1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp bản đồ tư duy vào dạy học phân môn địa lý lớp 5

57 4,2K 32
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Phương Pháp Bản Đồ Tư Duy Vào Dạy Học Phân Môn Địa Lý Lớp 5
Tác giả Nguyễn Thị Phượng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Hường
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Phương Pháp Dạy Học Tự Nhiên - Xã Hội
Thể loại Khoá Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNĐề tài “Vận dụng phương pháp bản đồ tư duy vào dạy học phân môn Địa lí lớp 5” đề cập đến một số vấn đề về sử dụng “bản đồ tư duy” trong quá trình dạy học Địa lí ở các trường ti

Trang 1

Trờng đại học vinh

Khoa giáo dục

==== ====

Nguyễn Thị Phợng

vận dụng phơng pháp bản đồ t duy vào dạy học phân môn địa lý lớp 5

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành phơng pháp dạy học tự nhiên - xã

hội

Trang 2

Trờng đại học vinh

Khoa giáo dục

==== ====

vận dụng phơng pháp bản đồ t duy vào dạy học phân môn địa lý lớp 5

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành phơng pháp dạy học tự nhiên - xã

hội

Giáo viên hớng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Hờng

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Phợng

Lớp: 49A - Giáo dục Tiểu học

Mã số sinh viên: 0859012085

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đề tài “Vận dụng phương pháp bản đồ tư duy vào dạy học phân môn

Địa lí lớp 5” đề cập đến một số vấn đề về sử dụng “bản đồ tư duy” trong quá

trình dạy học Địa lí ở các trường tiểu học mà đa số giáo viên còn gặp nhiềukhó khăn trong khi thực hiện Với mong muốn tháo gỡ một phần nào khókhăn trên, đem lại hứng thú cho các em học sinh và nâng cao chất lượng dạyhọc môn Địa lí ở tiểu học trong thời gian tới Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểunghiên cứu phân tích thực trạng vận dụng “bản đồ tư duy” ở một số trườngtiểu học với tinh thần tích cực tiếp thu, tham khảo trao đổi ý kiến với các thầy,

cô giáo có kinh nghiệm trong nghề, thu thập xử lí các tài liệu, các nguồnthông tin liên quan từ đó xây dựng và thử nghiệm hệ thống nguyên tắc, quitrình sử dụng “bản đồ tư duy” trong dạy học địa lí ở tiểu học để đưa ra đề tàinày

Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi cònnhận được sự giúp đỡ tận tình, chu đáo và có hiệu quả của các thầy, cô giáotrong khoa Giáo dục, trường Đại học Vinh Với tấm lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Thị Hường, người đãtrực tiếp hướng dẫn đề tài, cùng thầy, cô giáo trong khoa; Giáo viên và họcsinh trường Tiểu học Lê Lợi (Thành phố Vinh), bạn bè và gia đình

Măc dù bản thân đã có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm, nghiên cứu,bám sát thực tiễn để đề tài có tính khả thi cao nhưng đây là đề tài nghiên cứuđầu tiên, kinh nghiệm chưa nhiều nên chắc chắn không tránh khỏi nhữngthiếu sót, hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp củacác thầy cô giáo và các bạn để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn./

Sinh viên

Nguyễn Thị Phượng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN 3

MỤC LỤC 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc đề tài 4

Chương 1 5

CƠ SỞ LÍ LUÂN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC 5

PHÂN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 5 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu 5

1.2 Một số khái niệm cơ bản 6

1.2.1 Khái niệm về phương pháp, phương pháp dạy học 6

1.2.2 Khái niệm về tư duy 9

1.2.3 Khái niệm “bản đồ tư duy” 11

1.3 Một số vấn đề về sử dụng phương pháp bản đồ tư duy trong dạy học Địa lí lớp 5 11

1.3.1 Khái quát đặc điểm chương trình, sách giáo khoa phần Địa lí lớp 5 và việc sử dụng phương pháp bản đồ tư duy 11

1.3.2 Vai trò của “bản đồ tư duy” 13

1.3.3 Tác dụng của “bản đồ tư duy” trong dạy học Địa lí ở tiểu học 17

1.3.4 Các nguyên tắc sử dụng "bản đồ tư duy" 20

1.3.5 Cách lập một "bản đồ tư duy" 22

1.4 Một số đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5 25

1.4.1 Nhu cầu, hứng thú, động cơ học tập 25

1.4.2 Đặc điểm của quá trình nhận thức 26

1.5 Thực trạng sử dụng phương pháp bản đồ tư duy trong dạy học Địa lí ở tiểu học 29

1.5.1 Tình hình dạy học phân môn Địa lí ở trường tiểu học 30

1.5.2 Nhận thức của giáo viên về vai trò "bản đò tư duy" trong quá trình dạy học Địa lí 32

1.5.3 Thực trạng vận dụng phương pháp bản đồ tư duy trong quá trình dạy học Địa lí 33

Chương 2 36

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BẢN ĐỒ TƯ DUY 36

VÀO DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 5 36

2.1 Qui trình vận dụng phương pháp bản đồ tư duy trong dạy học phân môn Địa lí lớp 5 36

2.1.1 Các nguyên tắc xây dựng quy trình 36

2.1.2 Quy trình sử dụng 37

2.1.3 Ví dụ minh họa 39

2.2 Một số phần mềm ứng dụng “bản đồ tư duy” có thể sử dụng vào quá trình dạy học Địa lý ở TH 43

2.2.1 Phần mềm Free Mind 43

2.2.2 Phần mềm Mindomo 45

2.2.3 Phần mềm Buzan's iMindMap V4 47

Trang 5

2.2.4 Phần mềm Mindjet Mindmanager 48

2.3 Thử nghiệm sư phạm 49

2.3.1 Mục đích thử nghiệm 49

2.3.2 Nguyên tắc tiến hành thử nghiệm 50

2.3.3 Đối tượng thử nghiệm 50

2.3.4 Tổ chức thử nghiệm 50

2.3.5 Nội dung thử nghiệm 50

2.3.6 Kết quả thử nghiệm 51

* Một vài nhận xét chung về các giờ học thử nghiệm 51

* Đánh giá kết quả sau thử nghiệm 52

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: Giáo

dục - Đào tạo thực sự là quốc sách hàng đầu Thông qua đổi mới toàn diệngiáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nềngiáo dục Việt Nam Với các biện pháp cụ thể là: Đổi mới cơ cấu tổ chức, nộidung, phương pháp dạy và học theo hướng “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hộihoá”, phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học Hộinghị lần thứ VI của ban chấp hành TƯ Đảng khoá X, trong “chiến lược pháttriển giáo dục 2001 - 2010” các văn kiện đều nhấn mạnh “đổi mới và hiện đạihoá phương pháp giáo dục chuyển từ truyền đạt trí thức thụ động thầy giảngtrò ghi sang hướng dẫn người đọc chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận trithức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách

hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi

cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự học của học sinh…” [48, tr 30].Giáo dục tiểu học là cơ sở ban đầu đặt nền móng cho sự phát triển toàndiện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông vàtoàn bộ giáo dục quốc dân Cho nên việc đổi mới phương pháp dạy học ở cấphọc này đang diễn ra mạnh mẽ

1.2 Trong những thập kỉ gần đây, thế giới đã tiếp cận chuyển hoá các

phương pháp khoa học, thành tựu của kỉ thuật, công nghệ mới thành phươngpháp đặc thù, trong đó việc tiếp cận và sử dụng phương pháp dạy học bằngbản đồ tư duy là một trong những hướng có nhiều triển vọng

Phương pháp bản đồ tư duy không chỉ phù hợp ở các thành phố lớn màngay cả sở giáo dục đào tạo tỉnh miền núi như Tuyên Quang cũng đã banhành công văn hướng dẫn để triển khai rộng rãi phương pháp này Mặt khácphương pháp bản đồ tư duy giúp giảm tải mà không giảm yêu cầu của giờ

Trang 7

học, môn học Nhiều nước trên thế giới đã ứng dụng bản đồ tư duy tronggiảng dạy, học tập, làm việc, kinh doanh… từ mười lăm đến hai mươi nămnay Nhưng tại Việt Nam, bản đồ tư duy mới chỉ được biết đến vài năm nay.Trong ba năm gần đây, TS Trần Đình Châu và TS Đặng Thị Thu Thuỷ cùngcác cán bộ Viện nghiên cứu Giáo dục Việt Nam, dự án phát triển giáo dụctrung học cơ sở II kết hợp với Vụ giáo dục trung học và Cục nhà giáo của Bộgiáo dục đào tạo đã tìm tòi nghiên cứu để cụ thể hoá việc ứng dụng phươngpháp này vào dạy học tại Việt Nam.

Phương pháp này cho phép giáo viên quy hoạch được quá trình dạy họcmột cách tổng quát cũng như từng mặt của nó, thiết kế tối ưu hoạt động dạy -học và điều khiển một cách hợp lí quá trình này tăng hiệu quả dạy học trongnhà trường theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh

1.3 Địa lí là khoa học chú trọng đến nghiên cứu các quy luật, các mối

liên hệ giữa các thành phần, các hiện tượng và các mối quan hệ giữa conngười và tự nhiên Địa lí được phát triển theo hai hướng: Phân tích - nghiêncứu các thành phần riêng biệt của tự nhiên hay những ngành kinh tế và tổnghợp - nghiên cứu thể tổng hợp tự nhiên hay thể tổng hợp kinh tế - xã hội Cácmối quan hệ đó có thể diễn đạt dưới dạng “bản đồ tư duy” để mô hình hoá, hệthống hoá kiến thức Địa lí là phân môn của môn Lịch sử và Địa lí, có mụctiêu cung cấp cho học sinh các biểu tượng Địa lí, bước đầu hình thành một sốkhái niệm, xây dựng một số quan hệ địa lí đơn giản và rèn luyện các kĩ năngđịa lí như: Kĩ năng sử dụng bản đồ, kĩ năng nhận xét, so sánh, phân tích cácmối quan hệ địa lí đơn giản Do đặc điểm kiến thức của từng bài, từng chương

có mối quan hệ chặt chẽ, lôgic, hệ thống nên việc sử dụng “bản đồ tư duy” sẽ

có nhiều ưu thế trong việc “mã hoá” hệ thống, mối quan hệ các kiến thức đó

1.4 Thực tiễn những năm gần đây cho thấy giáo viên đã nhận thức được

sự cần thiết phải tiến hành đổi mới phương pháp dạy học, có ý thức cải tiến

Trang 8

phương pháp dạy học Tuy nhiên, việc dạy và học các môn học nói chung vàĐịa lí nói riêng chưa vượt qua quỹ đạo cũ Đó là phương pháp dạy học theokiểu truyền thống, học sinh tiếp thu kiến thức một cách bị động Mà kiến thứctrong chương trình Địa lí lớp 5 đã được đưa vào dạy học với nhiều phương phápdạy học khác nhau như phương pháp trực quan, phương pháp dùng lời, phươngpháp tranh ảnh… Trong khi đó phương pháp bản đồ tư duy là một công cụ có ưuthế để “mô hình hoá” các mối quan hệ, hệ thống các đối tượng địa lí lại hầunhư không được sử dụng Một số giáo viên khi sử dụng cũng gặp nhiều khókhăn, lúng túng trong thiết kế và hướng dẫn học sinh khai thác tri thức.

Chính vì những lí do này nên chúng tôi chọn đề tài “Vận dụng phương

pháp bản đồ tư duy vào dạy học Địa lí lớp 5” nhằm góp phần nâng cao chất

lượng dạy - học phân môn Địa lí ở tiểu học

Quá trình dạy học Địa lí lớp 5

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Vận dụng phương pháp bản đồ tư duy vào dạy học phân môn Địa lí lớp 5

4 Giả thuyết khoa học

Có thể nâng cao được chất lượng dạy học phân môn Địa lí lớp 5 nếuchúng ta biết vận dụng phương pháp bản đồ tư duy một cách khoa học, phùhợp với đặc điểm nhận thức của học sinh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài

5.2 Tìm hiểu thực trạng phương pháp bản đồ tư duy trong dạy học phân

môn Địa lí ở trường tiểu học

Trang 9

5.3 Thiết kế và thử nghiệm một số giáo án theo phương pháp bản đồ tư duy.

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận

Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài làm cơ sở líluận của việc vận dụng phương pháp bản đồ tư duy vào dạy học Địa lí

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Tổng kết phương pháp dạy và học của giáo viên, học sinh

- Phương pháp quan sát việc dạy và học của giáo viên, học sinh ở trườngtiểu học thử nghiệm

- Phương pháp điều tra bằng Ankét trên các đối tượng giáo viên và họcsinh

- Phương pháp trò chuyện phỏng vấn giáo viên

- Phương pháp thử nghiệm sư phạm

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng thống kê toán học qua các tham số đăc trưng trong điều tra thực

tế và thử nghiệm sư phạm để kiểm chứng đề tài

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, cấu trúc đề tài gồm haichương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vân dụng phương pháp bản

đồ tư duy vào dạy học phân môn Địa lí lớp 5

Chương 2: Vận dụng phương pháp bản đồ tư duy vào dạy học phân mônĐịa lí lớp 5

Trang 10

Trong lịch sử giáo dục, từ lâu vấn đề dạy học bằng phương pháp bản đồ

tư duy đã được quan tâm nghiên cứu

Người phát minh ra “bản đồ tư duy” là giáo sư Tony Buzan (sinh năm

1942 tại London – Anh) Khi ông 13 tuổi, trong một lần lớp tổ chức kiểm trađọc nhanh, ông chỉ đứng thứ 2, sau một bạn gái Lập tức ông hỏi cô giáo cách

để có thể đọc được nhanh và nhận được câu trả lời là không thể Lí do, là ông

đã có thế mạnh để phát triển về cơ bắp và thể chất thì khả năng tư duy và đọcnhanh sẽ chậm hơn bạn Không chấp nhận điều này, Tony Buzan đã tìm cáchrèn luyện trí nhớ của mình bằng “bản đồ tư duy” (mindmap) nhờ đó mà saunày ông đạt danh hiệu một trong những người có trí nhớ thông minh và sángtạo nhất thế giới Tờ báo London sau đó viết rằng: “…những gì Buzan làmcho tư duy nhân loại cũng giống như Stephen Hawkinh đã làm cho vũ trụ”.Đến giữa thập niên 70, Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ

đã truyền bá kỉ xão về giản đồ ý cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các họcviện giáo dục

Ở Việt Nam, TS Trần Đình Châu cùng với TS Đặng Thị Thu Thuỷ làhai tác giả đầu tiên phổ biến “bản đồ tư duy” tới hệ thống các trường phổthông ở Việt Nam

TS Trần Đình Châu đã chủ trì nhóm nghiên cứu một cách kĩ lưỡng vàtham mưu được với Bộ Giáo dục - Đào tạo được thành chuyên đề ứng dụng

“bản đồ tư duy” hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học tới các bộ quản lí và

Trang 11

Trong ba năm gần đây, TS Trần Đình Châu cùng các cán bộ nghiên cứuthuộc Viện nghiên cứu giáo dục Việt Nam, dự án phát triển giáo dục trunghọc sơ sở II kết hợp với Vụ giáo dục trung học và Cục nhà giáo của Bộ Giáodục - Đào tạo và Sở Giáo dục - Đào tạo các tỉnh đến các vùng miền của đấtnước để nghiên cứu và nhân rộng dần phương pháp mới này với hi vọng sẽgiúp học sinh thoát khỏi lối học vẹt, đóng góp phần mình vào công việc chungcủa ngành giáo dục.

Năm 2010 ứng dụng “bản đồ tư duy” trong dạy và học đã được triển khaithí điểm tại 355 trường trên toàn quốc và được cả giáo viên cũng như học sinhcác trường hồ hởi tiếp nhận

Năm 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định đưa chuyên đề phươngpháp dạy học bằng bản đồ tư duy thành một trong năm chuyên đề tập huấncho giáo viên trung học cơ sở trên toàn quốc Tuy nhiên, việc đi sâu vàonghiên cứu ứng dụng “bản đồ tư duy” vào dạy học phân môn Địa lí ở tiểu họcvẫn chưa được quan tâm đúng mức

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm về phương pháp, phương pháp dạy học

Con người sống và tồn tại bao giờ cũng gắn liền với hoạt động, hoạtđộng của con người muôn hình muôn vẻ Cùng với việc hiểu xem cần làm gì,thì bao giờ cũng phải xác định xem nên làm cái đó như thế nào? Hay nói cáchkhác phải hướng tới mục đích nhất định bằng cách nào? Đó là phương pháp.Danh từ phương pháp được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động củacon người Với ý nghĩa như vậy, phương pháp tồn tại và gắn bó với mọi mặthoạt động của con người Phương pháp quyết định khả năng đi đến mục đíchnhanh hay chậm, quyết định sự thành công hay không thành công

Vậy phương pháp là gì? Các nhà triết học đã đưa ra định nghĩa một cáchchung nhất về khái niệm phương pháp như sau: Phương pháp là phương tiện,cách thức, con đường để đạt tới mục đích nhất định

Trang 12

Qua nghiên cứu, người ta đã đi đến kết luận rằng phương pháp có bốnđặc điểm chính sau [6]:

a Tính mục đích: Kết quả cuối cùng là con đường bằng những phương

tiện, cách thức, con đường để để đạt được mục đích đề ra, phương pháp giúpcon người nhận thức thế giới và cải tạo thế giới trong quá trình sống tự cải tạobản thân mình

b Tính cấu trúc của hệ thống: Phương pháp chỉ ra hàng loạt các thao tác,

các thao tác đó được sắp xếp theo một trình tự nhất định, con người phải thựchiện một số chương trình đã định sẵn bằng chế độ nghiêm ngặt Vì vậy màphương pháp có ý nghĩa điều khiển, phương pháp là sự tiến triển theo nhiềubước, là chuỗi những thao tác nhất định

c Phương pháp gắn liền với nội dung: Phương pháp bao giờ cũng gắn bó

với nội dung và cơ sở lí luận nhất định trên một số đối tượng nhất định.Phương pháp luận chịu sự chi phối của nội dung và thay đổi tuỳ thuộc vào nó.Phương pháp là hình thức tự vận động bên trong của nội dung Mỗi một khoahọc phát triển lại có những phương pháp đặc trưng riêng Ta có thể nói: Nộidung quy định phương pháp, phương pháp gắn liền với đối tượng, đối tượngnào - phương pháp ấy

d Cơ sở của phương pháp là lí thuyết: Phương pháp bao giờ cũng được

xây dựng trên cơ sở của một lí thuyết nhất định Khi đã có lí thuyết lúc đómới có một phương pháp hoàn chỉnh Lí thuyết bao giờ cũng có trước,phương pháp có sau Nhưng ngược lại khi đã có được hệ thống phương pháphoàn chỉnh nó sẽ tác động lại lí thuyết, làm cho lí thuyết phát triển lên nhữngbước mới có chất lượng cao hơn

Như vậy, phương pháp có mối liên hệ mật thiết với mục đích và nội dungcủa hoạt động

Trên cơ sở khái niệm phương pháp nói chung, người ta đã xây dựng kháiniệm phương pháp dạy học trên cơ sở mục đích và nội dung dạy học Phương

Trang 13

pháp dạy học được xây dựng vào một quá trình cụ thể, quá trình dạy học làmột phạm trù cơ bản của khoa học giáo dục.

Phương pháp dạy học được các nhà nghiên cứu đưa ra với nhiều địnhnghĩa:

IuK Babanxki cho rằng: “Phương pháp dạy học là một cách thức tương

tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học” [9].

I.Ia Leene quan niệm: “Phương pháp dạy học một hệ thống những hoạt

động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo các em lĩnh hội nội dung học vấn” [9].

Theo I.D.Dverep thì: "Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động

tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc lập của học sinh và cách thức điều chỉnh quá trình nhận thức của giáo viên” [9].

Theo V.K.Điachenco cho rằng:“Phương pháp dạy học là cấu trúc tổ

chức của quá trình dạy học”.

Còn rất nhiều quan niệm khác về phương pháp dạy học nhưng nhìnchung các tác giả đều nhận xét trên nhiều mặt khác nhau của quá trình dạy học.Mặc dù chưa đi đến một ý kiến thống nhất về định nghĩa phương phápdạy học, song các tác giả đều thừa nhận phương pháp dạy học có những dấuhiệu đặc trưng sau đây:

* Nó phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằmđạt được mục đích đề ra

* Phản ánh sự vận động của nội dung học vấn đã được nhà trường quyđịnh

* Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò

Trang 14

* Phản ánh cách thức điều khiển nhận thức, kích thích và xây dựng động

cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động

Từ sự phân tích trên, phương pháp dạy học trong thực tiễn cũng nhưtrong lí luận là một hoạt động phức tạp đòi hỏi sự sáng tạo cải tiến khôngngừng hoạt động của thầy và trò Vì vậy xét về mặt nào đó, phương pháp dạyhọc không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật với yêu cầu cao về thủ pháp

sư phạm Qua đây, chúng tôi vận dụng khái niệm phương pháp dạy học sau

vào luận văn của mình: Phương pháp dạy học là con đường, cách thức hoạt

động tương tác thống nhất giữa thầy và trò Trong đó, thầy là người tổ chức hướng dẫn trong phương pháp dạy học, trò là “người thợ trực tiếp thi công” trong phương pháp dạy học, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập.

Phương pháp dạy học là cấu trúc vận hành có hệ thống của giáo viên vàhọc sinh, trong đó phương pháp học là hàng đầu còn phương pháp giảng dạy

là tổ chức học tập

1.2.2 Khái niệm về tư duy

Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thầnđem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạtđộng vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xửtích cực với nó

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển báchkhoa Hà Nội - 2005): Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chứcmột cách đặc biệt - bộ não người - tư duy phản ánh tích cực hiện thực kháchquan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lí luận v.v…

Theo triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của “ý niệm tuyệtđối” với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vậtchất Theo Gearge Wilhemr Fridrick Heghen: “Ý niệm tuyệt đối là bảnnguyên của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhận thức

Trang 15

tư biện mà thôi”[1] Karl Marx nhận xét: “Đối với Heghen, vận động của tưduy được ông nhân cách hoá dưới tên gọi “ý niệm” là chúa sáng tạo ra hiệnthực, hiện thực chỉ là hình thức bề ngoài của ý niệm” [2].

Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính củavật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao Về lí thuyết, Karl Marx cho rằng:

“Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di

chuyển vào và được cải tạo/ tái tạo trong đầu óc con người dười dạng một sự phản ánh” [3].

Theo tâm lí học, tư duy là một quá trình phản ánh những thuộc tính bảnchất, những mối liên hệ vào quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiệntượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết [92]

Những luận cứ này còn dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm của IvanPetrovich Pavlov nhà sinh lí học, nhà tư tưởng người Nga Bằng các thínghiệm tâm - sinh lí áp dụng trên động vật và con người, ông đi đến kết luận:

“Hoạt động tâm lí là kết quả của hoạt động sinh lí của một bộ phận nhất định

của bộ óc” [4].

Như vậy ở đề tài này, chúng tôi xin được theo khái niệm: Tư duy trước

hết là sự phản ánh ở trình độ cao bằng con đường khái quát hoá, hướng sâu vào nhận thức bản chất, quy luật của đối tượng Phản ánh ở đây hiểu theo quan niệm của chủ nghĩa Mác là phản ánh biện chứng “là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn của sự tác động qua lại giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, giữa hoạt động tư duy và hoạt động thực tiễn, như là một quá trình trong đó con người không thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, mà tác động tới nó, cải tạo nó và bắt nó phải phục tùng những mục đích của mình” [2] Đó là phản ánh tâm lí, là sự phản ánh một

Trang 16

cách trọn vẹn các thuộc tính, các mối quan hệ, liên hệ bản chất, quy luật vậnđộng và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan [3].

1.2.3 Khái niệm “bản đồ tư duy”

“Bản đồ tư duy” (mindmap) là phương pháp được đưa ra để tận dụng khảnăng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổnghợp hay phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh.Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính thì não bộ còn cókhả năng tạo sự liên kết giữa các dữ liệu với nhau Phương pháp này khai thác

cả hai khả năng này của bộ não

Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép bằng cách dùng “bản đồ

tư duy” tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình vẽ, trong đó cácđối tượng liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách biểu diễn như vậycác dữ liệu được ghi nhớ, hấp thụ dễ dàng và nhanh chóng hơn

Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều, “bản đồ tư duy” biểu thịtoàn bộ cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ radạng thức của đối tượng, sự quan hệ tương hỗ giữa các khái niệm có liên quan

và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn

Theo định nghĩa của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Bản đồ tư duy là hình thức

ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Bản

đồ tư duy - một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình hoạ với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.

1.3 Một số vấn đề về sử dụng phương pháp bản đồ tư duy trong dạy học Địa lí lớp 5

1.3.1 Khái quát đặc điểm chương trình, sách giáo khoa phần Địa lí lớp

5 và việc sử dụng phương pháp bản đồ tư duy

* Chương trình:

Trang 17

Các kiến thức của địa lí được lựa chọn và sắp xếp theo nguyên tắc phùhợp với đặc điểm nhận thức của trẻ, từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó,

từ xa đến gần

Trên cơ sở vận dụng những khái niệm, mối quan hệ địa lí đơn giản củachương trình lớp 4, địa lí lớp 5 trình bày kiến thức theo hai phần gồm: Địa líViệt Nam và Địa lí thế giới

Về phần Địa lí Việt Nam: Nội dung được sắp xếp theo một cách tươngđối hệ thống theo trật tự từ đặc điểm tự nhiên, dân cư tới đặc điểm kinh tếViệt Nam

Về phần Địa lí thế giới: Giới thiệu tất cả các châu lục, đại dương và một

số quốc gia ở châu lục đó nhưng không đề cập toàn diện đến các yếu tố tựnhiên, kinh tế - xã hội mà chỉ cho học sinh có tính chất "chấm phá" nghĩa làchọn những nội dung nêu bật được một vài nét tiêu biểu của từng châu lục,đai dương và một số quốc gia Chương trình cũng giành thời lượng để dạy vềChâu Á nhiều hơn các châu lục khác

So với chương trình cũ, chương trình mới tăng thời lượng phần địa líViệt Nam và bỏ bớt một số nội dung địa lí thế giới Đã có sự giảm tải về mức

độ yêu cầu, thiên về mô tả sự vật, hiện tượng hơn là giải thích chúng Tăngcường tìm hiểu về địa lí đất nước, nét tiêu biểu của châu lục, quốc gia

Trang 18

- Kênh hình bao gồm: Tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu, sơ đồ Chúng không chỉ là phương tiện minh họa cho bài học mà còn là một bộ phậngắn bó hữu cơ với kênh chữ, là phần kiến thức không thể thiếu được của nộidung học tập Trong một số trường hợp, kênh hình là nguồn cung cấp thôngtin cơ bản của bài học Việc tăng cường kênh hình tạo điều kiện để giáo viên

tổ chức các hoạt động tìm tòi, phát hiện kiến thức mới của học sinh thông qualàm việc với bản đồ (lược đồ), biểu đồ, tranh ảnh, hình vẽ và đồng thời pháttriển kĩ năng địa lí ở học sinh như: Kĩ năng quan sát sự vật, hiện tượng địa lí,

kĩ năng sử dụng bản đồ, quả địa cầu, kĩ năng nhận xét, so sánh, phân tích biểuđồ

Từ đặc điểm chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 5 chúng ta thấy việcvận dụng phương pháp bản đồ tư duy có vai trò rất lớn trong dạy học Địa lí

Đó là nguồn cung cấp kiến thức vô cùng quan trọng

1.3.2 Vai trò của “bản đồ tư duy”

Bản đồ tư duy còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy, là hình thức ghichép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hoá một chủ đềhay một mạch kiến thức… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hìnhảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ

đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêmhoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, cùng một chủ đềnhưng mỗi người có thể thể hiện nó dưới dạng “bản đồ tư duy” theo một cáchriêng Do đó việc lập “bản đồ tư duy” phát huy được năng lực tối đa sáng tạocủa mỗi người

“Bản đồ tư duy” chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liêntưởng (các nhánh), có thể vận dụng “bản đồ tư duy” vào dạy học kiến thứcmới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hoá kiến thức sau

Trang 19

mỗi chương, mỗi học kì, tóm lược một cuốn sách, …cũng như lập kế hoạchcông tác.

“Bản đồ tư duy” là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả

nó là một kĩ thuật hình hoạ với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét,màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp conngười khai thác tiềm năng vô tận của bộ não Nó được coi là sự lựa chọn chotoàn bộ trí óc hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc Tony Buzan là người đi đầutrong lĩnh vực nghiên cứu tìm ra hoạt động của bộ não Theo Tony Buzan thì

“một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ” và “màu sắc cũng có tác dụng kíchthích não như hình ảnh Màu sắc mang đến cho “bản đồ tư duy” những rungđộng công hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo”

Ở vị trí trung tâm, “bản đồ tư duy” là một hình ảnh hay một từ khoá thểhiện một ý tưởng hay khái niệm chủ đạo Từ ý trung tâm hay hình ảnh trungtâm toả ra các nhánh chính, ta gọi là nhánh cấp 1, từ các nhánh chính lại có sựphân nhánh đến các nhánh phụ, gọi là nhánh cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứthế sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được kếtnối với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả

về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng

Theo một số kết quả nghiên cứu, “bản đồ tư duy” giúp thể hiện ra bênngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt động: Khi có một thông tin mớiđược đưa vào, để được lưu trử và tồn tại, chúng ta cần kết nối với các thôngtin cũ đã tồn tại trước đó

Việc sử dụng các từ khoá, chữ số, màu sắc và hình ảnh sẽ đem lại mộtcông cụ lớn vì huy động được cả bán cầu não phải và trái cùng hoạt động Sựkết hợp này sẽ tăng cường các liên kết giữa hai bán cầu não và kết quả là tăngcường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não “Bản đồ tư duy” là mộtcông cụ hữu ích trong học tập và giảng dạy ở trường phổ thông cũng như các

Trang 20

bậc học cao hơn vì chúng giúp học sinh và giáo viên trong việc trình bày các

ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ, sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tómtắt thông tin của bài học hay một cuốn sách, hệ thống lại kiến thức đã học,tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới Do sự kết hớp giữa đườngnét, màu sắc, chữ viết và hình ảnh liên tưởng nên “bản đồ tư duy” như một

“bức tranh hội hoạ - kiến thức” Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi học màchơi, chơi mà học, tò mò, hiếu động Sự hứng thú, khả năng tập trung chú ýcủa học sinh thường được kích thích bởi những hình ảnh đẹp mắt - “bản đồ tưduy” phát huy được thế mạnh đó

Kiểu ghi chép của “bản đồ tư duy” thể hiện bằng hình ảnh, đường nét,màu sắc được tuân theo các hướng không có tính tuần tự và có độ thoáng,giúp dễ dàng phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng Việc xây dựng đượcmột hình ảnh thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợiích đáng quan tâm về các mặt: Ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởngtượng và khả năng sáng tạo… “Bản đồ tư duy” vừa giúp nhìn được khái quáttoàn bộ vấn đề, vừa giúp nhìn được cái cụ thể trong cái tổng thể đó

Có thể khái quát lại vai trò của “bản đồ tư duy” với ba ý chính sau:

a “Bản đồ tư duy” giúp học sinh học được phương pháp học.

Việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biệnpháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấymột số học sinh học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, nhất là môn Toán, các

em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước vàkhông biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đãhọc trước đó và những phần sau này Phần lớn học số sinh này khi đọc sáchhoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưukiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sử dụng thành thạo “bản đồ tư duy”

Trang 21

trong dạy học, học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủđộng, sáng tạo và phát triển tư duy.

b “Bản đồ tư duy” - giúp học sinh học tập một cách tích cực.

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu,nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữcủa mình Vì vậy việc sử dung “bản đồ tư duy” giúp học sinh học tập mộtcách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não

Việc học sinh tự vẽ “bản đồ tư duy” có ưu điểm là phát huy tối đa tínhsáng tạo của học sinh, phát triển năng khiếu hội hoạ, sở thích của học sinh,các em tự do chọn màu sắc, đường nét, các em tự “sáng tác” nên trên mỗi

“bản đồ tư duy” thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng họcsinh và “bản đồ tư duy” do các em tự thiết kế nên các em yêu quý, trân trọng

“tác phẩm” của mình “Bản đồ tư duy” giúp học sinh ghi chép có hiệu quả

Do đặc điểm của “bản đồ tư duy” nên người thiết kế “bản đồ tư duy” phảichọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp bố cục để “ghi” thông tin cần thiết nhất vàlôgic Vì vậy, sử dụng “bản đồ tư duy” sẽ giúp học sinh dần dần hình thànhcách ghi chép có hiệu quả

c Sử dụng “bản đồ tư duy” giúp giáo viên chủ nhiệm, cán bộ quản lí nhà

trường lập kế hoạch công tác và có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉtiêu, phương pháp, biện pháp và dễ theo dõi quá trình thực hiện, đồng thời cóthể bổ sung thêm các chỉ tiêu, biện pháp một cách rất dễ dàng so với việc viết

kế hoạch theo cách thông thường thành các dòng chữ “Bản đồ tư duy” có thểvận dụng được bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiệnnay Có thể thiết kế “bản đồ tư duy” trên giấy, bìa, bảng phụ… hoặc cũng cóthể thiết kế trên phần mềm “bản đồ tư duy”

Việc sử dụng “bản đồ tư duy” giúp cán bộ quản lí có cái nhìn tổng quáttoàn bộ vấn đề, giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, giúp học sinh

Trang 22

tích cực học tập Đó chính là một trong những cách làm thiết thực triển khainội dung dạy học có hiệu quả - nội dung quan trọng nhất trong năm nội dungcủa phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động

1.3.3 Tác dụng của “bản đồ tư duy” trong dạy học Địa lí ở tiểu học

Địa lí là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, cầnthiết về trái đất và những hoạt động của con người trên bình diện quốc gia vàquốc tế, làm cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục tư tưởngtình cảm đúng đắn Đồng thời rèn luyện cho học sinh các kĩ năng hành động,ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên, xã hội, phù hợp với yêu cầu của đấtnước và xu thế của thời đại Cùng với các môn học khác, Địa lí góp phần bồidưỡng cho học sinh ý thức trách nhiệm, lòng ham hiểu biết khoa học, tình yêuthiên nhiên, con người và đất nước Theo đó mục tiêu của phân môn Địa líchú trọng đến việc hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng cần thiếtcon người lao động mới Để đạt được mục tiêu này thì cần thiết phải có sự đổimới sách giáo khoa và phương pháp dạy học một cách phù hợp, tương xướng.Quán triệt những đổi mới về mục tiêu, chương trình Địa lí lớp 5 được thiết

kế thành hai mảng lớn có quan hệ chặt chẽ với nhau Các bộ phận cơ bản nàycủa chương trình có mục đích cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản về:

- Địa lí Việt Nam, bao gồm: Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên,dân cư, kinh tế và những vấn đề đặt ra đối với tự nhiên, dân cư, kinh tế - xãhội của đất nước

- Địa lí thế giới, bao gồm: Tìm hiểu về các châu lục như châu Á, châu

Âu, châu Mĩ, châu Đại Dương, châu Nam Cực (vị trí địa lí và giới hạn, đặcđiểm tự nhiên, dân cư, hoạt động kinh tế)

Tất cả những kiến thức này đều có mối liên hệ qua lại và tác động lẫnnhau, đòi hỏi ở người học không chỉ khả năng tiếp nhận thông tin đơn thuần

Trang 23

mà cần biết cách phân tích, so sánh, liên kết các vấn đề để tìm ra kiến thứcphù hợp với chương trình mới, sách giáo khoa được biên soạn theo hướng tạođiều kiện để giáo viên tổ chức cho học sinh học tập một cách tự giác và tíchcực Nếu như sách giáo khoa cũ được trình bày theo lối thông báo - giải thích

- minh hoạ thì cách trình bày sách giáo khoa mới đòi hỏi giáo viên phải tổchức các hoạt động nhận thức cho học sinh, phải khai thác kênh hình, kênhchữ để có thêm kiến thức mới

Khi chương trình và sách giáo khoa đã đổi mới, tất yếu phương pháp dạyhọc bộ môn cũng phải đổi mới theo Do đó, phương pháp dạy học Địa lí theođịnh hướng mới, sách giáo khoa mới không chỉ buộc học sinh phải “mới”trong cách học mà còn buộc giáo viên phải “mới” trong cách dạy Theo đó,giáo viên cần đầu tư nhiều hơn về thời gian và trí tuệ trong bài dạy, vừa đểlàm rõ nội dung kiến thức ẩn chứa ở kênh hình, kênh chữ, cũng như tìm racách thức và phương pháp nhằm hướng dẫn cho học sinh cách tự khai thác vàlĩnh hội kiến thức Bên cạnh việc chú ý phát triển ở học sinh các kĩ năng bộmôn (kĩ năng làm việc với các thiết bị dạy học, các nguồn tư liệu địa lí…)việc rèn luyện kĩ năng làm việc độc lập, làm việc nhóm, kĩ năng trình bày,giải quyết vấn đề… cũng hết sức quan trọng và đặc biệt là kĩ năng phát triển

tư duy

Việc phát triển tư duy cho học sinh luôn là một trong những ưu tiên hàngđầu của mục tiêu giáo dục Để hướng học sinh có cách thức học tập tích cực

và tự chủ, chúng ta không chỉ cần giúp các em khám phá các kiến thức mới

mà còn phải giúp các em hệ thống được những kiến thức đó Việc xây dựngđược một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lạinhững lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tưduy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sứchữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là “bản đồ tư duy”

Trang 24

Vì thế “bản đồ tư duy” có tác dụng rất lớn trong dạy học Địa lí ở tiểuhọc Qua quá trình nghiên cứu, thử nghiệm chúng tôi thấy rằng việc vận dụng

“bản đồ tư duy” vào dạy học Địa lí lớp 5 là rất cần thiết và có hiệu quả tốt.Bên cạnh giúp học sinh hiểu và ghi nhớ bài học tốt hơn thì việc vận dụng

“bản đồ tư duy” vào dạy học Địa lí lớp 5 còn rèn luyện cho các em kĩ nănglàm việc cũng như sắp xếp cuộc sống một cách khoa học hơn, tập luyện sựkiên trì và phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo hiệu quả, khai thác tối đa ý đồcủa sách giáo khoa, đồng thời giảm sự nhàm chán trong cách học

Với phương pháp bản đồ tư duy trong giảng dạy từng bước giáo viên sẽgiúp học sinh tự mình phát hiện dần dần toàn bộ kiến thức bài học Bắt đầubằng những kiến thức tổng quát nhất - trọng tâm bài học - trung tâm bản đồ.Giáo viên giúp học sinh tái hiện những kiến thức lớn xoay quanh trọng tâmbài học, những ý nhỏ trong từng ý lớn cứ như vậy đến khi giờ học kết thúccũng là lúc kiến thức tổng quát của bài học được trình bày một cách sáng tạo,sinh động trên bản đồ Không những cung cấp cho học sinh kiến thức tổngthể, bản đồ tư duy còn giúp cho học sinh nhìn nhận đa chiều mọi mặt của vấn

đề, từ đó đưa ra các ý tưởng mới, phát hiện mới, tìm ra sự liên kết, ràng buộccác ý tưởng trong bài tức tìm ra mạch lôgic của bài học Sau khi hoàn thiện,học sinh nhìn vào bản đồ là có thể tái hiện, thuyết trình lại được toàn bộ nộidung kiến thức bài học Đồng thời học sinh cũng có thể khẳng định được toàn

bộ dung lượng kiến thức của bài, xác định ý chính, ý phụ và lên kế hoạch họctập hiệu quả

Chúng ta có thể khái quát tác dụng của “bản đồ tư duy” trong dạy học địa

lí qua các ý sau:

- Tiết kiệm thời gian, công sức

- Cung cấp bức tranh tổng thể của bài học

- Tổ chức và phân loại suy nghĩ

Trang 25

- Kích thích tiềm năng sáng tạo của học sinh.

- Sử dụng rộng rãi, hiệu quả và dễ dàng

- Tạo hứng thú trong giờ học

1.3.4 Các nguyên tắc sử dụng "bản đồ tư duy"

Chúng ta đang sống trong thời kì phát triển mạnh mẽ, thế giới vận động

và thay đổi đến từng giây

Do đó việc học tập chăm chỉ chưa hẳn là giải pháp tối ưu, bởi khi đó cónhiều sự lựa chọn thì vấn đề không chỉ là học cái gì mà là học như thế nào và

sử dụng công nghệ gì Thông tin đa chiều và thực tế yêu cầu không chỉ cókiến thức mà còn có khả năng tạo ra giá trị gia tăng từ kiến thức Nghiên cứu

về hoạt động của bộ não con người, người ta chỉ ra rằng bộ não hoạt độnggồm hai nhánh:

- Não phải nhạy cảm với các thông tin về màu sắc, nhịp điệu, hình dạng,tưởng tượng sẽ tác động kích thích não trái

- Não trái thích hợp với các từ ngữ, con số, tư duy, phân tích cho ra sảnphẩm

Do đó người ta tìm cách kích thích não phải tốt nhất Trình bày vấn đềtheo sơ đồ, biểu đồ bao giờ cũng gây hứng thú Trong các hình thức ấy, sơ đồ

mà Tony Buzan đưa ra được đánh giá cao nhất và đã trở thành công cụ làmviệc hiệu quả của hàng triệu người trên thế giới

"Bản đồ tư duy" hoạt động trên nguyên tắc sử dụng sức mạnh về khảnăng nhớ hình ảnh của não Các nghiên cứu chỉ ra rằng, não trái và não phảicủa con người có chức năng khác nhau Trong khi não trái phù hợp với cáchoạt động lôgic thì não phải lại phù hợp với các hoạt động có tính tưởngtượng như vẽ và âm nhạc

"Bản đồ tư duy" sử dụng công cụ hình ảnh, màu sắc, từ khóa, liên kết đểthể hiện vấn đề, làm cho vấn đề trở nên trực quan và có tổ chức Nguyên tắc

Trang 26

cơ bản của "bản đồ tư duy" là sử dụng hình vẽ, màu sắc, thứ tự dạng cây đểthể hiện ý tưởng Ở trung tâm hình vẽ là chủ đề chính, các chủ đề con đượcphát triển từ chủ đề chính bằng các đường dạng cây, các chủ đề được pháttriển theo chiều kim đồng hồ, bắt đầu từ bên trái và mở rộng dần ra Các ý lớngồm chủ đề trung tâm, các ý nhỏ được phát triển ra từ các ý lớn Các chủ đềđược viết dưới dạng từ khóa Khuyến khích sử dụng màu sắc và hình ảnh đểthể hiện ý tưởng.

"Bản đồ tư duy" có nguyên lí hoạt động theo nguyên tắc liên tưởng "ýnày gợi ý kia" của bộ não Chúng ta có thể tạo ra một "bản đồ tư duy" ở dạngđơn giản theo nguyên tắc phát triển ý: Từ một chủ đề tạo ra nhiều nhánh lớn,

từ mỗi nhánh lớn lại tỏa ra nhiều nhánh nhỏ và cứ thế mở rộng ra vô tận Ví

dụ như chúng ta muốn lập bản đồ tư duy cho một tuần làm việc, hãy vẽ chủ đềtrung tâm tuần sau vào giữa trang giấy trắng Từ chủ đề chúng ta vẽ 7 nhánhlớn là thứ 2, thứ 3 cho đến chủ nhật, mỗi nhánh một màu Rồi từ mỗi thứchúng ta lại vẽ ra các nhánh nhỏ là các công việc chúng ta định làm trong thứ

đó, mỗi công việc lại triển khai ra các ý chi tiết hơn như chúng ta định làmcông việc đó với ai (who), ở đâu (where), bao giờ (when), bằng cách nào(how)

Cứ như vậy chúng ta sẽ có trên cùng một trang giấy các công việc màmình định làm trong một tuần và cái hay của bản đồ tư duy ở chổ là nó giúpcho chúng ta có cái nhìn tổng thể, không bỏ sót các ý tưởng, từ đó chúng ta cóthể dễ dàng đánh số thứ tự ưu tiên các công việc trong tuần để sắp xếp vàquản lí thời gian một cách hiệu quả và hợp lí hơn so với một quyển sổ liệt kêcác công việc thông thường

Mặc dù nguyên tắc cơ bản của "bản đồ tư duy" là sử dụng hình vẽ, màusắc, thứ tự dạng cây để thể hiện các ý tưởng nhưng chúng ta cần lưu ý:

Trang 27

Màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Tuy nhiên chúng

ta cũng không cần phải sử dụng quá nhiều màu sắc Chúng ta có thể sử dụnghai đến ba màu nếu thích và muốn tiết kiệm thời gian Nếu chúng ta thấy mấtquá nhiều thời gian để tô đậm màu trong một nhánh thì chúng ta nên gạchchéo, đánh dấu cộng (+) hay chấm bi trong đó

Nên vẽ nhiều nhánh cong hơn là đường thẳng để tránh sự buồn tẻ, tạo sựmềm mại cuốn hút

Khi chúng ta sử dụng những từ khóa riêng lẽ, mỗi từ khóa đều không bịràng buộc, do đó nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới, cách suy nghĩ mới.Nếu trên mỗi nhánh chúng ta viết đầy đủ câu thì vô hình chung chúng ta

đã dập tắt khả năng gợi mở và liên tưởng của bộ não Não của chúng ta sẽ mấthết hứng thú khi tiếp nhận một thông tin hoàn chỉnh Vì vậy, lưu ý trên mỗinhánh chúng ta chỉ viết một, hai từ khóa mà thôi Khi đó chúng ta sẽ viết rấtnhanh và khi đọc lại não chúng ta sẽ được kích thích làm việc để nối kếtthông tin và nhờ vậy thúc đẩy năng lực gợi nhớ và dần dần nâng cao khả năngghi nhớ của chúng ta

1.3.5 Cách lập một "bản đồ tư duy"

"Bản đồ tư duy" sẽ giúp chúng ta trong việc phát triển ý tưởng, ghi nhớlại kiến thức, từ đó sẽ nhớ nhanh, nhớ lâu, hiểu sâu kiến thức bằng cách tự ghilại một bài học, một chủ đề nào đó theo cách hiểu của mình Tuy nhiên, chỉkhi nào các em học sinh tự mình thiết lập bản đồ tư duy và sử dụng nó tronghọc tập thì mới thấy rõ được hiệu quả khó có thể diễn tả được bằng lời của

"bản đồ tư duy", qua đó các em sẽ thích học hơn và đặc biệt là cảm nhận đượcniềm vui của việc học

Trước tiên, chúng ta cho học sinh làm quen với "bản đồ tư duy"

Giáo viên có thể cho học sinh làm quen, đọc hiểu "bản đồ tư duy" bằngcách giới thiệu cho học sinh một số "bản dồ tư duy" cùng với sự dẫn dắt của

Trang 28

giáo viên để các em nhận biết Cho học sinh nghiên cứu, quan sát, tìm hiểumột vài bản đồ tư duy và tập cho học sinh thuyết trình, diễn giải mạch nộidung kiến thức hàm chứa trong bản đồ tư duy đó Khi các em đã thành thạothì chỉ cần nhìn vào bản đồ tư duy, bất kì một học sinh nào cũng thuyết minhđược một cách trôi chảy, mạch lạc.

Sau khi học sinh đã làm quen với bản đồ tư duy thì chúng ta tiến hànhcho các em tập vẽ "bản đồ tư duy"

Để dạy học sinh vẽ "bản đồ tư duy", giáo viên có thể tiến hành theonhững cách sau:

- Hoàn thiện các "bản đồ tư duy" do giáo viên đã vẽ sẵn

- Sử dụng các "bản đồ tư duy" thiếu nhánh, thiếu nội dung học sinh dùngbút chì, bút màu vẽ thêm nhánh, điền thêm kiến thức, vẽ thêm hình ảnh liêntưởng

- Cần để học sinh vẽ thật thoải mái, sau đó gắn lại "tác phẩm" của mình

và hoàn thiện lại sao cho bố cục vừa gọn vừa đẹp mắt

Và cuối cùng là thực hành vẽ "bản đồ tư duy" trên giấy, vở, bìa, bảng phụ

Để hoàn thành một "bản đồ tư duy" thì chúng ta cần tiến hành qua 4 bước:

Bước 1: Chọn từ trung tâm (hay còn gọi là từ khóa, keyword)

Là tên của một bài hay một chủ đề hay một nội dung kiến thức cần khaithác hoặc là một hình ảnh, hình vẽ mà chúng ta cần phát triển

Quy tắc vẽ chọn từ trung tâm:

- Cần phải vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác

- Có thể tự do sử dụng tất cả các màu sắc ưa thích

- Không nên đóng khung hoặc che mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần đượclàm nổi bật, dễ nhớ

- Có thể bổ sung hình vẽ vào chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng

- Chủ đề nên được vẽ to cỡ hai đồng xu "500 đồng"

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các mức độ nhân thức của giáo viên về vai trò của - Vận dụng phương pháp bản đồ tư duy vào dạy học phân môn địa lý lớp 5
Bảng 1 Các mức độ nhân thức của giáo viên về vai trò của (Trang 37)
Bảng 2: Mục đích vận dụng "bản đồ tư duy" - Vận dụng phương pháp bản đồ tư duy vào dạy học phân môn địa lý lớp 5
Bảng 2 Mục đích vận dụng "bản đồ tư duy" (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w