Để lưu giữ những giá trị tinh thần của dân tộc, nhiều nhà nghiên cứu,nhiều học giả Việt Nam ở trong và ngoài nước đã dày công nghiên cứu, biênkhảo những công trình về lịch sử giáo dục kh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN NHƯ TIN
V¡N HãA KHOA Cö THêI TRUNG §¹I QUA MéT Sè T¸C PHÈM V¡N XU¤I Tù Sù VIÖT NAM GIAI §O¹N 1930 - 1945
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2012
Trang 2Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôicòn nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của thầy giáo Phan Huy Dũng,
sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và sự động viênkhích lệ của gia đình và bạn bè
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáohướng dẫn và xin gửi đến các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp lời cảm ơnchân thành nhất
Vinh, tháng 10 năm 2012Nguyễn Như Tin
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM - NGUỒN CẢM HỨNG LỚN TRONG VĂN XUÔI TỰ SỰ 1930 - 1945 6
1.1 Những tình huống sáng tạo đặc thù của văn học Việt Nam 1930 -1945 6
1.1.1 Công cuộc hiện đại hóa nền văn học đang được đẩy mạnh 6
1.1.2 Yêu cầu khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc trở nên bức thiết 11
1.1.3 Vấn đề tự nhận thức về phương diện văn hóa nhằm hướng tới hội nhập trở thành nhu cầu thường trực 13
1.2 Cảm hứng về văn hóa truyền thống Việt Nam trong văn xuôi tự sự 1930 -1945 16
1.2.1 Các sự kiện, nhân vật lịch sử với tư cách những thành tố của văn hóa được làm sống dậy 16
1.2.2 Những biểu hiện muôn mặt của đời sống vật chất và tinh thần xưa được phục hiện 20
1.2.3 Những tính cách dân tộc được nhận thức 23
Trang 41.3 Văn hóa khoa cử thời trung đại - một đề tài giàu ý nghĩa của
văn xuôi tự sự 1930 - 1945 27
Trang 5văn hóa khoa cử 31
1.3.3 Nhìn chung về tính đa dạng của cách thể hiện đề tài văn hóa khoa cử 33
Chương 2 NHỮNG GÓC ĐỘ TIẾP CẬN VĂN HÓA KHOA CỬ THỜI TRUNG ĐẠI TRONG VĂN XUÔI TỰ SỰ 1930 - 1945 37
2.1 Xem văn hóa khoa cử như một truyền thống tốt đẹp phải giữ gìn 37
2.1.1 Tái hiện cái đẹp của đời sống coi trọng chữ 37
2.1.2 Phục dựng chế độ tuyển chọn hiền tài khắt khe, quy củ 44
2.1.3 Ca ngợi những nhân cách kẻ sĩ 51
2.2 Nhìn văn hóa khoa cử như một hệ thống lỗi thời 55
2.2.1 Vạch trần những tệ lậu của chế độ giáo dục - thi cử 55
2.2.2 Phê phán tâm lý háo danh 62
2.2.3 Chia sẻ tâm sự của những nho sinh “nổi loạn” 67
2.3 Tiếp cận văn hóa khoa cử để chuyển vị cảm giác thẩm mỹ .73 2.3.1 Đi tìm cái đẹp thuần túy của “ta” để đối chọi với cái lai căng73 2.3.2 Đi tìm những giá trị tinh thần để đối trọng với xã hội kim tiền78 2.3.3 Xây dựng một “mỹ học hoài cựu” để khẳng định cá tính sáng tạo 82
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN VĂN HÓA KHOA CỬ THỜI TRUNG ĐẠI TRONG VĂN XUÔI TỰ SỰ 1930 - 1945 87
3.1 Kết hợp óc tưởng tượng phong phú với tinh thần khảo cứu công phu 87
3.1.1 Biểu hiện của sự kết hợp 87
3.1.2 Ý nghĩa của sự kết hợp 91
Trang 63.1.3 Các phương thức kết hợp 94 3.2 Yếu tố tự truyện 98
Trang 73.2.3 Những độ gián cách khác nhau giữa tác giả và thực tại trong tác
phẩm 104 3.3 Vấn đề xử lý ngôn ngữ 106 3.3.1 Phục sinh lớp từ cổ 106 3.3.2 Đan xen giữa ngôn ngữ của bản thân sự kiện và ngôn ngữ
đánh giá sự kiện 108 3.3.3 Trang trọng, u hoài và giễu nhại trong hình thức ngôn ngữ110 KẾT LUẬN 114 TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chế độ khoa cử Việt Nam gắn liền với sự phát triển của lịch sử dân tộctrong suốt gần một nghìn năm qua Bất cứ triều đại phong kiến nào muốn kén
chọn người tài giúp nước đều dùng đến khoa cử Trong Bài kí Đề danh tiến sĩ
khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba, tiến sĩ Thân Nhân Trung đã viết:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồilên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấngthánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn
kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên” Như vậy khoa cử có một vaitrò đặc biệt quan trọng đối với vận mệnh đất nước Con đường tiến thân của
kẻ sĩ trong nền giáo dục Hán học lúc bấy giờ không ngoài con đường dùi màikinh sử, lều chõng đi thi để mong có ngày vinh quy bái tổ, làm rạng danh giađình, dòng họ Nhưng kể từ khi kết thúc khoa thi cuối cùng đến nay, phần lớnngười ta không còn biết gì đến khoa cử nữa
Để lưu giữ những giá trị tinh thần của dân tộc, nhiều nhà nghiên cứu,nhiều học giả Việt Nam ở trong và ngoài nước đã dày công nghiên cứu, biênkhảo những công trình về lịch sử giáo dục khoa cử qua các triều đại Riêng ởlĩnh vực sáng tác văn chương, chúng ta không thể không kể đến những tác
phẩm của Ngô Tất Tố như Lều chõng, Trong rừng nho, Chu Thiên với Bút
nghiên, Nhà Nho, Nguyễn Tuân với tập Vang bóng một thời Tuy sáng tác
theo những khuynh hướng văn học khác nhau nhưng các nhà văn này đã cócông lớn trong việc dựng lại một cách sống động về văn hóa khoa cử của mộtthời Họ đã có những đóng góp lớn cho lịch sử văn hóa và cho văn học
Văn hóa khoa cử qua cái nhìn của một số nhà văn Việt Nam giai đoạn
1930 -1945 là đề tài giúp chúng ta có thêm những hiểu biết sâu sắc về vấn đềhọc hành, thi cử, đời sống, nếp sống sinh hoạt của Nho gia một thời Mặt khác
Trang 9viết về cùng một đề tài nhưng mỗi nhà văn lại có một cách thể hiện riêng, mộtquan điểm và một thái độ riêng về quá khứ văn hóa của dân tộc “một đikhông trở lại” Việc tìm hiểu đề tài này còn giúp người đọc phát hiện ra giá trịcũng như vẻ đẹp riêng của mỗi tác phẩm.
2 Lịch sử vấn đề
Khoa cử Nho học ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng nềnkhoa cử độc lập của Việt Nam chính thức ra đời từ thế kỉ XI, đời Lí NhânTông Từ lâu đã có nhiều nhà sử học quan tâm ghi chép và nhiều nhà nghiêncứu, biên khảo văn hóa dày công tìm hiểu, khảo cứu về chế độ giáo dục vàthi cử ở Việt Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc Gần đây, về đề tài
nghiên cứu này, có thể kể một số tác phẩm đáng chú ý như: Khoa cử và giáo
dục Việt Nam của Nguyễn Q Thắng, Nxb Văn hóa Thông tin, 1993; Nho học ở Việt Nam - giáo dục và thi cử của Nguyễn Thế Long, Nxb Giáo dục,
1995; Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 của Nguyễn Đăng Tiến, Nxb Giáo dục, 1996; Giáo dục, khoa cử và quan chế ở
Việt Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc của Nguyễn Công Lý Các học
giả, các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về văn hóa khoa cử nước nhà đều
có một tâm huyết là lưu giữ những điều tốt đẹp trong nền văn hóa Việt, đểcho đời sau biết đến khoa cử là gì, cách tổ chức thi cử thời phong kiến, thờiPháp thuộc ra sao, cách chấm thi, lễ xướng danh, yết bảng như thế nào, Có
những công trình nghiên cứu công phu, thời gian biên soạn lâu dài như Lối
xưa xe ngựa (2 tập), Đại lược về khoa cử (2 tập) của Nguyễn Thị Chân
Quỳnh (Việt kiều sống lâu năm ở Pháp) Bà đã khái quát một cách chính xác
về chế độ khoa cử Việt Nam xa xưa qua nhiều triều đại, với nhiều bức ảnhquý liên quan đến khoa cử trong quá khứ như nghiên bút, ống quyển, lềuchõng, quang cảnh trường thi, cảnh xướng danh khoa thi, ảnh thí sinh 60tuổi trường Hà Nam khoa Nhâm Tý (1912),
Trang 10Như vậy ở lĩnh vực biên khảo lịch sử đã có nhiều công trình rất đángquý Còn ở văn học, các nhà văn đã nhìn về khoa cử theo cách riêng với
những ưu thế riêng của văn chương Lều chõng, Trong rừng nho của Ngô Tất
Tố, Bút nghiên của Chu Thiên, Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân là
những tác phẩm tiêu biểu về đề tài khoa cử trong nền giáo dục Hán học Bêncạnh giá trị văn học, những tác phẩm này còn có giá trị tư liệu lịch sử quý.Tuy nhiên việc tìm hiểu, đánh giá một cách toàn diện về giá trị các tác phẩm
này chưa có những công trình nghiên cứu lớn Sách Từ điển tác phẩm văn
xuôi Việt Nam của Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (chủ biên), Nxb Giáo dục 2006 đã
tóm tắt nội dung từng tác phẩm, đánh giá khái quát giá trị mỗi tác phẩm Cuốn
Văn học Việt Nam 1930 - 1945 của nhóm tác giả Phan Cự Đệ, Trần Đình
Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức, Nxb
Giáo dục, 1999 cũng có những bình luận chung về tác phẩm Lều chõng của Ngô Tất Tố, Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân.Vũ Ngọc Phan trong Nhà
văn hiện đại đã đánh giá khá đầy đủ những thành công cùng một số khuyết
điểm về giá trị nội dung và nghệ thuật của Lều chõng (Ngô Tất Tố), Bút
nghiên, Nhà nho (Chu Thiên), Vang bóng một thời (Nguyễn Tuân) Còn trong
Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 1, Nxb Văn học, 1981, Nguyễn
Đăng Mạnh đã nhận xét, bình luận nhiều vấn đề về quá trình sáng tác, giá trịcủa các tác phẩm cũng như những bài học bổ ích rút ra từ cuộc đời hơn bốnmươi năm cầm bút của Nguyễn Tuân Nhà phê bình đã nói đến “mỹ học hoàicựu”, nói đến cốt cách kẻ sĩ trong tác phẩm Nguyễn Tuân và những nhân vật
mà ông ưu ái Điều này giúp chúng tôi có những hiểu biết thêm về mẫu hìnhnhân cách nhà nho, những con người đã từng được đào tạo nơi “cửa Khổngsân Trình” Đó là biểu hiện của văn hóa khoa cử xưa
Ở lĩnh vực nghiên cứu các tác giả Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, đã có khánhiều bài viết, công trình đi sâu tìm hiểu các phương diện khác nhau trong thế
Trang 11giới nghệ thuật của họ Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu
khám phá về Lều chõng, Trong rừng nho, Vang bóng một thời theo góc nhìn
mà luận văn của chúng tôi lựa chọn
Có thể nói những tác phẩm về nền giáo dục khoa cử thời phong kiếncủa Ngô Tất Tố, Chu Thiên và Nguyễn Tuân đều là sản phẩm sáng tạo củanhững nhà văn tài hoa, có vốn sống, vốn văn hóa phong phú cũng như vốnkiến thức lịch sử uyên thâm Họ đều là những nhà Nho hay xuất thân từ giađình có dòng dõi khoa bảng Những tác phẩm ấy là những chiêm nghiệm vềkhoa cử, về văn hóa truyền thống của dân tộc Cùng hướng về quá khứ nhưngmỗi người một cách viết, một tâm sự riêng với thời cuộc
Trên cơ sở tìm hiểu thêm những nguồn tài liệu về giáo dục khoa cửViệt Nam, đặc biệt là qua sáng tác của một số nhà văn Việt Nam giai đoạn
1930 - 1945, chúng tôi muốn góp phần nghiên cứu về vẻ đẹp cũng như giá trịvăn hóa khoa cử mà các tác phẩm để lại
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã chỉ rõ, đối tượng nghiên cứu của luận văn chúng tôi là
sự thể hiện văn hóa khoa cử thời trung đại trong một số tác phẩm văn xuôi tự
sự Việt Nam giai đoạn 1930-1945
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Văn hóa khoa cử qua cái nhìn của Ngô Tất Tố với Lều chõng (1939),
Trong rừng nho (1945); Chu Thiên với Bút nghiên (1941), Nhà nho (1942);
Nguyễn Công Hoan với Thanh đạm (1943), Nguyễn Triệu Luật với Bốn con
yêu và hai ông đồ (1943), Nguyễn Tuân với Vang bóng một thời (1940),
Chúng tôi cũng khảo sát tác phẩm Nho phong (1928) của Nhất Linh để có
thêm cứ liệu khẳng định các luận điểm khoa học
Trang 124 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xác định văn hóa truyền thống Việt Nam, trong đó có văn hóakhoa cử là một nguồn cảm hứng sáng tạo lớn của văn xuôi 1930 - 1945
4.2 Phân tích những góc độ tiếp cận chính đối với văn hóa khoa cửthời trung đại trong văn xuôi tự sự 1930 - 1945
4.3 Làm sáng tỏ nghệ thuật thể hiện văn hóa khoa cử thời trung đạitrong văn xuôi tự sự 1930 - 1945
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu, thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu vận dụngcác phương pháp sau đây: phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp sosánh, phương pháp loại hình,
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ văn hóa khoa cử thời trung đại quacách chiếm lĩnh nghệ thuật của các nhà văn thời kỳ 1930 - 1945 như Ngô Tất
Tố, Chu Thiên, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Tuân
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp người đọc có thêm hiểu biếtmới về các nhà văn đã quen thuộc và có thêm căn cứ để khẳng định mối quan
hệ mật thiết giữa văn hóa và văn học
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
được triển khai qua 3 chương:
Chương 1 Văn hóa truyền thống Việt Nam - nguồn cảm hứng lớn
trong văn xuôi tự sự 1930 - 1945 Chương 2 Những góc độ tiếp cận văn hóa khoa cử thời trung đại
trong văn xuôi tự sự 1930 - 1945 Chương 3 Nghệ thuật thể hiện văn hóa khoa cử thời trung đại trong
văn xuôi tự sự 1930 - 1945
Trang 13Chương 1 VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM - NGUỒN CẢM HỨNG LỚN
TRONG VĂN XUÔI TỰ SỰ 1930 - 1945
1.1 Những tình huống sáng tạo đặc thù của văn học Việt Nam
1930 -1945
1.1.1 Công cuộc hiện đại hóa nền văn học đang được đẩy mạnh
Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945
đã từng bước phát triển theo hướng hiện đại hóa, đạt được những thành tựuphong phú, rực rỡ với một nhịp độ phát triển hết sức nhanh chóng Đây là thời
kì văn học có một vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ tiến trình phát triểncủa lịch sử văn học nước nhà Nó vừa kế thừa những tinh hoa truyền thốngvăn học dân tộc trong suốt mười thế kỉ, đồng thời vừa mở ra một thời kì vănhọc mới - thời kì văn học hiện đại
Quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cáchmạng tháng Tám 1945 có thể chia làm ba chặng (hai thập niên đầu thế kỉ XX;những năm 20 của thế kỉ XX; từ đầu những năm 30 đến Cách mạng thángTám 1945) Như vậy văn học 1930 - 1945 là giai đoạn văn học mà sự hiện đạihóa đã tiến lên một bước, đã “đồng bộ và toàn diện”, đã đạt tới độ kết tinh vớinhững thành tựu lớn Điều này cũng có nghĩa là văn học 1930-1945 đã thểhiện đầy đủ, trọn vẹn tính chất hiện đại của thời kì văn học hiện đại
Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 đổi mới mạnh mẽ theohướng hiện đại hóa Khái niệm hiện đại hóa ở đây được hiểu là quá trình làmcho văn học Việt Nam có tính chất hiện đại, có thể nhịp bước và hòa nhập vớinền văn học thế giới Hiện đại hóa văn học đồng nghĩa với cách tân văn học,
với sự đổi mới văn học Rõ hơn, hiện đại hóa là làm cho văn học vượt khỏi
phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại
Trang 14Từ đầu thế kỉ XX, hiện đại hóa văn học đã trở thành một yêu cầu kháchquan, tất yếu của lịch sử văn học Sự hiện đại hóa văn học được diễn ra trênnhững cơ sở, những điều kiện nhất định, nghĩa là hội đủ cả yếu tố nội sinh vàngoại nhập Yếu tố nội sinh là điều kiện xã hội, điều kiện tư tưởng cùngtruyền thống văn học, yếu tố ngoại nhập là những ảnh hưởng từ bên ngoài,giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, các dân tộc Công cuộc hiện đại hóa vănhọc là một bộ phận của hiện đại hóa văn hóa Nó không phải là một điều gìđơn giản mà là cả một quá trình phức tạp, diễn ra liên tục không ngừng Nóvừa thuộc hình thức vừa thuộc nội dung của văn học.
Nhìn lại các chặng đường phát triển của văn học Việt Nam nửa đầu thế
kỉ XX, ta thấy ở chặng cuối này công cuộc hiện đại hóa đang được đẩymạnh.Văn học phát triển với một tốc độ nhanh chóng chưa từng có Vũ Ngọc
Phan trong Nhà văn hiện đại đã khẳng định: “Ở nước ta, một năm đã có thể
kể như ba mươi năm của người’’ Đây là giai đoạn hoàn tất quá trình hiện đạihóa văn học với nhiều cách tân trên mọi thể loại, đặc biệt là thơ, tiểu thuyết vàtruyện ngắn
Thơ ca phát triển mạnh với phong trào Thơ mới (1932- 1945) Thơ mớithực sự là một cuộc cách mạng trong thơ ca tiếng Việt Điều đó thể hiện ở sựthay đổi tư duy thơ, thay đổi tổ chức đơn vị câu thơ và hệ thống thể loại
Nếu văn học trung đại là phi ngã, uyên bác thì văn học hiện đại là hữungã và dân chủ hóa ngày càng rõ nét Thơ trung đại ít khi bộc lộ cái Tôi, cònThơ mới tư duy dựa trên cái Tôi Từ những năm bốn mươi của thế kỉ XX,Hoài Thanh đã chỉ ra: tinh thần Thơ mới là cái Tôi cá nhân, “quan niệm cánhân” Các nhà thơ mới huy động tối đa sự tự do, lắng nghe tâm thức chínhmình và luôn tìm tòi những biểu hiện mới Việc trực tiếp biểu hiện cái tôi cánhân đem đến cho Thơ mới sự chân thực và tạo nên nhiều phong cách riêng.Thơ phá bỏ mọi ước lệ, công thức mà thể hiện rất tự nhiên thế giới tình cảm,
Trang 15cảm xúc của con người Tư duy thơ đi liền với sự thay đổi hình thức thơ Thơmới chuyển từ câu thơ trữ tình điệu ngâm (thơ cổ điển) sang câu thơ trữ tìnhđiệu nói Do vậy, nó tạo điều kiện giải phóng cá tính của nhà thơ, tạo nên “cáimới về cảm xúc dựa trên cái tôi cá nhân’’ (Huy Cận) Về thể loại, Thơ mớitiếp thu và cải biến các thể loại thơ truyền thống,ví dụ như thơ bảy chữ, lụcbát và sáng tạo thể thơ mới: thơ tự do.
Có thể nói, Thơ mới là một cuộc cách tân lớn về mặt thi ca, tạo cho thơchuyển hẳn sang một thời kì mới - thời kì hiện đại Những thành tựu của Thơmới gắn với đội ngũ nhà thơ đông đảo, đa dạng, phong phú về phong cáchnghệ thuật như Thế Lữ, Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp,Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Nguyễn Bính, Đoàn Văn
Cừ, Bàng Bá Lân, đã góp phần làm cho nền thơ dân tộc ngày càng phongphú Trong mười năm phát triển, Thơ mới vận động trong thời gian hiện đạihóa, ngày càng đi sâu vào hướng thể hiện nội tâm, khám phá thế giới tâm linhvới nhiều màu sắc khác nhau trong tiếp thu ảnh hưởng của nhiều khuynhhướng thi ca Thơ mới đã đưa nền thơ Việt Nam chuyển từ loại hình trung đạisang loại hình hiện đại, tạo bước ngoặt lớn làm cho thơ Việt Nam hòa nhậpvới thế giới Mặt khác, Thơ mới đưa thơ xích lại gần truyền thống, phần nào
thực hiện mục tiêu đại chúng hóa trong thơ ca Trong Thi nhân Việt Nam,
Hoài Thanh và Hoài Chân đã tuyển chọn 169 bài thơ hay của 46 tác giả Thơvăn của họ trở thành “độc nhất vô nhị” (Hoài Thanh) Thơ mới đã làm mộtcuộc cách mạng trong thi ca Thành tựu mười năm của Thơ mới có thể víbằng một trăm năm của thế kỉ trước Chính vì thế mà Hoài Thanh đã khôngngần ngại khi nói rằng: Thơ mới là “một thời đại trong thi ca”
Bên cạnh thơ, văn xuôi nghệ thuật phát triển phong phú chưa từng có
và đạt được nhiều thành tựu Trước hết là về tiểu thuyết: nếu trong văn học cổđiển, tiểu thuyết bị xem là chuyện đầu đường xó chợ thì đến thời hiện đại,
Trang 16người ta quan tâm đến đời tư nhiều nên tiểu thuyết phát triển mạnh và trởthành thể loại chính của văn học, chi phối các thể loại khác Nó được xem là
“cỗ máy cái” của nền văn học hiện đại Ngay trong nội bộ thể loại tiểu thuyết,
ta thấy có đủ mọi loại tiểu thuyết có thể có ở Pháp Theo Vũ Ngọc Phan trong
Nhà văn hiện đại (1942) có đến chín hình thức thể loại tiểu thuyết: tiểu thuyết
phong tục, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết truyền kì, tiểu thuyết luân lí, tiểuthuyết phóng sự, tiểu thuyết hoạt kê, tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết xã hội,tiểu thuyết trinh thám
Trước 1930 là giai đoạn hình thành, thể nghiệm của thể loại tiểu thuyếtvăn xuôi tiếng Việt Hồ Biểu Chánh là cây bút tiểu thuyết tiêu biểu giai đoạn
1900 - 1930 (với 64 tiểu thuyết) và Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách
được đánh giá là dấu son đầu tiên của quá trình hiện đại hóa thể loại Nhìnchung tiểu thuyết trước 1930 còn ít ỏi và có phần đơn giản Đến những năm
ba mươi của thế kỉ XX, sự hiện đại hóa chín muồi về mặt thể loại mới thực sựđược khẳng định Nhóm Tự lực văn đoàn với những tác phẩm thành công của
Nhất Linh, Khái Hưng đã đẩy cuộc cách tân tiểu thuyết lên một bước mới.
Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn được xem là một cột mốc trong tiến trình tiểuthuyết Việt Nam hiện đại, có những đóng góp không nhỏ cho việc đổi mớivăn học đương thời, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết Đánh giá về thành tựucủa tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, các nhà phê bình đã chỉ rõ những cái mớitrong nội dung tư tưởng cũng như đóng góp về mặt nghệ thuật Tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn đã thể hiện một cách nhìn, một quan điểm nhất quán; khẳngđịnh và đề cao vị trí, vai trò của con người cá nhân Họ đấu tranh đòi tự do cánhân, đòi tự do hôn nhân và chống lễ giáo phong kiến Thực ra khát vọng tìnhyêu tự do, hôn nhân tự do đã được phản ánh trong thơ trung đại với các sángtác của Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, vàtrong tiểu thuyết từ trước 1930 của Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách,
Trang 17Nhưng chỉ khi Tự lực văn đoàn ra đời, đề tài hôn nhân,tình yêu, gia đình mớithực sự là đề tài lớn, có giá trị phản phong và nhân đạo sâu sắc Các tác phẩm
của Nhất Linh như Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đời mưa gió, Hồn bướm mơ tiên,
Nửa chừng xuân, Gia đình, Thoát ly, Thừa tự của Khái Hưng, Gánh hàng hoa
của Nhất Linh, Khái Hưng đã tập trung phản ánh khát vọng hạnh phúc cánhân, tự do hôn nhân, gia đình, đấu tranh cho quyền sống của người phụ nữ,chống lại lễ giáo phong kiến, Những tác phẩm của họ được thanh niên thànhthị đón nhận một cách sôi nổi, bởi nó đã nói hộ cuộc sống và tâm trạng củathế hệ thanh niên mới, đáp ứng được thị hiếu của người đọc, những người cótrình độ học vấn cao được tiếp xúc với luồng gió mới từ văn hóa phương Tây
Và cũng như một qui luật của sự vận động, phát triển không ngừng củavăn học, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng phản ứng với cái khuôn khổ, cáiđơn điệu của tiểu thuyết cũ Những cách tân về tổ chức kết cấu tiểu thuyết vànghệ thuật miêu tả tâm lý là những đóng góp lớn về nghệ thuật của tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn Nhân vật Tự lực văn đoàn có thế giới nội nội tâm phongphú, phức tạp, nhiều mâu thuẫn Bởi vậy tiểu thuyết loại bỏ kết cấu chươnghồi truyền thống mà tìm đến một kiểu kết cấu mới - kết cấu tâm lý hoặc phốihợp giữa kết cấu theo trình tự thời gian truyền thống với kết cấu tâm lý
Tiếp theo tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là những sáng tác có giá trị đưa
thể loại tiểu thuyết lên một đỉnh cao như Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, Đứa con của Đỗ Đức Thu, Sống nhờ của Mạnh Phú Tư và Sống mòn của Nam Cao.
Truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945 phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng.Chưa bao giờ truyện ngắn lại phong phú với nhiều phong cách như thế: truyệnngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan, truyện ngắn trữ tình của ThạchLam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh; truyện ngắn phong tục của Tô Hoài, Bùi Hiển,Kim Lân, truyện ngắn của Nguyễn Tuân, Nam Cao,
Trang 18Ở chặng này, kịch nói tiếp tục phát triển Tiêu biểu là các vở kịch của
Vi Huyền Đắc (Kim tiền), Đoàn Phú Tứ (Ngã ba), nhất là các vở kịch khai thác đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng (Cột đồng Mã Viện, Vũ Như Tô).
Cùng với sáng tác văn học, lí luận, phê bình văn học cũng đạt được nhữngthành tựu đáng ghi nhận Những nhà phê bình lí luận như Thiếu Sơn, HoàiThanh, Hải Triều, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, đã thúc đẩy nền văn họcphát triển
Nhìn lại văn học 1930 - 1945, ta thấy công cuộc hiện đại hóa nền vănhọc đang được đẩy mạnh Chưa bao giờ văn học lại phát triển nhanh chóngnhư vậy và đạt được những thành tựu to lớn Sự đa dạng, phong phú về thểloại văn học, đa dạng về phong cách, đa dạng về trào lưu tạo nên diện mạoriêng của văn học nửa đầu thế kỉ XX, đặc biệt là giai đoạn 1930 - 1945 Cóthể nói đây là mười lăm năm có ý nghĩa bản lề dường như khép lại thời kì vănhọc trung đại để mở ra một cách rực rỡ thời kì văn học hiện đại
1.1.2 Yêu cầu khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc trở nên bức thiết
Khi đặt chân đến Đông Dương, thực dân Pháp đã thực hiện chính sáchkhai thác và bóc lột thuộc địa Hậu quả là đời sống của nhân dân ngày càngkiệt quệ, mâu thuẫn giai cấp và dân tộc càng trở nên gay gắt Đến năm 1945,nước ta có hơn hai triệu người chết đói Không những thế, thực dân, phát xítcòn đầu độc nhân dân ta về văn hóa và thi hành chính sách ngu dân, dẫn đến95% dân số mù chữ Như một lẽ sống còn của dân tộc, yêu cầu khẳng địnhbản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn này càng trở nên bức thiết
Từ đầu thế kỉ XX, văn hóa Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng củaphong kiến Trung Hoa, bắt đầu mở rộng tiếp xúc với văn hóa phương Tây, màchủ yếu là văn hóa Pháp Thực dân phổ biến văn hóa Pháp và chấm dứt ảnhhưởng của văn hóa Trung Quốc Chế độ khoa cử bị hủy bỏ trong toàn quốc từnăm 1919 Chữ Hán và chữ Nôm từ 1920 không còn được sử dụng phổ biến
Trang 19và cái cầu nối liền văn hóa Trung Quốc với văn hóa Việt Nam cũng có nguy
cơ bị cắt đứt
Thực dân Pháp thi hành chính sách kiểm duyệt, đàn áp sách báo tiến
bộ Trong các nhà trường, ngoài việc truyền bá văn hóa Pháp, chính phủ thựcdân còn tuyên truyền những tư tưởng duy tâm thần bí của phong kiến, tưtưởng duy tâm siêu hình của tư sản Cùng với chính sách ngu dân, Pháp thihành chính sách mị dân để ru ngủ nhân dân, đánh lạc hướng thanh niên, thuhút họ vào các chợ phiên, các tiệm hút, tiệm nhảy, sòng bạc, Chúng cònkhôi phục tư tưởng hủ bại, cố bảo tồn những mê tín, những hủ tục, lễ nghi
phiền phức, cố kích thích những thói ăn chơi trụy lạc Phóng sự Thanh niên
trụy lạc của Nguyễn Đình Lạp, những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng như Số
đỏ, Làm đĩ, Kĩ nghệ lấy Tây đã phản ánh rõ những kiểu sinh hoạt, ăn chơi đồi
trụy của thanh niên lúc bấy giờ
Về mặt văn hóa, Nhật khi vào nước ta đã tung ra cái thuyết “Đại ĐôngÁ” nhằm mê hoặc mọi người, tìm cách phát triển quan hệ Việt Nam - NhậtBản Chúng mở ra các cuộc thi sáng tác trên đề tài đó Tất cả những hànhđộng của chúng nhằm tuyên truyền cho chủ nghĩa Đại Đông Á và tinh thần võ
sĩ đạo Tuy nhiên chính sách văn hóa Nhật trong phạm vi năm năm không thểlấn át chính sách văn hóa của thực dân Pháp Chính sách kinh tế, chính trị,văn hóa vô cùng phản động của thực dân càng ngày càng nhào nặn xã hộiViệt Nam vào cái khuôn khổ có lợi cho chúng Nền văn học nước nhà bị nôdịch hóa bởi những thủ đoạn, âm mưu xảo trá của thực dân Văn học côngkhai đứng trước bờ vực bế tắc Nhưng đối lập với chính sách thâm độc củabọn thống trị là vai trò của Đảng và cách mạng Sự thành lập Đảng Cộng sảnĐông Dương năm 1930 ảnh hưởng quyết định đến tình hình chính trị, xã hội,văn hóa, trong đó có cả văn học
Song song với vai trò lãnh đạo các phong trào cách mạng, Đảng baogiờ cũng coi văn hóa là một mặt trận đấu tranh cách mạng vô cùng quan
Trang 20trọng Trước những yêu cầu cấp thiết của thời đại, Đề cương văn hóa Việt
Nam năm 1943 đã ra đời Đề cương văn hóa Việt Nam do Trường Chinh,
Tổng bí thư của Đảng khởi thảo và đưa ra thông qua trong cuộc hội nghị Banthường vụ Trung Ương ở Võng La (Đông Anh, Phúc Yên) Mặc dù ra đời
trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, Trung ương chưa đủ điều kiện nghiên cứu sâu các vấn đề liên quan đến cách mạng văn hóa Việt Nam nhưng Đề cương
văn hóa đã thâu tóm được những vấn đề cơ bản của văn hóa Việt Nam dưới
ánh sáng của chủ nghĩa Mác -Lênin, trong điều kiện lúc đó của cách mạngViệt Nam Theo đó, cuộc vận động văn hóa tiến hành theo ba nguyên tắc: dântộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa Đây là nhân tố quan trọng làm cho nềnvăn hóa nước ta phát triển theo chiều hướng tiến bộ và cách mạng, chống lạinhững âm mưu nô dịch văn hóa của kẻ thù Cũng năm 1943, Đảng đã tập hợpnhiều văn nghệ sĩ yêu nước tiến bộ trong Hội văn hóa cứu quốc, một tổ chứcquần chúng nằm trong mặt trận Việt Minh do Đảng trực tiếp lãnh đạo
Sau khi ra đời, nhất là từ những năm ba mươi trở đi, Đảng cộng sảnngày càng có vai trò tích cực đối với nền văn hóa dân tộc Mặt khác, Đảng vàcách mạng còn bảo vệ và phát huy tính dân tộc và tính hiện thực của văn học.Trước nguy cơ văn hóa nước nhà bị trói buộc và trấn áp, việc giữ gìn vàkhẳng định bản sắc văn hóa dân tộc trong văn học càng trở nên bức thiết
1.1.3 Vấn đề tự nhận thức về phương diện văn hóa nhằm hướng tới hội nhập trở thành nhu cầu thường trực
Chặng đường mười lăm năm hoàn tất quá trình hiện đại hóa văn học
1930 - 1945 đã trải qua nhiều biến động phức tạp của lịch sử xã hội Cùng vớiyêu cầu khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc trong văn học, vấn đề tự nhậnthức về phương diện văn hóa nhằm hướng tới hội nhập trở thành một nhu cầuthường trực
Cùng với sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây vào Việt Nam, độingũ trí thức Tây học ngày càng đông đảo Một thế hệ văn nghệ sĩ cầm bút sắt
Trang 21ra đời có điệu sống mới, cảm xúc mới khác nhiều so với lớp thi sĩ Nho giatrước đây Họ được học tiếng Pháp, am hiểu văn hóa Pháp và được tiếp xúcvới nhiều luồng văn hóa mới trên thế giới Những tư tưởng mới tiến bộ đượctruyền bá từ sách báo tiếng Pháp đã làm thay đổi nhận thức không chỉ củatầng lớp trí thức trẻ mà của cả những nhà nho yêu nước Có thể nói sự gặp gỡvới phương Tây là một bước ngoặt lớn trong lịch sử Sự tiếp xúc này làm thayđổi hoàn toàn cuộc sống vật chất và tinh thần của con người Về sự ảnh hưởngcủa tư tưởng phương Tây, sách báo phương Tây đến tầng lớp trí thức, HoàiThanh nhận xét: “ sĩ phu nước ta từ xưa vốn chỉ biết có Khổng Tử, bắt đầudẫn Mạnh - đức - tư - cưu với Lư Thoa Họ bắt đầu viết quốc ngữ, một thứchữ viết của người phương Tây Câu văn của họ bắt đầu có cái rõ ràng, cáisáng sủa của câu văn Tây Những tư tưởng phương Tây đầy rẫy trên ĐôngDương tạp chí, trên Nam Phong tạp chí, và từ hai cơ quan ấy thấm dần vàocác hạng người có học Người ta đua nhau cho con em đến trường Pháp Việt,
người ta gửi con em sang tận bên Pháp, ” (Thi nhân Việt Nam).
Luồng gió mới của văn hóa phương Tây đã đem đến cho tầng lớp tríthức Tây học những quan niệm mới về vũ trụ, nhân sinh, về cái đẹp Họ lànhững người trẻ tuổi, không bị ràng buộc gì với tư tưởng nho giáo, với mĩ học
cổ điển Lớp nhà văn này có công lớn trong việc tạo nên một diện mạo mới
mẻ, đầy khởi sắc cho văn học Văn học giai đoạn này bắt nhịp cùng với sựphát triển của nền văn học các nước tiến bộ trên thế giới Người ta đánh giácao những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, những truyện vừa của Nhất Linh,Khái Hưng, Nam Cao, những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, NguyênHồng, Thạch Lam, tùy bút của Nguyễn Tuân
Về góc độ văn hóa, giai đoạn này cũng phải nói tới sự giao lưu văn hóavới các nước Châu Âu tạo nên lớp văn sĩ mới Nhu cầu giao lưu văn hóa đểhướng đến mục đích canh tân nền văn hóa Việt Nam là một nhu cầu tất yếu
Trang 22của sự vận động của xã hội Nhu cầu đó thực sự đã diễn ra vào đầu thế kỉ XXvới vai trò phát động của các nhà Nho, các sĩ phu với phong trào Đông Du,với sự cổ động học “Tân thư”, với chủ trương chấn hưng dân khí, nâng caodân trí, Nhu cầu đổi mới đời sống văn hóa và đời sống văn học đã trở thànhnhu cầu chung của công chúng Bản thân con người Việt Nam khi đứng trướcnhững đòi hỏi nhu cầu canh tân nền văn hóa, họ tự nhận thức về bản lĩnh vănhóa dân tộc, đồng thời biết tiếp thụ những tinh hoa văn hóa thế giới và thờiđại Từ việc tiếp xúc với văn hóa Pháp, người Việt đã biết cách biến văn họcPháp, chữ Pháp và chữ quốc ngữ từ chỗ là công cụ nô dịch của thực dân thànhmột phương diện có ý nghĩa quan trọng và hữu hiệu trong việc xây dựng nềnvăn học Việt Nam hiện đại, hỗ trợ cho quá trình giao lưu và hội nhập của vănhọc dân tộc vào quỹ đạo chung của văn học thế giới.
Suy cho cùng, sự ra đời của các trào lưu văn học giai đoạn 1930 - 1945
là tất yếu của sự vận động văn học Nó phản ánh nỗi đau, nỗi bức xúc của cácnhà văn nhằm thoát khỏi sự nô lệ về văn hóa Văn chương dù có tiếp thụ cáimới, cái hiện đại nhưng vẫn đậm bản sắc văn hóa dân tộc Khi nhận định vềkhuynh hướng thơ mới, Hoài Thanh đã viết: “Mỗi nhà thơ Việt Nam hình như
mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp” Tác giả Thi nhân Việt Nam muốn
nói đến sự ảnh hưởng, sự giao thoa văn hóa có tác động trực tiếp đến các nhàthơ mới Nhưng phong trào Thơ mới 1932 - 1945 dù hình thức thơ có đượcthoát thai từ việc học tập thơ Pháp thì hồn dân tộc vẫn thấm thía trong từngbài thơ với những phẩm chất khác nhau Dù có hiện đại đến đâu thì nhữngthành tựu của Thơ mới cũng bám chặt vào cội rễ của truyền thống thơ ca, vănhóa và tinh thần của dân tộc “Chưa bao giờ như bây giờ họ cảm thấy tinhthần nòi giống cũng như các thể thơ xưa chỉ biến thiên chứ không sao tiêudiệt Chưa bao giờ như bây giờ họ thấy cần phải tìm về dĩ vãng để vin vàonhững gì bất diệt bảo đảm cho ngày mai” [53, 47]
Trang 23Giai đoạn 1930 - 1945 là giai đoạn rực rỡ trong lịch sử văn hóa dân tộc.Cùng với sự gặp gỡ, giao lưu với văn hóa phương Tây, người Việt không chỉbiết tiếp thu cái mới mà còn tự cải tạo mình cho phù hợp với yêu cầu mớinhưng không đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc Và như một lẽ tự nhiên, vấn
đề tự nhận thức về phương diện văn hóa nhằm hướng tới hội nhập đã trởthành nhu cầu thường trực Nền văn hóa của dân tộc (trong đó có văn học)ngày càng trở nên đa dạng hơn, phong phú hơn và hòa nhập với nhiều nền vănhóa tiến bộ trên thế giới
1.2 Cảm hứng về văn hóa truyền thống Việt Nam trong văn xuôi
Đó là nỗi mất mát lớn, nỗi đau lớn của cả dân tộc Là những người nghệ sĩ,hơn ai hết, họ nhạy cảm với nỗi đau thời cuộc, cảm thấy bất lực cho thân phậnngười dân mất nước Trong số họ, có những người đã tìm về với những giá trịtruyền thống như một cách để phản ứng lại với xã hội lúc bấy giờ, tự tìm chomình một niềm an ủi tâm hồn trước hồn thiêng dân tộc
Đối với thơ, ta thấy trong khi phần lớn các nhà thơ mới đều ảnh hưởngvăn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp, thơ mang cảm hứng phươngTây hiện đại, có nhiều câu thơ mang dáng dấp thơ Pháp thì ta vẫn thấy xuấthiện những hồn thơ mộc mạc, giản dị, trong sáng như Nguyễn Bính, NguyễnNhược Pháp, Phạm Huy Thông, Thơ Nguyễn Bính “đã đánh thức người nhàquê vẫn ẩn náu trong lòng ta” (Hoài Thanh) Cái “hồn xưa của đất nước”
Trang 24được sống dậy trong không gian quen thuộc của làng quê Việt - không gianvăn hóa với những phong tục, tập quán mang màu sắc dân tộc, những nếpsống dân dã, giản dị của người dân được gợi lên từ những đêm hát chèo,những lễ hội Hình ảnh làng quê trong thơ ông bao giờ cũng gắn với nhữnghàng cau, giàn trầu, dậu mồng tơi, hàng đỗ ván hay bến nước, con đò, Nguyễn Bính là “nhà thơ của tình quê và hồn quê” (Tô Hoài).
Cùng hướng tầm mắt về quá khứ nhưng thơ Nguyễn Nhược Pháp lại cónét riêng với thơ Huy Thông Mặc dù góp mặt vào làng thơ chỉ có một tập thơ
duy nhất: Ngày xưa (1935) nhưng thơ ông đã để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng
người đọc Thi sĩ đã ghi lại những cảnh sinh hoạt ngàn đời ở thôn quê, nhữngtập tục cổ truyền của dân tộc và thực sự “làm sống lại cả một thời xưa” - “mộtthời xưa gồm những màu sắc tươi vui, những hình dáng ngộ nghĩnh” (HoàiThanh) Thơ Huy Thông lại có màu sắc hùng tráng, mơ màng Bất lực vớihiện tại, thi nhân hay trở về dĩ vãng, sống lại trong không gian của những
huyền thoại (Giấc mộng Lê Đại Hành) và những mối tình lịch sử như mối
tình giữa Huyền Trân công chúa với tướng Trần Khắc Chung
Đối với văn xuôi nghệ thuật, các nhà văn đã làm sống dậy những sựkiện, nhân vật lịch sử bằng các tiểu thuyết lịch sử Trong những năm hai mươi
và đầu những năm ba mươi của thế kỉ trước, tiểu thuyết lịch sử phát triển rấtnhanh với số lượng tác phẩm và tác giả ngày càng nhiều Các cây bút nổi bật
là Tân Dân Tử, Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn
Tử Siêu, Phú Đức, Bửu Đình Đến giai đoạn 1930 -1945, tiểu thuyết lịch sửhiện đại xuất hiện trong dòng tư duy trở về với cảm hứng văn hóa truyềnthống của dân tộc, chống lại khuynh hướng Tây hóa khinh thị giống nòi Tiêubiểu cho dòng tiểu thuyết này là các tác gia Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai,Nguyễn Huy Tưởng Họ không chỉ là những người có tâm huyết và am hiểusâu sắc lịch sử dân tộc mà còn có sức viết, sức sáng tạo dồi dào
Trang 25Nguyễn Triệu Luật (1903 - 1946) được các nhà phê bình và nhà vănđương thời xếp vào bậc đàn anh trong thể loại tiểu thuyết lịch sử Ông để
lại tám bộ tiểu thuyết: Hòm đựng người (1936), Bà chúa Chè (1938), Loạn
kiêu binh (1939), Ngược đường Trường Thi (1939), Chúa Trịnh Khải
(1940), Rắn báo oán (1941), Thiếp chàng đôi ngả (1941), Bốn con yêu và
hai ông đồ (1943).
Lan Khai (1906 - 1945) là nhà văn có nhiều đóng góp cho lịch sử vănhọc ở nhiều thể loại: tiểu thuyết đường rừng, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyếttâm lí xã hội Ông có số lượng tiểu thuyết lịch sử khá lớn, tiêu biểu là các tác
phẩm: Ai lên phố Cát (1937), Chiếc ngai vàng (1937), Cái hột mận (1937),
Người thù của mặt trời (1941), Trăng nước Hồ Tây (1942), Rỡn sóng Bạch Đằng (1942),
Nguyễn Huy Tưởng (1912 -1960) là nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng.Ông là một nhà tiểu thuyết lịch sử, một cây bút chuyên sâu về đề tài lịch sử
Trong số những sáng tác của ông, bộ tiểu thuyết lịch sử Đêm hội Long Trì (1942) và An Tư (1944) là những đóng góp lớn cho nền văn học Việt Nam
1930 - 1945
Qua những tiểu thuyết lịch sử hiện đại, ta thấy mỗi nhà văn đều có ýthức sâu sắc khi được mang trên mình trách nhiệm cao cả: “nhà chép sử bằngvăn chương” (Dương Trung Quốc) Họ không kể lại lịch sử, không “lịch sửhóa tiểu thuyết” mà phát huy khả năng tưởng tượng, hư cấu, sáng tạo nênnhững bộ tiểu thuyết lịch sử có giá trị Nếu như Nguyễn Triệu Luật luôn đềcao tính chất xác thực khi viết kí sự lịch sử thì Lan Khai lại thiên về lãng mạnhóa, lí tưởng hóa hiện thực lịch sử qua những truyện tình éo le Nguyễn HuyTưởng lại có cách viết khác Ông dựa vào một dữ kiện lịch sử được ghi vàidòng trong chính sử, tạo dựng nên tác phẩm với những nhân vật và sự kiện cóthật, với một văn phong lịch lãm, truyền cảm và thấm đẫm tinh thần nhân văn
Trang 26Đọc tiểu thuyết lịch sử 1930 - 1945, độc giả hiểu thêm những trang sửoai hùng của dân tộc được sống dậy trong bối cảnh của thời Lý, thời Trần,
thời Lê, Tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật trừ Thiếp chàng đôi ngả liên quan đến thời kì cuối nhà Trần sang nhà Hồ, cuốn Rắn báo oán lấy bối cảnh
triều Lê, những tác phẩm khác đều lấy cái khung lịch sử là thời kì cuối cùngcủa nhà Lê khi xã hội phong kiến lâm vào cảnh mục nát Nhà văn có tài táidựng lại không khí xưa như thật với những chuyện li kì và những nhân vật
đặc biệt Lan Khai trong Cái hột mận viết về thời Lí và lịch sử Thăng Long.
Chiếc ngai vàng lại gắn liền với bối cảnh triều Trần với những mưu mô hiểm
sâu của Trần Thủ Độ nhằm giành giật ngôi báu về tay nhà Trần Ngoài ra, ôngcòn viết về lịch sử thời Tây Sơn, thời Nguyễn Còn Nguyễn Huy Tưởngthường lấy bối cảnh lịch sử thành Thăng Long làm nguồn cảm hứng sáng tác,
bởi vậy ông được giới phê bình gọi là “nhà Thăng Long học” An Tư lấy bối
cảnh kháng chiến chống quân Nguyên Mông của quân dân Đại Việt thế kỉXIII Nổi lên trên nền lịch sử ấy là mối tình lãng mạn của công chúa An Tư
và Chiêu Thành Vương Trần Thông Trong Đêm hội Long Trì, nhà văn dựa
vào các sự kiện lịch sử xảy ra dưới thời Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1739 1782) Trịnh Sâm say mê sắc đẹp của tuyên phi Đặng Thị Huệ mà bỏ bê côngviệc triều chính, dẫn đến loạn kiêu binh kéo dài hàng chục năm Với cốttruyện lịch sử ấy, Nguyễn Huy Tưởng đã đặt ra nhiều vấn đề bức xúc: quyền
-uy và nữ sắc; cái đẹp, cái thiện, cái ác; sự nhập thế của kẻ sĩ; công lí và thầnquyền Vấn đề đặt ra trong tác phẩm đã vượt ra khỏi phạm vi đề tài, đó lànhững vấn đề muôn thuở của nhân sinh, thế sự
Trên cái nền của các sự kiện lịch sử, những nhân vật chính sử qua sựsáng tạo của người nghệ sĩ đã trở thành nhân vật tiểu thuyết Chân dung của
họ hiện lên rõ nét từ ngoại hình, số phận, hành động cho đến tính cách, tâm lí
Đó là những nhân vật anh hùng trong các sáng tác của Lan Khai: Lí Công
Trang 27Uẩn (Cái hột mận), Vũ Biều, Vũ Mật, Lan Anh (Ai lên phố Cát), Nguyễn Huệ, Đỗ Quyên (Treo bức chiến hào), Đó là Hồ Quí Li (Thiếp chàng đôi
ngả), Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ (Rắn báo oán), Đặng Thị Huệ (Bà chúa Chè), những nho sinh, nho sĩ thất cơ lỡ vận (Ngược đường Trường Thi và Bốn con yêu và hai ông đồ) của Nguyễn Triệu Luật Đặng Thị Huệ, Trịnh Sâm,
Quỳnh Hoa, Bảo Kim, Nguyễn Mại, Đặng Lân (Đêm hội Long Trì), An Tư, Thoát Hoan, Chiêu Thành Vương Trần Thông, Hưng Đạo Đại Vương (An Tư)
của Nguyễn Huy Tưởng cũng là những nhân vật tô đậm cho lịch sử, làm cholịch sử sống động hơn
Xuất phát từ tình yêu thiết tha với đất nước, đối với lịch sử nòi giốngcủa dân tộc, bằng khả năng sáng tạo của mình, các nhà văn đã tái hiện lại một
số giai đoạn lịch sử đã lùi sâu vào kí ức dân tộc Những sự kiện, nhân vật lịch
sử làm sống dậy các trang sử oai hùng của dân tộc Cùng với tiểu thuyết lịch
sử giai đoạn trước, tiểu thuyết lịch sử 1930 - 1945 trở thành di sản văn học vôgiá của dân tộc Các tiểu thuyết gia qua sáng tác của mình, muốn gieo vàolòng người đọc tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc Họgiúp các thế hệ sau “ôn cố tri tân”
1.2.2 Những biểu hiện muôn mặt của đời sống vật chất và tinh thần xưa được phục hiện
Trong hoàn cảnh xã hội có nhiều sự đổi thay, văn học cũng chuyển
mình nhanh chóng để thích ứng với thời cuộc Cảm hứng hướng về các giá trị
truyền thống trong văn xuôi tự sự 1930 - 1945 là một mạch nguồn sáng tạocho nhiều nghệ sĩ Những trang văn của họ làm sống dậy những biểu hiện
muôn mặt của đời sống vật chất và tinh thần xưa Nguyễn Tuân với Vang
bóng một thời, Chu Thiên với Bút nghiên, Nhà nho, Ngô Tất Tố với Lều chõng, Trong rừng nho, Nguyễn Triệu Luật với Bốn con yêu và hai ông đồ,
những truyện ngắn phong tục của Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân, thể hiện kháđầy đủ diện mạo cuộc sống văn hóa dân tộc
Trang 28Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân đã tự tìm cho mình mộtcách hành xử riêng trong bối cảnh xã hội đang rơi vào tình trạng ngột ngạt, bếtắc Ông tìm về những “vẻ đẹp xưa” để phục hiện lại các giá trị văn hóa thuộc
lĩnh vực tinh thần và xã hội Trong Vang bóng một thời, nhà văn đã ca ngợi
những phong tục đẹp, những thú ăn chơi tao nhã ngày xưa như thú uống trà,uống rượu, thưởng hoa, chơi đèn kéo quân, nghệ thuật thư pháp, đánh thơ, thảthơ, Những vẻ đẹp ấy gắn liền với hình ảnh những ông Nghè, ông Cử, ông
Tú Họ là lớp nhà nho cuối mùa trong thời đại nền Hán học đã tàn song vẫn
giữ thói quen thanh tao, lịch lãm.Với Vang bóng một thời, nhà văn dựng lại
bầu không khí của một thời đại đã qua nay chỉ còn “vang bóng”
Cùng hướng về quá khứ văn hóa của dân tộc nhưng Ngô Tất Tố với
Lều chõng, Trong rừng nho và Chu Thiên với Bút nghiên, Nhà nho lại viết về
nền khoa cử giáo dục phong kiến Trong các tác phẩm ấy, ngoài việc khảocứu về những cách học hành, thi cử của cha ông thuở trước, ta còn thấy hiệnlên những trang viết thiên về miêu tả nghi lễ và sinh hoạt xưa như lễ thu tế tưvăn, một nghi lễ phổ biến ở những làng xã ngày xưa có các nhà khoa bảng
thành đạt, lễ mừng thọ, tang lễ của một gia đình khoa bảng (Nhà nho); những
tình cảm thầy trò, “phận sự học trò đối với thầy”, tình cảm đáng quý mà ngàynay ít người nghĩ đến; những phong tục như khai bút đầu năm mới của nhosinh, tục sửa lễ (lễ đình, lễ miếu, lễ điện) trước khi học trò xa nhà đi học; cácnghi lễ như lễ rước các vị trúng tuyển sang đình lễ thánh, lễ rước long trọng,
uy nghi của các quan tiến trường, lễ xướng danh khoa thi, lễ yết bảng, lễ rước
quan Nghè, (Bút nghiên, Nhà nho) Cũng như tác phẩm của Chu Thiên, Lều
chõng không chỉ cung cấp đầy đủ những tài liệu về thi cử, cách tổ chức kì thi,
cách ra bài thi mà còn làm sống lại cả không khí xã hội Việt Nam thời xưatrong các kì thi cử, làm cho những nhân vật thời xưa như thầy đồ, các nhosinh, cô con gái thầy đồ, hiện lên trước mắt với những cử chỉ, hành động,
Trang 29tác phong sinh hoạt của người thời xưa Nhờ những nhà văn này mà bao thế
hệ người đọc có thêm tri thức về văn hóa khoa cử của cha ông ta một thời
Góp phần làm nên diện mạo văn xuôi Việt Nam hiện đại không thểkhông kể đến những nhà văn viết truyện ngắn phong tục Tô Hoài, Bùi Hiển,Kim Lân Là nhà văn hiện thực nhưng tác phẩm của Tô Hoài không đề cậpđến những vấn đề dữ dội trong xã hội lúc bấy giờ như đấu tranh giai cấp, mâuthuẫn giữa tầng lớp thống trị và nhân dân Ông viết về những cái diễn ra xungquanh mình, trước lũy tre làng Phong tục làng quê là một trong những chủ đềchính trong sáng tác của ông trước Cách mạng tháng Tám Tiêu biểu là tiểu
thuyết Quê người (1941),tập truyện ngắn O chuột (1942), Giăng thề (1943),
Nhà nghèo (1944), Xóm giềng ngày xưa (1944) Nhà văn rất am hiểu phong
tục tập quán của những người dân trong làng quê của mình Ông cảm nhậnphong tục trên mọi phương diện tồn tại của nó gồm những phong tục tốt đẹp
và cả những hủ tục Chẳng hạn như những lễ hội làng đầu xuân như chơi cờ
bỏi, đấu vật,thi nấu cơm, gói bánh chưng (truyện ngắn Mùa ăn chơi, tiểu thuyết Quê người), những hủ tục như tục đòi nợ chiều ba mươi Tết (Khách
nợ), tục tảo hôn ở nông thôn (Vợ chồng trẻ con), nạn chữa bệnh bằng lối mê
tín dị đoan (truyện ngắn Ông Cúm bà Co), Nhà văn làng Nghĩa Đô này rất
có tài trong việc viết về phong tục tập quán của người dân quê trước 1945 vàcủa người dân miền núi Tây Bắc sau 1945
Nếu Tô Hoài vẽ bức tranh sinh hoạt với cảnh hội hè đình đám thì KimLân thường viết về những thú chơi phong lưu gắn với người thôn quê Tuyviết không nhiều nhưng Kim Lân được đánh giá là một trong những cây búttruyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, là nhà văn của nôngthôn làng quê Trước Cách mạng tháng Tám, ông được đánh giá cao khi viết
về mảng đề tài sinh hoạt văn hóa và phong tục làng quê Qua những tác phẩm
như Đuổi tà, Đôi chim thánh, Con mã mái, Thổi ống sùy đồng, Đánh vật,
Trang 30các trò chơi dân gian của đồng quê như chọi gà, thả chim, đánh vật, hiện lên
là những thú chơi tao nhã, lành mạnh của người nông dân Vốn là “con đẻ củađồng ruộng”, những thú quê hay những thú “phong lưu đồng ruộng” được ôngmiêu tả rất cặn kẽ, say sưa, vừa thật thà vừa tinh tế Cảnh vật, con người vàkhông khí của làng quê Bắc Bộ hiện rõ trong văn ông
Có thể nói sự góp mặt của các nhà văn viết tiểu thuyết, truyện ngắnphong tục sinh hoạt góp phần làm đa dạng hóa mùa tiểu thuyết, truyện ngắntrước 1945 Những sáng tác của họ thêm một lần nữa khẳng định niềm tinmãnh liệt vào sức sống của văn hóa dân tộc
1.2.3 Những tính cách dân tộc được nhận thức
Trong thời gian thống trị Việt Nam, thực dân Pháp đã bằng mọi cách
du nhập vào nước ta những nhân tố tiêu cực của văn hóa tư sản và đế quốcPháp Trước tình hình đó, Đảng ta luôn chú trọng nguyên tắc “dân tộc hóa”trong văn hóa, văn học, giúp cho tầng lớp trí thức (trong đó có văn nghệ sĩ) có
ý thức trách nhiệm cao trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và pháttriển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Những tính cách dân tộc qua cácsáng văn học giai đoạn này được hiện lên một cách rõ nét
Khi nói đến tính cách dân tộc trong văn học, ta nghĩ đến đặc điểm củacon người Việt Nam Đó là tinh thần yêu nước, yêu độc lập tự do, anh dũngtrong chiến đấu chống ngoại xâm, là tình thương người, đùm bọc lẫn nhau,
là sự tinh tế trong cách ứng xử, trong việc thưởng thức cái đẹp, là những thúchơi văn hóa tao nhã Tuy cuộc sống lao động khó khăn, vất vả nhưng ngườiViệt có tinh thần chịu khó, chăm chỉ và luôn lạc quan, yêu đời Trong cáctiểu thuyết, truyện ngắn trước Cách mạng tháng Tám của Ngô Tất Tố, của
Nguyên Hồng, của Nam Cao, Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, truyện
của Bùi Hiển, Kim Lân, Tô Hoài, người đọc cảm nhận rõ vẻ đẹp của conngười Việt Nam
Trang 31Nhắc đến tiểu thuyết hiện thực xuất sắc viết về người nông dân trước
Cách mạng tháng Tám, ta không thể không nhắc đến Tắt đèn của Ngô Tất Tố.
Từ lúc ra đời (1939), tác phẩm này đã được dư luận trên báo chí đánh giá rất
cao Trong lời giới thiệu tác phẩm đăng trên báo Thời vụ số ra ngày 31/1/1939, Vũ Trọng Phụng viết: “Tắt đèn là một thiên tiểu thuyết có luận đề
xã hội, hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác ” Tácphẩm này không chỉ là “một bản cáo trạng chế độ thuế thân và nạn quan lạiđịa chủ, cường hào tham nhũng độc ác” (Phan Cự Đệ) mà còn tập trung cangợi bản chất tốt đẹp của người nông dân Nhà văn đã xây dựng thành cônghình ảnh chân thật của người phụ nữ nông thôn Việt Nam Số phận cuộc đờichị Dậu bị thắt buộc trong tối tăm và oan khổ Từ khi lấy chồng, cuộc đờichị càng thêm khổ cực Con đông không đủ ăn đủ mặc, chồng ốm yếu quanhnăm, lại thêm khoản đóng sưu thuế cho chồng, cho người em chồng đãmất, Chị đã đứt từng khúc ruột khi đến bước đường cùng phải bán đứa congái bảy tuổi để có hai đồng bạc nộp sưu cho chồng Người phụ nữ ấy rấtđảm đang, tháo vát, một lòng thủy chung với chồng, thương con hết mực,giàu đức hi sinh, sống trọn tình nghĩa với xóm làng Nhưng con người hiềnlành ấy khi đứng trước bọn thống trị phá hoại hạnh phúc gia đình mình thìsẵn sàng chống trả quyết liệt Chị Dậu là điển hình cho vẻ đẹp của người phụ
nữ Việt Nam “Trong lịch sử văn học Việt Nam, kể từ thời kì Mặt trận dânchủ trở về trước, chị Dậu là một trong những người phụ nữ đẹp đẽ nhất,mạnh khỏe nhất” [58, 71]
Cũng nhìn thấy vẻ đẹp lấp lánh trong tâm hồn con người nhưng tácphẩm của Nguyên Hồng lại đặc biệt quan tâm đến những con người dưới đáy
xã hội, những người bị tha hóa Là nhà văn có cuộc đời nhiều khổ đau, tủi
nhục, Nguyên Hồng rất hiểu nỗi đau khổ của con người Toát lên trong tác
phẩm của ông là tình yêu thương con người vô bờ bến Xuất phát từ quan
Trang 32niệm “con người bị tha hóa vẫn hướng về bản chất người”, cảm hứng chủ đạocủa ông không phải nghiêng về phía phê phán mà nghiêng về phía thánh
thiện, ngợi ca Trong những tác phẩm trước Cách mạng tháng Tám như Bỉ vỏ (1937), Những ngày thơ ấu (1938), Bảy Hựu (1940), Hai dòng sữa (1943),
ta thấy Nguyên Hồng đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa nhân đạo khinhìn nhận các vấn đề của cuộc sống và con người Nhà văn khẳng định ngay
ở những người dưới đáy xã hội, họ vẫn mang bản tính là những con người
trong sạch Bỉ vỏ, tác phẩm đầu tay của Nguyên Hồng đã đoạt giải thưởng
phóng sự tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn Viết về số phận một người đàn bàlưu manh, Nguyên Hồng tố cáo cái xã hội tàn nhẫn, độc ác đã biến Tám Bính
từ một cô gái nhà quê trong trắng, thật thà thành một gái điếm, rồi trở thànhmột “bỉ vỏ” Nhưng điều đáng chú ý hơn không phải ở chỗ nhà văn tập trungmiêu tả cuộc sống lưu manh mà “ngay ở những tầng lớp cặn bã nhất, chỉ biết
có chém giết lừa bịp vẫn ánh lên những tia sáng nhân đạo, vẫn còn lòngthương yêu giúp đỡ nhau, vẫn muốn thoát ra - tuy chỉ là đôi khi - khỏi cuộcđời tội lỗi của mình” [58, 132] Tám Bính bị cuộc đời xô đẩy vào chốn bùnnhơ, trụy lạc nhưng tâm hồn nàng luôn hướng về cuộc đời trong trắng, lươngthiện Người đàn bà lưu manh này khi rơi vào nhà ngục vẫn một lòng thủychung với tay trùm anh chị Năm Sài Gòn, người chồng rất mực yêu thươngchiều chuộng mình Cuộc sống đâm chém, cướp giật tưởng như không có tìnhngười ấy vẫn hiện lên bao nét đẹp của tình nghĩa Nguyên Hồng là nhà văncủa dân nghèo thành thị Họ là những người phu phen, thợ thuyền, những
người tiểu tư sản thất nghiệp, sống quằn quại trong sự nghèo khổ (Miếng
bánh, Nhà bố Nấu, Hơi thở tàn) Nhưng nhà văn đã nhìn thấy ở họ những đức
tính của người nghèo Chính trong cảnh nghèo khổ người ta lại thương yêunhau, đùm bọc nhau, thủy chung với nhau, luôn yêu đời và muốn vươn lênmột cuộc sống mới
Trang 33Tính cách dân tộc trong văn học được thể hiện dưới nhiều màu vẻ khácnhau qua lăng kính riêng của từng nhà văn Truyện của Bùi Hiển ghi lại mộtcách trung thực đời sống đầy gian khổ của người dân vùng biển cũng nhưcuộc sống mòn mỏi, tẻ nhạt của giới viên chức thành thị Nổi trội hơn cả làmảng truyện viết về cuộc sống những người dân chài miền biển quê ông
(Quỳnh Lưu, Nghệ An) Tập truyện ngắn Nằm vạ (1940), Ma đậu (1940),
Chiều sương (1941) là những tác phẩm hay Nhà văn không chỉ giúp ta hiểu
thấu nỗi vất vả, nhọc nhằn và hiểm nguy của nghề đi biển, mà quan trọng hơn
là vẻ đẹp của con người lao động Họ có tinh thần lao động cần cù, dũng cảm
giành lại sự sống từ tay thần chết (Chiều sương) Đó còn là những con người
tuy có chút thô lỗ, cộc cằn nhưng luôn hồn hậu, chất phác, yêu đời, sống với
nhau trọn vẹn tình làng nghĩa xóm (Ma đậu, Nằm vạ, Thằng Xin) Trong Hồi
kí văn học, Bùi Hiển viết: “Do sống kề cạnh những người dân chài, tôi nhận
thấy tâm sinh lí họ phần nào khác với những người dân đồng ruộng Nóichung họ khỏe mạnh, vạm vỡ, nói rất to (ăn sóng nói gió), cười rất lớn Cuộcđời vật lộn với sóng gió bão táp tạo cho họ một ý chí kiên cường, khungcảnh sống giữa biển khơi khoáng đạt hình như cũng tạo cho họ tính phóngkhoáng vô tư, lạc quan, yêu đời (theo kiểu giản đơn, thô lậu của họ)” Nhìn
về người dân quê hương, tác giả nhìn thấy cả mặt tốt và mặt xấu của họ.Nhưng trong họ luôn có khao khát được sống, ao ước hướng thiện, muốnhạnh phúc và vun đắp cho hạnh phúc của người khác Họ là những chị Đỏ,
anh Đỏ trong Nằm vạ, lão Năm Xười, chị Đỏ Câu trong Ma đậu, lão Nhiệm Bình trong Chiều sương,
Dân tộc Việt Nam không chỉ có tinh thần yêu nước, tinh thần nhânđạo, yêu thương con người mà còn có ý thức thẩm mỹ rất cao Họ nhạy cảm,biết thưởng thức và sáng tạo cái đẹp Nếu Kim Lân thường say sưa viết vềnhững thú chơi phong lưu gắn với người thôn quê “thú phong lưu đồng
Trang 34ruộng” thì Nguyễn Tuân với Vang bóng một thời lại ca ngợi những phong tục,
tập quán đẹp của dân tộc, những thú chơi văn hóa tao nhã của thời xưa Làmột con người chắt chiu cái đẹp đến tận cùng tế bào, Nguyễn Tuân tìm mọi
cách để ca ngợi cái đẹp Quan niệm cái đẹp của Nguyễn Tuân trong Vang
bóng một thời gắn liền với sự sống của con người Những trang văn miêu tả
thú thưởng trà (Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm), thú uống rượu, thưởng hoa (Hương cuội), tục thả thơ, đánh thơ (Thả thơ, Đánh thơ),
hiện lên thật tinh tế và tài hoa Ở đó, người đọc được sống lại trong không khícủa những thú tiêu khiển cổ xưa vừa lịch lãm vừa tài hoa của ông cha ta
Trong lúc phong trào Âu hóa và danh lợi đã làm nhiều người Việt Nammất gốc, những vẻ đẹp truyền thống đang bị kẻ thù đàn áp và đầu độc bằngmột thứ văn hóa lạc hậu, phản động, sáng tác của các nhà văn Ngô Tất Tố,Nguyên Hồng, Bùi Hiển, Tô Hoài, Kim Lân, Nam Cao, Nguyễn Tuân, đãgóp phần khẳng định vẻ đẹp và tính cách dân tộc Việt Nam, bồi đắp tình yêu
và niềm tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc cho người đọc
1.3 Văn hóa khoa cử thời trung đại - một đề tài giàu ý nghĩa của văn xuôi tự sự 1930 - 1945
1.3.1 Khái niệm văn hóa khoa cử
Theo Từ điển Hán - Việt từ nguyên của Bửu Kế, Nxb Thuận Hóa, 1999: Khoa cử: khoa: thứ bậc, chỉ kì thi, cử: cất nhắc lên
Cất nhắc lên bằng cách thi hạch
Theo Từ điển Việt Nam văn hóa tín ngưỡng phong tục của Vũ Ngọc
Khánh, Phạm Minh Thảo, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2005:
Khoa cử: “Chế độ tuyển chọn người tài bằng thi cử dưới thời phongkiến Chế độ này bắt đầu từ triều Lý nhưng không thường xuyên, khi cầnngười tài mới mở khoa thi Từ đời Trần, khoa cử thành lệ với hai hình thứcchính là thi hương và thi hội Một khoa thi được chia thành ba, bốn trường tùy
Trang 35theo triều đại, đỗ trường này mới được vào trường kia Khoa thi Hương cuốicùng ở Bắc Kì năm 1905 và Trung Kì năm 1919 Sau đó chế độ khoa cử theokiểu cũ chấm dứt”.
Văn hóa khoa cử là một bộ phận của văn hóa truyền thống, là văn hóaliên quan đến khoa cử nho học, liên quan đến chế độ tuyển chọn nhân tài.Khái niệm văn hóa khoa cử được hiểu theo nghĩa rộng Văn hóa khoa cửkhông chỉ nói đến các qui chế, lề luật, thiết chế thi cử mà còn yêu cầu phẩmchất của kẻ sĩ (đứng đầu trong tứ dân: sĩ, nông, công, thương) Lâu nay nhắcđến khoa cử, người ta thường nghĩ đến chuyện thi thuần văn chương, thực tếkhoa cử xưa không chỉ đòi hỏi kẻ sĩ thông thạo chữ nghĩa Thánh hiền mà cònphải thông thạo các loại văn sách, kinh nghĩa, phải có tinh thần trách nhiệmtích cực đối với đời sống xã hội Đối với người đi học, kì thi văn sách hỏithuật trị nước là kì thi trọng yếu Bởi Nho giáo chủ trương “cử hiền tài” đốivới những người có thực tài, thực học và là những người hiền đức Kẻ sĩ xưavừa học cương thường đạo nghĩa (đạo đức) vừa học “cách vật trí tri” (khoahọc) Khoa cử kén người tài bao giờ cũng hỏi về thuật trị nước của Nho giáo
Văn hóa khoa cử liên quan đến cách nhìn nhận, thái độ của cộng đồngđối với thi cử, đối với những người được đào tạo qua thi cử Văn hóa khoa cửcòn liên quan đến mẫu hình những người được tuyển chọn qua thi cử Họ lànhững nhà Nho có đủ đức, đủ tài theo quan niệm phong kiến, phục vụ chính
quyền nhà vua, có tài kinh bang tế thế “Nhà Nho, A) Thích nghĩa - Nho nghĩa
đen là học giả, Nhà nho là người đã theo Nho học, hiểu đạo lý của thánh hiềnđời xưa, có thể dạy bảo người đời cư xử cho phải đạo và nếu được đặc dụng,
thì đem tài đức của mình mà giúp dân giúp nước B) Địa vị trong xã hội Tùy theo cảnh ngộ, nhà nho có thể chia làm ba hạng: 1) Hiển nho là những
-người đã hiển đạt, thi đỗ làm quan, giúp vua trị dân, có quyền hành, địa vị cao
quí trong xã hội 2) Ẩn nho là những người tuy có học thức tài trí mà không
muốn ra gánh vác việc đời, ẩn náu ở nơi sơn lâm hoặc chốn thôn dã để vui thú
Trang 36an nhàn 3) Hàn nho là những người cũng theo Nho học, nhưng không đỗ đạt
để ra làm quan được, ở nhà theo nghề dạy học, làm thuốc, v.v để lấy kế sinhnhai Nhưng dù cảnh ngộ có khác, các nhà nho đều có một tư cách và một chíhướng chung, đều muốn bồi đắp cho cương thường, giữ gìn lấy chính giáo,hoặc lấy sự nghiệp mà giúp vua giúp dân hoặc lấy phẩm hạnh mà làm mẫumực cho người đời, hoặc lấy giáo hoá mà tác thành bọn hậu tiến, nên đềuđược xã hội tôn trọng, dù chẳng được triều định ban cho chức vị, bổng lộccũng được dân chúng quí mến phục tòng” [20]
Văn hóa khoa cử còn liên quan đến văn hóa ứng xử của con ngườitrong đời sống xã hội Đó là cung cách sống, cung cách sinh hoạt theo nề nếpnho phong trong mối quan hệ với cái đẹp, với thiên nhiên, với con người
Ở nước ta, từ thời Bắc thuộc không có tài liệu nào nói về giáo dục,khoa cử Tuy nhiên sử sách ca ngợi công lao của Sĩ Nhiếp, quan thái thú quậnGiao Chỉ từ năm 187 đến năm 226 Ông là người học giỏi, chăm mở mangviệc học nên được suy tôn là Nam Bang học tổ (ông tổ việc học ở đất phươngNam) Ông là người có công to trong việc truyền bá Hán học ở nước ta Tuynhiên nền giáo dục của các triều đại phong kiến Trung Quốc mở ở Giao Châu
là nền giáo dục nô lệ của chế độ đô hộ phương Bắc Như vậy nguồn gốc khoa
cử là ở Trung Quốc nhưng nền giáo dục khoa cử Việt Nam chính thức ra đời
từ thời Lý Văn hóa khoa cử đã trở thành một nét trội Cùng với việc pháttriển kinh tế, ổn định chính trị xã hội, nhà Lý rất quan tâm phát triển giáo dục
“Năm 1070, Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu ở kinh thành Đây là nơithờ các ông tổ của Nho giáo, tỏ lòng tôn kính đạo Khổng Nhà vua cho đắptượng Khổng Tử, Chu Công, tứ phối (tức Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, MạnhTử) và 72 vị tiên hiền của đạo Nho (những học trò giỏi của Khổng Tử) VănMiếu cũng là nơi thái tử ra học Giáo dục Nho giáo được chính thức ra đời”[32, 58] Tuy nhiên việc chọn người tài giỏi bằng con đường khoa cử vẫnchưa được đặt ra Năm 1075, vua Lí Nhân Tông cho mở khoa thi đầu tiên ở
Trang 37nước ta, thi Nho học ba trường, gọi là thi Tam trường, kén người Minh Kinhbác học Năm 1076, nhà Lý cho lập Quốc Tử Giám, trường Đại học đầu tiên ởnước ta.
Đến thời Lê: So với các triều đại trước, việc tuyển chọn người làmquan phần lớn do tiến cử, sang thời Lê chủ yếu qua khoa cử để kén người raphò vua giúp nước Đến thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), việc chọn ngườitài đức đã trở thành mục tiêu của khoa cử như nêu trong chiếu của nhà vua:
“muốn có nhân tài, trước hết phải chọn người có học Phải chọn người có họcthì thi cử là đầu Nước ta từ khi trải qua binh lửa, nhân tài ít như lá mùa thu,tuấn sĩ thưa như sao buổi sáng Thái Tổ ta mới dựng nước đã lập ngay trườnghọc, nhưng lúc mới mở mang chưa đặt khoa thi Ta noi theo chí tiên đế, muốncầu được hiền tài để thỏa lòng mong đợi” [32, 73-74] Việc coi “hiền tài lànguyên khí của quốc gia” là tư tưởng thấu suốt trong Nho giáo trị nước Năm
1484 nhà vua cho dựng bia đá ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám ghi tên, vinhdanh những tiến sĩ mười khoa liên tiếp từ khoa Nhâm Tuất (1442) đến khoaGiáp Thìn (1484) Cũng từ đây về sau bia tiến sĩ tiếp tục được dựng
Trong mười thế kỉ dưới chế độ phong kiến, giáo dục Việt Nam đã cónhững bước tiến đáng kể Mỗi triều đại đều có một cách tổ chức giáo dục, họctập, thi cử riêng nhưng đều có chung mục tiêu đào tạo những con người ViệtNam có tài, có đức, hết lòng phụng sự nhà vua và đất nước Nhờ có khoa cử
mà nền giáo dục Việt Nam đã đào tạo được những bậc đại nho, những danhnhân của dân tộc Mạc Đĩnh Chi (trạng nguyên đời Trần), Chu Văn An (Tháihọc sinh đời Trần), Nguyễn Trãi (Thái học sinh thời Hồ), Lê Quí Đôn (Bảngnhãn đời Hậu Lê), Nguyễn Công Trứ (Giải nguyên đời Nguyễn), TrươngQuốc Dụng (Tiến sĩ đời Nguyễn), là điển hình cho những bậc khoa bảngngoài sự nghiệp văn chương còn có công giúp dân, cứu nước Mặt khác, nhờ
có một tổ chức giáo dục và khoa cử sớm hoàn bị, nước Nam xưa được coi làmột nước văn hiến Văn hóa khoa cử mở ra một truyền thống lịch sử vẻ vang
Trang 38cho dân tộc, truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, tôn vinh người tài giỏicủa đất nước Bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nét son rực rỡ củavăn hóa khoa cử Việt Nam mà các thế hệ cần nâng niu và quý trọng Hiện nayUNESCO đã công nhận văn bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám là “Disản tư liệu thế giới”.
1.3.2 Những điều kiện thuận lợi của việc chiếm lĩnh thẩm mỹ đề tài văn hóa khoa cử
Như các phần trên của luận văn đã trình bày, khoa cử vào Việt Nam từrất sớm và được các triều đại phong kiến đặc biệt coi trọng, bởi nó gắn liềnvới việc tuyển chọn người tài ra phò vua trị nước Việc chiếm lĩnh đề tài vănhóa khoa cử đến những năm ba mươi của thế kỉ trước có những điều kiện
thuận lợi nhất định.
Xét về mặt khách quan, những tác phẩm Lều chõng, Trong rừng nho của Ngô Tất Tố, Bút nghiên, Nhà nho của Chu Thiên, Vang bóng một thời của
Nguyễn Tuân đều ra đời vào đầu những năm bốn mươi của thế kỉ trước Lúc
ấy xã hội Việt Nam, nhất là nông thôn về cơ bản chưa thay đổi nhiều Đề tàithuộc về xã hội xưa còn tươi mới, bởi khoa thi cuối cùng của miền trung vừamới chấm dứt năm Mậu Ngọ (1918) Vì thế các tác giả vẫn còn có thể nhìntận mắt, nghe tận tai những sinh hoạt và tập tục của người dân trước khi xãhội có nhiều thay đổi Nhờ vậy ta mới có thể hiểu tường tận những cách sinhhoạt của Nho gia, cảnh học hành, thi cử của cha ông Mặt khác, nền văn hóaNho học đã ảnh hưởng và chi phối sâu sắc, lâu dài đến đời sống tinh thần củanhà nho và của nhân dân ta Xã hội từ gia đình, họ hàng, làng nước sống theotrật tự kiểu Nho giáo, lấy lí lẽ của Nho giáo làm chuẩn mực sống Viết về vănhóa khoa cử là các nhà Nho, những người được học sách Thánh hiền, một đời
“dùi mài kinh sử”, họ thấm nhuần nền văn hóa Nho học và có nhiều tư liệu hỗtrợ trong quá trình sáng tác, chưa kể tới nguồn tài liệu ở Thư viện Học viện
Trang 39Viễn Đông Bác cổ Pháp Ngoài ra, những tác phẩm chữ Hán đến đầu thế kỉ
XX còn gây được tiếng vang và người ta vẫn còn học
Ngoài những điều kiện thuận lợi khách quan, việc chiếm lĩnh đề tài văn
hóa khoa cử còn có nhiều thuận lợi riêng Tác giả của Lều chõng, Trong rừng
nho, Bút nghiên, Nhà nho, Vang bóng một thời là những người thấu hiểu đời
sống văn hóa nho gia Sống vào buổi giao thời, khi nền văn hóa Nho học chưamất hẳn, họ có điều kiện chứng kiến những phút vinh nhục của nền giáo dục -thi cử phong kiến Họ hiểu tường tận những ngày qua hơn ai hết, bởi chính họ
là kẻ đã từng dấn thân vào con đường cử nghiệp hay xuất thân từ môi trườngnhà nho, được nuôi dưỡng từ cái nôi giáo dục nho học Ngô Tất Tố, ChuThiên, Nguyễn Tuân đều xuất thân từ gia đình nho học Từ kinh nghiệm cuộcđời của những người thân trong gia đình và vốn sống từng trải của bản thân,
họ đã hóa thân vào số phận các nhân vật để bộc lộ tư tưởng và quan điểm củamình Họ muốn đem chuyện của mình ra để viết như một niềm sẻ chia tâm sựvới độc giả Những trải nghiệm và suy ngẫm của cá nhân đã được tiểu thuyếthóa Ở đây chúng tôi xin nhắc đôi điều khái quát Ở chương ba, phần yếu tố
tự truyện, chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn
Mặt khác, sống trong thời đại mới, khi văn hóa phương Tây du nhậptràn lan vào nước ta, họ được tiếp xúc với một nền văn hóa mới, có sự kết hợpgiữa văn hóa Đông - Tây, kim - cổ Nhờ đó mà vốn văn hóa của họ đã uyênthâm lại càng phong phú Họ có một cái nhìn mới về đời sống - cái nhìn vănhóa, do cảm quan văn hóa mang lại Họ nhận thức được những cái văn minh,tiến bộ để có thể nhìn ra những cái bảo thủ, trì trệ, phản văn hóa Trường hợp
Lều chõng của Ngô Tất Tố là một ví dụ điển hình Không phải nhà văn - nhà
nho nào cũng có thể “vượt khỏi cả thế hệ mình” để phê bình “Nho giáo” và
“nhìn văn hóa khoa cử như một hệ thống lỗi thời”, bóc trần sự “kì quái” củachế độ thi cử phong kiến xưa Trước yêu cầu canh tân văn hóa và phát triển xã
Trang 40hội, nhà văn đã hướng về cái tiến bộ để nói lên cái bi kịch của giới nhà nho tầng lớp trí thức dưới chế độ phong kiến
-Đề tài văn hóa khoa cử thời trung đại thực sự hấp dẫn sự sáng tạo củacác nhà văn Nhờ có độ lùi về thời gian mà họ có điều kiện đánh giá bao quátvấn đề, nhìn nhận lại bản chất của khoa cử một cách thẳng thắn và chân thựchơn Những trang viết ấy, nhờ thế, thấm đẫm tình yêu đất nước và tinh thầndân tộc Họ là những người lặng lẽ phục chế, lưu giữ, làm sống lại một mảng
đề tài đã từng gắn bó sâu sắc, lâu dài trong đời sống văn hóa Việt Nam
1.3.3 Nhìn chung về tính đa dạng của cách thể hiện đề tài văn hóa khoa cử
Theo sự vận động của thời cuộc, Nho học ngày một đi vào tàn lụi Nềnkhoa cử phong kiến từng tồn tại ngót ngàn năm trên đất nước ta cũng đã khéplại với khoa thi cuối cùng năm Kỉ Mùi (1919) Nhưng dư âm của một thời gắn
bó với khát vọng “bảng vàng, bia đá” của bao thế hệ Nho sinh được phản ánhsâu sắc trong văn xuôi tự sự 1930 - 1945 Mỗi nhà văn xuất phát từ nhữngcảm quan nghệ thuật khác nhau, từ những góc nhìn khác nhau tạo nên sự đadạng cho đề tài văn hóa khoa cử
Lều chõng lần đầu tiên được đăng dần trên báo Thời vụ từ số 112 (21/3/
1939) và sau đó được xuất bản thành sách năm 1941 Tác phẩm ra đời trongĐại chiến thế giới lần thứ hai, giữa lúc thực dân Pháp đang dấy lên phong tràophục cổ nhằm lôi cuốn tầng lớp trí thức vào con đường thoát li thực tế đấutranh cách mạng Viết về quá khứ nhưng “người môn đệ của Khổng Mạnh”này không rơi vào khuynh hướng phục cổ Là một nhà Nho thức thời, tiến bộcùng với thực tế cay đắng của cuộc đời mình, lại chứng kiến sự cùng đườnglịch sử của đạo Nho cũng như cảnh chợ chiều của các nhà Nho, Ngô Tất Tố
qua Lều chõng, Trong rừng nho, đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, bóc trần
sự “kì quái”, cái phản văn hóa của chế độ giáo dục khoa cử phong kiến