Hiện nay ở hầu hết các trường, trong quá trình dạy học, nhiều GV không cóphương pháp hướng dẫn HS sử dụng SGK đúng cách nên vừa không hình thànhđược các kĩ năng cần có cho HS khi làm việ
Trang 1PHẠM THỊ THANH HIỀN
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH VẬT
VÀ MÔI TRƯỜNG -SINH HỌC 9- THCS
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 2PHẠM THỊ THANH HIỀN
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH VẬT
VÀ MÔI TRƯỜNG -SINH HỌC 9- THCS
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn sinh học
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH NHÂM
Trang 4Lời Cam Đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là khách quan trung thực và chưa được công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Họ và tên tác giả Phạm Thị Thanh Hiền
Trang 5Lời Cảm Ơn
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn Thầy PGS.TS Nguyễn Đình Nhâm đã hướng dẫn em làm đề tài bằng tất cả sự tận tình và trách nhiệm.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo trong tổ PPGD Sinh học, khoa sau đại học trường Đại Học Vinh đã quan tâm giúp đỡ em trong thời gian học tập và thực hiện đề tài.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các thầy cô trong tổ Sinh và học sinh các trường THCS mà tôi tiến hành điều tra thực nghiệm sư phạm đã tạo điều kiện và hợp tác cùng tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài.
Bên cạnh đó cũng xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
PHCM, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Trang 6MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cám ơn i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Giả thiết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp của đề tài 7
9 Cấu trúc luận văn 7
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 9
1.1.2 Cơ sở lí luận của việc sử dụng SGK trong dạy học 13
1.1.2.1 SGK, vai trò của SGK 13
1.1.2.2 Khái niệm về năng lực tự học SGK 18
1.1.2.3 Các năng lực tự học SGK cần có của HS 22
1.1.2.4 Sự cần thiết phải rèn luyện năng lực tự học SGK 25
1.1.2.5 Một số biện pháp sư phạm để rèn luyện NLTH SGK 27
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 40
1.2.1 Mục đích của việc xác định thực trạng 40
Trang 71.2.2 Phương pháp xác định thực trạng 40
1.2.3 Quá trình điều tra thực trạng 41
1.2.4 Kết quả thu được thông qua điều tra 41
1.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 46
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ RÈN LUYỆN NLTH SGK SH 9 47
2.1 Xác định mục tiêu, phân tích cấu trúc, nội dung phần SV VÀ MT- SH9 47
2.2 Vận dụng các biện pháp sử dụng SGK SH9 để rèn luyện cho HS NLTH .51 2.2.1 Biện pháp rèn luyện NLTH SGK để thu nhận thông tin 51
2.2.2 Biện pháp rèn luyện NLTH SGK để xử lí thông tin 53
2.2.3 Biện pháp rèn luyện NLTH SGK để diễn đạt thông tin thu nhận được 54
2.2.4 Biện pháp rèn luyện NLTH SGK để vận dụng kiến thức 64
2.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68
3.1 Mục đích thực nghiệm 68
3.2 Nội dung thực nghiệm 68
3.3 Phương pháp thực nghiệm 68
3.3.1 Chọn đối tượng thực nghiệm 68
3.3.2 Bố trí thực nghiệm 68
3.4 Kết quả thực nghiệm 69
3.4.1 Phân tích đánh giá định lượng 69
3.4.2 Phân tích đánh giá định tính 75
3.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
Tài liệu tham khảo 84
Phụ lục
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả điều tra về việc sử dụng các biện pháp hướng dẫn
HS tự học SGK trong dạy học sinh học của GV THCS
Bảng 3.2 Bảng tần số điểm các bài kiểm tra của lớp TN và ĐC qua các
lần kiểm tra trong TN
Bảng 3.5 Bảng tần số điểm các bài kiểm tra của lớp TN và ĐC qua các
lần kiểm tra sau TN
72
Bảng 3.6 Bảng phân loại trình độ HS sau TN giữa lớp TN và ĐC 73
Bảng 3.7 So sánh kết quả giữa lớp TN và ĐC qua các lần kiểm tra sau
TN
73
Bảng 3.8 Tần số hội tụ tiến ( f↑ ) - Số trung bình đạt điểm xi của kết
quả kiểm tra của lớp TN và ĐC sau TN
75
Trang 1060
Hình 2.8 Ba dạng tháp tuổi (%) (Hình 48- SGK) 60Hình 2.9 Bảng hệ thống về ảnh hưởng của ánh sáng tới hình thái và
sinh lí của cây
Trang 11PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ trở thành một nước công nghiệp và hộinhập với cộng đồng quốc tế Đảng ta đã xác định nhân tố quyết định thắng lợi mụctiêu đề ra chính là con người - nguồn nhân lực được phát triển về số lượng và chấtlượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Để đạt được điều đó trước hết cầnđược bắt đầu từ GD phổ thông [30] Trước thực tiễn đó, Đảng và Nhà Nước ta đãđưa ra mục tiêu của Giáo dục Việt Nam là “Đào tạo con người Việt Nam phát triểntoàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lítưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cáchphẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc” Trong đó, nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện,thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân;
kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoavăn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học.[30]
Để đạt được mục tiêu đã đặt ra, ngành Giáo dục và Đào tạo đang ra sức thựchiện công cuộc đổi mới giáo dục ở mọi cấp học, đổi mới đồng bộ cả nội dung,phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức và kiểm tra đánh giá Hơn nữa, khoahọc công nghệ đang phát triển nhanh, mạnh với tốc độ cao Nội dung DH ở nhàtrường phổ thông không thể trang bị được mọi tri thức cần thiết cho mỗi người ởcác lĩnh vực hoạt động khác nhau sau này, vì vậy phải coi trọng việc dạy phươngpháp, dạy cách đi tới tri thức mà loài người đã tích luỹ được, tạo cơ sở đó tiếp tụchọc tập suốt đời Phương pháp dạy học từ chỗ sử dụng phương pháp dạy học truyềnthống sang dạy học tích cực “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạocủa HS; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng HS, điều kiện của từnglớp học; bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui
Trang 12hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”[30] Chú trọng sử dụng phương pháp dạyhọc mới và phương tiện hiện đại trong dạy học là tốt nhất
Xuất phát từ những yêu cầu đó, việc đổi mới PPDH được coi là mục tiêutrọng tâm của đổi mới GD phổ thông Chỉ có đổi mới căn bản PPDH mới có thể tạođược sự đổi mới thật sự trong GD nhằm đào tạo được lớp người năng động, sángtạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đanghướng tới nền kinh tế tri thức
Tự học là vấn đề cốt lõi của quá trình học tập Nếu rèn luyện được cho ngườihọc phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học,khơi dậy nội lực vốn có của mỗi người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội
Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học,
nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đềphát triển tự học ngay trong nhà trường phổ thông
Theo nghiên cứu của nhiều nhà tâm sinh lí, lứa tuổi HS THCS hiện nay cóhiểu biết nhiều hơn, linh hoạt và thực tế hơn so với các thế hệ cùng lứa tuổi trướcđây mấy chục năm Ở lứa tuổi này nảy sinh một yêu cầu cũng là một quá trình: sựlĩnh hội độc lập các tri thức và phát triển kĩ năng Nhưng các kĩ năng học tập, đặcbiệt là kĩ năng tự học ở HS nếu muốn được hình thành và phát triển một cách cóchủ động thì cần thiết phải có hướng dẫn, đồng thời tạo các điều kiện thuận lợi,trong đó SGK có một vai trò hết sức quan trọng Thông tin trong SGK qua kênhhình và kênh chữ thường đa dạng, phong phú, đòi hỏi người học phải có tư duy linhhoạt, có đầu óc phê phán mới phát hiện và giải quyết được vấn đề, do đó cần có sựhướng dẫn
Hiện nay ở hầu hết các trường, trong quá trình dạy học, nhiều GV không cóphương pháp hướng dẫn HS sử dụng SGK đúng cách nên vừa không hình thànhđược các kĩ năng cần có cho HS khi làm việc độc lập với SGK, vừa tạo nên thóiquen đọc sách tuỳ tiện, không có ý thức tìm tòi phương pháp đọc sách có hiệu quả.Một số GV lại coi SGK là cuốn “Bách khoa toàn thư”, coi đó là chuẩn mực nên khidạy học sử dụng các CH, BT mà chỉ cần nhìn vào SGK để đọc lại y nguyên một nội
Trang 13dung nào đó là có thể trả lời được Một số rất ít GV có sử dụng các biện pháp đểhướng dẫn HS tự học SGK nhưng các biện pháp đó chưa đạt yêu cầu hoặc khôngphù hợp với hình thức tổ chức dạy học nên chưa hình thành được ở HS kĩ năng tựhọc SGK, tự giành lấy kiến thức mới, do vậy kết quả đạt được còn rất hạn chế.
Để phát triển năng lực tự học SGK ở các trường THCS hiện nay cần phảivận dụng một cách hợp lí các phương pháp dạy học tích cực, có như vậy mới tổchức được các giờ học tích cực có sự hỗ trợ của SGK đồng thời rèn luyện năng lực
tư duy sáng tạo và xử lí linh hoạt cho người học
Sinh học là môn học nhiều lý thú vì gắn liền với cuộc sống Hằng ngày dùmuốn hay không muốn, ai cũng phải bị chi phối bởi thế giới sinh vật Do đó, dạysinh học ngoài việc cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản, hiện đại gắn với thựctiễn cần hình thành cho HS những kỹ năng nhận thức, hướng dẫn HS tự tìm tòi,khám phá những kiến thức hiện đại ban đầu về sinh học đồng thời tạo cho các emniềm tin vào khoa học, có ý thức vươn lên trong học tập, biết vận dụng các kiếnthức đã học vào thực tiễn chăn nuôi, trồng trọt, bảo vệ sức khoẻ và môi trường sống
Sách giáo khoa sinh học 9 được biên soạn theo hướng đổi mới cả nội dung
và phương pháp dạy học Với cách biên soạn như thế đòi hỏi người dạy cần thay đổicách dạy và người học cũng phải thay đổi cách học chủ động, tích cực hơn…
Xuất phát từ những lí do trên và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và nângcao chất lượng dạy học sinh học nói chung và dạy học phần kiến thức sinh học vàmôi trường- Sinh học 9 THCS nói riêng, đặc biệt hình thành và phát huy khả năng
tự học cho học sinh, chúng tôi chọn hướng nghiên cứu: Vận dụng phương pháp sửdụng SGK trong dạy học Sinh học 9- THCS qua dạy học phần: “SINH VẬT VÀ
Trang 143.1 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp rèn luyện năng lực tự học SGK cho HS trong DH phần: “SINH
VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG”
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học sinh học 9
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
4.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc vận dụng các phương pháp sử dụng SGKtrong dạy học
4.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc vận dụng các phương pháp sử dụng SGKtrong dạy học
4.3 Đề xuất một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học SGK cho HS và vận dụngcác biện pháp đó vào DH phần sinh vật và môi trường, Sinh học 9- THCS
4.4 Phân tích mục tiêu, cấu trúc, nội dung phần kiến thức sinh vật và môi
trường-sinh học 9 - THCS để xác định nội dung rèn năng lực tự học cho HS.
4.5 Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra hiệu quả của các biện pháp sử dụng SGKtrong dạy học đã đề xuất
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Xây dựng và sử dụng các biện pháp trong tổ chức hoạt động tự học SGK cho HS
qua dạy học phần kiến thức sinh học và môi trường- Sinh học 9- THCS
6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Nếu đề xuất được các biện pháp rèn năng lực tự học SGK cho HS và vận dụngtrong dạy học phần kiến thức sinh học và môi trường- Sinh học 9 - THCS sẽ chẳngnhững giúp HS nắm vững kiến thức mà còn hình thành được phương pháp tự học
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu tài liệu: - Giáo dục học, tâm lý học…….
- Lý luận dạy học
Trang 157.2 Phương pháp điều tra:
- Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu phương pháp hướng dẫn HS tự học và tìnhhình sử dụng SGK trong DH sinh học của GV THCS
- Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu phương pháp học tập môn sinh học của HSTHCS
- Trực tiếp dự giờ, thăm lớp, kiểm tra kết quả tự học SGK của HS
7.3 Phương pháp chuyên gia
- Gặp gỡ, trao đổi với các chuyên gia trong lĩnh vực mà mình nghiên cứu, từ đó
có những định hướng cho việc nghiên cứu đề tài
- Trao đổi trực tiếp với giáo viên dạy học Sinh học 9 về việc sử dụng SGK đangđược thực hiện làm cơ sở chỉnh sữa và hoàn thiện
7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
7.4.1 Thực nghiệm thăm dò
Xây dựng phiếu điều tra tìm hiểu thực trạng sử dụng SGK trong dạy học sinh học
9 THCS ở các phần đã học Tổ chức điều tra và xử lí số liệu điều tra
7.4.2 Thực nghiệm chính thức
Mục đích: Nhằm thu thập số liệu và xử lý bằng toán học thống kê, xác định chỉ tiêu
đo lường và đánh giá chất lượng sử dụng các biện pháp để tổ chức hoạt động tự họcSGK của HS
Trang 167.5 Phương pháp thống kê toán học
* Phân tích, đánh giá định lượng các bài kiểm tra
Chúng tôi đã sử dụng thống kê toán học để xử lí kết quả chấm các bài kiểmtra nhằm giúp cho việc đánh giá hiệu quả dạy học của các phương pháp, biện pháp
mà luận văn đã đề xuất đảm bảo tính khách quan và chính xác
Trình tự được tiến hành như sau:
- Lập bảng thống kê cho cả 2 nhóm lớp ĐC và TN theo mẫu:
Trong đó: n: Số HS (hay số bài kiểm tra) của các lớp ĐC hoặc TN
xi: Điểm số theo thang điểm 10
ni: Số HS (hay số bài kiểm tra) có điểm số là xi
- Cv% từ 0-10%: dao động nhỏ, độ tin cậy cao.
Trang 17- Cv% từ 10-30%: dao động trung bình, độ tin cậy trung bình
- Cv% từ 30-100%: dao động lớn, độ tin cậy nhỏ
= n1 + n2 - 2 Nếu ׀td׀≥ tα thì sự sai khác của các giá trị trung bình TN < ĐC là có ýnghĩa
Trong đó:
- S1 , S2: Phương sai thực nghiệm của lớp ĐC và TN
-X X1, 2: Điểm trung bình của lớp ĐC và TN
- Xác định thực trạng sử dụng SGK của HS lớp 9 THCS nói chung
- Xác định được những biện pháp vận dụng các phương pháp sử dụng SGK
trong dạy học phần: “SINH VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG” - Sinh học 9- THCS
-Thiết kế được một số giáo án có vận dụng các phương pháp sử dụng SGK
trong dạy học phần: “SINH VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG” - Sinh học 9- THCS
9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương :
- Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Trang 18- Chương II: Các biện pháp sử dụng SGK để rèn luyện năng lực tự học trong dạy
học phần: “SINH VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG” - Sinh học 9- THCS
- Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 19PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1.1.1 Trên thế giới
Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học được nghiên cứu từ rất sớm Ý tưởngdạy học coi trọng người học, chú ý đến tự học đã có từ thời cổ đại, tùy theo từnggiai đoạn lịch sử và vấn đề phát triển của xã hội mà ý tưởng này đã phát triển và trởthành quan niệm dạy học ngày nay Phương tây cổ đại có phương pháp giảng dạycủa Socrat (Hy Lạp 469- 390 TCN); Axixtot (384- 322 TCN) nhằm mục đích pháthiện chân lí bằng cách đặt câu hỏi để người học tự tìm ra kết luận Socrat gọi là
“phép đỡ đè” khẩu hiệu dạy học của ông là: “anh phải tự biết lấy anh” Khổng Tử(479- 355 TCN) ở phương Đông dạy theo đối tượng và kích thích suy nghĩ của HS
“không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thìbày vẽ cho Vật có 4 góc, bảo cho biết 1 góc mà không suy ra 3 góc thì không dạynữa”(Ngạn ngữ).[41]
Đến thời Phục Hưng ở Châu Âu dạy học lấy người học làm trung tâm đã trởthành một tư tưởng, có nhiều nhà giáo vĩ đại đã coi trọng tự học Mongtenho( 1533-1592) được coi là một trong những ông tổ của Châu Âu cho rằng muốn dạy học cóhiệu quả không nên bắt buộc trẻ em phải làm theo ý muốn chủ quan của thầy.J.A.Komenxki(1592- 1670) kêu gọi người thầy phải làm cho HS có hứng thú tronghọc tập, từ đó nỗ lực bản thân tự nắm vững tri thức J.J Rousseau(1712- 1718) cũng
đã có những quan điểm phải đưa ra những biện pháp DH hướng HS tìm tòi suynghĩ, khám phá, sáng tạo, tích cực tự đánh giá kiến thức
Cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, việc tổ chức cho HS học tập theo hướng tíchcực hoá đã được hình thành và phát triển với những quan điểm, công trình nghiên cứu
có qui mô lớn ở các nước châu Âu và Mỹ Nhiều nhà GD ở các nước trên thế giới đãthấy rằng việc DH phải kích thích được hứng thú, sự độc lập tìm tòi, phát huy sáng tạocủa HS, thầy giáo chỉ là người thiết kế, người cố vấn
Trang 20Ở Liên Xô vấn đề làm việc với SGK được nghiên cứu từ rất sớm.
Năm 1947, Crupxcaia.N.A đã xuất bản tài liệu : “Làm việc độc lập với SGKnhư thế nào?”
Vào thời điểm này, một số nhà giáo dục Mỹ cũng đã có những nghiên cứuchuyên biệt về hoạt động đọc sách của sinh viên và bàn về hoạt động này trong một
số tài liệu chuyên ngành Harold.W.Bernat đã dành nhiều nội dung để hướng dẫncho sinh viên các kĩ thuật làm việc với sách, hình thành thói quen, kĩ năng, kĩ xảođọc sách
Quan điểm làm việc với SGK đã được đưa vào giáo trình lí luận DH từnhững năm 1956, 1957 nhưng việc rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK cho HS vẫncòn nhiều hạn chế:
Tác giả I.A.Cairop(1956) chỉ đề cập một số hình thức đơn giản của việc
sử dụng SGK trong giờ lên lớp mà chưa phải là hình thức cơ bản Phần lớn GV chỉcho HS đọc SGK những phần kiến thức đơn giản cần ghi nhớ, dành thời gian đểgiảng những kiến thức khó I.A.Cairop cũng cho rằng nên dùng SGK ở những phầnkiến thức khó bằng cách GV cùng HS tìm dàn ý
Tác giả E.I.Golan(1957) trong cuốn “ Những phương pháp dạy học trongnhà trường Xô Viết” cho rằng việc nghiên cứu SGK một cách cơ bản ở các lớp 5đến 10 được tiến hành không phải trên giờ lên lớp mà trong quá trình chuẩn bị cácbài tập ở nhà[41]
Từ năm 1958, trong cuốn “Hoạt động của HS trong quá trình dạy học”Tác giả B.P.Exipop đã lưu ý GV nên sử dụng SGK để phát huy tính tích cực của
HS Từ đó SGK đã được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả hơn tạo bước ngoặc mớicho hoạt động dạy học
Tác giả T.A.Ilia(1979) trong cuốn “Giáo dục học” đã cho rằng để việc họctập theo sách có hiệu quả HS phải nắm các kĩ năng, kĩ xảo tương ứng và đưa ra một
số phương pháp: phương pháp đọc, lập dàn ý, trả lời câu hỏi….và nêu lên nhữngquy tắc làm việc chủ yếu của HS với SGK
Trang 21Tác giả N.M Veczilin (Liên Xô cũ) trong tác phẩm “Đại cương về phươngpháp dạy học sinh học” cũng cho rằng: “cần tổ chức tự học cho HS không chú ý đếnnội dung, phương pháp mà việc tổ chức sắp xếp logic của tài liệu cũng có ý nghĩalớn ”[26]
Tác giả V.P.Xtơrozicozin trong tác phẩm “Tổ chức quá trình dạy học trongtrường phổ thông” cũng đã trình bày những nghiên cứu của mình về vai trò của HStrong việc tự học, vị trí của tự học trong học tập, phương pháp tổ chức tự học,những nguyên tắc, điều kiện đảm bảo cho tự học có hiệu quả.[36]
Tác giả RUBAKIN N.A(2004) trong tác phẩm Tự học như thế nào? đã cho rằng:
"Bản chất của sự trao đổi học vấn hoàn toàn không chỉ ở chỗ đã đọc xong vànghiên cứu được số lượng sách nhất định mà ở chỗ đã đọc và nghiên cứu chúngnhư thế nào?"[31]
Vấn đề rèn luyện cho HS kĩ năng tự học SGK và tài liệu học tập cũng đã đượcrất nhiều nước quan tâm
Các thông tư chỉ thị của bộ GD Pháp suốt những năm 1970- 1980 đều khuyếnkhích tăng cường vai trò chủ động, tích cực của HS, chỉ đạo áp dụng phương pháptích cực từ bậc sơ học, tiểu học, đến trung học.[41]
Ở Hoa Kì, ý tưởng DH cá nhân hoá ra đời trong những năm 1970 đã được thửnghịêm tại gần 200 trường GV xác định mục tiêu, cung cấp các phiếu hướng dẫn để
HS tiến hành công việc độc lập theo nhịp độ phù hợp với năng lực.[41]
Từ năm 1990, ở Mỹ việc rèn luyện “Kĩ năng đọc nghiên cứu ” đã trở thành mộttrong những nhiệm vụ đào tạo cực kì quan trọng trong nhà trường Trong các kìnghỉ hè và công tác hỗ trợ học tập, người ta thường thành lập rất nhiều trung tâm “kĩnăng đọc nghiên cứu” đã giúp HS được học tập nhiều cách thức đọc khác nhau, lànền tảng để phát triển việc đọc có tính chất nghiên cứu thông qua việc đọc đúng,đọc làm nổi bật từng cấp độ ý nghĩa
1.1.1.2 Trong nước
Bên cạnh các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài kể trên còn cócác công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước về công tác tự học hay báo cáo
Trang 22tổng kết về các phong trào liên quan đến tự học như:
Trong nghị quyết của bộ chính trị về cải cách giáo dục(11/1/1979) đã viết: “cầncoi trọng việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phương pháp học cho HS, hướngdẫn HS biết cách nghiên cứu SGK thảo luận chuyên đề, ghi chép tư liệu, tập làmthực nghiệm khoa học”
- Nguyễn Tinh Dung: “Mấy biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học của học Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 9/1982
- Nguyễn Cảnh Toàn : “Mấy suy nghĩ và kinh nghiệm về công tác tự học của họcsinh”- Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 5- 1/1970
- GS Nguyễn Cảnh Toàn trong tác phẩm “Học và dạy cách học” đã đề cập đếnvai trò của người học, người dạy và mô hình tự học [32]
- Tác giả Phan Trọng Ngọ với“ Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà
trường" đã cho rằng học qua đọc sách là một phươ ng pháp làm việc độc lập củahọc viên có sự trợ giúp của GV Tác giả đã đề cập đến vai trò của sách, điểm mạnh
và hạn chế của học qua đọc sách, các mức độ đọc sách, yêu cầu khi đọc sách, kĩthuật đọc sách[44]
- Tác giả Trần Bá Hoành với “Kĩ thuật dạy học sinh học” đã đề cập phải chú ýđến rèn luyện phương pháp tự học.[15]
- Tác giả Nguyễn Kì với “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” đã đề ranguyên tắc và các bước tổ chức HS tự học.[19]
- GS TS Đinh Quang Báo và PGS.TS Nguyễn Đức Thành đã đưa ra lí luận cơbản về phương pháp làm việc với SGK, tài liệu tham khảo, nêu lên vai trò của SGKtrong quá trình DH: “SGK không chỉ là công cụ của trò mà là cả của thầy, khôngchỉ sử dụng ở nhà mà còn sử dụng đắc lực trên lớp, không chỉ ôn tài liệu đã học màcòn tiếp thu tri thức mới”.[3]
Ngoài ra còn nhiều tài liệu, luận văn thạc sỹ của nhiều tác giả cũng nghiên cứu
về các biện pháp để rèn luyện NLTH SGK cho HS để dạy các phần khác nhau củaSinh học phổ thông:
Trang 23+ Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Thanh Oai (2003): “Sử dụng câu hỏi, bài tập
để tích cực hoá hoạt động của HS trong dạy học sinh thái học 11- THPT” là côngtrình nghiên cứu có hệ thống từ cơ sở lí luận đến việc thực hiện đề xuất các nguyêntắc về qui trình xây dựng và sử dụng CH, BT, từ đó định hướng cho GV về phươngpháp, kĩ năng thiết kế CH, BT trong tất cả các khâu của quá trình lên lớp.[37]
+ Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Gái (2010): “Rèn luyện năng lực tự họcSGK cho HS qua DH phần “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” - Sinh học 11-THPT” [12]
+ Luận văn thạc sĩ của Hà Khánh Quỳnh (2007): “Rèn luyện năng lực tựhọc SGK cho HS qua DH phần “Sinh học tế bào” - Sinh học 10- THPT” [41]
Như vậy, những công trình nghiên cứu về công tác tự học kể cả trong vàngoài nước đã điểm qua ở trên đã được những cơ sở khoa học, vị trí, bản chấtcủa việc tự học của học sinh Các tác giả đều khẳng định: cần phải đưa ra đượccác biện pháp tích cực để tổ chức học sinh tự học Song các biện pháp hướngdẫn, phương pháp, phương tiện để rèn luyện NLTH SGK cho HS trong từng môn
cụ thể thì chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt trong DH sinh học phần : “SINH
VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG” trong chương trình THCS mới hiện nay.
1.1.2 Cơ sở lí luận của các biện pháp sử dụng SGK để rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh:
1.1.2.1 SGK, Vai trò của SGK:
* SGK (Textbook): Là một phương tiện dạy học được sử dụng rộng rãi ở tất
cả các nước trên thế giới, các cấp bậc khác nhau nhưng cho đến nay vẫn chưa cóquan niệm cụ thể về SGK
- Trên Wikipedia, SGK được định nghĩa là loại sách cung cấp kiến thức,được biên soạn với mục đích dạy và học Thuật ngữ SGK còn được hiểu là một loạisách chuẩn cho một ngành học[39]
- SGK được phân loại dựa trên đối tượng sử dụng hay chủ thể của sách Việcxuất bản SGK thường dành cho các nhà xuất bản chuyên ngành Biên soạn một sách
Trang 24giáo khoa giá trị là cả một kì công Ngày nay bên cạnh dạng sách in, nhiều SGK cóthể được tham khảo trực tuyến.
* SGK phổ thông: Ở cấp phổ thông, SGK là sự thể hiện những nội dung cụ
thể ở chương trình phổ thông Trên thế giới có nhiều bộ SGK khác nhau được biênsoạn cho cùng một môn học.Tại Việt Nam hiện tại chỉ tồn tại một bộ SGK duy nhấtcho một môn học
Kiến thức trong SGK là một hệ thống kiến thức khoa học, chính xác, theomột trình tự logic chặt chẽ được gia công về mặt sư phạm cho phù hợp với trình độ
HS và thời gian học tập Ngoài phần kiến thức SGK còn có một phần về rèn luyện
kĩ năng và phương pháp giảng dạy môn học
Theo luật Giáo dục Việt Nam (2005), SGK cụ thể hóa các yêu cầu về nộidung, kiến thức và kĩ năng quy định chương trình giáo dục của các ôn học ở mỗi lớpcủa giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp của giáo dục phổthông[30]
Theo Nguyễn Duân, SGK là sách học của HS do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổchức biên soạn và duyệt trên cơ sở thẩm định của hội đồng quốc gia thẩm định SGK
để được sử dụng chính thức thống nhất ổn định trong giảng dạy, học tập và đánh giá
HS ở nhà trường và cơ sở giáo dục phổ thông khác
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, SGK thể hiện một cách cụ thể nội dungphương pháp giáo dục của từng môn học trong chương trình Giáo dục phổ thôngvới yêu cầu:
- Bám sát chương trình môn học
- Đảm bảo tính kế thừa trong quá trình biên soạn
- Dựa trên cơ sở lí luận về SGK, xu thế tiên tiến trên thế giới
- Đảm bảo cơ bản, tinh giản, hiện đại, sát với thực tiễn Việt Nam
- Đảm bảo tính liên môn
- Tạo điều kiện trực tiếp giúp HS nâng cao năng lực tự học và đổi mới PPDH
- Đảm bảo yêu cầu phân hóa
- Đảm bảo những yêu cầu về văn phong đặc trưng của SGK
Trang 25- Chú ý tới đặc điểm lứa tuổi HS và điều kiện DH cụ thể
*Vai trò của SGK
- Các nhà tâm lí học dạy học, các nhà lí luận dạy học đều coi SGK là một nguồn tri thức cơ bản đối với HS và là phương tiện dạy học có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học bộ môn Chẳng hạn như:
- Đ.Đ Zuep nhận xét rằng: “SGK là nguồn tri thức quan trọng nhất đối với HS,
là loại sách học tập phổ biến, là phương tiện mang nội dung học vấn và là phương tiện DH giúp HS lĩnh hội tài liệu học tập”
- X.G.Sapovalenco thì khẳng định rằng: “Trong hệ thống các phương tiện dạy học của mỗi bộ môn thì SGK là phương tiện DH quan trọng nhất vì nó đóng vai trò chủ yếu trong DH có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các phương tiện DH khác, đặc biệt là nó chi phối nội dung và việc chế tạo các loại phương tiện dạy học này” [7]
- N.A.Loskareva thì cho rằng: “SGK có vai trò to lớn trong việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo học tập cho HS”[17]
- A.I.Gerxen đã nhận xét rằng: “Sách có ảnh hưởng rất lớn đối với sự giáo dục
và phát triển của con người, không đọc sách thì không có thị hiếu giáo dục chân chính, cũng không có cả thị hiếu văn chương cả tầm hiểu biết, toàn diện sâu sắc và nhờ đọc sách con người có thể sống qua các thế kỉ”
- Đ.I.Pixarep cho rằng: “Sách và việc đọc sách thực sự có một ý nghĩa lớn lao, nhưng muốn sách trở thành một phương tiện có hiệu quả giúp cho sự phát triển trí tuệ và sự phong phú tinh thần của con người thì cần phải biết đọc sách” nghĩa là
“sách chỉ bổ ích với người nào biết đọc sách”[29]
- M.N.Xkatkin cho rằng: “Công việc với SGK chỉ có thể là phương pháp giảithích minh họa khi mà HS đọc SGK, là phương pháp tái hiện khi HS luyện tập theo một đoạn nào đó, là phương pháp nghiên cứu nếu HS giải quyết theo SGK những nhiệm vụ không phải là mẫu quen biết đối với chúng”[29]
Những quan điểm trên đã khẳng đinh ý nghĩa của sách đối với sự phát triểncủa mỗi con người và của toàn xã hội Giáo dục là nơi diễn ra quá trình chuyển giao
Trang 26kinh nghiệm và trình độ văn minh, văn hóa của thế hệ trước cho thế hệ sau Xuhướng đổi mới trong giáo dục hiên đại là giáo dục dần dần phải chuyển thành tựgiáo dục Trong bối cảnh đó sách càng có vai trò trong giáo dục thế hệ trẻ.
- Theo GS Đinh Quang Báo , SGK là tài liệu học tập, tài liệu khoa học, vừa
là nguồn cung cấp kiến thức phong phú cho người học, vừa là phương tiện chủ yếu
để người dạy tổ chức hoạt động học[4]
- SGK là tài liệu chính để GV và HS dạy và học, vì vậy ý nghĩa và chức năngcủa nó phải được xem xét trong mối quan hệ cả người dạy lẫn người học
* Xét trên khía cạnh liên quan đến người học
- SGK là tài liệu chính, cụ thể hóa nội dung của chương trình, là nguồn cung cấpthông tin cơ bản cho HS , chứa đựng những kiến thức khoa học, cơ bản và hệ thốngnên học sinh có thể lĩnh hội kiến thức một cách logic, ngắn gọn, khái quát nhất
- Trong quá trình học tập, SGK đối với HS là nguồn tư liệu cốt lõi, cơ bản để tracứu tìm tòi Tư liệu tra cứu được từ SGK phải trải qua một chuỗi các thao tác tư duylogic Do đó, trong quá trình làm việc với SGK, học sinh không chỉ nắm vững kiếnthức mà còn rèn luyện các thao tác tư duy, hình thành kĩ năng, kĩ xảo đọc sách Đây
là hai mặt có quan hệ tương hỗ, thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình HS làm việc độclập với SGK
- Với tư cách là nguồn cung cấp thông tin cơ bản, SGK là nguồn tư liệu để HS
sử dụng trong nhiều hoạt động học tập như: lĩnh hội kiến thức mới, ôn tập và củng
cố kiến thức đã học trên lớp, tự học ở nhà( học thuộc hay tra cứu chính xác những
số liệu, định nghĩa, định lí, công thức, các sự kiện… Khái quát nội dung từ cácphần, các chương, các bài theo một chủ đề nhất định
- SGK là một trong những công cụ giúp HS tự kiểm tra, tự đánh giá kết quảhọc tập của mình từ đó định hướng kết quả học tập cho phù hợp
* Xét trên khía cạnh liên quan đến người dạy
Trong bài tổng kết kinh nghiệm sử dụng SGK, GS Đinh Quang Báo đã viết: “đểnâng cao giá trị dạy học của SGK, GV phải xem SGK là công cụ để tổ chức hoạtđộng tự học của HS”
Trang 27- Đối với GV, SGK là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho hoạt động DH từ khâu thiết kế bài dạy, tổ chức bài lên lớp và kiểm tra đánh giá HS
- Khi tổ chức cho HS làm việc độc lập với SGK tức là hoạt động của HS chiếm
tỉ trọng cao hơn so với GV về mặt thời gian cũng như cường độ làm việc nhưng thật
ra GV phải đầu tư thời gian và công sức rất nhiều trong việc soạn bài và thiết kế cáchoạt động học tập cho HS
- Trong khâu thiết kế bài dạy, SGK là một tài liệu chuẩn cho GV soạn giáoán( xác định mục tiêu, phương tiện, kiến thức trọng tâm, tiến trình bài giảng Tínhlogic giữa các chương, các phần, các bài, các mục trong bài sẽ giúp GV hệ thốngđược các kiến thức cần truyền đạt cho HS và thiết kế các dạng hoạt động của HSđối với từng loại kiến thức
- Trong khâu lên lớp, SGK được xem là phương tiện hỗ trợ cho GV, là công cụ
để GV tổ chức, giải quyết những yêu cầu học tập theo hướng phát huy tính tích cựchọc tập của HS Khi đó, những gì in trong SGK chỉ là tài liệu cơ bản cốt lõi mà cầnđược gia công theo định hướng của GV
- Dưới sự tổ chức định hướng của GV, có thể cho phép hoạt động tự lực nghiêncứu SGK của HS theo một phổ rộng Từ việc nghiên cứu sách để ghi nhớ, tái hiệncác sự kiện, tư liệu đến việc nghiên cứu SGK để giải quyết một nhiệm vụ nhận thứcsáng tạo
- Trong khâu kiểm tra, đánh giá SGK được GV sử dụng là một trong nhữngcông cụ để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS, từ đó điều chỉnh việc DH chophù hợp với trình độ HS
Tóm lại: SGK là sản phẩm kết tinh của văn hóa nhân loại, là nguồn tri thứckhoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Sách có vai trò quantrọng trong việc nâng cao trình độ văn hóa chung của con người giúp con người tiếpthu những giá trị văn hóa của lịch sử nhân loại SGK là phương tiện trực quan cơbản, không thể thiếu, đảm bảo yêu cầu dạy học của bộ môn ở nhà trường phổ thông
Trang 281.1.2.2 Khái niệm về năng lực tự học SGK.
* Khái niệm tự học
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tự học:
+ Theo Bolhuis và Garison, tự học tức người học phải là người chủ có tráchnhiệm và tự quản lí việc học của mình Tự học tích hợp việc quản lí với tự kiểmsoát, đó chính là quá trình mà người học tự theo dõi, đánh giá và điều chỉnh chiếnlượt nhận thức của mình
+ Trong tự học việc kiểm soát chuyển dần từ GV sang HS HS phải thể hiệntính độc lập cao trong việc đưa ra mục tiêu và quyết định nội dung học cũng nhưbiện pháp để thực hiện các nhiệm vụ học tập( Lyman 1997; Morow, Sharkey vàFirestone 1993)
+ Trong tự học GV chỉ nâng đỡ HS bằng cách làm cho việc học trở nên rõràng GV đưa ra mô hình của chiến lượt học tập và làm việc của HS, vì thế HS pháttriển được khả năng làm việc một mình( Bolhuis 1996; Corno 1992; Leal 1993)
+ Tuy nhiên, tự học lại có tính cộng tác cao Trong tự học, HS thường cộngtác chặt chẽ với GV và với bạn học cùng lớp (Guithrie; Alao và Rinehar 1997;Temple và Rodeto 1995)
+ Tự học phát triển kiến thức nhất định cũng như chuyển kiến thức sang cáchoàn cảnh mới Tự học là cầu nối giữa kiến thức ở nhà trường với các vấn đề thực
tế của xã hội bằng cách xem xét người khác học thế nào trong cuộc sống hằngngày(Bolhuis 1996; Temple và Rodeto 1995)
Ở Việt Nam một số nhà giáo dục đã đưa ra một số quan niệm về tự học nhưsau:
+ Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn thì: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,
sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp….), và có khi cả
cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tìnhcảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ,không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học…) để chiếm lĩnh
Trang 29một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu củamình” [32]
+ Theo tác giả Nguyễn Như An: “Tự học, tự đào tạo, tự lực trong công táchọc tập là yếu tố quan trọng và là nguyên nhân bên trong trực tiếp tác động đến chấtlượng đào tạo” [2]
+ Theo tác giả Lưu Xuân Mới: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của
cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người họctiến hành ở trên lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và SGK đãđược qui định ” [17]
* Năng lực tự học:
NLTH được hiểu là khả năng HS tự khám phá được kiến thức, kĩ năng theomục đích nhất định dưới sự hướng dẫn của GV
Kết quả tự học cao hay thấp là phụ thuộc NLTH của mỗi cá nhân Mỗi người
có một cách học khác nhau Cách học ở đây là cách tác động của người học đến đốitượng học Có 2 cách học cơ bản:
+ Dựa theo mô hình Pavlop: cách học do người dạy áp đặt, có phần thụđộng
+ Dựa theo mô hình Skinner: người học tự mò mẫm, lựa chọn cách học, tựmình tìm ra kiến thức, là cách học chủ động theo cách thử đúng, sai
Có thể nói học cách học, học phương pháp học chính là học cách tự học bằngNLTH của mình NLTH luôn tiềm ẩn trong mỗi con người, là nội lực phát triển củabản thân mỗi người học Khi người học biết cách tổ chức, thu thập, xử lí thông tin
và tự kiểm tra, tự điều chỉnh khi làm việc với các nguồn tri thức khác nhau nghĩa là
đã nắm được phương pháp học để học trên lớp và tự học
Theo Nguyễn Kỳ, trong bất cứ con người Việt Nam nào trừ những người bịkhuyết tật, tâm thần – đều tiềm ẩn một năng lực, một tài nguyên quốc gia vô cùngquí giá đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổimới, tự sáng tạo trong công việc hàng ngày gọi chung là NLTH sáng tạo.[ 19]
Theo Lê Công Triêm, các nhóm NLTH của HS gồm:
Trang 30+ Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề.
+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực xác định kết luận đúng (kiến thức, cách thức, giải pháp, biệnpháp…) từ quá trình giải quyết vấn đề
+ Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn hoặc nhận thức kiến thứcmới
+ Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Năm năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau tạo nên NLTH ởHS
sự kiện, các ví dụ nêu ra trong sách và các kết luận khái quát hoá từ các sự kiện và
mà người học không phải động não gì lắm, chỉ cần nghe, nhìn, hiểu, phần lớn phảitrải qua một quá trình học phức tạp với những thao tác tư duy cần thiết được rènluyện thành thạo
Làm việc độc lập với sách là một năng lực cần thiết cho mọi người để có thểhọc suốt đời vì thật khó mà luôn có thầy bên cạnh, còn sách thì có dễ dàng hơn
Trang 31+ Người học có SGK và có thầy giáp mặt, hướng dẫn cách học để tự khám phakiến thức, kĩ năng mới Nội dung luận văn sẽ nghiên cứu ở mức độ này.
- Tự học hoàn toàn (học với sách, không có thầy bên cạnh)
Là hình thức tự học, tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rènluyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn của GV
Tuy nhiên vẫn có sự liên hệ giữa người học và ông thầy – tác giả của sáchmột cách gián tiếp thông qua sách Do đó, biết cách đọc sách chính là biết “hỏisách”, những chỗ còn thắc mắc chưa hiểu thì biết tìm thêm những loại sách nào nữa
để đọc Khi đọc sách, người học phải biết lựa chọn những chương nào, trang nào đó
để đọc, sau đó tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng, ghi chép lại những điềucần thiết, biết viết tóm tắt, lập dàn ý, đề cương từ những phần mình đã đọc được.Bên cạnh đó, người học cũng phải biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biếtcách làm việc trong thư viện
Như vậy, biết cách tự học sách là điều kiện không thể thiếu để tự học hoàntoàn, tự học suốt đời Đây là một hoạt động đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tựgiác và kiên trì cao thì mới đạt được kết quả Do đó, tự học rất gắn bó với quá trình
tự GD để có được những nét tính cách trên
Vì vậy, phải học một cách hệ thống với thầy, rồi với sách và ngày nay cáchhọc đó phải dẫn tới việc thông minh, sáng tạo vì khi nắm chắc các kiến thức cơ bản,
có hệ thống rồi thì nhờ NLTH sẽ tìm được nhiều kiến thức mới
Tóm lại: NLTH SGK là năng lực tự chiếm lĩnh kiến thức từ SGK
Trang 321.1.2.3 Các năng lực tự học SGK cần có của HS
* Năng lực thu nhận thông tin từ SGK
Năng lực thu nhận thông tin từ SGK là khả năng HS biết định hướng và chọnlọc ra được những thông tin chính, bản chất từ nội dung kiến thức trình bày trongSGK để giải quyết mục tiêu học tập
Để định hướng thu nhận thông tin thật cụ thể, chính xác, HS cần xác định rõmục tiêu học tập được cụ thể hóa bằng những chỉ dẫn hoạt động nhận thức trongquá trình làm việc với tài liệu
Hiện tại SGK không trình bày mục tiêu, vì vậy để HS tiết kiệm được thờigian, khi hướng dẫn cho HS ngay từ khi chuẩn bị, GV cần giúp HS xác định đượcmục tiêu chung của bài và gợi ý để HS tiếp tục xác định các mục tiêu cụ thể
Khi đã nắm vững mục tiêu bài học, HS tiến hành làm việc với sách bằng việcđọc lướt sau đó đọc kĩ Để chuẩn bị cho bài học mới, GV thường yêu cầu HS đọctrước bài trong SGK nhưng rất ít GV quan tâm hướng dẫn khâu này GV chỉ yêucầu HS đọc lướt qua để nắm bắt nội dung chính chứ chưa đi vào chi tiết Đôi khicần đọc lướt cả chương hoặc một cụm bài để tìm hiểu cấu trúc chung của tài liệu,trên cơ sở đó xác định được vị trí, ý nghĩa của bài học sắp tới, do đó hiệu quả đi sâuvào bài học được nâng lên
Nếu biết ghi nhớ những điểm quan trọng trong tài liệu thì kiến thức thu nhậnmới có giá trị Muốn làm được điều đó, HS phải có cách thu nhận thông tin đọcđược bằng các cách khác nhau: đánh dấu vào những chỗ quan trọng trong sách,trích ghi, ghi tóm tắt, lập dàn ý, đề cương… Kĩ năng ghi chép thông tin khi làmviệc với SGK rất quan trọng vì nó giúp người đọc tiết kiệm được rất nhiều thờigian, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc Kĩ năng ghi chép thông tin thểhiện ở một số mặt sau:
+ Đánh dấu vào SGK: HS dùng bút gạch chân hoặc bút dấu bằng mực màunhằm làm nổi bật những câu, những đoạn trong SGK
+ Lập dàn ý: Dàn ý là một tổ hợp các đề mục chứa đựng những ý cơ bản cótrong bài học Các phần của dàn ý là các đề mục trong SGK hoặc do người đọc xây
Trang 33dựng trên cơ sở chi tiết hoá từng mục trong SGK Dàn ý có thể ở dạng khái quáthay chi tiết Mỗi mục nhỏ có giới hạn tương đối và chứa đựng một “liều lượng” nộidung trọn vẹn Để lập được dàn bài cần tách ra các ý chính, sau đó thiết lập giữachúng mối quan hệ và trên cơ sở đó lựa chọn đề mục cho từng phần nhỏ Quan hệgiữa các phần nhỏ với các phần lớn hơn là quan hệ giữa bộ phận với toàn thể, giữacái riêng và cái chung.
+ Đề cương: là sự cụ thể hoá một bước của dàn ý: trong từng mục của đềcương còn có cả nội dung các luận điểm cơ bản, đoạn trích, lời bình luận hay nhậnxét Về mức độ có thể lập đề cương tóm tắt hoặc đề cương chi tiết, là xây dựngnhững ý cơ bản của bài đọc được tóm tắt lại Đề cương cũng theo các đề mục đãnêu trong dàn bài nhưng trình bày các đối tượng, hiện tượng nghiên cứu một cáchngắn gọn
+ Trích ghi và ghi tóm tắt: là những cách ghi chép thông tin phổ biến và cũngrất quan trọng Ghi tóm tắt và ghi đại ý là một cách ghi tổng hợp mang tính khoahọc cao nhất, đòi hỏi các thao tác tư duy của người học như: phân tích, tổng hợp,khái quát hoá, hệ thống hoá… Như vậy, khi hình thành và phát triển năng lực thunhận thông tin qua SGK, HS sẽ xác định đúng được mục tiêu và có cách thu nhậnthông tin đọc được dưới nhiều hình thức khác nhau
*Năng lực xử lí thông tin từ SGK.
Năng lực xử lí thông tin qua kênh hình, kênh chữ từ SGK là khả năng sử
dụng các thông tin thu nhận được vào việc giải quyết các mục tiêu học tập Sau khithu nhận được các thông tin từ SGK, căn cứ vào mục tiêu học tập, HS nghiên cứu
kĩ lại những chỗ đánh dấu hoặc đã ghi chép được trong những lần đọc trước Khinghiên cứu, HS cần phối hợp thu nhận thông tin từ 3 kênh: chữ, số, và hình và phânloại chúng Đó là sự phân tích thông tin để xác định được các ý chính, phụ, ý trọngtâm, loại bỏ các ý rườm rà ít có giá trị thông tin, xác định mối liên hệ giữa các ý đểkhu biệt các nhóm ý rồi tổng hợp và khái quát chúng thành các khái niệm, qui luậthay học thuyết, hoặc nội dung cơ bản của phần tài liệu và ghi nhớ chúng trên nềnthông hiểu
Trang 34Tất cả các thao tác nói trên đều được diễn ra bằng các thao tác tư duy, ngônngữ Sau khi các tri thức quan trọng nhất đã được chọn lọc nhằm giải quyết mụctiêu bài học, các tri thức này cần được sắp xếp theo một logic chặt chẽ nhằm trả lờimột hệ thống CH hoặc giải một BT Các CH, BT có nhiều dạng khác nhau: tái hiện,phân tích sự kiện, hiện tượng, so sánh, thiết lập mối quan hệ nhân quả… nhằm giảiquyết các nhiệm vụ học tập ở các cấp độ khác nhau Để trả lời và giải được các loại
CH, BT đó HS phải sử dụng các tri thức đã thu nhận được qua làm việc với sách,sắp xếp lại, trình bày theo cách hiểu của mình, bằng ngôn ngữ của mình chứ khôngphải đọc lại nội dung một phần nào đó trong SGK
Nội dung thông tin sau khi thu nhận và xử lí được xem là kết quả quan trọng
để đánh giá hiệu quả của quá trình làm việc độc lập với SGK của HS Để HS cóđược các kĩ năng làm việc này GV cần hướng dẫn cụ thể qui trình và các thao táclàm việc với SGK để giúp HS có kĩ năng định hướng ghi chép và xử lí thông tintrong khi đọc
*Năng lực diễn đạt kết quả thu được từ SGK.
Năng lực diễn đạt kết quả thu được từ SGK là khả năng diễn đạt đúng nộidung theo đúng chủ đề bằng sơ đồ, hình vẽ, lời mô tả…
Có thể trình bày nội dung đọc được bằng nhiều hình thức khác nhau như:bằng văn nói, văn viết, lập bảng, biểu so sánh và sơ đồ hoá… nhưng cốt yếu phải
là ngôn ngữ chính của HS, diễn đạt theo cách hiểu của HS chứ không phải là chéplại SGK
Khi hình thành và phát triển năng lực diễn đạt kết quả thu được từ SGK sẽ cótác dụng rèn luyện và phát triển các kĩ năng tư duy, đặc biệt là kĩ năng tự học: biếtthu thập, xử lí thông tin, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá lập bảng biểu, vẽ
đồ thị, làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm, làm báo cáo, kĩ năng ngôn ngữ ởmức độ cao, giúp HS lưu giữ thông tin một cách vững chắc, tạo thuận lợi cho việctrình bày bằng lời trong thảo luận hay khi ôn tập để kiểm tra, thi cử
*Năng lực vận dụng kiến thức
Năng lực vận dụng kiến thức là khả năng sử dụng các kiến thức thu nhận và
Trang 35xử lí được để nhận thức, cải tạo thực tiễn.
Năng lực vận dụng kiến thức được thể hiện ở việc HS sử dụng những kiếnthức đã lĩnh hội được vào việc giải thích các hiện tượng có trong thực tiễn hoặc giảiquyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó như giải các BT…
Để vận dụng tốt kiến thức thì trước hết HS phải hình thành được 3năng lực như đã đề cập ở trên Có thu nhận và xử lí được thông tin từ SGK thì HS mới
sử dụng được kiến thức đó vào thực tiễn và diễn đạt được đúng theo chủ đề
1.1.2.4 Sự cần thiết phải rèn luyện năng lực tự học SGK
Học là hoạt động làm biến đổi phát triển người học, tái tạo lại kiến thức của loàingười và tạo ra năng lực mới, mà trước đến là năng lực hoạt động tự lực nhận thứccủa HS Chất lượng đào tạo phụ thuộc chủ yếu vào năng lực tự học tự lực nhận thứccủa HS Bởi vì không ai có thể học hộ người khác, và một thực tế thấy rằng chỉ với
nổ lực của bản thân mình thì kiến thức thu được mới bền vững và sinh động
Trong hoạt động học tập, chiếm lĩnh tri thức của người HS thì tự học là một khâu
hết sức quan trọng Con đường tối ưu nhất, có hiệu quả nhất để nâng cao chất lượngđào tạo và đạt được mục tiêu giáo dục là học bằng hoạt động tự học Có thể nói tựhọc là yếu tố quyết định đến hiệu quả, chất lượng tiếp thu tri thức của người họcsinh Tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong GD nhà trường và trong cả cuộcsống người học Tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạtđộng độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hội cho họ họctập suốt đời
“ Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho;một thứ, quan trọng hơn nhiều do mình tự tìm lấy” Gibbon
Theo V.P Xtơrozicozin (1981), [36] tổ chức cho HS tự học có các vai trò sau:
- Nâng cao tính tự giác và tính vững chắc trong việc nắm kiến thức của HS
- Rèn cho HS kĩ năng, kĩ xảo được qui định trong chương trình của mỗi bộ môn,phù hợp với mục đích của nhà trường
- Dạy cho HS biết cách áp dụng các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã thu nhận đượcvào cuộc sống và lao động công ích
Trang 36- Phát triển khả năng nhận thức của HS (tính quan sát, tính ham hiểu biết, khảnăng tư duy logic, tích cực sáng tạo).
- Luyện cho HS khả năng lao động có kết quả, biết say mê vươn tới mục đíchđặt ra
- Chuẩn bị cho HS có thể tiếp tục tự học một cách có hiệu quả
- Tự học là biện pháp tối ưu nhất làm tăng độ bền kiến thức ở mỗi HS
Trong thời đại ngày nay, thời đại phát triển như vũ bão của khoa học, côngnghệ, sinh học, sản xuất, đòi hỏi con người phải có tốc độ phản ứng nhanh, biếtphân tích tổng hợp, xử lý thông tin Những phẩm chất đó không tự nhiên mà có màchỉ đạt được nhờ sự luyện tập, rèn luyện lâu dài bằng những hành động tự lực, tíchcực của học sinh Nhưng năng lực tự học là tiềm ẩn trong mỗi con người, mỗi HSđều có sở trường riêng, nếu được khơi gợi, kích thích, đòi hỏi con người phải tìmtòi, phải suy nghĩ và phát huy tư duy sáng tạo đến mức cao nhất thì cái tiềm tàng đó
sẽ thành hiện thực Muốn vậy, thì cần thiết phải có sự hướng dẫn, đồng thời tạo cácđiều kiện thuận lợi, trong đó SGK có vai trò hết sức quan trọng Thông tin SGK cókênh hình, kênh chữ thường đa dạng phong phú, đòi hỏi người học phải có tư duylinh hoạt, có đầu óc phê phán mới giải quyết vấn đề, do đó cần có sự hướng dẫn.Hiện nay, cách dạy học cổ truyền đã thành nếp, thành thói quen của thầy tròtrường phổ thông GV chủ yếu thường soạn bài bằng cách sao chép SGK sử dụngcác phương pháp thuyết trình, diễn giải, minh họa, Hoạt động học tập của HS cònmang tính chất thụ động, các em phụ thuộc quá nhiều vào GV và những tri thức trênlớp của GV, ghi nhớ một cách máy móc chứ không phải là có sự sáng tạo hay việctìm ra những cái hay, cái mới nào khác nên kết quả còn rất thấp Bên cạnh đó SGKhiện nay nói chung và môn sinh học nói riêng bộc lộ một số hạn chế như:
+ Không nêu rõ mục tiêu từng phần, chương, bài nên khó định hướng và khôngbiết chuẩn đánh giá kết quả đánh giá mà mình đã đạt được
+ Không lí giải đầy đủ mọi vấn đề kiến thức của bài học mà chỉ trình bày côđọng, nêu cốt lõi của vấn đề Do đó khi làm việc với sách, HS khó nắm vững đượccác tri thức trong bài nếu không được GV hoặc các tài liệu khác bổ sung
Trang 37+ Không có hoặc rất ít yếu tố phương pháp( tức là hướng dẫn HS cách học, cáchTKT, TĐG ), do đó nếu không có GV hướng dẫn thì HS chỉ biết làm việc theo thóiquen, hiệu quả hoạt động sẽ thấp.
Có thể kết luận: Xuất phát từ tình trạng sử dụng PPDH của GV sinh học ởtrường phổ thông hiện nay và yêu cầu của xã hội thì GV phải cải tiến PPDH, lựachọn các PPDH phát huy tính tích cực, tự lực của HS Cách tốt nhất để hình thành
và phát triển năng lực nhận thức của HS là đặt HS vào vị trí chủ thể, tự lực, tự giác,tích cực chiếm lĩnh kiến thức Phải loại trừ khỏi thực tiễn giảng dạy môn sinh học
sự thụ động của HS trong các bài học Cần tìm mọi cách kích thích HS phát triểntính ham hiểu biết, sự nhanh trí, sáng tạo, tự lực
1.1.2.5 Một số phương pháp, biện pháp tổ chức hoạt động tự lực nghiên cứu SGK nhằm phát huy tính tích cực, năng lực tự học của học sinh:
*Những yêu cầu để các phương pháp tổ chức dạy học có khả năng phát huy tính tích cực, rèn luyện năng lực tự học
- Năng lực nói chung, năng lực tự học nói riêng không phải là bẩm sinh mà được
hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của chủ thể Để hình thành pháthuy tính tích cực, năng lực tự học của học sinh các phương pháp, biện pháp dạy họcphải mang tính tích cực
- Các biện pháp tổ chức dạy học phải luôn được đặt trong mối quan hệ của các
thành tố khác của quá trình dạy học, đó là mối quan hệ: Mục tiêu, nội dung, phươngpháp, phương tiện, những yếu tố khác, có vai trò gắn kết các yếu tố cấu trúc của quátrình DH thành một chỉnh thể toàn vẹn Do đó, cần quán triệt mục tiêu, nội dung bàihọc Đảm bảo chính xác, chặt chẽ, phù hợp, nâng dần từ mức độ dễ đến khó.[23]
- Tính tích cực của các biện pháp tổ chức DH được biểu thị ở sự vận động vàphát triển của quá trình DH, là tính tích cực của người dạy và tính tích cực củangười học, mối quan hệ giữa mặt bên trong và mặt bên ngoài của phương pháp DH.Đặc trưng cơ bản của tính tích cực, tự lực trong quá trình học tập là: tính nhân văn,tính hoạt động và vai trò mới của người thầy giáo
Trang 38- Tính nhân văn: Tính nhân văn trong giáo dục tích cực lấy người học làm
trung tâm được thể hiện ở các điểm:[18]
+ Giáo dục không chỉ phục vụ số đông mà còn phục vụ cho nhu cầu số đông + Con người vốn sẵn những tiềm năng Giáo dục cần và có thể khai thác tối
đa những tiềm năng đó, đặc biệt là tiềm năng sáng tạo Vì vậy có thể nói học tập làsáng tạo
+ Giáo dục tạo ra cho người học một môi trường là tổ hợp các thành tố để HS
có thể tự giác, tự do( trong suy nghĩ, trong việc làm), tự khám phá Các thành tố đógồm: hình thức học tập đa dạng, nội dung học tập phù hợp với khả năng và mongmuốn của người học, quan hệ thầy- trò, bè bạn là hợp tác, dân chủ, bình đẳng
-.Tính hoạt động: Thể hiện tối đa hóa sự tham gia hoạt động của người học
với phương thức chỉ đạo là tự nhận thức, tự phát triển, tự thực hiện, tự kiểm tra vàđánh giá
Để cho HS được phát triển NLTH một cách tích cực , quá trình học tập phảiđảm bảo các yêu cầu sau:
- Người học được đặt ở vị trí chủ thể, tự giác, tích cực, tự lực, sáng tạo trongHĐNT Tâm lí học và lí luận dạy học hiện đại đã khẳng định: Con đường có hiệuquả nhất để làm cho HS nắm vững kiến thức và phát triển được năng lực sáng tạo làphải đưa HS vào chủ thể của hoạt động nhân thức Nắm vững kiến thức, thực sựlĩnh hội chúng, cái đó HS phải tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân
- Quá trình dạy- học phải dựa trên sự nghiên cứu những quan niệm những kiếnthức có sẵn của người học, khai thác sự thuận lợi, nghiên cứu những chướng ngạihoặc sai lầm trong kiến thức đó
- Mục đích của dạy học không chỉ là tri thức, kĩ năng bộ môn mà quan trọnghơn cả là việc dạy cách học cho HS, bằng cách để cho HS tự học, tự HĐNT nhằmđáp ứng nhu cầu của bản thân và xã hội
- Vai trò mới của người thầy giáo: Có thể nhận định khái quát là thầy giáo
phải linh hoạt, sáng tạo và trách nhiệm nặng nề hơn Thầy giáo là người có nhiệmvụ
Trang 39- Lập kế hoạch giảng dạy, bao gồm: mục đích, nội dung, phương pháp, phươngtiện, hình thức tổ chức
- Ủy thác, biến ý đồ giảng dạy của thầy thành sự nhận thức, tự nguyện, tự giáccủa HS
- Hướng dẫn, tổ chức quá trình học tập sao cho: HS tự tìm tòi, tự phát hiện và
tự giác giải quyết nhiệm vụ học tập
- Xác định vị trí tri thức mới trong hệ thống tri thức đã có và khả năng vậndụng kiến thức đó
- Đánh giá, hướng dẫn HS tự đánh giá hoạt động học tập của HS
Với định hướng phát huy tính tích cực, rèn luyện năng lực tự học thì thầy giáo vừathiết kế vừa góp phần thi công, vừa tự thiết kế quá trình học tập của mình
- Người thầy giáo phải biết khơi dậy tiềm năng học của HS, bằng cách tổ chứcbài học trên cơ sở tổ chức thành một chuỗi hoạt động phù hợp với năng lực của từngloại học sinh, trong đó GV đóng vai trò là người gợi mở, cố vấn, trọng tài trong cáchoạt động tranh luận, tìm tòi, phát hiện của HS Cần tạo điều kiện để họ tự giành lấykiến thức, tự đánh giá kết quả học tập của mình
Tóm lại, trước kia người GV chỉ cần nắm vững nội dung môn học để dạy.Quá trình dạy học của thầy chỉ là quá trình trình bày kiến thức cho chính xác, rõràng, mạch lạc là đủ, vì thế hễ có kiến thức là DH được Còn bây giờ, người GVkhông những phải nắm vững nội dung môn học mà còn phải am hiểu sâu sắc HS
GV không trình bày những điều mình đã biết, đã chuẩn bị sẵn mà hướng dẫn HS để
họ tự lực, tích cực, sáng tạo, tự chiếm lĩnh kiến thức, đạt được những điều mà GVđịnh đem đến cho họ
Để rèn luyện NLTH SGK, các biện pháp tổ chức dạy học phải được thiết kếsao cho nó trở thành “một chương trình hành động” trong một thời lượng xác định,nhằm định hướng quá trình tự lực nghiên cứu SGK của HS theo ý đồ của GV trang
bị cho HS phương pháp học tập tự học Không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cáchhọc Các biện pháp này nhằm mục đích phát triển tư duy, phát huy khả năng tíchcực, chủ động, sáng tạo trong học tập của HS Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động
Trang 40tự học và phương châm học suốt đời
* Một số phương pháp, biện pháp hướng dẫn hoạt động tự lực nghiên
cứu SGK nhằm phát huy tính tích cực, năng lực tự học của học sinh:
- Biện pháp sử dụng CH-BT:
+ CH-BT: là sự mã hóa những thông tin về đối tượng dạy học nó bao gồm
những điều đã biết và những điều chưa biết được GV thiết kế nhằm thay thế đốitượng, vừa là điều kiện để GV và HS sử dụng trong hoạt động dạy học[1]
+ Vai trò của CH, BT trong dạy học: Sử dụng CH- BT là một biện pháp tích
cực hóa hoạt động nhận thức của HS Lớp học không có đối thoại là một lớp học
CH, BT là phương tiện để rèn luyện kĩ năng làm việc với SGK và cácnguồn tài liệu khác CH, BT có vai trò định hướng nghiên cứu tài liệu, SGK, lúcnày SGK đóng vai trò là nguồn tư liệu để HS phân tích và tìm lời giải HS tìm đượclời giải chính là đã tự tìm ra kiến thức mới
CH, BT là công cụ để phát triển các thao tác tư duy Khi tìm lời giải, ngườihọc phải phân tích, xác định mối quan hệ, so sánh, đối chiếu những điều đã cho vànhững điều cần tìm, đòi hỏi phải suy luận logic, người học phải luôn luôn suy nghĩ,
do đó tư duy được phát triển
CH, BT giúp củng cố, hoàn thiện kiến thức một cách có hệ thống
CH, BT giúp kiểm tra đánh giá và tự đánh giá mức độ nắm vững kiến thứccho HS
Như vậy, CH, BT vừa là nội dung, vừa là phương tiện, phương pháp, biệnpháp tổ chức quá trình DH, giúp kiểm tra đánh giá kết quả đạt được của mục tiêu vàđiều chỉnh quá trình tiến tới mục tiêu DH Vì CH, BT có thể cấu tạo một cách linh