1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việc nghiên cứu của thơ đường trong một số công trình xuất bản bằng tiếng việt từ 1980 đến nay

150 627 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việc Nghiên Cứu Của Thơ Đường Trong Một Số Công Trình Xuất Bản Bằng Tiếng Việt Từ 1980 Đến Nay
Tác giả Phạm Phương Hoài
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 830 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu việc nghiên cứu thơ Đường trong một số công trình xuấtbản bằng tiếng Việt từ 1980 đến nay là điều cần thiết, có ý nghĩa không nhỏ.Qua nó, chẳng những chúng ta có cơ hội hiểu thê

Trang 1

PHẠM PHƯƠNG HOÀI

VIỆC NGHIÊN CỨU THƠ ĐƯỜNG

TRONG MỘT SỐ CÔNG TRÌNH XUẤT BẢN BẰNG TIẾNG VIỆT TỪ 1980 ĐẾN NAY

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC

MÃ SỐ: 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS PHAN HUY DŨNG

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôicòn nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của thầy giáo Phan Huy Dũng,

sự góp ý chân thành của các thầy cô trong khoa Ngữ văn và sự động viênkhích lệ của gia đình và bạn bè

Nhân dịp này, tôi xin bày bỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáohướng dẫn và xin gửi đến các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp lời cảm ơnchân thành nhất

Vinh, tháng 9 năm 2012 Tác giả

Phạm Phương Hoài

MỤC LỤC

Trang

Trang 4

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc của luận văn 7

Chương 1 THƠ ĐƯỜNG TRONG CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU XUẤT BẢN BẰNG TIẾNG VIỆT TRƯỚC 1980 8

1.1 Tổng quan về Thơ Đường 8

1.1.1.Quá trình diễn biến của thơ Đường 10

1.1.2 Vị trí thơ Đường trong nền văn học Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung 14

1.2 Trọng tâm nghiên cứu về thơ Đường trong các tài liệu xuất bản bằng tiếng Việt trước 1980 20

1.2.1 Giới thiệu, dịch thuật, bình chú 21

1.2.2 Nghiên cứu hình thức thể loại 23

1.2.3 Nghiên cứu xã hội học 27

1.2.4 Bình giá tác phẩm 31

1.3 Những giới hạn trong nghiên cứu thơ Đường qua các tài liệu xuất bản bằng tiếng Việt trước 1980 34

1.3.1 Chưa quán triệt cái nhìn lịch sử 34

1.3.2 Quá chú trọng nội dung xã hội 36

1.3.3 Mô tả hình thức vụn vặt 38

Chương 2 THÀNH TỰU MỚI CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU THƠ ĐƯỜNG THEO THI PHÁP HỌC HIỆN ĐẠI……… 41

2.1 Thi pháp - một hướng nghiên cứu văn học đầy hiệu năng 41

Trang 5

2.2.2 Nghiên cứu theo hướng thi pháp học cấu trúc 49

2.2.3 Nghiên cứu theo hướng thi pháp học lịch sử 65

2.2.4 Nghiên cứu theo hướng thi pháp học so sánh 93

2.3 Những đề xuất về phương pháp nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu về thơ Đường 98

2.3.1 Đề xuất trong phần điểm lịch sử vấn đề 98

2.3.2 Đề xuất thông qua việc dùng khái niệm, thuật ngữ mới 101

2.3.3 Đề xuất thông qua việc đối chiếu hiệu quả nghiên cứu 104

Chương 3 NGHIÊN CỨU THƠ ĐƯỜNG HƯỚNG TỚI NHÀ TRƯỜNG. .107

3.1 Tiền đề của những nghiên cứu về thơ Đường hướng tới nhà trường 107

3.1.1 Đòi hỏi bức thiết của chương trình và sách giáo khoa 107

3.1.2 Yêu cầu về tính khoa học của hoạt động dạy đọc hiểu văn bản 108

3.1.3 Tính tương đồng loại hình giữa thơ Đường và thơ trung đại Việt Nam được dạy học trong nhà trường 109

3.1.4 Sự đặc biệt của “mã” thơ Đường 111

3.2 Sự ứng dụng cách nhìn, phương pháp nghiên cứu mới vào phân tích tác phẩm 112

3.2.1 Ứng dụng cách nhìn mới vào phân tích tác phẩm 112

3.2.2 Ứng dụng phương pháp nghiên cứu mới vào phân tích tác phẩm 117

3.3 Một số bất cập 128

KẾT LUẬN 132

TÀI LIỆU THAM KHẢO 138

Trang 6

1.2 Tìm hiểu việc nghiên cứu thơ Đường trong một số công trình xuấtbản bằng tiếng Việt từ 1980 đến nay là điều cần thiết, có ý nghĩa không nhỏ.Qua nó, chẳng những chúng ta có cơ hội hiểu thêm về thơ Đường với nhữngkhám phá mới của việc nghiên cứu thơ Đường theo thi pháp học hiện đại màcòn có thể nhìn thấy khả năng ứng dụng to lớn của thi pháp học trong việc tìmhiểu một nền thơ.

1.3 Trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông và Đại học, mảngthơ Đường chiếm một vị trí quan trọng Đây là bộ phận văn học có ảnh hưởngsâu rộng đến văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học trung đại Việc thực hiện

đề tài này sẽ giúp chúng tôi có được cái nhìn tổng quan về những nghiên cứuthơ Đường hướng tới nhà trường; đồng thời có những tri thức mang tính hệthống về thơ Đường để dạy và học nó tốt hơn

Trang 7

do phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ chú trọng vào những côngtrình xuất bản bằng tiếng Việt trong khoảng những năm 80 của thế kỉ XX đến

nay (xin xem phần liệt kê các công trình ở mục Phạm vi tư liệu khảo sát và Tài liệu tham khảo).

Các công trình, bài viết về thơ Đường thực sự rất đa dạng và phongphú Nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể,chi tiết và khái quát những thành tựu mà những công trình này đã đạt được

mà chỉ dừng lại ở việc điểm tên công trình hay những nhận xét sơ lược Theophạm vi tài liệu mà chúng tôi tìm hiểu được, nghiên cứu về những công trìnhnghiên cứu về thơ Đường, nhìn chung, được chia làm 2 hướng:

Hướng 1: Đánh giá về một công trình cụ thể Có thể kể đến một số

nhận xét đáng chú ý về công trình Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường của Nguyễn Sĩ Đại như: “Công trình của tác giả Nguyễn Sĩ

Đại có hệ thống bao quát nhiều mặt của thơ tứ tuyệt, có thể nói là bao quátnhất trong các tài liệu hiện có ở ta” (GS Trần Đình Sử) [7, 12] “Tác giả đãphát biểu khá rạch ròi, có hệ thống, có sức thuyết phục về sự hình thành củathơ tứ tuyệt và mối liên quan giữa nó với thơ Đường luật; chỉ ra được mộtcách thuyết phục một số khía cạnh tạo nên ma lực của thơ tứ tuyệt bằng cách

đi sâu hơn, làm cụ thể hoá thêm cấu trúc nhiều chiều, cấu trúc “ma phương”của nó…” (GS Nguyễn Khắc Phi) [7, 9] Bên cạnh việc đánh giá về thành

Trang 8

công của công trình, Phan Ngọc còn góp ý: “Nhưng tôi lấy làm tiếc khi xét vềhình thức, tác giả không xét từng cấu trúc một cách độc lập trước khi là một

bộ phận của thơ tứ tuyệt…” [7, 10]

Về công trình Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường của Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân, Trần Đình Sử đã nhận xét của trong Mấy lời giới thiệu mở đầu

cuốn sách: “Công trình đã cung cấp một kinh nghiệm vận dụng lí thuyết hiệnđại vào việc giải thích một hiện tượng thơ cổ điển như thơ Đường, một hiệntượng thơ thân thuộc với thơ cổ điển Việt Nam truyền thống, gần gũi tiếngViệt ở tính đơn lập và có thanh điệu Đồng thời nó cũng cung cấp một sự sosánh thơ Trung Quốc với thơ Phương Tây rất thú vị Do đó có giá trị thamkhảo rất lớn đối với những ai quan tâm nghiên cứu ngôn ngữ thơ dân tộc vàphân tích tác phẩm thơ cụ thể Theo chúng tôi đây là một tài liệu tham khảoquý báu cho các giảng viên và sinh viên các khoa ngữ văn đại học, cho cácgiáo viên văn trung học” [5, 6] Nhận xét của Trần Đình Sử không những kháiquát được thành tựu mà hai tác giả Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân đã đạt được

mà còn chỉ ra được giá trị thiết thực của công trình này đối với những ngườinghiên cứu, tìm hiểu thơ Đường

Nguyễn Khắc Phi trong bài Thay phần khảo luận của cuốn Đường thi

tứ tuyệt đã đề cao công trình của Phan Ngọc: “GS Phan Ngọc với bài báo đặc sắc Thử tìm hiểu tứ thơ trong thơ Đường (Tạp chí văn học số 1 năm 1982) là

người có công đầu trong việc mở ra hướng nghiên cứu nghệ thuật thơ Đường

ở Việt Nam theo hướng thi pháp hiện đại” [44, 30] Cũng nhận xét về Phan

Ngọc, Trần Đình Sử trong bài Thi pháp học hiện đại trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam thế kỉ XX có viết: “Phan Ngọc lấy sự lựa chọn làm nguyên tắc

khu biệt cơ bản để nghiên cứu, ông thực sự đã đem lại nhiều điều mới mẻ

trong cấu trúc nghệ thuật của Truyện Kiều và thơ Đường Như thế thành công

của Phan Ngọc gắn liền với tìm tòi phương pháp của chính ông” [66]

Trang 9

Và nhiều công trình khẳng định giá trị cuốn sách Về thi pháp thơ Đường của Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử như Nguyễn Sĩ Đại nhận xét trong lời tựa sách Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường:

“Thời gian đó ở Việt Nam cũng có nhiều thành tựu về nghiên cứu thơ Đường,

đặc biệt là cuốn Về thi pháp thơ Đường của GS Nguyễn Khắc Phi và GS.

phá rất quan trọng làm bộc lộ đặc điểm nghệ thuật riêng biệt của thơ Đường

Những người có công trong lĩnh vực này là Nhữ Thành với Thử tìm hiểu tứ thơ trong thơ Đường (Tạp chí văn học số 1- 1982), Nguyễn Khắc Phi với bản

dịch (1997), “Bút pháp thơ ca Trung Quốc” của Franscois Cheng (Paris1977), những phần viết về thơ Đường trong giáo trình lịch sử văn học TrungQuốc (1987), trong các sách giáo khoa PTTH (1990- 1994)” [7, 20]

Trong Thi pháp thơ Đường, khi điểm lịch sử vấn đề, Nguyễn Thị Bích

Hải cũng đã khái quát về hướng nghiên cứu thi pháp: “Trong những năm gầnđây cũng đã có một số người nghiên cứu theo hướng này và đã có một số kếtquả” [14, 6]

Như vậy, từ hai hướng trên ta thấy, các công trình nghiên cứu đã đề cậpđến những công trình nghiên cứu thi pháp thơ Đường; nhưng vẫn chỉ dừng lại

ở những nhận xét chung chung, khái lược, chưa đi sâu tìm hiểu cụ thể vềnhững thành tựu mà những công trình ấy đạt được Trên tinh thần kế thừa,học tập các thế hệ đi trước, chúng tôi đã tổng hợp những tài liệu có liên quanđến đề tài để làm cơ sở cho việc nghiên cứu của luận văn này

Trang 10

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn này hướng đến tìm hiểu, đánh giá việc nghiên cứu thơ Đườngtrong các công trình xuất bản bằng tiếng Việt trong những năm gần đây (từ

1980 đến nay)

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Chúng tôi tập trung chú ý tới những công trình nghiên cứu thơ Đườngbằng tiếng Việt trong khoảng những năm 80 của thế kỉ XX đến nay Tiêu biểu

là các công trình:

- Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường của Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân

(Trần Đình Sử, Lê Tẩm dịch, 2000), Nxb Văn học, Hà Nội

- Thi pháp thơ Đường của Nguyễn Thị Bích Hải (1995), Nxb Thuận

- Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ truyệt đời Đường của Nguyễn

Sĩ Đại (2007), Nxb Văn học, Hà Nội

- Bài “Cái hay của thơ Đường” in trong quyển Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học của Phan Ngọc (1995), Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.

- “Bút pháp thơ ca Trung Quốc” của Franscois Cheng (Nguyễn Khắc

Phi dịch, 1997), in trong Về thi pháp thơ Đường, Nxb Đà Nẵng, tr 76 - 235.

- Bài “Thử tìm hiểu tứ thơ của thơ Đường” của Phan Ngọc (2007), in

lần đầu trên Tạp chí Văn học số 1 năm 1982, được Nguyễn Sĩ Đại in lại trong

Trang 11

quyển Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường, Nxb Văn học,

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Tìm hiểu sự nghiên cứu về thơ Đường trong các tài liệu xuất bảnbằng tiếng Việt trước 1980

4.2 Làm rõ thành tựu mới của việc nghiên cứu thơ Đường theo thipháp học hiện đại

4.3 Phân tích những thành công và những giới hạn của việc nghiên cứuthơ Đường hướng tới nhà trường

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ đặc điểm đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứucủa luận văn, khi thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu dùng những phươngpháp sau:

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: thống kê, chia nhóm cáccông trình nghiên cứu thơ Đường và thi pháp thơ Đường

- Phương pháp so sánh: đối chiếu các công trình nghiên cứu với nhau

để nhận điện được các điểm chung và những thành tựu riêng của chúng

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp hệ thống

Những phương pháp trên được phối hợp sử dụng trong quá trình làm đềtài này

Trang 12

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Thơ Đường trong các tài liệu nghiên cứu xuất bản bằng

tiếng Việt trước 1980

Chương 2 Thành tựu mới của việc nghiên cứu thơ Đường theo thi pháp

học hiện đại

Chương 3 Nghiên cứu thơ Đường hướng tới nhà trường.

Trang 13

Chương 1 THƠ ĐƯỜNG TRONG CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU XUẤT BẢN

BẰNG TIẾNG VIỆT TRƯỚC 1980

1.1 Tổng quan về Thơ Đường

Thơ Đường là một thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ di sản thơ ca đờiĐường (618-907) Thơ Đường không chỉ là đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc,thơ ca phương Đông thời trung đại nói riêng mà còn là một mẫu mực tuyệtđối của thơ ca thế giới nói chung

Thơ Đường được hình thành và phát triển trong thời đại cực thịnh của

xã hội phong kiến Trung Quốc Triều Đường bắt đầu vào đầu thế kỷ thứ VII.Trong hoàn cảnh xã hội rối ren, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, nhữngcuộc khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, Lý Uyên một tướng của nhà Tùy đã ép TùyDưỡng Đế nhường ngôi cho con và năm sau phế bỏ nhà Tùy, tự xưng hoàng

đế lập nên nhà Đường (618– 907) Triều đại nhà Đường là thời kỳ xã hộiphong kiến Trung Quốc phát triển toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa,

một vạn bài chưa có trong tuyển tập Toàn Đường thi Trên cái nền vĩ đại ấy,

có những thi hào được xưng tụng là “thi tiên” như Lý Bạch, “thi thánh” như

Đỗ Phủ, “thi phật” như Vương Duy Bên cạnh đó là hàng loạt những tên tuổi

Trang 14

nổi bật: Trần Tử Ngang, Mạnh Hạo Nhiên, Cao Thích, Thôi Hiệu, Lưu VũTích, Bạch Cư Dị, Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục, Tào Đường,… Đây là thời kỳphục hưng thơ ca, mở đường cho sự phát triển rực rỡ với những cách tân quan

trọng Sự nở rộ của thơ Đường khiến cho Trung Hoa lúc đó được gọi là Thi

ca chi bang (đất nước của thơ ca) Thơ Đường thậm chí còn ảnh hưởng và chi

phối đến thơ ca các nước phương Đông (trong đó có Việt Nam) trong suốtthời kỳ trung đại

Là đỉnh cao của thơ ca cổ điển Trung Quốc, thơ Đường phản ánh mộtcách toàn diện xã hội đời Đường, thể hiện quan niệm, nhận thức, tình cảm củacon người đời Đường một cách sâu sắc Nội dung phong phú lại được thể hiệnbằng hình thức hoàn mỹ, đa dạng Thành tựu trên các phương diện của thơĐường đều đạt đến “trình độ cổ điển” (Nguyễn Thị Bích Hải), trở thành viênngọc của văn hoá nghệ thuật nhân loại, là niềm tự hào của dân tộc Trung Hoa

Sự phát triển rực rỡ của thơ Đường là kết quả của nhiều nguyên nhânphức tạp Đó là chế độ khoa cử đời Đường coi trọng thơ ca, các châu quậnđều mở lớp dạy thi phú Quan trọng nhất, các vị vua đời Đường đều yêu thíchthơ ca, các vị vua không chỉ sủng ái các nhà thơ tài năng mà thậm chí cònphong chức tước cho các nhà thơ (trong đó có Lý Bạch, Bạch Cư Dị vàNguyên Chẩn) Nếu sự phát triển về kinh tế và chính sách thi cử,… đầu đờiĐường tạo điều kiện cho thơ Đường phổ biến rộng rãi thì tình hình xã hội rốiren từ giữa thế kỷ thứ VIII về sau đã đánh động ý thức xã hội của các nhà thơ,khiến cho thơ ca có điều kiện ngày càng đi sâu hơn vào cuộc sống Sự pháttriển của các ngành nghệ thuật khác như âm nhạc, hội họa, vũ đạo, thư pháp;

sự phồn thịnh của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo góp phần giải phóng tưtưởng cũng góp phần quan trọng làm nên sự hưng thịnh của thơ Đường Vìthế, có thể khẳng định, đời Đường, thơ ca hội tụ tất cả các điều kiện thuận lợi

để phát triển Thơ Đường còn là sự thừa kế và phát triển hợp quy luật của thơ

Trang 15

ca Trung Quốc từ Kinh thi, Sở từ, qua Nhạc phủ Hán – Ngụy đến thơ camuôn màu của thời Lục triều.

Nhiều bài thơ Đường hay đã được lưu truyền hàng ngàn năm nay,không những ở trong nước mà đã vượt ra ngoài nước Thơ Đường có ảnhhưởng lớn trong nền văn hóa Trung Hoa trở thành nét phong vị riêng của đấtnước rộng lớn này

1.1.1 Quá trình diễn biến của thơ Đường

Các nhà nghiên cứu thơ Đường đều nhất trí rằng thơ Đường có bốn giaiđoạn phát triển tương ứng với sự phân kì lịch sử (tuy về mốc thời gian có ýkiến khác nhau): Sơ Đường, Thịnh Đường, Trung Đường, Vãn Đường

1.1.1.1 Sơ Đường (618 – 713)

Sơ Đường (618 – 713) là giai đoạn chuẩn bị mọi mặt cho thơ Ban đầu

thơ Đường còn mang phong vị “phong, hoa, tuyết, nguyệt” của Lục triều Đến

khi Trần Tử Ngang đề xướng phong cách hiện thực (phong cốt Hán NgụyNhạc Phủ - Kiến An) thì thơ ca mới đổi mới Trong thời kỳ này nổi tiếng cóbốn nhà thơ: Vương Bột, Lạc Tân Vương, Lô Chiếu Lân, Dương Quýnh - gọi

là Sơ Đường tứ kiệt Họ đã đưa vào thơ ca những nội dung mới mẻ, đồng thờicũng biểu hiện nỗi bất mãn cá nhân Thơ họ còn chịu ảnh hưởng của TềLương nhưng bản thân họ đã ý thức cần phải vươn lên thoát khỏi ảnh hưởng

ấy Và họ đã góp công trong sáng tạo nghệ thuật, nhất là thơ bảy chữ, thể cahành, cấu tứ mới mẻ, lời thơ uẩn khúc, quanh co, thanh điệu uyển chuyển

Ngoài ra còn Thẩm Tống (Thẩm Toàn Kỳ, Tống Chi Vấn) Tuy chịuảnh hưởng thi phong Lục Triều tương đối nặng, nhưng họ đã mở rộng phạm

vi đề tài phản ánh những vấn đề thời đại như vấn đề chiến tranh Thẩm –Tống đã thành công trong việc phát triển thi luật, tiến thêm một bước trongviệc hoàn chỉnh niêm luật Cùng nổi tiếng đương thời là văn chương tứ hữu(bốn bạn văn chương): Tô Vị Ðạo, Lý Kiều, Thôi Dung và Đỗ Thẩm Ngôn

Trang 16

(ông nội Đỗ Phủ); Ngô trung tứ sĩ (bốn người học trò đất Ngô): Hạ TriChương, Bao Dung, Trương Húc và Trương Nhược Hư,…

Nhà thơ tiêu biểu của thời Sơ Đường là Trần Tử Ngang Bằng thực tiễnsáng tác và lí luận, Trần Tử Ngang đã có công trong việc quét sạch ảnh hưởngxấu của thơ Tề Lương Dưới khẩu hiệu phục cổ, Trần Tử Ngang mạnh dạn đềcao “phong cốt Kiến An” khôi phục truyền thống hiện thực và lãng mạn tíchcực cho thơ ca đời Đường Ông đã hướng sáng tác thơ ca vào con đường mớilàm cho thơ ca đời Đường đã có chuyển biến mạnh mẽ Như thế, Trần TửNgang là người đặt nền móng cho thơ hiện thực phát triển ở giai đoạn sau

1.1.1.2 Thịnh Đường (713-766)

Thịnh Đường, khoảng 50 năm từ Khai Nguyên qua Thiên Bảo đến ĐạiLịch, là giai đoạn rực rỡ nhất của thơ Đường Thịnh Đường đã đạt đến sựthống nhất hài hòa giữa nội dung và hình thức Trong 5 vạn bài thơ của “ToànĐường thi” thì số lượng thơ thịnh Đường chiếm tới 3/4, trên 1.500 thi nhânvới gần 4 vạn bài thơ, riêng Đỗ Phủ có tới ngàn bài Lúc này trên thi đàn độingũ nhà thơ đông đảo chưa từng thấy Những tác gia tiêu biểu của thơ Đườnghầu hết đều tập trung ở thời này: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, TrừQuang Hi, Vương Duy, Cao Thích, Sầm Tham, Vương Xương Linh, ThôiHiệu, Vương Chi Hoán, …

Hai khuynh hướng chính của thơ Đường đều được khẳng định ở thời kỳnày Đó là khuynh hướng lãng mạn tích cực với Lý Bạch là đại diện tiêu biểu

và khuynh hướng hiện thực sâu sắc với Đỗ Phủ là người đứng đầu Thơ lãngmạn Trung Quốc đã được kế thừa và phát triển đến đỉnh cao với thiên tài của

“thi tiên” Lý Bạch Nội dung thơ Lý Bạch rất phong phú mà chủ yếu là hoàibão lí tưởng phi thường, bất mãn với hiện thực tầm thường, khát vọng giảiphóng cá tính và tình cảm phong phú, mãnh liệt Cuộc đời đau khổ và ý thứctrách nhiệm đối với nhân dân đã khiến Đỗ Phủ trở thành người thư ký trung

Trang 17

thành và lương tâm của thời đại Thơ Đỗ Phủ đã phản ánh một cách toàn diện,trung thực và sâu sắc nỗi đau khổ của người “dân đen”, những tai họa khủngkhiếp mà đất nước và nhân dân phải chịu đựng trong chiến tranh loạn lạc.

Thịnh Đường cũng là thời kỳ huy hoàng của hai phái thơ: phái “sơnthuỷ điền viên” và phái “biên tái” Phái sơn thuỷ điền viên với đại biểu làVương Duy và Mạnh Hạo Nhiên đã đưa thơ sơn thuỷ Trung Quốc lên đếnđỉnh cao Tình yêu thiên nhiên, khát vọng hòa hợp với thiên nhiên trong thơsơn thuỷ Thịnh Đường là đại biểu đặc trưng cơ bản của văn học cổ phươngĐông Phái thơ biên tái với đại biểu là Cao Thích, Sầm Tham đã đề cao tinhthần bảo vệ biên cương của đất nước Phái thơ biên tái cũng có những nhà thơnói lên tiếng nói của nhân dân Trung Quốc thời Đường phản đối chiến tranh

phi nghĩa mà đại biểu là Vương Hàn với Lương Châu từ và Vương Xương Linh với Khuê oán

Có thể kể thêm, một số tác giả tuy không sáng tác nhiều nhưng đã đểlại những tuyệt tác thi phẩm mà không một tuyển tập thơ Đường nào có thể

bỏ qua như Thôi Hiệu với bài thơ Hoàng Hạc lâu, Trương Kế với bài thơ Phong kiều dạ bạc, …

1.1.1.3 Trung Đường (766-827)

Thời kỳ này mâu thuẫn xã hội ngày một sâu sắc Loạn An Sử tuy đã bịdẹp nhưng nhà Đường không còn đạt được mức phát triển như trước nữa Đặcbiệt trong khoảng thời gian này xuất hiện hàng nghìn nhà thơ, trong số đó,đáng kể nhất là Nguyên Kết, Cổ Huống, Nhung Dục, Vi Ứng Vật, Lưu

Trương Khanh, “Đại lịch thập tài tử” (nổi tiếng hơn cả là Lư Luân, Tư Không

Thự và Lý Đoan,…) Phong trào thơ lúc này phát triển theo xu hướng hiệnthực, trên thi đàn xuất hiện nhiều phong cách khác nhau, ảnh hưởng của Lý –

Đỗ cũng rất to lớn.Từ cuối Trung Đường, thi đàn xuất hiện một ngôi sao sángchói: Bạch Cư Dị với hơn 2800 bài thơ Bạch Cư Dị vẫn tiếp tục truyền thống

Trang 18

hiện thực của Đỗ Phủ sáng tác những bài thơ phúng dụ có giá trị Ông vừa làmột nhà thơ, vừa là một nhà lý luận thơ ca và đã cùng với nhà thơ NguyênChẩn, tổng kết những kinh nghiệm sáng tác có từ Kinh thi và vạch ra cươnglĩnh cho phong trào Tân nhạc phủ.

Song song với nhóm Tân nhạc phủ của Bạch Cư Dị, là nhóm Hàn –Mạnh do Hàn Dũ, Mạnh giao đứng đầu Nhóm Hàn – Mạnh đề xướng một lốithơ cao kì bí hiểm, vứt bỏ những chữ đã mòn, thay thế bằng những chữ mới,tạo những tứ thơ đột ngột thể hiện một sự cách tân, tạo phong cách độc đáo

Ngoài ra còn có các nhà thơ Lưu Vũ Tích và Liễu Tông Nguyên,… Lý

Hạ là nhà thơ cuối cùng thời kì Trung Đường

1.1.1.4 Vãn Đường (827-904)

Giai đoạn này được gọi là Vãn Đường vì từ Thái Hòa trở đi nhà Đườngkhủng hoảng trầm trọng, lung lay chực sụp đổ Một số nhà thơ kiên trì tiếp tụccon đường của Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị là Nhiếp Di Trung, Bì Nhật Hưu,ĐỗTuân Hạc, Nhiếp Di Trung, Vu Phần, Tào Nghiệp, La Ẩn,…

Ba nhà thơ nổi trội nhất của thời này là Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục và ÔnĐình Quân với những đóng góp trau dồi ngôn ngữ thơ Lý Thương Ẩn rất tàitình trong khi sử dụng thể thơ thất ngôn luật thi, là tác giả những bài thơtượng trưng và những mối tình u ẩn Đỗ Mục thì sở trường về lối thơ thấtngôn tuyệt cú Còn Ôn Đình Quân là vị “khai sơn đại sư” của lối từ trườngđoản cú, chính nhờ ông mà “từ” mới tách khỏi thi để trở thành một thể riêngbiệt có ảnh hưởng rất lớn đối với phong trào thơ ca đời Tống Ngoài ra, còn

có thể kể đến một số nhà thơ khác như: Vi Trang, Tào Đường, hai nữ thi nhânNgư Huyền Cơ và Tiết Đào,

Tóm lại, thơ Đường có nhiều nhà thơ với nhiều phong cách khác nhau.Qua bốn thời kì sẽ thấy được quá trình diễn biến và các phong trào thơ ca đờiĐường Từ cách nhìn cuộc sống trong sáng trở thành tối tăm, u nhàn, từ sự sôi

Trang 19

nổi trở thành thăng trầm, ngôn ngữ từ chỗ bình dị, trong sáng trôi chảychuyển thành trau chuốt, cầu kì, kết cấu từ chỗ tự nhiên thư thái chuyển thànhtinh tế, tỉ mỉ Tư tưởng của các nhà thơ theo mỗi thời kì có sự chuyển biến,học tập kế thừa, phát huy và sáng tạo cái mới mang phong cách độc đáo.Trong quá trình dịch thơ Đường, nhà văn Ngô Tất Tố đã có nhận xét xác đángkhái quát sự diễn biến của thơ Đường: “Sơ Đường phần nhiều hay về khí cốt,nhưng lối dùng chữ đặt câu chưa được chải chuốt cho lắm Vãn Đường giỏi

về tìm tòi từ mới, lời rất đẹp, ý tứ rất sâu sắc, nhưng lại thiếu phần hùng hồn,

có khi còn bị tội ủy mị là khác Duy có Thịnh Đường ở giữa hai thời kì ấy,cho nên chẳng những không có cái dở của hai thời kì kia, mà còn có cái haycủa hai thời kì ấy nữa Đó là nói nội trong một thời Đường mà thôi Nếu đem

so sánh với các thời khác thì dù là Sơ Đường, dù là Vãn Đường cũng cònđứng trên tác phẩm thời trước và thời sau nhiều lắm” [76, 134]

1.1.2 Vị trí thơ Đường trong nền văn học Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung

1.1.2.1 Vị trí thơ Đường trong nền văn học Trung Quốc

Đời Đường (618 – 907) là thời đại hoàng kim của lịch sử phát triển thơ catrong xã hội phong kiến Trung Quốc Thành tựu rực rỡ của thơ Đường có ảnhhưởng sâu sắc đối với các thời kỳ văn học sau như Tống, Nguyên, Minh Thanh

Nhìn khái quát, thơ Đường đã xây dựng được một mô hình chuẩn vềthơ, từ quan niệm tới cấu trúc Các nhà thơ lớn của những đời sau đều tìmđược cho mình những ông thầy của đời Đường Các “thủ lĩnh” của cáckhuynh hướng thơ, trường phái thơ nổi tiếng đời Đường đều có những đệ tửchân truyền Chính điều này làm cho lịch sử thơ ca Trung Quốc trở thành mộtdòng chảy liên tục nhưng đầy biến hóa và luôn mở rộng

Đọc tiểu thuyết Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, ta thấy xuất hiện

hàng trăm bài thơ Đường luật do các nhân vật sáng tác, xướng họa với nhau

Trang 20

Điều này cho thấy rõ thơ Đường cùng những quy phạm mà nó đặt ra đã ảnhhưởng to lớn như thế nào trong đời sống tinh thần không chỉ của văn – thinhân mà còn của toàn bộ người dân Trung Quốc.

1.2.2.2 Vị trí thơ Đường trong nền văn học thế giới

Cũng như văn học Ả Rập, văn học Ấn Độ, văn học Hy Lạp, văn họcTrung Quốc là nền văn học thuộc loại lâu đời nhất và chiếm địa vị quan trọngtrong lịch sử phát triển văn học thế giới, có ảnh hưởng lớn đến nhiều nền vănhọc khác Thơ Đường là bộ phận tinh hoa của văn học Trung Quốc, dĩ nhiên,

nó cũng gây được thanh thế to lớn ở quy mô toàn cầu

Triều Đường do chính trị, kinh tế phát triển, sự giao lưu văn hóa giữaTrung Quốc và nước ngoài cũng rất rộng rãi và tấp nập với 40 nước như NhậtBản, Cao Ly, Thiên Trúc, Đại Thục và các nước Đông Nam Á, Trung Á,…Cùng với sự giao lưu kinh tế, văn hóa, văn học Trung Quốc lấy thơ ca làmchính, bắt đầu truyền ra nước ngoài, phạm vi ảnh hưởng chủ yếu là các nướcláng giềng như Nhật Bản, Cao Ly và các nước Đông Nam Á, đặc biệt là NhậtBản Thơ ca của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn được nhân dânNhật Bản yêu thích, đặc biệt thơ Bạch Cư Dị ảnh hưởng càng lớn Trong

Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc (tập 1), tập thể tác giả của Nhà xuất bản Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc cho biết: “Theo ghi chép của Nước Nhật nhìn qua thư mục thời đó truyền đến Nhật có Văn tập họ Bạch 70

quyển, Bạch thi Trường Khánh tập 29 quyển Thời đại Bình Án, thi tập vàHòa Hán triều vịnh tập tất cả ghi 589 bài thơ, trong đó thơ Bạch Cư Dị đã

137 bài Thơ Bạch còn lưu truyền trong cung đình Nhật Bản, được Nhật

hoàng Ta Nga (Saga) tán thưởng, và bộ tiểu thuyết dài Nguyên Thị vật ngữ do

nữ quan cung đình Tử Thức Bộ sáng tác cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt của thơBạch Thơ Bạch không chỉ được văn nhân quý tộc yêu thích mà bá tánh bình

dân cũng hoan nghênh, Trường hận ca và Tỳ bà hành ở Nhật Bản hầu như

Trang 21

mọi nhà đều biết” [40, 30] Không những thế, Trần Đình Sử còn chỉ ra rằng:

“Toàn bộ hệ thống, thể loại văn thơ Trung Quốc (không bao hàm thể loại tựsự) đã chuyển dịch sang các nền văn học Nhật Bản, Triều Tiên vào khoảngthế kỷ VII đến IX vào lúc các nền văn học ấy mới hình thành” [64, 73] Cáctuyển tập văn học Trung Đại do các tác giả Nhật Bản và Triều Tiên biên soạn

như: Tuyển tập tác phẩm ưu tú đương triều Nhật Bản (soạn vào thế kỷ XI), Tuyển tập văn học phương Đông (soạn vào thế kỷ XV) của Triều Tiên,… đều

thấy xuất hiện các thể loại văn chương Trung Quốc, trong đó không thể thiếuthơ Đường luật

Thơ Đường không chỉ là tinh hoa của Trung Quốc mà còn là tinh hoacủa nhân loại Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ, chẳng những ở các nước phươngĐông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam mà thơ Đường còn lan sang cácnước Phương Tây Thơ Đường đã được dịch sang Châu Âu khá sớm Theo

Ngô Văn Phú, bài thơ đầu tiên được dịch sang Châu Âu là bài Tống xuân từ

(Vương Nhai) do nhà Hán học người Pháp Saint Demcin phiên dịch Trong

tập mười sáu của cuốn Các giáo sĩ ở Bắc Kinh ghi chép về phong tục, tập quán, lịch sử khoa học của Trung Quốc, ngoài bài Tống xuân từ, ông còn dịch

thơ của Lý Bạch và Đỗ Phủ giới thiệu với người Tây Phương Năm 1929, nhàHán học nước Anh là Teltisch trong cuốn thơ chữ Hán đã giới thiệu thân thế

Lý Bạch, bài Tống xuân từ của Vương Nhai và bài Mừng mưa đêm xuân

(Xuân dạ hỉ vũ) của Đỗ Phủ

Sang thế kỷ XX, các nước Âu Mỹ giới thiệu thơ Đường ngày càngnhiều, trong đó nhiều bài thơ Đường được soạn thành ca khúc và phổ nhạc.Năm 1905, nhà văn người Đức Bêches xuất bản tập thơ cổ Trung Quốc

là Tiếng sáo của Trung Quốc (Trung Quốc chi địch) Thơ Đường được nhiều

nhà soạn nhạc nổi tiếng của thế giới phổ nhạc như: nhà soạn nhạc Thụy ĐiểnSweikensel và nhà soạn nhạc Australia Wylphe Sthelhow đã lấy những bài

Trang 22

thơ trong tập Tiếng sáo Trung Quốc ra phổ nhạc Sau này các bài: Xuân nhật tuý khởi ngôn chí, Tĩnh dạ tư của Lý Bạch, Tạp thi, Tống biệt của Vương Duy, Hướng Lưu thập cửu của Bạch Cư Dị được nhiều nhà soạn nhạc Âu

châu soạn thành âm nhạc…Năm 1918, ở nước Anh, xuất bản tập thơ cổ TrungQuốc gồm 170 bài do A.S Willie tuyển dịch, trong đó dịch của Bạch Cư Dịđến 59 bài

Sau Thế chiến thứ nhất, nhà lãnh đạo phong trào thơ mới của Mỹ làLynch đã chọn thơ Đường giới thiệu với bạn đọc và các nhà thơ Âu Mỹ Đó

là những nhà thơ trữ tình và mang tính hiện thực sâu sắc trong Đường thi Vàtập thơ dịch này có ảnh hưởng khá đậm trong lớp nhà thơ trẻ đương thời

Trong Thơ Đường ở Việt Nam, Ngô Văn Phú đã dẫn lời của Mac-tuên

để khẳng định điều này: “Nhà thơ đương đại nổi tiếng nước Mỹ là W.S tuên nói: Giờ đây, không thể không nói đến thơ ca Trung Quốc ảnh hưởng tớithơ ca nước Mỹ được!” [42, 203] Năm 1981, nước Mỹ thành lập “Hội nghiêncứu thơ Đường” Ở nước Pháp, nghiên cứu thơ Đường cũng là một lĩnh vựcquan trọng Tập chí Europe giới thiệu thơ của Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục…

Mac-Nhiều tập sách khảo cứu về thơ Đường được xuất bản Năm 1986, tập Thơ bốn phương đã giới thiệu trên 300 bài thơ Đường.

1.2.2.3 Ảnh hưởng của thơ Đường trong nền văn học Việt Nam

Văn học Trung Quốc có ảnh hưởng sâu sắc đến văn chương Việt Nam.Mối quan hệ đó được hình thành từ những năm Bắc thuộc, và tiếp tục pháttriển cho đến những giai đoạn tiếp theo Trong quá trình giao lưu văn hóa,người Việt đã tiếp thu chữ viết Trung Quốc, đồng thời tiếp thu hầu hết các thểthơ, văn Trung Quốc như chiếu, biểu, hịch, cáo, bi, minh, truyện, kí, từ, phú,

thi,… Trong cuốn Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Trần

Đình Sử có nhận xét về văn chương chữ Hán Việt Nam như sau: “Người ViệtNam hầu như đã di thực toàn bộ thể loại văn học của Trung Quốc vào Việt

Trang 23

Nam với những quy mô và biến đổi khác nhau Trước hết là các thể loại của

sử học và các thể loại hành chính, sau đó là các thể loại thơ, phú và truyền kì,tiểu thuyết” [64, 107] Trong mối quan hệ đó, thơ Trung Quốc là thể loại cóảnh hưởng sâu rộng đối với thơ Việt Nam, đặc biệt là thơ Đường luật thì hầunhư được tiếp thu trọn vẹn

Qua thời gian, cùng với sự giao lưu về văn hoá thì thơ Đường vẫn luôngiữ được vị trí hàng đầu trong tâm thức của người Việt Theo Lê Đức Niệm,

“Thơ Đường vào Việt Nam sớm nhất là bài Mẫn nông của Lý Thân Bài thơ

này đi vào các nước Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam và biến thành ca dao ởnhững nước này” [42, 221] Các nhà thơ Việt Nam thời trung đại coi thơĐường là mẫu mực để hướng tới

Trần Thanh Đạm từng nhận xét về ảnh hưởng của thơ Đường ở ViệtNam như sau: “Có thể nói không một nhà thơ lớn Việt Nam nào lại khôngmang một món nợ tâm hồn ít nhiều sâu nặng với thơ Đường” [76, 227] và chỉđến khi Thơ mới những năm 30 của thế kỉ XX ra đời thì sáng tác thơ theophong cách thơ Đường mới dần dần ít đi Thơ Đường đã cung cấp cho cácnhà thơ Việt Nam những chất liệu văn học sống động, những gợi ý quí báu vềtất cả mọi phương diện từ đề tài và thể tài, xây dựng hình ảnh, cấu tạo tứ thơ,

sử dụng ngôn ngữ,… Truyền thống hiện thực, nhân đạo của thơ Đường đã tácđộng tích cực đến nhiều nhà thơ Việt Nam Có thể tìm thấy dấu vết rõ rệt củahàng chục bài thơ viết về chiến tranh, về tình yêu, trước hết là của Lý Bạch,

trong tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn Có thể tìm thấy sự gần

gũi giữa nhiều bài thơ hiện thực của Đỗ Phủ và thơ chữ Hán của Nguyễn Du

Tiếng đàn người kĩ nữ trên bến Tầm Dương trong bài thơ Tỳ bà hành có âm vang ở Truyện Kiều và thơ chữ Hán của Nguyễn Du, ở thơ Nguyễn Công Trứ,

Chu Mạnh Trinh, Tản Đà và thơ của những nhà Thơ mới như Thế Lữ, TháiCan, Xuân Diệu,…

Trang 24

Có những thuận lợi hiển nhiên cho việc du nhập thơ Đường vào văn thơdân tộc Thơ Đường luật có một kết cấu chặt chẽ, ổn định, tính chất mô hìnhhóa khá cao, đây là điểm khó khăn trong sáng tác nhưng lại tạo sự dễ dàngcho sự tiếp thu và chuyển hóa Về mặt ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu phântích rằng, trong thời kì Bắc thuộc người An Nam có thể nói chuyện bìnhthường với người Trung Quốc Cho nên những hình thức về âm điệu đờiĐường không có gì xa lạ trong đời sống của người dân ta Hơn nữa, qua đốichiếu người ta nhận thấy tiếng Việt đã lưu lại cách đọc chữ Hán đời Đường.

Vì thế có người nhận xét người Việt Nam đọc thơ Đường như Lí Bạch ngâmthơ của mình Thơ Đường luật lại được đưa vào hệ thống thi cử nước ta từkhoa thi Giáp Thìn (1304) đời Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ 12.Khi thơ Đường luật trở thành một môn thi bắt buộc thì việc làm thơ Đườngluật không chỉ là công việc sáng tác văn chương mà là việc học nghề, gắn liềnvới cơm áo và danh vọng

Cả ba thể thơ ở đời Đường (từ, cổ phong, Đường luật) đều được dunhập vào Việt Nam, trong đó, Đường luật là thể thơ để lại dấu vết sâu rộng vàlâu dài nhất Ở Việt Nam, thơ Đường được sáng tác bằng hai ngôn ngữ chính

là chữ Hán, và chữ Nôm Dù là Nôm hay Hán đều có những sáng tác thơĐường đạt đến mức điêu luyện Các nhà thơ bậc thầy của Việt Nam trong quátrình vận dụng, đã đem đến nhiều sáng tạo mới mẻ theo hướng dân tộc hoá(Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm), quần chúng hoá (Hồ Xuân Hương, TúXương), khiến cho thơ Đường, từ một thể thơ ngoại nhập dần trở thành mộtthể thơ mang đậm tính dân tộc

Có thể nói, ảnh hưởng sâu đậm nhất của thơ Đường đối với thơ ViệtNam là ở văn học trung đại Thơ Đường luật chiếm tỉ lệ rất cao trong thơ catrung đại Việt Nam Theo thống kê của Nguyễn Thị Bích Hải trong quyển

Bình giảng thơ Đường: Trong tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du có 204 bài thì

Trang 25

có đến 182 bài Đường luật (chiếm 9/10); Ước Đình thi sao của Hoằng Hóa quận Vương có 85 bài thì 75 bài là thơ Đường luật (hơn 8/10) Trong tập Thơ Tùng Thiện Vương tỉ lệ này hơn 7/10 Trong các tập thơ của sư Viên Thành,

Đặng Huy Trứ, tỉ lệ thơ Đường luật là hơn 9/10; ở một số nhà thơ khác, tỉ lệcũng tương tự Nhìn tổng thể thì cứ 10 bài thơ có đến 8 bài là thơ Đường luật.Đây cũng gần như là tỉ lệ trong thơ Đường, Tống, Minh, Thanh và trong thơViệt Nam Điều đó cho thấy, thơ Đường luật chiếm vị trí chủ đạo trong thơViệt Nam trung cận đại

Ngày nay, bởi tính chất gò bó của nó, thơ Đường ít được các nhà thơđương đại sử dụng Tuy vậy, nó vẫn xuất hiện trên một số lĩnh vực nhất địnhtrong cuộc sống văn hoá của nhân dân ta như hoạ thơ trong các ngày lễ, ngàytết, thơ châm biếm đả kích, thơ mừng xuân, mừng thọ,…

Mặc dù chịu ảnh hưởng mạnh của thơ Đường nhưng thơ Đường luật ởnước ta mang nét đặc sắc riêng, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam TừNguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương, các nhà thơ chỉ mượn luật thơ Đường làmhình thức để thể hiện, nhưng họ luôn muốn thoát khỏi thơ Đường cả về nộidung và hình thức… Thơ Đường ở Việt Nam cả chữ Nôm và chữ Hán đã trởthành tài sản tinh thần của người Việt, mang hồn Việt, giọng điệu Việt

1.2 Trọng tâm nghiên cứu về thơ Đường trong các tài liệu xuất bản bằng tiếng Việt trước 1980

Đi cùng lịch sử tồn tại của thơ Đường là lịch sử nghiên cứu, phê bình

về nó của nhiều tác giả thuộc nhiều thế hệ, ở Trung Quốc cũng như ở trên thếgiới Việc nghiên cứu thơ Đường ở Việt Nam cũng được bắt đầu từ rất sớmcùng với sự du nhập và phổ biến rộng rãi của thơ Đường vào nước ta Nhìnchung, các nhà nghiên cứu Việt Nam trước 1980 chủ yếu thực hành nghiêncứu Đường thi theo các hướng: bình giá, bình chú tác phẩm (song song vớidịch thuật), nghiên cứu hình thức thể loại, nghiên cứu xã hội học,…

Trang 26

1.2.1 Giới thiệu, dịch thuật, bình chú

Giới thiệu, dịch thuật, bình chú tác phẩm là phương pháp truyền thốngđạt được nhiều thành tựu quan trọng Rất nhiều tuyển thơ Đường dịch được

xuất bản như: Thơ Đường (Tản Đà dịch), Đường thi hợp tuyển (Huyền Mặc đạo nhân Dương Mạnh Huy), Đường thi (Ngô Tất Tố dịch), Đường thi (Trần Trọng Kim dịch), Thơ Đường (2 tập, Nam Trân tuyển chọn), Đường thi (3 tập,

Trần Trọng San dịch),… đã mở rộng cánh cửa cho độc giả Việt Nam tiếp xúcvới thơ Đường

Việc dịch và giới thiệu thơ Đường được bắt đầu từ khá sớm ở ViệtNam Tản Đà là một trong những dịch giả thơ chữ Hán xuất sắc Những bản

dịch thơ Đường của ông đăng rải rác trên An Nam tạp chí, Ngày nay,…và 84 bản dịch thơ đã được Nguyễn Quảng Tuân sưu tập, cho in lại trong Thơ Đường Tản Đà dịch, Nhà xuất bản Trẻ, 1989 Trong số đó, bản dịch Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu) được Trần Thanh Đạm đánh giá là “mẫu mực thành công

của nghệ thuật dịch thơ trong giao lưu văn chương của mọi thời đại” [76,

236] Nhưng theo ông, phải qua Trường hận ca “mới thấy hết bút lực không

chỉ tài hoa mà còn hùng hậu của Tản Đà khi dịch thơ Đường Dịch suốt 120câu thơ thất ngôn cổ phong trường thiên vào loại kiệt tác của Bạch Cư Dịthành 132 câu thơ song thất lục bát trường thiên, vừa sát nghĩa, sát ý Vừa linhhoạt, uyển chuyển, không chỗ nào gượng gạo, non yếu, trái lại đều cứng cát,sắc sảo chỗ như dệt như thêu, chỗ như chạm như trổ, bản dịch thực xứng đánghoàn toàn với nguyên tác, dịch giả đứng ngang tầm với tác giả, vì đây là thi sĩdịch thi sĩ, thơ dịch thơ” [76, 238]

Đường thi tam bách thủ của Trần Trọng Kim xuất bản khoảng cuối năm

1944 đầu năm 1945 Ông chọn dịch 336 bài của hơn 100 nhà thơ nổi tiếng củacác thời kỳ Sơ Đường, Thịnh Đường, Trung Đường, Vãn Đường Mỗi phầncủa thể loại thơ chọn dịch đều có một bài nói về thơ đó (cổ phong, luật, tuyệt

Trang 27

cú) Đường thi của Trần Trọng Kim dựa vào Thiên gia thi và Tam bách thủ

của Trung Quốc lưu hành thời ấy Ngô Văn Phú cho rằng “Thơ dịch của TrầnTrọng Kim thoát ý, chuyển tải được nội dung, sát nghĩa nhưng không tài hoa

và không có những bài xuất sắc” [53, 190] Công trình này, theo ông, có “giátrị về mặt tư liệu, giới thiệu hơn là phần dịch thuật” [53, 191]

Bên cạnh đó, còn phải kể đến bản dịch Đường thi của Ngô Tất Tố và Thơ Đỗ Phủ của Nhượng Tống đều xuất bản năm 1944 và Lý – Đỗ của Trúc

Khê Ngô Văn Triện Ngô Tất Tố chọn giới thiệu một số bài thơ của các tácgiả mà ông yêu thích, “cách chọn thơ của ông cũng tinh và có nhiều bản dịchđạt” [53, 194] Còn Nhượng Tống dịch khoảng vài trăm bài thơ tiêu biểu của

Đỗ Phủ “Thơ dịch của Nhượng Tống hào hoa, truyền cảm và sát nghĩa” [53,

194] Còn trong Lý – Đỗ, Trúc Khê chỉ dịch thơ của hai thi hào Lý Bạch và

Đỗ Phủ Ngoài ra, trước 1945, Dương Mạnh Huy, Đinh Văn Chấp, Phan KếBính, Nguyễn Đỗ Mục cũng dịch và giới thiệu thơ Đường trong một số báo,tạp chí, tập sách…

Sau 1945, những công trình dịch thơ Đường có thể kể đến như Đường thi (gồm 3 quyển được Nxb Bắc Đẩu, Sài Gòn xuất bản lần lượt vào các năm

1965, 1970, 1973) của Trần Trọng San, Thơ Đường của Phạm Liễu, Thơ Đỗ Phủ (Nhà xuất bản Văn học, 1962) do Hoàng Trung Thông, Khương Hữu

Dụng, Nông Quốc Chấn, Xuân Diệu, Huy Cận và nhiều nhà thơ khác dịch,…

Trong đó, có một công trình khá công phu, được tái bản khá nhiều lần là Thơ Đường (2 tập) do Nam Trân tuyển chọn

Thơ Đường (2 tập) là công trình của Viện Văn học do Nam Trân chủ trì

và được các nhà Hán học có tiếng đương thời như Hoa Bằng, Tảo Trang,Hoàng Tạo dịch nghĩa, chú thích Những bản dịch được chọn trong cả hai tậpthường là những bản dịch nổi tiếng được lưu truyền từ trước Ngoài tuyểnchọn những bài thơ tiêu biểu của các tác giả nổi tiếng các thời kỳ, phần dịch

Trang 28

nghĩa và chú thích rất cẩn thận, chu đáo và còn có những trang giới thiệu sơlược các tác giả Đặc biệt, đối với những bài thơ có nhiều bản dịch đạt, hay,Nam Trân đều đăng để người đọc thưởng thức, so sánh Tuy nhiên, theo NgôVăn Phú, “Phần giới thiệu các thể loại có phần không được tỉ mỉ bằng tập

Đường thi của Trần Trọng Kim” [53, 193] Đây là công trình tập thể có giá

trị, có tiếng vang ở Việt Nam và được nhiều người ưa thích

1.2.2 Nghiên cứu hình thức thể loại

Nghiên cứu phê bình văn học Trung Quốc trung đại, các học giả rấtquan tâm đến các thể thơ, nhất là thể thơ cách luật, về niêm, luật, vận, đối; vềcách sử dụng từ ngữ - tức là tập trung nghiên cứu về loại thể và ngôn ngữ,

nghiên cứu hình thức của hình thức Có thể kể đến công trình Việt Nam văn học sử yếu (1943) của Dương Quảng Hàm, Lược khảo thơ Trung Quốc (1943, Mai Linh xuất bản) của Doãn Kế Thiện, Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại (1971) của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức,…

Trong Lược khảo thơ Trung Quốc, Doãn Kế Thiện nhận xét: “Đến đời

Đường, về phép thanh luật đối ngẫu càng thêm tinh mật Bọn Thẩm Thuyên

Kỳ, Tống Chi Vấn nghiêm luật càng kĩ, cách điệu ổn thuận, tập theo đã lâu,mới định ra lối ngũ ngôn bát cú Đến lối thất ngôn luật thi, toàn thể là do ngườiđời Đường làm ra, hơi khác với thể ngũ ngôn, lấy câu thứ nhất áp vận làmchính cách, không thể áp vận làm biểu cách” [53, 137] Và “Thi cận thể mỗithiên có định câu, mỗi câu có định chữ, chữ có định tiếng, lời văn giản ước, ngụ

ý sâu xa” [53, 137] Những nhận xét này có tính chất khá chung chung

Việt Nam văn học sử yếu - một cuốn sách của Dương Quảng Hàm biên

soạn và đã được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1943 và năm 1968 được BộGiáo dục – Trung tâm học liệu xuất bản lại Đây là một bộ sách giáo khoa văn

học Việt Nam thời kỳ đó Không kể những đề mục phụ, như: Biên tập đại ý, Những chữ viết tắt, Tổng kết, Biểu liệt kê, Mục lục…; Việt Nam văn học sử

Trang 29

yếu gồm 48 chương trong đó có nhiều phần có giá trị Trong mục Các thể văn của Tàu và của ta, ông đã trình bày về thể thơ Đường luật - “Thi pháp của

Tàu và âm luật của ta” theo hai “lối”: tứ tuyệt và bát cú Trong đó “Lối Đườngluật bát cú là lối chính và thông dụng nhất” [17] được xét ở năm phương diện:vần, đối, luật, niêm, cách bố cục

Bàn về cách gieo vần, Dương Quảng Hàm viết: “1/ Thơ Đường luậtthường dùng vần bằng; gián hoặc mới dùng vần trắc 2/ Suốt bài thơ Đườngluật chỉ hiệp theo một vần, tức là theo lối độc vận 3/ Trong một bài bát cú có

5 vần gieo ở cuối câu đầu và cối các câu chẵn” [17] Về đối, ông chỉ ra nhữngcâu phải đối trong một bài thơ bát cú là “Trừ hai câu đầu và hai câu cuối, cònbốn câu giữa thì câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6” [17]

Dương Quảng Hàm định nghĩa luật thơ là “cách xếp đặt tiếng bằngtiếng trắc trong các câu của một bài thơ”. Ông chia ra hai luật: Luật bằng (luậtthơ bắt đầu bằng hai tiếng bằng) và luật trắc (luật thơ bắt đầu bằng hai tiếngtrắc) Đáng chú ý là ông còn giải thích cặn kẽ về “Bất luận” và “khổ độc”; sựtrình bày của ông tuy chi tiết nhưng khá rườm rà

Về niêm, Dương Quảng Hàm cũng chỉ ra: “Niêm (nghĩa đen là dính) là

sự liên lạc về âm luật của hai câu thơ trong bài thơ Đường luật” [17] Trongmột bài thơ bát cú, những câu này niêm với nhau: 1 với 8; 2 với 3; 4 với 5; 6với 7; 8 với 1

Một bài thơ bát cú có bốn phần: 1) Đề gồm có phá đề (câu 1) là mở bài

và thừa đề (câu 2) là nối câu phá mà vào bài 2) Thực hoặc trạng (hai câu 3-4)

là giải thích đầu bài cho rõ ràng 3) Luận (hai câu 5 -6) là bàn bạc cho rộngnghĩa đầu bài 4) Kết (hai câu 7-8) là tóm ý nghĩa cả bài mà thắt lại

Theo quan niệm của Dương Quảng Hàm, thể tứ tuyệt “là ngắt lấy bốncâu trong bài thơ bát cú mà thành” [17] Ông mô tả các cách làm thơ tứ tuyệt:

“1/ Ngắt bốn câu trên, thành ra bài thơ ba vần, hai câu trên không đối nhau,

Trang 30

hai câu dưới đối nhau 2/ Ngắt 4 câu giữa, thành ra bài thơ 2 vần, cả bốn câuđối nhau 3/ Ngắt 4 câu dưới, thành ra bài thơ hai vần, hai câu trên đối nhau,hai câu dưới không đối 4/ Ngắt 2 câu đầu và 2 câu cuối, thành ra bài thơ 3vần, cả 4 câu không đối 5/ Ngắt hai câu 1-2 với hai câu 5-6, thành ra bài thơ 3vần hai câu cuối đối nhau” [17].

Cũng nhìn thơ Đường từ hình thức thể loại là công trình Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức Hai tác giả

đi sâu mô tả hình thức thể loại của các thể thơ từ thơ cổ, thể thơ mô phỏng thơ

ca Trung Quốc, các thể văn vần và biền văn, các thể thơ ca trong phong trào

thơ mới, thơ tự do, thơ văn xuôi,… Trong phần Các thể thơ mô phỏng thơ ca Trung Quốc, hai tác giả đã giành một số trang khá lớn cho thơ Đường luật mà

hai ông gọi một cách khái quát là thơ cách luật Họ chỉ ra “Điểm nổi bật về sựkhác nhau giữa thơ cách luật và thơ cổ phong là: sự qui định thanh bằng,thanh trắc trong từng câu và trong toàn bài (mà người ta gọi một cách kháiquát là niêm luật) ở trong cách luật rất chặt chẽ khác với thơ cổ phong làphóng túng” [38, 279]

Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã xem xét hình thức thơ Đường ởcác phương diện: luật bằng trắc, niêm, cách gieo vần, cấu trúc, Về luật bằngtrắc, hai ông chỉ ra rằng “Hệ thống thanh bằng, thanh trắc cân xứng được kể từcâu đầu ở từ thứ nhì Nếu từ thứ nhì thanh bằng là thể bằng, từ thứ nhì thanhtrắc là thể trắc” [38, 279] Trong đó thể trắc được coi là chính thể còn thể bằng

là biến thể Về niêm, hai ông lập bảng khá chi tiết niêm vần bằng, niêm vầntrắc với qui tắc hợp niêm: “nhất - bát, nhị - tam, tứ - ngũ, lục- thất” [38, 281]theo ““mốc chuẩn” là từ thứ nhì câu I niêm với từ thứ nhì câu VIII” [38, 281]

Về cách gieo vần, thơ Đường luật “chỉ dùng vần bằng, và chỉ được gieo mộtvần (độc vận), theo hai cách: hoặc hạn vận, hoặc phóng vận” [38, 281], trong

Trang 31

đó vần bằng được coi là chính vận, vần trắc coi như không chính qui và rất ítdùng Thông thường bốn câu ba vần, tám câu năm vần.

Hai ông cũng chỉ ra những biệt lệ trong thơ Đường luật, gồm: “lệ bấtluận” (biệt lệ về luật bằng trắc) và “chiết vận” (biệt lệ về cách trốn vần).Trong “lệ bất luận” có nhất tam bất luận và nhất tam ngũ bất luận, từ biệt lệnày gây ra khổ độc Còn “chiết vận” phải theo nguyên tắc “hai câu có vần trốn

đó (tức hai câu đầu của một bài bốn câu hay một bài tám câu) phải đối nhaugọi là song phong (hai đỉnh đồi đối nhau) Một bài bát cú trốn vần như vậy làphải có sáu câu đối nhau” [38, 283] Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã lậpbốn bảng thành niêm luật khá chi tiết: bảng 1 thể trắc ngũ ngôn bát cú, bảng 2thể bằng ngũ ngôn bát cú, bảng 3 thể trắc thất ngôn bát cú, bảng 4 thể bằngthất ngôn bát cú với các lệ chứng cụ thể

Về thơ tuyệt cú, khác với Dương Quảng Hàm, Bùi Văn Nguyên và HàMinh Đức cho rằng: quan niệm thể thơ này là một nửa của bài bát cú là khôngchính xác và không thuyết phục Hai ông khẳng định, thơ tuyệt cú có trướcthời Đường và có khi là thể tiền thân của thơ bát cú “tự nó là một đơn vị hoànchỉnh về thơ, chứ không nhất thiết cắt ra từ một bài bát cú” [38, 299]

Bên cạnh việc bàn về hình thức thể loại về niêm, luật, vận, đối của thểĐường luật, Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức còn đề cập đến việc sử dụng từngữ trong một bài thơ thất ngôn bát cú: “Thơ Đường luật yêu cầu phải gây âmvang và xạ ảnh cao, lời và câu có hạn, nhưng ý thì vô hạn” [38, 289] Trong

bố cục bài thơ bát cú theo bốn phần đề thực, luận, kết và “56 từ thành 56 hạtngọc… tránh dùng hư từ càng nhiều càng tốt Lời thơ hết sức cô đọng, các từtrong câu thơ tự nó gắn với nhau theo cấu trúc nội tại của nó không cần hư từđưa đẩy, giống như những tảng đá lớn ở một ngôi thành cổ áp sát nhau màkhông cần hồ vữa gắn liền” [38, 293] Nhận xét trên, hai ông đã có sự gắn kết

Trang 32

giữa hình thức và nội dung của lời thơ, hình thức không chỉ đơn thuần là hìnhthức của hình thức nữa.

1.2.3 Nghiên cứu xã hội học

Bên cạnh hướng nghiên cứu hình thức thể loại, sau 1945 các nhà nghiêncứu theo quan điểm marxist ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam phần lớnquan tâm đến nội dung tư tưởng, ý nghĩa xã hội của thơ Đường, còn phầnnghiên cứu nghệ thuật thơ thì xem nhẹ, coi như sản phẩm của lối nghiên cứu

cũ Tuy vậy, phương diện hình thức vẫn được đề cập đến, chỉ có điều nó ít

được quan tâm một cách thích đáng Tiêu biểu là cuốn sách giáo trình Lịch sử văn học Trung Quốc do tập thể tác giả của Sở Nghiên cứu văn học thuộc Viện

Khoa học xã hội Trung Quốc biên soạn, và các bài giới thiệu về thơ Đườngđầu các cuốn sách dịch thuật cùng một số công trình khác

Các nhà nghiên cứu xã hội học thường chú ý tới chức năng phản ánhhiện thực cuộc sống của văn học, thiên về việc đứng từ góc độ xem xét sựbiến đổi của kinh tế, chính trị để giải thích sự biến đổi của Đường thi, đồngthời coi trọng nghiên cứu mối quan hệ trực tiếp, gián tiếp giữa cuộc sống nhândân và sáng tác của các tác giả… Bên cạnh đó các nhà nghiên cứu cũng chú ýđến sự thống nhất nội tại giữa khuynh hướng chính trị tư tưởng và biểu hiệnnghệ thuật của tác phẩm

Dưới ảnh hưởng của tư tưởng này, nên khi tiếp cận từng tác giả, tácphẩm cụ thể người ta thường chú ý xem xét tác giả, tác phẩm đó có thái độnhư thế nào đối với nhân dân, đồng thời đứng từ góc độ phát triển xã hội đểbình giá ưu điểm, khuyết điểm của tác phẩm văn học Các tác giả như: LýBạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,…là những tác giả đầu tiên được nghiên cứu mộtcách nhiệt tình kỹ càng Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra một cách xuất sắc cáctầng quan hệ giữa tác giả, tác phẩm và cuộc sống hiện thực Giới nghiên cứulúc bấy giờ đã bàn luận về mối quan hệ giữa chính trị, kinh tế, xã hội thời

Trang 33

Đường với văn học thời Đường, thảo luận về nguyên nhân phồn vinh rực rỡ

của Đường thi, bình luận về các phái “thơ biên tái thi phái”, “thơ sơn thuỷ

điền viên”, “phong trào cổ văn”, “phong trào tân nhạc phủ”,… Người ta đãchốt lại nhận thức: phái thơ biên tái phản ánh cuộc sống nơi biên ải, gắn liềnvới chiến tranh; phái thơ điền viên – sơn thủy ca ngợi cuộc sống ẩn dật, giữmình nơi thôn xa xóm vắng, ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên thanh tịnh, êm đẹp;phái thơ hiện thực phản ánh hiện thực cuộc sống trong thời loạn An - Sử,phản ánh sự bất công của chiến tranh phong kiến gây đảo lộn cuộc sống bìnhyên của nhân dân; phái thơ lãng mạn nói lên khát vọng và ước mơ táo bạovượt lên hiện thực đen tối của thời đại, với một phong cách thơ bay bổng Nói

như Phạm Liễu nhận xét trong Đường thi: “nội dung Đường thi thì muôn mặt

nhất là nói về con người, tình cảm lãng mạn, tả cảnh, chiến tranh đều khôngthiếu” [53, 159]

Điển hình cho những nội dung trên là công trình Lịch sử văn học Trung Quốc do tập thể tác giả của Sở nghiên cứu văn học thuộc viện khoa học xã hội

Trung Quốc biên soạn từ những năm 60 (thế kỷ XX) và được sửa chữa in lạitrong những năm 1980 Đây là giáo trình chính thức tại các trường đại họcTrung Quốc và được Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1964 do TrươngChính, Hồng Dân Hoa, Đức Siêu dịch Đến 1991, nó được Nhà xuất bản Đạihọc và Giáo dục chuyên nghiệp xuất bản thành 3 tập do Lê Huy Tiêu, LươngDuy Thứ dịch sang tiếng Việt,… Đây là công trình rất công phu khái quát mộtbức tranh toàn cảnh về văn học Trung Quốc nói chung và thơ Đường nóiriêng Khi đi xem xét những nguyên nhân hưng thịnh của thơ Đường, các tácgiả nhấn mạnh nguyên nhân hoàn cảnh lịch sử xã hội, lòng trọng văn thơ củavua chúa, sự phát triển của tôn giáo và các ngành nghệ thuật khác ở thờiĐường như hội hoạ, âm nhạc,… Họ nhận xét: “Từ Khai Nguyên đến ThiênBảo, thế nước thịnh vượng, văn hoá phát triển và kinh tế phồn vinh, hiện thực

Trang 34

đó đã tạo nên tinh thần phấn khởi, sôi nổi của thời đại và đưa lại nhiệt tình và

lí tưởng lãng mạn cho các nhà thơ Chủ nghĩa lãng mạn của Lí Bạch là tiêubiểu là dòng thơ chủ đạo của thơ ca thời đó Còn hiện thực kiệt quệ, khốc liệtsau loạn An Sử không thể không làm các nhà thơ phải quan sát và suy nghĩ vềhiện thực khách quan một cách tỉnh táo, cho nên dòng thơ chủ đạo của TrungĐường rất tự nhiên là đi theo con đường chủ nghĩa hiện thực, và phát triểnrầm rộ” [60, 419] Công trình đã khái quát quá trình diễn biến của thơ Đường

với các phái phái “biên tái thi phái”, “sơn thuỷ điền viên thi phái”, “phong

trào cổ văn”, “phong trào tân nhạc phủ” v.v… Bên cạnh đó, các tác giả đãgiới thiệu về các nhà thơ Đường tiêu biểu của bốn giai đoạn trên, tập trungnhất là sự nghiệp của ba đại thi hào Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị Trong đó,tuy thành tựu nghệ thuật của các tác giả có được phân tích nhưng đó khôngphải là phần trọng tâm so với nội dung

Nam Trân trong “Lời giới thiệu” cuốn sách Thơ Đường (Tập 1) đã giới

thiệu sơ lược các nhà thơ chính và các phong trào sáng tác cơ bản của thơĐường qua bốn giai đoạn: Sơ Đường, Thịnh Đường, Trung Đường, VãnĐường Trong từng giai đoạn, Nam Trân chủ yếu xuất phát từ hoàn cảnh lịch

sử xã hội đến nội dung sáng tác của các tác giả theo từng đề tài với kết luận:

“Đặc sắc nhất của thơ Đường là nội dung cực kỳ phong phú phản ánh rộng rãicác mặt sinh hoạt xã hội, khác hẳn với thơ ca Lục triều chỉ bó hẹp trong một

số đề tài liên quan với lối ăn chơi xa xỉ của vua quan” [73, 16] Như vậy, giátrị thơ Đường mà Nam Trân khẳng định trước hết và hơn nhất chính là giá trịnội dung xã hội

Trong cuốn sách Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông đã khẳng định vị trí

của thơ Đỗ Phủ trong thi đàn Trung Hoa: “Tiếng thơ của Đỗ Phủ chính là đã cấtcao lên từ nỗi đau khổ vô tận của nhân dân Trung Quốc đời Đường, và Đỗ Phủ

đã trở thành tấm gương lớn của một thời đại phong kiến Trung Hoa liên miên

Trang 35

những chiến tranh và đói khổ” [70, 10] Xuyên suốt sự nghiệp của Đỗ Phủ,Hoàng Trung Thông chỉ nhìn thấy khía cạnh “biểu hiện nỗi thống khổ của nhândân”, “cảm xúc trước thời sự chính trị nhậy bén và sắc sảo” [70, 16] Từ đó,ông đi sâu ca ngợi lòng thương người, tấm lòng yêu mến đối với nhân dân laođộng, tố cáo xã hội, phơi bày mâu thuẫn xã hội, lên án chiến tranh phi nghĩa,…với sự phân tích những dẫn chứng cụ thể Nhìn chung, đó đều là các phươngdiện nội dung xã hội trong sáng tác của Đỗ Phủ Hình thức nghệ thuật trongtrước tác nhà thơ không được chú trọng, chỉ được nhắc đến trong vài nhận xétchung chung như: “đóng góp quan trọng của Đỗ Phủ vào thơ ca Trung Quốc làthơ tự sự (kể chuyện)” [70, 43]; “Đỗ Phủ đã mạnh dạn đưa ngôn ngữ quầnchúng vào trong thơ” [70, 45]; “Đỗ Phủ là một thiên tài nghệ thuật ngôn ngữtuyệt diệu, một phong cách nghệ thuật độc đáo và rất phong phú” [70, 45].Chính vì vậy, những danh xưng ca ngợi Đỗ Phủ hầu như đều tập trung vào khíacạnh giá trị nội dung và phản ánh xã hội trong thơ của thi hào: “Người ta gọi

Đỗ Phủ là ông thánh thơ, là nhà sử thơ, là bậc đại thành, là nhà thơ nhân dân,nhà thơ hiện thực, nhà thơ xã hội, nhà thơ yêu nước,v.v…” [70, 11]

Thậm chí dưới góc nhìn xã hội học, Hoàng Trung Thông còn cho rằng:

“Người ta có thể lấy Đỗ Phủ làm thí dụ minh chứng cho cách giải quyết đúngđắn nhiều vấn đề thơ ca: Thế nào là thơ ca phản ánh thời đại ? Tư tưởng chínhtrị và nghệ thuật thơ ca? Nhà thơ có cần đi vào cuộc sống không ? Thế nào làthơ thời sự ? ” [70, 11]

Đặc biệt, có đôi chỗ Hoàng Trung Thông đã rơi vào suy diễn, áp đặt thơ

Đỗ Phủ theo cách nhìn xã hội học dung tục: “Đọc thơ Đỗ Phủ, ta càng yêumến thêm chế độ tốt đẹp của chúng ta, một chế độ quanh năm lo vì dân, đãvĩnh viễn xoá bỏ chế độ người bóc lột người, cùng với những cảnh ngoàiđường xương chết buốt, vì thuế vì tô cắt khúc lòng Nhưng ở miền Nam nước

ta, nơi bọn chó sói Mỹ đang nhe răng “cắn người” thì cảnh sống ở đây chẳng

Trang 36

khác gì cảnh sống thời Đỗ Phủ” [70, 47] Và để minh hoạ cho ý kiến trên, ông

đã dẫn tên Binh xa hành, Ba bài lại, Ba bài biệt làm ví dụ.

Bùi Thanh Ba trong Nghiên cứu văn học cổ (1962), cũng khái quát về

nội dung xã hội trong thơ ca đời Đường: “Các nhà thơ cùng thời với Đỗ Phủnhư Lý Bạch, Vương Duy, Sầm Tham, Cao Thích, Nguyên Kết, v.v… nóichung đều ca ngợi cuộc đời phồn vinh của thời đại Thịnh Đường hoặc chỉphản ánh một phần nào đời sống cùng khốn của nhân dân Riêng Đỗ Phủ,trước sau như một, luôn nhìn thẳng vào mắt bọn gian ác, và mạnh dạn bóctrần những hành động bỉ ổi của chúng” [53, 146] Nhận xét này nhằm khẳngđịnh giá trị hiện thực trong thơ Đỗ Phủ, và cũng phần nào khái quát được nộidung xã hội trong thơ của một số thi nhân đời Đường khác

Như vậy, các công trình đi theo hướng xã hội học chủ yếu quan tâm đếnnội dung tư tưởng, ý nghĩa xã hội của thơ Đường, còn phần nghiên cứu nghệthuật thơ ít được quan tâm một cách thích đáng

1.2.3 Bình giá tác phẩm

Một số học giả lại tìm hướng đi cho mình bằng việc bình giá, khám phácái hay, cái đẹp của các bài thơ Đường cụ thể Họ chú trọng vào phát hiệnnhững đặc sắc về nội dung và những khám phá về hình thức của tác phẩm.Một số bài viết của Nguyễn Khắc Phi, Hoàng Trung Thông, Thê Húc, PhạmVăn Diêu,… được đăng trên các báo, tạp chí trước 1980 là những dẫn chứngtiêu biểu cho hướng nghiên cứu này

Việc bình giá, khám phá cái hay, cái đẹp của các bài thơ Đường cụ thểtrước 1980 phần lớn vẫn chịu ảnh hưởng của khuynh hướng xã hội học, đánhgiá một tác phẩm trên phương diện nội dung xã hội hoặc đi vào bình - có khitán - từng chữ, từng câu Có nhiều bài viết sa vào diễn dịch tác phẩm văn học

Từ trước đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về thi phẩm Tỳ

bà hành của Bạch Cư Dị như: Thê Húc, Phạm Văn Diêu Trong cuốn sách

Trang 37

Bài hát Tỳ bà (Nxb Nam Việt, 1952), bên cạnh phần dịch thuật, Thê Húc đã

nhận xét nhiều phương diện của bài thơ, trong đó đáng chú ý là tác giả đã sosánh bản dịch và nguyên tác của bài thơ này Theo tác giả, bản dịch đã chuyển

từ thể thơ thất ngôn cổ phong đều một giọng và gieo vần cuối câu sang thểsong thất lục bát với những câu nhiều chỗ ngắt hơn kết hợp với việc gieo vầnvừa ở cuối câu vừa ở giữa câu khiến nhịp điệu thêm phần phong phú, uyểnchuyển Đồng thời, những “tiếng đôi” trong bản dịch đã dịch thoát được nhiều

từ ngữ rườm rà hoặc khô khan của nguyên tác và chứa nhiều sức khêu gợihơn, chẳng hạn như từ “lau lách” Những yếu tố trên đã cho thấy những thành

công của Tỳ bà hành về mặt dịch thuật Tác giả khẳng định: “Xét về mặt tác giả, dịch giả, nội dung, hình thức, phổ nhạc, bài Tỳ bà hành là một kiệt tác

văn chương, dù sao cũng biểu chứng một thời kỳ lịch sử và một tình trạng xãhội nhất định, trong đó thân phận người đàn bà cũng như người làm tôi chỉphát lộ được nỗi uất hận trong một tiếng đàn” [53, 135] Nhận xét này đã baoquát được những thành công mà bài thơ đạt được, nhưng dù vậy yếu tố ý

nghĩa xã hội của tác phẩm vẫn được nhấn mạnh hơn cả Trong Việt Nam văn học giảng bình (1958), Phạm Văn Diêu cho rằng bài thơ Tỳ bà hành nghiêng

về chất trữ tình thể hiện tâm trạng riêng của Bạch Cư Dị Phạm Văn Diêu đãphân tích khá chi tiết bài thơ này Ông diễn giải tác phẩm theo các luận điểmchính, đó là: 1 – Cảm giác cô đơn, lạnh lẽo (cô đơn trong khung cảnh, côđơn của người đánh đàn, cô đơn của người nghe đàn), 2 – Cảm giác buồnnhớ mênh mông (buồn vì cảnh vật, buồn vì tiếng đàn, buồn vì câu chuyệncủa người kỹ nữ, buồn vì cảnh ngộ của tác giả), 3 – Tâm sự của tác giả hòahợp với tâm sự của người đánh đàn, 4 – văn chương (kết cấu và lời thơ).Như vậy, trong các luận điểm trên, nội dung tác phẩm vẫn được xem là trọngtâm, phần nghệ thuật chỉ được dành một vị trí khiêm tốn hơn hẳn Về nghệthuật, ông phân tích kết cấu – nghệ thuật tả tiếng đàn, kể chuyện của tác

Trang 38

phẩm và lời thơ của tác phẩm Tác giả đi sâu phân tích ngôn từ của Tỳ bà hành Chuyển tải nội dung mô tả nỗi bi thương, cuộc đời tan vỡ của những

mẫu đời tài hoa thanh quý, bài thơ mang vẻ “cổ kính, đĩnh đạc trong cách đặtcâu; cổ kính đường hoàng và rất quý phái trong nhạc thơ và cả trong lối dùng

lại cái đề xưa cũ nữa (Tỳ bà hành) Lại thêm tính chất hàm súc của lời phô

diễn ý tứ thơ, lối chuyển mạch kín đáo, nên câu chuyện được phong kín mộtcách ý vị” [53, 157-158] Tác giả đi đến khẳng định: “chính nhờ màu sắc cổ

kính và hàm súc này Tỳ bà hành là bài thơ cổ điển có tác dụng hấp dẫn, diễn

đạt được nguyên vẹn màu sắc hoài cảm xa xưa, kín đáo của câu chuyện, gâythành một không khí minh diễn thanh tao, một âm hưởng nhẹ nhàng, vừamênh mông trong cảm quan người thưởng thức văn chương xưa nay”

[53,158] Chính vì lẽ đó mà Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị đã có sức sống

mạnh mẽ, có ảnh hưởng lớn đến các tác giả, tác phẩm đời sau nhưNguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh, Xuân Diệu… Có thể thấy, công trìnhcủa Phạm Văn Diêu bao quát khá toàn diện về thi phẩm này, nhưng có phầnthiên về phân tích nội dung tác phẩm; khi trình bày về nghệ thuật lại chủ yếuthiên về “bình” mà ít “giảng”, dẫn đến lời bình có tính khái quát, chungchung

Với bài Đăng cao (Đỗ Phủ), trong khi khái quát về sự nghiệp văn học

của Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông phân tích: “Bài thơ đối chọi nhau từng câutừng chữ từng lời từng ý đã mở ra một trời thơ cảm xúc rộng lớn… Từ caonhìn xuống: bát ngát mênh mông vô biên vô tận Trăm phương dồn về mộthướng: tàn tạ suy vong, đau thương khổ nạn, vừa nói thân thế, vừa nói thờiđại, thâm trầm u uất cực độ, tình cảm bi phẫn rộng lớn vô cùng” [70, 42] Ông

đi đến nhận xét: “Đây là một bài thơ trữ tình dồi dào hàm súc cả cảnh, cả ý, cảtình mang khá đậm cái phong cách thâm trầm ưu uất của nhà thơ” [70, 43]

Trang 39

Chỉ với nhận xét ngắn gọn trên, Hoàng Trung Thông đã khái quát được mộtcách cô đúc thành công của bài thơ này.

Do ảnh hưởng bởi cách nhìn xã hội học độc tôn một thời trong nghiêncứu văn học trước 1980 nên một số nhà nghiên cứu chỉ phân tích các bài thơĐường chủ yếu ở phương diện nội dung xã hội của thi phẩm Chẳng hạn trong

cuốn Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông đã phân tích bài thơ Mao ốc vị thu phong sở phá ca và kết luận “Lòng nhân đạo của Đỗ Phủ là lòng thương của

những người cùng chung số phận, nó cao hơn lòng nhân đạo của nhiều nhà

thơ sau ông” [70, 28] Tác giả so sánh bài thơ đó với bài thơ Mới may áo bông

của Bạch Cư Dị và cho rằng với Bạch Cư Dị đó là “lòng thương người rétmướt của một người có áo ấm và mong ai cũng được ấm như mình”; “là ôngquan thương dân” [70, 29] khác với Đỗ Phủ là “một người đau khổ thươngnhững người đau khổ” [70, 29]

Nhìn chung, những bài viết cũng như những nhận xét, bình giá về cácbài thơ Đường của các nhà nghiên cứu trước 1980, hầu như đều mang tínhchung chung, nhất là những lời bình về nghệ thuật Sự phân tích về nội dung

có phần thiên về nội dung xã hội Do chú trọng vào từng thi phẩm cụ thể nên

ở những bài viết theo hướng bình giá này, sức khái quát về đặc điểm thơĐường không cao

1.3 Những giới hạn trong nghiên cứu thơ Đường qua các tài liệu xuất bản bằng tiếng Việt trước 1980

1.3.1 Chưa quán triệt cái nhìn lịch sử

Nhìn chung, mỗi hướng nghiên cứu qua các công trình xuất bản bằngtiếng Việt trước 1980 đều có những thế mạnh riêng, nhưng còn tồn tại nhữnggiới hạn trong nghiên cứu thơ Đường Trước hết, các nhà nghiên cứu hầu nhưchưa quán triệt cái nhìn lịch sử Họ chỉ tập trung khám phá thơ Đường hoặc từphương diện nội dung xã hội hoặc phương diện hình thức thể loại mà họ ít

Trang 40

thấy mối liên hệ và sự kế thừa, sáng tạo của thơ Đường với các nền thơ trước

đó của Trung Quốc Khi đi xem xét những nguyên nhân hưng thịnh của thơĐường, phần lớn các nhà nghiên cứu nhấn mạnh nguyên nhân hoàn cảnh lịch

sử xã hội, lòng trọng văn thơ của vua chúa, sự phát triển của tôn giáo và cácngành nghệ thuật khác ở thời Đường như hội hoạ, âm nhạc, thư pháp,… Đóđều là những yếu tố đồng đại Họ chưa chú ý đặt thơ Đường trong dòng chảycủa thơ ca Trung Hoa từ Kinh Thi, Sở từ, Nhạc phủ Hán – Ngụy đến thơ cathời Lục triều, …

Vô hình trung, họ đã tách biệt thơ Đường ra khỏi quá trình phát triển thơ

ca Trung Hoa Chính vì vậy, họ chưa làm sáng tỏ được sự phát triển tư duynghệ thuật, sự thừa kế và phát triển hợp quy luật của thơ thơ Đường từ Kinhthi, Sở từ, qua Nhạc phủ Hán – Ngụy đến thơ ca muôn màu của thời Lục triều

Có người còn cực đoan khi khẳng định thơ Đường như một thành tựu

duy nhất, mà không có sự kế thừa, sáng tạo như Trần Trọng San trong Thơ Đường khi khẳng định: “Nói đến Trung Quốc, người ta chỉ nói đến thơ Đường”

[53, 156] và Kinh thi, tác phẩm của Khuất Nguyên, Tống Ngọc trong Sở từ,…

“chỉ là những ngôi sao sáng rời rạc, lẻ tẻ, sáng sao được cả bầu trời đầy tinh tú,

có chị Hằng, có sông Ngân, có sao Bắc Đẩu như thơ Đường” [53, 157]

Tuy nhiên, một số công trình như Lịch sử văn học Trung Quốc đã có đề

cập đến vấn đề này Khi phân tích những nguyên nhân hưng thịnh của văn họcđời Đường nói chung và thơ Đường nói riêng, các tác giả nhận định: “do điềukiện lịch sử cụ thể và phức tạp đương thời quyết định, cùng do các nhân tốtruyền thống của bản thân các hình thức văn học ấy quyết định” [60, 407].Nhưng “nhân tố truyền thống” mà họ phân tích chỉ là những trường hợp phục

cổ cách tân cụ thể, đơn lẻ của từng tác giả Trần Tử Ngang, Lý Bạch, Đỗ Phủ,

… từ thanh luật Nam triều, truyền thống của Hán, Nguỵ, chứ chưa có tínhkhái quát cho toàn bộ sự kế thừa và cách tân của thơ Đường

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Vũ Lan Anh (2011), “Không gian lữ thứ trong thơ Đường”, http://www.trieuxuan.info/?pg=tpdetail&id=7277&catid=6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian lữ thứ trong thơ Đường”
Tác giả: Phạm Vũ Lan Anh
Năm: 2011
2. Đỗ Tùng Bách (2000), Thơ thiền Đường Tống, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ thiền Đường Tống
Tác giả: Đỗ Tùng Bách
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 2000
3. Trần Lê Bảo (2009), “Về tư duy nghệ thuật của thơ Đường”, Nghiên cứu Trung Quốc, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tư duy nghệ thuật của thơ Đường”, "Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Trần Lê Bảo
Năm: 2009
4. Franscois Cheng (1997), “Bút pháp thơ ca Trung Quốc” (Nguyễn Khắc Phi dịch), Về thi pháp thơ Đường, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút pháp thơ ca Trung Quốc” (Nguyễn Khắc Phi dịch), "Về thi pháp thơ Đường
Tác giả: Franscois Cheng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
5. Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường (Trần Đình Sử, Lê Tẩm dịch), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường
Tác giả: Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
6. Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông một góc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
7. Nguyễn Sĩ Đại (2007), Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường
Tác giả: Nguyễn Sĩ Đại
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
8. Lê Đạt (1996), “Nhân Thánh Thán bình thơ Đường”, Thơ, (8), tr. 6-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân Thánh Thán bình thơ Đường”, "Thơ
Tác giả: Lê Đạt
Năm: 1996
9. Trần Xuân Đề (2000), Tác giả, tác phẩm văn học phương Đông (Trung Quốc), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả, tác phẩm văn học phương Đông (Trung Quốc)
Tác giả: Trần Xuân Đề
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
10. Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (tuyển chọn và biên soạn, 2010), Thi pháp học ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Nguyễn Thị Bích Hải (1995), Thi pháp thơ Đường, Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Đường
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1995
12. Nguyễn Thị Bích Hải (1996), Về các tác phẩm văn học Trung Quốc trong trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các tác phẩm văn học Trung Quốc trong trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
13. Nguyễn Thị Bích Hải (2002), Văn học châu Á trong trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học châu Á trong trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
14. Nguyễn Thị Bích Hải (2005), Bình giảng thơ Đường (Theo sách giáo khoa ngữ văn mới), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình giảng thơ Đường (Theo sách giáo khoa ngữ văn mới)
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
15. Nguyễn Thị Bích Hải (2010), “ “Khoảnh khắc đốn ngộ” – một nét của tư duy nghệ thuật thơ Đường”, Thi pháp học ở Việt Nam (Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng tuyển chọn và biên soạn), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khoảnh khắc đốn ngộ” – một nét của tư duy nghệ thuật thơ Đường”, "Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
16. Nguyễn Thị Bích Hải (2010), “Đặc điểm của phép tỉnh lược trong ngữ pháp thơ Đường luật”, http://www.phatgiaobaclieu.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1381&Itemid=51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của phép tỉnh lược trong ngữ pháp thơ Đường luật”, "http://www.phatgiaobaclieu.com/index.php
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Năm: 2010
17. Dương Quảng Hàm, “Việt Nam văn học sử yếu”, www.mediafire.com/?ymznije3zoz Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu”", www.mediafire.com/
18. Dương Quảng Hàm, “Thi pháp thơ Đường (bài 1), http://phanthanhvan.vnweblogs.com/post/8200/342992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Đường (bài 1)
19. Mai Đức Hán (2003), Một số đặc trưng nghệ thuật thơ cổ phong đời Đường, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc trưng nghệ thuật thơ cổ phong đời Đường
Tác giả: Mai Đức Hán
Năm: 2003
20. Phạm Ngọc Hiền (2010), “ Lược sử thi pháp học Việt Nam”, http://phamngochien.com/view/luoc-su-thi-phap-hoc-viet-nam-pham-ngoc-hien/182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử thi pháp học Việt Nam”, "http://phamngochien.com/view/luoc-su-thi-phap-hoc-viet-nam-pham-
Tác giả: Phạm Ngọc Hiền
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w