VŨ KIM ĐIỀMVẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN PHẦN II Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT KIÊN GIANG LUẬN VĂN
Trang 1VŨ KIM ĐIỀM
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN
ĐỀ TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN
LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN (PHẦN II) Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ -
KỸ THUẬT KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-VŨ KIM ĐIỀM
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN
ĐỀ TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN
LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN (PHẦN II) Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ -
KỸ THUẬT KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: LL & PPDH bộ môn Giáo dục Chính trị
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Thế Định
ĐỒNG THÁP – 2012
Trang 3A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học theo hướng lấyngười học làm trung tâm là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dụccủa hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay TrongCương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổsung, phát triển năm 2011) Đảng đã chỉ rõ, “Đổi mới căn bản và toàn diện giáodục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêucầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục
vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hộihọc tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”.[5; 5-6]
Như vậy, bên cạnh việc đổi mới nội dung chương trình thì nhiệm vụ đổimới phương pháp dạy học nhằm phát huy mạnh mẽ tính tích cực của người học
là một nhiệm vụ có ý nghĩa cực kỳ to lớn và luôn mang tính thời sự trong hoạtđộng giáo dục và đào tạo nước nhà
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCHTW Đảng khoá VIII đã chỉ rõ: “Đổimới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ mộtchiều, rèn luyện thói quen nề nếp, sáng tạo của người học, đảm bảo điều kiện vàthời gian tự học, tự nghiên cứu cho SV, nhất là SV đại học” [37; 11] Chiến lượcphát triển giáo dục 2011 - 2020 đã xác định: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạyhọc và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học.” [4; 12]
Thực hiện chiến lực đó, đổi mới phương pháp dạy học đang diễn ra ở mọicấp học, ngành học là nhiệm vụ của mỗi GV của khoa đào tạo và các trường đạihọc và cao đẳng, nó trở thành một tất yếu của việc đào tạo nguồn nhân lực đápứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 4Trên thực tế, từ nhiều năm nay, việc đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoá GV lýluận chính trị, trong đó có đội ngũ GV giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác - Lênin đã được coi trọng Điều này có ý nghĩa rất quantrọng, góp phần từng bước nâng cao chất lượng đào tạo ở các bậc đại học, caođẳng nói chung về môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nóiriêng
Để dạy tốt, học tốt môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, trước tiên, GV phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học Cần phải vậndụng phương pháp dạy học nào để SV phải suy nghĩ, tìm tòi, tự giải quyếtnhững mâu thuẫn trong nhận thức để đi đến những tri thức mới Trong quá trình
-đó, SV không chỉ có niềm vui của việc tự khám phá ra tri thức mới dưới sựhướng dẫn của GV, ghi nhớ được bài học mà còn phát triển tư duy khoa học và
tư duy lý luận
Thực tế trong quá trình giảng dạy ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuậtKiên Giang cho thấy: Đổi mới phương pháp giảng dạy là một đòi hỏi cấp thiết,song hiệu quả của nó phụ thuộc phần lớn vào việc chủ động đổi mới phươngpháp giảng dạy của thầy và chủ động đổi mới phương pháp học của trò Vì vậy,vận dụng phương pháp phát huy tính tích cực học tập môn Những nguyên lý cơbản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật KiênGiang nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của môn học, góp phần thực hiệnmục tiêu giáo dục và đào tạo của ngành giáo nói chung và của nhà trường nóiriêng là điều hết sức cần thiết
Có thể nói, trong các phương pháp dạy học tích cực hiện nay, việc sửdụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong giảng dạy môn Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng caochất lượng dạy học bộ môn, đồng thời phát huy tính tích cực của SV Đó cũng là
lý do chúng tôi chọn đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong
Trang 5giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phần II) ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển của giáo dục, thì phương pháp dạy học nêu vấn đề
là một phương pháp đã được sự quan tâm nghiên cứu từ lâu cả về mặt lý luận vàthực tiễn, nhằm phát triển vai trò tích cực của người dạy và người học Song tùytừng giai đoạn phát triển của lịch sử, phương pháp này đã được quan tâm nghiêncứu ở nhiều góc độ khác nhau, điển hình là các công trình:
“Dạy học nêu vấn đề ” của tác giả I Ia Lecne, nhà xuất bản Giáo dục,
năm 1997 Trong cuốn sách này tác giả đã lý giải và làm sáng tỏ bản chất củacủa phương pháp dạy học gọi là dạy học nêu vấn đề, vạch ra cơ sở phương pháp,tác dụng của phương pháp và phạm vi áp dụng của phương pháp này
“Những cơ sở dạy học nêu vấn đề” của tác giả V.Ôkôn, nhà xuất bản
Giáo dục, năm 1976 Cuốn sách này đã đúc kết những kết quả tích cực củachương trình thực nghiệm về dạy học nêu vấn đề, kích thích HS tích cực suynghĩ, chủ động tìm tòi, giải quyết vấn đề và đạt được kiến thức một cách vữngchắc, sâu sắc
“Dạy - học giải quyết vấn đề, một hướng đổi mới trong công tác giáo dục, đào tạo, huấn luyện” của tác giả: GS Vũ Văn Tảo, GS Trần Văn Hà,
trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo, năm 1996 Các tác giả đã nghiêncứu và lý giải việc dạy - học giải quyết vấn đề là một trong hướng đổi mới mụctiêu và công tác đào tạo cũng như đề xuất phương pháp xử lý tình huống - hoạtđộng và việc vận dụng phương pháp đó vào công tác giáo dục, đào tạo, huấnluyện
Nghiên cứu về vấn đề này, nhiều tác giả đã phân tích rất sâu sắc đặc điểmnội dung và những cơ sở để vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạyhọc môn Giáo dục công dân ở trường THPT Điển hình là các công trình:
"Phương pháp giảng dạy Giáo dục công dân" của Vương Tất Đạt, "Một số
Trang 6phương pháp dạy học tích cực" của PGS.TS Vũ Hồng Tiến, "Lý luận dạy họcmôn Giáo dục công dân" của Phùng Văn Bộ…
PGS TS Đoàn Minh Duệ, với bài: “Hướng tới việc dạy học môn triết học
có hiệu quả hơn”, Kỷ yếu hội thảo khoa học về đổi mới phương pháp giáo dục,học tập môn triết học Mác - Lênin trong các trường Đại học toàn quốc, Hà Nội,12/ 2002
TS Nguyễn Lương Bằng, với bài: “Đổi mới phương pháp dạy học lý luậnMác - Lênin ở các trường Đại học hiện nay”, Tạp chí Lý luận, số 7/2002
TS Bùi Văn Dũng với bài viết: “Tích cực hoá hoạt động học tập của sinhviên khi học môn triết học Mác - Lênin”, Kỷ yếu hội thảo khoa học về đổi mớiphương pháp giảng dạy học tập môn triết học Mác - Lênin trong các trường đạihọc toàn quốc, Hà Nội, 12/ 2002
TS Trần Viết Quang: “Bồi dưỡng thế giới quan và phương pháp luậnkhoa học cho sinh viên thông qua giảng dạy triết học Mác - Lênin”, Đề tàiKHCN cấp Bộ (chủ nhiệm); “Đổi mới phương pháp học triết học nhằm trau dồi
tư duy biện chứng”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số 8/ 2007
Đã có nhiều học viên cao học trường Đại học Vinh nghiên cứu việc sửdụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong các môn học khác nhau Với luậnvăn thạc sỹ như: “Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề để nâng cao hiệu quảdạy học phần kim loại, hoá học 12 – THPT” của Nguyễn Thị Hoài Thi, năm2006; “Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề để nâng cao hiệu quả giảng dạycác khái niệm, định luật và học thuyết hoá học cơ bản trong chương trình hoá họcphổ thông” của Trịnh Thị Huyền; “Vận dung phương pháp nêu vấn đề trong dạyhọc phần Công dân với các vấn đề chính tri – xã hội”, chương trình Giáo dụccông dân lớp 11 (Qua khảo sát ở trường THPT Nguyễn Văn Trỗi – Hà Tĩnh) củatác giả Mai Phú Bình năm 2010; “Hướng dẫn sinh viên tự học trong giảng dạymôn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (Phần I) nhằm pháthuy tính tích cực, sáng tạo của sinh viên trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật
Trang 7Nghệ An” của Phan Thị Tuyết Mai, năm 2009 v.v đã lý giải sự cần thiết phảivận phương pháp nêu vấn đề để phát huy tính tích cực của học sinh.
Luận văn thạc sỹ “Đổi mới phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phầnChủ nghĩa duy vật lịch sử môn Triết học Mác - Lênin ở trường Cao đẳng sưphạm Bắc Ninh” của tác giả Đỗ Thị Nguyệt, năm 2007, trường Đại học Sưphạm Hà Nội Luận văn thạc sỹ “ Đổi mới phương pháp nêu vấn đề vào dạy họcphần Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhằm phát triển tư duy biện chứng cho sinhviên ở trường Đại học Hùng Vương” của tác giả Nguyễn Mạnh Thắng, năm
2008, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Luận văn thạc sĩ “Vận dụng phươngpháp nêu vấn đề trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩaMác- Lênin (phần lý luận của Chủ nghĩa Mác –Lênin về chủ nghĩa xã hội) ởtrường Đại học Quy Nhơn”, của tác giả Phan Thị Thành, năm 2009, trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội…
Luận án tiến sỹ: “Vận dụng dạy học nêu vấn đề vào việc dạy học tác phẩm văn chương ở bậc trung học” của tác giả Lê Trung Thành, năm 2004,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nêu rõ việc vận dụng ở trong một lĩnh vực
cụ thể một môn học
Có thể nói rằng, phương pháp dạy học nêu vấn đề đã được nhiều nhà khoahọc, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu nhằm vạch ra bản chất, vai trò củaphương pháp này trong quá trình dạy học Tuy nhiên, việc vận dụng phươngpháp này nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác - Lênin chưa được quan tâm nhiều, đặc biệt chưa có công trìnhnào đề cập tới việc vận dụng phương pháp day học này trong việc nâng cao hiệuquả dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trườngCao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trang 8Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về phương pháp dạy học nêu vấn đề vàthực trạng dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ởtrường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang, luận văn nhằm xây dựng quytrình vận dụng phương pháp day hoc nêu vấn đề, để góp phần nâng cao chấtlượng giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ởtrường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang.
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận của phương pháp dạy học nêu vấn đề và thực trạng
sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề giảng dạy môn Những nguyên lý cơbản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật KiênGiang
- Tiến hành thực nghiệm sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề giảngdạy một số tiết trong phần II môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -Lênin ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
- Xây dựng quy trình thực hiện phương pháp dạy học nêu vấn đề tronggiảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và đưa racác điều kiện để thực hiện phương pháp dạy học nêu vấn đề có hiệu quả
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp có tính chất nền tảng để nghiên cứu là phương pháp biệnchứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quanđiểm của Đảng ta về giáo dục và đào tạo Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một sốphương pháp đặc thù sau:
- Phương pháp thống kê tổng hợp
- Phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trang 95 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu việc vận dụng phương pháp dạy họcnêu vấn đề trong giảng dạy phần II môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang Do điều kiện vềthời gian và khuôn khổ có hạn của luận văn, tác giả chỉ có thể đề cập đến vậndụng phương pháp dạy học nêu vấn đề thông qua giảng dạy một số chương cụthể, phần II của Chương IV và phần I của Chương V
6 Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện phương pháp dạy học nêu vấn đề vào giảng dạy mônNhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường Cao đẳng Kinh tế
- Kỹ thuật Kiên Giang, sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và năng lực
tự học, tự nghiên cứu, giải quyết được những mâu thuẫn trong nhận thức để điđến những tri thức mới
7 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng vào giảng dạy và học tập các môn
lý luận chính trị ở các trường đại học và cao đẳng
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học tập cácmôn khoa học nói chung và các môn môn lý luận chính trị nói riêng ở cáctrường đại học và cao đẳng
8 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của luận văn được chia làm 3 chương và 7 tiết
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp dạy
học nêu vấn đề trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin (phần II) ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
Chương 2: Thực nghiệm sư phạm vận dụng phương pháp dạy học nêu
vấn đề trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin(phần II) ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
Trang 10Chương 3: Quy trình và điều kiện vận dụng phương pháp dạy học nêu
vấn đề trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin(phần II) ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
Trang 11B NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN (PHẦN II) Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ -
KỸ THUẬT KIÊN GIANG
1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (Phần II) ở trường Cao Đẳng
1.1.1 Phương pháp dạy hoc nêu vấn đề
1.1.1.1 Khái niệm phương pháp, phương pháp dạy học, phương pháp dạy học nêu vấn đề
* Phương pháp:
Thuật ngữ “phương pháp” xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ “methodes” có
nghĩa là con đường, cách thức để đạt tới mục đích nhất định “Phương pháp là hình thức tự vận động bên trong của nội dung”, nó gắn liền với hoạt động của
con người, giúp con người hoàn thành được những nhiệm vụ phù hợp với mụcđích đề ra Do vậy, phương pháp bao giờ cũng có tính mục đích, tính cấu trúc vàluôn gắn với nội dung
Phương pháp không phải là những nguyên tắc có sẵn, bất biến mà bao giờcũng phụ thuộc vào đối tượng và nhiệm vụ đặt ra Chủ thể phải xuất phát từ đặcđiểm của đối tượng để lựa chọn phương pháp cho phù hợp Tức là phải nắmđược tính chất, chỉ tiêu, số lượng, chất lượng… từ đó nhận thức rõ quy luật củađối tượng để sử dụng phương tiện, công cụ và biện pháp thích hợp theo mộttrình tự nhất định Điều này nói lên mặt khách quan của phương pháp Phươngpháp là hình thức tự vận động bên trong của nội dung, do nội dung quy định
Mặc dù phương pháp luôn có mặt khách quan, nhưng nó lại được những
cá nhân chủ thể nhận thức và sử dụng vào hoạt động nhận thức và hoạt độngthực tiễn của mình Mỗi cá nhân lại có năng lực nhận thức, có kinh nghiệm thực
Trang 12tiễn rất khác nhau nên việc vận dụng phương pháp cũng khác nhau Chính điềunày làm cho phương pháp không những mang tính khách quan mà còn mangtính chủ quan.
Trong quá trình dạy học, phương pháp tồn tại với tính cách là một thành
tố trong mối quan hệ tác động chặt chẽ với các thành tố khác của một chỉnh thểtrong quá trình dạy học Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau vềphương pháp dạy học:
Trong cuốn Từ điển triết học - Nxb Sự thật Hà Nội, 1976, các tác giả đãkhẳng định “Phương pháp là cách thức đề cập đến hiện thực, nghiên cứu cáchiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” [54; 743- 744]
Trong cuốn sách Triết học (tập 3) dùng cho cao học và nghiên cứu sinh,tác giả cho rằng: “Phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ trithức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễnnhằm thực hiện mục đích nhất định” [3; 29]
Tuy được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung khi nói tớiphương pháp các nhà khoa học đều cho rằng phương pháp: là cách thức, con đường,
là phương tiện chủ thể tác động vào đối tượng nhằm đạt được mục đích đề ra
* Phương pháp dạy học:
Khi nói về phương pháp dạy học, có nhiều qua điểm khác nhau:
Theo cuốn sách “Lý luận dạy học, nhà giáo dục học Kazansky vàNazarova cho rằng: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của giáo viên
với học sinh để lĩnh hội tri thức, kỹ năng và kỹ xảo” [22; 174]
Trong Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 274/1995 của tác giả Nguyễn SinhHuy cho rằng: “Phương pháp dạy học là tổ hợp những thao tác tự giác liên tiếpđược sắp xếp theo một trình tự hợp lý, hợp quy luật khách quan mà chủ thể tácđộng lên đối tượng nhằm tìm hiểu và cải biến nó” [19]
Phương pháp dạy học là sự tác động lẫn nhau của hai thành tố dạy và học,trong đó người dạy phải có cách thức dạy, người học phải có cách thức học Vì
Trang 13vậy, phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động của GV nhằmthực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của
SV là vấn đề được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm Một trong nhữngphương pháp phát huy tính tích cực của người học là phương pháp dạy học nêuvấn đề Phương pháp dạy học này sẽ tạo cho người học nhiều khả năng độc lập
tư duy sáng tạo nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
* Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
Phương pháp dạy học nêu vấn đề từ trước cho đến nay, có rất nhiều quanđiểm, ý kiến khác nhau
Nhà giáo dục học Ba Lan V Ôkôn cho rằng: “Dạy học nêu vấn đề là toàn
bộ các hoạt động như tính chất tình huống có vấn đề, biểu đạt các vấn đề, chú ýgiúp đỡ cho học sinh những điều cần thiết để giải quyết vấn đề, kiểm tra cáchgiải quyết đó và cuối cùng là quá trình hệ thống hoá và củng cố các kiến thức
tiếp thu được” [41; 103]
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo, “Dạy học nêu vấn đề là hình thức dạyhọc dựa trên những quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động mộtcách sáng tạo, bao gồm sự kết hợp các phương pháp dạy và học có những nét cơbản của sự tìm tòi khoa học, phát triển tính tích cực, tính tự lực và năng lực sáng
tạo và hình thành cơ sở thế giới quan khoa học cho họ” [13; 41]
Như vậy, qua các định nghĩa khác nhau của các tác giả trong và ngoàinước về phương pháp dạy học nêu vấn đề tuy có sự khác nhau, song các tác giảđều coi phương pháp dạy học nêu vấn đề là việc tổ chức quá trình dạy và họcbằng cách tạo ra tình huống có vấn đề trong dạy học, tạo ra ở người học nhu cầuphát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh, lôi cuốn, yêu cầu người học phải tựlực trong hoạt động nhận thức
Qua những định nghĩa trên các tác giả đều phản ánh được những nét bảnchất của phương pháp dạy học nêu vấn đề, đó là:
Trang 14- Phương pháp dạy học nêu vấn đề bao gồm những hệ thống tác động biệnchứng của GV và SV, những cách thức thực hiện tổng quát các quy luật vànguyên tắc dạy học nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ dạy học.
- Phương pháp dạy học nêu vấn đề là sự mô hình hoá quá trình tư duy,nêu những quy luật tâm lý tư duy, quy luật lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức là
cơ sở của phương pháp nêu vấn đề
- Trong phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương tiện điều khiển hoạtđộng nhận thức của SV là việc GV tạo nên tình huống có vấn đề, SV ý thức rõđược vấn đề đó và tự lực hoặc dưới sự chỉ đạo của GV giải quyết vấn đề, kiểmtra những kết luận đã rút ra
- Phương pháp dạy học nêu vấn đề tạo điều kiện thực hiện tốt ba nhiệm vụdạy học, đó là:
+ Dạy và học để làm gì? (Mục đích dạy học)
+ Dạy và học những vấn đề gì? (Nội dung dạy và học)
+ Dạy và học như thế nào? (Phương pháp và hình thức dạy học)
Từ những ý kiến trên, tác giả nêu ra định nghĩa về phương pháp dạy học
nêu vấn đề như sau: Phương pháp dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học đặt SV trước một nhiệm vụ nhận thức thông qua những tình huống có vấn đề do
GV đặt ra, SV ý thức được vấn đề đó và kích thích ở họ tính tích cực, chủ động
tự lực giải quyết một cách sáng tạo hoặc dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của GV,
SV giải quyết vấn đề, kiểm tra kết luận rút ra nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ
dạy học
Như vậy, thực chất của phương pháp dạy học nêu vấn đề chính là GV tạo
ra tình huống có vấn đề, từ đó tổ chức, điều khiển hoạt động của SV giúp SVđộc lập giải quyết các vấn đề học tập
1.1.1.2 Tình huống có vấn đề
* Vấn đề
Trang 15Trong thực tiễn dạy học, thuật ngữ “vấn đề” thường được dùng theo nhiềucách giải thích khác nhau Như, trong Từ điển Tiếng Việt thì “vấn đề” là điềucần xem xét, giải quyết [58; 830] Ngoài ra, “ vấn đề ” còn được hiểu theo nghĩalà: có một cái gì đó có thể coi là một sự thách thức phải vượt qua để đạt tới kếtquả chuyên biệt dưới những điều kiện xác định, một sự thỉnh cầu nghiên cứu tìmtòi một cái gì đó cần được cải tiến.
Trong trường hợp này, vấn đề ở đây là một tình huống có vấn đề đượcchủ thể tiếp nhận để giải quyết dựa trên các phương tiện (tri thức, kỹ năng,kinh nghiệm tìm tòi) sẵn có của mình Cho nên mọi vấn đề đều chứa đựng cáctình huống có vấn đề nhưng không phải bất kỳ tình huống có vấn đề nào cũng
là vấn đề
Theo Lence: “ Vấn đề là một câu hỏi nảy ra hay được đặt ra cho chủ thể,
mà chủ thể chưa biết lời giải từ trước và phải tìm tòi sáng tạo lời giải, nhưng chủthể đã sẵn có một số phương tiện ban đầu để sử dụng thích hợp vào sự tìm tòiđó” [25; 27]
Như vậy, trong mỗi vấn đề phải có một cái gì đó chưa biết nhưng đồngthời trong vấn đề cũng phải có một cái gì đã biết hay đã cho, nếu không chúng ta
sẽ không thể nhận thức được cho nên các dấu hiệu của vấn đề là tình huống cóvấn đề, chủ thể đã được chuẩn bị ở một chừng mực nào đó để đi tìm lời giải, cóthể có nhiều cách giải khác nhau để đi tới đáp số cuối cùng
* Tình huống có vấn đề
Như chúng ta đã biết, trong mỗi vấn đề, mỗi bài toán nhận thức chứa đựngmâu thuẫn giữa cái đã biết và cái cần đạt được nhưng mâu thuẫn này phải có tácdụng sao cho chủ thể nhận thức (sinh viên) tiếp nhận nó không phải như mộtmâu thuẫn bên ngoài, mà là một nhu cầu bên trong Khi chủ thể ở trong trạngthái tâm lý độc đáo thì xuất hiện tình huống có vấn đề
Khi bàn đến tình huống có vấn đề trong dạy học nêu vấn đề cho đến nay
đã có nhiều quan điểm khác nhau
Trang 16Theo M.I.Makhơnutốp: “Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý của sựkhó khăn về mặt trí tuệ nảy sinh ở con người trong những tình huống kháchquan khi không thể giải thích một sự kiện mới bằng tri thức đã có hoặc bằngcách thức hoạt động đã biết trước đây mà phải tìm tri thức hoặc cách thức hànhđộng mới” [32; 280].
Theo X.L.Rubinstenin: “Tình huống vấn đề là tình huống chứa đựng trongbản thân nó những yếu tố chưa xác định, đòi hỏi một cái gì đó chưa được vạch
ra, có cái gì chưa biết, giống như chỗ trống chưa được lấp đầy, chưa được xácđịnh, chưa được phát hiện” [43; 85]
Theo A.M Machinskin “Một tình huống gọi là tình huống có vấn đề khi xuấthiện sự không tương ứng, sự xung khắc giữa cái đã biết và cái đòi hỏi, cách thứchoặc những yếu tố thực hiện hành động đang đòi hỏi, hoặc khi con người gặp phảimột vài điều kiện mới mà không thể thực hiện hành động đã biết” [30; 25]
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo: “Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm
lý của sự khó khăn về trí tuệ xuất hiện ở con người khi họ mang tình huống củavấn đề mà họ phải giải quyết chứ không thể giải thích một sự kiện mới bằng tri
thức đã có trước đây và họ phải tìm mọi cách thức, hành động mới [13; 43]
Như vậy, dù có cách tiếp cận khác nhau nhưng điểm chung của các tác giảđều cho rằng: Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý độc đáo nảy sinh khicon người gặp phải chướng ngại nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm giữacái đã biết và cái chưa biết, chủ thể có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn đó bằng sựtìm tòi sáng tạo tích cực đầy hưng phấn chứ không phải bằng tái hiện hay bắtchước và khi tới đích thì lĩnh hội được cả kiến thức, phương pháp giành kiếnthức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện
Tình huống có vấn đề nảy sinh khi người học suy nghĩ về điều gì đó hoặcthực hiện hành động đã biết, người học không đủ tri thức hoặc cách thức hànhđộng đã biết tức là nảy sinh ra mâu thuẫn giữa điều đã biết và chưa biết, ngườihọc ý thức được vấn đề Do vậy, không phải tình huống nào cũng có thể trở
Trang 17thành tình huống có vấn đề Tình huống có vấn đề chỉ nảy sinh khi có sự khôngtương ứng, sự xung khắc giữa cái đã biết và cái chưa biết Nếu tri thức hoặccách thức hoạt động mới không hấp dẫn hoặc quá khó đối với người học thì tìnhhuống có vấn đề cũng không có giá trị Do vậy, tình huống có vấn đề phải thoảmãn các yêu cầu sau:
Thứ nhất: Tồn tại một vấn đề: Tình huống phải chứa đựng mâu thuẫn
nhận thức, đó là mâu thuẫn giữa trình độ kiến thức, kỹ năng đã có với yêu cầulĩnh hội kiến thức, kỹ năng mới SV phải ý thức được một khó khăn trong tư duyhoặc hành động mà vốn hiểu biết sẵn có chưa đủ để vượt qua
Thứ hai: Gợi nhu cầu nhận thức: Tình huống phải chứa đựng yếu tố mới,
gây ngạc nhiên hấp dẫn sinh viên, thu hút sự chú ý của họ hay tình huống chứađựng vấn đề gây ra ở sinh viên lòng mong muốn, cảm thấy cần thiết có nhu cầugiải quyết để chiếm lĩnh tri thức, tự hoàn thiện hiểu biết của mình
Thứ ba: Gây cho SV niềm tin vào khả năng giải quyết vấn đề: SV cảm
thấy việc giải quyết vấn đề là vừa sức với mình khi tiến hành giải quyết vấn đềkhông quá dễ mà không quá khó Tạo cho SV niềm tin vào khả năng của chínhmình là một trong những yêu cầu quan trọng của tình huống có vấn đề
Như vậy, bản chất của phương pháp nêu vấn đề trong dạy học là tạo ratình huống có vấn đề cùng những điều kiện đảm bảo cho việc giải quyết tìnhhuống đó và những chỉ dẫn cụ thể cho SV trong tiến trình giải quyết bài toánnhận thức Do đó, bản chất của phương pháp dạy học nêu vấn đề trong giảngdạy như là một tổng hợp những hoạt động tương tác của GV và SV, là việc tạo
ra tình huống có vấn đề, cách diễn đạt vấn đề, việc tìm hiểu những vấn đề cầngiải quyết trên cơ sở những kiến thức và phương pháp học tập đã biết
1.1.1.3 Các kiểu và các cách tạo tình huống có vấn đề
* Các kiểu tình huống có vấn đề
1 Tình huống có vấn đề thường nảy sinh khi học sinh gặp phải sự cần thiếtphải sử dụng những tri thức đã nắm được trước đây vào hoàn cảnh thực tiễn mới
Trang 182 Tình huống có vấn đề dễ dàng nảy sinh trong trường hợp nếu có mâuthuẫn có thể giải quyết những nhiệm vụ lý thuyết nhưng trong thực tế không thểthực hiện được bằng cách đã lựa chọn.
3 Tình huống có vấn đề nảy sinh khi có mâu thuẫn giữa kết quả thực hiệnnhiệm vụ đạt được về mặt thực tế nhưng học sinh lại thiếu lý giải về mặt lý thuyết
4 Tình huống có vấn đề nảy sinh khi học sinh không biết cách giải quyếtnhiệm vụ đặt ra, không thể trả lời câu hỏi, có tính chất vấn đề, giải thích sự kiệnmới trong tình huống học tập hoặc tình huống của đời sống, nghĩa là học sinh ý
thức được mình không đủ tri thức để giải thích hiện tượng mới [32; 174-179]
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo, có các kiểu tình huống có vấn đề:
Một là, tình huống nghịch lý
Đây là tình huống có vấn đề mới thoạt nhìn dường như vô lý, không phùhợp với quy luật, lý thuyết đã thừa nhận chung Với học sinh, tình huống nàyđược tạo ra bằng cách giới thiệu những sự kiện, hiện tượng trái với quan điểmthông thường, với kinh nghiệm cá nhân Cách thức giải quyết ở đây là tìm vàphân tích chỗ sai, chỗ chưa chính xác trong cách hiểu vấn đề, từ đó mà tìm racách hiểu đối với khoa học
Chính nhờ có cách giải quyết những nghịch lý tương tự trên mà có thể tạonên lý thuyết mới bao quát hơn nhiều so với lý thuyết cũ, thậm chí bác bỏ lýthuyết cũ đã lỗi thời
Hai là, tình huống lựa chọn
Đó là tình huống có vấn đề xuất hiện khi đứng trước một sự lựa chọn rấtkhó khăn giữa hai hay nhiều phương án giải quyết Phương án nào cũng có lýcủa nó, nhưng đồng thời cũng lại chứa đựng nhược điểm cơ bản của nó, song chỉđược lựa chọn một phương án duy nhất mà bản thân cho là hợp lý nhất trên cơ
sở phân tích các phương án
Ba là, tình huống bác bỏ
Trang 19Đó là tình huống có vấn đề khi phải bác bỏ một kết luận, một luận đề sailầm, phản khoa học Để làm được điều đó học sinh phải tìm ra những điểm yếucủa luận đề, chứng minh tính chất sai lầm của nó.
Bốn là, tình huống “Tại sao”
Đây là tình huống phổ biến đồng thời xuất hiện nhiều trong khi nghiêncứu khoa học cũng như trong dạy học Tình huống này xuất hiện khi người tagặp phải những hiện tượng, sự kiện mà con người chưa đủ tri thức để giải thíchhiện tượng đó và con người luôn thốt ra “Tại sao” [13; 47- 49]
Như vậy, trong thực tiễn dạy học, điều quan trọng của phương pháp dạyhọc nêu vấn đề là phải làm thế nào để tạo nên tình huống có vấn đề Tuy nhiên,
để tạo nên được những tình huống có vấn đề GV phải nắm được và phân biệtđược các loại tình huống có vấn đề nhằm đưa ra được hệ thống mâu thuẫn phùhợp với đặc trưng của môn học, bài học và trình độ nhận thức của SV
Theo chúng tôi, tình huống có vấn đề gồm các kiểu sau:
- Tình huống cần mà chưa biết
- Tình huống mâu thuẫn
- Tạo ra tình huống có vấn đề bằng cách đề ra giả thuyết, tổ chức nghiên cứu
Trang 20- Kích thích học sinh khái quát sơ bộ những sự kiện mới để tạo nên tìnhhuống có vấn đề.
- Tạo nên tình huống có vấn đề bằng cách đề ra cho học sinh những bàitập có tính chất nghiên cứu
- Trình bày cho học sinh biết những sự kiện, thoạt đầu mới nhìn, dườngnhư không thể giải thích được và dẫn tới việc đề xuất ra vấn đề khoa học tronglịch sử khoa học
- Tạo nên tình huống có vấn đề bằng cách kích thích học sinh so sánh, đốichiếu những sự kiện, hiện tượng, quy tắc, hành động [13; 50-53]
1.1.1.4 Các kiểu và các bước dạy học nêu vấn đề
Tuỳ theo nội dung kiến thức cụ thể của từng bài giảng và trình độ nănglực tiếp thu tri thức của SV, người GV sử dụng phương pháp nêu vấn đề ở cáckiểu sau :
* Các kiểu dạy học nêu vấn đề
- Kiểu trình bày nêu vấn đề
Đây là hình thức trình bày bài giảng của GV bằng cách tạo ra tình huốngnhằm lôi cuốn sự chú ý của SV bằng cách diễn đạt vấn đề dưới dạng nghi vấn,gợi mở hoặc đặt ra những câu hỏi
Với cách trình bày nêu vấn đề như vậy sẽ khơi gợi cho SV nhu cầu
“không chủ định” theo dõi lôgíc của bài giảng, kiểm tra từng bước xem có đúngkhông Ngoài ra, trong quá trình nghe trình bày một cách chặt chẽ, SV có thể dựđoán được bước nghiên cứu tiếp theo hoặc xây dựng các bước đó theo cách kháccủa riêng mình, thể hiện sự sáng tạo đối với vấn đề học tập
Thực chất của trình bày nêu vấn đề là: Sau khi tạo tình huống có vấn đề,
GV không những nêu ra lời giải cuối cùng mà còn vạch ra tính lôgíc của quátrình đi đến lời giải đó cùng với những mâu thuẫn, những lệch lạc Đồng thời,
GV còn nêu ra nguồn gốc phát sinh những mâu thuẫn, lệch lạc đó Từ đó nêu raluận cứ cho mỗi bước tiến tới lời giải cuối cùng
Trang 21Như vậy, thông qua kiểu dạy học trình bày nêu vấn đề, SV bước đầu làm quen
và có quan niệm về dạy học nêu vấn đề, đồng thời có cách tiếp cận mới trong họctập Vận dụng kiểu dạy học trình bày nêu vấn đề phù hợp với những bài giảng khó,những vấn đề phức tạp mà SV chưa thể tự lực giải quyết đầy đủ được
- Kiểu nêu vấn đề một phần
Khi một bài học mà nội dung kiến thức của bài đó đề cập vấn đề mới mà
SV không thể tự lực giải quyết được, còn nội dung kiến thức của phần tiếp theo
họ có thể tự giải quyết trên nền tảng kiến thức của phần trước thì áp dụng hìnhthức dạy học này là cần thiết Trong quá trình vận dụng kiểu dạy học nêu vấn đềmột phần, GV trình bày bài giảng theo kiểu nêu vấn đề nhưng chỉ tập trung vàomột phần hoặc chỉ giải quyết vấn đề đến một chừng mực nào đó, còn lại tiếp tụccho SV tự lực giải quyết Ở đây SV bắt đầu tham gia giải quyết một phần vấn
đề, giải quyết một hay một số bước chứ không phải toàn bộ vấn đề
Thực chất của nêu vấn đề một phần là: GV lập kế hoạch các bước giải, lập
kế hoạch cho quá trình đi đến lời giải hay làm cho quá trình trở nên dễ dàng hơn,còn SV thì tự lực giải quyết một phần vấn đề và giải quyết những vấn đề nhỏtrong vấn đề lớn Nhờ kiểu dạy học này mà SV thu được kinh nghiệm hoạt độngsáng tạo, nắm được các yếu tố tìm tòi nghiên cứu
- Kiểu nêu vấn đề toàn phần
Nêu vấn đề toàn phần là kiểu điển hình nhất của dạy học nêu vấn đề, vềthực chất là GV tổ chức cho SV nghiên cứu bài giảng một cách sáng tạo GVnêu ra vấn đề cùng hệ thống các câu hỏi chính, câu hỏi phụ, câu hỏi gợi mở đểdẫn dắt SV độc lập giải quyết và đi đến kết luận
Phương thức nêu vấn đề này đảm bảo cao nhất sự phát triển khả năng tưduy của SV, đặc biệt là tư duy biện chứng, sáng tạo, đảm bảo cho SV nắm vữngtri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành tư duy khoa học, qua đó SV làm quen vớicác phương pháp nghiên cứu khoa học có niềm say mê, hứng thú trong học tập
Để thực hiện thành công một bài giảng nêu vấn đề toàn phần phải mất nhiều thời
Trang 22gian, chuẩn bị chu đáo cả về nội dung và phương pháp tiến hành, trình độ của
SV phải tương đối đồng đều, SV phải thực sự có ý thức chủ động, tự giác tronghọc tập
- Nêu vấn đề có tính giả thuyết
Kiểu dạy học nêu vấn đề có tính giả thuyết là GV đưa vào bài học một sốgiả thuyết hoặc một số quan điểm mâu thuẫn với vấn đề đang nghiên cứu nhằmxây dựng tình huống có vấn đề thuộc loại giả thuyết Kiểu dạy học này đòi hỏi
SV phải lựa chọn quan điểm nào đúng, quan điểm nào sai, chưa chính xác vàphải lập luận vững chắc về sự lựa chọn của mình Đồng thời SV phải phê phánchính xác, khách quan những quan điểm nào không đúng đắn, chỉ ra được sự vôcăn cứ của những quan điểm này, nguyên nhân của nó là vì sao?
* Các bước dạy học nêu vấn đề
Bước 1: Tạo tình huống có vấn đề
GV đưa ra một vấn đề hay một hệ thống vấn đề để làm sao cho SV nhậnthấy đó là vấn đề học tập cần thiết (có thể dưới hình thức câu hỏi) và làm xuấthiện tình huống có vấn đề, người học cảm thấy cần phải tìm câu trả lời và tìmcách giải quyết vấn đề
Bước 2: Nghiên cứu giải quyết vấn đề
GV chỉ ra cho SV thấy xung quanh vấn đề vừa nêu ra trong vốn tri thứchiện có của SV những gì đã biết, những gì chưa biết, cần tập trung suy nghĩ theohướng nào để giải quyết vấn đề đặt ra Thực hiện bước này, GV có thể trình bàymột cách ngắn gọn, sát thực những yêu cầu đặt ra bằng hình thức thuyết trìnhhoặc nêu giả thuyết, những câu hỏi dẫn dắt
Với những vấn đề mà kiến thức SV chưa biết hoặc chưa biết đầy đủ thì
GV cần dẫn dắt SV thông qua hệ thống câu hỏi có tính chất tái hiện dẫn dắt, gợi
ý đến câu hỏi có tính chất sáng tạo
Bước 3: Kết luận vấn đề
Trang 23SV vận dụng các kiến thức để giải các bài toán một cách độc lập, tự lực,thảo luận, phát biểu kết luận và đi đến kết luận vấn đề đồng thời có thể tiếp tụcphát hiện những vấn đề học tập mới nảy sinh.
1.1.2 Mục tiêu, yêu cầu và nội dung môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II) trong chương trình đào tạo ở trường Cao đẳng
1.1.2.1 Mục tiêu, yêu cầu trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II) trong chương trình đào tạo ở trường Cao
+ Trên cơ sở đó, giúp người học có được cơ sở lý luận cơ bản nhất để tiếpcận nội dung môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh và môn Đường lối cách mạng củaĐảng Cộng sản Việt Nam, hiểu biết nền tảng tư tưởng của Đảng
- Về kỹ năng
Góp phần xây dựng, hình thành năng lực tư duy, khả năng vận dụng đúngđắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin, giúp người học có thể phân tích, lý giảiđúng đắn những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội mà thực tiễn đặt ra
- Về thái độ
Góp phần xây dựng thế giới quan và phương pháp luận khoa học, hìnhthành phẩm chất chính trị đạo đức, hình thành lý tưởng cách mạng và niềm tin lýtưởng cho SV
* Yêu cầu:
Trang 24Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênincần phải theo nguyên tắc thường xuyên gắn kết những quan điểm cơ bản của chủnghĩa Mác - Lênin với thực tiễn của đất nước và thời đại.
Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênincần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó, tránh bệnh kinh viện, giáo điềutrong quá trình học tập, nghiên cứu và vận dụng các nguyên lý cơ bản đó trongthực tiễn
Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin trongmối quan hệ với các nguyên lý khác, mỗi bộ phận cấu thành trong mối quan hệvới các bộ phận cấu thành khác, để thấy sự thống nhất phong phú và nhất quáncủa chủ nghĩa Mác- Lênin, đồng thời cũng cần nhận thức các nguyên lý đó trongtiến trình phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại
1.1.2.2 Nội dung môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin trong chương trình đào tạo ở trường Cao đẳng
-Theo Quyết định 52/2008/QĐ – BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, thời lượng môn học Những nguyên lý cơbản của chủ nghĩa Mác - Lênin: 5 tín chỉ (phần 1: 2 tín chỉ; phần 2 và 3: 3 tínchỉ) Nghe giảng: 70% Thảo luận: 30%
Môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, ngoài 1chương mở đầu nhằm giới thiệu khái lược về chủ nghĩa Mác - Lênin và một sốvấn đề chung của môn học Căn cứ vào mục tiêu môn học, nội dung chươngtrình môn học được cấu trúc thành 3 phần, 9 chương:
Phần thứ nhất: có 3 chương, bao quát những nội dung cơ bản về thế giớiquan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trang 25Chương mở đầu: nhập môn những nguyên lý cơ bản Chương I: Chủnghĩa duy vật biện chứng Chương II: Phép biện chứng duy vật Chương III:Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Kết cấu môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lêninphần (II) gồm 3 tín chỉ, 6 chương Trong đó, chương IV và chương V trình bàynội dung trọng tâm của học thuyết giá trị và học thuyết giá trị thặng dư củaC.Mác; chương VI trình bày những nội dung cơ bản trong học thuyết kinh tế vềchủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước củaV.I.Lênin; chương VII, VIII khái quát những nội dung cơ bản của nghĩa Mác -Lênin về chủ nghĩa xã hội và chương IX khái quát chủ nghĩa xã hội hiện thực
và triển vọng
Nội dung môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin bao
quát các lĩnh vực tri thức hết sức rộng lớn, nhưng trong đó có ba bộ phận lý luận
cơ bản có mối quan hệ thống nhất với nhau, đó là: triết học, kinh tế chính trị học
và chủ nghĩa xã hội khoa học
Triết học Mác-Lênin nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chungnhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, xây dựng thế giới quan, phương pháp luậnphổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng Kinh tế chính trị Mác-Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội, chủ yếu là các quy luậtkinh tế về sự ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa và quá trình hình thành, phát triển của phương thức sản xuất mới Chủnghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những quy luật của quá trình cách mạng xãhội chủ nghĩa, quá trình chuyển biến từ xã hội cũ sang xã hội mới (xã hội chủ
nghĩa) và tiến tới chủ nghĩa cộng sản
1.2 Thực trạng của việc vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (Phần II) ở trường Cao Đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
Trang 261.2.1 Khái quát về trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
1.2.1.1 Về nhà trường
Tiền thân của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang là Trường
Kỹ thuật Rạch Giá, được thành lập năm 1966 Từ năm 1975 đến 1997 nâng lênthành Trường Công nhân Kỹ thuật Kiên Giang Từ năm 1998 đến 2006 trườngđược nâng cấp lên thành trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang Đếntháng 6 năm 2006 được nâng lên thành trường cao đẳng với tên gọi Trường Caođẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
Trường là một trong những đơn vị chủ lực đào tạo đội ngũ lao động chotỉnh Kiên Giang và các tỉnh lân cận với các trình độ: cao đẳng, cao đẳng nghề,trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề và liên kết đào tạo bậc đại học
Để công tác quản lý đào tạo và quản lý hành chính được khoa học, đạthiệu quả cao, nhà trường đã thực hiện "Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêuchuẩn ISO 9001: 2008" và được Trung tâm QUACERT cấp giấy chứng nhận; hệthống có 53 quy trình, 6 quy định và 15 hướng dẫn
Mục tiêu đào tạo của nhà trường là gắn kết đào tạo với thực tiễn xã hội.HS-SV qua đào tạo phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động trong xãhội Trong những năm qua, trường đã có sự đầu tư mạnh về cơ sở vật chất, trangthiết bị phục vụ đào tạo, cải tiến nội dung chương trình và phương pháp giảngdạy để nâng cao chất lượng người lao động qua đào tạo Hiện nay, trường có hai
cơ sở phục vụ đào tạo, 1 đặt tại số 442 đường Mạc Cửu phường Vĩnh Thanhthành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang và 1 tại ấp Tà Lóc, xã Sơn Kiên, huyệnHòn Đất, tỉnh Kiên Giang và một ký túc xá SV 500 chỗ Cơ sở vật chất và trangthiết bị của trường tương đối đáp ứng được nhu cầu đào tạo hiện nay
Trải qua hơn 45 năm hình thành và phát triển, hiện nay trường đang đàotạo 10 ngành bậc cao đẳng, 16 ngành bậc trung cấp chuyên nghiệp, 6 ghề hệ caođẳng nghề, 8 nghề hệ trung cấp nghề, với các ngành nghề đào tạo như: xâydựng, cơ khí động lực, cơ khí chế tạo, điện, điện tử - viễn thông, công nghệ
Trang 27thông tin, kế toán doanh nghiệp, kế toán thương mại – dịch vụ, nghiệp vụ dulịch, chăn nuôi thú y, trồng trọt và bảo vệ thực vật, nuôi trồng thủy sản, côngnghệ sản xuất xi măng Trường liên kết đào tạo bậc Đại học với nhiều ngành,bậc đào tạo (tại chức, từ xa) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học và sự pháttriển kinh tế - xã hội của địa phương như: đào tạo liên thông từ trung cấp chuyênnghiệp lên đại học với trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thánh phố Hồ ChíMinh và trường Đại học Nha Trang ở các nhóm ngành cơ khí, điện – điện tử,công nghệ thông tin, nuôi trồng thủy sản, tài chính – kế toán, liên kết với trườngĐại học Bình Dương đào tạo từ xa các ngành Quản trị kinh doanh
Quy mô HS và SV hiện nay là 5.000 thuộc các hệ đào tạo chính quy, tạichức, đào tạo theo địa chỉ Hàng năm trường có khoảng 1.100 HS – SV tốtnghiệp phục vụ cho nhu cầu của các cơ quan xí nghiệp trong tỉnh Bộ máy tổchức gồm : Ban giám hiệu, 5 phòng chức năng, 12 khoa chuyên môn, 2 trungtâm và 1 tổ bộ môn, tổng số cán bô viên chức là 231 người, trong đó giáo viêntrực tiếp giảng dạy là 168 người Trình độ trên đại học 62 người, đại học, caođẳng 125 người, trình độ khác 44 người
1.2.1.2 Về khoa khoa Lý luận chính trị
Khoa Lý luận chính trị trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giangđược thành lập vào tháng 11 năm 2011 tiền thân là Tổ bộ môn chung
* Chức năng:
Khoa Lý luận chính trị thuộc Ban Giám hiệu, có chức năng giúp Đảng
Uy- Ban Giám hiệu tổ chức và quản lý chặt chẽ công tác giảng dạy và học tậpcác môn khoa học Mác – Lênin - Tư tưởng Hồ Chí Minh: bao gồm chương trìnhđào tạo, bài giảng, tài liệu giảng dạy, chọn mời thỉnh giảng, tổ chức kiểm tra, thitốt nghiệp đối với tất cả các lớp, các hệ, các bậc đào tạo kể cả trong và ngoàitrường
Khoa Lý luận chính trị tham mưu cho Ban Giám hiệu về công tác triểnkhai, thực hiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công
Trang 28tác giảng dạy và học tập các môn khoa học Mac - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh Ngoài ra, thông qua công tác giảng dạy các môn khoa học Mác- Lênin và
Tư tưởng Hồ Chí Minh Khoa Lý luận chính trị còn phản ảnh và tham mưu choBan Giám hiệu - Đảng Uy về tình hình nhận thức chính trị tư tưởng của SV, đềxuất những giải pháp cho công tác giáo dục chính trị tư tưởng SV
* Nhiệm vụ:
Giảng dạy các môn khoa học Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh baogồm: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đường lối Đảngcộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh, môn chính trị, pháp luật đại cương
Phối hợp với phòng Đào tạo, các khoa - Bộ môn quản lý chặt chẽ việcgiảng dạy và học tập các môn khoa học Mác – Lênin - Tư tưởng Hồ Chí Minh:
từ chương trình, bài giảng, tài liệu giảng dạy, chọn mời thỉnh giảng, tổ chứckiểm tra, thi tốt nghiệp đối với tất cả các lớp, các hệ, các bậc đào tạo
Thông qua các buổi học tập chính trị đầu năm học, bộ môn Mác-Lênin cónhiệm vụ phổ biến đường lối chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhànước, Bộ GD & ĐT và của trường đến SV
Tham gia nghiên cứu khoa học để nâng cao chất lượng giảng dạy
Phối hợp với các đơn vị và phòng công tác HS - SV, Đoàn trường để tổchức các cuộc thi Olympic các môn khoa học Mac-Lênin
GV giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin ởKhoa Lý luận chính trị trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang đa sốtrước đây giảng dạy môn chính trị ở bậc trung cấp, GV đa số trẻ, còn ít kinhnghiệm, nhưng lại được đào tạo chính quy và có tinh thần yêu nghề, ham họchỏi Hiện nay đội ngũ cán bộ của khoa là 9 người với 9 người là GV giảng dạy
- Trình độ:
+ Thạc sỹ có 01 giảng viên+ Đang học cao học là 01 giảng viên+ Đại học là 07 giảng viên
Trang 29- Thâm niên giảng dạy:
+ Dưới 5 năm: 3 giảng viên+ Từ năm 5 đến 10 năm 5 giảng viên+ Từ 15 năm trở lên 1 giảng viênVới số lượng và trình độ GV như trên, hàng năm GV của Khoa Lý luậnchính trị phải tham gia giảng dạy bộ môn Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác – Lênin, Đường lối Đảng cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ ChíMinh, chính trị, pháp luật đại cương cho HS - SV toàn trường với nhiều trình độkhác nhau, ngoài ra còn thực hiện công tác nghiên cứu khoa học và thực hiệncác công việc khác Với số lượng công việc lớn thâm niên ít, trình độ trên đạihọc chưa nhiều, đều này cho thấy việc đổi mới phương pháp dạy học là rất cầnthiết, để từ đó nâng cao chất lượng dạy học ngày một tốt hơn
1.2.1.3 Về sinh viên
Trãi qua hơn 45 năm hình thành và phát triển, nhà trường luôn duy trì nềnếp giáo dục rèn luyện đạo đức tác phong cho HS - SV, thực hiện nghiêm kỷluật học đường, chấp hành tốt các quy định và kỷ cương trong học tập, thi cử
Tổ chức hướng dẫn cho HS - SV cách học tập, tự học và luôn chú trọng đến HS
- SV yếu, để từng bước nâng cao chất lượng HS –SV
Quy mô đào tạo ổn định, mở rộng hình thức đào tạo theo địa chỉ, đào tạocho doanh nghiệp và theo yêu cầu của doanh nghiệp, liên kết đào tạo bậc đại họcđáp ứng nhu cầu của người học, của địa phương Với tổng số SV đang theo họctại trường hiện nay là 6.594, trong đó hệ cao đẳng: 1.468 SV, hệ trung cấpchuyên nghiệp: 1.065 SV, dạy nghề: 359 SV, hệ vừa làm vừa học tại trường vàcác huyện: 2.193 SV, các khóa ngắn hạn đào tạo theo yêu cầu doanh nghiệp và
xã hội: 1.509 học viên Trong năm học 2010 – 2011 vừa qua nhà trường đã côngnhận tốt nghiệp và cho ra trường 1.009 SV chính qui với 435 cử nhân cao đẳng.Kết quả rèn luyện của 3.079 SV hệ chính quy cho thấy có 30% loại xuất sắc,
Trang 3044,4% loại tốt, 21,3% loại khá, chỉ có 0,1% loại yếu Tỷ lệ SV xuất sắc tăng sovới năm 2010 là 4,2%; tỷ lệ SV yếu giảm 3,8%.
Nhà trường tôn trọng và yêu cầu cao đối với HS – SV theo hướng tích cựchóa người học, gần gũi tư vấn, giúp đỡ kịp thời với từng SV, huấn luyện các kỹnăng mềm đáp ứng chất lượng đầu ra theo chuẩn đã công bố Tổ chức đối thoạivới SV ở cả 3 cấp: Giảng viên - Trưởng khoa và Ban giám hiệu định kỳ trongnăm Xây dựng các qui tắc ứng xử văn hóa trong SV, ngăn chặn bạo lực họcđường Tổ chức cho SV tham gia các hoạt động xã hội như thanh niên tìnhnguyện hè, các hoạt động ngọai khóa, vui chơi giải trí, thể thao…gắn với kỹnăng sống, qua đó giáo dục, rèn luyện nhân cách và nỗ lực học tập để thành đạt.Xây dựng ký túc xá 500 chỗ ngày càng khang trang, sạch đẹp Tổ chức Ngày hộiviệc làm theo định kỳ để giới thiệu chỗ làm việc và tạo việc làm phù hợp sau khitốt nghiệp
1.2.2 Tình hình của việc vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II) ở trường Cao Đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
1.2.2.1 Những kết quả đạt được trong vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II) ở trường Cao Đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
Để tìm hiểu tình hình việc vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề,trong việc dạy chương IV và chương V môn Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin, ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang, chúng tôi
tiến hành điều tra, thăm dò ý kiến GV dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác – Lênin thông qua các câu hỏi sau:
1 Trong quá trình giảng dạy, GV có vận dụng phương pháp dạy học nêuvấn đề không?
2 Mục đích của GV khi sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề tronggiảng dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” là gì?
Trang 313 GV đã sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong phạm vi nào?
4 GV thường gặp khó khăn gì khi vận dụng phương pháp dạy học nêuvấn đề?
5 Mức độ hiểu biết của GV đối với quy trình sử dụng phương pháp dạyhọc nêu vấn đề như thế nào?
6 GV nhận thấy chất lượng bài giảng khi có sử dụng phương pháp dạyhọc nêu vấn đề như thế nào?
7 GV hãy cho biết, thái độ của SV đối với bài giảng sử dụng phươngpháp dạy học nêu vấn đề như thế nào?
8 Theo GV việc xây dựng thành công quy trình sử dụng phương phápdạy học nêu vấn đề sẽ mang lại kết quả như thế nào?
Sau khi xử lý phiếu điều tra GV chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng 1.1 Mức độ GV sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề
STT Mức độ GV sử dụng phương pháp dạy
Nhìn chung, thông qua câu hỏi trên chúng tôi nhận thấy các GV đã có sựnhận thức đúng đắn và vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề vào giảng dạymôn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Tuy nhiên, số liệuđiều tra cho thấy chỉ có 62,5% GV vận dụng thường xuyên, còn mức độ vậndụng không thường xuyên là 37,5% Điều này cho thấy GV có vận dụng phươngpháp dạy học nêu vấn đề nhưng chưa cao
Trang 32Bảng 1.2 Mục đích khi sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề
3 Khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức 2/8 25
Từ kết quả thu được chúng tôi nhận thấy, đa số GV đều mong muốn giúp
SV lĩnh hội được nhiều kiến thức mới (chiếm tỉ lệ 50 %) Điều này cũng phảnánh phần nào đặc thù của môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin, là môn nặng về kiến thức Các tiêu chí còn lại chiếm tỉ lệ nhất định đốivới mục đích đào tạo của GV trong nhà trường
Bảng 1.3 Phạm vi GV sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề
sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong toàn bộ bài giảng
Trang 33Bảng 1.4 Mức độ khó khăn của GV khi vận dụng phương pháp dạy
3 Trình độ nhận thức của SV không đều 3/8 37,5
4 Hạn chế về năng lực tổ chức, chuyên môn 0/8 0
Qua kết quả trên, chúng tôi nhận thấy đa phần GV vì những lý do khácnhau mà đưa ra những khó khăn riêng của mình Trong đó tập trung chủ yếu là
sỹ số SV quá đông và trình độ nhận thức của SV không đều chiếm tỷ lệ rất lớn.Bên cạnh đó, thiếu thời gian, thiếu tài liệu tham khảo và đồ dùng, cũng ảnhhưởng không nhỏ đến quá trình vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề vàobài giảng
Bảng 1.5 Mức độ hiểu biết của GV đối với quy trình sử dụng phương pháp
dạy học nêu vấn đề như thế nào?
Kết quả trên cho thấy mức độ hiểu biết của GV về quy trình sử dụngphương pháp dạy học nêu vấn đề còn ở mức độ bình thường chiếm tỷ lệ 75%,còn mức độ rất am hiểu đối với quy trình sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn
đề chỉ có 25% Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng bài giảng của
GV khi giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin tạitrường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
Bảng 1.6 Chất lượng bài giảng khi sử dụng phương pháp dạy
Trang 34học nêu vấn đề
1 Bài giảng đạt chất lượng, hiệu quả 6/8 75
3 Chất lượng bài giảng thấp, không khả thi 0/8 0
Qua bảng số liệu trên cho thấy việc áp dụng phương pháp dạy học nêuvấn đề trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin, đa số GV cho rằng việc áp dụng phương pháp dạy học này mang lại chấtlượng, hiệu quả cao Đây chính là cơ sở để khuyến khích GV quan tâm nhiềuhơn đến việc xây dựng được một quy trình hoàn chỉnh về sử dụng phương phápdạy học nêu vấn đề trong quá trình dạy học
Bảng 1.7 Thái độ của SV đối với bài giảng
1 Thích thú, chủ động, tích cực chiếm lĩnh
2 Bình thường như những bài giảng khác 2/8 25
3 Không hứng thú, thụ động, lười suy nghĩ 0/8 0
Từ kết quả trên cho thấy phần lớn SV đều tỏ ra rất quan tâm, chủ động,tích cực, đối với bài giảng có sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề Nóphản ánh phần nào tâm lý muốn thay đổi phương pháp dạy học truyền thốngbằng phương pháp dạy học tích cực Đây là động lực thúc đẩy GV dành nhiềuthời gian đầu tư hơn nữa đối với phương pháp dạy học nêu vấn đề
Bảng 1.8 Kết quả xây dựng thành công quy trình sử dụng
phương pháp dạy học nêu vấn đề
STT Kết quả xây dựng thành công quy trình Số lượng
1 Tạo đà cho sự phát triển của phương pháp dạy 8/8 100
Trang 35học nêu vấn đề, nâng cao chất lượng dạy và học
3 Không có sự tác dụng gì đối với việc dạy học 0/8 0
Kết quả trên cho thấy, tất cả GV của Khoa Lý luận chính trị đều ủng hộviệc xây dựng quy trình sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong giảngdạy Nó cũng đồng nghĩa với việc GV mong muốn có được một quy trình hoànchỉnh về phương pháp này để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹthuật Kiên Giang nói riêng và các trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước nóichung
Qua quá trình phân tích, tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát của GV ởkhoa Lý luận chính trị trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang về thựctrạng vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề để học môn Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng tôi nhận thấy phần lớn GV được điềutra đã có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của phương pháp dạy học nêuvấn đề Mặt khác họ luôn có thái độ hưởng ứng, ủng hộ việc sử dụng phươngpháp này trong quá trình dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác – Lênin
1.2.2.2 Những hạn chế khi vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần II) ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
Bên cạnh những kết quả đạt được khi vận dụng phương pháp dạy học nêuvấn đề trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang trong những năm quavẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định
Hạn chế lớn nhất là kết quả dạy và học môn Những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác – Lênin ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang chưathực sự cao, điều này thể hiện ở chỗ rất nhiều GV trong Khoa lý luận chính trị
Trang 36vận dụng phương pháp này chưa thường xuyên Đa số GV sử dụng phương phápdạy học nêu vấn đề để giảng dạy nội dung chính của chương trình và chỉ sửdụng phương pháp này vào một số nội dung, còn những bài giảng nhập môn vàtổng kết, hệ thống hóa chương trình thì GV chưa áp dụng phương pháp dạy họcnêu vấn đề, theo tác giả những phần này rất quan trọng trong việc áp dụngphương pháp day học nêu vấn đề
Một hạn chế khác đó là GV chưa kết hợp phương pháp này với cácphương pháp dạy học khác, phần lớn GV chỉ quan tâm hình thức tổ chức dạyhọc cá nhân, còn hình thức tổ chức dạy học nhóm và tập thể mà theo chúng tôihình thức này sẽ phát huy tối đa tác dụng, bời vì nó có tác động qua lại lẫn nhaugiữa các SV có trình độ nhận thức không đồng đều Qua việc thảo luận và tranhluận SV học tốt hơn nhận thức sâu hơn và kết quả học tập nhân lên gấp bội
Bên cạnh đó trình độ nhận thức của SV chưa đồng đều là một trong nhữngnhân tố ảnh hưởng rất lớn đối với kết quả học tập của SV, điều này thể hiện ởđầu vào của SV còn thấp, do đặc thù của tỉnh là nơi vùng sâu, vùng xa trình độdân trí còn thấp, kinh tế khó khăn ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình học tập.Phần lớn SV có ý thức cao trong học tập, nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số SV
ý thức học tập còn thấp, chưa xác định được mục đích và động cơ học tập vì thếdẫn đến lười biến trong học tập, ít đọc sách, ít nghiên cứu
Nguyên nhân làm ảnh hưởng đến việc áp dụng phương pháp dạy học nêuvấn đế trong giảng dạy đó là sỉ số lớp quá đông (60 -70 SV) các điều kiện hỗ trợcho công tác giảng dạy đó là giáo trình, tài liệu tham khảo, các thiết bị hỗ trợcho việc giảng dạy còn thiếu như máy chiếu, máy tính, phòng học chưa theokịp với sự phát triển của xã hội
Nguyên nhân của những hạn chế gồm có nguyên nhân chủ quan lẫnnguyên nhân khách quan, làm ảnh hưởng đến phương pháp dạy học Tác giả đãphát phiếu điều tra GV và SV, kết quả thu được như sau:
Bảng 1.10 Nguyên nhân và hạn chế khi vận dụng phương pháp
Trang 37dạy học nêu vấn đề trong giảng dạy môn Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
Qua việc phân tích, điều tra, khảo sát của GV trường Cao đẳng Kinh tế
-Kỹ thuật Kiên Giang về thực trạng vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề
để dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin chúng tôi cómột số nhận xét như sau:
Trang 38- Phần lớn GV được điều tra đã có những nhận thức đúng đắn về hiệu quảcủa phương pháp dạy học nêu vấn đề Mặt khác, họ luôn có thái độ hưởng ứng,ủng hộ việc sử dụng phương pháp này trong quá trình dạy học.
- Tuy có những nhận thức đúng đắn về bản chất, ý nghĩa của phương phápdạy học nêu vấn đề, nhưng trên thực tế, việc vận dụng phương pháp dạy học nêuvấn đề trong giảng dạy Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫncòn nhiều hạn chế nên chất lượng dạy học chưa được cao
Về phía sinh viên: chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát, tìm hiểu nhữngnguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng học tập của SV thông qua bảng sau :
Bảng 1.11 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của SV
2 Nội dung môn học khái quát trừu tượng,
3 Thiếu giáo trình, tài liệu tham khảo 47/154 30,52
4 Phương pháp dạy học của GV chưa tích cực 124/154 80,52
5 Câu hỏi của GV đưa ra quá khó 93/154 60,38
6 Phương pháp hướng dẫn trả lời câu hỏi của
Kết quả trên cho thấy nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của
SV chủ yếu là do phương pháp dạy học của GV chưa tích cực (80,52 %),phương pháp hướng dẫn trả lời câu hỏi của GV đối với SV (74,03 %), Câu hỏicủa GV đưa ra quá khó (60,38 %) Còn những nguyên nhân khác như : Nội dungmôn học khái quá trừu tượng, khó học, thiếu giáo trình, tài liệu tham khảo chỉ
có tác động đến hứng thú học tập của SV qua việc vận dụng phương pháp dạy
Trang 39học nêu vấn đề trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác – Lênin ở trường Cao Đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang.
Khó khăn ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của việc vận dụngphương pháp dạy học nêu vấn đề trong quá trình dạy đối với GV và SV là chưa
có một quy trình khoa học Vì vây, phương pháp dạy học nêu vấn đề chưa pháthuy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Bên cạnh đó, tìnhtrạng thụ động, ỷ lại của SV còn lớn, từ đó SV không có được những kinhnghiệm, kỹ năng cần thiết trong quá trình giải quyết vấn đề Khắc phục đượcnhững khó khăn này cần có tác động đồng bộ và toàn diện, trong đó tìm ra đượcmột quy trình vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề khoa học, dễ sử dụng
là vấn đề cấp thiết để phát huy tiềm năng vốn có của phương pháp này
1.2.2.3 Sự cần thiết phải sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong trong giảng dạy (phần II) môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Kiên Giang
Sự cần thiết vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học nóichung và giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lêninriêng, trước tiên xuất phát từ đòi hỏi đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo doyêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Đổi mới
sự nghiệp giáo dục và đào tạo được thực hiện một cách đồng bộ, đặc biệt phảichú trọng việc đổi mới phương pháp dạy học Ngày nay, việc dạy học không chỉcòn dừng lại ở chỗ GV truyền lại tri thức và SV tiếp thu một cách bị động nhữngtri thức đó Với sự bùng nổ thông tin, yêu cầu đặt ra đối với người dạy là phảitìm ra phương pháp dạy để SV biết cách xử lý thông tin, biết phương pháp học
Vì vậy, phương pháp học cũng trở thành nội dung, mục tiêu của quá trình dạyhọc Có như vậy, chúng ta mới đạt mục tiêu đào tạo ra những con người tự chủ,năng động, sáng tạo Vì thế, phải đặt vấn đề đổi mới phương pháp thành một ưutiên chiến lược để tìm giải pháp hữu hiệu nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế -
xã hội
Trang 40Thực tiễn giáo dục trước kia cho thấy, phương pháp dạy học thuyết trìnhtruyền thống có nhiều ưu điểm, khắc phục được tình trạng khan hiếm tài liệu,giáo trình trong giảng dạy, người học chỉ cần tới lớp đã lĩnh hội khá đầy đủ và
có hệ thống thông tin do GV cung cấp Tuy nhiên, trong giai đọan hiện nay, nếulạm dụng phương pháp này sẽ đẩy người học vào thế thụ động, ỷ lại hòan cảnh,làm cho người học thiếu tự tin khi gặp phải những vấn đề cần phải giải quyếtliên quan đến chuyên môn và cuộc sống
Phương pháp dạy học nêu vấn đề không chỉ là phương pháp dạy học cầnthiết trong quá trình dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -Lênin mà nó còn rất cần thiết trong quá trình dạy học ở tất cả các môn học thuộc
cả khoa học tự nhiên và xã hội Chúng ta có thể khẳng định điều này là vìphương pháp này cho phép nâng cao chất lượng của bài dạy, tạo nên hứng thúnhận thức, phát huy tính tích cực học tập của SV trong quá trình học trên lớp.Bản thân các tình huống có vấn đề luôn chứa đựng những mâu thuẫn giữa trithức đã biết và chưa biết, đòi hỏi phải được giải quyết một cách sáng tạo, nếukhai thác được sẽ giúp người học hiểu nhanh, vận dụng kiến thức một cách sángtạo trong quá trình học tập Mặt khác, thông qua các hình thức thực hiện mà GVcòn thu được các thông tin phản hồi từ phía người học, từ đó kịp thời điều chỉnh
hệ thống các câu hỏi nêu vấn đề, điều chỉnh quá trình dạy học sao cho đạt đượchiệu quả cao nhất mà lại tiết kiệm được thời gian trên lớp Phương pháp dạy họcnêu vấn đề có thể và cần được vận dụng ở tất cả các loại bài giảng và các khâucủa quá trình học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lêninnhư: giảng bài mới, hệ thống hóa và hướng dẫn ôn tập, kiểm tra đánh giá kếtquả,…
Phương pháp dạy học nêu vấn đề có khả năng kết hợp với hầu hết cácphương pháp dạy học khác vừa phát huy ưu điểm sẵn có của phương pháp đó,vừa làm cho các phương pháp đó trở nên tích cực hơn Thực tế cho thấy rằng,đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của