1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguồn nhân lực ở tỉnh an giang trong thời kỳ công nghệ hóa, hiện đại hóa (1996 2015)

288 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 288
Dung lượng 10,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu trong nước về nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ở Việt Nam, có khá nhiều sách, công trình nghiên cứu, bài báo, tạp chí đề cập đến vấn đ

Trang 2

1 TS LÊ HỮU PHƯỚC

2 PGS.TS NGÔ MINH OANH

3 PGS.TS HỒ SƠN ĐÀI

Thành phố Hồ Chí Minh – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu được sử dụng có nguồn gốc rõ ràng Những đánh giá, nhận định trong luận

án do cá nhân tôi nghiên cứu dựa trên những tư liệu xác thực và chưa được công bố

ở bất kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 5

4 Đóng góp mới của Luận án 9

5 Bố cục của Luận án 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 11

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về nguồn nhân lực 11

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa 17

1.2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về nguồn nhân lực, công nghiệp hóa, hiện đại hóa 17

1.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực ở các nước và Việt Nam 21

1.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực ở các vùng, các địa phương 27

1.2.4 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực ở An Giang 29

1.3 Những vấn đề đặt ra và luận án cần tập trung nghiên cứu 33

Tiểu kết chương 1 35

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT AN GIANG 37

2.1 Lý luận về nguồn nhân lực, công nghiệp hóa, hiện đại hóa 37

2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực 37

2.1.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 42

2.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực khi tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa 44

2.2 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới 47

2.2.1 Nhật Bản 47

2.2.2 Trung Quốc 50

2.2.3 Hàn Quốc 52

Trang 5

2.2.4 Singapore 55

2.3 Đặc điểm địa lý tự nhiên, lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội tác động đến nguồn nhân lực ở An Giang 58

2.3.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 58

2.3.2 Đặc điểm lịch sử vùng đất An Giang 61

2.3.3 Đặc điểm kinh tế 64

2.3.4 Đặc điểm dân cư, văn hóa – xã hội 68

2.4 Nguồn nhân lực ở An Giang trước khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (trước năm 1996) 71

2.4.1 Bối cảnh đất nước và tình hình tỉnh An Giang trước năm 1996 71

2.4.2 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ, chính quyền An Giang đối với nguồn nhân lực của tỉnh 74

2.4.3 Thực trạng nguồn nhân lực ở tỉnh An Giang trước năm 1996 77

Tiểu kết chương 2 84

CHƯƠNG 3: NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH AN GIANG TRONG 10 NĂM ĐẦU TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA (1996-2005) 87 3.1 Bối cảnh đất nước và tình hình tỉnh An Giang từ năm 1996 đến năm 2005 87

3.2 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền An Giang đối với việc phát triển nguồn nhân lực (1996-2005) 89

3.3 Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực ở An Giang trong 10 năm đầu tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996-2005) 93

3.3.1 Số lượng 93

3.3.2 Chất lượng 94

3.4 Vấn đề giáo dục – đào tạo nguồn nhân lực 101

3.4.1 Đối với giáo dục phổ thông 101

3.4.2 Đối với đào tạo nghề 102

3.4.3 Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao 107

3.5 Vấn đề sử dụng và phát huy nguồn nhân lực 110

3.5.1 Sử dụng nguồn nhân lực ở An Giang 110

3.5.2 Phát huy nguồn nhân lực ở An Giang 116

3.6 Tác động của nguồn nhân lực ở An Giang đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh (1996-2005) 118

Trang 6

Tiểu kết chương 3 122

CHƯƠNG 4: NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH AN GIANG TRONG GIAI ĐOẠN ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA (2006-2015) 124

4.1 Bối cảnh đất nước và tình hình tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2015 124

4.2 Chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền An Giang đối với việc phát triển nguồn nhân lực (2006-2015) 126

4.3 Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực ở An Giang (2006-2015) 133

4.3.1 Số lượng 133

4.3.2 Chất lượng 135

4.3.3 Sự phân bố 138

4.4 Giáo dục – đào tạo nguồn nhân lực ở An Giang (2006-2015) 140

4.4.1 Giáo dục phổ thông 140

4.4.2 Đào tạo nghề 142

4.4.3 Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao 152

4.4.4 Đào tạo cán bộ, công chức 155

4.5 Vấn đề sử dụng và phát huy nguồn nhân lực ở An Giang (2006-2015) 157

4.5.1 Việc làm cho nguồn nhân lực An Giang 157

4.5.2 Xuất khẩu lao động 162

4.5.3 Vấn đề phát huy nguồn nhân lực ở An Giang 166

4.6 Tác động của nguồn nhân lực ở An Giang đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh (2006-2015) 171

Tiểu kết chương 4 174

KẾT LUẬN 176

CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 185

TÀI LIỆU THAM KHẢO 186

PHỤ LỤC Phụ lục 1: Các văn bản 211

Phụ lục 2: Một số biên bản phỏng vấn sâu 226

Phụ lục 3: Các bảng, biểu 253

Phụ lục 4: Hình ảnh 267

Trang 7

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng hợp trình độ NNL An Giang năm 1995 79

Bảng 3.1: Trình độ dân trí LĐ nông thôn An Giang so với ĐBSCL và cả nước năm 2000 95

Bảng 3.2: Số LĐ đào tạo CMKT – nghiệp vụ 96

Bảng 3.3: Cơ cấu trình độ học vấn và chuyên môn của LĐ năm 2005 98

Bảng 3.4: Tỉ lệ LĐ qua đào tạo của An Giang so với ĐBSCL và cả nước 99

Bảng 3.5: Lực lượng LĐ qua đào tạo nghề ở An Giang từ năm 2000 đến 2005 104

Bảng 3.6: Cơ cấu sử dụng LĐ theo ngành của tỉnh 111

Bảng 3.7: Kết quả thực hiện chỉ tiêu LĐ – việc làm giai đoạn 2000-2005 112

Bảng 4.1: Số lượng đào tạo và dự trù kinh phí tính theo các năm 129

Bảng 4.2: Chế độ trợ cấp một lần để thu hút người có trình độ sau ĐH của tỉnh An Giang năm 2012 132

Bảng 4.3: Trình độ CMKT dân số An Giang từ 15 tuổi trở lên năm 2009 136

Bảng 4.4: Lực lượng LĐ qua đào tạo nghề ở An Giang từ năm 2006 đến 2015 146

Bảng 4.5: Tỉ suất di cư (%) ở An Giang qua hai đợt tổng điều tra dân số năm 1999 và 2009 161

Bảng 4.6: Số LĐ đi làm việc ở nước ngoài từ 2006-2015 164

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu 2.1: Cơ cấu kinh tế của tỉnh An Giang qua các năm 65

Biểu 2.2: Số lượng tuyển sinh vào các trường dạy nghề ở An Giang 80

Biểu 2.3: Số lượng NNL ở An Giang từ năm 1991 đến 1995 82

Biểu 2.4: Mức độ giảm của LĐ trong nông nghiệp An Giang qua các giai đoạn 83

Biểu 3.1: Dân số và số lượng LĐ từ 15 tuổi trở lên của tỉnh An Giang 94

Biểu 3.2: Tỉ lệ LĐ qua đào tạo nghề của tỉnh An Giang từ 1995 đến 2005 98

Biểu 3.3: Cơ cấu cán bộ khoa học – kỹ thuật được chia theo trình độ đào tạo năm 2001 100

Biểu 3.4: Tỉ lệ HS tốt nghiệp và HS khá giỏi các cấp năm học 2004-2005 102

Biểu 3.5: Số lượng HS theo hệ đào tạo công nhân kỹ thuật ở An Giang từ năm 1996 đến năm 2005 105

Biểu 3.6: Số lượng các lớp tập huấn, hội thảo chuyên đề và các chương trình giao lưu văn hóa trường ĐH An Giang phối hợp tổ chức 109

Biểu 3.7: Số lượng XKLĐ ở An Giang từ 2002 đến 2005 115

Biểu 3.8: Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của tỉnh An Giang giai đoạn 2000-2004 phân theo lĩnh vực 117

Biểu 4.1: Dân số và lực lượng LĐ từ 15 tuổi trở lên ở An Giang 134

Biểu 4.2: Lực lượng LĐ từ 15 tuổi trở lên phân theo khu vực 139

Biểu 4.3: Chất lượng của HS SV học nghề ở An Giang năm 2009 145

Biểu 4.4: Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đang làm các công việc ở An Giang so với ĐBSCL năm 2009 158

Biểu 4.5: Tỉ lệ thất nghiệp ở An Giang phân theo khu vực và giới tính 159

Trang 10

Việt Nam sau khi thống nhất đất nước, cả nước bắt tay xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa nên lại càng cần có NNL dồi dào và chất lượng Nói như GS Trần Văn Giàu: “Nếu ở thế kỷ XX, Việt Nam cần và đã có con người cách mạng kiên cường, con người chiến binh thượng đẳng, thì, vào thế kỷ XXI, Việt Nam cần và phải có những con người xây dựng tài ba, rất mực cần mẫn, LĐ có kỹ thuật, có kỷ luật, có năng suất cao, đồng thời là con người được trang bị tư tưởng vững vàng, lý tưởng tốt đẹp” (Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước, 1995, tr.412) Trước năm 1975, Việt Nam là chiến trường thì hiện tại và tương lai, Việt Nam là công trường Dù là chiến trường hay công trường thì Việt Nam đều cần những người LĐ thành thạo, chuyên nghiệp, cần mẫn Bước vào giai đoạn CNH, HĐH, NNL Việt Nam lại càng phải phát huy vai trò của mình để đại cuộc của đất nước thành công

CNH, HĐH được coi là điều kiện tiên quyết, thiết yếu để đưa Việt Nam phát triển, sánh tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới Năm 1986 đánh dấu cột

Trang 11

mốc đổi mới của Việt Nam Mười năm sau đó, Việt Nam về cơ bản đã thoát khỏi đói nghèo, có được một số nền tảng vững chắc đưa đất nước sang một bước tiến cao hơn Đảng và nhà nước xác định bước tiến đó là đi vào con đường CNH, HĐH Hầu như hết thảy các tỉnh thành của cả nước đều xúc tiến và thành công từng bước khi bắt tay vào sự nghiệp lớn này

Sự nghiệp CNH, HĐH muốn thành công phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nhân lực, vật lực, tài lực… Các nguồn lực khác có thể mất đi, giảm sút hoặc chuyển sang một trạng thái khác nhưng nguồn lực con người thì không Do đó, nhân lực là yếu tố chủ quan và tối quan trọng, có vai trò quyết định sự thành công hay thất bại khi một quốc gia tiến hành CNH, HĐH Nếu NNL đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng, đồng bộ về cơ cấu ngành nghề và được sử dụng có hiệu quả thì sự nghiệp CNH, HĐH sẽ đạt được kết quả tốt đẹp NNL và CNH, HĐH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tương hỗ nhau để đạt được mục tiêu phát triển bền vững Thực tế lịch sử đã chứng minh: sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một số nước hoặc vùng lãnh thổ trên thế giới là nhờ vào NNL, đặc biệt là NNL chất lượng cao Dân số Việt Nam khá đông, hơn 90 triệu người, đặc biệt dân số trẻ, trong độ tuổi

LĐ chiếm tỷ lệ cao là một lợi thế và cũng là một thách thức không nhỏ đối với Việt Nam khi tiến hành CNH, HĐH

Thêm vào đó, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra trên toàn cầu đòi hỏi Việt Nam phải trang bị nhiều yếu tố để bắt kịp xu thế thời đại Trong đó, NNL

có trình độ, có chuyên môn là yếu tố cực kỳ quan trọng Để tận dụng tốt thời cơ và vượt qua những nguy cơ, thách thức từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, vấn đề khai thác NNL, nhất là xây dựng, phát triển NNL chất lượng cao là vấn đề đã và đang được đặt ra đối với Việt Nam

NNL ở An Giang là một bộ phận trong NNL của Việt Nam, có nhiều nét tương đồng với NNL của cả nước nói chung Tuy nhiên, xét từng bình diện cụ thể thì An Giang có những nét đặc thù riêng nên NNL và quá trình phát triển của NNL

ở An Giang cũng mang những đặc trưng riêng Theo Quyết định số 492/QĐ-TTg

Trang 12

ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ, An Giang là một trong bốn tỉnh thành1

thuộc vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL Khi thành lập vùng kinh tế trọng điểm này, Chính phủ xác định mục tiêu: “Xây dựng Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL trở thành vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, có đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế của đất nước, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cả vùng ĐBSCL giàu mạnh, các mặt văn hóa, xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước; bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc phòng vững chắc” (UBND huyện Thoại Sơn, tr.43) Chính vì sự quan tâm của Nhà nước, An Giang càng nỗ lực hơn để góp phần đưa Việt Nam theo kịp thời đại cách mạng công nghiệp 4.0

Là một trong 13 tỉnh thành của ĐBSCL, An Giang cũng có diện mạo tương

tự diện mạo chung của vùng ĐBSCL Mặc dù có nhiều lợi thế, nhiều tiềm năng nhưng thời gian qua, ĐBSCL phát triển chưa tương xứng với kỳ vọng Nguyên nhân chính nằm ở chỗ chất lượng NNL Nếu chất lượng NNL thấp đang là điểm nghẽn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thì ở ĐBSCL là một trường hợp điển hình cho cả nước Riêng tỉnh An Giang, tuy đã có nhiều nỗ lực nhưng NNL An Giang vẫn chưa được cải thiện đáng kể, kinh tế An Giang vẫn chưa bật lên được bao nhiêu so với các tỉnh thành khác trong vùng và trong cả nước Năm 1996,

An Giang cùng cả nước bước vào thời kỳ CNH, HĐH và hành trang mang theo trên chặng đường phía trước không thể thiếu một NNL đảm bảo về lượng và chất Quá trình phát triển NNL ở An Giang diễn ra đồng thời với quá trình CNH, HĐH

An Giang là tỉnh có số dân đông nhất ĐBSCL và đứng thứ 6 trong số những tỉnh đông dân của cả nước, An Giang có lợi thế lớn về số lượng NNL Đảng bộ và chính quyền An Giang đưa ra nhiều chương trình phát triển NNL Tuy nhiên, NNL đông về số lượng có tính hai mặt, vừa là lợi thế vừa là thách thức mà thách thức lớn nhất là vấn đề giải quyết việc làm NNL chưa qua đào tạo hay NNL đã qua đào tạo đều cần có việc làm phù hợp với năng lực của mình Đào tạo và sử dụng NNL phải song song với nhau, có mối liên hệ với nhau nhưng thực tế ở An Giang lại chưa phản ảnh điều này Bên cạnh đó, chất lượng NNL ở An Giang chưa đáp ứng yêu

1 Hiện nay, cả nước có 4 vùng kinh tế trọng điểm: vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (7 tỉnh thành), vùng kinh

tế trọng điểm Trung bộ (5 tỉnh thành), vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ (8 tỉnh thành) và vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL (4 tỉnh thành) Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau

Trang 13

cầu của sự nghiệp CNH, HĐH Từ thực tế này cho thấy, nghiên cứu “NNL ở tỉnh

An Giang trong thời kỳ CNH, HĐH (1996-2015)” là một việc làm hết sức cần thiết

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu nhằm những mục đích sau:

Đề tài tìm hiểu kỹ về thực tế NNL ở An Giang được đào tạo và sử dụng như thế nào qua các giai đoạn lịch sử kể từ khi cả nước bước vào thời kỳ CNH, HĐH Đào tạo và sử dụng là hai mặt của một vấn đề nên đề tài tìm ra mối tương quan của hai mặt này trong phát triển NNL ở An Giang

Trên cơ sở những cứ liệu thu thập được, đề tài phục dựng quá trình phát triển NNL ở An Giang từ giữa thập niên 90 thế kỷ XX đến năm 2015 Bức tranh toàn cảnh này phản ánh thực tế về nguồn lực quan trọng bậc nhất trong sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh An Giang Do đó, kết quả của đề tài nhằm bổ sung tài liệu nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang

Với những nghiên cứu cụ thể và những kết luận từng mảng liên quan đến NNL, đề tài hỗ trợ nhà hoạch định chính sách, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu nhận thức đầy đủ về NNL ở An Giang để tìm ra những biện pháp tối ưu khắc phục những hạn chế và phát huy ưu điểm trong quá trình phát triển NNL ở An Giang trong tương lai

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

NNL là một vấn đề có nội hàm rộng nên luận án nghiên cứu sâu các phương diện trình độ học vấn, trình độ tay nghề, việc làm Còn những phương diện như: đạo đức, lối sống, thể lực của NNL, tác phong LĐ… thì luận án không đi vào chi tiết

Ba nội dung có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao giá trị NNL An Giang là: phát triển NNL về số lượng, về chất lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng NNL Do đó, luận án xác định đối tượng nghiên cứu là NNL trên các khía cạnh: quy mô, cơ cấu NNL, tốc độ phát triển về số lượng lẫn chất lượng, vấn đề đào tạo, sử dụng và phát huy NNL Khi nghiên cứu những vấn đề xoay quanh NNL như vậy, đề tài không chỉ tái hiện một quá trình phát triển của NNL mà còn cho thấy những chủ trương, chính sách nhằm phát triển NNL của địa phương cũng như của đất nước thời gian qua

Trang 14

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian:

NNL là một trong những vấn đề trọng tâm trong quá trình phát triển đất nước một cách bền vững Mỗi tỉnh thành trên dải đất hình chữ S có đặc trưng riêng nên việc nghiên cứu NNL của mỗi tỉnh thành sẽ góp vào bức tranh toàn cảnh NNL Việt Nam Luận án nghiên cứu theo chiều sâu, đi vào một trường hợp cụ thể, một địa phương cụ thể là An Giang – một tỉnh ở ĐBSCL với địa giới hành chính ở thời điểm hiện nay Bản thân NNL là một phạm trù không cố định, có thể là NNL từ nơi khác chuyển đến An Giang sinh sống và làm việc hoặc NNL có hộ khẩu ở An Giang cũng có thể đi nơi khác Do vậy, luận án xác định không gian địa giới tỉnh

An Giang tức là xác định nghiên cứu NNL đang sinh sống, học tập và làm việc ở địa bàn An Giang

Phạm vi thời gian:

Cụm từ “CNH, HĐH” được Đảng và Nhà nước Việt Nam nhắc đến từ rất sớm trong công cuộc xây dựng đất nước Tuy nhiên, phải đến đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996), khi đất nước tiến hành đổi mới được 10 năm thì CNH, HĐH mới được đẩy mạnh, mới được chú ý đúng mức Cũng trong năm 1996, đại hội đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ VI được tổ chức với chủ đề: “Đoàn kết thống nhất, sức mạnh và niềm tin, tăng tốc và phát triển, trưởng thành và thắng lợi” Do

đó, năm 1996 được tác giả chọn làm mốc khởi đầu cho luận án Từ lúc tiến hành CNH, HĐH đất nước đến nay, NNL ở An Giang phát triển liên tục không ngừng và

nó sẽ còn tiếp diễn trong tương lai nên đề tài được giới hạn đến năm 2015 Đây là thời điểm cả nước chuẩn bị bước vào kỳ đại hội đảng lần thứ XII (nhiệm kỳ 2016-2020) và An Giang đã tiến hành đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ X, tổng kết và đúc rút kinh nghiệm giai đoạn phát triển trước đó của tỉnh Trong khoảng thời gian 20 năm (từ 1996 đến 2015), NNL ở An Giang phát triển phục vụ đắc lực cho công cuộc CNH, HĐH của tỉnh nói riêng và đất nước nói chung

3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Trang 15

Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và quan điểm của Đảng về NNL, phát triển NNL, về CNH, HĐH Đề tài phác họa NNL ở tỉnh An Giang – một vấn đề thuộc lĩnh vực lịch sử kinh tế - xã hội

Hai phương pháp chủ đạo được sử dụng trong luận án là phương pháp lịch sử

và phương pháp logic Phương pháp lịch sử tái hiện trung thực bức tranh quá khứ của NNL An Giang trong quá trình phát triển qua hai giai đoạn 1996-2005 và 2006-

2015 NNL ở An Giang qua thời gian có sự khác biệt dù rằng có phần tái diễn nhưng không tái diễn hoàn toàn như cũ Phương pháp lịch sử chú ý tìm ra cái khác trước, cái không lặp lại để thấy những nét đặc thù lịch sử của NNL An Giang Cụ thể là sự phát triển NNL An Giang giai đoạn trước và sau khi cả nước bước vào CNH, HĐH (năm 1996), giai đoạn mới tiến hành CNH và giai đoạn đẩy mạnh CNH

có nhiều sự khác biệt Phương pháp lịch sử giúp đề tài được nghiên cứu theo tuần tự thời gian và đảm bảo tính đặc trưng của từng giai đoạn Thông qua các nguồn tư liệu, đề tài nghiên cứu và phục dựng đầy đủ các điều kiện hình thành, quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của NNL ở An Giang Đồng thời, đề tài đặt quá trình phát triển đó trong mối quan hệ tác động qua lại với các nhân tố liên quan khác trong suốt quá trình vận động của chúng NNL ở An Giang trải qua một quá trình vận động và biến đổi liên tục, hết sức cụ thể và theo một trật tự thời gian nhất định

Khi nghiên cứu đề tài NNL ở An Giang, phương pháp logic cần được sử dụng để tìm ra bản chất, quy luật vận động và phát triển của NNL của tỉnh bởi việc

sử dụng phương pháp lịch sử chỉ giúp người nghiên cứu dừng lại ở việc phục dựng quá khứ của NNL ở An Giang Bằng phương pháp logic, người nghiên cứu rút ra được những bài học phát triển NNL ở An Giang và nhận biết xu hướng phát triển của NNL ở An Giang trong tương lai Giới hạn của phương pháp lịch sử và phương pháp logic chỉ là tương đối Phương pháp logic nghiên cứu đề tài trong hình thức tổng quát nhằm vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng chung của vấn đề Phương pháp logic hỗ trợ đắc lực cho phương pháp lịch sử để nêu lên cái logic khách quan của tiến trình lịch sử Hai phương pháp này đã giúp luận án được phân tích, diễn đạt một cách sâu sắc, toàn diện Sử dụng nhuần nhuyễn hai phương pháp

Trang 16

này, người nghiên cứu có thể mô tả lịch sử phát triển của NNL ở An Giang trong thời kỳ CNH, HĐH (1996-2015) Từ đó, bản chất, quy luật phát triển của NNL ở

An Giang được vạch ra một cách chi tiết, cụ thể

Bên cạnh hai phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học lịch sử, đề tài nghiên cứu NNL ở An Giang trong thời kỳ CNH, HĐH (1996-2015) còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp điền dã, phỏng vấn sâu, phương pháp thống kê, phân tích dữ liệu… Những phương pháp này sẽ hỗ trợ đắc lực để đề tài đạt được kết quả cao nhất có thể

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: là xu hướng nghiên cứu phổ biến trong khoa học xã hội hiện nay, đòi hỏi người nghiên cứu phải vận dụng phương pháp nghiên cứu của các ngành khác, không chỉ riêng ngành chuyên môn của mình Đề tài vận dụng cách tiếp cận liên ngành và những phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành triết học, địa lý dân số, dân tộc học, kinh tế học, xã hội học Với phương pháp nghiên cứu của triết học, đề tài lập luận chặt chẽ về các lý thuyết NNL, phát triển NNL, CNH – HĐH Với phương pháp nghiên cứu của địa lý dân

số, đề tài cho phép tìm hiểu tỷ lệ dân số trong độ tuổi LĐ so với dân số toàn tỉnh Phương pháp nghiên cứu của ngành dân tộc học giúp nghiên cứu thành phần tộc người trong lực lượng LĐ của tỉnh, đồng thời áp dụng kỹ năng thực địa điển hình của ngành dân tộc học Phương pháp nghiên cứu của ngành kinh tế học cho thấy tác động của NNL ở An Giang đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh Phương pháp nghiên cứu định tính của ngành xã hội học giúp đề tài có thể tiến hành điều tra, khảo sát ảnh hưởng của sự phát triển của NNL đối với đời sống xã hội của con người… Tất nhiên, bản thân người nghiên cứu với tư cách là cá nhân nghiên cứu độc lập không thể là bộ bách khoa, có thể vận dụng tốt tất cả các phương pháp của các ngành khác khi nghiên cứu Trong khả năng có thể, người nghiên cứu cố gắng ở mức cao nhất để thực hiện đề tài

Phương pháp điền dã, phỏng vấn sâu: Bằng phương pháp điền dã, người nghiên cứu đề tài cọ sát thực tế Người nghiên cứu quan sát, ghi chép lại bằng văn bản và hình ảnh những vấn đề liên quan đến NNL như: ý thức đào tạo và tự đào tạo

Trang 17

của NNL, tác phong LĐ, làm việc của người LĐ hay cách sử dụng nhân lực của lãnh đạo… Để hiểu sâu, hiểu kỹ về vấn đề NNL ở An Giang, người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu Khi thực hiện phỏng vấn sâu, người nghiên cứu phải chọn mẫu theo nhu cầu nghiên cứu của đề tài Mẫu được nhắm tới để nghiên cứu sâu hơn về NNL ở An Giang là những mẫu tiêu biểu, có tính đại diện để phục vụ cho đề tài Đó

là người làm công tác quản lý, sử dụng NNL, là NNL đang được đào tạo, là NNL đang tham gia lao động, là người tham gia đào tạo NNL

Ngoài ra, luận án thực hiện nhiều bước thống kê, phân tích dữ liệu Trên cơ

sở đó, sự phát triển của NNL ở An Giang dựa vào kết quả thống kê trong các niên giám thống kê của tỉnh và thể hiện các số liệu qua các bảng và biểu đồ Các bảng thống kê số liệu thường được dùng để trình bày những số liệu mang tính trang trọng, tính chính xác cao, tính chính thức Các bảng thống kê có thể dùng để tổng hợp và so sánh số liệu của các công trình nghiên cứu liên quan đến NNL An Giang trong quá khứ Trên cơ sở những số liệu thống kê được thể hiện qua các biểu đồ, đề tài phân tích dữ liệu giúp người đọc dễ hiểu, dễ hình dung và nắm bắt đầy đủ về NNL ở An Giang như: quy mô, số lượng NNL An Giang, số lượng NNL qua đào tạo hay trình độ của NNL An Giang Do đó, nhà nghiên cứu cần phải suy nghĩ sáng tạo cách thể hiện số liệu quan trọng bằng biểu đồ sao cho phù hợp nhất

3.2 Nguồn tài liệu

Luận án sử dụng tài liệu từ các nguồn sau:

Nguồn tài liệu gốc, tài liệu bậc 1 được khai thác tại Chi cục lưu trữ của tỉnh

An Giang, Tỉnh ủy, UBND tỉnh An Giang, trường ĐH An Giang và các Sở liên quan như: Sở LĐ – Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục – đào tạo… Những tài liệu này bao gồm: các báo cáo, văn kiện đảng, văn bản quy hoạch, kế hoạch, tổng kết… Bên cạnh đó, tài liệu thu thập được từ những cuộc phỏng vấn nhân chứng cũng rất quan trọng khi thực hiện luận án

Nguồn tài liệu đã xuất bản gồm các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, sách chuyên khảo, các bài viết đăng trên báo, tạp chí, luận văn, luận án được lưu tại các thư viện: Thư viện Tổng hợp Tp HCM, Thư viện trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG Tp HCM, Thư viện Khoa học Xã hội, Thư viện

Trang 18

tỉnh An Giang Nhiều cơ quan, tỉnh thành trong đó có tỉnh An Giang tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm với các chủ đề liên quan đến NNL nên kỷ yếu hội thảo, tọa đàm cũng là một nguồn tài liệu cần thiết để tham khảo Ngoài ra, luận án còn tham khảo nguồn tài liệu internet, trên các website chính thống của Bộ LĐ-TB&XH, Tổng cục thống kê, UBND tỉnh An Giang, báo An Giang

4 Đóng góp mới của Luận án

Một là, luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của NNL đối với sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh An Giang Nếu như trước năm 1996, vấn đề NNL chưa được tỉnh An Giang chú ý đúng mức thì từ năm 1996 trở đi, cùng với tiến trình CNH, HĐH, An Giang không có cách nào khác ngoài việc phải nhận thấy vai trò cực kỳ quan trọng của NNL

Hai là, phác họa toàn cảnh quá trình phát triển NNL ở tỉnh An Giang qua 2 giai đoạn lịch sử (1996-2005 và 2006-2015) Từ đó, luận án có cái nhìn đối sánh để thấy được sự chuyển biến NNL của tỉnh theo xu hướng tích cực

Ba là, trên cơ sở những dữ liệu tổng hợp xuyên suốt một quá trình, luận án chỉ ra những mặt tích cực và những thiếu sót, hạn chế trong cơ chế, chính sách phát triển NNL của chính quyền An Giang khi áp dụng vào thực tiễn Một nhà triết học từng khẳng định tầm quan trọng của thực tiễn với câu nói: “Mọi lý thuyết chỉ là màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi” Do đó, những chủ trương, chính sách về NNL của tỉnh An Giang khi đưa vào thực tiễn chưa chắc đã đạt được hiệu quả cao như mong đợi

Bốn là, luận án đúc rút những giải pháp cơ bản để bản thân tỉnh An Giang nghiên cứu khi phát triển NNL trong tương lai, đồng thời các tỉnh thành khác trong

cả nước có thể học hỏi Dĩ nhiên, NNL ở mỗi địa phương có những điểm đặc trưng riêng nên không nơi nào giống nơi nào Nhưng những giải pháp mang tính gợi mở cho sự phát triển của NNL ở tỉnh An Giang có thể được vận dụng linh hoạt sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và đặc điểm NNL ở địa phương khác

5 Bố cục của Luận án

Luận án gồm có 5 phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục Trong đó, phần Nội dung được kết cấu thành 4 chương như sau:

Trang 19

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 2: Một số vấn đề lý luận và tổng quan về vùng đất An Giang

Chương 3: Nguồn nhân lực ở tỉnh An Giang trong 10 năm đầu tiến hành CNH, HĐH (1996-2005)

Chương 4: Nguồn nhân lực ở tỉnh An Giang trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH (2006-2015)

Trang 20

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

NNL là vấn đề đã, đang và sẽ nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu, giới học thuật Không những vậy, các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách

ở các quốc gia, vùng lãnh thổ hay địa phương cũng rất chú trọng đến nhân tố này Chính vì lẽ đó, nhà khoa học và nhà lãnh đạo đã gặp nhau ở điểm chung có tên gọi

“NNL” Nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích để từ đó tìm ra cách thức phát triển NNL, phục vụ cho sự phát triển của quốc gia Từ giữa thế kỷ XX đến nay, khá nhiều công trình, sách, tạp chí quốc tế và Việt Nam đề cập đến NNL ở nhiều khía cạnh

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về nguồn nhân lực

Trước tiên, phải kể đến “Kế hoạch giáo dục và phát triển NNL” (Educational planning and human resource development) được xuất bản năm 1967 bởi UNESCO Đây là cuốn sách phân tích khá kỹ về các vấn đề liên quan đến giáo dục và NNL Tác giả cuốn sách là Frederick Harbison - GS kinh tế tại ĐH Princeton, một nhà kinh tế học LĐ được biết đến trên toàn quốc Ông từng đóng vai trò cố vấn của các

tổ chức UNESCO, ILO, OECD, AID, the World Bank… Chính từ những hoạt động thực tiễn, ông nắm rõ cơ sở đưa ra kế hoạch giáo dục Tác giả đưa ra những ưu tiên và lựa chọn trong việc phát triển NNL, thể hiện qua việc lên kế hoạch và xây dựng chiến lược Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược và coi đây là nền tảng của quá trình phát triển NNL Lựa chọn giữa những cấp độ giáo dục cũng là điều quan trọng để đầu tư đúng địa chỉ, trong đó cấp độ lựa chọn ưu tiên

số 1 là THCS, tiếp theo là tiểu học rồi mới đến cấp cao hơn Lựa chọn giữa chất lượng và số lượng NNL hay vấn đề giáo dục chính quy và đào tạo không chính quy được tác giả luận giải thấu đáo

Luận án TS năm 2008 của Tanvir Kayani “Thách thức của phát triển NNL trước tốc độ toàn cầu hóa” (Challenges of human resource development to pace with globalization) gói gọn trong 211 trang đã giải quyết một số mối tương quan giữa phát triển NNL và giáo dục, phát triển NNL và quản lý, phát triển NNL và đội ngũ giáo viên Tanvir Kayani đi sâu vào khái niệm phát triển NNL, quy mô, ý nghĩa

Trang 21

của nó Những thách thức và những vấn đề phát triển NNL được nêu ra như: tăng cường giáo dục tiểu học và THCS, nâng cấp giáo dục cơ bản của lực lượng LĐ, mở rộng và cải thiện đào tạo tại công ty, mở rộng NNL KH&CN, giáo dục và đào tạo thích ứng với nền kinh tế thị trường… Luận án đề cập đến môi trường phát triển NNL (human resource development climate) Môi trường phát triển NNL là một phần không thể thiếu của các cơ quan, tổ chức

Micheal Marquardt biên tập bộ sách “Nguồn lực con người và sự phát triển” (Human Resources and their Development) do UNESCO phát hành gồm 2 tập, mỗi tập trên dưới 400 trang, tập hợp bài viết của nhiều học giả nghiên cứu về vấn đề NNL Các học giả đều ghi nhận NNL là một nguồn lực vô giá nhưng có một thời gian nó bị thờ ơ Trong tập 1, hai học giả Michael J Marquardt – ĐH George Washington và Viwe Mtshontshi – Viện Quan hệ đối tác giữa giáo dục và kinh doanh (Nam Phi) nói chi tiết các vấn đề quan trọng trong phát triển NNL là: vấn đề

xã hội, chính trị, kinh tế - tài chính, văn hóa Các mối quan hệ giữa gia tăng dân số

và thay đổi môi trường, phát triển nhân lực và phát triển kinh tế, hòa bình và an ninh, tài chính Cũng trong tập này, Richard Torracco (ĐH Nebraska, Mỹ) viết một chương mang tính lịch sử sâu sắc: “Lịch sử của phát triển NNL” (A History of Human Resource Development) Richard Torracco đã nhắc đến lịch sử phát triển NNL ở Trung Quốc, Hà Lan và Châu Phi, Nam Mỹ Phát triển NNL là một lĩnh vực

có nguồn gốc lịch sử trên cả hai lĩnh vực giáo dục và việc làm Tuy nhiên, tác giả lại

lý luận rằng mặc dù lĩnh vực này phát triển một cách ấn tượng kể từ chiến tranh thế giới thứ 2, nguồn gốc lịch sử của phát triển NNL không thể bị phân chia từ lịch sử giáo dục và đào tạo mà nó là lịch sử giáo dục và đào tạo vì việc làm Chương này đưa ra một quan điểm quốc tế về lịch sử phát triển NNL theo hướng đa chiều và những cuộc thảo luận về sự phát triển NNL qua lăng kính của 8 nước/vùng lãnh thổ Mỗi quốc gia kể một câu chuyện khác nhau về phát triển NNL, phản ánh mục đích

và mức độ mà phát triển NNL đã đạt được trên những khía cạnh khác nhau Tập 2 của bộ sách có một số phần đáng chú ý như: “Hậu quả của biến đổi toàn cầu đối với phát triển NNL” của Francesco Sofo (ĐH Canberra, Úc), “Phát triển NNL và những

Trang 22

thay đổi môi trường” của PGS ĐH St Thomas (Mỹ) N Nissley, “NNL và tăng trưởng kinh tế” của John P Powelson (ĐH Colorado, Mỹ)…

Cuốn sách dày 439 trang do Nxb Berrett-Koehler xuất bản năm 2001 “Nền tảng của phát triển NNL” (Foundations of Human Resource Development) của hai tác giả Richard A Swanson và Elwood F Holton III trình bày khá kỹ về lý thuyết

và triết lý trong phát triển NNL Trong những quan điểm về phát triển NNL có quan điểm về giáo dục, đào tạo NNL, về hiệu suất Tác giả cuốn sách đưa ra thuyết phát triển chuyên môn người LĐ thông qua phát triển và đào tạo mỗi cá nhân Đặc biệt, tác giả giành hẳn chương 3 của phần 1 (từ trang 27 đến trang 62) để viết “Lịch sử phát triển NNL” Ở buổi ban sơ của loài người, con người tiến hóa nhờ biết LĐ nên

LĐ trở thành yếu tố quan trọng đưa con người phát triển Điều đó vẫn không thay đổi trong suốt tiến trình lịch sử của loài người Trải qua một quá trình phát triển liên tục, đến thế kỷ XXI, khoa học công nghệ đã thay thế sức LĐ tay chân của con người nhưng LĐ trí óc thì không một máy móc nào có thể thay thế được Chính vì vậy, khi xã hội càng phát triển thì con người càng phải LĐ và học tập

Từ năm 1992, Othman Yeop Abdullah đến từ ĐH Utara Malaysia giải thích mối quan hệ giữa phát triển NNL và việc trở thành một xã hội công nghiệp phát triển qua bài “Phát triển NNL: chìa khóa hướng tới xã hội công nghiệp phát triển” (Human resource development: The key towards the developed and industrialised society) - Tạp chí quản lý của Malaysia, số 1 Xu hướng toàn cầu, thị trường và sự thay đổi công nghệ, thời gian của đề án phát triển NNL là những yếu tố ảnh hưởng đến chương trình phát triển NNL Những nhận thức đầy đủ về phát triển NNL được tác giả đưa ra và ông kết luận kế hoạch và sự đầu tư vào NNL là điều kiện sống còn

để duy trì sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia

Mối tương quan giữa phát triển NNL và CNH được Othman Yeop Abdullah

mô tả trong bài “Phát triển NNL vì sự nghiệp CNH” (Human Resource Development for Industrialization) Lấy minh chứng cụ thể từ trường hợp Malaysia, bài biết cho thấy CNH làm chuyển đổi cơ cấu nhân lực, phân tích những yếu tố cần thiết để có NNL đáp ứng yêu cầu CNH Mặc dù NNL có tầm quan trọng đối với nền kinh tế Malaysia nhưng nó vẫn còn yếu ớt trong lịch sử và hiện tại Giáo

Trang 23

dục và đào tạo nghề là những lĩnh vực cần thiết trong tiến trình phát triển NNL phục

vụ CNH Cuối cùng, ông đưa ra kết luận phát triển NNL là một hoạt động phức tạp

vì nó đòi hỏi một kế hoạch hoạt động rõ ràng giữa các tổ chức khác nhau và các ngành công nghiệp Và phát triển kinh tế là sự phát triển con người trên các khía cạnh tiềm năng, kỹ năng, khả năng, tháo vát và quyết tâm

Trong bài viết “Thuyết dựa vào nguồn lực và nguồn lực con người” (The Resource-based theory and human resources), Marta Fossas Olalla đưa ra những lập luận để lý giải tại sao NNL được coi là chiến lược Trong số những nguồn lực và năng lực, tác giả chú ý đến nguồn lực con người và những thuộc tính cốt yếu của con người như: kiến thức, kỹ năng, hiểu biết và tài năng Những nguồn lực và năng lực này có thể tạo thành một nguồn cho lợi thế cạnh tranh giữa các công ty Là một bài viết theo hướng kinh tế học, tài liệu nhắc đến việc quản lý NNL nhưng bắt đầu bằng việc xem lại lý thuyết dựa trên nguồn lực và sẽ chú ý đến tài sản vô hình bao gồm NNL Từ lý thuyết về NNL, các công ty cần nhận thức rằng nhân viên là một nguồn lực quan trọng mà công ty phải có chế độ đãi ngộ, huấn luyện, phát huy và phát triển

Musa Sabo Abdullahi với bài viết “Phát triển và sử dụng NNL: một công cụ phát triển kinh tế quốc gia” (Human Resource Development and Utilization: A Tool for National Economic Growth) đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội Địa Trung Hải (Tập 4, số 8, năm 2013) tập trung vào hệ thống giáo dục chất lượng, chuyên nghiệp

và phù hợp Tác giả khẳng định: Trong số những yếu tố ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế của quốc gia, đào tạo và phát triển NNL là một phần không thể thiếu Sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển và khả năng của NNL Dẫn chứng trường hợp điển hình ở Nigeria, bài viết chứng tỏ: Giáo dục như là con đường phổ biến nhất đưa người dân thoát khỏi cái nghèo Là những công nhân có kiến thức và tay nghề được đào tạo, họ có thể tìm được việc làm với mức lương cao

Năm 1997, tại Italy, Hội thảo về các tổ chức sử dụng LĐ ở khu vực châu Thái Bình Dương được Tổ chức LĐ quốc tế (ILO) tổ chức, quy tụ một số tham luận liên quan đến NNL Đáng chú ý trong số đó là tham luận “Phát triển NNL vì khả

Trang 24

Á-năng cạnh tranh: một ưu tiên cho nhà tuyển dụng” (Human resources development for competitiveness: a priority for employers) của Sriyan de Silva Tác giả tìm thấy mối liên hệ giữa NNL tri thức (knowledge workers) và kinh tế, cũng như tác động của NNL tri thức đến sự phát triển kinh tế quốc gia Phát triển NNL chịu ảnh hưởng của công nghệ, bao gồm cả các cuộc cách mạng thông tin và toàn cầu hóa đang tiếp diễn Từ những lý luận này, tác giả đưa ra những gợi ý cho người LĐ và cả người

sử dụng LĐ Người LĐ phải chú trọng giáo dục và đào tạo kỹ năng, coi đó là giải pháp hành động vì ngay cả trong nền kinh tế hoàn thiện, nếu thiếu đi sự đầu tư vào giáo dục và đào tạo thì nguy cơ thất nghiệp tăng cao Chiến lược phát triển NNL đòi hỏi chính phủ, người LĐ và người sử dụng LĐ phải chia sẻ trách nhiệm với nhau Cũng tại Hội thảo này, Peng Boo Tan góp phần với “Phát triển NNL vì nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng: kinh nghiệm Singapore năm 1997” (Human resource development for continued economic growth the Singapore experience 1997) Ai cũng biết cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bùng nổ năm 1997 – 1998 khiến hàng loạt quốc gia điêu đứng Singapore – một con rồng Châu Á đã vượt qua nhờ có chính sách phát triển NNL đúng đắn Bài viết đề cập đến 9 đặc trưng trong phát triển NNL của Singapore Ở phần kết luận, một mô tả ngắn về các giá trị của kinh nghiệm phát triển NNL của Singapore là sự đúc rút quý báu đối với các nước đang coi phát triển NNL ở Singapore là hình mẫu lý tưởng

Chủ đề NNL khá “sốt dẻo” thời gian gần đây dưới góc độ của các chuyên gia quản lý Nhiều nhà nghiên cứu mở rộng phạm vi và tích hợp các khái niệm về phát triển NNL bằng cách nhìn nó từ góc độ kinh tế xã hội và cho nó không gian rộng lớn hơn như: vật lý, trí tuệ, tâm lý, xã hội, chính trị, đạo đức và sự phát triển tinh thần Hai học giả người Pakistan Muhammad Tariq Khan, Naseer Ahmed Khan với bài viết “Khái niệm tổng hợp về phát triển NNL (Đề xuất mô hình mới cho phát triển NNL)” (Integrated concept of human resource development (Proposing new model for HRD)) đăng trên Tạp chí tâm lý học và kinh doanh Viễn Đông (từ trang

85 đến trang 96) đã tập hợp được khá đầy đủ các góc nhìn này Thể chất, trí tuệ, phát triển tâm lý phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế (tài chính) và ngược lại Phát triển chính trị và xã hội cũng phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế Do đó, phát

Trang 25

triển NNL trở nên đa chiều hơn Tác giả nhìn nhận sự phát triển NNL dưới góc độ kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và đưa ra cái nhìn tổng quát rằng: các quá trình của phát triển NNL như là chìa khóa để mở ra cánh cửa HĐH Trong phạm vi một bài báo, tác giả còn tổng hợp được những cuộc điều tra nghiên cứu về LĐ trưởng thành

ở nhiều nước như: Mỹ, Peru, Ghana… Qua đó, bài báo kết luận: giáo dục và văn hóa tạo nên cốt lõi của phát triển NNL

Phó Giáo sư Haslinda – khoa kinh tế và quản lý của trường ĐH Putra Malaysia trong bài “Thời kỳ bùng nổ của quản lý và phát triển NNL” (Evolving terms of human resource management and development) đăng trên tạp chí quốc tế Nghiên cứu Xã hội đã định nghĩa, so sánh và mối quan hệ giữa phát triển NNL và quản lý NNL Hai lĩnh vực này nổi lên và gây sự chú ý từ lúc nào, bắt nguồn từ đâu được tác giả tổng hợp từ nhiều ý kiến của các nhà khoa học Một số cho rằng nguồn gốc của phát triển NNL có thể được xem như bắt đầu từ Mỹ trong suốt giai đoạn cách mạng công nghiệp những năm 1880 Một số khác cho rằng trễ hơn, từ thế chiến II hoặc thập niên 50, 60

Lấy trường hợp điển cứu là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, các nhà khoa học Jie Ke, Thomas J Chermack, Yi-Hsuan Lee, Jie Lin góp một phần tiếng nói của mình vào cuốn sách “Những bước tiến trong phát triển NNL” với bài viết “Phát triển NNL quốc gia trong xã hội đang chuyển đổi ở các nước đang phát triển: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” (National Human Resource Development in Transitioning Societies in the Developing World: The People’s Republic of China)

Từ sau cải cách năm 1978, NNL Trung Hoa không thể theo kịp tốc độ phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Kết quả là, Trung Hoa phải xem xét lại các vấn đề trong phát triển NNL và tìm cách sáng tạo để giải quyết chúng Bài viết này xem xét bối cảnh lịch sử và bước chuyển nhận thức của Trung Hoa về vai trò của phát triển NNL Công tác phát triển NNL được sự kiểm tra, điều phối và giám sát chặt chẽ của Nhà nước Nhà nước còn khơi dậy và phát huy tiềm năng của NNL Tác giả đề cập đến chiến lược để đẩy mạnh sự đóng góp của phát triển NNL vào mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị ở Trung Quốc Điều này tạo ra khả năng

Trang 26

châm ngòi cho sự kết hợp giữa nền kinh tế đang bùng nổ của Trung Quốc và nhu cầu về phát triển NNL

Một số sách, bài nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế cho thấy NNL được cả thế giới quan tâm Có học giả tiến hành nghiên cứu, mổ xẻ một trường hợp cụ thể là NNL của một quốc gia nhưng cũng có học giả đi vào những cái chung về NNL và lấy ví dụ điển hình từ các quốc gia Các công trình này hầu hết đều đề cập đến vấn

đề mang tính lý luận liên quan đến NNL như: khái niệm NNL, mối quan hệ giữa phát triển NNL và phát triển kinh tế hay kinh nghiệm của vài nước thành công trong phát triển NNL Chính nhờ vậy, trên cơ sở những nghiên cứu của các học giả quốc

tế, luận án có cái nhìn toàn diện, không rơi vào tình trạng một chiều

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ở Việt Nam, có khá nhiều sách, công trình nghiên cứu, bài báo, tạp chí đề cập đến vấn đề phát triển NNL dưới nhiều phương diện Đa số được thể hiện trên phương diện kinh tế, một số trên phương diện triết học và một số trên phương diện giáo dục học, xã hội học Còn trên phương diện lịch sử, sự phát triển NNL ít khi được nhắc tới Và hầu như không có công trình nào nói về NNL ở An Giang trong lịch sử cũng như hiện tại

1.2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về nguồn nhân lực, công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trên phương diện lý luận về NNL, CNH, HĐH, nhiều cuốn sách phân tích khá sâu bản chất của con người, khái niệm NNL, phát triển NNL, CNH, HĐH theo khía cạnh triết học, kinh tế học, lý luận chính trị, xã hội học Trước hết phải nói đến cuốn sách ra đời từ khá sớm (năm 1990) “Bàn về chiến lược con người” (Viện thông tin khoa học kỹ thuật trung ương, Nxb Sự thật) Sách đưa ra định nghĩa con người, NNL và nhấn mạnh chiến lược con người như là một trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Những nội dung chính của chiến lược con người ở Việt Nam bao gồm: dân số, nguồn LĐ, giáo dục, đào tạo, cộng đồng kiều bào, nhân quyền

Trang 27

Phạm Minh Hạc với “Nghiên cứu con người và NNL đi vào CNH, HĐH” (Nxb Chính trị Quốc gia, 2001) Trong công trình này, tác giả định nghĩa một cách đầy đủ về NNL, phát triển con người Đặc biệt, tác giả đề cập đến phát triển con người bền vững “là phát triển các lực lượng bản chất của con người, phát triển các năng lực vật chất và năng lực tinh thần, nhân cách, trí tuệ, thể chất và tất cả thành tâm lực, trí lực, thể lực, tức nhân lực có hiệu quả cho cuộc sống” (Phạm Minh Hạc,

2001, tr.153) Cũng đưa ra quan niệm về nguồn lực con người, quan niệm về phát triển con người, cuốn sách “Nghiên cứu chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam” (Đặng Quốc Bảo (CB), Nxb Chính trị Quốc gia) có cách nhìn bao quát Không những vậy, công trình này còn hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện” (Nguyễn Hữu Công, Nxb Chính trị Quốc gia, 2010)… đã đúc kết quan niệm của Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện gồm phát triển thể lực, sức khỏe, phát triển về trí tuệ, phát triển, nâng cao năng lực thẩm mỹ, phát triển về mặt đạo đức Theo Hồ Chí Minh, con đường hình thành và phát triển con người toàn diện Việt Nam gồm: thông qua hoạt động và đấu tranh cách mạng, thông qua quá trình tham gia LĐ sản xuất, giáo dục, đào tạo toàn diện, sự tự giác rèn luyện và vươn lên của cá nhân

Vương Liêm trong “Về chiến lược con người ở Việt Nam” (Nxb LĐ, 2006) trình bày chi tiết về con người, về NNL và vai trò của NNL với sự tăng trưởng kinh

tế Theo đó, tác giả khẳng định chất lượng LĐ quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội Sự phát triển NNL theo sự tăng trưởng của dân số cần được kiềm chế và kiểm soát, còn phát triển về mặt chất lượng thì phụ thuộc chủ yếu vào giáo dục – đào tạo

“Khoa học con người và phát triển NNL” (Hồ Bá Thâm, Nxb Tổng hợp Tp

Hồ Chí Minh, 2003) đưa ra một cách nhìn toàn diện, toàn cục, đại cương trong việc nghiên cứu con người, nhân tài và NNL ở tầm triết học và khoa học Tác giả coi trọng việc nắm vững các khoa học về con người và phát huy cao nhất nhân tố con người, xây dựng NNL có chất lượng ngày càng cao Do đó, Việt Nam không nên coi nhẹ nghiên cứu khoa học cơ bản về con người để tránh cái nhìn thực dụng, thiển cận Lý luận về con người, NNL, nhân tài được tác giả minh biện chặt chẽ

Trang 28

Không chỉ các sách xuất bản nghiên cứu chiến lược, con đường phát triển NNL mà còn có nhiều công trình khoa học, hội nghị, hội thảo khoa học đề cập đến vấn đề này Để chuẩn bị những điều kiện cần thiết trước khi bước vào thế kỷ XXI, năm 1995, tại Hà Nội, trong khuôn khổ chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước, hội nghị khoa học quốc tế với chủ đề “Nghiên cứu con người, giáo dục, phát triển và thế kỷ XXI” được tổ chức Các vấn đề được trao đổi, thảo luận tại hội nghị phục vụ trực tiếp cho công cuộc xây dựng đất nước trong thế kỷ mới GS Trần Bạch Đằng rất tâm huyết với “Hành trang đi vào thế kỷ XXI” GS Trần Văn Giàu thì đề cập đến “Con người thế kỷ XXI” Bài “Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại các loại hình LĐ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện mới” của GS.TS Nguyễn Minh Đường đặt ra yêu cầu bức thiết đối với nguồn LĐ Việt Nam khi bước vào CNH, HĐH

Còn lý luận về CNH, HĐH và mối liên hệ giữa NNL và CNH, HĐH được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Ngay trước Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đại hội CNH, HĐH, Phạm Khiêm Ích, Nguyễn Đình Phan cho ra đời “CNH, HĐH ở Việt Nam và các nước trong khu vực” (Nxb Thống kê, 1995) Không chỉ định nghĩa CNH, HĐH , tác giả còn cho thấy sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam có lịch

sử lâu đời nhưng chưa mang lại kết quả thực sự Trong khi đó, các nước trong khu vực tiến hành CNH, HĐH khá thành công và đưa đất nước “hóa rồng” Những bài học CNH, HĐH được rút ra cùng với việc nhấn mạnh yếu tố làm nên thành công của CNH, HĐH là NNL Tương tự như vậy nhưng cách tiếp cận mới hơn, sau khi Việt Nam có những bước đi đầu tiên trên con đường CNH, HĐH, Lê Bàn Thạch, Trần Thị Tri xuất bản “CNH, HĐH ở NIE Đông Á và kinh nghiệm đối với Việt Nam” (Nxb Thế giới, 2000)

Năm 1996, Ngô Đình Giao chủ biên cuốn “Suy nghĩ về CNH, HĐH ở nước ta” (Nxb Chính trị Quốc gia) nghiên cứu những vấn đề chung như quan niệm về CNH, HĐH, mục tiêu và nhiệm vụ của CNH, HĐH, bước đi, điều kiện và biện pháp của CNH, HĐH Thực trạng và phương hướng phát triển của quá trình CNH, các biện pháp phát triển công nghệ, việc huy động, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình CNH, HĐH được phân tích trong công trình này

Trang 29

Trong “Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong nền CNH, HĐH” (Nxb Chính trị Quốc gia, 2001), Phạm Tất Dong lập luận sắc bén về CNH, HĐH và việc xây dựng NNL trí tuệ Trên cơ sở phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước khi tiến hành CNH, tác giả đặt ra yêu cầu đối với CNH, HĐH ở Việt Nam CNH là một quá trình lâu dài, đầy khó khăn, phức tạp Vấn đề trung tâm của CNH

là chuyển giao công nghệ và CNH không phải là mục đích tự thân

“CNH, HĐH ở Việt Nam: lý luận và thực tiễn” do Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, 2002) tập hợp những nghiên cứu khá sâu về CNH, HĐH và mối quan hệ giữa CNH, HĐH với phát triển con người và tạo NNL; với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; với phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và với sự nghiệp phát triển giáo dục và khoa học - công nghệ Công trình ủng hộ mô hình CNH hỗn hợp (kết hợp giữa thay thế nhập khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu) theo hướng hội nhập quốc tế, vạch ra những đặc điểm mới trong CNH, HĐH ở Việt Nam so với trước đây Tác giả đặt nguồn lực con người trong so sánh với các nguồn lực khác và ở mức độ chi phối của nó đến sự thành, bại của CNH, HĐH và khẳng định nguồn lực con người là yếu tố quyết định

sự nghiệp CNH, HĐH Vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp CNH, HĐH được khẳng định chắc chắn Nếu muốn đưa Việt Nam thành một nước công nghiệp, chúng ta không còn con đường nào khác là phải phát huy và sử dụng đúng đắn nguồn lực con người “Vấn đề tạo nguồn lực tiến hành CNH, HĐH” do Vũ Hy Chương chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, 2002) cũng tìm tòi bản chất của CNH, HĐH ở Việt Nam thời hiện đại Công trình phân tích đặc điểm tiến hành CNH, HĐH, các nguồn lực cần được huy động cho thực hiện CNH, HĐH và đặc điểm của từng loại nguồn lực Sau đó, khả năng khai thác và huy động các nguồn lực phục vụ CNH, HĐH, trong đó có NNL được xem xét cặn kẽ

CNH, HĐH có nhiều cách hiểu khác nhau và nhiều con đường thực hiện khác nhau “Những quan niệm khác nhau về CNH, HĐH và đặc điểm, nội dung CNH, HĐH ở Việt Nam” (của Nguyễn Thanh, Nguyễn Văn Hà, Vũ Anh Tuấn, Nxb Thống kê – chi nhánh Tp Hồ Chí Minh, 2004) tập hợp tất cả các quan niệm

ấy Công trình giới thiệu một cách khái quát quá trình hình thành và phát triển quan

Trang 30

điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNH, HĐH trên mọi lĩnh vực theo hai thời kỳ: trước đổi mới và sau đổi mới Giống như nhiều công trình khác, sách giới thiệu kinh nghiệm CNH, HĐH của một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan Qua đó, các tác giả đề xuất một số phương hướng và giải pháp cho việc phát triển CNH, HĐH Việt Nam cho đến năm 2010 Năm 2010, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản ấn phẩm “Văn kiện Đảng về CNH, HĐH” cho chúng ta cái nhìn đầy đủ về CNH, HĐH thông qua Nghị quyết của Bộ Chính trị, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, Cương lĩnh xây dựng đất nước…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về CNH, HĐH đều coi mô hình CNH

ở Việt Nam là sự kế thừa kinh nghiệm của mô hình thành công của các nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là các nước gần gũi, có xuất phát điểm thấp như Việt Nam Hầu hết các tác giả đều cho rằng, CNH, HĐH ở Việt Nam về thực chất là quá trình chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp và tiếp cận kinh tế tri thức; đồng thời là quá trình chuyển từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại CNH, HĐH ở Việt Nam có những đặc điểm riêng, sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của đất nước Đặc biệt, CNH, HĐH có mối liên hệ mật thiết với phát triển NNL

Các công trình nghiên cứu đề cập trên đây góp phần giúp luận án nắm vững

lý luận về NNL, phát triển NNL, CNH, HĐH và vai trò của NNL đối với quá trình CNH, HĐH Những quan điểm, học thuyết được rút ra từ các công trình này là một nền tảng quan trọng, tạo tiền đề cho nghiên cứu một trường hợp cụ thể về phát triển NNL Do đó, luận án kế thừa những công trình đi trước để có cách nhìn toàn diện

và đầy đủ nhất về lý thuyết, từ đó có thể áp dụng vào thực tế phát triển NNL của tỉnh An Giang

1.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực ở các nước và Việt Nam

Một yếu tố mà hầu hết các nước đều chú trọng đến khi bước vào CNH, HĐH

là NNL Các học giả Việt Nam nghiên cứu các mô hình phát triển NNL thành công rực rỡ của khu vực và quốc tế nhằm tạo động lực thúc đẩy kinh tế phát triển như nghiên cứu những gương sáng, điển hình để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt

Trang 31

Nam khi tiến hành CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Có nhiều công trình có thể coi

là tiêu biểu cho khuynh hướng nhìn nước ngoài để phát triển Việt Nam, vận dụng kinh nghiệm nước ngoài sao cho phù hợp với thực tiễn đất nước

“Phát triển NNL – kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” của Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm do Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm 1996 Sách không trình bày tất cả nội dung tổng quát của phát triển NNL mà tập trung nhiều vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo – yếu tố quyết định để nâng cao chất lượng NNL Cuốn sách bước đầu giới thiệu khái quát về vai trò NNL trong nền kinh tế đổi mới và kinh nghiệm phát triển NNL ở khía cạnh phát triển giáo dục của một số nước trên thế giới, đồng thời nêu lên chính sách phát triển NNL ở khía cạnh phát triển giáo dục của Việt Nam

Cuốn sách “Phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo – kinh nghiệm Đông Á” của Lê Thị Ái Lâm do Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 2003 Cuốn sách gồm 3 phần Phần 1 là một số luận giải lý thuyết về phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo Phần 2 nêu ra thực tiễn Đông Á như: vai trò phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo ở Đông Á, chiến lược CNH và sự phù hợp lẫn nhau với phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo Đáng quý ở phần 2 là tác giả đặt

ra vấn đề và giải pháp hiện nay của phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo Đông Á Từ thực tiễn của các nước trong khu vực Đông Á, những bài học kinh nghiệm được rút ra trong phần 3 để áp dụng cho Việt Nam Với những bài học này, Việt Nam cần lưu ý bối cảnh phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo, cả bối cảnh quốc tế và trong nước Tác giả làm phép so sánh nét tương đồng và khác biệt bối cảnh phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo ở Đông Á và Việt Nam

Vũ Bá Thể với cuốn “Phát huy nguồn lực con người để CNH, HĐH – kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” (Nxb LĐ – xã hội, 2005) Cuốn sách được chia thành 3 chương Chương 1 nói đến các vấn đề lý luận và kinh nghiệm một số nước trong việc phát huy nguồn lực con người để phát triển kinh tế Chương 2 làm

rõ thực trạng số lượng và chất lượng NNL Việt Nam, trong đó tập trung phân tích những ưu điểm, hạn chế và xu hướng phát triển của NNL Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội đất nước, rút ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của

Trang 32

chúng Ở chương 3, tác giả nêu một số giải pháp nhằm phát triển NNL để CNH, HĐH đến năm 2020 gồm: phát triển giáo dục phổ thông, phát triển giáo dục CĐ,

ĐH và trên ĐH, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng NNL hiện có, phương hướng và giải pháp nâng cao trạng thái sức khỏe NNL

“Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, KH&CN gắn với xây dựng đội ngũ trí thức” của Viện khoa học giáo dục Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010) Chuyên khảo tập trung phân tích kinh nghiệm của các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa liên bang Đức là những nước phát triển hiện đại, có trình độ khoa học kỹ thuật cao và có quá trình CNH, HĐH lâu dài; Hàn Quốc và Singapore là những nước công nghiệp mới, từ một trình độ kinh tế, khoa học kỹ thuật lạc hậu vài chục năm trước đây đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành những nước phát triển mới… Trên cơ sở kinh nghiệm đúc kết của các nước về phát triển giáo dục và đào tạo, KH&CN, tác giả đã liên hệ với Việt Nam Việc xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam có nhiều thành tựu nhưng vẫn còn nhiều bất cập, khuyết điểm Tác giả chỉ ra nguyên nhân của những bất cập, khuyết điểm này Phát triển giáo dục, đào tạo NNL chất lượng cao, phát triển KH&CN gắn với xây dựng đội ngũ trí thức được tác giả nhắc đến với những thành tựu đáng ghi nhận sau 20 năm đổi mới và một số mặt hạn chế mà Việt Nam chưa khắc phục được

Các mô hình phát triển NNL được các tác giả quan tâm nhất là mô hình của các nước lân cận Việt Nam, chẳng hạn như Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản… Trong đó, cách phát triển NNL của Nhật Bản được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu nhất Có thể kể đến như: Lưu Ngọc Trịnh chứng minh “Chiến lược con người trong “thần kỳ” kinh tế Nhật Bản” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997), Lưu Ngọc Trịnh xuất bản “Trước thềm thế kỷ XXI, Nhìn lại mô hình Nhật Bản” (Nxb Thống kê, Hà Nội, 2001), “Giáo dục phổ thông với phát triển chất lượng NNL – Những bài học thực tiễn từ Nhật Bản” (Đặng Thị Thanh Huyền, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001), “Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI – kinh nghiệm của các quốc gia” (Nhiều tác giả, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002), “Cải cách giáo dục ở các nước phát triển – Cải cách giáo dục ở Nhật Bản và Ôxtrâylia” (Lữ Đạt, Chu Mãn Sinh (CB), Nxb Giáo dục Việt Nam)… Nghiên cứu

Trang 33

phát triển NNL của các nước trong lịch sử nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho phát triển NNL của Việt Nam hoặc cho bất kỳ tỉnh, thành nào của Việt Nam

Từ những công trình trên, ta nhận thấy: để phát triển NNL đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước bền vững, các nước tập trung đầu tư vào hai lĩnh vực là giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ Chúng ta đang sống trong thời đại khoa học công nghệ phát triển với tốc độ chóng mặt Vì vậy, NNL cũng phải phát triển kịp, đặc biệt là về chất lượng để nắm bắt và vận dụng vào thực tiễn Những quốc gia được các tác giả khảo cứu đều quan tâm, chăm lo cho NNL, sử dụng hợp lý và có hiệu quả nên kết quả tất yếu là NNL của họ làm chủ kỷ nguyên mới, làm chủ kiến thức mới của nhân loại Từ các công trình này, luận án kế thừa được tư duy và cách thức phát triển NNL của các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, các công trình này chưa làm sáng tỏ quá trình phát triển NNL của các nước theo tiến trình lịch sử, từ lúc mới bắt tay phát triển NNL cho đến giai đoạn hiện nay nên luận án tiếp tục xâu chuỗi để tạo thành một quá trình phát triển NNL

Tìm hiểu trực tiếp về NNL ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đều nêu lên thực trạng NNL với những thành tựu và hạn chế Sau cùng, các sách đưa ra những đề xuất, giải pháp để phát triển NNL ngày càng tốt hơn Có thể kể đến Đoàn Văn Khái với “Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam” (Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005) Về mặt lý luận, tác giả làm rõ vai trò của nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH Tác giả khẳng định nguồn lực con người là yếu

tố quyết định sự nghiệp CNH, HĐH, con người là nguồn lực của mọi nguồn lực Tuy nhiên, vai trò quyết định của nguồn lực con người không phải là sức mạnh cơ bắp mà chủ yếu là ở sức mạnh trí tuệ Tác giả dành hẳn chương 3 nêu bật thực trạng nguồn lực con người Việt Nam về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn lực con người và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu CNH, HĐH Đồng thời các nhóm giải pháp căn bản cũng được đưa ra nhằm khai thác và phát triển có hiệu quả nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam

Hay Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Văn Áng đứng ra chủ biên cuốn “Các giải pháp cơ bản gắn đào tạo với sử dụng NNL trong thời kỳ CNH, HĐH ở Việt Nam”

Trang 34

(Nxb Nông nghiệp, 2007) Cuốn sách là kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp

bộ do Viện Nghiên cứu kinh tế và phát triển – Trường ĐH kinh tế quốc dân thực hiện năm 2005 Đào tạo và sử dụng NNL là hai mảng cần phải gắn kết với nhau chặt chẽ Tuy nhiên, phương thức gắn kết cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước lại có những điểm khác nhau Bên cạnh các vấn đề mang tính lý luận, tác giả nhấn mạnh thực trạng của việc gắn kết đào tạo với sử dụng NNL trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, xoay quanh các ý: sự phù hợp giữa cơ cấu đào tạo và

cơ cấu sử dụng, sự gắn kết giữa đào tạo với sử dụng thông qua sự tham gia của người sử dụng vào quá trình đào tạo, những vấn đề bức xúc trong việc gắn đào tạo với sử dụng NNL được đào tạo Từ những bất cập trong gắn đào tạo với sử dụng NNL, tác giả đã đúc rút và luận giải 5 quan điểm cần quán triệt khi đề xuất các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng Ở phần thứ 3 của sách, tác giả đưa ra giải pháp gắn đào tạo với sử dụng NNL đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 Trong đó, tác giả đưa ra những giải pháp ở cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô đối với cấp đào tạo CĐ, ĐH và đối với ngành đào tạo nghề

Trên cơ sở phân tích khá sâu cả hai mặt lý luận và thực tiễn, một số cuốn sách chú trọng nhiều đến NNL chất lượng cao, NNL trí tuệ như: “Phát triển NNL phục vụ CNH, HĐH đất nước” (Nguyễn Thanh, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996),

“Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” (Bùi Thị Ngọc Lan, Nxb Chính trị Quốc gia, 2002), “Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển NNL” (Nhiều tác giả, Nxb Giáo dục, 2002), “Nhân tài trong chiến lược quốc gia” (Nguyễn Đắc Hưng, Phan Xuân Dũng, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004), “Phát triển kinh tế tri thức đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam” (Nguyễn Kế Tuấn (CB), Nxb Chính trị Quốc gia, 2004), “Giáo dục và phát triển NNL trong thế

kỷ XXI” (Trần Khánh Đức, Nxb Giáo dục, 2010)… Đa số các công trình được xuất bản những năm đầu thế kỷ XXI – khi vấn đề NNL trở thành vấn đề quan tâm số 1

để phát triển đất nước Các tác giả tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và bằng nhiều phương pháp khác nhau giúp người đọc hiểu về NNL một cách đa chiều

Nhiều nhà khoa học đã đăng ký các đề tài liên quan đến NNL và nghiệm thu đạt kết quả tốt Năm 1996, Phạm Minh Hạc hoàn thành đề tài “Phát triển giáo dục,

Trang 35

phát triển con người phục vụ phát triển xã hội – kinh tế” (thuộc Chương trình công nghệ cấp Nhà nước KX-07) Công trình mang tính định hướng để các nhà quản lý, nhà nghiên cứu tham khảo nhằm đưa đất nước chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH Năm 1999, Đỗ Trọng Hùng hoàn tất đề tài “NNL trong nước, đánh giá thực trạng và dự báo” (thuộc Chương trình khoa học xã hội cấp Nhà nước KHXH-02) Đề tài đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng NNL Việt Nam trước khi bước vào thế kỷ XXI và dự báo xu hướng phát triển của NNL Việt Nam Nghiên cứu về việc chuẩn bị NNL đủ mạnh để xây dựng đất nước, năm 2002, Hoàng Thị Thành (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) bảo vệ đề tài cấp Bộ “Một số định hướng chuẩn bị NNL đáp ứng yêu cầu từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI” Đề tài chú tâm vào đối tượng là NNL chất lượng cao, tay nghề giỏi để Việt Nam có thể hội nhập với thế giới trong kỷ nguyên công nghệ Bên cạnh đó, đề tài dẫn giải một số giải pháp mang tính định hướng giúp NNL phát triển kịp với sự tăng trưởng của nền kinh tế

Nhiều luận án TS kinh tế, TS triết học đã nghiên cứu sâu về NNL trong quá trình CNH, HĐH đất nước dưới nhiều khía cạnh như: vai trò của nhà nước chi phối NNL, hay nghiên cứu khía cạnh sử dụng NNL, hay nghiên cứu về chất lượng NNL Đó là các luận án: “Vai trò Nhà nước trong việc tạo tiền đề NNL cho CNH – HĐH” (Hà Quý Tình, Luận án TS kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), “Sử dụng NNL trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta” (Trần Kim Hải, Luận

án TS kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1999), “Nâng cao chất lượng NNL tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam” (Lê Thị Ngân, Luận án TS kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004), “Giáo dục – đào tạo với việc phát triển NNL chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” (Lương Công Lý, Luận án TS triết học, Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2014)

Để có thể nắm vững về NNL ở tỉnh An Giang, nhất thiết phải nắm rõ về NNL ở quy mô rộng hơn, là tầm quốc gia Những công trình trên đây tạo tiền đề cần thiết để luận án hiểu sâu về giáo dục, đào tạo và sử dụng NNL ở Việt Nam cũng như những biện pháp để phát triển NNL tốt hơn Mặc dù vậy, luận án cần có cái

Trang 36

nhìn tổng quan bức tranh toàn cảnh về phát triển NNL ở Việt Nam để có thể có cái nhìn quy chiếu vào bức tranh phát triển của NNL ở tỉnh An Giang

Lý luận về NNL, phát triển NNL ở các nước trên thế giới, thực tiễn về NNL

ở Việt Nam được hàng loạt tạp chí đăng tải những bài nghiên cứu ngắn và sâu Các bài nghiên cứu trên tạp chí Phát triển giáo dục, tạp chí Cộng sản, tạp chí Lý luận chính trị, tạp chí Nghiên cứu con người, tạp chí Khoa học xã hội, tạp chí LĐ và

xã hội, tạp chí Thông tin lý luận, tạp chí Phát triển kinh tế… nhận diện thực trạng NNL nước nhà và vạch ra con đường phát triển NNL trong tương lai Những bài viết trên các tạp chí súc tích, đi vào trọng tâm của vấn đề NNL và giải quyết một khía cạnh nhất định Qua đây ta thấy, NNL được khai thác đa dạng, phong phú dưới nhiều góc độ, ở nhiều thể loại tạp chí, từ kinh tế cho đến triết học, chính trị, từ giáo dục cho đến LĐ

1.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực ở các vùng, các địa phương

Các vùng, các địa phương trong cả nước hết sức quan tâm phát triển NNL đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH Do vậy, chưa kể đến các bài viết trên tạp chí, các sách, công trình nghiên cứu, luận án… đề cập về NNL vùng ĐBSCL, Tây Nguyên, duyên hải miền Trung hay các tỉnh, thành khá nhiều Liên quan đến NNL khu vực ĐBSCL có thể tham khảo cuốn sách “ĐBSCL – hội nhập và phát triển” (Nguyễn Thế Nghĩa, Bùi Quang Huy, Lê Thế Đạt (Đồng chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, 2005), tập hợp nhiều bài viết của các nhà khoa học Trong đó, đáng lưu tâm là bài viết “Đào tạo, nâng cao chất lượng NNL cho vùng ĐBSCL” của Trần Kim Dung,

“Vấn đề dạy nghề trong chiến lược phát triển NNL ở vùng ĐBSCL” của Nguyễn Kim Nương, “Tăng cường công tác đào tạo NNL cho vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH” của Trần Hùng Phi hay bài “Một số giải pháp phát triển NNL ở ĐBSCL” của Huỳnh Thị Gấm… Các tác giả đưa ra cái nhìn bao quát về NNL vùng Tây Nam Bộ, không phân tích sâu từng tỉnh

Đề tài nghiên cứu cấp Viện của Phạm Ngọc Đỉnh “Thực trạng NNL khoa học xã hội vùng ĐBSCL” (Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Tp Hồ Chí Minh, 2006) đã nêu bật số lượng, chất lượng NNL khoa học xã hội và những đóng góp của

Trang 37

đội ngũ này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL Sự phân bố NNL khoa học xã hội chất lượng cao theo cơ cấu ngành và cơ cấu vùng đều còn nhiều bất cập, tập trung ở các đô thị phát triển và nhiều nhất là trong ngành giáo dục

Một số nghiên cứu sinh không nghiên cứu NNL ở quy mô cả nước mà nghiên cứu kỹ vấn đề phát triển NNL ở vùng này, vùng kia hoặc ở một địa phương, tỉnh thành nhất định làm đề tài cho luận án TS Điển hình là ở vùng Tây Nguyên, vùng ĐBSCL như: “Một số giải pháp phát triển NNL vùng ĐBSCL theo hướng CNH, HĐH đến năm 2010” (Nguyễn Đình Luận, Luận án TS kinh tế, Trường ĐH kinh tế Tp Hồ Chí Minh, 2003), “Phát triển NNL vùng ĐBSCL đến năm 2020” (Bùi Thị Thanh, Luận án TS Kinh tế, Trường ĐH Kinh tế Tp.HCM, 2005), “Phát triển NNL cho sự nghiệp CNH, HĐH ở Tây Nguyên” (Lê Văn Thanh, Luận án TS Triết học, Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Tp Hồ Chí Minh, 2007), “Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường CĐ nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực vùng ĐBSCL” (Nguyễn Mỹ Loan, Luận án TS khoa học giáo dục, Viện khoa học giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2014) … Các luận án dù được tiếp cận dưới góc độ kinh tế học hay triết học hay giáo dục học đều cho ta thấy thực trạng NNL ở các vùng cũng như việc đào tạo, sử dụng NNL như thế nào

Đặc biệt, bị coi là “vùng trũng” về giáo dục, ĐBSCL được nhiều người chú ý nghiên cứu Luận án của Bùi Thị Thanh vạch ra 4 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tồn tại trong quá trình phát triển NNL ĐBSCL và đề xuất 5 nhóm giải pháp

để phát triển NNL vùng ĐBSCL Hoặc luận án của Nguyễn Mỹ Loan liên quan đến NNL qua đào tạo nghề ở ĐBSCL Luận án nhấn mạnh vai trò của trường CĐ nghề, của đội ngũ giảng viên dạy nghề trong đào tạo nhân lực và phát triển kinh tế xã hội của vùng, thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giảng viên ở các trường CĐ nghề vùng ĐBSCL Sau đó, phương hướng phát triển dạy nghề, phát triển trường CĐ nghề và đội ngũ giảng viên CĐ nghề vùng ĐBSCL đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 được đề xuất

Hai thành phố lớn ở miền Trung là Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế được nghiên cứu sinh chọn làm địa bàn nghiên cứu Dương Anh Hoàng với “Phát triển NNL

Trang 38

phục vụ CNH, HĐH ở Đà Nẵng” (Luận án TS Triết học, Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ, Tp Hồ Chí Minh, 2008) Luận án đề cập đến những đặc điểm chủ yếu của CNH, HĐH ở Đà Nẵng và vấn đề phát triển NNL ở thành phố này Từ cái nhìn tổng thể ấy, luận án đưa ra quan điểm và giải pháp định hướng phát triển NNL cho CNH, HĐH ở Đà Nẵng Hà Thị Hằng với “NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay” (Luận án TS kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2013) Luận án mô tả một cách toàn diện thực trạng NNL cho CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Thừa Thiên Huế và đưa ra những đánh giá chung Luận án đưa 6 quan điểm

về phát triển NNL cho CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức ở tỉnh Thừa Thiên Huế

và đề xuất thực hiện đồng bộ 3 nhóm giải pháp lớn để phát triển NNL đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh này đến năm 2020

Từ những công trình về NNL ở ĐBSCL, ta tìm thấy mối liên hệ với NNL ở

An Giang, đặt NNL An Giang trong bức tranh tổng thể ấy Nhưng các công trình này chỉ dừng lại ở cái chung, chưa đi vào chi tiết, cụ thể NNL tỉnh An Giang Còn NNL ở một địa phương cụ thể cho ta cái nhìn đối sánh vì mỗi địa phương sẽ có những đặc thù riêng nên phát triển NNL của mỗi nơi cũng sẽ khác nhau

1.2.4 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực ở An Giang

Có thể khẳng định rằng: đến thời điểm này, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể về NNL ở An Giang Tổng kết các giai đoạn xây dựng và phát triển của tỉnh được thể hiện trong “Địa chí An Giang” phần nào cho biết về tình hình dân số, kinh tế, giáo dục, LĐ của tỉnh Ngoài ra, chưa có cuốn sách nào được xuất bản liên quan đến NNL ở An Giang

Sở KH&CN An Giang phát huy vai trò của Sở với việc triển khai các đề tài khoa học phục vụ phát triển khoa học kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, xã hội hàng năm Trong số đó, có một số đề tài liên quan đến NNL của tỉnh Năm 2008, Phạm Xuân Hậu báo cáo đề tài “Nghiên cứu xây dựng mạng lưới cơ sở giáo dục đào tạo tỉnh An Giang giai đoạn 2008-2015 và định hướng phát triển đến năm 2020” Đề tài nghiên cứu những yếu tố hiện trạng ảnh hưởng đến giáo dục – đào tạo của tỉnh An Giang

Trang 39

như đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, NNL Đề tài tổng kết những mặt mạnh và yếu của mạng lưới giáo dục đào tạo và dạy nghề tỉnh An Giang và đưa ra kết quả khảo sát trước khi thực hiện quy hoạch Trên cơ sở đó, đề tài xác định những định hướng cơ bản về việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục - đào tạo tỉnh

An Giang giai đoạn 2008-2015 và định hướng đến năm 2020, đề xuất hệ thống giải pháp và biện pháp thực hiện mục tiêu quy hoạch Đề tài này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu để xây dựng mạng lưới cơ sở giáo dục đào tạo của tỉnh An Giang trong một giai đoạn ngắn mà chưa đi vào thực trạng giáo dục – đào tạo NNL của tỉnh

Nguyễn Thanh Đồng với “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề tỉnh An Giang” (năm 2011) đã điều tra, đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề, nhu cầu sử dụng LĐ của tỉnh An Giang trong vài năm trở lại, những năm 2008, 2009, 2010 Đề tài đưa ra phiếu khảo sát, bảng hỏi để đánh giá chất lượng đào tạo thông qua thực trạng được đào tạo tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh, đánh giá chất lượng thông qua các chủ doanh nghiệp, người sử dụng LĐ Qua

đó, đề tài phát hiện những mặt mạnh, yếu về cơ sở vật chất, máy móc trang thiết bị dạy nghề, số lượng, trình độ của đội ngũ cán bộ giảng dạy cũng như trình độ quản

lý của từng cơ sở dạy nghề, về chất lượng của công tác đào tạo nghề, yêu cầu về số lượng trong từng ngành nghề đối với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đề tài đề xuất các giải pháp khoa học khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề tỉnh An Giang Luận án tiếp thu một phần kết quả điều tra công tác đào tạo nghề tỉnh An Giang qua công trình này Nhưng tác giả mới chỉ đề cập đến đào tạo nghề trong thời điểm những năm 2008-2010 còn trước đó thế nào thì không

đề cập đến Luận án sẽ tiếp tục làm sáng tỏ quá trình phát triển đào tạo nghề của tỉnh

“Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer, Chăm tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015 và đến năm 2020” do Võ Công Nguyện làm chủ nhiệm

đề tài (2011) phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer, Chăm ở An Giang Đề tài đề cập đến đặc điểm dân số, NNL của vùng đồng bào dân tộc Chăm, Khmer Thực trạng giáo dục, tình hình LĐ việc làm ở vùng đồng bào dân tộc Chăm, Khmer ở An Giang cũng được điểm qua với

Trang 40

nhiều đặc thù Tuy nhiên, công trình chỉ mới nhắc qua về trình độ học vấn, việc làm của 2 tộc người này trong bức tranh kinh tế - xã hội của tỉnh mà chưa đề cập đến tổng thể NNL An Giang

Tỉnh An Giang và một số cơ quan tổ chức các cuộc hội thảo nhằm thúc đẩy

sự phát triển của tỉnh trên cơ sở tập hợp những nghiên cứu của các nhà khoa học Năm 2011, Trường ĐH An Giang tổ chức hội thảo khoa học chủ đề “Nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ” Tại hội thảo, một số bài viết

có nhắc đến NNL khoa học công nghệ - NNL chất lượng cao của tỉnh như: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong ĐH An Giang” của Nguyễn Thị Lan Phương, hay “Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học góp phần đào tạo NNL chất lượng cao” của Nguyễn Quốc Nghi

“20 năm Phát triển kinh tế - xã hội vùng Tứ giác Long Xuyên” là hội thảo

An Giang đăng cai tổ chức năm 2012 Những vấn đề kinh tế - xã hội của 4 tỉnh thuộc Tứ giác Long Xuyên được phân tích, trình bày trong hội thảo Một số tham luận có đề cập đến NNL An Giang như: “An Giang phát triển NNL phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới” (Lê Minh Tùng), “Trường ĐH An Giang tăng cường năng lực đào tạo NNL cho tỉnh An Giang và các tỉnh khác ở ĐBSCL” (Võ Văn Thắng và Mai Ngọc Đức), “Chất lượng NNL - Một thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng Tứ giác Long Xuyên” (Nguyễn Kim Nương)

Để làm rõ nhiều vấn đề liên quan đến việc phát triển NNL của tỉnh An Giang, năm 2013, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh An Giang phối hợp với Trường ĐH An Giang, Sở KH&CN An Giang tổ chức Hội thảo khoa học chủ đề: “Phát triển NNL tỉnh An Giang và ĐBSCL: Thách thức và giải pháp” Điều này cho thấy tỉnh ý thức ngày càng nhiều về tầm quan trọng của NNL đối với tỉnh cũng như đối với khu vực Hội thảo quy tụ hơn 40 bài viết của các nhà khoa học, các nhà quản lý Đây là tư liệu tốt để tham khảo khi nghiên cứu về quá trình phát triển NNL

ở tỉnh An Giang nói riêng và ĐBSCL nói chung

Các luận án TS nghiên cứu về An Giang chưa nhiều, trên lĩnh vực kinh tế thời Pháp thuộc có “Tình hình kinh tế An Giang thời Pháp thuộc (1867-1929)” của

Ngày đăng: 18/06/2021, 09:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w