Quản lý hoạt động dạy học tiếng anh theo mô hình CIPO ở các trung tâm tiếng anh tại thành phố hà nội
Tính cấp thiết của đề tài
Tính cấp thiết về mặt lí luận
Để nâng cao chất lượng giáo dục, chúng ta phải quan tâm tới cả ba môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhiệm vụ nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường là một yếu tố tiên quyết Hoạt động dạy và học giữ vai trò trọng tâm, quyết định tới chất lượng và kết quả đầu ra của nhà trường và năng lực của thế hệ tương lai tham gia vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Với mục tiêu nâng cao năng lực của học sinh, sinh viên và người học và giúp toàn dân tiếp cận với kho tàng tri thức, cần chú tâm đến công tác dạy và học ngoại ngữ, nhất là môn tiếng Anh Tiếng Anh là chìa khóa giúp học viên bước vào những lâu đài khoa học của nhân loại để trau dồi kiến thức, tiếp cận với tri thức của toàn nhân loại và giúp họ đạt được điểm cao vào cổng đại học tại Việt Nam và trên thế giới hoặc nâng cao hiệu suất làm việc Đối với lực lượng ở độ tuổi lao động, nâng cao năng lực tiếng Anh sẽ giúp cho người làm việc đáp ứng được nhu cầu việc làm và đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của các cơ quan và tổ chức
Thời đại ngày nay nhân loại đã bước vào một nền khoa học mới, đó là
“công nghệ 4.0”, trong đó trí tuệ nhân tạo được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất vật chất Những người máy thay cho lao động giản đơn của con người, những thiết bị cảm biến có thể đo được những sự biến đổi tự nhiên trong các môi trường, đặc biệt là môi trường sinh thái giúp cho con người chung sống với sự biến đổi khí hậu trên toàn cầu Điều này đòi hỏi những lớp trẻ Việt Nam có được những kiến thức hiện đại đó Chính nhờ chiếc chìa khóa “ngoại ngữ” sẽ giúp chúng ta tiếp thu nhanh những kiến thức mới, đưa đất nước hòa nhịp với thế giới
11 Để nâng cao chất lượng học sinh trong quá trình học, sự chú trọng nâng cao nhận thức đúng đắn về môn học này là điều cần thiết Đồng thời, vai trò của những thày cô giáo tham gia vào quá trình giảng dạy và vai trò của các nhà quản lý tại các trung tâm giúp đạt được kết quả đầu ra và giúp những học sinh và học viên đạt chất lượng đầu ra tiếng Anh.
Tính cấp thiết về mặt thực tiễn
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và đang hội nhập với thế giới Trong những vấn đề để đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa, hoạt động dạy học tiếng Anh và quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại các trung tâm tiếng Anh là điều kiện tiên quyết Trong quá trình nghiên cứu và chọn lựa đề tài, trên địa bàn thành phố Hà Nội, có nhiều đề tài đề cập đến dạy học và quản lý dạy học môn tiếng Anh theo các cách tiếp cận khác nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu và phân tích phương pháp tiếp cận theo mô hình CIPO
Tại Hà Nội, số lượng các trung tâm đào tạo tiếng Anh ngày càng gia tăng do nhu cầu người học ngày càng nhiều Đồng thời, theo quy định mới của Bộ Giáo dục & Đào tạo, tiếng Anh trở thành điều kiện bắt buộc cho đối tượng học cao học và điểm thi IELTS – chứng chỉ quốc tế là điều kiện tiên quyết của nhiều trường đại học (đầu ra và tốt nghiệp) nên nhu cầu của người học ngày càng gia tăng Tuy nhiên, việc quản lí chất lượng dạy học (đầu vào, quá trình, đầu ra và bối cảnh) của các trung tâm chưa được tốt Chưa có nhiều nghiên cứu về quản lý chất lượng giáo dục ở các trung tâm tiếng Anh Vì thế, đề tài “Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo mô hình CIPO ở các trung tâm tiếng Anh tại thành phố Hà Nội” sẽ góp phần phân tích thực trạng hoạt động dạy học tiếng Anh và đề xuất những giải pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo mô hình CIPO
Nói riêng, thành phố Hà Nội luôn nâng cao nhận thức và quan tâm tới chất lượng của đào tạo, chú trọng vào tiêu chí đầu vào của môn tiếng Anh tại
12 các bậc học và kết quả đầu ra của môn học này Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu và phân tích ba hệ thống trung tâm tiếng Anh trên thành phố Hà Nội
Trên địa bàn thành phố Hà Nội, các trung tâm ngoại ngữ áp dụng nhiều mô hình quản lý khác nhau và một trong những mô hình giúp cho bộ máy quản lý hiệu quả là mô hình CIPO Mô hình này được UNESCO đề xuất và khuyến khích áp dụng và đang được nhiều quốc gia sử dụng từ 2000 Trong mô hình này, quản lý hoạt động dạy và học bao gồm quản lý các yếu tố: Bối cảnh (Context), Đầu vào (Input), Quá trình (Process) và Đầu ra (Outcome) Mô hình CIPO bộc lộc bốn ưu điểm: 1 - Theo nguyên tắc, mô hình quản lý CIPO sẽ phân tách các yếu tố nên ban lãnh đạo có thể tách biệt quyền lợi và trách nhiệm của các bộ phận giúp cho công việc và quản lý không bị chồng chéo; 2- Trong mô hình quản lý CIPO, các yếu tố độc lập nhưng có ảnh hưởng và tác động lên các yếu tố còn lại Do các yếu tố độc lập nên việc quản lý các yếu tố đó cũng riêng biệt và cách vận hành các yếu tố cũng sẽ khác nhau; 3- Đặc biệt, trong các tổ chức giáo dục những yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra là những thước đo về sự thành công của học viên và của tổ chức; Cuối cùng, ưu điểm của mô hình CIPO là quản lý yếu tố bối cảnh và quá trình Hai yếu tố nêu trên tuy không liên quan trực tiếp đến kết quả của một một khóa học hay kết quả kỳ vọng của tổ chức nhưng chúng có ảnh hưởng lớn đến kết quả cuối cùng (outcome).
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ xưa đến nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhằm nâng chất lượng giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng Những mô hình quản lý chất lượng dạy và học theo nhiều mô hình khác Ví dụ, mô hình dạy gia sư để nâng cao kỹ năng học tiếng Anh [17, 2019], mô hình áp dụng và quản lý Công nghệ Thông tin và hoạt động dạy và học ở Malaysia [14, 2013]; mô hình nâng cao chất lượng giáo viên theo tiêu chuẩn quốc tế ở Thái Lan [15, 2007]; mô hình cải tiến chất lượng giáo dục dựa vào các chỉ tiêu hoạt động [13,
2011]; Đối với giáo dục tại Philippines, nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục và kiểm soát chất lượng là mục tiêu quốc gia hàng đầu [19, 2015]; tổng hợp các báo cáo về Quản lý chất lượng giáo dục ở bậc cao học ở Thái Lan và các nước trong cộng đồng ASEAN [20, 2017], Mô hình Quản lý Chất lượng CIPP đánh giá chương trình tích hợp học tiếng Anh ở trung tâm Ngoại ngữ [13, 2019]; Một ví dụ thành công nữa của mô hình này là Từ khi mô hình CIPO được xây dựng và công bố, đã có rất nhiều nghiên cứu về mô hình này được áp dụng và thực hiện triển khai tại các cơ sở đào tạo tại các nước như ở bậc cao học tại Đài Loan nhằm đánh giá việc thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế ở bậc cao học [12, 2018]
Nhận biết về hiệu quả của quản lý theo mô hình CIPO trong giáo dục trên nhiều quốc gia trên thế giới, luận văn sẽ nghiên cứu về thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại các trung tâm tiếng Anh theo mô hình CIPO để tìm ra những điểm cần cải thiện và đưa ra nhưng giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động dạy và học
Trong quá trình nghiên cứu, trên thế giới, một số trung tâm dạy tiếng Anh cũng thực hiện quản lý theo mô hình CIPO Tuy nhiên, ngành giáo dục nói chung và đào tạo tiếng Anh nói riêng, hiệu quả kinh tế đòi hỏi các chủ sở hữu và nhà quản lý cần thời gian dài để hòa vốn và có lợi nhuận Bên cạnh đó, sự cạnh tranh của các trung tâm tiếng Anh lớn nên thời gian đầu tư dài khiến cho ban lãnh đạo không muốn đầu tư đầu chính lớn vào những yếu tố không sinh lời trong thời gian ngắn (yếu tố đầu vào và yếu tố quá trình) Vì thế, với các trung tâm quy mô nhỏ thì các nhà quản lý chưa tập trung xây dựng quản lý theo mô hình này
Khi nghiên cứu về quản lý dạy học theo CIPO tại Việt Nam nói chung, và những trung tâm dạy tiếng Anh nói riêng, qua nhiều phương pháp nghiên cứu, tác giả luận văn nhận thấy là bộ phận lãnh đạo chưa xây dựng hay áp dụng mô
14 hình quản lý dạy và học theo CIPO Mô hình này cần xây dựng bộ máy quản lý phân tách trách nhiệm rõ ràng và độc lập và đòi hỏi nguồn nhân viên với số lượng nhiều ở tất cả các bộ phận Nhưng thực tế, bộ phận nhân sự trong thời gian xây dựng và phát triển một trung tâm dạy tiếng Anh cần đầu tư về tài chính nhất là bộ phận tuyển sinh và bộ phận học thuật Tuy nhiên, trong mô hình CIPO thì việc đầu tư xây dựng đồng bộ đòi hỏi số lượng lớn về nguồn nhân viên và nguồn tiền đầu tư Vì những yếu tố khách quan và chủ quan nếu trên, tại các trung tâm dạy tiếng Anh tại Hà Nội, mô hình CIPO chưa được xây dựng và áp dụng.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận quản lý dạy học tiếng Anh theo mô hình CIPO Đây là cách tiếp cận nhằm giúp đánh giá hiện trạng của các yếu tố đầu vào, quá trình, kết quả đầu ra và các yếu tố bối cảnh trong hoạt động dạy học tiếng Anh Từ đánh giá thực trạng, luận văn sẽ đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy và học tiếng Anh
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tiếp cận CIPO để đánh giá hoạt động dạy học tại các trung tâm tiếng Anh tại Hà Nội Vài nét sơ bộ về tiếp cận CIPO như sau:
Tiếp cận CIPO sẽ đánh giá nghiên cứu ba cơ sở tiếng Anh tại Hà Nội qua các yếu tố đầu vào, các quá trình, các yếu tố đầu ra và bối cảnh Đầu tiên, nghiên cứu xác định các yếu tố đầu vào (Input), các quá trình và quy trình (Processing) và các yếu tố đầu ra (Outcome) và yếu tố bối cảnh (Context) tại ba cơ sở Sau đó, luận văn cũng thực hiện các bảng hỏi để điều tra và phỏng vấn sâu các quản lý tại ba cơ sở để nắm được hiện trạng Sau đó, luận văn tập hợp và phân tích những thông tin để đưa ra những đề xuất giúp nâng cao hiệu quả của quản lý hoạt động dạy học
Luận văn áp dụng bốn (04) phương pháp nghiên cứu như sau:
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu
5.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
5.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Nội dung cụ thể của các phương pháp được trình bày trong các chương của luận văn.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Luận văn xây dựng được một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học cho các trung tâm đào tạo tiếng Anh theo mô hình CIPO
Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đánh giá được thực trang hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học cho các trung tâm tiếng Anh tại Hà Nội và xác định nguyên nhân, hệ quả của nó Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học cho các trung tâm đào tạo tiếng Anh trên Hà Nội.
Kết cấu của luận văn
Cấu trúc của luận gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo mô hình CIPO
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo mô hình CIPO tại một số trung tâm tiếng Anh ở thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo mô hình CIPO tại một số trung tâm tiếng Anh ở thành phố Hà Nội
Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo mô hình CIPO
Một số khái niệm cơ bản
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý
Theo quan điểm của Mary Parker Follet: Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác [4, trang 1]
Từ góc độ Tâm lý học, một số nhà khoa học đưa ra khái niệm: Quản lý là sự tác động có đích hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó [4, trang 1]
Trong Từ điển Oxford về xã hội, G Marshall cho rằng: “Quản lý là quá trình giám sát, kiểm tra và phối hợp hoạt động sản xuất trong các tổ chức công nghiệp và các tổ chức chính thức khác” [4, trang 1]
Từ các khái niệm đã nêu ở trên, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng khái niệm: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra
Hoạt động dạy là những hoạt động có tổ chức và định hướng giúp học sinh thu được những kiến thức, hình thành và phát triển nhân cách Mục đích của dạy học là tổ chức và định hướng cho các học sinh giúp họ nắm được kiến thức, phát triển kỹ năng và thái độ Nội dung dạy học sẽ được thực hiện trong một môi trường an toàn và thuận lợi ở các trung tâm dạy tiếng Anh với những nội dung chương trình học đúng quy định và phù hợp với mục tiêu của người học
Hoạt động dạy của giáo viên gồm hai nội dung:
- Giáo viên nghiên cứu nội dung chương trình học, đánh giá trình độ của học viên, nghiên cứu sách và tài liệu tiếng Anh phục vụ cho mục tiêu của khóa học, nắm vững các phương pháp sư phạm và lựa chọn phương pháp sư phạm phù hợp cho dạy tiếng Anh và phù hợp với cơ sở vật chất
- Giáo viên phối hợp hoạt động với các học viên trong các buổi học Đây là các quá trình giảng dạy của giáo viên Giáo viên nêu mục đích bài học, giảng dạy kiến thức mới và ôn lại kiến thức có, hướng dẫn để học sinh tham gia tích cực và luyện tập trên lớp Đồng thời, giáo viên cũng hướng dẫn những nội dung bài tập về nhà giúp cho học viên luyện tập nhiều hơn và giành thời gian tự học có hiệu quả
Hoạt động học là quá trình thu nạp kiến thức, kỹ năng để từ đó hình thành cấu trức tâm lý, phát triển nhân cách toàn diện Quá trình thu nạp kiến thức và kỹ năng thể hiện từ sự tự giác, tích cực, tự tìm tòi và nghiên cứu dưới sự hỗ trợ của thày cô nhằm phát huy tính sáng tạo của bản thân Mục đích của hoạt động để đạt được tri thức, kỹ năng, thái độ, và hành vi
Hoạt động học bao gồm:
- Học viên phối hợp với giáo viên và các bạn trong lớp, tham gia tích cực trên lớp để lĩnh học kiến thức và kỹ năng mới;
- Học viên tự học ở nhà bao gồm hoàn thiện các bài tập được giao trên lớp và tìm hỏi đào sâu thêm về những kiến thức và kỹ năng mới đã được truyền đạt và cảm thụ trên lớp
Quá trình học là quá trình thu nạp kiến thức và kỹ năng mới và áp dụng các kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân Trên cơ sở đó, từng học viên sẽ hình thành và phát triển nhân cách cho riêng mình
Hoạt động dạy học “là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh, nhằm tổ chức, điều khiển hoạt động tâm lí của học sinh để giúp họ tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức khóa học, những kĩ năng, kĩ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức và hình thành thế giới quan khoa học cho họ” [5, trang 14]
1.1.2.4 Hoạt động dạy học tiếng Anh
Hoạt động dạy học tiếng Anh là sự tương tác giữa học viên và giáo viên để giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết bằng tiếng Anh để học viên chủ động chiếm lĩnh tri thức trên toàn thế giới từ đó thu nạp kiến thức với công cụ là tiếng Anh
1.1.2 Quản lí hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học là phương thức cần thiết trong hoạt động dạy học nhằm gắn lý thuyết với nhận thức và thực hành cho tất cả các thành tố liên quan đến hoạt động dạy và hoạt động học Quản lí hoạt động dạy học quan trọng và được chia làm ba giai đoạn chính như sau: kiểm tra chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến liên tục Đồng thời, quản lí hoạt động dạy học cũng chịu tác động của văn hóa của các quốc gia khác nhau và văn hóa tổ chức nên khả năng áp dụng tại mỗi quốc gia hay mỗi tổ chức, doanh nghiệp cũng có sự biến chuyển và thích nghi nhưng vẫn giữ nguyên giá trị cốt lõi để phát triển chất lượng, duy trì chất lượng và cải tiến chất lượng để phát triển bền vững Đây là khái niệm được định nghĩa trong luận văn này
Dựa trên khái niệm quản lý và hoạt động dạy học đã trình bày ở trên, trong nghiên cứu này chúng tôi quan niệm: Quản lý hoạt động dạy học là quá trình tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học viên nhằm đạt được mục tiêu đặt ra
Năm 2000, UNESCO đã giới thiệu mô hình quản lý CIPO (Context - Input - Process - Output/Outcome) nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng hoạt động dạy và học nói riêng
Mô hình đó được thể hiện trong hình vẽ dưới đây:
I: Input (đầu vào) O: Outcome (đầu ra) P: Process (quá trình) C: Context
Với mô hình này, quản lý hoạt động dạy học bao gồm hoạt động quản lý các yếu tố: Yếu tố bối cảnh (Context), Đầu vào (Input), Quá trình (Process), Đầu ra (Outcome) Hình vẽ là mô hình khung CIPO trong quản lý chất lượng theo bốn yếu tố Từ đó các tổ chức và trung tâm sẽ thiết kế xây dựng mô hình CIPO để quản lý chất lượng theo đặc điểm riêng của các tổ chức Đây là một mô hình CIPO đầy đủ để quản lý các yếu tố cụ thể trong CIPO (Claire Shewbridge, 2011):
BỐI CẢNH Nhận biết Vị trí địa lý Lịch sử Cơ sở pháp lý Đặc điểm tính cách cán bộ Đặc điểm tính cách học sinh
KẾT QUẢ CỦA HỌC SINH
Phát triển tầm nhìn của trường
Quá trình và Quy trình
Hướng dẫn và tư vấn
Hình 2: Mô hình CIPO tổng hợp các yếu tố cụ thể
Trung tâm tiếng Anh trong hệ thống giáo dục Việt Nam
1.2.1 Vài nét về các trung tâm tiếng Anh
Trong cả nước, cũng như ở Hà Nội, có rất nhiều các trung tâm tiếng Anh với quy mô lớn, vừa và nhỏ với nhiều sản phẩm đa dạng Các trung tâm định hướng đào tạo các đối tượng khác nhau nên sản phẩm dạy học tiếng Anh đa dạng Các sản phẩm đào tạo tiếng Anh hiện có trên thị trường: tiếng Anh mầm non, tiếng Anh tiểu học, tiếng Anh Trung học cơ sở, tiếng Anh Trung học Phổ thông, tiếng Anh luyện thi IELTS, TOEIC, TOEFL, tiếng Anh cho người đi làm tiếng Anh doanh nghiệp và tiếng Anh giành cho các kỹ năng mềm Hiện
24 tại không có một trung tâm dạy học tiếng Anh chuyên biệt một sản phẩm cho một đối tượng học viên
Tại Hà Nội, các trung tâm tiếng Anh có vị trí và thời gian thành lập trên bảy năm có những tên tuổi như: ILA, VUS, Apollo, Language Link, Hội đồng Anh Các trung tâm dạy học nhiều sản phẩm về tiếng Anh Riêng về sản phẩm đào tạo IELTS, ba trung tâm có vị thế trên thị trường là ACET, Hội đồng Anh và IDP
1.2.2 Vai trò của trung tâm tiếng Anh trong hệ thống giáo dục Việt Nam
Trong yêu cầu và nhiệm vụ phát triển nâng lực về tiếng Anh cho học sinh, sinh viên và toàn dân để giúp Việt Nam tiếp cận với nguồn tri thức thế giới qua ngôn ngữ được sử dụng trên toàn thế giới mà Bộ Giáo dục & Đào tạo đề ra trong đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân 2008 – 2020 và Thủ tướng đã ký quyết định 1400/QĐ-Ttg ngày 30 tháng 9 năm 2008 phê duyệt đề án của Bộ Giáo dục & Đào tạo: “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, v.v.” Tuy nhiên, đề án cũng gặp những khó khăn nhất định: khó khăn về đầu vào của học sinh và sinh viên, khó khăn về cơ sở vật chất (môi trường thực hành tiếng), khó khăn về quá trình dạy và học, v.v Điều này đòi hỏi những nhà quản lý tại các trung tâm TLT Academy cần có những biện pháp quản lý phù hợp và tạo động lực để nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh trong các trung tâm tiếng Anh
Khi thực hiện đề án phổ cập ngoại ngữ quốc gia đến năm 2020, chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng, sự quan tâm cho công tác dạy và học ngoại ngữ (tiếng Anh) Vì thế, môn tiếng Anh là môn bắt buộc trong nhà trường để giúp các em nâng cao các kỹ năng: Nghe, Nói, Đọc, và Viết
Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế, và tự do hóa thương mại cũng giúp Việt Nam nhận ra tầm quan trọng bậc nhất của năng lực ngoại ngữ giúp
Việt Nam hòa nhập và đổi mới để bắt kịp với kinh tế quốc tế vì mục tiêu đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại Trong xu hướng hội nhập, vai trò của tiếng Anh là vô cùng quan trọng, đặc biệt là với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế đứng thứ hai về số lượng người dùng, là ngôn ngữ toàn cầu, đào tạo cho đất nước những lực lượng lao động có chuyên môn và trình độ ngoại ngữ có thể đáp ứng được tiêu chuẩn đầu vào ở các trường đại học trên lãnh thổ Việt Nam và ở các nước khác [2]
1.2.3 Một số mô hình hoạt động của các trung tâm tiếng Anh
Mỗi trung tâm tiếng Anh có những đặc thù riêng nên mô hình hoạt động cũng khác nhau Trên thế giới, trong hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động dạy học tiếng Anh nói riêng, nhiều tổ chức đã áp dụng nhiều mô hình Trong số đó, về hoạt động giáo dục những mô hình được áp dụng nhiều là:
Năm 1960, một mô hình do Daniel Stufflebeam xây dựng và phát triển là mô hình CIPP để đánh giá hoạt động dạy học Các yếu tố này tạo nên chất lượng của một cơ sở giáo dục Mô hình CIPP là đánh giá hoạt động trên Bối Cảnh (Context), Đầu vào (Input), Quá trình (Process) và Sản phẩm (Product) [13];
Nội dung quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo mô hình
tại các trung tâm tiếng Anh
Từ mô hình CIPO căn bản, nghiên cứu này xem xét bốn yếu tố của mô hình CIPO được thể hiện như trong hình 2 Những nội dung cụ thể trong bốn yếu tố của mô hình CIPO được thể hiện trong sơ đồ dưới đây:
Hình 3: Mô hình CIPO tại Trung tâm tiếng Anh
Mỗi mô hình sẽ thể hiện những ưu điểm giúp các nhà quản lý xây dựng, thực hiện và điều chỉnh những sách lược, kế hoạch cho tổ chức vận hành Mô hình CIPO cũng không là một ngoại lệ Mô hình CIPO có ba (03) ưu điểm sau đây:
Thứ nhất, mô hình quản lý CIPO sẽ phân tách các yếu tố, nên ban lãnh đạo có thể tách biệt quyền lợi và trách nhiệm Dựa vào đó, các bộ phận thực hiện và quản lý không bị chồng chéo Trong các yếu tố của mô hình CIPO, các bộ phận quản lý cho các bộ phận đầu vào, đầu ra, bối cảnh và quá trình sẽ khác nhau Vì thế, trong quá trình vận hành khi nảy sinh vấn đề, bộ phận quản lý cấp cao có thể phân tách trách nhiệm để rút kinh nghiệm hoặc áp dụng các hình thức xử lý khác nhau Đồng thời, trong hoạt động trung tâm đạt được những thành quả thì các bộ phận quản lý cũng nhận biết được những điểm mạnh ở các bộ phận nào trong mô hình CIPO để phát huy
Yếu tố bối cảnh (Context)
- Điều kiện KT -CT- VH- XH
- Đặc điểm dạy học tiếng Anh
Yếu tố đầu vào (Input)
Yếu tố đầu ra (Outcome)
- Kết quả đầu ra của học viên;
- Mức độ Hài lòng của học viên và gia đình
Yếu tố Quá trình (Process)
- Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch dạy học
- Quản lý việc thực hiện chương trình dạy học
- Quản lý hoạt động dạy của giáo viên
- Quản lý hoạt động học của học viên
- Kiểm tra, giám sát hoạt động dạy và học
Thứ hai, trong mô hình quản lý CIPO, các yếu tố độc lập nhưng có ảnh hưởng và tác động lên các yếu tố còn lại Do các yếu tố độc lập nên việc quản lý các yếu tố đó cũng riêng biệt và cách vận hành các yếu tố cũng sẽ khác nhau Những yếu tố trong mô hình CIPO có những đặc điểm khác biệt nên những thành tố liên quan đến thực hiện và quản lý cũng có những đặc điểm riêng Tuy nhiên những đặc điểm riêng đó trong cả một mô hình CIPO sẽ có ảnh hưởng và tác động lên nhau và khi cần sự phối hợp thì các bộ phận quản lý cũng sẽ tìm ra nguyên nhân của vấn đề để cùng nhau xử lý giúp cho bộ máy quản lý tốt hơn
Thứ ba, ưu điểm của mô hình CIPO thể hiện rõ nét ở hai yếu tố bối cảnh và yếu tố quá trình Hai yếu tố nêu trên tuy không liên quan trực tiếp đến kết quả của một một khóa học hay kết quả kỳ vọng của tổ chức nhưng chúng có ảnh hưởng lớn đến kết quả đầu ra của học viên (Outcome) Những trung tâm tiếng Anh trên Hà Nội dù là thương hiệu nổi tiếng hay mới thành lập đều cần quan tâm đến hai yếu tố trên Ở từng giai đoạn việc tập trung nguồn lực cho quản lý cho yếu tố bối cảnh và quá trình có thể thay đổi nhưng ở bất cứ giai đoạn nào ban lãnh đạo nên có kế hoạch quản lý cho hai yếu tố trên
Bất cứ một mô hình nào cũng có những điểm hạn chế Mô hình CIPO đòi hỏi thời gian dài để xây dựng và thực hiện nên ban lãnh đạo sẽ cân nhắc việc thực hiện CIPO Đây là một khó khăn đặt ra cho mô hình CIPO Cần nói rằng, trong ngành giáo dục nói chung và đào tạo tiếng Anh nói riêng, việc đánh giá hiệu quả của CIPO là một quá trình công phu Một số nghiên cứu chỉ ra rằng khi mô hình CIPO được áp dụng trong giáo dục, các nhà lãnh đạo cần lên kế hoạch sớm và việc thực hiện các thành tố của các yếu tố cần theo lộ trình nên việc ra quyết định, điều chỉnh cần thời gian dài (Claire Shewbridge, 2011) Tuy nhiên, trên thực tế trong hoạt động ở các trung tâm tiếng Anh, ban lãnh đạo cần đưa ra những quyết định nhanh chóng và thời gian thực hiện điều
28 chỉnh đó không phù hợp với kế hoạch trong yếu tố quá trình CIPO và khiến ban lãnh sẽ hoài nghi về kết quả của mô hình CIPO và chưa thực sự tìm thấy sự phù hợp của mô hình CIPO khi áp dụng Tuy nhiên, hạn chế này tùy vào từng giai đoạn phát triển của các tổ chức và phụ thuộc vào định hướng và chiến lược của các công ty mà ban lãnh đạo sẽ cân nhắc thời điểm xây dựng và sẽ phát triển những thành tố trong các yếu tố của CIPO
Với những bằng chứng cả về lý luận và thực tiễn nêu trên, trong luận văn này, nhóm nghiên cứu có mục tiêu tìm hiểu thực trạng các quá trình cụ thể trong mô hình CIPO ở một số trung tâm đào tạo tiếng Anh tại Hà Nội; trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp hỗ trợ các trung tâm này hoàn thiện mô hình CIPO để nâng cao hiệu quả trong quản lý dạy và học tại trung tâm
Nội dung quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo mô hình CIPO tại các trung tâm tiếng Anh được xem xét cụ thể như sau:
1.3.1 Quản lý yếu tố đầu vào
Trong mô hình CIPO, quản lý yếu tố đầu vào bao gồm nhưng không giới hạn yếu tố quản lý khung chương trình học, quản lý học viên, quản lý giáo viên, quản lý cơ sở vật chất
Quản lý các yếu tố đầu vào nêu trên là sự quản lý của các bộ phận học thuật, bộ phận bán hàng, bộ phận chăm sóc khách hàng
1.3.1.1 Quản lý khung chương trình học
Khung chương trình học là yếu tố đầu vào tạo sự khác biệt về sản phẩm cho từng trung tâm tiếng Anh Khung chương trình bao gồm nội dung học đáp ứng nhu cầu của học viên và là tham chiếu để đánh giá giáo viên và đánh giá kết quả đầu ra Theo mô hình tổ chức, bộ phận học thuật đảm nhiệm sẽ quản lý việc xây dựng khung chương trình học Nhiệm vụ của bộ phận học thuật là xây dựng khung chương trình học của các trung tâm Đồng thời, bộ phận học thuật cũng có nhiệm vụ giám sát quá trình áp dụng khung chương trình học theo từng
29 khóa và đưa ra điều chỉnh (nếu có) để đáp ứng nguyện vọng của học viên và đảm bảo cam kết đầu ra
Khung chương trình học bao gồm nội dung học và đó là tiêu chí để các giáo viên xây dựng chi tiết bài giảng và thực hiện trên lớp Nội dung học sẽ giúp cho giáo viên truyền thụ kiến thức và đánh giá quá trình học cũng như quá trình kiểm tra kết quả bài học và đầu ra của khóa học
Quản lý học viên tại hai trung tâm sẽ do bộ phận tuyển sinh, bộ phận chăm sóc khách hàng và bộ phận học thuật phối hợp thực hiện Để tuyển sinh cho trung tâm, bộ phận tuyển sinh sẽ mang lại khách hàng cho trung tâm Hồ sơ những thông tin chung của học viên sẽ do bộ phận tuyển sinh thu thập Sau khi học viên trở thành khách hàng của trung tâm, bộ phận học thuật sẽ thực hiện đánh giá năng lực cho từng học viên về tiếng Anh bằng những công cụ kiểm tra đánh giá đầu vào Bên cạnh đó, bộ phận học thuật cũng có nhiệm vụ đánh giá các học viên trong quá trình học tập tại trung tâm để đưa ra những hỗ trợ về chuyên môn cho các học viên nhằm hướng tới đạt được kết quả đầu ra
Từ đó, bộ phận học thuật sẽ sắp xếp và tư vấn lộ trình học tiếng Anh cho học viên Ở bước tiếp theo và trong suốt quá trình học tập, bộ phận chăm sóc khách hàng sẽ quản lý hồ sơ của học viên Bộ phận chăm sóc khách hàng là đầu mối liên lạc giữa học viên, gia đình, và trung tâm và hỗ trợ học viên trong học tập và hướng tới kết quả đầu ra
Bộ phận học thuật và bộ phận giám sát chất lượng có nhiệm vụ quản lý giáo viên Ở các trung tâm đào tạo tiếng Anh, giáo viên là yếu tố cốt lõi đảm bảo chất lượng và sự bền vững của trung tâm Đội ngũ giáo viên sẽ là những người truyền lửa cho học sinh và là yếu tố quan trọng giúp học sinh chọn học tại một trung tâm trong thời gian dài hay ngắn Phương pháp sư phạm của mỗi
30 giáo viên sẽ có thể là nguồn động lực cho học viên nỗ lực và giúp các em tự học tốt Vì thế phương pháp sư phạm của mỗi giáo viên là yếu tố đặc biệt Mỗi trung tâm sẽ thu hút các giáo viên với những đặc điểm và phương pháp dạy học của riêng mình Bộ phận học thuật sẽ đánh giá giáo viên theo bộ tiêu chí và quy trình quản lý giáo viên Bên cạnh đó, bộ phận học thuật sẽ đánh giá giáo viên qua nhận xét và phản hồi của học viên Một tiêu chí để quản lý giáo viên là kết quả đầu ra của khóa học để làm căn cứ đánh giá kết quả thực hiện công việc của giáo viên Đồng thời, bộ phận giám sát chất lượng của trung tâm cũng có trách nhiệm quản lý giáo viên về những vấn đề không liên quan đến chuyên môn như thái độ, hành vi, v.v
1.3.1.4 Quản lý cơ sở vật chất
Quản lý yếu tố quá trình
Quản lý yếu tố quá trình trong hoạt động dạy học bao gồm những nội dung sau: Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch dạy học, quản lý việc thực hiện chương trình dạy học, quản lý hoạt động dạy của giáo viên, quản lý hoạt động học của học viên, kiểm tra, giám sát hoạt động dạy và học
Trước hết, bộ phận học thuật sẽ chịu trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch dạy học cho các tổ chức Việc xây dựng kế hoạch dạy học theo định hướng phát triển của tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của học viên và mang tính đặc thù của mỗi tổ chức để tạo lợi thế cạnh tranh Đồng thời, bộ phận học thuật cũng quản lý chất lượng của kế hoạch dạy học nhằm hướng tới kết quả đầu ra của khóa học
Thứ hai, sau khi kế hoạch dạy và học được hoàn thành và phê duyệt, bộ phận học thuật sẽ quản lý khâu thực hiện những nội dung đã được phê duyệt Quá trình thực hiện chương trình dạy và học sẽ bám sát kế hoạch về nội dung và trình tự trong kế hoạch
Thứ ba, sau khi kế hoạch dạy học được phê duyệt, những người thực hiện kế hoạch là đội ngũ giáo viên Họ là người bám sát kế hoạch dạy học để thực hiện việc xây dựng kế hoạch giảng dạy, bài giảng và thực hiện nội dung bài giảng Toàn bộ cả quá trình dạy của giáo viên chịu sự giám sát chất lượng của bộ phận học thuật Đồng thời, những nhận xét và đánh giá của học viên cũng giúp cho bộ phận học thuật quản lý hoạt động của giáo viên được hiệu quả và chặt chẽ hơn Quản lý giáo viên có thể thông qua dự giờ, phiếu đánh giá và nhận xét từ học viên
Thứ tư, bộ phận học thuật sẽ quản lý hoạt động của học viên Quản lý hoạt động của học viên sẽ dựa trên sự tham gia của học viên trong toàn khóa học Bộ phận học thuật cũng quản lý học viên thông qua những đánh giá về chuyên môn của những giáo viên tham gia giảng dạy
Cuối cùng, trong quản lý yếu tố quá trình sẽ bao gồm kiểm tra, giám sát hoạt động dạy và học Kiểm tra, giám sát sẽ được thực hiện bởi hai bộ phận là quản lý học thuật và kiểm soát chất lượng Bộ phận học thuật sẽ dựa vào các bài kiểm tra và kết quả đầu ra là tiêu chí để giám sát quá trình thực hiện và kết quả của quá trình Bộ phận học thuật sẽ có kế hoạch quan sát dự giờ định kỳ
32 và đột xuất để kiểm tra thực hiện Bên cạnh đó, bộ phận quản lý chất lượng sẽ kiểm tra định kỳ bộ phận học thuật trong quá trình thực hiện quản lý Đây là quản lý chéo Nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiểm soát chất lượng sẽ kiểm tra chất lượng của hoạt động dạy và hoạt động học để đưa ra những điều chỉnh cho quá trình trên cơ sở thống nhất với bộ phận học thuật
1.4.1 Quản lý yếu tố đầu ra
Nội dung quản lý đầu ra bao gồm quản lý kết quả đầu ra của các học viên và sự Hài lòng của học viên & phụ huynh Bộ phận học thuật chịu trách nhiệm quản lý kết quả đầu ra dựa vào các kết quả các bài kiểm tra trong quá trình dạy học để đưa ra can thiệp cho những giai đoạn tiếp theo nhằm đảm bảo kết quả đầu ra Những bài kiểm tra do bộ phận học thuật xây dựng độc lập không nằm trong khung chương trình học sẽ giúp cho việc đánh giá khách quan và sẽ đưa ra những can thiệp về nội dung, phương pháp sư phạm và những biện pháp khác phù hợp để giáo viên và học viên đạt được kết quả đầu ra của chương trình học
Trong quản lý yếu tố đầu ra, tiêu chí đánh giá bao gồm cả mức độ Hài lòng của học sinh và phụ huynh Tuy đây là yếu tố định tính nhưng sẽ thể hiện của việc đạt được kết quả đầu ra vì các học viên tại trung tâm sẽ theo học nhiều khóa học và gắn bó với trung tâm dài
1.4.2 Quản lý yếu tố bối cảnh
Những yếu tố bối cảnh bao gồm điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội, hoàn cảnh của mỗi gia đình, tâm lí của học viên, môi trường cạnh tranh, đặc điểm của dạy học tiếng Anh, và năng lực của người quản lý Bối cảnh là những yếu tố ảnh hưởng đến đầu vào, quá trình và đầu ra Trong hoạt động dạy học, bối cảnh của gia đình sẽ tác động đến yếu tố đầu vào, quá trình và đầu ra Hoàn cảnh gia đình sẽ tạo nên tính cách, thói quen, suy nghĩ và hành vi của mỗi con người Chính vì thế, khi tham gia các khóa học tiếng Anh, mỗi học viên sẽ
33 có những mục tiêu và cách học tập khác nhau Do đó, kết quả học tập hoặc đầu ra của mỗi học sinh là khác nhau Một yếu tố ảnh hưởng tới quá trình học là tâm lý của các học viên Tâm lý là các yếu tố xung quanh môi trường sinh sống, học tập và sức ép của gia đình hay bản thân mỗi học viên Những yếu tố này cũng tác động đến quá trình học tập và kết quả khóa học Ở Hà Nội, khi chọn trung tâm học ngoại ngữ thì yếu tố giới thiệu, địa điểm và giáo viên ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định lựa chọn khóa học tiếng Anh Các phụ huynh hay các học viên đa số tìm các thông tin về giáo viên và các trung tâm gần nhà phù hợp cho mình Yếu tố người giới thiệu trong việc chọn lựa khóa học có sức ảnh hưởng lớn nhất đến việc đưa ra quyết định của việc chọn khóa học
Trong chương 1, luận văn nêu các khái niệm và định nghĩa về các yếu tố liên quan và tác động đến hoạt động quản lý dạy học theo tiếp cận CIPO: Bối cảnh (Context), Đầu vào (Input), Quá trình (Process), Kết quả đầu ra (Outcome) Bên cạnh đó, chương 1 cũng trình bày về đặc điểm của các trung tâm tiếng Anh dựa vào các phân tích các yếu tố trong mô hình CIPO Trong chương này, luận văn cũng nêu những hoạt động liên quan đến quản lý hoạt động dạy học theo mô hình CIPO Đây là những tiêu chí để đánh giá thực trạng quản lý dạy học cho các trung tâm tiếng Anh tại Hà Nội mà nội dung sẽ được thể hiện trong chương 2
Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo mô hình CIPO tại các trung tâm tiếng Anh ở Hà Nội
Khái quát về các Trung tâm tiếng Anh trên địa bàn Hà Nội
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
“Thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) và Nghị quyết của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số 15/2008/NQ-QH12, ngày 29 tháng 05 năm
2008 và Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2008, toàn bộ hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội sau hợp nhất, mở rộng địa giới hành chính Thủ đô bao gồm: Thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã thuộc huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình Thủ đô Hà Nội sau khi được mở rộng có diện tích tự nhiên 334.470,02 ha, lớn gấp hơn 3 lần trước đây và đứng vào tốp 17 Thủ đô trên thế giới có diện tích rộng nhất; dân số tăng hơn gấp rưỡi, hơn 6,2 triệu người, hiện nay là hơn 7 triệu người; gồm
30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã, 577 xã, phường, thị trấn
Hà Nội hiện nay vừa có núi, có đồi và địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tõy sang Đụng, trong đú đồng bằng chiếm tới ắ diện tớch tự nhiờn của thành phố Độ cao trung bình của Hà Nội từ 5 đến 20 mét so với mặt nước biển, các đồi núi cao đều tập trung ở phía Bắc và Tây Các đỉnh cao nhất là Ba Vì 1.281 mét; Gia Dê 707 mét; Chân Chim 462 mét; Thanh Lanh 427 mét và Thiên Trù 378 mét…Khu vực nội đô có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng
Về các lĩnh vực văn hóa – xã hội, Hà Nội đã đạt được những kết quả tích cực, trong đó sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếng Anh luôn tiếp tục phát triển và đổi mới: cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu người học Số lượng hệ thống trung tâm tiếng Anh không ngừng tăng lên
35 về số lượng Theo tổng cục thống kê, quý I-2020, thì có 5 triệu trẻ em bậc mầm non; 17 triệu học sinh phổ thông và trên 1,5 triệu sinh viên đại học, cao đẳng, trung cấp Với số lượng tuyển mới sinh viên đại học hơn 400 nghìn sinh viên/mỗi năm tương ứng với tăng 4,34% thì dự đoán đến năm 2021 thì số lượng sinh viên đại học chạm ngưỡng 1,6 triệu sinh viên Theo đó, nhu cầu tham gia các lớp giảng dạy tiếng Anh ngày càng tăng
Tiếng Anh là ngôn ngữ bắt buộc thứ 2 khi ngồi trên ghế nhà trường Các học sinh bậc tiểu học đã bắt đầu tiếp cận với tiếng Anh từ lớp 3 Không những vậy, nhiều gia đình có điều kiện, đã gửi con em mình vào học mẫu giáo chất lượng cao, được làm quen và giảng dạy tiếng Anh cơ bản như trẻ em người bản xứ với mục đích nhằm nâng cao khả năng tư duy cùng khả năng ngôn ngữ của trẻ.” [9]
2.1 Tình hình hoạt động dạy học tiếng Anh tại Hà Nội
Với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học tiếng Anh, Đảng và chính phủ đã đề ra nhiệm vụ nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ở các cấp học: “để tạo ra được hiệu quả trong dạy và học ngoại ngữ ở bậc học phổ thông, ngành giáo dục và đào tạo Thủ đô đã có nhiều nỗ lực trong công tác dạy và học, từ việc chú trọng chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, đến việc tăng cường công tác xã hội hóa, liên kết giảng dạy, mở ra các mô hình, hoạt động hiệu quả trong nhà trường để thu hút học sinh
Tính đến hết năm học 2018-2019, 100% số lượng giáo viên tiếng Anh của Hà Nôị đã được bồi dưỡng qua các lớp nâng cao năng lực tiếng Anh; 98% số lượng giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng phương pháp giảng dạy; 95% số lượng giáo viên tham gia các lớp ứng dụng công nghệ trong soạn giáo án Đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ (tiếng Anh) luôn đặc biệt được chú trọng Trong năm học 2018-2019, Hà Nội đã tổ chức tập huấn cho hai lớp với
50 giáo viên giảng dạy Tiếng Anh của các bộ môn Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học; đồng thời tập huấn Tiếng Anh cho 6 lớp với 200 giáo viên của các bộ môn
Tổ chức bốn hội thảo liên kết với các tổ chức nước ngoài, chia sẻ kinh nghiệm đổi mới giảng dạy; triển khai thực hiện chương trình giáo dục 10 năm, bắt đầu từ lớp 3 môn ngoại ngữ bắt buộc ở cấp tiểu học
Năm học này, Hà Nội tập trung chuẩn hoá, nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy Ngoại ngữ trong trường phổ thông (tiếp tục triển khai các hoạt động liên kết đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, thi cấp chứng chỉ B2, C1…); Tăng cường đào tạo giáo viên dạy song ngữ các môn khoa học tự nhiên cấp THPT
Song song với đó, ngành giáo dục Hà Nội chú trọng phát triển học ngoại ngữ 2 (Tiếng Nhật, Đức, Hàn) ở các trường có điều kiện Nhiều chương trình giao lưu đã được tổ chức trong nhà trường nhằm nâng cao năng lực nghe nói cho học sinh như: Câu lạc bộ nói tiếng Anh, tranh biện, hùng biện; Đăng cai tổ chức, tham gia các cuộc thi quốc tế (HOMC, IMSO )
Công tác xã hội hóa đối với các hoạt động dạy và học ngoại ngữ được tăng cường, ưu tiên việc mời chuyên gia trong nước và ngoài nước, các giáo viên nước ngoài thuộc chương trình liên kết tham giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ Để tập trung nâng cao chất lượng dạy học Ngoại ngữ; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GD-ĐT, năm học 2019-2020, ngành giáo dục Thủ đô sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả và mở rộng mô hình liên kết với các công ty, trung tâm Ngoại ngữ có yếu tố nước ngoài để tăng cường dạy bổ trợ Ngoại ngữ trong các trường phổ thông và chương trình làm quen Tiếng Anh cho trẻ mầm non Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học thiết yếu; ứng dụng mạnh mẽ CNTT trong dạy và học ngoại ngữ
Sở GD-ĐT Hà Nội cũng đề ra một loạt nhiệm vụ như: triển khai hiệu quả chương trình song bằng tại các trường THPT, THCS; thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đem lại từ hợp tác quốc tế cho công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học “Mở rộng các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài Tổ chức tốt kỳ thi Toán và Khoa học quốc tế IMSO 2019, Toán học Hà Nội mở rộng lần thứ 17 (HOMC, 2020) có sự tham gia của học sinh quốc tế Tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn, tiêu chí và phương pháp tiếp cận chung của khu vực và quốc tế trong xây dựng, cập nhật chương trình và triển khai đào tạo, trên cơ sở đó đề xuất xây dựng mô hình trường chất lượng cao tiệm cận chất lượng quốc tế Khuyến khích các cơ sở giáo dục nhận chuyển giao chương trình tiên tiến của nước ngoài, sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy các môn khoa học ở các trường chuyên, trường chất lượng cao.” [1]
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu thực tiễn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Nhằm đánh giá thực trạng hoạt động dạy học tại ba trung tâm tiếng Anh theo phương pháp định lượng Đối tượng khảo sát: tác giả luận văn đã tiến hành phát phiếu điều tra xin ý kiến của 31 người (bao gồm 6 giáo viên, và 25 học viên)
Nội dung khảo sát: Qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, luận văn sẽ tìm hiểu thực tế về hoạt động dạy và học tại từng trung tâm theo từng yếu tố Đầu vào, Đầu ra, Quá trình và bối cảnh trong mô hình CIPO
Bảng hỏi dành cho giáo viên nhằm tìm hiểu: mức độ Hài lòng của giáo viên với quản lý yếu tố đầu vào (khung chương trình và tài liệu giảng dạy, cơ sở vật chất, quản lý yếu tố quá trình (hỗ trợ các giáo viên trong công việc của họ) trong mô hình CIPO tại ba trung tâm tiếng Anh
Bảng hỏi dành cho học viên nhằm tìm hiểu: sự Hài lòng của học viên với quản lý yếu tố đầu vào (khung chương trình học, giáo viên, cơ sở vật chất), quản lý yếu tố quá trình (sự hỗ trợ của giáo viên, bộ phận học thuật, bộ phận chăm sóc khách hàng và bộ phận kiểm soát chất lượng)
- Xây dựng nội dung bảng hỏi
- Xác định đối tượng người khảo sát
- Thu thập và xử lý số liệu các phiếu khảo sát
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích: Mục đích của phương pháp phỏng vấn sâu: Nhằm đánh giá cụ thể hơn thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại ba trung tâm tiếng Anh mà luận văn lựa chọn nghiên cứu Đối tượng phỏng vấn sâu: số lượng mẫu khách thể tại ba trung tâm GPA
Việt Nam, FABL Việt Nam, TLT Academy là 20 người, bao gồm lãnh đạo trung tâm (5 người), giáo viên tham gia giảng dạy (3 người), học viên theo học tại các trung tâm (12 người); trong đó có 9/20 là nam, 11/20 là nữ
Nội dung phỏng vấn sâu:
Bộ công cụ phỏng vấn sâu có 3 phiên bản: phiên bản dành cho các lãnh đạo trung tâm (phù hợp với từng bộ phận), phiên bản dành cho các giáo viên và phiên bản dành cho học viên Mỗi phiên bản đều có các câu hỏi được thiết kế theo các yếu tố: Bối cảnh (Context): 12 câu hỏi, Đầu vào (Input): 15 câu hỏi, Quá trình (Process): 21 câu hỏi, và Đầu ra (Output/Outcome): 17 câu hỏi
Quy trình phỏng vấn sâu
- Xây dựng nội dung bảng hỏi phỏng vấn sâu
- Xác định đối tượng người được phỏng vấn
- Tiến hành phỏng vấn sâu
- Thu thập và phân tích kết quả phỏng vấn sâu
Các phỏng vấn sâu được thực hiện từ 10.2020 đến tháng 4.2021
Việc xử lý số liệu được thực hiện theo phương pháp định tính, dựa trên nội dung các phỏng vấn sâu
Mục đích: Phương pháp quan sát giúp cho người thực hiện nghiên cứu quan sát các hoạt động tại các trung tâm tiếng Anh Đối tượng quan sát: Nghiên cứu thực hiện quan sát trên những đối tượng học viên, giáo viên, bộ phận chăm sóc khách hàng, bộ phận học thuật Số lượng khách thể quan sát tại ba trung tâm GPA, FABL, TLT Academy gồm 31 người bao gồm lãnh đạo công ty (5 người), giáo viên (6 người), bộ phận học thuật (3 người), bộ phận chăm sóc khách hàng (6 người) và học viên (11 người)
Nội dung quan sát: Nghiên cứu thực hiện nghiên cứu tại từng bộ phận của các trung tâm tiếng Anh là đối tượng nghiên cứu ở môi trường hoạt động bình thường Đối với các bộ phận tuyển sinh, chăm sóc khách hàng, bộ phận học thuật, người thực hiện luận văn sẽ quan sát các công việc hàng ngày của các bộ phận, tham gia cuộc họp, đào tạo chuyên môn của bộ phận học thuật để quan sát hoạt động, thái độ, hành vi của các cán bộ trong bộ phận này Đối với học viên, người thực hiện luận văn có cơ hội tham gia một số buổi học để quan sát các hoạt động trong các giờ học
Các quan sát được thực hiện từ 10.2020 đến tháng 4.2021
Việc xử lý số liệu được thực hiện theo phương pháp định tính, dựa trên những quan sát
Thực trạng hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm tiếng
2.2.1 GPA Việt Nam a) Bối cảnh: Với sự mệnh của GPA Việt Nam là giúp các học viên trở thành công dân toàn cầu nên chiến lược phát triển kinh doanh là tập trung đào tạo tiếng Anh, kỹ năng sống và các kỹ năng cần thiết khi du học Với tiêu chí như vậy, GPA tập trung với đối tượng học sinh có những nhu cầu riêng biệt và hoàn cảnh gia đình có thu nhập cao b) Yếu tố đầu vào: Những học sinh ở GPA sẽ được chăm sóc đặc biệt với mô hình lớp học 1 – 1 hoặc sỹ số lớp nhỏ Vì thế, khung chương trình học của GPA được xây dựng riêng biệt cho từng khóa học và đáp ứng nhu cầu riêng biệt của từng học viên Dựa trên hai yếu tố đầu vào, GPA sẽ tuyển dụng những giáo viên giàu kinh nghiệm và có khả năng truyền đạt và phù hợp với nhu cầu của các học viên Để đáp ứng các nguyện vọng học tập và nhu cầu của các học viên, GPA cũng xây dựng các trang thiết bị và cơ sở vật chất hiện đại bao gồm máy chiếu và loa đài hiện đại Tổng quan, nguồn lực về tài chính để đáp ứng cho các yếu tố đầu vào tại GPA lớn
Về cơ sở vật chất, GPA đầu tư xây dựng phần mềm ECOSTUDY giúp việc liên lạc giữa trung tâm với phụ huynh, học sinh được nhanh chóng kịp thời và tự động Phần mềm ECOSTUDY có nhiều chức năng giúp quản lý học viên đầu vào, quản lý quá trình và quản lý đầu ra c) Yếu tố đầu ra: Đối với các khóa đào tạo IELTS thì cam kết đầu ra về điểm IELTS cho bốn kỹ năng Nghe, Nói, Đọc Viết hoặc tăng điểm trung bình của bốn kỹ năng Vì thế, các giáo viên hoặc bộ phận khảo thí tại GPA thiết kế các bài kiểm tra định kỳ và kiểm tra cuối khóa theo mô phỏng bài thi IELTS để đánh giá kết quả kiểm tra cuối khóa theo thang điểm IELTS giúp học viên có thể đạt được điểm kỳ vọng cho kỳ thi IELTS do hội đồng Cambridge đánh giá chính thức
41 d) Yếu tố quá trình: GPA Việt Nam xây dựng các quy trình quản lý khách hàng rõ ràng Sau khi học viên bắt đầu tham gia các khóa học tại GPA, các cán bộ chăm sóc khách hàng sẽ liên lạc thường xuyên về quá trình học tập tới học viên và gia đình, liên lạc với học viên khi đi muộn hoặc vắng mặt trên lớp Cán bộ chăm sóc khách hàng cũng là liên lạc giữa trung tâm và phụ huynh để cập nhật tình hình học tập của từng học viên Với phần mềm ECOSTUDY, các bộ phận trong GPA Việt Nam có thể chủ động quản lý các quá trình, các hoạt động của các bộ phận hiện có tại GPA
Trong các quá trình hiện hữu tại GPA, quá trình kiểm soát nội bộ chưa được thực hiện thường xuyên Các lớp học phân công cho giáo viên thì giáo viên do bộ phận học thuật quản lý và chưa liên quan đến các bộ phận khác trong GPA
Quá trình tư vấn tuyển sinh được thực hiện thường xuyên và liên tục Các nhân viên bán hàng tư vấn theo quy trình và có khả năng chốt khách hàng tốt Tuy nhiên, quá trình tư vấn tâm lí học sinh chưa được thiết lập và thực hiện [22]
2.2.2 FABL Việt Nam a) Yếu tố Bối cảnh: Sau ba năm thành lập, FABL quyết định đầu tư vào Bridge English về các sản phẩm đào tạo tiếng Anh từ năm 2020 Do mới mở rộng kinh doanh nên FABL Việt Nam đang tìm hiểu thị trường tại Hà Nội Tuy nhiên, FABL tiền thân đã đào tạo tiếng Nhật và tiếng Hàn nên cũng có kinh nghiệm trong đào tạo ngoại ngữ Ở giai đoạn này, Bridge English đang tìm hiểu tâm lý học viên và tâm lý phụ huynh ở phân khúc thu nhập cao b) Yếu tố đầu vào: FABL Việt Nam phát triển sản phẩm đào tạo tiếng
Anh với mô hình lớp 1 – 1 Họ tuyển sinh các học viên với các trình độ tiếng Anh cơ bản đến trình độ IELTS với điểm đầu ra cao để bắt đầu xây dựng hình ảnh Ở giai đoạn đầu này, Bridge English không tập trung vào việc xây dựng
42 khung chương trình và dựa vào đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm để giúp học sinh đạt kết quả như kỳ vọng Đối với đầu tư cơ sở vật chất, Bridge English chọn địa điểm học tại các trường cao đẳng và đại học để công việc tuyển sinh được thuận tiện và không cần đầu tư nhiều về trang thiết bị giảng dạy Bên cạnh đó, để xây dựng hình ảnh của công ty, Bridge English tuyển sinh các giáo viên cao cấp và có thương hiệu đào tạo học sinh đạt điểm IELTS cao trên 7.0
Từ tháng 7 năm 2020, FABL tập trung nguồn lực tài chính để phát triển kinh doanh và tuyển sinh bằng cách mở rộng các cơ sở để tuyển sinh ở nhiều quận khác nhau c) Yếu tố đầu ra: Đối với các khóa đào tạo IELTS thì cam kết đầu ra về điểm IELTS cho bốn kỹ năng Nghe, Nói, Đọc Viết hoặc tăng điểm trung bình của bốn kỹ năng Vì thế, bộ phận học thuật thiết kế các bài kiểm tra định kỳ và kiểm tra cuối khóa độc lập theo mô phỏng bài thi IELTS để đánh giá kết quả kiểm tra cuối khóa theo thang điểm IELTS giúp học viên có thể đạt được điểm kỳ vọng cho kỳ thi IELTS do hội đồng Cambridge đánh giá chính thức d) Yếu tố quá trình: FABL Việt Nam đang trong giai đoạn đầu nên hiện tại các quy trình đang trong giai đoạn xây dựng Hiện tại giám đốc trung tâm đang tập trung phát triển mạng lưới nên xây dựng quá trình chưa được ưu tiên đúng mức [21]
2.2.3 Trung tâm TLT Academy a) Yếu tố Bối cảnh: TLT Academy mới đi vào hoạt động từ tháng 3 năm
2020 Đây là giai đoạn đầu và ban lãnh đạo cơ sở đang xác định hoàn cảnh của các học viên Vì chiến lược kinh doanh ở giai đoạn đầu là xây dựng mô hình lớp nhỏ với mục tiêu đạt điểm IELTS đầu ra cao từ 7.0/9.0 nên sẽ quan tâm đến việc tìm hiểu thị hiếu và tâm lý của học viên trong những gia đình có yêu cầu đạt điểm IELTS cao
43 b) Yếu tố đầu vào: TLT Academy (TLT) phát triển sản phẩm đào tạo luyện IELTS cho điểm cam kết đầu ra cao với mô hình lớp 1 – 1 Họ tuyển sinh các học viên với các trình độ tiếng Anh trình độ IELTS với điểm 6.5+ với điểm đầu ra cao để bắt đầu xây dựng hình ảnh Ở giai đoạn đầu này, TLT không tập trung vào việc xây dựng khung chương trình và dựa vào đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm để giúp học sinh đạt kết quả như kỳ vọng Đối với đầu tư cơ sở vật chất, TLT chọn địa điểm học tại theo mô hình văn phòng chung (co- working) ở những nơi chuyên cho thuê phòng học Bên cạnh đó, để xây dựng hình ảnh của công ty, TLT tuyển sinh các giáo viên cao cấp và có thương hiệu đào tạo học sinh đạt điểm IELTS cao trên 7.0 c) Yếu tố đầu ra: Tại TLT, đối với các khóa đào tạo IELTS thì cam kết đầu ra về điểm IELTS cho bốn kỹ năng Nghe, Nói, Đọc Viết hoặc tăng điểm trung bình của bốn kỹ năng Vì thế, các giáo viên hiện tại sẽ sử dụng các tài liệu sẵn có của các giáo viên theo thang điểm IELTS giúp học viên có thể đạt được điểm kỳ vọng cho kỳ thi IELTS do hội đồng Cambridge đánh giá chính thức d) Yếu tố quá trình: TLT đang trong giai đoạn đầu nên hiện tại các quy trình đang trong giai đoạn xây dựng Hiện tại, quản lý trung tâm đang tập trung phát triển mạng lưới nên xây dựng quá trình chưa được ưu tiên đúng mức [23].
Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo mô hình CIPO tại các Trung tâm tiếng Anh ở Hà Nội
Khi nghiên cứu về quản lý dạy học theo mô hình CIPO tại Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng, những trung tâm dạy tiếng Anh có quy mô lớn cho đến những mô hình dạy tiếng Anh theo quy mô hình lớp cá nhân, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng bộ phận lãnh đạo chưa quan tâm đến việc xây dựng hay áp dụng mô hình quản lý dạy và học theo CIPO Hay nói cách khác, mô hình CIPO mới chỉ được nói tới ở góc độ lý thuyết mà chưa mang nhiều tính
44 thực tiễn Trong mô hình này, các nhà quản lý cần xây dựng bộ máy quản lý phân tách trách nhiệm rõ ràng và độc lập, và đòi hỏi nguồn nhân viên với số lượng nhiều ở tất cả các bộ phận Nhưng thực tế, bộ phận nhân sự trong thời gian xây dựng và phát triển một trung tâm dạy tiếng Anh cần đầu tư về tài chính nhất là bộ phận tuyển sinh và bộ phận học thuật Tuy nhiên, việc đầu tư xây dựng đồng bộ đòi hỏi số lượng lớn về nguồn nhân viên và nguồn tiền đầu tư
Vì những yếu tố khách quan và chủ quan nêu trên tại các trung tâm dạy tiếng Anh tại Hà Nội, mô hình CIPO chưa được xây dựng và áp dụng Dưới đây là các kết quả phỏng vấn sâu minh chứng cho thực trạng này Để đánh giá quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo mô hình CIPO tại các trung tâm tiếng Anh, luận văn sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với số lượng mẫu khách thể tại ba trung tâm GPA Việt Nam, FABL Việt Nam, TLT Academy là 20 người, bao gồm lãnh đạo trung tâm (5 người), giáo viên tham gia giảng dạy (3 người), học viên theo học tại các trung tâm (12 người); trong đó có 9/20 là nam, 11/20 là nữ Kết quả cụ thể như sau:
2.3.1 Thực trạng quản lý đầu vào
Trong quản lý yếu tố Đầu vào, nghiên cứu thu thập ý kiến về khung chương trình học, quản lý học viên, quản lý giáo viên, cơ sở vật chất Khi được hỏi về chương trình học, trung tâm GPA Việt Nam “đã hoàn thiện các chương trình học cho tất cả các đối tượng” (Ý kiến của quản lý học thuật); trong khi đó, ở trung tâm FABL Việt Nam và TLT Academy, “chương trình học vẫn đang trong giai đoạn xây dựng” Khi được hỏi về đối tượng học viên, về đối tượng khách hàng mục tiêu, trung tâm GPA Việt Nam hướng tới khách hàng từ 8 đến 15 tuổi, khách hàng của trung tâm FABL Việt Nam là mầm non, cấp ba, luyện thi IELTS đi du học và định cư Ở trung tâm TLT Academy, khách hàng mục tiêu của họ là các học viên luyện thi IELTS Khi hỏi về quy mô lớp
45 học các giám đốc trung tâm đều nhận định quy mô lớp học tại trung tâm mình là từ 1 đến 10 học viên
Về đội ngũ giáo viên, quản lý học thuật trung tâm GPA Việt Nam khẳng định “đội ngũ giáo viên là 20 giáo viên bao gồm giáo viên ít kinh nghiệm và những giáo viên kinh nghiệm cao” Trong công tác quản lý giáo viên, quản lý học thuật của trung tâm cho biết: “họ thường xuyên tổ chức đào tạo nội bộ” Hoạt động này giúp trung tâm dần nâng cao và củng cố chất lượng giảng dạy của giáo viên, gia tăng sự trao đổi và sự liên kết giữa họ Tại trung tâm FABL Việt Nam và TLT Academy, giáo viên là những người có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy; vì vậy, bộ phận học thuật phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng giáo viên Tuy nhiên, ở trung tâm FABL Việt Nam, do có bộ phận quản lý chất lượng độc lập nên “giáo viên trực thuộc sự quản lý của bộ phận đào tạo và bộ phận quản lý chất lượng” (Ý kiến của giám đốc vận hành)
Khi được hỏi về cơ sở vật chất, đa số giáo viên đều Hài lòng với cơ sở vật chất của trung tâm và 1 giáo viên cũng như 3/12 học viên chưa thật sự Hài lòng với cơ sở vật chất mà trung tâm trang bị: “Em Hài lòng với trang trí nhưng nếu trung tâm mở cửa sổ nhìn ra không gian mở thì hay hơn” (Ý kiến của một học viên thuộc trung tâm GPA Việt Nam)
2.3.2 Thực trạng quản lý quá trình
Trong quản lý về quá trình, các câu hỏi của nghiên cứu tập trung đánh giá các quá trình tại trung tâm FABL Việt Nam bao gồm: Quá trình tuyển sinh, Quá trình dạy, Quá trình học, Quá trình đánh giá học viên Khi được hỏi về hiện tại quá trình tuyển sinh có được phân công theo chỉ số công việc (KPI) và thực hiện các chính sách hoa hồng hay không, 5/5 lãnh đạo trung tâm đều nêu rõ kế hoạch chi tiết của phân công theo chỉ số KPI Tuy nhiên, cách xây dựng và thực hiện phân công KPI ở ba trung tâm khác nhau Tại trung tâm GPA Việt Nam và FABL Việt Nam, chỉ số KPI đang được phân bổ theo tháng và theo
46 quý Tại trung tâm TLT Academy, lãnh đạo trung tâm TLT Academy chưa áp dụng KPI vì đang trong quá trình xây dựng mô hình vận hành
Khi được hỏi về cách xây dựng chính sách hoa hồng, các lãnh đạo nêu các ý kiến có điểm tương đồng và khác biệt Đối với trung tâm GPA Việt Nam và FABL Việt Nam, chính sách hoa hồng dựa trên chỉ tiêu kinh doanh cá nhân và cả nhóm Tuy nhiên tại trung tâm GPA Việt Nam, “trung tâm TLT Academy có chính sách thưởng nóng không cố định nhằm thúc đẩy kinh doanh tại một thời điểm nào đó” (Ý kiến của Giám đốc trung tâm GPA Việt Nam) Liên quan đến quá trình dạy, 3/3 giám đốc trung tâm và giám đốc học thuật đều đồng ý quan điểm về tiêu chí tuyển giáo viên và đào tạo giáo viên Tất cả các giám đốc đều cho rằng “quá trình tuyển dụng giáo viên là hoàn toàn thuộc trách nhiệm của quản lý học thuật” Tuy nhiên, tại trung tâm GPA Việt Nam, “yêu cầu về sắp xếp giáo viên sẽ tính đến yếu tố phù hợp của giáo viên với đối tượng khách hàng” (Ý kiến của Giám đốc kinh doanh trung tâm GPA Việt Nam) Trên thực tế, cách quản lý giáo viên ở trung tâm GPA Việt Nam, FABL Việt Nam và TLT
Academy là khác nhau Nếu như ở trung tâm GPA Việt Nam, quản lý giáo viên do “bộ phận đào tạo thực hiện gồm đào tạo, dự giờ và cách xử lý tình huống của giáo viên với những trường hợp liên quan đến chuyên môn” (Ý kiến của quản lý học thuật trung tâm GPA Việt Nam), thì tại trung tâm FABL Việt Nam, công tác “quản lý giáo viên do bộ phận quản lý chất lượng thực hiện Bộ phận quản lý chất lượng làm việc độc lập với bộ phận học thuật Quản lý chất lượng bao gồm quản lý giảng dạy, sự tham gia hoạt động trong lớp” (Ý kiến của Quản lý vận hành của trung tâm FABL Việt Nam) Còn hiện tại, trung tâm TLT Academy chưa thiết lập quá trình quản lý giáo viên
Trong quá trình quản lý giáo viên và đào tạo giáo viên, trung tâm GPA thực hiện tốt Anh quản lý nói: “Tại GPA, chúng tôi có kế hoạch đào tạo giáo viên: Giáo viên cho toàn bộ giáo viên (Phương pháp giảng dạy, kỹ thuật lập kế
47 hoạch bài giảng, thiết kế bài giảng, chuyển từ trên lớp lên trực tuyến để hiệu quả), On-demand training lộ trình học cho các bậc học khác nhau: Độ tuổi và sản phẩm học sinh học và trên lớp Số lượng học sinh, sản phẩm, độ tuổi On demand, với cấp 1 khi tiếp cận dạy và học hình thành thói quen (personal identity) áp dụng cho các hoạt động trong lớp; Bên cạnh đó giáo viên được đánh giá qua cách xử lý tình huống.) Đối với quản lý quá trình học, trung tâm GPA Việt Nam quản lý học dựa vào sản phẩm có đầu ra để đánh giá kết quả của quá trình học Quản lý học thuật cũng “dựa vào chia sẻ của học sinh theo bảng hỏi và đội ngũ tuyển sinh có gần gũi để chia sẻ với học viên” (Ý kiến của quản lý học thuật trung tâm
GPA Việt Nam) Trong khi đó, trung tâm FABL Việt Nam quản lý quá trình học qua phần mềm “Mỗi phụ huynh được cấp 1 tài khoản để biết kết quả cho từng buổi học” (Ý kiến của giám đốc vận hành trung tâm FABL Việt Nam) Ở trung tâm TLT Academy, việc quản lý học là “phụ thuộc vào cảm nhận của học sinh và tiến bộ trong quá trình học của học viên” (Ý kiến của giáo viên trung tâm TLT Academy)
Liên quan đến quá trình đánh giá học viên, ba trung tâm thực hiện cách thức quản lý khác nhau Cụ thể là: Tại trung tâm GPA Việt Nam, quá trình đánh giá học viên dựa vào các bài kiểm tra định kỳ, giữa kỳ và cuối kỳ “Việc đánh giá và nhận xét của học viên được thực hiện trên phần mềm để gửi về cho gia đình và học viên sau mỗi buổi học” (Ý kiến của quản lý học thuật trung tâm
GPA Việt Nam) Đối với trung tâm FABL Việt Nam, “việc đánh giá học viên dựa vào phản hồi của giáo viên và định kỳ sau 4 buổi, 8 buổi sẽ gửi báo cáo tổng hợp về cho bố mẹ” (Giám đốc vận hành trung tâm FABL Việt Nam trao đổi) Với trung tâm TLT Academy, “sau mỗi buổi học hoặc sau mỗi tuần, cán bộ chăm sóc khách hàng sẽ gửi nội dung hoạt động mỗi buổi học kèm nhận xét
48 của giáo viên đến từng học viên” (Ý kiến của một giáo viên trung tâm TLT
2.3.3 Thực trạng quản lý đầu ra
Trong các thông tin liên quan đến quản lý đầu ra, nghiên cứu tập hợp ý kiến phỏng vấn sâu về cam kết đầu ra và mức độ Hài lòng của học viên và gia đình Có 18/20 học viên đều Hài lòng với giáo viên và kết quả đầu ra Một học viên tại trung tâm GPA Việt Nam nhận định: “Không chỉ các thày cô, các cán bộ quan tâm đến học tập và tâm lí mà các thày cô quan tâm hỏi han và động viên em trong quá trình học” Đồng thời tại ba trung tâm tiếng Anh, khi phỏng vấn sâu tại GPA thì số lượng học viên đăng ký từ 2 đến 3 khóa học trong thời gian 1 năm là nhiều Nhưng do các khóa học không có tính kết nối nên thời gian các học viên học tại GPA chưa dài hơn
Mức độ Hài lòng với hoạt động dạy học tiếng Anh tại các Trung tâm của giáo viên và học viên
Bảng 1: Mức độ Hài lòng của học viên
Nội dung thực hiện Mức độ Hài lòng (N)
1 Giáo viên nắm vững nội dung khung chương trình học
2 Giáo viên đúng giờ khi lên lớp giảng dạy 16 0 4
3 Giáo viên giảng dạy bám sát nội dung chương trình học
4 Giáo viên hiểu tâm lí học viên trong suốt quá trình học
5 Giáo viên cởi mở trong khóa học 16 0 4
6 Giáo viên nhiệt tình giúp đỡ học viên 18 2 0
7 Giáo viên sử dụng cơ sở vật chất phù hợp 17 3 0
8 Giáo viên tham gia đào tạo nội bộ 15 5 0
9 Giáo viên đảm bảo cam kết đầu ra 18 2 0
10 Bộ phận có hỗ trợ học viên về câu hỏi chuyên môn vượt thẩm quyền của giáo viên
11 Bộ phận kiểm soát chất lượng có hỗ trợ những nguyện vọng và nhu cầu của học viên không liên quan đến chuyên môn
Khi được hỏi về mức độ Hài lòng về việc giáo viên có hiểu sâu về chắc nội dung khung chương trình học: 17/20 người tham gia vào bảng hỏi Hài lòng với việc này
Khi được hỏi mức độ Hài lòng về việc giáo viên có đến lớp đúng giờ: 16/20 người Hài lòng với biểu hiện này của giáo viên
Trong câu hỏi về mức độ Hài lòng về việc giáo viên có thực hiện giảng dạy theo đúng nội dung chương trình học: 15/20 người được hỏi Hài lòng
Khi được hỏi là giáo viên có nắm vững tâm lí học viên không: 16/20 người Hài lòng
Khi được hỏi về mức độ Hài lòng về sự cởi mở của giáo viên trong lớp học: 16/20 người Hài lòng
Khi hỏi về mức độ Hài lòng về sự nhiệt tình của giáo viên: 18/20 người Hài lòng
Khi được hỏi là giáo viên có sử dụng trang thiết bị phục vụ cho dạy học: 17/20 người Hài lòng
Khi được hỏi về việc tham gia đào tạo nội bộ: 15/20 Hài lòng với việc tham dự đào tạo
Khi được hỏi là giáo viên có thực hiện cam kết đầu ra: 18/20 đối tượng Hài lòng
Khi được hỏi về sự Hài lòng với dịch vụ hỗ trợ từ bộ phận học thuật vượt chuyên môn của giáo viên và về dịch vụ hỗ trợ từ bộ phận kiểm soát chất lượng: 15/20 người Hài lòng
Bảng 2: Mức độ Hài lòng của giáo viên
Nội dung thực hiện Mức độ Hài lòng (N)
1 Khung chương trình học xây dựng có rõ ràng và khả thi
2 Các tài liệu giảng dạy có đầy đủ và hữu ích
3 Cơ sở vật chất có thoải mái và tạo động lực cho giáo viên và học viên
4 Trang thiết bị dạy học có phù hợp và hiện đại cho hoạt động dạy tiếng Anh
5 Giáo viên có Hài lòng với mức lương 10 1 0
6 Bộ phận học thuật có tổ chức đào tạo chuyên môn
7 Bộ phận học thuật có hỗ trợ những vấn đề khác trong khóa học
8 Bộ phận học thuật có tham gia dự giờ 6 0 5
9 Bộ phận kiểm soát chất lượng giải quyết những khó khăn khác cho giáo viên
10 Giáo viên có đạt được kết quả đầu ra của khóa học
Khi được hỏi về mức độ Hài lòng về sự rõ ràng và khả thi của nội dung chương trình: 17/20 người tham gia vào bảng hỏi Hài lòng với việc này
Khi được hỏi mức độ Hài lòng về sự rõ ràng về khung chương trình học: 8/11 người Hài lòng
Trong câu hỏi về mức độ Hài lòng về các tài liệu bổ trợ cho quá trình dạy học: 6/11 người được hỏi Hài lòng
Khi được hỏi là sự Hài lòng với cơ sở vật chất: 9/11 người Hài lòng
Khi được hỏi về mức độ Hài lòng về trang thiết bị phục vụ cho dạy và học và mức lương cho giáo viên: 10/11 người Hài lòng
Khi hỏi về mức độ Hài lòng về sự hỗ trợ của bộ phận học thuật, bộ phận kiểm soát chất lượng để hỗ trợ và đáp ứng nhu cầu cho giáo viên: 6/11 người Hài lòng
Khi được hỏi về mức độ Hài lòng với việc giáo viên đảm bảo kết quả đầu ra: 6/11 người Hài lòng
Như vậy, thực tế là giáo viên chưa Hài lòng với các quá trình chăm sóc và hỗ trợ giáo viên để đáp ứng tốt nhất cho hoạt động dạy học tiếng Anh tại ba trung tâm tiếng Anh tại Hà Nội Đánh giá chung: Nhìn chung, với những câu hỏi mang nội dung đánh giá sự hài lòng của về đầu vào, quá trình và đầu ra với giáo viên, bộ phận học thuật và bộ phận kiểm soát chất lượng, đa số người được phỏng vấn Hài lòng với những dịch vụ hiện tại ở ba trung tâm Đối với giáo viên, tất cả các giáo viên hài lòng với quản lý các yếu tố đầu vào (trang thiết bị giảng dạy và mức lương hiện tại) Bên cạnh đó, liên quan đến cơ sở vật chất, 9/10 giáo viên hài lòng với cơ sở vật chất Đối với quản lý các yếu tố quá trình và quản lý kết quả đầu ra thì 6/10 các giáo viên hài lòng với hiện tại Đối với học viên, khi hỏi về mức độ hài lòng đối với giáo viên trong quản lý các yếu tố đầu vào (khung chương trình học) đa số học viên hài lòng Ở ba trung tâm tiếng Anh được khảo sát, đa số các học viên với sự quản lý các quá trình của trung tâm (nhiệt tình giúp đỡ học viên, tâm lí học viên, cởi mở với học viên) Đồng thời, 18/20 học viên hài lòng với quản lý kết quả đầu ra
Sau khi thực hiện quan sát, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, và phân tích, luận văn nhận thấy trong yếu tố quản lý bối cảnh (tìm hiểu về tâm tư, nguyện vọng của gia đình và học viên), yếu tố quản lý đầu vào (nguồn tài liệu liên quan đến nội dung chương trình học, giáo viên), yếu tố quản lý quá trình (quá trình chăm sóc học viên, quá trình quản lý và hỗ trợ giáo viên) vẫn chưa được thực hiện một cách hiệu quả và đồng bộ
Công tác quản lý hoạt động dạy học tại các Trung tâm tiếng Anh bao gồm công tác quản lý theo yếu tố Đầu vào, Quá trình, Đầu ra và Bối cảnh Khi nghiên cứu thực trạng về quản lý hoạt động dạy học tại các Trung tâm tiếng Anh tại Hà Nội, luận văn đã thu thập thông tin, phân tích và so sánh tình hình thực tế về từng yếu tố Để đánh giá mức độ Hài lòng với hoạt động dạy học tại các trung tâm, luận văn sử dụng phương pháp bảng hỏi để tìm hiểu về sự giống và khác nhau về mức động Hài lòng tại ba trung tâm Để đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học, luận văn sử dụng cách tiếp cận là phương pháp phỏng vấn sâu để tìm ra thực tế tại cả ba trung tâm Sau khi tìm hiểu thực tế và dựa vào kết quả phỏng vấn sâu, luận văn đã nêu và phân tích từng thông tin cụ thể của phỏng vấn trong từng yếu tố của mô hình CIPO để tìm ra những tồn tại trong quản lý hoạt động dạy học