thái độ ứng xử tích cực: “Không đóng kín, chối từ mà cởi mở, tiếp nhận, hòa nhập Khả năng tiếp nhận cái của người khác, biến đổi nó (bản địa hóa) thành cái

Trang 33

của mình, phù hợp với nhu cầu và điều kiện của mình, là bản sắc và sức mạnh của con người Việt Nam và văn hóa Việt Nam” [98, tr 172]

Đặc thù này đã dẫn đến đặc điểm nghệ thuật Việt Nam là linh hoạt, tiếp nhận các yếu tố mới và xử lí Việt hóa các yếu tố mới

1.2 Âm nhạc và nhận diện bản sắc văn hóa trong âm nhạc truyền thống 1.2.1 Âm nhạc

Âm nhạc gắn bó mật thiết với cuộc sống của con người Sở dĩ như vậy, bởi

vì âm nhạc vừa phản ánh một cách thật sâu sắc cuộc sống nội tâm, tinh thần; đồng thời lại có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sinh hoạt xã hội Có nhiều cách nhìn nhận về âm nhạc cũng như vai trò của âm nhạc Khổng Tử viết trong Nhạc Kí: “Âm nhạc của đời trị thì êm ả, vui vẻ, vì chính trị hòa dịu Âm nhạc của thời loạn thì oán hận, giận dữ, vì chính trị ngang trái Âm nhạc của nước bị mất thì thương xót và nhớ nhung, vì dân khốn khổ…” [43, tr 93] Tuân Tử cho rằng: “Nhạc là “lạc”, nghĩa là vui, một tình cảm mà người ta không thể không có Niềm vui phát ra âm thanh, bộc lộ thành cử động” [43, tr 88]

Khi nói về âm nhạc là nói về âm thanh Đặc trưng của âm nhạc là âm thanh Các nhà nghiên cứu âm nhạc phân chia âm thanh làm hai loại là âm thanh có tính nhạc và âm thanh không có tính nhạc Âm thanh không có tính nhạc với các đặc điểm là không có cao độ xác định, không có âm sắc riêng, chúng chỉ là những âm thanh - tiếng động Âm thanh sử dụng trong âm nhạc (thường là âm thanh có tính nhạc) có các đặc điểm riêng về các mặt: cao độ (độ cao, thấp của âm thanh), trường

độ (độ ngân dài, ngắn của âm thanh), cường độ (độ vang mạnh, nhẹ của âm thanh)

và âm sắc (màu sắc riêng biệt của từng âm thanh, phụ thuộc vào đặc điểm của nguồn phát ra âm thanh, bao gồm các yếu tố như cấu tạo, kích thước, hình dáng nguồn âm, cách thức phát ra âm thanh, v.v.)

Khi đã có được âm thanh với các đặc điểm như trên, người ta lựa chọn và kết hợp chúng theo những cao độ, trường độ nhất định với cấu trúc riêng, kết hợp với

Trang 34

yếu tố mạnh nhẹ khác nhau, thông qua màu sắc khác nhau của phương tiện thể hiện

để diễn đạt những tư tưởng và tình cảm của con người

Trong tiếng Pháp, “Âm nhạc (musique) là một nghệ thuật hòa hợp âm thanh

để làm êm tai” [89, tập 1, tr 226] Trong tiếng Anh, “Âm nhạc (music) là nghệ thuật hòa hợp âm thanh với mục đích tái tạo cái đẹp trong hình thức, và diễn tả những xúc cảm” [89, tập 1, tr 226] Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, âm nhạc là: “Nghệ thuật dùng âm thanh làm phương tiện để diễn đạt tư tưởng và tình

cảm” [71, tr 17] Các định nghĩa nêu trên đã chỉ ra đặc trưng âm thanh của nghệ

thuật âm nhạc để phân biệt với các loại hình nghệ thuật khác Tuy vậy, âm thanh sử dụng trong âm nhạc lại khác nhau, có thể là từ giọng người hoặc được phát ra từ các nhạc khí Tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi loại, sự kết hợp các âm thanh để xây dựng thành một phẩm âm nhạc cũng như thể hiện tác phẩm ấy cũng khác nhau; ứng với mỗi giai điệu, mỗi tác tác phẩm luôn có một phương thức với màu sắc, kỹ thuật phù hợp với cung bậc tình cảm, nội dung, tư tưởng mà tác phẩm âm nhạc ấy muốn truyền tải Mặt khác, âm nhạc không chỉ dừng lại ở những ký hiệu trong văn bản,

mà nó phải được thể hiện, vang lên được người nghe tiếp nhận

Chúng tôi sử dụng định nghĩa âm nhạc theo Từ điển Encyclopedia of Cultural Anthropology Âm nhạc theo định nghĩa này gồm các ý chính như sau: (1)

Âm nhạc là sự sáng tạo của con người, được thể hiện bằng những âm thanh được vang lên bởi giọng hát hoặc các nhạc khí với sự tham gia thể hiện từ một, hai cho đến hàng trăm người; (2) Các tiết mục âm nhạc có thể dài, ngắn khác nhau; (3) Các thang âm, điệu thức có thể bắt nguồn từ một số hệ thống âm tự nhiên, hoặc dựa trên các lý thuyết khác nhau; (4) Các kỹ thuật diễn xướng (thanh nhạc), diễn tấu (nhạc khí) và các âm thanh mới luôn được sáng tạo; (5) Âm nhạc có thể tình cờ hoặc có mục đích, liên quan đến các hoạt động khác nhau như nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tôn giáo hay chính trị; (6) Âm nhạc có thể tồn tại trong trí tưởng tượng của một cá thể riêng biệt, hoặc được nhận biết rộng rãi trong số đông thính giả, được truyền tải qua các mạng lưới điện tử quốc tế hoặc qua các tôn giáo; (7) Hầu hết các hoạt động của con người, từ các nghi lễ đến sản xuất hàng hóa, đều

Trang 35

được phản ánh trong âm nhạc Các yếu tố kết hợp thường xuyên với âm nhạc còn có

cử động (khiêu vũ), trang phục và không gian trình diễn [118, tr 821]

Như vậy, theo định nghĩa này âm nhạc được vang lên thông qua hai phương thức biểu đạt là thanh nhạc và khí nhạc Thành phần tham gia thể hiện có thể từ một người đến rất nhiều người, các tác phẩm có độ dài ngắn khác nhau Các thang âm có thể là các dãy âm mang tính tự nhiên của một cộng đồng hoặc là sáng tạo riêng mang tính cá nhân Sáng tạo âm nhạc có thể là ngẫu hứng hoặc liên quan đến một mục đích cụ thể Âm nhạc tồn tại trong trí tưởng tượng của cá nhân hoặc được nhận biết bởi số đông công chúng Âm nhạc phản ánh cuộc sống, lao động sản xuất và sinh hoạt của con người

Thanh nhạc (hay còn gọi là nhạc hát), là tác phẩm âm nhạc được thể hiện

bằng giọng người Thanh nhạc có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn từ, vì thế thanh nhạc được coi là loại hình nghệ thuật tổng hợp của âm nhạc (giai điệu) và thi ca Vì gắn liền với ngôn từ nên sự cảm nhận giữa “lời nói và lời hát” của những người thuộc các nền văn hóa khác nhau là không đồng nhất Ở Thái Lan, “Phật giáo tiểu thừa không cho phép tu sĩ được hát Nhưng nếu nghe họ tụng kể Jataka (Những câu chuyện tiền thân Đức Phật) thì phần đông, những người phương Tây sẽ miêu tả đó

là ca hát” [16, tr 18] Như vậy, trên cùng một hiện tượng, sinh hoạt tôn giáo, nhưng hiện tượng ấy “là tụng kể, thuyết pháp trong phối cảnh của người Thái, nhưng lại là

âm nhạc trong phối cảnh của người nghe phương Tây Không phối cảnh nào sai mà mỗi phối cảnh “đúng” theo những quy tắc, chuẩn văn hóa của mình” [16, tr 18] Thậm chí, ở trong cùng một nền văn hóa nhưng sự cảm nhận giữa “nói và “hát” cũng khác nhau tùy thuộc vào mỗi người Chẳng hạn từ âm điệu giọng nói, từ âm điệu lời rao của người bán hàng đối với phần lớn người Việt đây là những lời nói trong sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày, nhưng đối với một số nhạc sỹ, chúng lại trở thành những nhân tố để các tác giả vận dụng, xây dựng thành những chủ đề âm nhạc Có thể gặp trong giai điệu do Cello độc tấu chủ đề chính chương I, tác phẩm Concerto-Symphony (giao hưởng số 3) của Nguyễn Văn Nam, âm điệu của lời rao bán hàng “Đậu xanh nấu đường” Tương tự, tác giả đã vận dụng âm điệu khi đọc

Trang 36

câu ca dao “Trong đầm gì đẹp bằng sen ” để xây dựng chủ đề chính chương II tác phẩm Giao hưởng số 5 (phần âm nhạc của kèn Cor diễn tấu) Từ âm điệu khi đọc khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhạc sỹ Thế Bảo đã vận dụng để

xây dựng chủ đề âm nhạc chương I (giọng si thứ), bản Concerto cho piano và dàn

nhạc (Concerto for piano and orchestra)

Trong nghệ thuật âm nhạc, giọng người còn được sử dụng như là phương thức biểu hiện âm thanh (giống như một nhạc cụ) tiện lợi, trực tiếp từ con người chuyển đến đồng loại cho nên giọng người có sức truyền cảm mạnh nhất Tuy nhiên, nếu coi giọng người như là một “nhạc khí”, thì “nhạc khí” này có những hạn chế nhất định khi so sánh nó với các nhạc khí khác về các yếu tố “kỹ thuật” như: giọng người có tầm cữ giới hạn, không bền vững và thiếu độ chuẩn xác về cao độ Về tầm

cữ của giọng người, âm vực của các ca sỹ chuyên nghiệp có thể đạt được trong khoảng trên dưới hai quãng tám Những quãng tám thuộc âm vực cực trầm và âm vực cực cao thì giọng người không thể hiện được So với nhạc khí, giọng người ít bền vững hơn bởi nó phụ thuộc vào sức khoẻ, tuổi tác, tâm sinh lý của người biểu diễn Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến màu sắc âm thanh, đến tầm cữ giọng

và cả độ chuẩn xác của các âm được phát ra Nếu phân chia giọng hát theo lứa tuổi, chúng ta sẽ có hai loại giọng là giọng trẻ em và giọng người lớn Giọng người lớn khi phân chia theo giới tính, sẽ có hai loại giọng là giọng nam và giọng nữ Giọng nam và giọng nữ lại được phân chia thành các loại giọng chính là giọng Nam cao (tenor), Nam trầm (basse), Nữ cao (soprano), Nữ trầm (alto) Âm vực của mỗi loại giọng có thể đạt đến trên dưới hai quãng tám Mỗi loại giọng có màu sắc riêng, phù hợp với nội dung, tính chất từng tác phẩm

Tùy theo hình thức diễn xướng, tác phẩm thanh nhạc có thể chỉ có một hoặc nhiều người cùng tham gia diễn xướng Nếu chỉ có một người diễn xướng, người ta gọi là đơn ca Hai người diễn xướng gọi là song ca, v.v Cứ như vậy cho đến tốp ca rồi đồng ca (nếu như tất cả thành phần tham gia diễn xướng hát chung một giai điệu) Nếu hình thức diễn xướng là đồng ca, nhưng giai điệu được phân chia theo các bè khác nhau, hát những giai điệu khác nhau về cao độ hoặc cả cao độ và tiết

Trang 37

tấu, thì hình thức diễn xướng này được gọi là hợp ca, hợp xướng Nếu hợp xướng

mà thành phần tham gia là những người thuộc riêng phái nam hoặc phái nữ, người

ta gọi là hợp xướng đồng giọng nam hoặc đồng giọng nữ Nếu cả nam và nữ cùng tham gia, người ta gọi là hợp xướng hỗn hợp Hợp xướng có thể có phần nhạc đệm

hoặc không có phần nhạc đệm Hợp xướng không có nhạc đệm được gọi là A

cappella Các tác phẩm thanh nhạc hay nhạc hát, thường có độ dài không lớn Cấu

trúc thông thường của một bài hát dao động từ một đến hai hoặc ba đoạn đơn Nhịp

độ của các tác phẩm thanh nhạc thường không quá nhanh Lối tiến hành giai điệu trong các tác phẩm thanh nhạc thường ít có những bước nhảy đột ngột và những quãng nhảy quá xa

Là sự kết hợp giữa giai điệu âm nhạc và ngôn từ (ngôn ngữ), ca từ trong các tác phẩm thanh nhạc Việt Nam chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ tiếng Việt với sáu thanh điệu Do đó, khi viết một tác phẩm thanh nhạc, tác giả không chỉ tư duy bằng

âm thanh, mà còn phải biết lựa chọn những từ ngữ vừa có ý nghĩa, lại vừa có thanh điệu phù hợp với cao độ và trường độ của âm (được biểu thị bằng nốt nhạc) đó Trong các tác phẩm âm nhạc dân gian, ca từ của các bài dân ca thường là các bài thơ dân gian Trong các ca khúc, lời ca có thể được lấy từ các bài thơ của các nhà thơ, nhà văn Các nhạc sỹ khi phổ nhạc cho thơ có thể giữ nguyên trật tự các khổ thơ; cũng có thể dựa trên ý thơ hoặc tự viết lời cho ca khúc Dù là phổ thơ hay tự viết lời cho ca khúc, ca từ trong các bài hát Việt Nam chịu ảnh hưởng chi phối bởi đặc tính của tiếng Việt là đơn âm tiết với các thanh điệu khác nhau, cho nên trong nghệ thuật viết cho thanh nhạc - giọng hát - người ta thường sử dụng các dấu luyến, láy, giúp cho người hát phát âm được “tròn vành, rõ chữ”

Thanh nhạc có ưu điểm là dễ tiếp cận với đông đảo người nghe bởi có phần

ca từ Theo Dương Viết Á “lời ca làm nhiệm vụ cụ thể hóa hình tượng âm nhạc” [01, tập 1, tr 183], tức là lời bài hát đã “dịch” ý nghĩa của ngôn ngữ âm nhạc mà nhạc sỹ thể hiện qua các nốt nhạc thành lời, thành ngôn ngữ mà ai cũng có thể hiểu được Tác phẩm thanh nhạc dù dài hay ngắn đều phải có thể chuyển tải một nội dung trọn vẹn nên việc viết ca từ sao cho vừa phù hợp với nhạc, lại vừa phù hợp với ý mà

Trang 38

người viết muốn nói không phải dễ dàng Nó đòi hỏi ở người viết một kiến thức tổng hợp không chỉ đơn thuần về ngôn ngữ mà cả về văn học, văn hóa và thẩm mỹ

Khí nhạc (danh từ), theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: (1) Âm nhạc do

nhạc khí phát ra; phân biệt với thanh nhạc (2) Nhạc sáng tác cho một loại nhạc khí hoặc cho một loại dàn nhạc [71, tr 499]

Trong âm nhạc, ngoài thanh nhạc với phương thức biểu hiện là giọng người, còn có khí nhạc, với phương thức biểu hiện là các nhạc khí (nhạc cụ) Nhạc khí có những đặc điểm mà giọng người không có được, chẳng hạn tầm âm của riêng đàn piano từ nốt thấp nhất đến nốt cao nhất có bảy quãng tám đầy đủ và hai quãng tám

những nốt từ âm vực cực thấp đến những nốt có âm vực cực cao một cách dễ dàng

Âm lượng của một số nhạc khí như các loại kèn tromba, trombone cũng như các nhạc khí bộ gõ luôn vượt trội so với âm lượng của giọng người Âm thanh từ nhạc khí vang lên luôn “khách quan” bởi nó không chịu tác động của các yếu tố tâm sinh

lý như giọng người, mà chỉ phụ thuộc vào kỹ thuật của người biểu diễn Một số nhạc khí trong cùng một thời điểm vừa có thể “tấu” lên bè giai điệu như giọng người, lại có vừa có thể thể hiện được cả một tổ hợp âm thanh gồm nhiều âm vang lên hòa với bè giai điệu ấy Không chịu ảnh hưởng của ngôn từ như thanh nhạc, nhạc khí có thể diễn tả với tốc độ từ chậm đến nhanh và rất nhanh, có thể diễn tấu nhiều kỹ thuật khác nhau mà vẫn không ảnh hưởng đến chất lượng âm thanh Vì nhạc khí có những ưu điểm về các mặt như kỹ thuật diễn tấu, khả năng biểu cảm, độ vang của âm thanh, sự ổn định của cao độ nên người ta đã viết rất nhiều các tác phẩm âm nhạc dành riêng cho các nhạc khí diễn tấu Các tác phẩm viết cho nhạc khí

diễn tấu được gọi là tác phẩm khí nhạc (còn gọi là “nhạc không lời” hoặc “nhạc

đàn”)

Bên cạnh thanh nhạc, sự xuất hiện của khí nhạc đã góp phần đáp ứng được những đòi hỏi của con người trong việc thể hiện những cảm xúc phức tạp, những tư tưởng sâu sắc, những rung cảm tế nhị, những sắc thái tinh tế mà những hạn chế của

Trang 39

giọng người về các mặt tầm cữ, sự ổn định, sự chuẩn xác về cao độ khó thể hiện hết được Chính vì vậy, có ý kiến cho rằng khí nhạc ra đời là để giải quyết sự “bất lực” của ngôn từ trong thanh nhạc

Tác phẩm thanh nhạc dễ tiếp cận, dễ hiểu nhờ có ca từ “Ngôn ngữ” của khí nhạc là một ngôn ngữ hoàn toàn trừu tượng, có tính khái quát hoá và tính biểu cảm cao Khí nhạc có thể “nói” được những rung cảm sâu sắc, thầm kín chung nhất cho tất cả mọi người nhưng vì không có lời hát “diễn giải” nên khí nhạc khó hiểu, khó tiếp cận hơn thanh nhạc Không chỉ những người sáng tác phải được học tập, trang

bị các kiến thức về kỹ thuật sáng tác kết hợp với sự rung động nghệ thuật trước cuộc sống để tạo nên tác phẩm, mà người biểu diễn cũng phải trải qua quá trình học tập, rèn luyện một cách bài bản mới có thể làm chủ được các kỹ thuật diễn tấu của nhạc khí để thể hiện được yêu cầu của tác phẩm Ngoài ra, người thưởng thức cũng cần một kiến thức nhất định mới có thể cảm nhận được cái hay, cái thẩm mỹ của tác phẩm

Nhạc khí (nhạc cụ): là các phương tiện để biểu hiện âm nhạc

Nhạc khí trong âm nhạc cổ điển châu Âu: Các nhạc khí được chia thành

các bộ dựa theo chất liệu cấu tạo nên các nhạc khí và các phương pháp kích âm Thứ tự từ trên xuống trong tổng phổ dàn nhạc giao hưởng gồm: bộ gỗ (gồm các loại sáo được làm từ gỗ hoặc âm sắc nhạc cụ phát ra mềm mại như tính chất của các

vĩ)4

Nhạc khí trong cổ nhạc Trung Hoa: Dựa vào chất liệu cấu tạo, nhạc khí

trong cổ nhạc Trung Hoa được chia làm tám loại gồm: kim (kim khí), thạch (đá), thổ (đất), cách (da), ti (tơ), mộc (gỗ), bào (bầu), trúc (sáo, khèn)

1 Gồm có sáo flauto, kèn oboe, kèn clarinetto, kèn fagotto

2

Gồm có kèn corno, kèn tromba, kèn trombone và kèn tuba

3 Trống timpani và các nhạc khí gõ không định âm như piatti, triangollo, v.v

4 Gồm violino, viola, violoncello và contrebasso

Trang 40

Nhạc khí truyền thống Việt Nam: Dựa trên các nguyên tắc chuyển động của

nguồn vật chất tạo ra âm thanh và từ các phương pháp kích âm tạo ra âm thanh, nhạc khí truyền thống Việt Nam được chia làm các bộ: “bộ dây, bộ hơi, bộ màng

rung và bộ tự thân vang” [87, tr 25] Bộ dây có âm thanh phát ra dựa trên sự rung của dây Bộ hơi có âm thanh phát ra dựa trên sự rung của khối không khí chứa trong một vật Bộ màng rung có âm thanh phát ra dựa trên sự rung của một màng căng

Bộ tự thân vang có âm thanh phát ra dựa trên sự rung của toàn bộ nhạc cụ

Đồng thời, người ta còn dựa vào phương pháp kích âm, để chia các nhạc khí trong cùng một bộ thành các chi Ví dụ như ở bộ dây, để kích cho dây rung có thể dùng cung kéo, miếng gảy hoặc một vật nào đó đập hoặc gõ vào dây Như vậy, từ các bộ, nhạc khí dân tộc được chia thành các chi: “Chi dây gảy: đàn nguyệt, đáy, tam; chi dây kéo (cung vĩ): đàn cò (nhị), cò gáo; chi hơi lỗ thổi: sáo; chi màng rung vỗ: trống cơm” [87, tr 26]

Trong quá trình giao lưu, tiếp xúc với âm nhạc nước ngoài, các nhạc khí từ nước ngoài đã được bổ sung vào hệ thống nhạc khí dân tộc, trở thành nhạc khí truyền thống Việt Nam Căn cứ vào bộ sưu khảo tương đối đầy đủ của Lê Huy và Minh Hiến về nhạc khí truyền thống Việt Nam, tác giả Tô Vũ đã thống kê các loại nhạc khí truyền thống được phân bổ như sau: “Bộ dây gồm có 30 loại nhạc khí; bộ hơi gồm có 42 loại nhạc khí và bộ gõ gồm có 70 loại nhạc khí (định âm và không định âm)” [110, tr 32]

Từ bốn nhạc khí bộ gõ trên trống đồng Đông Sơn (trống đồng, trống da, đuống, cồng chiêng) và 1 nhạc khí bộ hơi là khèn bè đã cho thấy sự phát triển của

bộ gõ nguyên thủy “Đến bộ dây, trong 30 loại thì có 15 loại của người Việt; nhưng trong 15 loại này, trừ 3 loại có tính (sáng tạo) bản địa (bầu, đáy, kìm), còn lại đều được du nhập từ Trung Quốc (tỳ bà, tam, tứ, cầm, sắt, nhị, hồ) Khác với Trung Quốc, đàn dây từ những thời đại xa xưa luôn luôn được xem như biểu trưng hay đại diện cho nghệ thuật âm nhạc: Cầm, Kỳ, Thi, Họa; Cầm thư; Cầm hạc…” [110, tr 32]

Ngày đăng: 18/06/2021, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w