1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phụ nữ thành phố hồ chí minh với quá trình thực hiện các chính sách xã hội của thành phố trong công cuộc đổi mới (1986 2006)

290 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 290
Dung lượng 10,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phong trào toàn xã hội chăm lo đồng bào nghèo mang lại kết quả thiết thực, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội rộng lớn: đã làm giảm hộ nghèo; trợ cấp người già yếu neo đơn, m

Trang 1

Trần Xuân Thảo

PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỚI QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI

Trang 2

…………

Trần Xuân Thảo

PHỤ NỮ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỚI QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ TRONG CƠNG CUỘC ĐỔI MỚI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 TS Lê Hữu Phước

2 TS Hồ Thị Minh Nguyệt

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực Những kết luận của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ

Trần Xuân Thảo

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

” ” ”

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ đã tận tình hướng dẫn, cung cấp, truyền thụ cho tôi những kiến thức quý báu Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, Khoa Lịch sử, Phòng Sau Đại học – Quản l ý khoa học Trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố

Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình đào tạo và luận án Tiến sĩ Đặc biệt, tôi xin chân thành cám ơn Tiến sĩ Lê Hữu Phước, Tiến sĩ Hồ Thị Minh Nguyệt đã trực tiếp hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành luận án, cám ơn các nhà khoa học đã đóng góp nhiều

ý kiến quý báu cho luận án, cám ơn bạn bè, đồng nghiệp

và những người thân đã kịp thời động viên, giúp đỡ cả về tinh thần lẫn vật chất và tư liệu để chúng tôi hoàn thành luận án này

Trang 6

Trang Bảng 1 Mức thu nhập chuẩn đánh giá hộ nghèo qua tiêu chí các năm 38 Bảng 2.1 Việc thực hiện các quy định về lao động nữ 58 Bảng 2.2 Tỷ lệ lao động nữ chia theo trình độ chuyên mơn kỹ thuật 60 Bảng 2.3 Số người nhập cư tự do vào TPHCM trong độ tuổi lao động chia

theo tình trạng lao động và giới tính (07/1996) 65 Bảng 2.4 Nguồn lao động nhập cư tự do vào TPHCM chia theo độ tuổi và

giới tính (1/7/1996) 66 Bảng 2.5 Biểu đồ sự gia tăng về số thành viên và số phát vay Quỹ CWED từ

năm 2003-2006 82 Bảng 2.6 Thơng tin về kinh tế của thành viên vay vốn 85 Bảng 2.7 Tình hình đào tạo nghề ở TPHCM (2001-2005) 94 Bảng 2.8 Tỉ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động ở khu vực thành thị

TPHCM chia theo giới tính (1996-2000) 98 Bảng 2.9 Tình trạng lao động, việc làm ở TPHCM năm 2005 100 Bảng 2.10 Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động khu vực nơng thơn 101 Bảng 2.11 Kết quả hoạt động của các Trung tâm, cơ sở dạy nghề

của Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM (1996-2000) 103 Bảng 2.12 Kết quả khảo sát gái mại dâm trong 5 năm (2001-2005) 109 Bảng 2.13 Kinh phí phịng chống tệ nạn mại dâm ở TP.HCM(2001 – 2005) 113 Bảng 2.14 Số liệu gái mại dâm hồi gia tái phạm (2001-2005) 121

Trang 7

CHÍNH QUYỀN TPHCM ĐỐI VỚI CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI (1986 – 2006) 1.1 TPHCM và những vấn đề xã hội cấp thiết trong thời kỳ đổi mới và hội nhập

1.1.1 Những vấn đề chung 14-16 1.1.2 Thực trạng đời sống, việc làm của nhân dân và sự phân

hóa giàu nghèo 16-18 1.1.3 Tệ nạn xã hội và những bất ổn về trật tự an toàn xã hội 18-19 1.1.4 Những phức tạp trên lĩnh vực văn hóa- nghệ thuật 19-21

1.2 Chính sách của Đảng bộ và chính quyền TPHCM đối với các vấn đề xã hội

1.2.1 Chính sách về dạy nghề, giải quyết việc làm và đời sống 24-31 1.2.2 Chương trình xóa đói giảm nghèo 31-38 1.2.3 Chính sách về an ninh - trật tự an toàn xã hội và

phòng chống tệ nạn xã hội 39-46 1.2.4 Giải quyết các vấn đề xã hội khác 46-52

CHƯƠNG 2: PHỤ NỮ TPHCM THAM GIA THỰC HIỆN

CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ (1986 – 2006)

2.1 Thực trạng đời sống, điều kiện lao động của phụ nữ TPHCM

2.1.1 Điều kiện lao động và đời sống của lao động nữ TPHCM ………… 54-59

2.1.2 Trình độ lao động nữ 59-632.1.3 Lao động nhập cư 63-69

Trang 8

2.2.1 Các chương trình trợ vốn 70-85

2.2.2 Các hoạt động hỗ trợ của Hội Liên hiệp Phụ nữ nhằm xóa đói giảm

nghèo, cải thiện đời sống phụ nữ-trẻ em .86-91

2.3 Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM với hoạt động đào tạo nghề và giải quyết việc làm

2.3.1Thực trạng đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho phụ nữ TPHCM 91-102

2.3.2 Hoạt động đào tạo nghề và giải quyết việc làm của

Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM 102-107

2.4 Phụ nữ TPHCM tham gia phòng chống tệ nạn mại dâm, góp phần thực

hiện chương trình mục tiêu ‘‘ ba giảm’’ của thành phố (2001-2005)

2.4.1 Thực trạng mại dâm ở thành phố Hồ Chí Minh 108-113

2.4.2 Phụ nữ TPHCM với họat động phòng chống mại dâm 113-125

CHƯƠNG 3: HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA PHỤ NỮ TPHCM TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI (1986 – 2006) VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHO THỜI GIAN TỚI

3.1 Hiệu quả hoạt động của phụ nữ TPHCM trong việc thực hiện chính sách

xã hội của thành phố

3.1.1 Hiệu quả của các chương trình trợ vốn, xóa đói giảm nghèo 126-135

3.1.2 Hiệu quả của chương trình đào tạo nghề, thực hiện các chính sách

và biện pháp giải quyết việc làm cho lao động nữ 135-137

3.1.3 Hiệu quả của công tác phòng chống mại dâm 137-148

3.2 Những giải pháp cho thời gian tới

3.2.1 Duy trì, phát triển các mô hình hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo 151-153

3.2.2 Đào tạo nghề và giải quyết việc làm 153-164

3.2.3 Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu “ba giảm”, tăng cường

phòng chống tệ nạn mại dâm 165-177

KẾT LUẬN 178-186

TÀI LIỆU THAM KHẢO 187-215

PHỤ LỤC 216-281

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do, mục đích chọn đề tài:

Chính sách xã hội là bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính quyền Nhà nước hướng tới lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống con người, đến lợi ích của các giai cấp, tầng lớp, giới, … trong xã hội Nó góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội cho phù hợp với mục tiêu của chính đảng cầm quyền và của chính quyền Nhà nước Các nội dung của chính sách xã hội gắn bó mật thiết với đời sống con người như: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, hạn chế và ngăn chặn các tệ nạn xã hội, đền ơn đáp nghĩa, các chương trình nhân đạo – từ thiện … Trong đó, xóa đói giảm nghèo không chỉ là chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia, mà đã trở thành vấn đề toàn cầu

Sau 20 năm đổi mới và tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1986-2006), bên cạnh tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển xã hội nhờ có sự đổi mới tư duy trong việc hoạch định và thực hiện chính sách xã hội Đầu tư của Nhà nước cho các lĩnh vực xã hội ngày càng tăng, nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển xã hội đã và đang được thực hiện như chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, chương trình phòng chống các tệ nạn xã hội, các quỹ quốc gia về giải quyết việc làm, quỹ xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, quỹ tình thương đã được thành lập, trong đó đặc biệt ưu tiên đầu tư cho xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, giáo dục - đào tạo, dạy nghề cũng như các dịch vụ xã hội cơ bản khác Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và cộng đồng quốc tế tham gia giải quyết các vấn đề xã hội theo tinh thần xã hội hóa, trong đó Nhà nước đóng vai trò nòng cốt

Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) là một thành phố lớn của Việt Nam với tổng dân số đến năm 2006 là 6.424.519 người, nếu kể cả dân tạm trú có hơn 8 triệu

Trang 10

người (chiếm tỷ lệ 6,6% dân số của cả nước) [9], là một trung tâm kinh tế, văn hóa,

xã hội, khoa học kỹ thuật, là đầu mối quan trọng trong giao lưu khu vực và quốc tế

Từ vị trí và tầm quan trọng như đã nêu trên, cùng với chủ trương phát triển kinh tế, TPHCM đặc biệt coi trọng việc thực hiện đồng bộ các chính sách xã hội và

đã đạt được những thành quả quan trọng Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thành phố được nâng lên, các nhu cầu thiết yếu của người dân được cải thiện Phong trào toàn xã hội chăm lo đồng bào nghèo mang lại kết quả thiết thực, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội rộng lớn: đã làm giảm hộ nghèo; trợ cấp người già yếu neo đơn, mất sức lao động; khám, chữa bệnh miễn phí cho hàng trăm ngàn người; đem lại “Nụ cười cho trẻ thơ”, “ánh sáng cho người mù nghèo bất hạnh”; mái ấm, lớp học tình thương cho trẻ em lang thang đường phố; “xóa đói thông tin” cho đồng bào nghèo ở vùng nông thôn xa đô thị; phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố và một số tỉnh bạn; đỡ đầu chăm sóc hàng ngàn thương binh nặng và người thân của liệt sĩ; xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, phong trào “ba giảm” (giảm tội phạm, ma túy và mại dâm)… Những việc làm đó cùng với các hoạt động từ thiện, cứu trợ đồng bào vùng bị thiên tai, hỏa hoạn ở thành phố và các tỉnh bạn, là thành tựu nổi bật về xã hội của Đảng bộ và nhân dân thành phố [47]

Những thành tựu đạt được trong việc thực hiện các chính sách xã hội ở TPHCM do công sức đóng góp của toàn dân, của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Trong bối cảnh chung đó, ý thức được vai trò, trách nhiệm và những điều kiện đặc thù của giới, phụ nữ TPHCM thông qua tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ (sau đây gọi tắt là Hội phụ nữ - Hội) và các tổ chức xã hội – nghề nghiệp khác đã tích cực tham gia thực hiện các chính sách xã hội, có những cố gắng to lớn, đóng góp đáng kể cho sự phát triển của thành phố Tuy nhiên, hàng loạt vấn đề trực tiếp tác động đến việc phát huy khả năng của phụ nữ chưa được giải quyết tốt đã hạn chế sự đóng góp của phụ nữ đối với công việc chung Sự bình đẳng

về giới, địa vị người phụ nữ trong gia đình và xã hội chưa được nâng cao, chưa tương xứng với công sức và trách nhiệm họ đảm nhận với tư cách người lao động

Trang 11

làm ra của cải vật chất, tinh thần và với tư cách người mẹ sản sinh ra bản thân con người Vấn đề đặt ra là làm thế nào để vừa tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân, cho cả nam giới và nữ giới, tạo điều kiện và cơ hội cho họ tiếp cận bình đẳng với cái mới, những tiến bộ trong việc làm, thu nhập, hưởng thụ văn hóa và các phúc lợi xã hội khác? Nhà nước, cộng đồng xã hội đã có những chính sách gì hỗ trợ cho họ và bản thân họ đã có những cố gắng ra sao nhằm đáp ứng yêu cầu mới để có việc làm, ổn định đời sống, đảm bảo ấm no, hạnh phúc cho gia đình, con cái?

Là người có nhiều năm phụ trách công tác chuyên môn ở Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ, có quá trình tiếp xúc và nghiên cứu về phụ nữ ở nhiều góc độ; được TPHCM chọn đào tạo trong Chương trình 300 tiến sĩ, thạc sĩ của thành phố, tác giả chọn đề tài “Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh với quá trình thực hiện các chính sách

xã hội của thành phố trong công cuộc đổi mới (1986-2006)” để làm đề tài luận án với mong muốn đi sâu nghiên cứu những vấn đề bức xúc về mặt xã hội của TPHCM, hoạt động và vai trò của phụ nữ TPHCM trong việc thực hiện các chính sách xã hội, những kết quả đạt được, những tồn tại, vướng mắc trong quá trình tham gia giải quyết các vấn đề xã hội của phụ nữ TPHCM, trên cơ sở đó đề xuất những định hướng và giải pháp thích hợp để phụ nữ TPHCM tiếp tục thực hiện tốt các chính sách xã hội của thành phố

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Những vấn đề về chính sách xã hội là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, không những trên lĩnh vực xã hội nói chung mà cả trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, … Bởi phát triển kinh tế bền vững phải đi đôi với hoạch định chính sách và đồng thời giải quyết tốt các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, phòng chống tệ nạn xã hội, … Vì vậy, trong thời gian qua nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề xã hội của Việt Nam nói chung đã được công bố Nhà

xuất bản Công an Nhân dân cho ra mắt độc giả nhiều công trình như: Mại dâm, ma

túy, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại của các tác giả Nguyễn Xuân Yêm, Phạm Đình

Trang 12

Khánh, Nguyễn Thị Kim Liên (xuất bản năm 2003), Tệ nạn mại dâm: thực trạng và

các giải pháp của Trần Hải Âu (xuất bản năm 2004), Phòng, chống tội phạm trong giai đọan hiện nay ở nước ta của các tác giả Chử Văn Chí, Nguyễn Văn Lan,

Nguyễn Cảnh Yên, (xuất bản năm 2006) Nhiều nhà xuất bản khác cũng công bố

hàng lọat các công trình như: Phòng, chống các tệ nạn xã hội, mại dâm, ma túy, mê

tín dị đoan, cờ bạc của Trần Minh Hưởng (nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2004), Một số mô hình, điển hình phòng, chống mại dâm và cai nghiện phục hồi (Nhà xuất

bản Lao động Xã hội, 2005), Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã

hội do GS-TS Huỳnh Khái Vinh chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2005), Những vấn đề xã hội trong công cuộc đổi mới do Mai Quỳnh Nam chủ biên (Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia, 2006), Phòng, chống tệ nạn xã hội của Trần Đức

Châm (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2007),…Các tác phẩm này đề cập khá toàn diện về những vấn đề xã hội của Việt Nam trong bối cảnh từ sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các nghiên cứu cũng đưa ra những thực trạng về tệ nạn mại dâm, ma túy, tội phạm và một số tệ nạn khác, phân tích những nguyên nhân, đặc điểm của các hiện tượng xã hội, tệ nạn xã hội, đồng thời đưa ra một số giải pháp phòng chống tệ nạn xã hội, trong đó đặc biệt đáng chú ý là các giải pháp phòng chống ma túy và

mại dâm Bên cạnh đó, hai tác phẩm Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở

Việt Nam của Lê Bạch Dương và tập thể tác giả (Nhà xuất bản Thế giới, 2005) đề

cập chính sách xã hội và dịch vụ cho người nghèo, những nhóm người yếu thế ở

Việt Nam, Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam do

PGS TS Đinh Công Tuấn chủ biên (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2008) cho thấy sự liên hệ so sánh và rút ra những bài học về các chính sách an sinh xã hội cho Việt Nam

Ở góc độ khác, liên quan đến vấn đề xóa đói giảm nghèo có các công trình

như: Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay của Nguyễn Thị Hằng (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1997), Một số chính sách Quốc gia về việc

làm và xóa đói giảm nghèo của Đức Quyết (Nhà xuất bản Lao động, 2002), …Đáng

chú ý là kết quả tham vấn cộng đồng về dự thảo chiến lược toàn diện về tăng trưởng

Trang 13

và xóa đói giảm nghèo của Việt Nam do Shanks Edwin, Carrie Turk tập hợp trong Ý

kiến của cộng đồng về chiến lược giảm nghèo, Các đề xuất của người nghèo về chính sách, Cùng người nghèo hoàn thiện chính sách (Trung tâm thông tin phát

triển Việt Nam, 2002) Nhóm tham vấn đã tiến hành các khảo sát đánh giá nghèo và giảm nghèo ở TPHCM Từ ý kiến người dân, đánh giá sự thay đổi tình trạng sống

và khoảng cách giàu nghèo, thị trường lao động, đưa ra các thông điệp chính bảo vệ quyền lợi người lao động, giải pháp hỗ trợ người nghèo, đưa ra những nhận xét chung về các chính sách tổng quan về tăng trưởng và giảm nghèo, đề nghị những bổ sung cho các chính sách đó, góp phần thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo của Chính phủ Việt Nam

Viện Khoa học xã hội Việt Nam có công trình Báo cáo cập nhật nghèo 2006-

Nghèo và giảm nghèo ở Việt nam giai đoạn 1993-2004 (Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, 2007) Trong đó, thành tựu về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam được đề cập rõ nét bằng những số liệu cập nhật trong hơn 10 năm tiến hành chủ trương xóa đói giảm nghèo trên toàn quốc

Ở khía cạnh lao động và việc làm, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như:

Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam của Trần Đình Hoan, Lê

Mạnh Khoa (Nhà xuất bản Sự Thật, 1991) nghiên cứu việc sử dụng nguồn lao động

và giải quyết việc làm ở cả nông thôn và thành thị trong bối cảnh đô thị hóa Trên

cơ sở nghiên cứu xã hội học, tác giả cho thấy mối tương quan giữa phát triển kinh tế với giải quyết việc làm và chính sách xã hội, đi đến sự khẳng định việc phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn có ảnh hưởng lớn đến việc làm của dân cư thành thị

Trong khi đó, theo một hướng tiếp cận khác, Việc làm ở nông thôn – thực trạng và

giải pháp của Chu Tiến Quang (Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2001) lại đi sâu phân

tích đặc điểm lao động và việc làm ở nông thôn Vấn đề lao động trẻ em của Vũ Ngọc Bình (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2002) đề cập tới thực trạng việc sử dụng lao động trẻ em, vị thành niên Một số vấn đề về lao động, việc làm và đời

sống người lao động ở Việt Nam hiện nay do Th.s Đinh Đăng Định chủ biên (Nhà

xuất bản Lao động, 2004), Thị trường lao động - cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt

Trang 14

Nam của Phạm Đức Chính (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2005), Thị trường lao động Việt Nam - Thực trạng và giải pháp do Nguyễn Thị Thơm chủ biên (Nhà xuất

bản Chính trị quốc gia, 2006) lại nêu lên những vấn đề lý luận và thực tiễn về thị trường lao động ở Việt Nam, tầm quan trọng của lao động và việc làm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phân tích những thực trạng và đời sống người lao động ở Việt Nam, đưa ra những phương hướng và giải pháp căn bản nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động, việc làm và đời sống người lao động Việt Nam

Dưới góc độ giới, đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu những khía cạnh

khác nhau của chính sách xã hội liên quan đến phụ nữ Vấn đề tạo việc làm, tăng

thu nhập, giảm nghèo khổ đối với phụ nữ Việt Nam hiện nay của Trung tâm nghiên

cứu khoa học về phụ nữ (Trung tâm thông tin Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 1990) đề cập một cách khái quát, toàn diện và mối quan hệ hữu cơ giữa tạo việc

làm, tăng thu nhập, giảm nghèo khổ đối với phụ nữ Những vấn đề chính sách xã

hội với phụ nữ nông thôn trong giai đoạn hiện nay do Đỗ Thị Bình chủ biên (Nhà

xuất bản Khoa học xã hội, 1997) và Phụ nữ nông thôn và việc phát triển các ngành

nghề phi nông nghiệp của GS Lê Thi (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1998) nghiên

cứu một số vấn đề lý luận về chính sách xã hội đối với phụ nữ nông thôn, có liên hệ nhận xét từ nông thôn miền Nam và vùng ngoại ô TPHCM, đưa ra một số quan điểm và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nữ ở nông thôn trong quá trình

chuyển đổi nền kinh tế Riêng tác phẩm Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở

Việt Nam của Lê Thi (Nhà xuất bản Phụ nữ, 1998) phân tích khá rõ nét các khía

cạnh việc làm, đời sống của phụ nữ Việt Nam trong hơn 10 năm đầu đổi mới trên cơ

sở thuyết nam nữ bình quyền Nữ giới và nam giới ở Việt Nam thập kỷ 90 của

Nguyễn Xuân Tường và tập thể tác giả (Nhà xuất bản Thống kê, 2000) đưa ra những số liệu phân tích thống kê về dân số, nữ giới và nam giới trong thập niên

1990 Vai trò của người phụ nữ trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,

nông thôn của Hoàng Bá Thịnh (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2002) cho thấy

vai trò không thể thiếu của người phụ nữ trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở nông thôn Đáng chú ý hơn, bằng việc phân tích thực trạng tạo việc làm cho lao

Trang 15

động nữ trên địa bàn Hà Nội và một số mô hình tạo việc làm cho lao động nữ ở một

số nước trong khu vực như: Thái Lan, Hàn Quốc, Philippines, Bangladesh, tác giả

Trần Thị Thu với Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện

đại hóa (Nhà xuất bản Lao động – xã hội, 2003) đã rút ra bài học kinh nghiệm và

đưa ra những quan điểm và giải pháp tạo việc làm cho lao động nữ Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây là một công trình có thể kế thừa nghiên cứu so sánh vào thực tiễn đối với tạo việc làm cho lao động nữ TP.HCM

Bên cạnh đó, vài năm gần đây đã có nhiều công trình khác được công bố

như: Gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay của Dương Thị Minh (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004), Phòng chống buôn bán

phụ nữ và trẻ em qua biên giới của Lê Thị Quý (Nhà xuất bản Phụ nữ, 2004), Cuộc sống và biến động của hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay của Lê Thi (Nhà xuất

bản Khoa học xã hội, 2007), Bình đẳng giới ở Việt Nam (phân tích số liệu và điều

tra) do Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh chủ biên (Nhà xuất bản Khoa học

xã hội, 2008), Vị thế nữ công nhân công nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội) của Bùi Thị Thanh Hà (Nhà xuất

bản Khoa học xã hội, 2009), Nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi mới do Nguyễn

Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh đồng chủ biên (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2009) …

Ngoài ra, nhiều báo cáo khoa học về những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án được đăng trên các tạp chí: Cộng sản, Khoa học về Phụ nữ, Lao động và Xã hội, Nghiên cứu Gia đình và Giới, … Bên cạnh đó, bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước như Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu, của lãnh đạo các Bộ, Cục, ban, ngành, đòan thể như: Cục Cảnh sát Hình sự, Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM, Sở Lao động - Thương binh & Xã hội TPHCM, … đã góp phần bổ sung và làm sáng tỏ những quan điểm, chủ trương của lãnh đạo TPHCM đối với các vấn đề xã hội, chính sách xã hội của thành phố trong quá trình đổi mới

Trang 16

Một số công trình nghiên cứu khác bằng tiếng Anh như: Vietnam through

the lens of gender – an empirical analysis using household survey data của

Jaikishan Desai (1995), Expanding choices for the rural poor: human development

in Viet Nam (U.N, 1998) về chính sách lao động và nhân lực Việt Nam, Situation analysis and Policy Recommendations to Promote the Advancement of Women and Gender Quality in Vietnam, của GENDCEN, CFWS, IOS, CEPEW (2000) nghiên

cứu về bình đẳng giới ở Việt Nam, Child labor in transition in Vietnam của Eric

Edmonds, Carrie Turk (World Bank, 2002) về tuổi đời và việc làm của trẻ em Việt

Nam, Proposed program loan Socialist Republic of Vietnam support the

implementation of the poverty reduction program (ADB, 2006) đề cập đến viện trợ

kinh tế của Ngân hàng Phát triển Châu Á cho Việt Nam trong chương trình giảm

nghèo, Occupational segregation and gender discrimination in labor markets :

Thailand and Viet Nam của Hyun H Son (ADB, 2007) về phân biệt giới tính trong

công việc ở thị trường lao động Thái Lan và Việt Nam Mở rộng phạm vi hơn, Ngân hàng thế giới (World Bank) cũng xuất bản nhiều công trình nghiên cứu, một số báo cáo về các chương trình hỗ trợ các nước đang phát triển Có thể kể đến một số công

trình tiêu biểu như: Developing financial institutions for the poor and reducing

barriers to access for women của Sharon L Holt and Helena Ribe (World Bank,

1992) về kinh tế tài chính, tín dụng cho người nghèo, giảm những rào cản cho sự

phát triển của phụ nữ Confronting crisis: a summary of household responses to

poverty and vulnerability in four poor urban communities của Caroline O.N Moser

(World Bank, 1996) cung cấp số liệu điều tra mẫu về nhà ở và nghèo nàn ở đô thị,

Voices of the poor from many lands của Deepa Narayan, Patti Petesch (World Bank,

2002) về điều kiện kinh tế - xã hội ở các nước đang phát triển và tiếng nói của

những người nghèo, Infrastructure and poverty reduction - making markets work

for the poor của Xianbin Yao (ADB, 2003) phân tích các khía cạnh xã hội về giảm

nghèo, phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng, tạo nhiều thị trường lao động cho người

nghèo, Making services work for poor people: overview (World Bank, 2004) về cung cấp dịch vụ việc làm cho người nghèo ở các nước đang phát triển, Service

Trang 17

provision for the poor: public and private sector cooperation của Gudrun

Kochendorfer-Lucius và Boris Pleskovic (World Bank, 2004) về giúp đỡ tài chính cho người nghèo các nước đang phát triển bằng các dự án phát triển kinh tế

và y tế công cộng, Financial sector policy and the poor : selected findings and

issues của Patrick Honohan (World Bank, 2004) về dịch vụ tài chính vi mô cho

người nghèo ở các nước đang phát triển, Employment and shared growth :

rethinking the role of labor mobility for development của Pierella Paci, Pieter

serneels (World Bank, 2007) về chính sách nhân lực và cung ứng lao động ở các nước đang phát triển Song song đó, về kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo, các nước như Bangladesh và Philippines có nhiều kinh nghiệm sử dụng nguồn tài chính vi

mô trong các chương trình giảm nghèo mang lại nhiều hiệu quả thiết thực Vấn đề

này có các công trình liên quan như: Technical assistance (Cofinanced by the

Governance Cooperation Fund ) to the People's Republic of Bangladesh for supporting good governance initiatives của A Goswami, V Velasco và M.K

Ahmad - Manila (ADB, 2003), Technical assistance (Financed by the Japan

Special Fund) to the People's Republic of Bangladesh for preparing the Social Protection for Disadvantaged Women and Children Project (ADB, 2003), Commercialization of microfinance : Bangladesh của Stephanie Charitonenko and

S.M Rahman (ADB, 2002), Bangladesh : country assistance plan 2000-2002 (ADB , 1999), Bangladesh from counting the poor to making the poor count của

Shekhar Shah (World Bank , 1999), Bangladesh progress through partnership:

country assistance review của Roger J Robinson (World Bank , 1999), The Role of family planning and targeted credit programs in demographic change in Bangladesh của Shahidur R Khandler, M Abdul Latif (World Bank, 1996), Developing the nonfarm sector in Bangladesh : lessons from other Asian countries

của Shahid Yusuf, Praveen Kumar (World Bank, 1996), Bangladesh: strategies for

enhancing the role of women in economic development.(World Bank, 1990), International labor migration of Southeast Asian women: Filippina and Thai domestic workers in Italy của Angkarb Korsieporn (Cornell Univ., 1991), Quality

Trang 18

of job in the Philippines : comparing self-employment with wage employment của

Rana Hasan and Karl Robert L Jandoc (Asian Development Bank, 2009) Paradox

and promise in the Philippines : a joint country gender assessment (ADB, 2008),…

Các tác phẩm này đề cập đến điều kiện kinh tế, chính sách kinh tế, vấn đề lập kế hoạch tín dụng và viện trợ tài chính, kỹ thuật của Ngân hàng Phát triển Châu Á cho Bangladesh, chương trình kiểm soát sinh sản và chính sách xã hội đối với phụ nữ và trẻ em ở Bangladesh, tài chính vi mô và các chương trình tín dụng nông thôn, vai trò của phụ nữ trong công cuộc phát triển kinh tế của Bangladesh, việc làm của nữ lao động nhập cư, thị trường lao động và việc làm của Philippines, Thái Lan, phụ nữ Philippines trong phát triển bình đẳng, …

Ngoài những công trình nghiên cứu những vấn đề liên quan của các tác giả nước ngoài, những đề tài kể trên đề cập đến những vấn đề chung hoặc một số khía cạnh chuyên biệt của chính sách xã hội trên phạm vi cả nước hoặc ở TPHCM, nhưng chưa gắn với họat động và vai trò của lực lượng phụ nữ TPHCM Nói cách khác, cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu chuyên sâu về quá trình thực hiện các chính sách xã hội của thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới (1986-2006) với sự tham gia của phụ nữ thành phố Việc nghiên cứu về nội dung có liên quan đề tài trên mới chỉ dừng lại ở nghiệp vụ tổng kết họat động của Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM trong từng giai đoạn; các nghiên cứu riêng lẻ về thực trạng bất bình đẳng giới, vai trò phụ nữ trong gia đình và xã hội; các thống kê về lực lượng lao động, tình trạng thất nghiệp, tệ nạn mại dâm, ma túy, … của ngành Lao động - Thương binh & Xã hội thành phố, … Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên đây là một nguồn tài liệu tham khảo hết sức thiết thực, cung cấp những dữ kiện cho việc họach định chính sách xã hội và những chính sách liên quan đến nữ giới Nó cũng

có tác dụng gợi mở rất hữu ích cho tác giả luận án với những nghiên cứu, nỗ lực tìm tòi mới về việc thực hiện các chính sách xã hội của phụ nữ TPHCM trong 20 năm đổi mới

Trang 19

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động và vai trò của phụ nữ TPHCM (các tầng lớp phụ nữ sinh sống ở TPHCM) gắn với tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM trong việc thực hiện các chính sách xã hội và tham gia giải quyết các vấn

đề xã hội của thành phố

Chính sách xã hội là một nội dung rộng lớn Đề tài này không có tham vọng nghiên cứu toàn bộ các khía cạnh của chính sách xã hội mà chỉ tập trung nghiên cứu việc thực hiện các chính sách xã hội ở TPHCM gắn với hoạt động và vai trò của giới phụ nữ trong 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới (từ 1986 đến 2006) trên các lĩnh vực: các chương trình trợ vốn, đào tạo nghề và giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo; thực hiện mục tiêu “ba giảm” (trong đó tập trung chủ yếu là giảm mại dâm)… Đây là các lĩnh vực trọng điểm, là các điểm nhấn nổi bật trong quá trình phụ nữ TPHCM tham gia thực hiện các chính sách xã hội trên địa bàn thành phố trong công cuộc đổi mới

4 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở kết hợp hai phương pháp cơ bản của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, sử dụng các kết quả nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học

có liên quan (như xã hội học, kinh tế học, văn hóa học, …) trong quá trình thực hiện

đề tài Các thao tác cơ bản của phương pháp nghiên cứu (như điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu, so sánh đối chiếu, thống kê…) được vận dụng phù hợp với nội dung

và yêu cầu cụ thể của từng chương, mục trong nội dung đề tài

5 Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án:

Luận án được thực hiện dựa trên những nguồn tài liệu chủ yếu sau đây:

- Các văn bản, báo cáo, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước, của Thành

ủy, Ủy Ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Liên đoàn Lao động, Sở Lao động -

Trang 20

Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố, …

- Một số tham luận khoa học, sách và báo có liên quan

- Đồng thời, tác giả cũng tiến hành khảo sát thực địa nhằm tìm hiểu và thu thập thêm tư liệu liên quan đến việc thực hiện các chính sách xã hội của phụ nữ TPHCM

6 Những đóng góp mới của luận án:

Với những kết quả nghiên cứu đạt được, đề tài này có những đóng góp sau:

1 Về mặt khoa học: đề tài cung cấp những tư liệu và luận cứ khoa học có độ tin cậy cao liên quan đến hoạt động và vai trò của phụ nữ TPHCM trong việc thực hiện các chính sách xã hội của thành phố, phục dựng bức tranh tổng thể về những đóng góp của phụ nữ TPHCM trong việc giải quyết các vấn đề xã hội qua

20 năm (1986-2006)

2 Ở phương diện thực tiễn, từ kết quả nghiên cứu khoa học, bên cạnh việc làm rõ những thành tựu đạt được, đề tài nêu ra những tồn tại, yếu kém trong việc thực hiện các chính sách xã hội ở TPHCM và góp phần đề xuất những giải pháp khả thi nhằm phát huy vai trò của nữ giới trong việc thực hiện các chính sách xã hội

ở TPHCM nói riêng và trong cả nước nói chung

3 Từ những kết quả mà luận án đạt được về nội dung và tư liệu, đề tài này cũng hy vọng sẽ thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu trong cũng như ngoài nước trên các lĩnh vực: sử học, xã hội học, kinh tế học, văn hóa học,…

7 Bố cục của luận án:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Quan điểm và chính sách của Đảng bộ, chính quyền thành

phố Hồ Chí Minh đối với các vấn đề xã hội (1986-2006) Trong chương này, luận

án trình bày khái quát những vấn đề chung, thực trạng đời sống, việc làm của nhân

Trang 21

dân và sự phân hóa giàu nghèo; tệ nạn xã hội, những phức tạp trên lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật, …Từ đó, làm rõ những quan điểm, chủ trương và giải pháp của Đảng

bộ và chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đối với một số vấn đề xã hội cấp thiết trong thời kỳ đổi mới và hội nhập như giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, …

Chương 2: Phụ nữ TPHCM tham gia thực hiện các chính sách xã hội

của thành phố (1986-2006) Chương này nghiên cứu thực trạng đời sống, lao động

và việc làm của phụ nữ TPHCM, các chương trình trợ vốn, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho phụ nữ thành phố (1986-2006), phụ nữ tham gia phòng chống tệ nạn mại dâm trong thực hiện chương trình mục tiêu ‘‘ ba giảm’’ (2001-2005) thông qua

tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM

Chương 3: Hiệu quả hoạt động của phụ nữ TPHCM trong việc thực hiện

chính sách xã hội (1986-2006) và những giải pháp cho thời gian tới Nội dung

chương này tập trung đánh giá hiệu quả của công tác phòng chống mại dâm và hiệu quả các chương trình trợ vốn, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo, từ dó đưa ra một số giải pháp cho thời gian tới

Trang 22

Chương 1 QUAN ĐIỂM VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỐI VỚI CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI (1986-2006)

1.1 Thành phố Hồ Chí Minh và những vấn đề xã hội cấp thiết trong thời kỳ đổi mới và hội nhập:

1.1 1 Những vấn đề chung:

Sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), Đảng bộ TPHCM

đã sớm quán triệt và triển khai thực hiện đường lối đổi mới giành được những thành tựu có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển:

Thành phố luôn giữ vững ổn định chính trị (kể cả ở những thời điểm tình

hình trong nước có nhiều khó khăn và thế giới có những diễn biến phức tạp), góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chung của đất nước Đó là một trong những thành tựu nổi bật, vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của ổn định và phát triển kinh tế - xã hội thành phố suốt 20 năm

Kinh tế thành phố được khôi phục và không ngừng phát triển, mô hình quản

lý mới được hình thành, các thành phần kinh tế có những chuyển biến tích cực Nhờ

đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhiều năm liền tăng 2 con số; các loại thị trường từng bước hình thành và phát triển; hợp tác kinh tế với một số địa phương trong và ngoài nước được mở rộng đóng góp ngày càng lớn vào quá trình tăng trưởng kinh tế của

cả nước (GDP chiếm từ 13% năm 1985 tăng lên 20% năm 2005, thu ngân sách tăng

10 lần – chiếm tỉ lệ gần 30% trong tổng thu ngân sách cả nước) [48] Kinh tế phát triển nên đời sống của nhân dân từng bước được ổn định và nâng lên Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, do tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm lực, sức cạnh tranh còn hạn chế; chưa tận dụng thời cơ, chủ động đón đầu để đổi mới

Trang 23

công nghệ, đầu tư vào các ngành công nghệ cao; quy hoạch còn lúng túng; còn mất cân đối giữa yêu cầu phát triển nhanh, bền vững với hạ tầng kinh tế kỹ thuật và xã hội yếu kém, v.v…nên tình hình xã hội của thành phố vẫn còn nổi lên một số vấn đề

xã hội cấp thiết cần phải khẩn trương giải quyết:

- Một là, tình trạng tăng dân số cơ học ngày càng cao, tỷ lệ lao động có kỹ thuật

còn thấp, số người chưa có việc làm ổn định còn đông, dẫn đến lao động thiếu việc làm còn nhiều, gây thêm phức tạp về an ninh trật tự xã hội

- Hai là, thực trạng các gia đình chính sách, người có công, và đời sống cư dân ở

vùng sâu, vùng xa còn quá khó khăn, thiếu thốn, chưa được thụ hưởng những thành quả của sự phát triển chung của thành phố

- Ba là, kinh tế thị trường cũng kích thích sản sinh nhiều thói hư tật xấu trong các

thành phần kinh tế, thành phần giai cấp và các tầng lớp nhân dân Trong thực tế

đã biểu hiện – ngay trong một bộ phận cán bộ - nhất là một số ít đảng viên có chức, có quyền tiêm nhiễm tư tưởng thực dụng, thu vén cá nhân, tham ô, cấu kết với phần tử xấu để trục lợi làm giàu, coi đồng tiền hơn tất cả, không quan tâm chế độ chính trị, chính là miếng đất màu mỡ cho sự gia tăng tội phạm và các tệ nạn xã hội, gây tác hại đến truyền thống tốt đẹp của dân tộc

- Bốn là, nhu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững về kinh tế, sự tăng trưởng

nhanh dân số, nhu cầu cải thiện đời sống, nâng cao mức sống cho nhân dân phải thường xuyên đối mặt với sự bất cập và không cân đối về cơ sở hạ tầng, về sự ô nhiễm môi trường ngày càng nặng, chất lượng giáo dục - đào tạo còn thấp; tiềm năng khoa học và công nghệ chưa được phát huy đúng mức, hiệu quả còn hạn chế; nhiều vấn đề văn hóa, xã hội bức xúc chậm được giải quyết

- Năm là, do nhịp độ phát triển nhanh, trình độ quản lý của cán bộ hiện có và đào

tạo mới không theo kịp yêu cầu, nên công tác quản lý nói chung và quản lý đô thị nói riêng còn nhiều bất cập, quá tải, chưa đáp ứng được yêu cầu của một đô thị văn minh, hiện đại Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ và chất lượng phát triển của thành phố [46]

Trang 24

- Sáu là, thành phố chưa có chính sách cụ thể và một số cấp ủy cũng chưa coi

trọng việc đào tạo cán bộ nữ, cán bộ quản lý kinh tế và quản lý Nhà nước các cấp Chế độ tiền lương bất hợp lý kéo dài đã làm xói mòn nhiệt tình cống hiến của chị em, nhiều người xin chuyển đến các cơ sở kinh tế có thu nhập cao, gây trở ngại cho việc quy hoạch đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ; nhiều người không muốn làm công tác đảng, đoàn thể và một số ngành hành chính sự nghiệp khác Tình trạng công nhân viên chức bỏ việc tập thể xảy ra ở nhiều nơi, …

1.1.2 Thực trạng đời sống, việc làm của nhân dân và sự phân hóa giàu nghèo:

Từ khi thực hiện chính sách đổi mới, tình hình kinh tế của thành phố tiếp tục tăng trưởng, tạo điều kiện thuận lợi cho đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao, mức chi tiêu hàng hoá dịch vụ dân cư tăng thực tế bình quân trên 13%/năm (1986-2006) Số hộ có mức sống nghèo khó giảm, số hộ có mức sống trung bình và khá tăng Tỷ trọng chi phí dành cho sinh hoạt văn hoá tinh thần của người dân ngày càng tăng Trên 60% hộ dân ngoại thành được dùng nước sạch; 97/100 xã có lưới điện, trong đó 18 xã được điện khí hoá [48] Thu nhập của công nhân ở những cơ sở sản xuất kinh doanh có hiệu quả được ổn định hơn; đối tượng chính sách, người già neo đơn, trẻ em bất hạnh được chăm sóc tốt hơn; cứu trợ kịp thời một số vùng thiếu đói ngoại thành; các hoạt động từ thiện đạt một số kết quả thiết thực, bước đầu chú trọng đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động Các chương trình an sinh và công tác xã hội, nhất là chương trình xóa đói giảm nghèo đạt nhiều kết quả có ý nghĩa quan trọng Phong trào đền ơn đáp nghĩa, xây nhà tình nghĩa, nhà tình thương, thực hiện chính sách đối với người có công cách mạng, cán bộ về hưu, chăm lo cho bệnh nhân nghèo, người tàn tật… tiếp tục được mở rộng Việc thực hiện chương trình mục tiêu “ba giảm” (giảm tội phạm, ma túy và mại dâm) có bước đột phá, góp phần xây dựng môi trường xã hội lành mạnh Hoàn thành xóa nghèo theo tiêu chí cũ, triển khai thực hiện xóa nghèo theo tiêu chí mới của thành phố (xem bảng 1, trang 38)

Trang 25

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều khó khăn thách thức: mặt trái của kinh tế thị trường tiếp tục bộc lộ và tác động trực tiếp đến đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của cá nhân, gia đình và của các nhóm xã hội:

- Kinh tế thành phố tiếp tục tăng trưởng, nhưng khoảng cách phân tầng xã hội giữa hai cực giàu và nghèo có xu hướng ngày càng giãn rộng ra Một bộ phận dân cư có mức sống cao bằng thu nhập chính đáng, nhưng có một số người khác giàu lên do làm ăn bất chính, mức thu nhập của nhiều khu vực, tầng lớp dân cư còn quá cách biệt, đòi hỏi phải có những chính sách, giải pháp cụ thể để giữ khoảng cách chênh lệch này ở mức hợp lý, bảo đảm công bằng xã hội, hạn chế phân hóa giàu nghèo

- Những thành tựu mà công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được còn thiếu tính bền vững; mức chuẩn nghèo theo tiêu chí của thành phố còn thấp so với khu vực và thế giới, nguy cơ tái nghèo vẫn còn cao Người nghèo vẫn còn gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản

- Tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa của thành phố làm cho một bộ phận dân

cư trở nên nghèo hoặc đã giảm nghèo nhưng bị tái nghèo trở lại Cơ sở hạ tầng các xã nghèo tuy được tăng cường một bước, nhưng những nhu cầu bức xúc vẫn còn nhiều

- Các cơ chế chính sách để hỗ trợ cho người nghèo tuy đã và đang được triển khai thực hiện, song chưa thống nhất, đồng bộ ở một số ngành và chưa thích ứng với điều kiện cụ thể của một số địa phương trong giai đoạn giảm nghèo, chưa được kịp thời sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, vì vậy hiệu quả thực hiện chưa cao

TPHCM có số công nhân và người lao động đông nhất nước Đời sống của khá đông cán bộ, công nhân viên chức, lực lượng vũ trang, hưu trí, thương binh, gia đình liệt sĩ, diện chính sách vẫn còn gặp nhiều khó khăn Một bộ phận quần chúng lao động nghèo, nhất là ở một số vùng ngoại thành, sống quá cơ cực, việc làm chưa

ổn định, chính sách tiền lương chưa hợp lý Nhiều thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự và thanh niên xung phong trở về vẫn chưa được sắp xếp, bố trí làm việc

Trang 26

Nhìn chung việc giải quyết đời sống tuy có nhiều cố gắng nhưng còn chắp vá, bị động, chưa tạo được đầy đủ các điều kiện cơ bản để quần chúng tự giải quyết mà còn nặng các biện pháp trợ cấp, cứu tế, do đó kết quả còn hạn chế [41]

1.1.3 Tệ nạn xã hội và những bất ổn về trật tự an toàn xã hội:

Nhận thức được vị trí quan trọng của địa bàn trọng điểm về quốc phòng - an ninh, Đảng bộ và chính quyền thành phố đã không ngừng củng cố, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân, đầu tư phương tiện để sẵn sàng chiến đấu; đồng thời tăng cường giáo dục nâng cao ý thức cảnh giác trong nhân dân trước những âm mưu và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch Phong trào toàn dân bảo vệ quốc phòng và an ninh tiếp tục được phát huy, trật tự an toàn xã hội có chuyển biến tiến

bộ

Tuy nhiên, tình hình xã hội cũng có nhiều mặt sa sút nghiêm trọng: quản lý nhà nước, quản lý đô thị lỏng lẻo; kỷ cương, biện pháp bị buông lơi Tình trạng tham nhũng, quan liêu, làm phiền hà dân còn nặng nề Lối sống thực dụng, tệ nạn xã hội, hành vi phạm tội, tình trạng mất trật tự xã hội… phát triển đến mức báo động [43].Các tệ nạn xã hội, nhất là ma túy, mại dâm phát triển trong thanh thiếu niên, là nỗi lo lớn của nhân dân Số người sống lang thang xin ăn, nạn mất trật tự trên đường phố, nơi công cộng, nạn cờ bạc, số đề… còn khá phổ biến; tệ mê tín dị đoan phát triển, thậm chí trong cán bộ, đảng viên Các loại sản phẩm độc hại, phản văn hoá còn xâm nhập nhiều nơi [47] Việc giáo dục và đấu tranh để ngăn ngừa các tệ nạn xã hội chưa kiên quyết Tuy rằng với một thành phố đông dân, bao gồm cả dân vãng lai, với những hậu quả phức tạp để lại từ trước, sự xâm nhập thường xuyên của lối sống đồi trụy, văn hóa phản động, sự kích động của các thế lực thù địch và

sự lợi dụng của các phần tử xấu "thương mại hóa" văn học, nghệ thuật, xuất bản v.v cuộc đấu tranh để ngăn chặn tệ nạn xã hội không phải là một việc đơn giản [130]

Để phòng chống các tệ nạn xã hội, thành phố tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân; tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên đề về phòng chống tệ nạn xã hội, phòng ngừa lây nhiễm HIV/AIDS; tấn công trực diện vào các tệ nạn xã hội,

Trang 27

kiểm tra nhà hàng, khách sạn, nhà trọ, truy quét các tụ điểm mại dâm và các ổ tiêm chích xì ke, ma túy; triển khai tận cơ sở các chương trình “cai nghiện tại chỗ”, “giáo dục tại chỗ chị em lầm lỡ”, “nhà mở”, “mái ấm” cho trẻ em bụi đời; đầu tư mở rộng nhiều cơ sở giáo dục lao động, dạy nghề góp phần tạo điều kiện cho nhiều đối tượng

tệ nạn xã hội có công ăn việc làm Nhưng nhìn chung, tiêu cực trong kinh tế đã tác động xấu đến văn hóa, xã hội, làm cho tệ nạn xã hội, tội phạm hình sự có chiều hướng tăng lên, nhất là nạn mại dâm, ma tuý biến tướng dưới nhiều hình thức tinh vi, phức tạp

1.1.4 Những phức tạp trên lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật:

Trong hai mươi năm đổi mới, đời sống văn hóa của nhân dân thành phố từng bước được nâng lên Những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc như lòng nhân ái, nghĩa tình, giúp đỡ người nghèo, năng động, sáng tạo được chú ý phát huy, các công cụ thông tin đại chúng và xuất bản đã góp phần phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng, giới thiệu các mô hình làm ăn giỏi, Cuộc vận động

“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai rộng khắp

Tuy nhiên, hoạt động văn hoá - nghệ thuật chưa được cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp quan tâm đúng mức, những hiện tượng lơi lỏng trong quản lý văn hoá, thông tin, báo chí, kể cả trong việc hợp tác và làm dịch vụ văn hoá với nước ngoài, tiếp thu văn hoá nước ngoài thiếu chọn lọc Hoạt động của báo đài chưa kết hợp thật chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền và đoàn thể các cấp trong việc đưa tin, có một số bài và tin thiếu chính xác, thiếu chặt chẽ và xây dựng, bị cuốn hút theo tính

“hấp dẫn”, nặng mô tả các vụ việc tiêu cực Việc in và phát hành sách trên địa bàn thành phố chưa được quản lý chặt chẽ Một số nhà xuất bản ở thành phố có lúc đưa

ra thị trường các tác phẩm có nội dung xấu Các tiết mục biểu diễn, tác phẩm chưa thật gắn với cuộc sống, còn có hiện tượng lai căng, “hát chui, diễn lậu”, băng đĩa lậu; sử dụng phim video - cassette không lành mạnh, để xảy ra tình trạng chạy theo kinh doanh đơn thuần trong hoạt động văn hoá, nhiều sản phẩm văn hoá đồi trụy,

Trang 28

độc hại vẫn lưu hành trên địa bàn làm xói mòn bản sắc văn hoá và đạo đức truyền thống của dân tộc [41]

Tại Đại hội lần thứ V (10/1991), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng

bộ Đảng Cộng sản Việt Nam TPHCM khóa IV nhận định: “Chưa có những biện pháp hữu hiệu, đồng bộ ngăn chặn sự xâm nhập của các loại văn hoá phẩm đồi trụy, phản động từ nước ngoài vào cũng như việc xuất bản và lưu hành trên địa bàn thành phố những loại sách báo xấu có tính chất kích động, giật gân, câu khách Phim ảnh, băng từ phản động, đồi trụy, nhảm nhí lưu hành khá rộng Có nhiều sơ hở trong quản lý và có trường hợp sai trái nghiêm trọng trong dịch vụ làm phim với nước ngoài Có lúc thị trường văn hoá phẩm bị sự chi phối của những tổ chức và tư nhân nắm tiền và vật tư Bộ mặt văn hoá của thành phố có những biểu hiện sa sút đến mức báo động Công tác lý luận và phê bình còn rất yếu và có những biểu hiện né tránh Tình hình trên đây báo hiệu có những hoạt động trên lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật vượt ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước” [43]

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố lần thứ VI (5/1996) nhấn mạnh “Ý thức trong Đảng và trong xã hội chống địch phá hoại về văn hoá còn yếu; văn hoá phẩm độc hại tiếp tục xâm nhập gây ảnh hưởng xấu, đặc biệt là đối với lớp trẻ; lối sống thực dụng, lãng phí, xa hoa truỵ lạc, các hủ tục, tệ mê tín dị đoan trong xã hội và cả trong một số cán bộ đảng viên đang phát triển” [45] Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa V cũng nhìn nhận: “Chưa

dự báo và chưa lường hết tình hình phức tạp về tư tưởng, văn hoá trong nền kinh tế thị trường, từ đó thiếu những “biện pháp, cơ chế” ngăn chặn kịp thời những biểu hiện hư hỏng, thoái hoá, biến chất trong cán bộ đảng viên Chưa vạch được chủ trương dài hạn, đủ sức chống chiến lược xâm nhập văn hoá độc hại từ bên ngoài vào, nhất là văn hoá kích thích bạo lực và trụy lạc Thiếu đào tạo và bồi dưỡng lực lượng cán bộ cốt cán đủ phẩm chất và năng lực trên trận địa này để vừa đấu tranh loại trừ văn hoá độc hại, vừa bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc” [46]

Trang 29

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố khóa VI tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ VII (12/2000) nhận định: “Văn học nghệ thuật chưa phản ánh được công cuộc đổi mới của thành phố, chưa có những tác phẩm có giá trị lớn về tư tưởng và nghệ thuật Một số tác phẩm, sản phẩm văn hoá phản ánh cuộc sống còn hời hợt Hoạt động quảng cáo, in ấn, xuất bản, vũ trường,… còn nhiều vi phạm Ở một số tờ báo có trường hợp đã đưa tin, viết bài thiếu khách quan, coi nhẹ chức năng giáo dục; một số phóng viên, cộng tác viên, lợi dụng uy thế báo đài để trục lợi” [47]

Đến Đại hội VIII Đảng bộ thành phố (12/2005), Báo cáo chính trị cũng nêu rõ: “Phát triển văn hóa chưa tương xứng với phát triển kinh tế, chưa tác động tích cực đến đời sống xã hội Tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống thực dụng, lai căng, nhất là một bộ phận trong giới trẻ rất đáng lo ngại Tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc, danh dự người Việt Nam, trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng pháp luật chưa được giáo dục thường xuyên và đúng mức Các tệ nạn xã hội còn nhiều diễn biến phức tạp; nếp sống văn minh đô thị còn kém [48]

Nguyên nhân gây ra những lệch lạc, khuyết điểm trong các hoạt động văn hoá, văn nghệ được Đảng bộ thành phố đánh giá là do tác động bởi mặt tiêu cực của

cơ chế thị trường, do khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài, do việc đầu tư cho hoạt động văn hoá – văn nghệ còn quá hạn hẹp, do lãnh đạo thành phố thiếu tầm nhìn chiến lược đối với một thành phố trung tâm, các cấp chính quyền và ngành chức năng chưa có đầy đủ trách nhiệm và thiếu những biện pháp quản lý toàn diện, đồng

bộ, có hiệu lực Bản thân một số người làm công tác văn hóa - văn nghệ chưa được tôi luyện nên thiếu bản lĩnh chính trị

Trên đây là những kết quả đạt được và những tồn tại, yếu kém trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội ở TPHCM qua 20 năm đổi mới Thực tế đó đặt ra nhiều vấn đề phải tập trung giải quyết – mà trước hết là phải xác định thực sự đúng đắn, khoa học các quan điểm, chính sách đối với các vấn đề xã hội cấp thiết trên địa bàn thành phố

Trang 30

1.2 Chính sách của Đảng bộ và chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đối với các vấn đề xã hội:

Nhận thức ngày càng rõ tính hai mặt của cơ chế thị trường, Đảng bộ và chính quyền thành phố đã đề ra những chính sách, chủ trương bảo đảm giữ vững ổn định

an ninh trật tự và phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn cụ thể Đồng thời thành phố cũng luôn sửa đổi, bổ sung và hoàn chỉnh các văn bản về các lĩnh vực xã hội để có những cơ chế mới tạo động lực cho mỗi người dân có thể phát huy nội lực của chính mình, tự tạo việc làm, nâng cao tay nghề và tăng thu nhập, phòng chống

tệ nạn xã hội

Nghị quyết Ðại hội Ðại biểu Ðảng bộ thành phố lần thứ IV (10/1986) đã đặt

ra mục tiêu chủ yếu phải đạt cho kỳ được trong nhiệm kỳ là ổn định tình hình kinh

tế - xã hội: quan trọng nhất là ổn định và phát triển sản xuất; ổn định thị trường giá

cả để làm cơ sở cho việc ổn định và cải thiện một bước đời sống nhân dân lao động, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội [42]

Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố tại Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ V (10/1991) chủ trương “ trong thực hiện chính sách xã hội, cần quán triệt tư tưởng của Đảng lấy con người làm trung tâm, kết hợp thật tốt hai mặt: công bằng về lợi ích kinh tế và khuyến khích yếu tố tinh thần, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ, ý chí tự lực, tự cường, quan hệ bình đẳng, đoàn kết xây dựng và bảo vệ đất nước Tập trung sức nhanh chóng khắc phục quan liêu, tham nhũng, sửa đổi những chế độ chính sách bất hợp lý, nhất là chế độ tiền lương, mở rộng khả năng tạo việc làm, coi đó là vấn đề cơ bản của chế độ” [43]

Đại hội Đảng bộ thành phố lần VI (5/1996) đưa ra mục tiêu tổng quát của thành phố trong nhiệm kỳ là: giữ vững và tăng cường ổn định chính trị, tập trung sức khai thác thời cơ, vượt qua thử thách, đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường cơ sở

hạ tầng kỹ thuật và xã hội tương ứng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá; bảo đảm hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế liên tục, vững chắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao tích luỹ nội bộ với giải quyết các vấn đề văn hoá – xã hội,

Trang 31

an ninh - quốc phòng, nâng dần mức sống của nhân dân Đi đôi với tăng trưởng kinh tế, phải giải quyết tốt các vấn đề văn hoá – xã hội; gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong suốt quá trình phát triển Vừa thực hiện tốt chính sách khuyến khích phát triển kinh tế, khuyến khích làm giàu chính đáng, vừa phải thực hiện xóa đói giảm nghèo, hạn chế sự phân hoá giàu – nghèo trong xã hội, sự chênh lệch quá xa về thu nhập trong nội bộ… [45]

Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VII xác định nhiệm vụ tổng quát xây dựng, phát triển và bảo vệ thành phố trong 5 năm (2001-2005) là “động viên mọi nguồn lực, phát huy mạnh mẽ sức sản xuất, tận dụng mọi thời cơ, vượt qua khó khăn thách thức, bảo đảm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất và bền vững; tạo thế chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; tăng cường cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, bảo vệ môi trường; phát triển mạnh khoa học – công nghệ, đặc biệt

là công nghệ thông tin; giải quyết đồng bộ các vấn đề xã hội, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thu hẹp sự cách biệt giữa ngoại thành với nội thành; tiếp tục giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội, xây dựng nếp sống văn minh đô thị, khắc phục có hiệu quả các tệ nạn xã hội” [47]

Đại hội Đảng bộ TPHCM Iần thứ VIII diễn ra trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa với vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng, tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho sự phát triển của đất nước và thành phố Đại hội đề ra phương hướng chủ động hội nhập và tăng tốc phát triển với mục tiêu tổng quát trong 5 năm 2006 - 2010 là : “Đổi mới toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa; phát huy dân chủ và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, động viên mọi nguồn lực, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; xây dựng thành phố Hồ Chí Minh ngày càng văn minh, hiện đại, từng bước trở thành một trung tâm công nghiệp, dịch vụ, khoa học công nghệ của khu vực Đông Nam Á; góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [48]

Trang 32

Triển khai Nghị quyết của các Đại hội Đảng bộ thành phố, các chỉ thị của

Ủy ban Nhân dân TPHCM về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách từng năm đều đề ra nhiệm vụ tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình xã hội của thành phố như xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, chương trình “ba giảm”, thu hẹp tiêu cực xã hội, ngăn ngừa có hiệu quả và chống tệ nạn xã hội Tích cực đầu tư tạo chuyển biến căn bản trong dạy nghề, nhằm gia tăng lực lượng lao động có tri thức, lao động kỹ thuật, đặc biệt là lao động kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, giải quyết việc làm cho người lao động, gắn kết phát triển kinh tế - xã hội với củng cố an ninh - quốc phòng, đảm bảo trật tự - an toàn xã hội…

Dưới đây là những chính sách cụ thể trên từng lĩnh vực xã hội:

1.2.1 Chính sách về dạy nghề, giải quyết việc làm và đời sống:

- Giai đoạn 1986-1996:

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IV (10/1986) nêu rõ: cần phải xác định rõ hơn về phương hướng phân bổ lao động, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập thực tế của cán bộ, công nhân viên chức, lực lượng vũ trang, những người trong diện chính sách và nhân dân lao động nghèo về ăn, ở, mặc, đi lại, học hành, chữa bệnh, văn hóa văn nghệ Ðây là đòi hỏi rất bức bách, là điều quan tâm lớn nhất của cán bộ, công nhân viên và nhân dân lao động thành phố

Báo cáo tình hình và nhiệm vụ của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố tại Đại hội IV cũng xác định vấn đề cơ bản nhất trong việc giải quyết đời sống là phải

ra sức phát triển sản xuất công - nông nghiệp trên địa bàn thành phố, để thu hút số lao động chưa có việc làm Mở rộng công tác dạy nghề bằng nhiều hình thức thích hợp Thành phố phải sớm có quy hoạch phân bổ lại các khu dân cư, nắm chắc nguồn lao động, tạo 80.000 việc làm mới /1 năm Có kế hoạch bố trí, sử dụng lao động trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của phường xã, quận, huyện, thành phố

và trung ương đóng trên địa bàn thành phố Mặt khác, phải có kế hoạch tốt trong liên kết kinh tế, phân bổ mạnh dân cư đến các địa bàn duyên hải và Nam Tây

Trang 33

Nguyên để xây dựng vùng kinh tế mới Ưu tiên giải quyết cho số thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, thanh niên xung phong trở về, những người có tay nghề và

số học sinh tốt nghiệp đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp chưa có việc làm Có kế hoạch cụ thể phấn đấu giải quyết ngày càng tốt hơn các nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, văn hóa văn nghệ của nhân dân thành phố Ðặc biệt, ổn định và cải thiện một bước đời sống trên cơ sở đẩy mạnh phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, làm tốt phân phối lưu thông, điều tiết thu nhập trong các tầng lớp dân cư, thực hiện công bằng xã hội Tập trung giải quyết đời sống cho cán bộ, công nhân viên chức, nhất là thương bệnh binh, bộ đội, công an, giáo viên, nhân viên y

tế, công nhân vệ sinh, người nghỉ hưu, các gia đình thuộc diện chính sách, những người lao động nghèo, neo đơn gặp khó khăn Về giáo dục, phải xóa hết các lớp ca

3, mở rộng trường vừa học vừa làm và các trường, lớp dạy nghề Tổ chức tốt việc đoàn kết tương trợ xây dựng quỹ cứu tế xã hội ở từng đơn vị phường, xã, khu phố Công đoàn cùng các đoàn thể, mặt trận và các cơ quan chức năng phải làm nòng cốt trong việc chăm lo đời sống, cần có chính sách khen thưởng thỏa đáng đối với những đơn vị, địa phương có thành tích giải quyết tốt đời sống về các mặt [41]

Đại hội Đảng bộ thành phố lần V (10/1991) xác định vấn đề bức bách hàng đầu của Đảng bộ và chính quyền thành phố là tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân có công ăn việc làm, có đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá ngày một tốt hơn

Từ đó đề ra giải pháp: “Song song với các biện pháp tích cực làm chuyển biến tình hình kinh tế, kiến nghị và cùng với Trung ương thực hiện giải quyết việc làm, xây dựng cơ chế tiền lương” [43] Trong các ngành sản xuất, kinh doanh, thực hiện đúng chủ trương trả lương theo năng suất và hiệu quả cuối cùng; phấn đấu phụ cấp lương theo tỷ lệ trượt giá thực tế, trước hết đối với lao động nặng, độc hại; bằng các biện pháp phù hợp, cố gắng tăng thu nhập cho giáo viên, nhân viên y tế, lực lượng

vũ trang, diện chính sách và cán bộ hưu trí; từng bước thu hẹp dần số hộ nghèo bằng việc tạo điều kiện vật chất để mở mang sản xuất, làm dịch vụ; mở rộng và quản lý tốt các hoạt động từ thiện để giúp đỡ những người tàn tật, cô đơn, trẻ mồ côi Về chỉ tiêu, từ 1991 đến 1995, mỗi năm phấn đấu giải quyết việc làm cho trên

Trang 34

dưới 100.000 lao động Xây dựng các khu gia cư mới: xây dựng ít nhất 11.000 căn

hộ, phấn đấu giải tỏa 1/3 nhà lụp xụp và cải tạo môi trường sống ở các khu vực này (điện, nước, đường sá, cống rãnh, chống dột…), sửa chữa các chung cư, cư xá; tạo điều kiện cho nhân dân giải quyết chỗ ở, thực hiện đúng chủ trương hoá giá nhà của Nhà nước [43]

Những biện pháp chủ yếu để thu hút lao động là: có chính sách khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh; mở rộng gia công sản xuất hàng hoá cho nước ngoài; xây dựng các khu công nghiệp ngoại thành

và mở rộng đầu tư của nước ngoài vào thành phố; xúc tiến xuất khẩu lao động; mở rộng các dạng hoạt động dịch vụ và phong trào thanh niên xung phong… Tập trung sức nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cả về văn hoá, chuyên môn, nghề nghiệp, chính trị - đạo đức và thể chất Sắp xếp hợp lý và quản lý tốt các trường dạy nghề phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm chất lượng; tạo điều kiện để người lao động tự tạo việc làm; hoàn thiện các trung tâm cung ứng lao động… [43]

Ngày 03/4/1992, Ủy ban Nhân dân TPHCM ra Chỉ thị số 11/CT-UB về việc giải quyết tình hình nghèo đói ở nông thôn ngoại thành, chỉ đạo các ngành, đơn vị thuộc thành phố, Trung ương có cơ sở sản xuất kinh doanh trú đóng trên địa bàn quận huyện ven có trách nhiệm dành ưu tiên trong việc tuyển dụng lao động đối với lao động tại chỗ, đặc biệt số lao động không có việc làm của các hộ không có đất sản xuất, cùng với quận huyện đào tạo tay nghề để đáp ứng yêu cầu của ngành và địa phương [181]

Văn kiện Hội nghị đại biểu Đảng bộ TPHCM giữa nhiệm kỳ khóa V (tháng 3/1994) khẳng định tiếp tục chăm lo các vấn đề xã hội với hiệu quả cao hơn Chú trọng tổ chức thực hiện các chương trình giải quyết việc làm với mức thu hút mỗi năm 150.000 lao động trở lên; hỗ trợ đầu tư thêm qua các dự án nhỏ; tăng cường các trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm; từng bước hình thành thị trường lao động

có tổ chức [44]

Trang 35

Nhìn lại 5 năm thực hiện chính sách việc làm từ sau Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ V (10/1991), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố tại Đại hội VI (5/1996) nhận định: “Biện pháp giải quyết việc làm có đổi mới: phát huy ý thức chủ động tạo việc làm cho mình và cho người khác, khắc phục dần tâm

lý trông chờ Nhà nước Đã quan tâm khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa

và nhỏ với nhiều hình thức sở hữu, phát triển dịch vụ và kinh tế hộ gia đình, bảo đảm cho người lao động được tự do hành nghề, thuê mướn lao động Các chương trình “quỹ quốc gia giải quyết việc làm”, “giới thiệu việc làm”, “trợ vốn”, “giúp nhau mưu sinh lập nghiệp” đã thực hiện có kết quả” [45]

- Giai đoạn 1996-2006:

Đại hội Đảng bộ thành phố lần VI (5/1996) đề ra phương hướng tiếp tục phấn đấu nâng mức thu nhập các tầng lớp dân cư, nhất là nhân dân lao động Tạo điều kiện bằng cơ chế, chính sách để huy động các thành phần kinh tế và nhân dân cùng nhà nước thực hiện các chương trình nhà ở; đẩy nhanh tiến độ bán nhà thuộc

sở hữu Nhà nước Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đã phát biểu tại Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VI (5/1996): “Là địa phương đông dân nhất trong các tỉnh, thành nước ta, thành phố phải đặc biệt quan tâm đến công ăn việc làm của đồng bào, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, khôi phục, phát huy các nghề truyền thống, mở mang nhiều ngành nghề mới, thu hút đầu tư, tạo nhiều việc làm đi đôi với

mở rộng dạy nghề, giới thiệu việc làm Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người làm công, ngăn chặn những hành vi áp bức, đối xử thô bạo với anh chị em công nhân và người lao động” [118]

Về đào tạo nghề và giải quyết việc làm, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ

VI (5/1996) chủ trương khuyến khích mọi người dân, mọi thành phần kinh tế ở trong nước cũng như các nhà doanh nghiệp nước ngoài bỏ vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh tạo việc làm (theo quan niệm mọi hoạt động tạo ra thu nhập hợp pháp đều được coi là có việc làm) Chính quyền thành phố hỗ trợ một phần từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm, từ ngân sách và các nguồn khác Khuyến khích các

Trang 36

hội, đoàn thể quần chúng và các hội nghề nghiệp mở trường đào tạo lao động kỹ thuật cho các hội viên của mình và nhiều người khác Giao đất cho hộ nông dân sử dụng ổn định, lâu dài, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh Mỗi năm giải quyết 160.000 lao động có việc làm Dự báo đúng các yêu cầu về các loại lao động, nhất là công nhân kỹ thuật để có kế hoạch đào tạo cung cấp đủ cho các lĩnh vực, trong đó có các khu chế xuất, khu công nghiệp, các khu vực có vốn đầu tư nước ngoài… Phối hợp với Bộ Giáo dục - Đào tạo xây dựng và mở rộng quy mô đào tạo hệ trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đáp ứng quy hoạch dài hạn và đồng bộ với quá trình công nghiệp hóa, điện đại hoá [45] Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VII (12/2000) xác định “Đối với công nhân, tăng cường chỉ đạo thực hiện chương trình xây dựng giai cấp công nhân của Thành ủy, bồi dưỡng chính trị và nâng cao tay nghề, kỹ năng lao động, trình độ học vấn, ổn định việc làm, nâng cao đời sống cho công nhân, phát triển đảng viên và đào tạo, quy hoạch từ công nhân ưu tú, cung cấp cán bộ cho Đảng và Nhà nước” [47] Từ đó thúc đẩy, tạo điều kiện nâng cao trình độ tay nghề, nắm vững kỹ thuật cho đội ngũ công nhân, lao động thành phố như: miễn, giảm thuế, cho thuê, cấp đất

để xây trường dạy nghề; động viên các nguồn tài chính trong xã hội và xác định tỷ

lệ ngân sách thỏa đáng về đầu tư xây dựng trường lớp, trang thiết bị dạy nghề; tạo điều kiện để các trường nâng cấp, mở rộng đào tạo, phát triển quan hệ quốc tế, phát triển dạy nghề bên cạnh xí nghiệp với nguồn đầu tư tài chính của doanh nghiệp; đưa công nhân kỹ thuật và giáo viên dạy nghề đi học tập nắm công nghệ mới ở nước ngoài thông qua liên doanh và hợp tác; đẩy mạnh thông tin việc làm Dành một khoản ngân sách thỏa đáng cho việc hỗ trợ đào tạo nghề dưới hình thức đào tạo miễn phí hoặc cho vay ưu đãi để học nghề tùy theo đối tượng Đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu chỉ đạo tại Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VII (12/2000):

“Phải tìm mọi cách tập trung dạy nghề, đảm bảo người đến tuổi lao động có một nghề sinh sống, để họ tin ở tương lai của chính mình, của thành phố” [130]

Trong các Quyết định của Ủy ban Nhân dân TPHCM về kế hoạch chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội thành phố từng năm đều đề ra chỉ tiêu tạo việc

Trang 37

làm mới, đào tạo nghề; tổ chức gặp gỡ, trao đổi thông tin, nhu cầu và năng lực đào tạo giữa các nhà tuyển dụng lao động (kể cả các trung tâm dịch vụ việc làm) và các

cơ sở dạy nghề để định hướng và tìm địa chỉ đào tạo, nhằm giải quyết căn cơ việc

làm cho học viên sau khi tốt nghiệp Song song đó, xây dựng và triển khai quy

hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề để hợp lý hóa và khai thác tốt năng lực của toàn hệ thống dạy nghề trên địa bàn; xây dựng phương án đa dạng hóa các hình thức đào tạo công nhân kỹ thuật, cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật cho các ngành công nghiệp Tăng cường hướng dẫn tư vấn, nâng cao kiến thức kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất thông qua hình thức khuyến nông; tập trung hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo ở nông thôn tổ chức sản xuất theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị tạo ra trên một đơn vị diện tích; phát triển các khu dịch vụ, khôi phục ngành nghề truyền thống tiểu - thủ công nghiệp để tập trung giải quyết việc làm cho lao động nghèo, kết hợp dạy nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Tổ chức tốt công tác điều tra, thông tin, dự báo thị trường lao động, nâng cao năng lực quản lý nguồn lao động tại các quận - huyện, phường -

xã, thị trấn; phối hợp với chương trình công nghệ thông tin xây dựng đề án và triển khai chợ lao động trên mạng; thực hiện chương trình xuất khẩu lao động và chuyên gia; kiểm tra thường xuyên hoạt động của các cơ sở giới thiệu việc làm, triển khai các biện pháp quản lý Nhà nước thiết thực nhằm xóa bỏ tình trạng lừa đảo trong giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động

Nhằm triển khai thực hiện cơ chế, chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thúc đẩy sự tham gia của cá nhân, tổ chức, các thành phần kinh tế trong việc góp phần cùng Nhà nước chăm lo cho nhu cầu nhà ở của công nhân; thực hiện xã hội hóa việc xây dựng nhà lưu trú cho công nhân tại các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố đạt hiệu quả cao, ngày 30/12/2003 Ủy ban Nhân dân TPHCM ra Quyết định số 322/2003-QĐ-UB phê duyệt Kế hoạch đầu tư xây dựng nhà lưu trú cho công nhân

tại các khu chế xuất và công nghiệp Theo quyết định này, các doanh nghiệp khi đầu

tư xây dựng nhà lưu trú cho công nhân được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định tại Nghị định số 71/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ, Chỉ thị

Trang 38

07/2003/CT-UB ngày 23/4/2003 của Ủy ban Nhân dân TPHCM cùng các văn bản

có liên quan [230] Kế hoạch này nhằm mục đích chăm lo chỗ lưu trú cho người lao động đang làm việc tại các khu chế xuất và khu công nghiệp, góp phần ổn định sản xuất cho các doanh nghiệp trong các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố; khuyến khích các thành phần kinh tế, huy động vốn tài chính cùng nguồn nhân lực cần thiết để thực hiện kế hoạch xây dựng nhà lưu trú, nhà trọ, nhà ở cho công nhân

Tiếp đó, Ủy ban Nhân dân TPHCM cũng liên tục ra các quyết định ban hành quy chế quản lý khu lưu trú công nhân, người lao động thuê để ở trên địa bàn TPHCM nhằm quản lý và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu lưu trú của công nhân, người lao động và hoạt động của các khu nhà cho công nhân, người lao động thuê để ở trên địa bàn TPHCM đúng quy định của pháp luật, phù hợp với mục tiêu, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Quy chế cũng quy định quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh cá thể, cá nhân trong việc xây dựng, quản lý, sử dụng nhà cho công nhân và người lao động thuê để ở trên địa bàn thành phố Các quyết định này nhằm góp phần ổn định, thúc đẩy phát triển sản xuất của doanh nghiệp, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, góp phần đảm bảo sức khỏe công nhân, người lao động; giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn

Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII (12/2005) xác định tiếp tục giải quyết việc làm mới đồng thời với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp Tiến hành các chương trình đào tạo lao động lành nghề, có trình độ cao, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố và khu vực, vừa tạo nguồn xuất khẩu lao động Đào tạo tại các trường dạy nghề, trường chuyên nghiệp, đại học và tại doanh nghiệp, trong đó hệ thống trường dạy nghề đóng vai trò quan trọng nhất Tăng cường đầu tư và đẩy mạnh xã hội hóa công tác dạy nghề; mở rộng và nâng cấp các cơ sở dạy nghề, xây dựng các trung tâm đào tạo dạy nghề trình độ cao, gắn với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố Bên cạnh đó, đại hội cũng đề ra nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ quản

lý doanh nghiệp, lực lượng doanh nhân có tinh thần yêu nước, có trình độ chuyên

Trang 39

môn cao, kinh nghiệm kinh doanh thành thạo; không ngừng đổi mới và sáng tạo, mạnh dạn vận dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ, của khoa học tổ chức

và quản lý tiên tiến Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý Nhà nước có phẩm chất chính trị, có tâm đức trong sáng, có trách nhiệm trước dân, có năng lực, trí tuệ và nhiệt tình cách mạng cao Có chính sách thỏa đáng để không ngừng nâng cao trình độ, năng lực tổ chức thực hiện và tăng thu nhập cho cán bộ [48]

1.2.2 Chương trình xóa đói giảm nghèo:

Chương trình xóa đói giảm nghèo của thành phố được triển khai qua 2 giai đoạn: giai đoạn 1 (1992-2003) và giai đoạn 2 (2004-2010)

Từ khi thành phố thực hiện Nghị quyết 10/BCT của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Nghị quyết 07/TU của Thành ủy khóa 4 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới và các Thông báo 186/TU, 244/TU của Ban Thường vụ Thành ủy về giải quyết những vấn đề cấp bách cho nông nghiệp, nông thôn ngoại thành , tình hình nhiều mặt ở nông thôn đã có những bước chuyển biến quan trọng Song do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có việc phải sửa chữa sai lầm, khuyết điểm qua điều chỉnh và chia cấp ruộng đất, nhiều chánh sách của Nhà nước đối với nông thôn, nông nghiệp chưa hợp lý và nhất là sản xuất lúa của nông dân ngoại thành liên tục bị dịch rầy nâu phá hại nặng nề v.v làm cho đời sống ở nông thôn có sự phân hóa theo chiều hướng xấu Để giải quyết tình hình nêu trên, Ban Thường vụ Thành ủy ra Thông báo số 23/TB-TU ngày 20/02/1992 chỉ đạo

tổ chức triển khai thực hiện chương trình “phấn đấu thu hẹp và từng bước xóa hộ

Trang 40

đói nghèo” ở nông thôn Thực hiện chỉ đạo của Thành ủy, ngày 3/4/1992 Ủy ban Nhân dân TPHCM ra chỉ thị số 11/CT-UB về việc giải quyết tình hình nghèo đói ở nông thôn ngoại thành [181], chỉ đạo ủy ban nhân dân các huyện, quận, xã, phường

có sản xuất nông nghiệp phối hợp với các sở, ban, ngành chức năng liên quan xây dựng và triển khai chương trình phấn đấu thu hẹp và từng bước xóa các hộ nông dân nghèo đói Đây là một chương trình công tác mang tính cấp bách đối với nông thôn ngoại thành và vùng ven các quận nội thành có sản xuất nông nghiệp, nhằm tập trung tạo điều kiện giúp các hộ nông dân nghèo đói vươn lên tự lập và ổn định cuộc

sống

Đầu tháng 11/1992, chương trình được tiến hành sơ kết và mở rộng ra toàn thành phố (sau đó được mở rộng dần ra các tỉnh, thành phố khác trong cả nước) Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị đại biểu Đảng bộ thành phố giữa nhiệm kỳ khóa V (họp từ 28/3/1994 – 31/3/1994) đã cụ thể hóa chủ trương “Tiếp tục mở rộng cuộc vận động và đi vào chiều sâu chương trình xóa đói giảm nghèo, gắn với kế hoạch, qui hoạch, có trọng điểm trên từng địa bàn Qua công tác vận động, gây dựng được phong trào tương trợ giúp đỡ số hộ đói, nghèo trên từng địa bàn bằng việc làm thiết thực, có hiệu quả để họ tự vươn lên” [44] Đến Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ

VI (5/1996) tiếp tục khẳng định” “mở rộng và đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo … Đề phòng tái đói, mở rộng diện giảm nghèo bằng các hình thức làm ăn hợp tác” [45]

Chương trình xóa đói giảm nghèo của thành phố được tổ chức chỉ đạo thực hiện một cách thường xuyên, kiên trì và liên tục Trong từng năm và từng giai đoạn, Thành ủy, Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân TPHCM đều có nghị quyết và

kế hoạch thực hiện với mục tiêu, chỉ tiêu giảm nghèo cụ thể; đồng thời tổ chức sơ – tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn để tiếp tục bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách,

đề ra mục tiêu và giải pháp thực hiện nhằm từng bước nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động của chương trình Chương trình cũng khơi dậy và phát huy phong trào quần chúng đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau với truyền thống “tình làng nghĩa xóm”, “lá lành đùm lá rách” thông qua các hoạt động thiết thực và hiệu quả của Mặt

Ngày đăng: 18/06/2021, 09:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm