1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập và biện pháp ứng phó của hộ gia đình nông thôn việt nam

311 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 311
Dung lượng 5,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ gia đình nông thôn Việt Nam .... Kết luận tổng hợp từ hệ số tác động biên của các mô hình đo lườn

Trang 1

NGUYỄN THỊ MAI

ẢNH HƯỞNG CỦA RỦI RO ĐẾN THU NHẬP

VÀ BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ CỦA HỘ GIA ĐÌNH

NÔNG THÔN VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SỸ

Chuyên ngành: Kinh tế học

Mã số chuyên ngành: 62310101

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS HẠ THỊ THIỀU DAO

Phản biện độc lập 1: PGS TS Nguyễn Thuấn

Phản biện độc lập 2: TS Phạm Ngọc Dưỡng

TP Hồ Chí Minh năm 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án “Ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập và biện

pháp ứng phó của hộ gia đình nông thôn Việt Nam” là công trình nghiên cứu của

riêng tôi và được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học Tất cả tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc rõ ràng, được công bố theo đúng quy định và được trích dẫn đầy đủ Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực Nội dung của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính pháp lý trong quá trình nghiên cứu khoa học của luận án này

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Thị Mai

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự quan tâm, khích lệ và hỗ trợ của Khoa Kinh tế, Phòng Sau đại học Kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên sự hướng dẫn, động viên và hỗ trợ rất nhiều từ Quý Thầy, Cô Trường Đại học Kinh tế

- Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến PGS,

TS Hạ Thị Thiều Dao, người hướng dẫn khoa học trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án Những gợi ý, chỉnh sửa, góp ý và động viên của Cô đã tạo cho tôi nhiều động lực về tinh thần, giúp đỡ tôi trong những lúc tôi cảm thấy khó khăn nhất, mang đến cho tôi những kiến thức khoa học rộng lớn và sâu sắc về chuyên môn Những kiến thức này không chỉ bổ ích cho luận án mà còn hỗ trợ tôi rất nhiều trong việc nghiên cứu sau này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS, TS Nguyễn Chí Hải – Trưởng Khoa Kinh tế và PGS, TS Đỗ Phú Trần Tình – Trưởng Phòng Sau đại học, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Hai Thầy luôn nhắc nhở, khích lệ, góp ý giúp tôi hoàn thành luận án tốt hơn Tôi xin cảm ơn Quý Thầy, Cô trong Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Kinh tế Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ công tác đào tạo trong suốt thời gian tôi học tập tại đây

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân đã luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất

để tôi có đủ nghị lực và sự tập trung hoàn thành luận án này

Trân trọng cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Thị Mai

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC HÌNH VẼ xi

CHƯƠNG 1 Giới thiệu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.3 Đối tượng nghiên cứu 4

1.4 Phạm vi nghiên cứu 5

1.5 Phương pháp nghiên cứu 5

1.6 Nguồn dữ liệu 6

1.7 Đóng góp khoa học của luận án 6

1.8 Cấu trúc luận án 7

Tóm tắt chương 1 8

Chương 2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của hộ 9

2.1.1 Ảnh hưởng của tần suất xảy ra rủi ro đến thu nhập của hộ 9

2.1.2 Ảnh hưởng của các loại rủi ro đến thu nhập của hộ 10

2.1.3 Ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến thu nhập của hộ khi có rủi ro 15

2.1.4 Ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của hộ thông qua các đặc điểm của hộ 16 2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ 20

2.2.1 Theo đặc điểm của hộ 20

2.2.2 Theo loại rủi ro và sự phát triển của các thị trường 21

2.2.3 Ảnh hưởng của thái độ đối với rủi ro và thu nhập đến sự lựa chọn biện pháp ứng phó 26

2.3 Đóng góp của các nghiên cứu trước, khoảng trống nghiên cứu 31

Trang 5

2.3.1 Đóng góp của các nghiên cứu trước 31

2.3.2 Khoảng trống nghiên cứu 32

Tóm tắt chương 2 35

Chương 3 Cơ sở lý thuyết về rủi ro, thu nhập và biện pháp ứng phó của hộ gia đình nông thôn 37

3.1 Các khái niệm về rủi ro 37

3.2 Lý thuyết đo lường thái độ đối với rủi ro 43

3.2.1 Lý thuyết về hữu dụng kỳ vọng 43

3.2.2 Lý thuyết triển vọng 44

3.3 Khái niệm hộ gia đình và thu nhập của hộ gia đình 47

3.3.1 Khái niệm hộ gia đình 47

3.3.2 Khái niệm thu nhập của hộ gia đình 48

3.4 Lý thuyết ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của hộ 50

3.4.1 Lý thuyết đo lường ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập thông qua các hàm sản xuất 50

3.4.2 Lý thuyết về mức độ ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của hộ 53

3.5 Lý thuyết về biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ 56

3.6 Khung phân tích 61

Tóm tắt chương 3 62

Chương 4 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu 63

4.1 Quy trình nghiên cứu 63

4.2 Mô hình nghiên cứu 69

4.2.1 Các mô hình phân tích dữ liệu bảng 69

4.2.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu 71

4.3 Dữ liệu 81

Tóm tắt chương 4 86

Chương 5 Thực trạng rủi ro, thu nhập và biện pháp ứng phó của hộ gia đình nông thôn Việt Nam 87

5.1 Khái quát các nguồn thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam 87

5.2 Khái quát các loại rủi ro của hộ gia đình nông thôn Việt Nam 88

Trang 6

5.2.1 Tỷ lệ và tần suất các loại rủi ro 88

5.2.2 Thiệt hại do các rủi ro 90

5.2.3 Tỷ lệ phục hồi sau rủi ro của hộ 91

5.3 Khái quát biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ gia đình nông thôn Việt Nam 92 5.4 Thực trạng nhân khẩu và kinh tế của hộ gia đình bị rủi ro 93

5.4.1 Thực trạng nhân khẩu của hộ bị rủi ro 93

5.4.2 Thực trạng kinh tế của hộ bị rủi ro 95

5.5 Thực trạng các rủi ro theo nguồn thu nhập của hộ gia đình 97

5.6 Thực trạng rủi ro và biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ gia đình nông thôn Việt Nam 99

5.6.1 Thực trạng nhân khẩu theo biện pháp ứng phó của hộ gia đình nông thôn Việt Nam 100

5.6.2 Thực trạng kinh tế và thái độ với rủi ro của chủ hộ 101

Tóm tắt chương 5 104

Chương 6 Kết quả nghiên cứu định lượng đo lường ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập và biện pháp ứng phó của hộ gia đình nông thôn Việt Nam 105

6.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam 105

6.1.1 Ma trận tương quan 105

6.1.2 Phân tích mô hình hồi quy và thảo luận kết quả nghiên cứu 106

6.2 Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ gia đình nông thôn Việt Nam 128

6.2.1 Ma trận tương quan 128

6.2.2 Phân tích mô hình hồi quy và thảo luận kết quả nghiên cứu 131

6.3 Kết luận tổng hợp và những điểm mới của đề tài được đúc kết từ kết quả của các mô hình hồi quy 152

Tóm tắt chương 6 170

Chương 7 Khuyến nghị một số chính sách nhằm khắc phục rủi ro và nâng cao năng lực ứng phó 172

Trang 7

7.1 Một số khuyến nghị nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro và nâng cao năng lực

ứng phó của hộ gia đình nông thôn Việt Nam 172

7.1.1 Công tác khuyến nông 172

7.1.2 Đa dạng hóa thu nhập 174

7.1.3 Bảo hiểm sức khỏe 178

7.1.4 Tiết kiệm 178

7.1.5 Nâng cao trình độ học vấn 179

7.1.6 Phát triển các hoạt động hỗ trợ từ cộng đồng 180

7.1.7 Tăng cường các chính sách tín dụng ưu đãi 181

7.1.8 Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bằng bảo hiểm sức khỏe 182

7.1.9 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền biện pháp ứng phó cho nông dân 182

7.2 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 186

Tóm tắt chương 7 187

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ARDSPS Chương trình hỗ trợ nông nghiệp và phát triển nông thôn

BSPS Chương trình hỗ trợ khu vực kinh doanh

CSA Nông nghiệp thông minh với khí hậu

DERG Nhóm Nghiên cứu Kinh tế, Trường Đại học Tổng hợp

Copenhagen

ILSSA Viện Khoa học Lao động và Xã hội

LSDV Mô hình biến giả bình phương nhỏ nhất

NN và PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Pooled OLS Mô hình hồi quy gộp cho hệ số không thay đổi

TNTL Thu nhập tiền lương, tiền công

TNPNN Thu nhập phi nông nghiệp

UNU - WIDER Viện nghiên cứu Kinh tế Phát triển Thế giới thuộc Đại học Liên

Hiệp quốc VARHS Bộ dữ liệu điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình

Trang 9

VED Hàm hiệu quả sản xuất với các biến truyền thống

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Tóm tắt các khái niệm về rủi ro 38

Bảng 3.2 Các loại rủi ro trong sản xuất nông nghiệp 38

Bảng 3.3 Tóm tắt các loại rủi ro 42

Bảng 3.5 Phân loại thu nhập theo các hoạt động 49

Bảng 3.6 Tóm tắt các phân loại về nguồn thu nhập của hộ 50

Bảng 3.7 Tóm tắt lý thuyết về ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của hộ 55

Bảng 3.8 Tóm tắt các lý thuyết về biện pháp ứng phó với rủi ro 60

Bảng 4.1 Diễn giải các biến trong mô hình đo lường ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của hộ 72

Bảng 4.2 Diễn giải các biến trong mô hình xác định các yếu tố ảnh hưởng đến biện pháp ứng phó với rủi ro 76

Bảng 4.3 Đo lường hệ số thái độ với rủi ro 79

Bảng 4.4 Giá trị kỳ vọng của mỗi lựa chọn 80

Bảng 4.5 Số hộ của mẫu nghiên cứu theo tỉnh 84

Bảng 4.6 Phân bổ mẫu nghiên cứu theo 12 tỉnh trong dữ liệu điều tra 85

Bảng 5.1 Tỷ trọng các nguồn thu nhập của hộ ở nông thôn 87

Bảng 5.2 Đặc điểm nhân khẩu của hộ bị rủi ro 94

Bảng 5.3 Đặc điểm kinh tế của hộ bị rủi ro 96

Bảng 5.4 Tỷ lệ lựa chọn các biện pháp ứng phó theo rủi ro 99

Bảng 5.5 Đặc điểm nhân khẩu của hộ bị rủi ro 100

Bảng 5.6 Đặc điểm kinh tế và thái độ đối với rủi ro 102

Bảng 6.1 Mã hóa các mô hình đo lường ảnh hưởng của rủi ro đến bốn nguồn thu nhập của hộ 105

Bảng 6.2 Kiểm định sự lựa chọn giữa các mô hình 106

Bảng 6.3 Ảnh hưởng của các loại rủi ro đến thu nhập nông nghiệp của hộ 107

Bảng 6.4 Ảnh hưởng của các loại rủi ro theo đặc điểm của hộ đến thu nhập nông nghiệp 110

Trang 11

Bảng 6.5 Ảnh hưởng của các loại rủi ro đến thu nhập từ tiền lương, tiền công của

hộ 114Bảng 6.6 Ảnh hưởng của các loại rủi ro theo đặc điểm của hộ đến thu nhập từ tiền lương, tiền công 116Bảng 6.7 Ảnh hưởng của các loại rủi ro đến thu nhập phi nông nghiệp của hộ 121Bảng 6.8 Ảnh hưởng của các loại rủi ro theo đặc điểm của hộ đến thu nhập phi nông nghiệp 123Bảng 6.9 Ảnh hưởng của các loại rủi ro đến thu nhập khác của hộ 125Bảng 6.10 Ảnh hưởng của các rủi ro theo đặc điểm của hộ đến thu nhập khác 126Bảng 6.11 Kiểm định Pearson Chi-Square 130Bảng 6.12 Các kiểm định của các mô hình lựa chọn biện pháp ứng phó 132Bảng 6.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn giảm chi tiêu khi rủi ro 132Bảng 6.14 Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn đa dạng hóa thu nhập khi rủi ro 135Bảng 6.15 Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nhận hỗ trợ từ bạn bè, người thân khi có rủi ro 139Bảng 6.16 Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn tiết kiệm khi có rủi ro 141Bảng 6.17 Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn vay vốn khi có rủi ro 143Bảng 6.18 Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn tham gia bảo hiểm sức khỏe khi có rủi ro 146Bảng 6.19 Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn không làm gì khi có rủi ro 150Bảng 6.20 Kết luận từ các mô hình đo lường ảnh hưởng rủi ro đến thu nhập của

hộ gia đình nông thôn Việt Nam 153Bảng 6.21 Kết luận tổng hợp từ hệ số tác động biên của các mô hình đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ gia đình nông thôn Việt Nam 162

Trang 12

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 3.1 Hàm giá trị giả định 45

Hình 3.2 Hàm trọng số giả định 46

Hình 3.3 Khung lý thuyết ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của hộ 56

Hình 4.1 Quy trình phân tích luận án 63

Hình 5.1 Tỷ lệ hộ bị ảnh hưởng bởi các rủi ro 88

Hình 5.2 Tỷ lệ các loại rủi ro của hộ gia đình theo năm 89

Hình 5.3 Giá trị thiệt hại trung bình do các rủi ro theo năm 90

Hình 5.4 Tỷ lệ phục hồi sau rủi ro của các hộ gia đình 91

Hình 5.5 Tỷ lệ lựa chọn biện pháp ứng phó rủi ro 93

Hình 5.6 Tỷ lệ giá trị thiệt hại trên tổng thu nhập của hộ 95

Hình 5.7 Cơ cấu nguồn thu nhập của các hộ gia đình bị rủi ro 97

Hình 5.8 Giá trị trung bình của các nguồn thu nhập của hộ bị rủi 98

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Rủi ro là một trạng thái bất thường có thể ảnh hưởng đến một hay nhiều cá thể, với mức độ tổn thất khó đoán trước, nhưng có thể nhận biết, đo lường, kiểm soát và giảm thiểu tác động (World Bank, 2005) Tại các nước đang phát triển, rủi

ro là nguyên nhân chính dẫn tới nghèo đói của nông dân (Morduch, 2004; Fafchamps, 2009) Chẳng hạn một cú sốc ngoại cảnh, biến cố về thời tiết như mưa

lũ ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của con người (Alderman và cộng sự, 2006); hay thiên tai ở châu Phi góp phần gia tăng các thảm họa khác, tác động phức tạp và nghiêm trọng đến hộ gia đình và nền kinh tế (Boyd và các cộng sự, 2013; Niang và các cộng sự, 2014) Bên cạnh đó, các cú sốc giá lương thực cũng ảnh hưởng đến phúc lợi của hộ và khả năng phục hồi khác nhau giữa các hộ nghèo và không nghèo (Jacoby, 2013) Rủi ro làm giảm hoạt động đầu tư vào nông nghiệp, giảm sáng kiến mới và cả cơ hội thu lợi luận cao (Ellis, 1988; Yesuf, 2007)

Tác động của rủi ro nghiêm trọng hơn đối với hộ nghèo và làm tăng bất bình đẳng Rủi ro và các cú sốc thu nhập góp phần tăng mức độ tổn thương của các hộ gia đình, đặc biệt hộ nghèo nông thôn (Nguyễn Ngọc Quỳnh, 2003; Oxfam và Aid, 2009) Bên cạnh ảnh hưởng do biến động giá và thiên tai, một trong các yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến sinh kế của nông dân là thiếu khả năng lao động do các vấn

đề về sức khỏe (Oxfam và Aid, 2009)

Ngoài ra, việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường

đã góp phần tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tăng lên nhanh chóng 6,25% trong thời gian 2011 – 2017, giảm nghèo mạnh nhưng tình trạng tái nghèo vẫn nghiêm trọng (tính toán của tác giả từ báo cáo của Tổng cục thống kê, 2017) Với tăng trưởng cao trong nền kinh tế mở, góp phần giảm nghèo, nhưng cũng làm tăng rủi ro cho các hộ gia đình, đặc biệt những hộ nghèo (VASS, 2006) Theo đó, khoảng cách giữa thu nhập nông nghiệp và phi nông nghiệp ngày càng dãn ra và bất bình đẳng thu nhập ở nông thôn ngày càng tăng (Ngân hàng Thế giới, 2016) Thu nhập thấp và các rủi ro thường là lý do quan trọng nhất đẩy nông dân Việt Nam ra khỏi sản xuất nông nghiệp (Newman và Kinghan, 2015) Điều đó cho thấy nếu rủi ro không được

Trang 14

giảm bớt, thiệt hại dự kiến trong tương lai sẽ ảnh hưởng nghiêm trọngđến phát triển nông nghiệp, nông thôn Do đó, nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của rủi ro đến các nguồn thu nhập của hộ gia đình một nước đang phát triển như Việt Nam có ý nghĩa quyết định đến chiến lược phát triển ổn định và bền vững cho nông nghiệp và nông thôn

Bên cạnh đó, vấn đề cốt yếu cần phải tìm hiểu là các hộ gia đình có khả năng ứng phó với các rủi ro như thế nào (Dercon, 2002) Khái niệm ứng phó gồm giảm thiểu và thích ứng Giảm thiểu là các biện pháp hộ chủ động thực hiện để phòng tránh rủi ro, trong khi thích ứng là chấp nhận rủi ro và tìm cách để khắc phục các tác động tiêu cực của rủi ro, thường sau khi rủi ro xuất hiện Để giảm thiểu rủi ro nông nghiệp, nông dân thường đa dạng hóa cây trồng, hoạt động tạo thu nhập, bảo hiểm, tiết kiệm (Ellis, 1988) Để thích ứng, các hộ gia đình thường bán tài sản (Thomas và các cộng sự, 2010), giảm tiêu dùng (McPeak, 2004; Carter và các cộng

sự, 2007), cho con nghỉ học (Trần Quang Văn, 2015), hoặc tăng giờ làm việc (Kochar, 1999; Trần Quang Văn, 2015) Các hộ gia đình sống trong môi trường nhiều rủi ro luôn phải tính tới các chiến lược thay thế để giảm thiểu tác động bất lợi của những rủi ro đến sinh kế hộ gia đình (Dercon, 2002) và quản lý rủi ro tốt là chìa khóa ứng phó tốt cho các rủi ro tương lai (Lavell và Maskrey, 2013)

Trong khi đó, ở Việt Nam, bảo hiểm xã hội đóng vai trò quan trọng giúp hộ giảm phụ thuộc vào tiết kiệm để đối phó với các rủi ro có tác động riêng lẻ, nhưng không giúp hộ hồi phục được hoàn toàn (CIEM và các đối tác, 2012) Bảo hiểm cho các dạng rủi ro do tự nhiên dưới dạng lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh hại cũng không hiệu quả (Carol và các cộng sự, 2012) Các hộ nghèo không sẵn sàng đa dạng hóa thu nhập, đầu tư vào sản xuất, hay thay đổi hoạt động sản xuất rủi ro nhưng có lợi nhuận cao, và điều đó làm giảm thu nhập Nếu không có những biện pháp ứng phó đồng bộ, sẽ làm tăng rủi ro và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất trong nông nghiệp Tuy đã có khá nhiều biện pháp ứng phó được thực hiện một cách tự phát, nghĩa là

do nông dân tự thực hiện mà không nằm trong chương trình của Nhà nước (Ngân hàng Thế giới, 2010) Như vậy, nếu phối hợp thực hiện tất cả các biện pháp ứng phó

Trang 15

sẽ góp phần phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh đầy rủi ro và thách thức hiện nay

Vì mỗi quốc gia, mỗi ngành là mỗi thực thể duy nhất; do vậy việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số loại rủi ro nhất định đến thu nhập và tìm ra các yếu

tố ảnh hưởng đến một số biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ gia đình thì chỉ đúng cho quốc gia hoặc loại rủi ro, biện pháp ứng phó đó Điều đó có nghĩa là kết quả tìm thấy ở các nghiên cứu thực nghiệm ở quốc gia này thì có thể chưa ứng dụng phù hợp với quốc gia hoặc loại rủi ro khác Chính vì điều này mà cần thêm nhiều nghiên cứu thực nghiệm hơn để kiểm chứng mức độ ảnh hưởng của các loại rủi ro đến các nguồn thu nhập và tìm ra các yếu tố chính ảnh hưởng đến các biện pháp ứng phó phổ biến ở cấp độ hộ gia đình của từng quốc gia là cần thiết

Hơn nữa, rủi ro ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn và biện pháp ứng phó của hộ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau Với quá trình đô thị hóa và biến đổi khí hậu, việc giảm thiểu thiệt hại rủi ro và lựa chọn biện pháp ứng phó giữ vai trò quan trọng, góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững Do vậy, một nghiên cứu hệ thống về mặt lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập và biện pháp ứng phó là cần thiết để

đề xuất cách thức khắc phục ảnh hưởng của rủi ro và nâng cao năng lực ứng phó cho hộ gia đình nông thôn Việt Nam trong quá trình hội nhập

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Mục tiêu chung của luận án là đánh giá mức độ ảnh hưởng của các loại rủi ro đến thu nhập, và nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp ứng phó của hộ gia đình nông thôn Việt Nam; từ đó khuyến nghị chính sách phù hợp nhằm giảm mức độ ảnh hưởng tiêu cực của rủi ro và tăng cường năng lực ứng phó của hộ gia đình nông thôn Việt Nam

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Từ mục tiêu chung nêu trên, đề tài có hai mục tiêu cụ thể như sau:

Mục tiêu 1: Đánh giá mức độ tác động của các loại rủi ro (tần suất xuất hiện, mức độ trầm trọng) đến từng nguồn thu nhập của hộ gia đình nông thôn Việt Nam

Trang 16

Mục tiêu 2: Nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn từng biện pháp ứng phó với mỗi loại rủi ro nhất định của hộ gia đình nông thôn Việt Nam

Từ đó, tác giả đưa ra khuyến nghị chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam để khắc phục ảnh hưởng của rủi ro và nâng cao năng lực ứng phó của

hộ gia đình nông thôn Việt Nam

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết mục tiêu 1, luận án tập trung trả lời 2 câu hỏi nghiên cứu sau:

- Các loại rủi ro ảnh hưởng như thế nào đến các nguồn thu nhập khác nhau của

hộ gia đình nông thôn Việt Nam?

- Mức độ nghiêm trọng của từng loại rủi ro và khả năng phục hồi sau mỗi loại rủi ro ảnh hưởng như thế nào đến các nguồn thu nhập khác nhau của hộ gia đình nông thôn Việt Nam?

Để giải quyết mục tiêu 2, luận án tập trung trả lời câu hỏi nghiên cứu sau:

- Các yếu tố chính nào ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ gia đình nông thôn Việt Nam? Trong đó tập trung vào các loại rủi ro và mức

độ nghiêm trọng của từng loại rủi ro

- Có tồn tại sự khác biệt trong việc lựa chọn biện pháp ứng phó rủi ro giữa các nhóm hộ (giàu, khá, trung bình, cận nghèo, nghèo) ở nông thôn Việt Nam hay không?

- Có tồn tại sự khác biệt trong việc lựa chọn biện pháp ứng phó rủi ro giữa các nhóm hộ có thái độ đối với rủi ro khác nhau hay không?

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các loại rủi ro phổ biến của hộ gia đình nông thôn Việt Nam Ngoài ra, luận án cũng phân tích các nguồn thu nhập của hộ gia đình gồm 4 nguồn thu nhập đặc trưng như: (1) thu nhập nông nghiệp, (2) tiền lương, tiền công, (3) thu nhập phi nông nghiệp, (4) thu nhập khác Bên cạnh đó, luận án cũng chi tiết hóa các biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ gia đình nông thôn Việt Nam gồm bảy biện pháp cơ bản

Trang 17

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: luận án chủ yếu phân tích hơn 2000 hộ gia đình ở các vùng nông thôn của 12 tỉnh gồm Hà Tây cũ, Phú Thọ, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và Long

An Các vòng điều tra của bộ dữ liệu gồm các tỉnh được chọn lọc theo các dự án khảo sát được tài trợ bởi Danida trong chương trình hỗ trợ khu vực kinh doanh (BSPS), chương trình hỗ trợ nông nghiệp và phát triển nông thôn (ARDSPS), và chương trình Hỗ trợ khu vực kinh doanh (BSPS)

Phạm vi thời gian: luận án phân tích, đánh giá thực trạng, mức độ ảnh hưởng của các loại rủi ro đến thu nhập và biện pháp ứng phó của hộ gia đình nông thôn Việt Nam trong các năm 2008, 2010, 2012, 2014, 2016

Phạm vi nội dung: luận án sẽ đi sâu phân tích mức độ ảnh hưởng theo thời gian của từng loại rủi ro đến từng nguồn thu nhập và tổng thể các biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ, trong đó tập trung phân tích các đặc điểm hộ với đại diện là chủ hộ

Giới hạn vấn đề nghiên cứu: tập trung vào các loại rủi ro đặc thù đối với hộ gia đình nông thôn Việt Nam mà bỏ qua những rủi ro chưa xác định cụ thể mức độ tác động như rủi ro do tỷ giá hối đoái và thể chế chính trị

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tổng quát của luận án là phương pháp hỗn hợp, trong

đó nghiên cứu định lượng làm chính (Creswell, 2014) Theo đó, trong phương pháp phân tích định tính, luận án sử dụng phép trừu tượng hóa khoa học, phương pháp phân tích logic - lịch sử, phương pháp quy nạp, diễn giải, thu thập các tài liệu, chắt lọc thông tin từ các văn bản như báo cáo của Ngân hàng thế giới, báo cáo của CIEM

về dữ liệu điều tra từ bộ VARHS và kế thừa các nghiên cứu trước có liên quan để xác định, đo lường mức độ ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập, và biện pháp ứng phó của hộ

Tiếp theo, luận án sử dụng nghiên cứu định lượng để đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng loại rủi ro đến các nguồn thu nhập và biện pháp ứng phó của hộ Cụ thể, luận án sử dụng phương pháp thống kê mô tả để xem xét tần

Trang 18

suất các loại rủi ro, thực trạng các nguồn thu nhập và biện pháp ứng phó của hộ gia đình Sau đó, luận án sử dụng mô hình hồi quy hiệu ứng cố định (FEM) để đo lường mức độ ảnh hưởng của các loại rủi ro đến từng nguồn thu nhập của hộ gia đình; và

mô hình logit để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn biện pháp ứng phó của hộ Các quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và xử lý dữ liệu sẽ được trình bày chi tiết ở chương 4 của luận án

1.6 Nguồn dữ liệu

Luận án khai thác bộ dữ liệu điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình (VARHS) các năm 2008, 2010, 2012, 2014 và 2016 do Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các đối tác trong và ngoài nước thực hiện Tác giả tiếp cận bộ dữ liệu này thông qua một dự án được hỗ trợ của Viện nghiên cứu Kinh tế Phát triển Thế giới thuộc Đại học Liên hợp Quốc (UNU-WIDER) Bộ dữ liệu được thực hiện khảo sát lặp của hơn 2.000 hộ gia đình ở các vùng nông thôn của 12 tỉnh Việt Nam Cùng với những thông tin nhân khẩu của hộ gia đình, điều tra cũng thu thập thông tin về tài sản hộ gia đình, tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm chính thức, các rủi ro và hành vi ứng phó với rủi ro, mạng lưới an sinh phi chính thức và vốn xã hội Rõ ràng bộ dữ liệu VARHS là bộ dữ liệu tốt phục vụ cho

nghiên cứu này Thứ nhất, bộ dữ liệu cung cấp một bức tranh khá toàn diện về các

vấn đề mà luận án quan tâm: rủi ro và thu nhập của hộ Những thông tin về các loại rủi ro được thu thập chi tiết gồm: 14 loại rủi ro, thời gian xảy ra, mức độ thiệt hại,

15 biện pháp ứng phó, mức độ khắc phục, hậu quả của thiên tai Thứ hai, bộ dữ liệu

là kết quả của một cuộc điều tra quy mô, có sự phối hợp thực hiện giữa nhiều đơn vị khoa học trong và ngoài nước như đã đề cập nên mức độ tin cậy khá cao

1.7 Đóng góp khoa học của luận án

Luận án có những đóng góp chủ yếu sau đây:

- Đóng góp về mặt lý luận: luận án hệ thống lại (kế thừa và phát triển) cơ sở lý

thuyết liên quan đến rủi ro, thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng lựa chọn biện pháp ứng phó ở cấp độ hộ, trong đó tập trung vào ảnh hưởng của bốn loại rủi ro phổ biến trong nông nghiệp đến 4 nguồn thu nhập, và bảy biện pháp ứng phó rủi ro chủ yếu của hộ gia đình nông thôn Việt Nam Trong đó, luận án tập trung phân tích cơ chế

Trang 19

ảnh hưởng từ mức độ trầm trọng của từng loại rủi ro đến từng nguồn thu nhập; và nhấn mạnh thêm vai trò của thái độ rủi ro ảnh hưởng đến sự lựa chọn biện pháp ứng

phó của hộ gia đình

- Đóng góp về mặt thực tiễn

Một là, luận án phân tích thực trạng các loại rủi ro mà hộ gia đình nông thôn

Việt Nam đang đối mặt, các nguồn thu nhập chính và biện pháp ứng phó với rủi ro phổ biến của hộ trong giai đoạn 2008 – 2016 Theo đó, luận án sử dụng cách tiếp cận định lượng để đo lường mức độ nghiêm trọng của các loại rủi ro theo thời gian đến từng nguồn thu nhập

Hai là, luận án đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng loại rủi ro đến các nguồn

thu nhập, các yếu tố chính ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ; trong đó, tập trung vào sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng của từng loại rủi ro theo đặc điểm của hộ; sự khác biệt giữa thái độ rủi ro và quyết định lựa chọn các biện pháp ứng phó với rủi ro

Ba là, luận án đề xuất các gợi ý chính sách để tìm ra cách thức nhận diện rủi

ro, nâng cao năng lực ứng phó với rủi ro, góp phần phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam bền vững

Chương 2 trình bày tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm được lược khảo theo từng chủ đề về rủi ro ảnh hưởng đến thu nhập và biện pháp ứng phó; tập trung vào các hộ gia đình ở nông thôn các quốc gia đang phát triển và cả các nghiên cứu thực nghiệm đã thực hiện ở Việt Nam Phần sau cùng của chương 2 là khung phân tích được sử dụng trong luận án

Trang 20

Chương 3 phân tích cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu Nội dung bao gồm các khái niệm về rủi ro, lý thuyết về thái độ đối với rủi ro, lý thuyết hộ gia đình, thu nhập của hộ, lý thuyết giải thích ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập và biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ

Chương 4 trình bày về phương pháp nghiên cứu, gồm nguồn dữ liệu, phương pháp, mô hình nghiên cứu lý thuyết ứng với hai mục tiêu nghiên cứu

Chương 5 phân tích thực trạng rủi ro, thu nhập và biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ gia đình nông thôn Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016

Chương 6 trình bày và phân tích hai kết quả chính ứng với hai mục tiêu nghiên cứu chính: đo lường ảnh hưởng của các loại rủi ro đến thu nhập và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ Kết quả của chương này sẽ là cơ sở để đưa ra những giải pháp ở chương tiếp theo

Chương 7 là chương cuối cùng của luận án nhận diện cơ hội, thách thức và quan điểm về giảm thiểu ảnh hưởng của rủi ro và nâng cao năng lực ứng phó; cũng như khuyến nghị chính sách Sau cùng luận án nêu ra những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

Tóm tắt chương 1: Chương 1 của luận án trình bày các vấn đề sau: (1) lý do

lựa chọn đề tài, (2) mục tiêu nghiên cứu; (3) câu hỏi nghiên cứu; (4) đối tượng nghiên cứu; (5) phạm vi nghiên cứu; (6) phương pháp nghiên cứu; (7) nguồn số liệu; (8) đóng góp và (9) cấu trúc của luận án Theo đó, từ những khoảng trống nghiên cứu cần được thống nhất và vấn đề thực tiễn đặt ra trong việc giảm thiểu ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của hộ và khả năng ứng phó của hộ, luận án tập trung làm rõ hai nội dung trên Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, luận án xác định mức độ ảnh hưởng của các loại rủi ro đến các nguồn thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ gia đình nông thôn Việt Nam được khảo sát trong bộ dữ liệu điều tra tiếp cận hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng sẽ phác họa bức tranh tổng thể về rủi

ro ở nông thôn Việt Nam

Trang 21

CHƯƠNG 2 TỒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của

hộ

Có nhiều bằng chứng thực nghiệm xác định mức độ ảnh hưởng của từng loại rủi ro đến thu nhập của hộ, theo những yếu tố đặc trưng riêng của hộ trong mỗi nghiên cứu theo thời gian và không gian khác nhau có thể khái quát thành một số nhóm nhân tố được đề cập nhiều trong nhiều nghiên cứu điển hình ở các nước đang phát triển có mức độ tương đồng về rủi ro của hộ gia đình so với Việt Nam, cụ thể như sau:

2.1.1 Ảnh hưởng của tần suất xảy ra rủi ro đến thu nhập của hộ

Ảnh hưởng của rủi ro phụ thuộc vào đặc điểm của rủi ro bao gồm tần suất, mức độ nghiêm trọng, và khả năng ứng phó của các hộ gia đình trước những rủi ro (Shaffer, 2008) Theo Morduch (2004), các rủi ro nhỏ xảy ra thường xuyên dễ dàng giải quyết hơn những rủi ro không thường xuyên nhưng tác động tiêu cực lớn (như các cú sốc tàn tật hoặc bệnh mãn tính) Gertler và Gruber (2002) thấy rằng các hộ gia đình ở Indonesia chỉ có thể giữ được 30% mức tiêu dùng như cũ khi gặp rủi ro

về sức khoẻ tần số thấp mà ảnh hưởng lâu dài, nghiêm trọng và giảm đến khoảng 70% đối với các rủi ro tần suất cao Tương tự, khả năng hài hòa tiêu dùng của các

hộ gia đình ở Pakistan gặp khó khăn hơn đối với các rủi ro tần suất liên tục, hơn là các rủi ro đơn lẻ (Alderman và Paxson, 1994) Rủi ro có thể ảnh hưởng lâu dài như rủi ro về sức khỏe, ảnh hưởng đến nguồn cung lao động và các nguồn phúc lợi khác của hộ

Như vậy, tần suất, cường độ và tính tự tương quan của rủi ro theo thời gian là những đặc điểm quan trọng có thể làm trầm trọng thêm ảnh hưởng của rủi ro đối với thu nhập Rủi ro cường độ cao, tần số thấp khó xử lý hơn những rủi ro nhỏ và thường xuyên Fafchamps và các cộng sự (1998) chỉ ra rằng rủi ro có thể không được phân phối độc lập theo thời gian Một loại rủi ro có thể gây tổn thương dẫn đến các rủi ro phát sinh khác, và trong trường hợp này, việc đối phó khó khăn hơn Hơn nữa, một số rủi ro có thể không ổn định vì chúng gây ra hậu quả lâu dài

Trang 22

Để đo lường việc các hộ gia đình từng trải qua ít nhất một loại rủi ro, nhiều nghiên cứu sử dụng biến giả (Dercon, 2006) Kế thừa các nghiên cứu trước, luận án cũng sử dụng biến giả để đo lường hộ đã gặp rủi ro hay chưa, và đo lường mức độ nghiêm trọng của các rủi ro thông qua tỷ lệ mất mát trung bình trong thu nhập phát sinh từ những rủi ro trong giai đoạn 2008 – 2016 Những biến này có thể nắm bắt được tần số và cường độ của những rủi ro

2.1.2 Ảnh hưởng của các loại rủi ro đến thu nhập của hộ

Một trong những nghiên cứu đầu tiên về ảnh hưởng của thiên tai đến thu nhập của người dân là nghiên cứu của Paxson (1992) về tác động của mưa, lũ lên thu nhập của hộ gia đình tại Thái Lan trong giai đoạn 1975 – 1986 Kết quả cho thấy mưa, lũ làm giảm thu nhập trong ngắn hạn nhưng không tác động lên thu nhập trong dài hạn Tương tự, Datt và Hoogeween (2003) nghiên cứu ảnh hưởng của hiện tượng El Nino lên thu nhập bình quân đầu người tại Phillippines Nhóm tác giả sử dụng bộ dữ liệu điều tra hộ gia đình năm 1998 bao gồm 38.710 quan sát với phương pháp hồi quy tuyến tính Kết quả cho thấy hiện tượng El Nino (gây ra hạn hán ở Philippines) làm giảm thu nhập bình quân đầu người từ 7% đến 9% Ngoài ảnh hưởng đến thu nhập, thiên tai còn tác động đến tốc độ tăng thu nhập (Fuente, 2010)

và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (Yamamura, 2015) Fuente nghiên cứu ảnh hưởng của cơn bão Mitch lên các nước Mỹ La Tinh với dữ liệu khảo sát hộ gia đình trong giai đoạn 1998 – 2001 trong khi Yamamura nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thiên tai khác nhau lên bất bình đẳng thu nhập của 86 quốc gia trên thế giới với dữ liệu bảng từ 1965 – 2004 Kết quả cho thấy bão Mitch làm giảm 20% tốc độ tăng trưởng thu nhập tại các nước Mỹ La tinh Yamamura (2015) cho rằng thiên tai làm tăng sự bất bình đẳng trong thu nhập, tăng khoảng cách giàu nghèo của người dân

Để kiểm tra sự tồn tại của trạng thái cân bằng trong điều kiện rủi ro, đánh giá

sự tương tác giữa tài sản và sự hợp thành của các loại hình đầu tư nắm giữ, Rosenzweig và Binswanger (1992) sử dụng bộ dữ liệu điều tra cấp hộ trong nhiều năm ở Ấn Độ và phát hiện sự gia tăng bất ổn hệ sinh thái là nguyên nhân bùng phát

Trang 23

dịch bệnh cho cây trồng, gia súc, hạn hán, lũ lụt, hoặc gia tăng các thảm họa thiên nhiên Những hiện tượng trên làm tăng rủi ro cho hộ, đặc biệt các hộ ở nông thôn Bàn về sự thích nghi trong điều kiện biến đổi khí hậu, FAO (2008) đã chứng minh những thay đổi về khí hậu sẽ ảnh hưởng tới hệ thống nông nghiệp ở tất cả các nước, kể cả những nước xuất và nhập khẩu Sự thay đổi về lượng mưa, nhiệt độ trung bình cũng như sự gia tăng các hiện tượng khắc nghiệt của thời tiết sẽ tác động tiêu cực đến nông nghiệp, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản Có rất nhiều tác động, như sự gia tăng thoái hóa đất và xói mòn đất, thay đổi nguồn nước, mất đa dạng sinh học, sâu bệnh xảy ra thường xuyên với mức độ nguy hiểm cao hơn và bùng phát dịch bệnh cũng như các thảm họa khác

Rayhan và Grote (2007) sử dụng bộ dữ liệu của 600 hộ gia đình nông thôn của Bangladesh đánh giá nghèo đói, rủi ro và tính dễ bị tổn thương của các hộ bị ngập lụt thông qua so sánh giữa những hộ bị ngập lụt và những hộ không bị ngập lụt Kết quả nghiên cứu cho thấy lũ lụt và nghèo đói có mối liên hệ rất chặt chẽ, những hộ bị ngập lụt thường có khả năng rơi vào nghèo đói hơn các hộ không bị ngập lụt Hơn nữa, họ cũng tìm thấy thiệt hại từ các rủi ro cá nhân (như thương tích, bệnh tật, chết…) thường cao hơn ở hộ chịu ảnh hưởng của lũ vào mùa mưa Tuy nhiên, các

hộ có thành viên trong gia đình học vấn cao, chủ hộ là nam giới, và có nhà ở thì ít bị tổn thương hơn Trong một nghiên cứu khác của Rayhan và Grote (2010) sử dụng

bộ dữ liệu điều tra 1050 hộ gia đình nông thôn (2 tuần sau mưa lũ và lũ quét) ở Bangladesh năm 2005, cho thấy 58% hộ gia đình ở nông thôn bị ngập lụt được đánh giá là nghèo, trong đó 67% hộ dễ bị tổn thương Mưa lũ gây thiệt hại cho hoa màu trong khi lũ quét là một tác nhân gây thiệt hại cho cây lương thực Grote (2009) sử dụng bộ dữ liệu điều tra 3 tỉnh của Thái Lan kết hợp với mô hình hồi quy probit để nghiên cứu về khả năng ứng phó của hộ trong nông nghiệp đối với các rủi ro và sự thay đổi của môi trường Kết quả cho thấy khá nhiều hộ gia đình hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chịu tác động của cả rủi ro ngoại cảnh (như hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh) và rủi ro cá nhân (như bệnh tật, cái chết các thành viên của hộ gia đình, mất khả năng trả nợ) Tuy nhiên, tần số và mức độ nghiêm trọng của các rủi ro phụ thuộc vào thu nhập, đa dạng hóa thu nhập và hệ thống sản xuất nông nghiệp của hộ

Trang 24

Ngoài ra, theo Alderman và Paxson (1994), một số rủi ro liên quan đến sức khoẻ có thể ảnh hưởng lâu dài Các hộ dễ tổn thương đối với rủi ro gồm 5 nhóm: hộ

có phụ nữ làm chủ hộ, hộ dân tộc thiểu số, hộ không có đất, hộ nghèo, và các hộ ở đồng bằng sông Hồng (Nguyễn Ngọc Quỳnh, 2003) Phân biệt giữa các rủi ro kinh

tế và nhân khẩu học là quan trọng vì có thể có những hệ quả khác nhau đối với điều kiện sống của hộ và cho phép hoặc đòi hỏi các biện pháp ứng phó khác nhau Kenjiro (2005) nhận thấy ở nông thôn Campuchia, thiệt hại về kinh tế do bệnh tật gây ra nghiêm trọng hơn là do mất mùa Gertler và Gruber (2002) tìm thấy bằng chứng ở Indonesia, chi phí liên quan đến bệnh nặng cao, làm giảm đáng kể mức tiêu dùng gia đình Hơn nữa, các rủi ro nhân khẩu học có thể ngăn cản các hộ gia đình

sử dụng một số biện pháp ứng phó, ví dụ hộ ít có khả năng sử dụng cung ứng lao động để đối phó với những rủi ro về sức khoẻ vì chúng có thể ảnh hưởng đến khả năng cung cấp sức lao động của hộ (Kochar, 1999)

Như các nước trên thế giới, Việt Nam cũng chịu tác động từ rủi ro thiên tai rất lớn Trong nghiên cứu của Hasegawa (2010) sử dụng bộ dữ liệu cấp hộ gia đình Việt Nam năm 2002 và 2004 để điều tra các biện pháp ứng phó với các loại rủi ro khác nhau Ông nhận thấy thu nhập và tiêu dùng chịu tác động của thiên tai và khả năng ứng phó rủi ro của hộ Ví dụ, một rủi ro ngoại cảnh, nhất là các biến cố về thời tiết như mưa lũ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống con người Trong một nghiên cứu khác, Thomas và cộng sự (2010) sử dụng bộ dữ liệu điều tra mức sống dân cư Việt Nam trong 3 năm (2002, 2004 và 2006) để ước lượng tác động của thảm họa tự nhiên đối với phúc lợi của hộ Kết quả cho thấy thiệt hại trong ngắn hạn

do thiên tai gây ra khá lớn, lũ lụt ven sông làm giảm 23% phúc lợi và bão làm giảm 52% phúc lợi của các hộ

Ngoài ra, Vũ Băng Tâm và Eric Iksoon Im (2014) nghiên cứu mối liên hệ giữa thiên tai với thu nhập hộ gia đình, đầu tư vào nhà ở và hoạt động nội thương Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp GMM với dữ liệu 63 tỉnh thành Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2011 Kết quả khẳng định thiên tai không có tác động đến thu nhập bình quân đầu người, nhưng tác động đồng biến lên đầu tư nhà ở và hoạt động nội thương Việt Nam Ngược lại với kết quả trên, Arouri và các cộng sự (2015)

Trang 25

khẳng định thiên tai có tác động tiêu cực đến thu nhập của hộ gia đình Việt Nam, thông qua mô hình FEM với bộ dữ liệu điều tra mức sống dân cư Việt Nam 2004 –

2010 Nhìn chung các nghiên cứu về chủ đề này có hai kết luận chính là thiên tai có tác động hoặc là không có tác động đến thu nhập Sự khác biệt trong kết quả được giải thích là do những nghiên cứu khác nhau, sử dụng những phương pháp với dữ liệu nghiên cứu khác nhau

Bên cạnh đó, tài sản của người dân bị ảnh hưởng như thế nào và khả năng phục hồi sau thiên tai cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm Carter và các cộng

sự (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của thiên tai lên tài sản bị thiệt hại và khả năng phục hồi sau thiên tai của các hộ gia đình tại Ethiopia và Honduras Kết quả cho thấy những hộ gia đình có thu nhập thấp ít có khả năng phục hồi, và thời gian phục hồi lâu hơn những hộ gia đình có thu nhập cao Anttila-Hughes và Hsiang (2013) cho rằng các cơn bão làm giảm thu nhập của hộ gia đình vào năm sau bị bão, do những thiệt hại vật chất trực tiếp và hoạt động kinh tế bị gián đoạn, ngược lại với giả thuyết cho rằng thiệt hại ngay lập tức của Mendelsohn và các cộng sự (2012) Hơn nữa, Anttila-Hughes và Hsiang (2013) cho rằng những hộ ở Phillippin có thu nhập thấp thường sẽ chịu mức thiệt hại tích lũy cao hơn các hộ có thu nhập cao, với mức thiệt hại được đo lường thông qua tổng giá trị tiền tệ mất mát được tích lũy qua thời gian từ khi xảy ra bão

Leekoi (2014) cho rằng những rủi ro mà các hộ gia đình ở nông thôn Pattani phải đối mặt là mất việc làm, giảm lương, thành viên trong hộ gia đình đã chết, thành viên trong độ tuổi lao động của hộ gia đình bị tai nạn, bị trục trặc hôn nhân, hoặc cây trồng, vật nuôi bị dịch bệnh Trong số sáu loại rủi ro mà hộ gia đình có trải qua, chỉ có ba rủi ro (như mất việc làm, thành viên trong hộ gia đình đã chết và gặp trục trặc hôn nhân) có tác động đáng kể đến thu nhập của hộ gia đình Khanal và Mishra (2016) cho rằng biến đổi của điều kiện thời tiết có mối liên hệ chặt chẽ với

sự thay đổi về thu nhập nông nghiệp ở nông thôn, nên tác giả đã sử dụng rủi ro thời tiết như một ví dụ về rủi ro thu nhập của nông dân De Mey và các cộng sự (2012) nhận định rằng các rủi ro về giá cả, sản xuất và tài chính tác động tiêu cực đáng kể đến thu nhập hộ trên hai trang trại bò sữa điển hình của Bỉ trong giai đoạn 2005-

Trang 26

2008 Mandal và Bezbaruah (2013) sử dụng số liệu khảo sát của 342 hộ nông dân thung lũng Barak của Assam, Ấn Độ để xem xét các yếu tố quyết định đa dạng hoá cây trồng, và đánh giá vai trò đa dạng hoá mùa màng trong việc tăng thu nhập của nông dân đối với nông nghiệp bị ảnh hưởng lũ lụt Kết quả hồi quy kiểm duyệt cho thấy sự đa dạng hoá cây trồng được xem như là một cơ chế để đối phó với lũ lụt, góp phần tăng thu nhập cho nông dân

Trong nhiều nghiên cứu, các rủi ro được xem như là một yếu tố ảnh hưởng chính đến tình trạng nghèo đói Chẳng hạn, Neilson và các cộng sự (2008) nhận thấy những rủi ro về sức khoẻ làm tăng xác suất rơi vào đói nghèo của các hộ gia đình ở Chile Khi phân tích 379 hộ gia đình nông thôn từ 21 làng ở Bangladesh từ năm 1987 đến năm 2000, Sen (2003) cũng đưa ra kết luận rằng gia tăng của đói nghèo liên quan đến lũ lụt và bệnh tật của thành viên trong hộ Dữ liệu bảng điều tra

về 183 hộ gia đình từ 5 ngôi làng ở Ấn Độ trong suốt giai đoạn 1975-1984 cho thấy một số lượng lớn các hộ gia đình nông thôn đã trải qua một thời gian dài nghèo đói (trên ba năm) ngay cả khi không có rủi ro Các rủi ro cây trồng dẫn đến sự gia tăng

tỷ lệ hộ đói nghèo ngắn (từ 1 đến 2 năm) Những người nông dân nhỏ dễ bị tổn thương sau những đợt đói nghèo kéo dài (Gaiha và Imai, 2004) Không những thế bệnh tật và tử vong của một thành viên trong gia đình, mất mùa và gia súc chết ảnh hưởng đến xác suất rơi vào tình trạng nghèo khổ kinh niên và khả năng thoát nghèo của hộ ở Bangladesh (Quisumbing, 2011) Tương đồng với quan điểm trên, Hulme

và McKay (2007) chỉ ra rằng đói nghèo tạm thời là kết quả của sự thất bại mùa màng ở Rwanda Thomas và cộng sự (2010) đã nghiên cứu các tác động của thiên tai ở Việt Nam và nhận thấy rằng người dân dễ bị ảnh hưởng bởi các rủi ro do thiên tai ngày càng tăng, như lốc xoáy và lũ lụt, có thể phá hủy sinh kế, loại bỏ hy vọng thoát nghèo

Trong khi đó, Dercon (2006) không tìm thấy ảnh hưởng dai dẳng của những rủi ro bệnh tật đối với tình trạng đói nghèo của hộ ở nông thôn Ethiopia Tương tự, Lokshin và Ravallion (2000), Jalan và Ravallion (2004) khi xem xét ảnh hưởng của những rủi ro đến nghèo đói ở Bulgaria và Trung Quốc cho thấy những rủi ro có xu hướng tác động ngắn hạn; sau khoảng ba năm, các hộ gia đình dường như phục hồi

Trang 27

hoàn toàn Akter và Basher (2014) xem xét tác động kết hợp của giá thực phẩm, rủi

ro thu nhập đối với an ninh lương thực và phúc lợi kinh tế trong các cộng đồng nông thôn có thu nhập thấp Kết quả phân tích mô hình logit phân cấp ba giai đoạn

để xác định các nguồn chính của mất an ninh lương thực của 1.800 hộ gia đình nông thôn từ 12 huyện của Bangladesh trong giai đoạn 2007 – 2009 cho thấy (1) giá lương thực tăng cao, (2) những rủi ro về thu nhập tiếp theo trong năm 2007-2009 đã làm trầm trọng thêm tình trạng mất an ninh lương thực ở các vùng nông thôn của Bangladesh; (3) tác động tiêu cực của những rủi ro này dường như đã biến mất theo thời gian do điều chỉnh lao động, thị trường hàng hóa và chính sách tăng trưởng kinh tế

Dựa trên các nghiên cứu trước, luận án tập trung phân tích bốn loại rủi ro gồm:

tự nhiên, sâu, dịch bệnh, kinh tế và cá nhân, bỏ qua các loại rủi ro khác có số lượng quan sát quá ít Ngoài ra, đây cũng là các loại rủi ro được đề cập trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm, xảy ra phổ biến và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

2.1.3 Ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến thu nhập của hộ khi có rủi ro

Đa dạng hóa các nguồn thu nhập, đặc biệt tiếp cận với các nguồn thu nhập ổn định hơn là những chiến lược quan trọng mà các hộ gia đình có thể theo đuổi để giảm thiểu tác động của những rủi ro đến thu nhập Theo Rashid và các cộng sự (2006), thu nhập và giá trị tài sản lớn vẫn không bảo vệ các hộ gia đình Bangladesh trước rủi ro khi hộ không có biện pháp ứng phó Việc đa dạng hóa các nguồn thu nhập cũng góp phần giúp hộ linh hoạt hơn trong việc áp dụng các cơ chế ứng phó Một hướng khám phá thứ hai là tác động của rủi ro đến thu nhập thông qua cơ chế ứng phó Cụ thể, khi đối mặt với rủi ro, phúc lợi của hộ sẽ không bị ảnh hưởng tiêu cực nếu hộ có cơ chế ứng phó đầy đủ Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy các hộ nghèo dễ bị tổn thương trước những rủi ro khi họ chủ yếu dựa vào chính mình để ứng phó Hơn nữa, thị trường bảo hiểm và tín dụng chính thức kém phát triển góp phần làm cho các hộ gia đình, đặc biệt hộ nghèo không phải lúc nào cũng được bảo hiểm đầy đủ trước những rủi ro (Jalan và Ravallion, 2004) Theo Hill và Mejia-Mantilla (2017), đa dạng hóa thu nhập cung cấp cho hộ gia đình khả năng

Trang 28

bảo vệ tiêu dùng khỏi ảnh hưởng từ những rủi ro thời tiết, nhưng ít hiệu quả hơn trong việc giảm thiểu mức độ ảnh hưởng từ những rủi ro thu nhập Vì vậy, giáo dục

là điều cần thiết để các hộ đa dạng hóa và đảm bảo tiêu dùng từ những rủi ro thời tiết Tuy nhiên, nếu hộ chỉ đa dạng hóa sẽ không đủ để bảo vệ hoàn toàn tiêu dùng của hộ khỏi những rủi ro

Có nhiều cách thức đo lường đa dạng hóa thu nhập, tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra chỉ Herfindahl nghịch đảo là phù hợp nhất do tập hợp nhiều ưu điểm như tính đến số lượng lẫn tỷ trọng của nguồn thu nhập và thể hiện được sự đa dạng hay ổn định thu nhập (Ersado, 2006), cách tính đơn giản so với một số chỉ số còn lại, cụ thể như sau:

Pi = (8)

Trong đó Yi là tổng thu nhập từ nguồn i, Y là tổng thu nhập của một hộ gia đình từ tất cả các nguồn, Pi là tỷ trọng nguồn thu nhập thứ i Theo đó các hộ đa dạng hóa thu nhập càng cao sẽ có D càng lớn Đối với các hộ chỉ phụ thuộc vào một nguồn thu nhập duy nhất, D có giá trị tối thiểu là 1

2.1.4 Ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của hộ thông qua các đặc điểm của hộ

Aikaeli (2010) điều tra ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế xã hội và địa lý lên thu nhập của các hộ gia đình nông thôn ở Tanzania Thông qua mô hình tuyến tính, tác giả chỉ ra bốn yếu tố tác động tích cực đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn gồm: trình độ học vấn của chủ hộ, lực lượng lao động trong hộ, diện tích đất và

hộ tự chủ trong hoạt động phi nông nghiệp Đối với thời tiết, nếu một lượng mưa vừa đủ sẽ làm tăng thu nhập, ngược lại hạn hán và lũ lụt sẽ làm giảm thu nhập Olawuyi và các cộng sự (2011) cho rằng rủi ro có tác động đáng kể đến những hộ ở Ogo-Oluwa, bang Oyo, Nigeria có trình độ giáo dục hạn chế và thu nhập bình quân đầu người thấp

Ngoài ra, Yusuf (2008) cho rằng vốn xã hội được đo lường thông qua số tổ chức hộ tham gia, tác động tích cực đến thu nhập trung bình của hộ, hay tham gia

Trang 29

nhiều tổ chức sẽ giúp hộ kết nối được nhiều mối quan hệ hơn Trong nghiên cứu VXH và thu nhập hộ gia đình nông thôn Tanzania, Narayan và Pritchertt (1997) đo lường mức độ và đặc điểm của các tổ chức xã hội đại diện của biến VXH và thái độ của các hộ đối với tổ chức họ tham gia hay mức độ tin cậy giữa các hộ ở nông thôn Tanzania Nghiên cứu cho thấy với một VXH lớn, các hộ gia đình có thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, sử dụng phân bón, hóa chất trong đầu vào hoặc chất lượng giống được cải thiện, có thu nhập cao hơn Ngoài ra, một làng có VXH cao, phần lớn các hộ ở làng đó đều sử dụng tín dụng để nâng cao thu nhập Sun và các cộng sự (2014) khi phân tích ảnh hưởng của VXH lên thu nhập của các hộ nghèo ở Sichuan, thấy rằng hệ số co giãn của VXH tác động đến nhóm có thu nhập thấp là nhỏ nhất, thu nhập cao là cao nhất VXH mang đến cho nông dân nhiều bài học, nhiều cơ hội thăng tiến, làm việc, giúp họ cải thiện được khả năng tự nâng cao thu nhập

Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy hộ dễ bị tổn thương trước các rủi ro liên quan đến tài sản dưới hình thức vốn con người và vốn vật chất với những mức độ khác nhau Cụ thể, với những hộ có diện tích đất đai hạn chế, ít tài sản và giáo dục

bị giới hạn thường bị ảnh hưởng rủi ro nhiều nhất (Dercon, 2002) Đặc biệt, độ tuổi

và trình độ học vấn của chủ hộ giải thích được sự biến động thu nhập của hộ Các biến số về nhân khẩu, xã hội như tỷ lệ phụ thuộc, giới tính của chủ hộ và quy mô hộ giúp kiểm soát đặc điểm của các hộ tương đương và không được quan sát hay tính không đồng nhất của các quan sát Theo đó, quy mô hộ gia đình mang hệ số hồi quy tiêu cực (Fadipe, 2014) Điều này có thể do thực tế là hầu hết những người phụ thuộc trong gia đình quá nhỏ, chưa đến tuổi lao động để đóng góp vào thu nhập của

hộ Tuổi của chủ hộ (Lhing, 2013) có tác động tiêu cực đến thu nhập của hộ gia đình, cụ thể tăng 1% đơn vị tuổi làm giảm 0,461% đơn vị thu nhập của hộ Bên cạnh đó, Aikaeli (2010) cho rằng trình độ học vấn của chủ hộ, giới tính và quy mô

hộ là yếu tố quyết định chính đến thu nhập của các hộ Trình độ học vấn của chủ hộ

có ảnh hưởng đáng kể và tích cực Hơn nữa, chất lượng lao động được thể hiện qua trình độ học vấn, hộ có trình độ học vấn cao thì thu nhập trung bình của hộ càng cao (Nguyễn Quốc Nghi, 2011) Ngoài ra, Lhing (2013) đã phát hiện ra rằng diện tích đất sở hữu ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của hộ

Trang 30

Những hộ quyết định mua bảo hiểm để giảm thiểu rủi ro hay không phụ thuộc vào khả năng nhận thức và mức độ nghiêm trọng của rủi ro Sự nhận thức này thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan như kinh nghiệm, độ tuổi, giới tính, những thông tin về hậu quả rủi ro (Zweifel và Eisen, 2012) Nếu cá nhân cho rằng khả năng xảy ra rủi ro thấp, họ thường tự bảo vệ mình, khi đó nhu cầu bảo hiểm thấp dần (Petrolia và các cộng sự, 2013) Hộ sẽ chi đầu tư nhiều hơn cho hoạt động giảm nhẹ mất mát tiềm năng nếu rủi ro ảnh hưởng lớn đến thu nhập (Smith và Watts, 2009) Cách tốt nhất để biết quan điểm của hộ về nhận thức rủi ro trong hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như mua bảo hiểm giảm nhẹ mất mát do rủi ro đó

là hỏi trực tiếp họ nhận thức thế nào về rủi ro (De Weerdt, 2005)

Khi có các biến động về kinh tế, hộ có thể ứng phó bằng cách sử dụng tiết kiệm hoặc vay vốn ngân hàng, thay vì phải bán tài sản, gây ảnh hưởng xấu đến khả năng tạo thu nhập của hộ Diagne và các cộng sự (2000) giải thích rõ hơn tác động của tín dụng đối với thu nhập hộ qua hai kênh: (1) tín dụng làm giảm bớt hạn chế về vốn của hộ Tiếp cận vật tư nông nghiệp là một yếu tố quan trọng bảo đảm cho năng suất và thu nhập mùa vụ Vì vậy, để hỗ trợ cho việc mua nguyên liệu đầu vào, hộ phải sử dụng tiền tiết kiệm hoặc vay tín dụng Do đó, tiếp cận tín dụng có thể làm tăng đáng kể khả năng mua vật tư nông nghiệp của các nông hộ nghèo (2) tiếp cận tín dụng cũng làm giảm chi phí cơ hội của các tài sản vốn so với lao động, do đó khuyến khích áp dụng công nghệ mới, tiết kiệm sức lao động và nâng cao năng suất lao động Tương đồng với các quan điểm trên, Morduch và Haley (2002) nhấn mạnh tín dụng nông thôn là công cụ cải thiện thu nhập và nâng cao phúc lợi hộ gia đình

Việc tiếp cận những kiến thức, kỹ thuật mới từ nông nghiệp sẽ góp phần tăng thu nhập cho hộ ở nông thôn (Swanson, 2008) Kiến thức nông nghiệp là tổng thể các kiến thức về kỹ thuật, kinh tế và cộng đồng mà người nông dân có được và ứng dụng vào hoạt động sản xuất (Đinh Phi Hổ, 2003) Kiến thức nông nghiệp bao gồm kiến thức chung về nông nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp, nguồn gốc kiến thức kỹ thuật nông nghiệp mà nông dân có được hiện nay chủ yếu do tác động của hệ thống khuyến nông Khuyến nông gồm tất cả các công việc liên quan đến sự phát triển

Trang 31

nông thôn, đó là hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, trong đó có cả người già, trẻ nhỏ học bằng cách thực hành (Huỳnh Quang Tín và các cộng sự, 2010) Nguồn gốc kiến thức có được từ khuyến nông được tiếp nhận qua 2 dạng chính: (1) trực tiếp bởi cán bộ khuyến nông cơ sở, (2) gián tiếp qua các tài liệu hộ nhận được từ cộng tác viên khuyến nông, báo chí, truyền hình, truyền thanh (Swanson, 2008)

Biến vị trí địa lý ở Việt Nam phản ánh tính không đồng nhất về địa lý, đã được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu nghèo đói theo thu nhập, như Litchfield và Justino (2004), Klug và các cộng sự (2007), hay tại Phillippin như Anttila-Hughes và Hsiang (2013) Trong các nghiên cứu này thường sử dụng biến giả của tám vùng tại Việt Nam Tuy nhiên, 12 tỉnh trong dữ liệu trải rộng trên bảy trong số tám vùng của Việt Nam nhưng không đại diện cho khu vực mà họ thuộc về Do đó, tác giả nhận thấy hợp lý nhất là sử dụng các tỉnh thay vì các vùng vì các tỉnh thể hiện được bản chất không đồng nhất của những rủi ro tại Việt Nam, đặc biệt là thiên tai; và các tổ chức sẵn có cho hộ để đối phó với rủi ro, chẳng hạn như tổ chức tín dụng hoặc bảo hiểm

Tóm lại, các nghiên cứu trong và ngoài nước cơ bản đã phân tích ảnh hưởng của nhiều loại rủi ro đến thu nhập của hộ, sử dụng nhiều mô hình, phương pháp như phân tích tác động, mô hình dữ liệu bảng, mô hình hồi quy bán logarit… Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu nào phân tích ảnh hưởng tổng thể của các loại rủi ro mà

hộ nông thôn Việt Nam thường gặp đến các nguồn thu nhập nông nghiệp, tiền lương, tiền công, phi nông nghiệp và thu nhập khác của hộ với quy mô mẫu điều tra lớn và kéo dài 10 năm từ 2008 - 2016 Vì vậy, đây là điểm mới và điểm đóng góp của đề tài vào kho tàng nghiên cứu thực nghiệm rủi ro của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam Như phân tích trên, ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của hộ có thể được kiểm chứng thông qua việc phân tích mức độ, tần suất của từng loại rủi ro đến từng nguồn thu nhập Để làm được điều này, các nhà nghiên cứu đã xây dựng nên nhiều phương pháp và mô hình khác nhau được sử dụng phổ biến ở các nước phát triển có thông tin và dữ liệu hoàn chỉnh Những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tồn tại sự khác biệt về ảnh hưởng của các loại rủi ro đến từng nguồn thu nhập, và khả năng phục hồi của hộ Ngoài ra, luận án cũng trình bày khái quát những nhân tố

Trang 32

được sử dụng trong các nghiên cứu trước, qua đó cho thấy những nhân tố được sử dụng phổ biến để đo lường mức độ ảnh hưởng của các rủi ro đến thu nhập của hộ (phụ lục 1)

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp ứng phó với rủi ro của hộ

Có nhiều bằng chứng thực nghiệm đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn biện pháp ứng phó với rủi ro, theo những đặc trưng riêng của hộ, trong mỗi nghiên cứu theo thời gian và không gian khác nhau Trong phần này, luận án sẽ tập trung vào một số nhóm nhân tố đề cập nhiều trong nhiều nghiên cứu điển hình ở các nước đang phát triển, có mức độ tương đồng về nhận thức và hành vi lựa chọn ứng phó với rủi ro của các hộ ở nông thôn Việt Nam

2.2.1 Theo đặc điểm của hộ

Có nhiều nghiên cứu về lựa chọn ứng phó, phòng tránh rủi ro, cả dưới góc độ

hộ gia đình và cộng đồng Olawuyi và các cộng sự (2011) nhấn mạnh đặc điểm của

hộ như sự đa dạng và ổn định của thu nhập, tài sản của hộ, trình độ học vấn của chủ

hộ ảnh hưởng đến lựa chọn biện pháp ứng phó Trong nghiên cứu về quản lý rủi ro

và đánh giá năng lực ứng phó của cộng đồng vùng nông thôn Sri Lanka, các học giả

đã chứng minh sự tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa nghèo đói và lựa chọn biện pháp ứng phó (Klug và các cộng sự, 2007; Jabeen và các cộng sự, 2010) Theo đó, người nghèo thường phải đối mặt với sự suy giảm năng lực ứng phó Ngược lại, sở hữu đất đai, và trình độ học vấn là một trong những yếu tố giúp cải thiện năng lực ứng phó rủi ro của hộ (Klug và các cộng sự, 2007; Jabeen và các cộng sự, 2010) Tương đồng với quan điểm trên, trong phân tích 60 cá nhân và 105 hộ quy mô nhỏ

ở Kenya và Tanzania, Eriksen và các cộng sự (2005) phát hiện rất nhiều hộ bị hạn chế trong năng lực ứng phó rủi ro do thiếu kỹ năng, lao động hoặc vốn Rõ ràng, các chiến lược quản lý rủi ro trong nông nghiệp khác nhau với đặc điểm của hộ và các loại rủi ro Nhận thức về rủi ro, thái độ đối với rủi ro, nguồn lực sẵn có ảnh hưởng đến quyết định và hành động của họ Maddison (2006) cho rằng nông dân tìm hiểu

kỹ thuật nông nghiệp và lựa chọn thích ứng có sẵn, thông qua ba cách: (1) vừa học vừa làm, (2) học tập bằng cách sao chép, và (3) học tập từ hướng dẫn Yếu tố quan trọng trong phản ứng nông dân là sự khác biệt giữa những người nông dân, theo

Trang 33

năng lực kinh doanh và hoàn cảnh gia đình Ngoài ra, nông dân bị ảnh hưởng bởi nhận thức của các nông dân khác, cũng như chuyên môn của các hiệp hội về nông nghiệp Việc áp dụng các công nghệ mới, tình trạng sở hữu tài sản, học vấn, tiếp cận các dịch vụ khuyến nông, tiếp cận thị trường và các nguồn tín dụng, điều kiện khí hậu nông nghiệp, đặc điểm địa hình, sự sẵn có của nguồn nước là yếu tố quyết định quan trọng đến sự lựa biện pháp ứng phó (Maddison, 2006)

2.2.2 Theo loại rủi ro và sự phát triển của các thị trường

Thông qua phương pháp bình phương nhỏ nhất, Shehu và Sidique (2015) xem xét tác động của các rủi ro bên trong và bên ngoài đến việc tiêu thụ của 3.257 hộ gia đình ở nông thôn Nigeria năm 2011 Kết quả cho thấy rủi ro liên quan đến khí hậu không ảnh hưởng đến tiêu dùng của hộ, trong khi rủi ro giá cả ảnh hưởng tiêu cực Bằng cách phân chia mẫu các hộ nghèo và không nghèo, kết quả cho thấy các hộ không nghèo có thể đảm bảo đầy đủ các biện pháp để chống lại những ảnh hưởng của rủi ro đối với tiêu dùng của họ, trong khi những hộ nghèo không có khả năng đảm bảo chống lại ảnh hưởng của các rủi ro liên quan đến cái chết, mất gia súc, thay đổi khí hậu và thay đổi giá cả Điều này cho thấy các hộ cần được cung cấp một biện pháp bảo trợ xã hội đầy đủ và hiệu quả để giảm nhẹ ảnh hưởng của những rủi

ro đối với phúc lợi Khi nói đến hiệu quả của các loại bảo hiểm, Wagstaff và Pradhan (2003) nhận thấy những người tham gia trong các chương trình bảo hiểm chính thức là các hộ gia đình khá giả hơn, trong khi người nghèo phải sử dụng bảo hiểm phi chính thức và không thể đối phó với các rủi ro sức khoẻ

Khi xem xét cách thức đối phó với rủi ro thiên tai của các hộ gia đình trong trận động đất Hanshin-Awaji năm 1995 ở Nhật Bản, Yasuyuki và Satoshi (2004) chỉ ra khoản vay được sử dụng rộng rãi để phục hồi thiệt hại nhà ở, trong khi giảm chi tiêu được sử dụng để bù đắp cho mất mát tài sản Ngoài ra, các hộ nông dân sau động đất ở Nhật Bản và sóng thần ở Ấn Độ thường đa dạng hóa cây trồng, xen canh, đầu tư sản xuất, sử dụng các công nghệ, các hợp đồng rủi ro thấp như cho thuê lại một phần đất đai Trong thương mại, các hộ sử dụng các bảo hiểm rủi ro Tuy nhiên, công cụ này thường rất khó sử dụng đối với các thảm họa tự nhiên, vì

Trang 34

thảm họa tự nhiên là một dạng rủi ro rất hiếm và không thể lường trước được (Sawada và Shimizutani, 2008)

Trong phân tích 215 hộ chăn nuôi gia súc ở 4 tỉnh của Kenya, Jabeen và các cộng sự (2010) đã đánh giá sự phù hợp của mô hình quản lý chu kỳ hạn hán như một chiến lược giảm thiểu rủi ro thiên tai Mô hình này được sử dụng để khuyến khích năng lực ứng phó, và những ảnh hưởng của chúng lên rủi ro hạn hán ở cấp độ

hộ Bốn năng lực ứng phó quan hệ chặt chẽ trong việc giảm thiểu rủi ro là (1) thiết lập một cơ cấu quản lý chăn nuôi, (2) đa dạng hóa thu nhập, (3) thực hiện các biện pháp để giữ gìn nguồn nước, và (4) khả năng tiếp cận tín dụng ở cộng đồng Bên cạnh đó, DeWeerdt và Dercon (2006) nhận thấy chia sẻ rủi ro là biện pháp ứng phó được đề cập nhiều nhất của các hộ ở nông thôn Tanzania Họ phát hiện chia sẻ rủi

ro chủ yếu thông qua món quà tư nhân, vay tư nhân và chuyển giao lao động Tuy nhiên, chia sẻ rủi ro giữa các hộ trong cùng thôn sẽ không đảm bảo chắc chắn trước những rủi ro như lũ lụt, hạn hán hay giá cả Tất cả các hộ trong cùng khu vực đều bị ảnh hưởng cùng một lúc Vì vậy, không ai trong cùng khu vực có thể giúp đỡ người khác, và sự hỗ trợ phải đến từ bên ngoài khu vực bị ảnh hưởng Salimonu và Falusi (2009) xác định hợp tác xã hội, vay tiền và làm nông trại như các chiến lược quản lý rủi ro chủ yếu được sử dụng bởi nông dân trồng thực phẩm ở Nigeria Ngoài ra, trong kết quả điều tra hơn 1000 nông hộ ở Ethiopia giai đoạn 2004 – 2005, Di Falco

và Bulte (2013) tìm thấy bằng chứng gợi ý việc chia sẻ rủi ro giữa mạng lưới họ hàng, ảnh hưởng đến việc giảm thiểu rủi ro ở nông thôn Ethiopia, tuy nhiên có sự tồn tại của một hiệu ứng thay thế giữa tín dụng và mạng xã hội

Để đối phó với những rủi ro do thiên tai gây ra, các hộ nông thôn Việt Nam đã phát triển các biện pháp ứng phó như đa dạng hóa lao động và đất cho từng loại cây trồng (Đức và Hermann, 2009) Ngoài ra, các hộ còn dựa vào chiến lược tự bảo hiểm như bán tài sản, gửi tiết kiệm, cho vay từ người thân bạn bè, hoặc sử dụng tín dụng (Nguyễn Ngọc Quỳnh, 2007) CIEM và các đối tác (2012) sử dụng bộ dữ liệu VARHS năm 2006, 2008, và 2010 để đánh giá tác động của những rủi ro thu nhập tới các hộ có khả năng đối phó với rủi ro khác nhau, từ đó xem xét khả năng điều chỉnh chi tiêu của các hộ Kết quả cho thấy các hộ nông thôn Việt Nam cố gắng hài

Trang 35

hòa chi tiêu khi đối mặt với những rủi ro thu nhập bất lợi và sử dụng tiết kiệm phòng ngừa Các hộ giảm tổng tài sản lưu động trước những rủi ro ngoại cảnh và rủi

ro cá nhân có thể bảo hiểm được Tiết kiệm tài chính, đặc biệt dự trữ tiền mặt và vàng có vai trò quan trọng trong việc ứng phó với những rủi ro ngoại cảnh

Sau rủi ro, các hộ nông dân thường sử dụng các giải pháp vay mượn như một kênh ứng phó phổ biến Theo thống kê của Kemper và các cộng sự (2013), 1383 hộ

ở nông thôn Thái Lan (trong đó có 549 hộ bị ảnh hưởng bởi rủi ro) và 1847 hộ ở Việt Nam (1123 hộ bị ảnh hưởng bởi rủi ro) có sự đa dạng trong lựa chọn biện pháp ứng phó sau rủi ro Tuy nhiên, kết quả mô hình hồi quy logit đa thức nhằm đo lường ảnh hưởng của hạn chế tài chính, các rủi ro xảy ra cùng thời điểm và thường xuyên đến các biện pháp ứng phó thì cho kết quả không như kỳ vọng Ở Thái Lan, các rủi

ro này ảnh hưởng tiêu cực đến việc bán vật nuôi, sử dụng tiết kiệm, vay mượn không chính thức, và bảo hiểm tương hỗ tác động tích cực đến hành vi không làm gì sau rủi ro hoặc tăng cung lao động Tại Việt Nam, các rủi ro ít ảnh hưởng đến việc lựa chọn cơ chế ứng phó Rủi ro không liên quan đến bán vật nuôi, vay mượn và bảo hiểm tương hỗ, nhưng quan hệ tích cực với việc tăng cung lao động, hoặc không làm gì sau rủi ro Nghiên cứu cho thấy bản chất của các rủi ro quan trọng đối với việc lựa chọn một cơ chế ứng phó

Xét mức độ ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu và các chiến lược thích ứng hiệu quả để duy trì an ninh lương thực, tạo việc làm, thu nhập và ngoại hối ở Việt Nam, dựa trên mô phỏng mùa màng, mô phỏng thủy văn, các mô hình lưu vực sông từ

4525 hộ trong bộ VHLSS 2006, và số liệu quan trắc về biến đổi khí hậu của Ủy ban liên Chính phủ, Yu và các cộng sự (2010) nhận định đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn, chẳng hạn như thủy lợi, đường xá, và vốn con người góp phần giảm nhẹ tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu Do đó, các chính sách quốc gia sẽ là chìa khóa

để giảm nhẹ tác động của rủi ro một cách hiệu quả Chính quyền nên tập trung vào các nhóm dân tộc thiểu số và các cộng đồng nghèo vì đây là các thành phần đặc biệt quan trọng trong chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu

Nghiên cứu của CIEM và các đối tác (2012) về các cú sốc thu nhập và các chiến lược thích ứng với rủi ro của hộ gia đình: Vai trò của bảo hiểm chính thức ở

Trang 36

nông thôn Việt Nam, cho thấy các cú sốc mang tính hiệp biến về mặt không gian (lũ lụt, hạn hán) khó bảo hiểm và phòng ngừa hơn các cú sốc mang tính đặc trưng (bệnh, chết), vì không lường trước được nên không có kế hoạch để ứng phó Để ứng phó với các cú sốc tiêu cực về thu nhập, các hộ thực hiện cơ chế điều chỉnh tiêu dùng bằng cách sử dụng tiết kiệm dự phòng, bán tài sản có tính thanh khoản hay tăng vay mượn để đối phó với các cú sốc Nghiên cứu chỉ ra rằng các cơ quan hoạch định chính sách có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường pháp lý cạnh tranh

và minh bạch nhằm khuyến khích khu vực tư nhân tham gia cung cấp bảo hiểm, người dân hiểu và mua bảo hiểm nông nghiệp Đây là biện pháp tăng phúc lợi trong dài hạn cho người nông dân, giúp họ tăng tiêu dùng và đầu tư cho hoạt động sản xuất nhiều hơn Tuy nhiên, trong ngắn hạn cần có các chương trình đào tạo nghề, hướng nghiệp, hỗ trợ khuyến nông, tiếp cận nguồn vốn để giúp họ vượt qua các cú sốc

Đối với các nông hộ bị ảnh hưởng lũ tại An Giang thì dù họ nhận thức được tính nghiêm trọng của lũ lụt, nhưng khả năng ứng phó còn rất hạn chế (Võ Hồng Tú

và các cộng sự, 2012) Sinh kế nông hộ rất dễ bị tổn thương do phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên và do tự nhiên quyết định Nó ngày càng nghiêm trọng hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tần suất xuất hiện lũ lớn ngày càng nhiều và khó dự đoán Nghiên cứu cho rằng những giải pháp dựa trên cộng đồng được đánh giá rất cao trong quá trình ứng phó và phục hồi sau lũ Do đó giải pháp căn cơ của chính phủ là cần tạo công ăn việc làm tại chỗ cho người dân, hỗ trợ phương tiện đánh bắt và khai thác nguồn lợi tự nhiên cũng như phát triển các mô hình sản xuất hiệu quả trong mùa lũ

Theo tài liệu nghiên cứu của tổ chức Liên Hợp quốc tại Việt Nam (2012) về giảm nghèo bền vững và quản lý rủi ro do thảm họa thiên nhiên ở khu vực Duyên

hải Miền Trung: Bài học rút ra và chính sách gợi ý, chỉ ra rằng mặc dù có nhiều

sáng kiến quản lý rủi ro thiên tai mang lại kết quả cụ thể, nhưng do cộng đồng không phải là chủ các dự án này hoặc không trực tiếp tham gia giai đoạn lập kế hoạch và thực hiện dự án, nên các dự án này thiếu tính bền vững Để giảm thiểu rủi

ro do các thảm họa, cần phải đặt con người vào trung tâm của quá trình ra quyết

Trang 37

định và họ phải tham gia chủ động Nghiên cứu cũng cho rằng cần có một hệ thống bảo trợ có khả năng thích ứng, toàn diện và tổng thể như bảo hiểm, tín dụng, các chương trình công cộng để giảm tổn thương và tăng khả năng chống chọi hiệu quả với các rủi ro do bất kể nguyên nhân gì

Các hộ tham gia vào hoạt động nông nghiệp phải đối mặt với việc giảm thu nhập khi có rủi ro Những rủi ro thu nhập này đặc biệt quan trọng nếu chúng dẫn đến biến động tiêu dùng Dựa vào dữ liệu điều tra 1.632 hộ gia đình ở Ethiopia bao gồm 9.455 thành viên giai đoạn 2011 – 2013, Yilma và các cộng sự (2014) tìm thấy

sự khác biệt rõ ràng về chiến lược đối phó với các rủi ro Hai rủi ro hiệp biến tương quan, gồm rủi ro kinh tế và rủi ro tự nhiên có xu hướng làm giảm tiết kiệm, tiêu thụ thực phẩm trong khi việc bán tài sản, vay mượn ít phổ biến hơn Đối phó với các rủi

ro y tế, các hộ giảm tiết kiệm, bán tài sản và phụ thuộc lớn vào vay mượn so với các rủi ro khác Giảm tiêu thụ thực phẩm, phản ứng nổi bật trong trường hợp các rủi ro

tự nhiên và kinh tế, nhưng không có ý nghĩa trong trường hợp rủi ro sức khoẻ Bên cạnh đó, các hộ không dựa vào sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè hoặc tăng cường nguồn cung lao động như là cách tiếp cận đối phó Giảm tiêu thụ thực phẩm không phải là cách ứng phó hiệu quả đối với rủi ro sức khoẻ vì nó không cung cấp tiền mặt

để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ Các rủi ro hiệp biến có thể khó đảm bảo đối phó được nếu các hộ không dựa vào sự trợ giúp cộng đồng và mạng lưới xã hội (Alderman và Paxson, 1994; Dercon, 2002) Ngay cả việc sử dụng tài sản như một biện pháp chống lại các rủi ro có thể khác nhau giữa rủi ro thông thường và phổ biến Khi đa số các hộ cố gắng bán tài sản, điều này làm giảm giá tài sản và giảm lợi nhuận thu được từ việc bán tài sản (Morduch, 2004) Mối quan hệ một – một giữa thu nhập và chi tiêu cho thấy các hộ ở Philippines không giảm thiểu được thiệt hại

do bão gây ra thông qua các chiến lược hài hòa chi tiêu, như bán tài sản, tiết kiệm hoặc vay mượn Thay vào đó, các hộ giảm chi tiêu nhiều nhất, tập trung vào chi đầu

tư vốn nhân lực, như y tế, giáo dục và dinh dưỡng, hay giảm chi nhiều đối với hàng hóa phi thực phẩm như các hoạt động giải trí, rượu và thuốc lá (Anttila-Hughes và Hsiang, 2013)

Trang 38

2.2.3 Ảnh hưởng của thái độ đối với rủi ro và thu nhập đến sự lựa chọn biện pháp ứng phó

Liên quan đến phản ứng của cá nhân đối với rủi ro như sự yêu thích rủi ro, ghét rủi ro hoặc trung lập với rủi ro, các nhà kinh tế học có nhiều nghiên cứu thực nghiệm với các cách thức đo lường khác nhau Tuy nhiên, luận án sử dụng cách đo lường thái độ với rủi ro theo thí nghiệm của Tversky và Kahneman (1992), Prelec (1998), Abdellaoui (2000), Eckel và Grossman (2002), Gächter và các cộng sự (2007), Booij và Kuilen (2009), Gächter và các cộng sự (2010) Đây là phương pháp được dùng nhiều trong các nghiên cứu thực nghiệm và phù hợp với nhận thức

về rủi ro của người dân ở nông thôn (Teklewold và Köhlin, 2011; Đức, 2012; Liu

và Huang, 2013; Poussin và các cộng sự, 2014; Gloede và các cộng sự, 2015; Cassar và các cộng sự, 2017) Theo đó, các lựa chọn rủi ro có thể xác định qua lý thuyết triển vọng (Tversky và Kahneman, 1992) Hộ gia đình sẽ có thái độ như nhau giữa việc từ chối hay chấp nhận trò chơi nếu w+(0,5)v(G) = w-(0,5)ʎriskv(L), với L là khoản thiệt hại và G là khoản lời nhận được khi tham gia trò chơi; v(x) là hữu dụng thu nhập x thuộc tập hợp {G, L}; ʎrisk là hệ số ác cảm rủi ro trong lựa chọn; w+(0,5)

và w-(0,5) là trọng số xác suất của khoản lời và khoản thiệt hại Nếu giả định rằng hàm trọng số là như nhau đối với khoản thiệt hại và khoản lời theo Prelec (1998),

w+ = w- thì tỷ lệ v(G)/v(L)= ʎrisk là hệ số lo ngại rủi ro Một giả định hay gặp khác là hàm v(x) là hàm tuyến tính khi x là khoản thu nhập nhỏ, có nghĩa là v(x) = x (Gächter và các cộng sự, 2007), và hệ số ác cảm rủi ro được đo lường đơn giản là:

ʎrisk = G/L

Dựa trên phương pháp đo lường thái độ với rủi ro trên, Teklewold và Köhlin (2011) tìm hiểu mối quan hệ giữa sở thích rủi ro của người nông dân Ethiopia và hoạt động bảo tồn đất nông nghiệp Kết quả cho thấy tình hình xói mòn đất đai nghiêm trọng ở cao nguyên Ethiopia làm giảm sản lượng nông nghiệp, góp phần gia tăng tình trạng nghèo của nông dân Câu hỏi đặt ra là tại sao người nông dân không

sử dụng các biện pháp hạn chế xói mòn, như canh tác trên ruộng bậc thang hay sử dụng đê ngăn bùn, xem nó như một khoản đầu tư bảo tồn độ phì nhiêu của đất đai, nâng cao năng suất cây trồng Tác giả đặt hai giả thuyết: (1) tồn tại hành vi e ngại

Trang 39

rủi ro cao của người nông dân trong nghiên cứu này; (2) mức độ e ngại rủi ro cao của người nông dân làm giảm xác suất bảo tồn đất đai Kết quả cho thấy tâm lý e ngại rủi ro của người dân cản trở hoạt động đầu tư trên

Nghiên cứu của Liu và Huang (2013) về mối quan hệ giữa sở thích rủi ro của nông dân trồng bông Trung Quốc đến việc sử dụng thuốc trừ sâu Nghiên cứu khảo sát người nông dân trồng bông thông thường và giống bông có chứa gien kháng sâu bệnh, xem họ sử dụng thuốc trừ sâu khác nhau như thế nào dựa vào sở thích rủi ro cũng như e ngại mất mát liên quan đến sức khỏe khi sử dụng ít thuốc đối với việc trồng bông thường hay bông kháng sâu bệnh Dữ liệu khảo sát hộ gia đình với các biến liên quan là tuổi, giới tính, trình độ, thu nhập, chia theo cấp độ làng; và sử dụng thang đo trong mô hình với thiết kế trò chơi xổ số của Tanaka và Camerer (2016) Điểm mới của nghiên cứu này là tác giả sử dụng mô hình hữu dụng chứng minh được sự liên quan của các tham số rủi ro đến biến sức khỏe Nghiên cứu này kết luận rằng sự yêu thích rủi ro và e ngại mất mát, tác động đến hành vi sử dụng nhiều hay ít thuốc trừ sâu của người nông dân Trung Quốc Người e ngại rủi ro sẽ

sử dụng nhiều thuốc trừ sâu hơn, người lo ngại mất mát sẽ dùng ít thuốc hơn, hiệu ứng cố định làng và thu nhập theo làng không tác động đến rủi ro Nghĩa là người trong cùng một làng sử dụng thuốc khác nhau, e ngại rủi ro cũng như e ngại mất mát khác nhau và làng giàu hay nghèo hơn có mức độ tác động đến rủi ro không xác định theo thu nhập Ngoài ra tồn tại bằng chứng cho thấy có sự liên quan giữa ác cảm mất mát đối với lĩnh vực sức khỏe y tế, các biến như: tuổi, giới tính, trình độ, thu nhập có tác dụng nhất định đến các tham số rủi ro

Petrolia và cộng sự (2013) nghiên cứu về sở thích rủi ro tác động đến quy định mua bảo hiểm lũ lụt tại Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt hệ thống giữa các hộ thể hiện ở nhận thức về nguy cơ lũ lụt, sở thích rủi ro, kinh nghiệm trong quá khứ với lũ lụt, dự án giảm nhẹ rủi ro ở địa phương đã giải thích sự thay đổi trong việc lựa chọn mua bảo hiểm lũ lụt Cá nhân nhận thức được thiệt hại lũ lụt lớn hơn

và những người đã có kinh nghiệm lũ lụt trong quá khứ có nhiều khả năng muốn được bảo hiểm Mức nhận thức rủi ro có thể bị ảnh hưởng bởi thông tin được cung cấp, thâm nhập thị trường của chương trình bảo hiểm lũ lụt quốc gia Vì vậy, các

Trang 40

hoạt động giảm nhẹ rủi ro lũ lụt thường tăng cường sự thâm nhập thị trường của bảo hiểm lũ lụt, do giảm phí bảo hiểm được thiết kế để giải quyết các vấn đề rủi ro đạo đức Condliffe và Fiorentino (2014) tìm thấy ảnh hưởng của thái độ với rủi ro tác động đến quyết định mua bảo hiểm sức khỏe và chi tiêu sức khỏe tại Mỹ Nghiên cứu sử dụng dữ liệu tám năm trong cuộc điều tra về chi tiêu y tế với phương pháp hồi quy đa biến để định lượng vai trò của thái độ rủi ro đối với quyết định mua và chi tiêu bảo hiểm Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng một người yêu thích rủi

ro ít có khả năng mua bảo hiểm y tế và chi tiêu về chăm sóc sức khỏe ít hơn so với người sợ rủi ro

Trong nghiên cứu “Những cú sốc, thái độ rủi ro cá nhân, và tính dễ bị tổn thương dẫn đến nghèo của các hộ gia đình nông thôn ở Thái Lan và Việt Nam”, Gloede và các cộng sự (2015) phân tích ảnh hưởng về kinh nghiệm từ những cú sốc

hộ đã gặp đến thái độ đối với rủi ro Nhóm tác giả sử dụng bộ số liệu của hơn 4000

hộ được điều tra ngẫu nhiên tại Thái Lan và Việt Nam Thông tin về các cú sốc được thu thập bằng việc thừa nhận của hộ, và thái độ đối với rủi ro là việc các hộ lựa chọn theo thang đo từ 1 (hoàn toàn né tránh rủi ro) đến 10 (sẵn sàng chấp nhận rủi ro) Kết quả nghiên cứu cho thấy, kinh nghiệm từ những cú sốc bất lợi, phổ biến

ở những hộ nghèo, có mối quan hệ chặt chẽ với mức độ né tránh rủi ro, ngay cả khi

mô hình có sử dụng thêm một số lượng lớn biến số về tình trạng kinh tế-xã hội của

hộ Những cú sốc kéo theo sự tổn thương dẫn đến nghèo đói, ảnh hưởng đến thái độ đối với rủi ro Nghiên cứu cũng phân tích chi tiết ảnh hưởng của từng cú sốc cụ thể (biến đổi khí hậu, giá cả, sức khỏe…) và thấy rằng thái độ rủi ro đối với từng loại sốc có sự khác biệt giữa Việt Nam và Thái Lan Từ đó, nhóm tác giả đã kết luận mặc dù các cú sốc có ảnh hưởng đến thái độ của nông dân đối với rủi ro, tuy nhiên, chiến lược đối phó với rủi ro phụ thuộc vào đặc điểm của từng nhóm hộ

Theo kết quả nghiên cứu của Kanbur và Squire (2001) cho thấy biến động thị trường và thiên tai có thể đặt dân làng trong tình trạng có rất ít hoặc mất đi những gì

ít mà họ có Bằng chứng thực nghiệm cho thấy các hộ gia đình giàu có đầu tư vào hoạt động sản xuất rủi ro hơn, và kiếm được lợi nhuận cao hơn Người giàu có sẵn sàng chấp nhận rủi ro nhiều hơn người nghèo Tuy nhiên, các yếu tố quyết định đến

Ngày đăng: 18/06/2021, 09:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w