lich su dong nai lich su dong nai lich su dong nai lich su dong nai lich su dong nai lich su dong nai lich su dong nai lich su dong nai lich su dong nai lich su dong nai lich su dong nai lich su dong nai
Trang 1Câu 1:
Năm 1976, tỉnh Đồng Nai được
thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 tỉnh:
Biên Hòa, Bà Rịa - Long Khánh, Tân
Phú Từ năm 1978 đến nay thêm
nhiều lần điều chỉnh đơn vị hành
chính cấp huyện: Sát nhập huyện
Duyên Hải (Cần Giờ) vào thành phố
Hồ Chí Minh (1978), thành lập Đặc
khu Vũng Tàu - Côn Đảo gồm: Thị
xã Vũng Tàu, xã Long Sơn và huyện
Côn Đảo (1979), lập huyện Trường
Sa trước thuộc huyện Long Đất, sau
thuộc Khánh Hòa (1982) rồi Nha
Trang (1994); thành lập thị xã Vĩnh
An (1985) rồi trở lại huyện Vĩnh Cửu
(1994); chia huyện Xuân Lộc thành
hai huyện: Long Khánh và Xuân Lộc
Hội thi tìm hiểu văn hóa- lịch sử Đồng Nai
Chợ Cù Lao Phố - Đồng Nai xưa
Trang 2Tân Phú và Định Quán (1992), 3 huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc nhập với Đặckhu Vũng Tàu - Côn Đảo thành tỉnh mới Bà Rịa -Vũng Tàu (1991); chia huyện Long Thànhthành hai huyện: Long Thành và Nhơn Trạch (1994)
+ Hiện nay, tỉnh Đồng Nai gồmthành phố Biên Hòa (đô thị loại II) và
8 huyện: Vĩnh Cửu, Thống Nhất, TânPhú, Định Quán, Xuân Lộc, LongKhánh, Long Thành, Nhơn Trạch vớidiện tích 5.866,4 km2 Theo Niêngiám thống kê (xuất bản năm 1997),thời điểm 1/1/1996, dân số Đồng Nai
có 1.905.638 người, trong đó:937.574 nam, 968.064 nữ; 552.063người sống ở khu vực thành thị, 1.353.575 người sống ở khu vực nông thôn; tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên từ 2,45% năm 1990 giảm còn 2,00% năm 1995
Đồng Nai là tỉnh nằm trong khu vực miền Đông Nam Bộ của Việt Nam, vùng đất nối liềngiữa Nam
Bộ, cực nam Trung Bộ và nam Tây Nguyên Tỉnh Đồng Nai nằm ở cực bắc miền Đông Nam
Bộ, có toạ độ địa lý từ 10o30’03 đến 11o34’57’’vĩ độ Bắc và từ 106o45’30 đến 107o35’00 kinh
độ Đông
Đồng Nai có diện tích 5.862,37 km2, bằng 1,76% diện tích tự nhiên của cả nước và25,5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ, giữ vị trí quan trọng trong vùng phát triển kinh
tế trọng điểm phía Nam của đất nước
Đồng Nai giáp các tỉnh: phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận; phía Tây giáp Thành phố HồChí Minh; phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước; phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu; phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng
Hiện nay, tỉnh Đồng Nai có 173 phường, xã, thị trấn Trong đó:
Di tích lịch sử - văn miếu Trấn Biên
Trang 3- Thành phố Biên Hoà có 23 phường, 07 xã.
Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm
(2009), dân số tỉnh Đồng Nai có 2.483.211 người;
trong đó có 1.232.182 nam, 1.252.029 nữ Như
vậy, tỉnh Đồng Nai có dân số đông hàng thứ 5 của
Việt Nam, đứng hàng thứ hai trong số các tỉnh
thành miền Đông Nam bộ Mật độ dân số theo tỉ
lệ 421 người/ km2 Có trên 30 thành phần dân tộc
sinh sống
Trang 4Đồng Nai có vị trí hết sức quan trọng, là cửa ngõ phía đông thành phố Hồ Chí Minh - mộttrung tâm kinh tế lớn của cả phía Nam, nối Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên với toàn bộvùng Đông Nam Bộ bởi các tuyến giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, quốc lộ 51 và
tuyến đường sắt Thống Nhất… Vì thế, Đồng Nai được coi như là “bản lề chiến lược” giữa
bốn vùng của các tỉnh phía Nam Nó không chỉ có vai trò trọng yếu trong phát triển kinh tế,
mà còn có ý nghĩa đặc biệt về kinh tế kết hợp an ninh quốc phòng và môi trường của vùngkinh tế trọng điểm phía Nam
Tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Namthành lập tỉnh Đồng Nai trên cơ sở sát nhập các tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa - Long Khánh, TânPhú (hai huyện Tân Uyên và Phú Giáo của tỉnh Tân Phú cắt chuyển vào tỉnh Sông Bé) TỉnhĐồng Nai gồm các đơn vị hành chánh trực thuộc: thành phố Biên Hòa, thị xã Vũng Tàu vàcác huyện Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Tân Phú, Long Thành, Châu Thành, Long Đất,Xuyên Mộc, Duyên Hải, 1 quần đảo là Trường Sa Toàn tỉnh có 154 phường, xã, thị trấn
Lúc bấy giờ, Đồng Nai giáp các tỉnh: Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp
Thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây bắc giáp tỉnh Sông Bé (nay là Bình Dương), phía Bắc giáptỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp Biển Đông (nay giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)
Từ đó cho đến nay, tỉnh Đồng Nai nhiều lần thay đổi về địa giới hành chánh với việc cắtchuyển một số địa bàn cho các tỉnh mới, một số địa bàn tách, sát nhập lại Hiện nay, tỉnhĐồng Nai gồm 11 đơn vị hành chánh như sau: Thành phố Biên Hoà, thị xã Long Khánh vàcác huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Long Thành, Nhơn Trạch, Thống Nhất,Trảng Bom, Vĩnh Cửu
Đại Nam nhất thống chí của nhà Nguyễn Hoàng Minh Trí cho là đất Biên Hòa xưa là lãnh thổ nước Bà Lỵ (Bà Lị) và nước Thù Nại, những tiểu quốc cổ nằm ở phía Đông Nam
nước Chiêm Thành, nay là vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu và Đồng Nai Về sau, khi Chân
Lạp lớn mạnh đều bị Chân Lạp thôn tính Trước khi bị thực dân Pháp đô hộ, Biên Hòa là trung tâm của toàn bộ miền Nam với tên gọi Trấn Biên.[4]
Năm 1808, dinh Trấn Biên đổi tên thành Trấn Biên Hòa
Năm 1832, Trấn Biên Hòa được đổi thành tỉnh Biên Hòa
Thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai năm 2016
Trang 5Năm 1975, tỉnh Biên Hòa bị giải thể và thành lập tỉnh Đồng Nai
Câu 2:
Cuộc Cách mạng tháng Tám, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã giành chínhquyền từ tay phát xít Nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Tuyên ngôn Độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời Nhưng thực dân Pháp từ lâu đã có ý đồ xâm lược trở lại Đông Dương
Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, được đế quốc Mỹ, Anh thoả thuận, chính quyền Đờ
Gôn quyết định gây chiến tranh, đặt lại ách thống trị ở Đông Dương
Ngày 17/8/1945, Uỷ ban Quốc phòng Pháp quyết định đưa 6 vạn quân sang Đông Dương Mặc
dù mới có một bộ phận nhỏ quân Pháp theo gót quân Anh vào miền Nam nhưng dựa vào gần 2
vạn lính Pháp còn lại tại Đông Dương và sự tiếp tay của quân Anh, ngày 23/9/1945, quân Pháp
gây hấn đánh chiếm Nam Bộ, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta bắt đầu
Từ ngày 23/9/1945 đến năm 1946, cuộc kháng chiến diễn ra trên chiến trường Nam Bộ và Nam
Trung Bộ Mặc dù lực lượng vũ trang của ta ở đây rất nhỏ và yếu nhưng có những đoàn quân
Nam tiến từ miền Bắc, miền Trung vào, những đoàn quân của Việt kiều từ Lào, từ Campuchia,
từ Thái Lan về, nhất là nhân dân đứng lên tổ chức đánh địch nên đã từng bước ngăn chặn quân
địch, làm phá sản chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp
Trang 6Tuy nhiên vào thời điểm này, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ đang đứng trước muôn vàn khó khăn, không thể tiến hành một cuộc chiến tranh quy mô cả nước với thực dân Pháp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương hoà hoãn nhân nhượng, cố gắng giải quyết cuộc xung đột Pháp-Việt bằng con đường hoà bình, chí ít cũng trì hoãn cuộc chiến tranh chậm
nổ ra để ta có thời gian chuẩn bị lực lượng Các cuộc hoà đàm Việt-Pháp diễn ra, Hiệp định Sơ
bộ (6/3/1946) và Tạm ước Việt-Pháp (15/9/1946) được ký kết Chiến tranh bị đẩy lùi một bước.Không từ bỏ ý đồ xâm lược, thực dân Pháp ngày càng lấn tới đòi nhân dân ta hạ vũ khí đầu hàng Khả năng hoà hoãn không còn, với tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mấy nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, đêm 19/12/1946, theo lời kêu gọi của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, cả nước đứng lên kháng chiến Cuộc kháng chiến toàn quốcbắt đầu
Đường lối kháng chiến của Đảng ta xác định ngay từ đầu cuộc chiến tranh là: Toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính
Từ ngày 19/12/1946 đến chiến thắng Việt Bắc Thu Đông 1947, quân dân ta đã chặn đánh tiêu hao lực lượng địch, bảo toàn lực lượng rút khỏi thành phố, phát triển lực lượng, phản công diệt địch trong Chiến dịch Việt Bắc Sau khi mở rộng được địa bàn chiếm đóng trên cả nước, Thu Đông năm 1947, Pháp tập trung trên 2 vạn quân mở cuộc tiến công lớn hiệp đồng quân binh chủng từ nhiều hướng bao vây căn cứ Việt Bắc, tìm diệt quân chủ lực và đầu não kháng chiến của ta
Ngày 7/10/1947, địch bắt đầu tiến công Quân địch theo đường bộ số 3, số 4 và đường thuỷ sông Lô, sông Gấm hình thành thế bao vây Việt Bắc Đồng thời, địch cho quân nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn, chợ Mới, chợ Đồn định diệt các cơ quan đầu não kháng chiến
Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy ta đã phán đoán âm mưu của địch nhưng việc nhảy dù xuống địa điểm cụ thể thì chưa lường hết nên lúc đầu có lúng túng Sau khi nắm được kế hoạch của địch, ta đã điều chỉnh kế hoạch tác chiến
Lực lượng ta dùng trong chiến dịch là 10 trung đoàn và 7 tiểu đoàn bộ binh cùng dân quân du kích tại chổ Các chiến trường toàn quốc cũng đẩy mạnh tiến công phối hợp
Trên hướng tiến công đường số 3, số 4 của địch, quân ta đánh phục kích, tập kích liên tục nhiều
Trang 7trận tiêu hao lực lượng địch Bị thiệt hại nặng, địch phải quay lại.
Mục tiêu chiến dịch không đạt được, lại bị thiệt hại nặng và có nguy cơ bị bao vây tiêu diệt nên địch phải rút lui Ngày 22/11, quân Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Bắc Dọc đường bị quân ta phục kích một số trận Ngày 22/12/1947, chiến dịch kết thúc
Chiến dịch Việt Bắc kết thúc giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược Quân ta loại khỏi vòng chiến đấu 6.000 địch, đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch, làm phá sản chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của chúng, bảo vệ cơ quan lãnh đạo, chuyển kháng chiến sang giai đoạn mới
Từ năm 1948 đến chiến dịch Biên Giới (1950), phát triển chiến tranh du kích, đẩy mạnh vận động chiến tranh, chiến thắng Biên Giới
Sau Chiến dịch Việt Bắc, thực dân Pháp phải chuyển hướng chiến lược chiến tranh Từ chiến lược “Đánh nhanh thắng nhanh” phải chuyển sang đánh lâu dài, thực hiện chính sách “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” Từ mở rộng vùng chiếm đóng chuyển sang củng cố vùng chiếm đóng, từ những cuộc hành quân lớn nhằm tiêu diệt quân chủ lực của ta chuyển sang nhiều cuộc hành quân nhỏ đánh vào cơ sở kinh tế, chính trị và diệt từng
bộ phận lực lượng vũ trang ta Chúng ra sức củng cố nguỵ quyền, phát triển nguỵ quân, tranh thủ viện trợ Mỹ
Về phía ta, sau chiến thắng Việt Bắc, lực lượng vũ trang ta trưởng thành một bước quan
trọng Ngày 28/8/1949, sư đoàn chủ lực đầu tiên - đại đoàn 308 ra đời, tiếp đó đầu năm 1950 đại đoàn 304 được thành lập Chiến tranh du kích phát triển mạnh ở vùng sau lưng địch cả ở Bắc-Trung Bộ và Nam Bộ; đồng thời, ta chủ trương “Phải từng bước đẩy vận động chiến tiến tới”
Tháng 6/1950, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên Giới nhằm: tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, khai thông biên giới Việt - Trung, gắn liền với phe
xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc Ngày 16/9, quân ta nổ súng đánh Đông Khê (Lạng Sơn) mở màn chiến dịch, sau đó đón đánh diệt 2 binh đoàn quân Pháp đến tăng cường cho Thất Khê sợ bị tiêu diệt, quân Pháp phải rút chạy khỏi các cứ điểm từ Thất Khê đến Lạng Sơn, quân ta truy kích diệt thêm một số quân Pháp
Trang 8Ở các địa phương, quân dân ta đẩy mạnh hoạt động tiến công phối hợp với chiến dịch Biên Giới Ngày 14/10/1950, ta kết thúc chiến dịch Chiến dịch Biên Giới, ta đã diệt được trên 8.000 quân địch, thu nhiều vũ khí trang bị, giải phóng vùng biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn), mở rộng giao lưu quốc tế, làm thay đổi cục diện chiến tranh, giành quyền chủ độngchiến lược trên chiến trường.
Từ năm 1951 đến chiến dịch Điện Biên Phủ, giữ vững quyền chủ động chiến lược đẩy mạnh tiến công và phản công, giành thắng lợi quyết định, kết thúc chiến tranh Sau thất bại ở chiến trường biến giới, thực dân Pháp còn cố giành lại quyền chủ động chiến lược bằng cách tăng quân, thay tướng, xin thêm viện trợ Mỹ, De Latre de Tassigny, viên tướng được coi là tài giỏi nhất của nước Pháp lúc đó, được cử sang Việt Nam với kế hoạch: phát triển quân số, xây dựng
hệ thống cứ điểm vững chắc, tập trung giữ chiến trường chính là Bắc Bộ, đồng thời tăng cường càng quét “bình định” Trung Bộ và Nam Bộ, kết hợp với đánh phá, bao vay kinh tế, chiến tranhtâm lý với vùng căn cứ kháng chiến
Về phía ta, chủ trương chung là tiếp tục giữ khí thế chủ động tiến công liên tục tiêu diệt sinh lực địch, tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ Các đại đoàn 312, 316, 320, 351, 325 được thành lập Nhiều chiến dịch lớn được mở như Chiến dịch Trần Hưng Đạo (tháng 12/1950-2/1951) ở Bắc Giang, Việt Trì; Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (tháng 4/1951) dọc đường
18; Chiến dịch Quang Trung (tháng 5-6/1951) ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình; Chiến dịch
Lý Thường Kiệt (tháng 9-10/1951) ở Nghĩa Lộ; Chiến dịch Hoà Bình (tháng
12/1951-2/1952); Chiến dịch Tây Bắc (tháng 10/1951-12/1951-2/1952); đồng thời, đẩy mạnh chiến tranh du kích
Hoạt động quân sự của ta gây cho địch nhiều thiệt hại lớn, Kế hoạch de Tassginy phá sản, Cao
uỷ kiêm Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương De Latre de Tassginy bị triệu hồi
Tháng 5/1953, tướng Henry Navare được cử sang làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp Navare đề
ra kế hoạch mới gọi là Kế hoạch Navare định giành thắng lợi quân sự có ý nghĩa chiến lược trong vòng 18 tháng làm cơ sở cho một giải pháp chính trị mở lối thoát danh dự cho Pháp
Nắm chắc âm mưu của địch, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 gồm nhiều chiến dịch trên một số hướng chiến lược, đẩy mạnh chiến tranh du kích, sẵn sàng tiêu diệt địch khi chúng đánh vào vùng tự do, nhằm đánh bại cố gắng cao nhất của Pháp-Mỹ Ta đã mở Chiến dịch Tây Bắc-Thượng Lào, phối hợp với Bạn giải phóng Trung, Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia, Chiến dịch Bắc Tây
Trang 9Nguyên Các chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, cực Nam Trung Bộ, Nam Bộ đẩy mạnh tiến công địch, tiêu hao, phân tán, kiềm chế lực lượng địch để phối hợp với các chiếndịch lớn.
Để giữ Tây Bắc Việt Nam và Thượng Lào, Navare cho quân nhảy dù tăng cường cho Điện BiênPhủ, xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh, thành nơi tập trung binh lực thứ hai sau đồng bằng Bắc Bộ Quân Pháp chấp nhận đương đầu với chủ lực ta ở Điện Biên Phủ, coi đây là nơi “nghiền nát chủ lực Việt Minh” Như vậy, Điện Biên Phủ lúc đầu không có trong
kế hoạch thì nay lại trở thành trung tâm điểm của kế hoạch Navare
Tháng 12/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ Lực lượng của ta gồm 3 đại đoàn (308, 312, 316) và 1 trung đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công binh-pháo binh (351) Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp được cử làm Tư lệnh chiến dịch Kế hoạch lúc đầu ta chủ trương tiến công ào ạt, đánh nhanh, thắng nhanh nhưng sau khi nắm cụ thểtình hình địch, ta thấy không bảo đảm chắc thắng nên chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”
Chiều ngày 13/3/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn Sau 3 đợt tiến công, 55 ngày đêm chiến đấu anh dũng, quyết liệt, mưu trí, sáng tạo, cuối ngày 7/5, quân ta giải phóng hoàn toàn Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch gồm 16.200 tên, trong đó có tướng Đờ Cáttơri Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng
Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược góp phần quyết định làm phá sản
kế hoạch Navare và làm sụp đổ ý chí xâm lược của thực dân Pháp dẫn tới thắng lợi cuộc kháng
Trang 10chiến chống Pháp.
Cuộc kháng chiến của nhân dân VN chống đế quốc Mỹ xâm lược tiếp sau thắng lợi của Kháng chiến chống Pháp (1945-54) để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneve được ký kết Cuộc chiến tranh kết thúc Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng Theo Hiệp định Geneve, sau 2 năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, đã lợi dụng cơ hội, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy nguỵ quyền, nguỵ quân tay sai, viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài nước ta Cả dân tộc ta lại bước vào chiến đấu chống xâm lược mới
Cuộc kháng chiến trải qua 5 giai đoạn chiến lược:
Giai đoạn 1 (7.1954-12.1960): Thời kỳ giữ gìn lực lượng chuyển sang khởi nghĩa từng phần - phong trào Đồng Khởi Miền Bắc ra sức củng cố, xây dựng theo hướng XHCN làm căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước; miền Nam từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa từng phần, đánh bại cuộc chiến tranh một phía của Mỹ
Thi hành Hiệp định Geneve, LLVT ta rút ra miền Bắc tập kết Trong khi đó quân nguỵ tay sai rút vào miền Nam Với âm mưu chia cắt lâu dài VN, biến miền Nam VN thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, từ năm 1955, đế quốc Mỹ xây dựng cho chính quyền Ngô Đình Diệm một đội pháo binh, thiết giáp chủ lực cùng 54.000 quân địa phương dưới sự điều khiển trực tiếp của Mỹ thông qua gần 700 cố vấn quân sự
Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên ra sức phá hoại hiệp định Giơnevơ 1954
về Việt Nam, thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”, đánh phá điên cuồng, giết hại, giam cầm hơn nửa triệu cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước, đàn áp dã man phong trào đấu tranh của nhân dân đòi thi hành hiệp định Giơnevơ và thực hiện tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước cùng chính quyền dân sinh, dân chủ (xem vụ thảm sát Ngân Sơn-Chí Thạnh,
Trang 117.9.1954; vụ thảm sát Phú Lợi, 1.12.1958) Chỉ trong 4 năm (1955-1958), 9/10 cán bộ đảng viên bị bắt giết, tù đày, nhiều huyện không còn cơ sở đảng Cách mạng miền Nam phải chịu những tổn thất nặng nề và lâm vào tình thế rất hiểm nghèo
Trước hành động khủng bố điên cuồng của Mỹ - Diệm, thời gian đầu chúng ta chưa có biện pháp cụ thể chống cuộc “chiến tranh một phía” của địch, dần dần đảng viên và quần chúng cáchmạng tự thấy phải vũ trang chống lại kẻ thù, nếu không cách mạng sẽ bị tiêu diệt Thực hiện chủ trương đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ, nhân dân miền nam từng bước khôi phục, phát triển các đội vũ trang, đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, diệt ác, phá tề, tổ chức nhữngtrận phục kích nhỏ, chống càn, bảo vệ căn cứ Nhiều nơi đã tìm lại vũ khí ta chôn giấu khi đi tập kết, xây dựng các đội vũ trang tuyên truyền, tự vệ (Vĩnh Long, Cần Thơ) Từ năm 1957, hoạt động vũ trang đã tăng lên phối hợp cùng đấu tranh chính trị Một số đơn vị vũ trang cách mạng đã tập kích, phục kích địch, bảo vệ căn cứ Sang năm 1958, phong trào phát triển hơn, có trận tiến công quận lỵ Dầu Tiếng cách Sài Gòn 70km, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn địch, diệt
200 tên, làm chủ quận lỵ; trận tập kích vào trụ sở phái đoàn cố vấn Mỹ (MAAG) ở Biên Hòa, diệt nhiều tên Mỹ
Kế thừa, phát triển các nghị quyết Trung ương, Bộ Chính trị, Xứ ủy Nam Bộ và Đề cương Cáchmạng miền Namcủa đồng chí Lê Duẩn, tháng 1/1959, Hội nghị lần thứ XV Ban chấp hành
Trung ương Đảng đã xác định: con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền
Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng nhân dân, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ chính quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân
Hội nghị còn dự đoán, vì đế quốc Mỹ là đế quốc hiếu chiến nhất nên cuộc khởi nghĩa của nhân dân có thể chuyển thành chiến tranh trường kỳ giữa ta và địch
Ngay sau khi Hội nghị, Trung ương Đảng, Chính phủ đã cho lập Đoàn vận tải quân sự Trường Sơn (Đoàn 559), bắt đầu chi viện người và vũ khí cho miền Nam
Nghị quyết 15 của Đảng đã đáp ứng yêu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam, mở đường cho cách mạng tiến lên Dưới ánh sáng nghị quyết Hội nghị Trung ương XV (1.1959), năm 1959-60 các cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở vùng núi miền Trung và đồng bằng Nam Bộ, giành quyền làm chủ về tay nhân dân ở hàng nghìn xã, ấp, đẩy địch vào thế bị động,
Trang 12khủng hoảng (xem nổi dậy ở Vĩnh Thạnh, 6.2-4.1959; nổi dậy ở Bắc Ái, 7.2-4.1959; khởi nghĩaTrà Bồng, 8.1959, đồng khởi Bến Tre, 17.1-20.4.1960 ) Cuối năm 1959-đầu năm 1960,
một phong trào “Đồng Khởi” nổi dậy khởi nghĩa diệt bọn tề điệp ác ôn, giải tán chính quyền cơ
sở, diệt đồn, phá ách kìm kẹp của địch nổ ra rộng khắp các tỉnh Nam Bộ và vùng rừng núi Trung Trung Bộ, nhân dân giành được quyền làm chủ Đặc biệt, trận tiến công Tua Hai (Tây Bắc thị xã Tây Ninh 7km) rạng sáng ngày 21/1/1960, LLVT ta tiêu diệt 500 tên, bắt giáo dục
500 tên khác, thu hàng ngàn súng Đây là một trong những trận đánh tiêu diệt lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang miền Nam
Phong trào “Đồng Khởi” đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công, từ hình thức đấu tranh chính trị là chính có lực lượng vũ trang hỗ trợ, chuyển sang kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự, từ đấu tranh quân sự từng bước lên ngang hàng đấu tranh chính trị
Từ cao trào đồng khởi của nhân dân, LLVT cách mạng miền Nam phát triển nhanh chóng; Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTDTGPMN) ra đời (20.11.1960) Từ miền Bắc, tuyến vận tải chiến lược vào miền Nam bằng đường bộ, đường biển hình thành và phát triển Cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công
Giai đoạn 2 (1.1961-6.1965): Cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng, đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ
Thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” đã làm thất bại cuộc chiến “chiến tranh một phía” của Eisenhower, đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm vào thời kỳ khủng hoảng triền miên Trước nguy
cơ sụp đổ của chính quyền tay sai, Mỹ phải đối phó bằng chiến lược chiến tranh đặc biệt, ra sứccủng cố và phát triển QĐ Sài Gòn, tăng cường viện trợ, cố ván và lực lượng yểm trợ của Mỹ;
mở các cuộc hành quân càn quét, gom dân, lập ấp chiến lược theo kế hoạch Stanley-Taylor
Chính quyền Kennedy công bố học thuyết chiến tranh mới: Chiến lược “Chiến tranh đặc
biệt” và chọn miền Nam Việt Nam làm nơi thí điểm Nội dung chủ yếu của “Chiến tranh đặc
biệt” là: củng cố ngụy quyền, tăng cường khả năng chiến đấu của ngụy quân bằng chỉ huy,
trang bị vũ khí, yểm trợ kỹ thuật Mỹ, tăng cường phá hoại miền Bắc, chống miền Nam thâm nhập, bình định dồn dân vào “ấp chiến lược” để thực hiện “tát nước bắt cá”, cô lập, đi đến tiêu diệt cách mạng miền Nam Ngụy quyền, ngụy quân và “ấp chiến lược” được coi là xương
Trang 13sống của “Chiến tranh đặc biệt”.
Trên đà thắng lợi, cách mạng miền Nam tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, đưa dần đấu tranh vũ trang lên ngang hàng với đấu tranh chính trị, giành và giữ thế chủ động, xây dựng lực lượng mọi mặt, củng cố mở rộng căn cứ địa, phá “chương trình bình định” của Mỹ-Diệm, đẩy cách mạng lên một bước mới Ngày 16/2/1962, MTDTGPMN ra đời
đã cổ vũ động viên nhân dân miền Nam bước vào giai đoạn cách mạng mới Cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đánh địch bằng 3 mũi giáp công, trên 3 vùng chiến lược; đẩy mạnh chiến tranh du kích tiêu hao, tiêu diệt địch, đánh bại các chiến thuật trực thăng vận, thiết
xa vận của Mỹ và QĐ Sài Gòn, hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh chống càn quét và phá ấp chiến lược Trong năm 1962, quân dân miền Nam đã kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự đánh bại hàng loạt cuộc hành quân càn quét lùa dân vào “ấp chiến lược” Nhiều trận lực lượng vũ trang
ta tiến công các căn cứ địch, diệt hàng trăm tên “Chương trình bình định” 18 tháng của Diệm thất bại
Mỹ-Tháng 1/1963, trận Ấp Bắc (2.1.1963), địch dùng 2.000 quân, có máy bay, tàu chiến, pháo binh
phối hợp do 51 cố vấn Mỹ chỉ huy với chiến thuật “tân kỳ” trực thăng vận, thiết xa vận càn
quét vào Ấp Bắc (Cai Lậy, Mỹ Tho) Lực lượng ta chỉ có một tiểu đoàn tăng cường, bằng 1/10 lực lượng địch nhưng đã đánh bại quân địch, diệt 450 tên Chiến thắng Ấp Bắc quy mô không lớn nhưng có ý nghĩa báo hiệu sự phá sản của Chiến lược "Chiến tranh đặc biệt"
Được sự chi viện ngày càng lớn của miền Bắc, Quân Giải phóng Miền Nam VN (QGPMN VN)phát triển lớn mạnh, từ tác chiến du kích tiến lên tác chiến tập trung, mở các chiến dịch tiến công lớn nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân ngụy:
+ Chiến dịch Bình Giã (2.12.1964-3.1.1965, Bà Rịa, Long Khánh) là chiến dịch đầu tiên phối hợp chủ lực miền Nam, chủ lực quân khu và LLVT địa phương tiến công địch, loại khỏi vòng chiến đấu trên 1.700 địch
+ Chiến dịch Ba Gia (28.5-20.7.1965, Quảng Ngãi) loại khỏi vòng chiến đấu trên 2.000 địch, bắn rơi 18 máy bay, hỗ trợ nhân dân 29 xã thuộc 6 huyện tỉnh Quảng Ngãi nổi dậy làm chủ + Chiến dịch Đồng Xoài (10.5-22.7.1965, Bình Phước), tiêu diệt nhiều tiểu đoàn, chiến đoàn
Trang 14QĐ Sài Gòn, diệt gần 4.500 địch, bắn rơi 34 máy bay, góp phần cùng với cao trào đấu tranh chính trị, nổi dậy của nhân dân đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ
Những thắng lợi quân sự lớn chứng tỏ sự trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, đủ sức đánh bại hoàn toàn quân ngụy dù có sự chỉ huy, hỗ trợ của quân Mỹ Đến giữa năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ngụy sụp đổ
Ở miền Bắc, ngày 4/8/1964, Mỹ dựng lên sự kiện vịnh Bắc Bộ loan báo tàu chiến Mỹ bị Hải quân Việt Nam tấn công ở hải phận quốc tế ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, lấy cớ để ngày 5/8/1964, gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân đối với miền Bắc nước ta Khi Mỹ gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ (8.1964) và dùng không quân đánh phá một số nơi, quân và dân ta
đã đánh thắng ngay từ trận đầu (xem trận chiến đấu phòng không 5.8.1964) và kiên quyết đánh trả hoạt động phá hoại tiếp theo của không quân Mỹ (từ 2.1965)
Giai đoạn 3 (7.1965-12.1968): Phát triển thế tiến công chiến lược, đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và chiến tranh phá hoại lần 1 (7.2.1965-1.11.1968) của Mỹ ở miền Bắc
Chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của Kennedy đề ra 3 hình thức chiến tranh: đặc biệt,
cục bộ, tổng lực Sau thất bại của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", Mỹ bị động chuyến sang tiến hành chiến lược "Chiến tranh cục bộ" hòng nhanh chóng kết thúc chiến tranh, cuộc “Chiến tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, nhưng sử dụng mức độ hạn chế quân Mỹ cùng với quân chư hầu trong khu vực và quân ngụy, trong đó quân Mỹ giữ vai trò tác
chiến chủ yếu trên chiến trường Mục tiêu “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam là nhanh chóng
tạo ra ưu thế binh lực, hỏa lực “tìm diệt” chủ lực ta, giành lại thế chủ động trên chiến trường,
mở rộng và củng cố vùng kiểm soát, giành lại dân; đồng thời gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, phá hoại sự nghiệp xây dựng miền Bắc, làm lung lay ý chí giải phóng miền Nam của Đảng ta và nhân dân ta
Từ giữa năm 1965, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền Nam (từ 184.300 lên 536.000 quân (cuối năm 1968), lúc cao nhất tới 542.000), cùng với quân các nước phụ thuộc Mỹ (57.800 quân, lúc cao nhất tới 70.300) và QĐ Sài Gòn (650.000 quân, lúc cao nhất gần 1 triệu) hợp thành 2 lực lượng chiến lược với những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất (trừ vũ khí
nguyên tử); liên tục mở 2 cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-66 và 1966-67 với ý đồ tìm
Trang 15diệt cơ quan đầu não kháng chiến và một bộ phận chủ lực QGPMN VN
Quân và dân miền Nam giữ vững và phát triển thế tiến công, quân dân miền Nam càng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ Sau Sau trận Núi Thành mở đầu đánh Mỹ, trận Vạn Tường (Bình Sơn, Quảng Ngãi) tháng 8/1965, ta đẩy lùi cuộc hành quân của quân Mỹ, diệt 900 tên đã chứng
tỏ quân ta có đủ khả năng diệt quân Mỹ Sau đó, một phong trào “Tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy
mà diệt” dâng cao khắp miền Nam
Từ những trận đầu thắng Mỹ (trận Núi Thành, 26.5.1965; trận Vạn Tường, 18-19.8.1965; trận Đất Cuốc, 8.11.1965… ), tiến lên mở các chiến dịch tiến công và phản công (chiến dịch Plây
Me, 19.10-26.11.1965; chiến dịch Bàu Bàng-Dầu Tiếng, 12-27.11.1965; chiến dịch Tây Sơn Tịnh, 20.2-20.4.1966; chiến dịch Sa Thầy, 18.10-6.12.1966; chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Junction City (Gianxơn Xiti), 22.2-15.4.1967; chiến dịch Đắc Tô I, 3-22.11.1967…) làm
thất bại một bước quan trọng chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ Hai cuộc phản công chiến
lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của Mỹ với trên 1.000 cuộc hành quân lớn nhỏ đánh
vào các vùng giải phóng của ta, lớn nhất là cuộc hành quân Junction City bị thất bại Trên toàn
miền Nam, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 15 vạn quân địch, trong đó có 68.200 tên Mỹ Phong trào đấu tranh chính trị vùng địch chiếm, nhất là các thành phố lớn dâng lên mạnh mẽ làm mất ổn định chế độ Mỹ-Ngụy Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bị thất bại một bước quan trọng
Nắm vững thời cơ có lợi, đêm 30, rạng ngày 31/1/1968, quân dân ta mở Cuộc tổng tiến công vànổi dậy Tết Mậu Thân đồng loạt tiến công địch ở 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn trêntoàn miền Nam gây cho địch thiệt hại lớn và khủng hoảng tinh thần; vây hãm, tiến công quân
Mỹ trong chiến dịch Đường 9-Khe Sanh (20.1-15.7.1968, từ Cửa Việt đến biên giới Việt-Lào), giành thắng lợi lớn, bồi thêm một đòn nặng vào quân Mỹ-Ngụy, tạo bước ngoặt quyết định của cuộc Kháng chiến chống Mỹ
Quân dân miền Bắc quyết tâm vừa đánh thắng Mỹ vừa đảm bảo sản xuất và đời sống, vừa tích cực chi viện cho miền Nam Đến cuối năm 1968, quân dân miền Bắc đã bắn rơi, bắn cháy 3.234máy bay, diệt và bắt sống hàng nghìn giặc lái Mỹ, bắn chìm, bắn cháy 143 tàu chiến, tàu biệt kích Mỹ-Ngụy, đánh bại chiến tranh phá hoại lần 1 bằng không quân và hải quân của Mỹ
Bị thất bại nặng nề ở VN, trước làn sóng phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam trên thế giới
Trang 16và ngay trong nước Mỹ ngày càng mạnh mẽ, ngày 1.11.1968, chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bốchấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc và phải ngồi vào bàn thương lượng ở Hội nghị Paris (1968-1973) “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ bị phá sản.
Giai đoạn 4 (1.1969-1.1973): Đánh bại chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh và chiến tranh phá
hoại lần 2(6.4.1972-15.1.1973) của Mỹ ở miền Bắc, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris 1973 về Việt Nam, rút hết quân Mỹ về nước
Chiến lược chiến tranh cục bộ bị phá sản, Nixon chuyển sang thực hiện chiến lược "VN hoá chiến tranh", ra sức phát triển và hiện đại hoá QĐ Sài Gòn để từng bước thay thế quân Mỹ rút dần về nước; đẩy mạnh bình định ở miền Nam VN và mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương
Sau cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Sihanouk (xem đảo chính Lon Non-Syriach Matăc, 18.3.1970), Mỹ và QĐ Sài Gòn mở cuộc tiến công xâm lược Campuchia nhằm cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược Bắc-Nam của VN QGPMNVN phối hợp với LLVT cách mạng Campuchia tổ chức các chiến dịch phản công đánh bại các cuộc tiến công lớn của địch (xem chiến dịch Đông Bắc Campuchia, 29.4-30.6.1970; chiến dịch Đông Bắc Campuchia, 4.2-
31.5.1971; chiến dịch Đường 6, 27.10-4.12.1971), mở rộng vùng giải phóng của cách mạng Campuchia trên 5 tỉnh
Đầu 1971, QĐ Sài Gòn được sự yểm trợ, chi viện hoả lực của Mỹ và sự phối hợp của QĐ phái hữu Lào mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh ra đường 9-Nam Lào, nhằm cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược Bắc-Nam của ta, chia cắt 3 nước Đông Dương QGPMN VN phối hợp với LLVT cách mạng Lào mở chiến dịch phản công, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân của địch (xem chiến dịch Đường 9-Nam Lào, 30.1-23.3.1971)
Phát huy quyền chủ động tiến công, từ 3.1972, ta mở cuộc tiến công chiến lược vào hệ thống phòng ngự của địch trên 3 hướng, gồm các chiến dịch: chiến dịch Trị Thiên (30.3-27.6.1972); chiến dịch Bắc Tây Nguyên 30.3-5.6.1972 và chiến dịch Nguyễn Huệ 1.4.1972-19.1.1973; tiếp
đó, mở các chiến dịch tiến công tổng hợp đánh phá bình định ở đồng bằng Khu 5, Khu 8 (xem chiến dịch Bắc Bình Định, 9.4-3.5.1972; chiến dịch đồng bằng sông Cửu Long, 10.6-
10.9.1972); phối hợp với LLVT cách mạng Lào mở chiến dịch tiến công giải phóng Cánh ĐồngChum và đánh bại các cuộc phản kích, lấn chiếm của địch (xem chiến dịch Cánh Đồng Chum-Mường Sủi, 18.12.1971-6.4.1972; chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng,
Trang 1721.5-15.11.1972)…
Trước thất bại nặng nề của QĐ Sài Gòn, Mỹ cho không quân và hải quân trở lại đánh phá ác liệt ở miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc Cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối 12.1972 (chiến dịch Linebacker II) bị đập tan (xem chiến dịch phòng không Hà Nội-Hải Phòng, 18-29.12.1972) và là một “Điện Biên Phủ trên không” đối với đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973), rút hết quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ ra khỏi miền Nam VN, cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của
VN Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” thất bại
Giai đoạn 5 (12.1973-30.4.1975): tạo thế, tạo lực và thực hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam kết thúc thắng lợi cuộc Kháng chiến chống Mỹ
Tuy rút hết quân đội, nhưng Mỹ vẫn để lại 2 vạn cố vấn quân sự đội lốt dân sự, để lại vũ khí, trang bị chiến tranh và tiếp tục viện trợ quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu Quân ngụy lên đến 1.100.000 tên và ra sức lấn chiếm phá hoại Hiệp định Paris Quân dân miền Nam kiến quyết đánh bại các cuộc hành quân “tràn ngập lãnh thổ” của địch, cả nước khẩn trương tạothế, tạo lực để tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam
Được Mỹ tiếp sức, chính quyền Sài Gòn ra sức phá hoại hiệp định Paris, liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, các chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”
Quân và dân ta đánh bại các cuộc tiến công lấn chiếm của địch, khẩn trương tạo thế, tạo lực,
mở rộng vùng giải phóng Thắng lợi của chiến dịch Đường 14-Phước Long
(13.12.1974-6.1.1975) đặt cơ sở cho hội nghị Bộ Chính trị họp cuối năm 1974, đầu 1975 thông qua kế hoạchchiến lược giải phóng miền Nam (1975-76), quyết định nắm vững thời cơ chiến lược, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 với 3 đòn tiến công chiến lược
Đòn thứ nhất: Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4-24/3/1975) Từ cuối năm 1974, quân ta
đã bí mật dàn thế trận chiến dịch Tây Nguyên, lấy Buôn Ma Thuột làm trận then chốt mở màn Ngày 4/3, quân ta tiến công cắt đường 19, 21 nối Tây Nguyên với đồng bằng khu V Ngày 9/3, đánh chiếm Đức Lập-Núi Lửa, cô lập hoàn toàn Buôn Ma Thuột
Chiến dịch Tây Nguyên mở màn bằng trận Buôn Ma Thuột (10-11.3.1975) Ngày 10/3, 4 cánh quân ta tiến công Buôn Ma Thuột Sau 2 ngày chiến đấu, quân ta tiêu diệt hoàn toàn quân địch
ở đây, làm chủ thị xã Địch điều quân phản kích bị quân ta diệt gọn Nắm bắt ý đồ của địch rút
Trang 18chạy khỏi Tây Nguyên, ta bố trí đánh chặn và truy kích tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn Quân khu 2 của địch, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên và các tỉnh Nam Trung Bộ.
2- Đòn thứ hai: Chiến dịch Trị Thiên-Huế (5-26.3.1975) và chiến dịch Đà Nẵng
(28-29.3.1975) cùng với hoạt động tiến công và nổi dậy của quân và dân Khu 5 giải phóng các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và 2 thành phố Huế, Đà Nẵng, loại khỏi chiến đấu Quân đoàn 1-Quân khu 1 của địch Vừa đánh địch rút chạy khỏi Tây
Nguyên, ngày 21/3, quân ta thọc sâu bao vây Huế Ngày 26/3, quân ta tiêu diệt và làm tan rã lực lượng địch ở Huế, thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên được giải phóng Quân ta tiếp tụctấn công Đà Nẵng, phối hợp với quần chúng nổi dậy Ngày 29/3, Đà Nẵng được giải phóng
Đòn thứ ba: Chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975) Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định chiến dịch tiến công vào Sài Gòn giải phóng hoàn toàn miền Nammang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh
Sau khi chọc thủng và đập tan tuyến phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn-Gia Định của địch, ngày 26/4, 5 cánh quân ta tiến vào Sài Gòn; sáng 30.4, thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trong nội đô, 10 giờ 45 phút, ngày 30/4, xe tăng ta tiến vào Dinh Độc Lập, tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện; kết hợp với nổi dậy của nhân dân, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 3-Quân khu 3 của địch, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, buộc chính quyền Sài Gòn phải đầu hàng vô điều kiện, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng Đồng thời phát triển tiến công và nổi dậy tiêu diệt, bắt và làm tan rã toàn bộ lực lượng Quân đoàn 4-Quân khu 4 của địch, giải phóng các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các hải đảo do QĐ Sài Gòn đóng giữ, kết thúc toàn thắng cuộc Kháng chiến chống Mỹ
Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi hoàn toàn Nhân dân VN đã đánh thắng cuộc chiến tranhxâm lược thực dân mới với quy mô lớn quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, ác liệt nhất từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai Đây cũng là cuộc chiến bại chưa từng có trong lịch sử 200 năm của nước Mỹ
Xâm lược VN, Mỹ đã qua năm đời tổng thống, huy động 6 triệu lượt binh sĩ Mỹ, chi phí 352 tỉ USD, ném xuống VN 7.850.000t bom, hàng chục triệu lít chất độc diệt cây, sử dụng những loại
vũ khí, kỹ thuật mới nhất (chỉ trừ vũ khí hạt nhân), nhưng đã chịu thất bại chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng