1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần thứ ba môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác lênin trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật phú lâm, thành phố hồ chí mi

114 1,8K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Vào Giảng Dạy Phần Thứ Ba Môn Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác - Lênin
Tác giả Lê Thị Hiền
Người hướng dẫn TS. Phạm Văn Thanh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH LÊ THỊ HIỀN VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO GIẢNG DẠY “PHẦN THỨ BA” MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN N

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH



LÊ THỊ HIỀN

VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO GIẢNG DẠY

“PHẦN THỨ BA” MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐĂNG KINH TẾ - KỸ THUẬT PHÚ LÂM, TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

VINH – 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH



LÊ THỊ HIỀN

VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO GIẢNG DẠY

“PHẦN THỨ BA” MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ- KỸ THUẬT PHÚ LÂM, TP HỒ CHÍ MINH

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

MÃ SỐ: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM VĂN THANH

VINH - 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi kính chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Phạm Văn Thanh đã tận tình, chu đáo, giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời

gian tôi làm luận văn;

Tôi kính trọng và lòng biết ơn đến Quý Thầy, Cô Trường Đại học Vinh

những người đã trang bị cho tôi rất nhiều kiến thức chuyên ngành, cũng như sự chỉbảo, giúp đỡ tận tình của quý Thầy, Cô trong suốt quá trình học tập;

Tôi xin được cảm ơn đến tất cả các bạn đồng nghiệp, các bạn học, những

người đã cung cấp và chia sẻ những tài liệu, thông tin quý báu trong suốt quá trìnhhọc tập, nghiên cứu;

Tôi cũng xin chân thành được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám Hiệu trường Cao đẳng kinh tế-kỹ thuật Phú Lâm đã tạo mọi điều kiện để tôi học tập

nghiên cứu khoa học, thực hiện đề tài;

Kính chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã

có những đóng góp quý báu để tôi hoàn chỉnh luận văn Đồng thời là những chỉbảo quan trọng để tác giả tiếp tục thực hiện công tác nghiên cứu khoa học sau này

TP Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2012

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thị Hiền

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 4

1 BGD&ĐT Bộ giáo dục và Đáo tạo

1 Tính cấp thiết của đề tài

Có thể nói cùng với xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, sự phát triển nhanh chóngmạnh mẽ của Công nghệ thông tin, sự gia tăng gấp bội của tri thức đòi hỏi giáo dụcđào tạo phải đổi mới nội dung và PPDH nhằm tạo ra ra nguồn nhân lực có phẩmđạo đức, trí tuệ và tay nghề thành thạo

Đại hội XI của Đảng đã xác định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dụcViệt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập

Trang 5

quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục và đào tạo, phát triển đội ngũgiáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáodục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thựchành, khả năng lập nghiệp Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Đổi mới mạnh mẽnội dung, chương trình, phương pháp dạy và học”[10;131- 132 ].

PPDH tích cực có vai trò to lớn trong việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học,khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên

Việc giảng dạy “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin trong các trường đại học, cao đẳng là không thể thiếu bởi đây là họcphần mang tính lý luận khái quát và trừu tượng, tính chính trị sâu sắc, nó chỉ ra conđường, biện pháp giúp GCCN thực hiện Sứ mệnh lịch sử của mình Mặt khác, họcphần này có chức năng trực tiếp là giáo dục, trang bị lập trường của GCCN choGCCN và nhân dân lao động; giáo dục lý tưởng cộng sản, chủ nghĩa yêu nướcchân chính, từ đó nâng cao năng lực nhận thức và thực hành cho SV; giúp SV hìnhthành thế giới quan phương pháp luận biện chứng khoa học

Thế nhưng sự chuyển biến, đổi mới phương pháp giảng dạy tại trường Caođẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú lâm, TP Hồ Chí Minh vẫn chưa là bao, vẫn tồn tạicách dạy thông báo, các kiến thức định sẵn, khiến cho quá trình dạy học vẫn cònmang tính áp đặt Với cách dạy này, vai trò của chủ thể nhận thức chưa làm chủđược kiến thức của mình trong việc vận dụng các kiến thức đó vào giải quyết cácvấn đề trong thực tiễn Bên cạnh đó, những tiết dạy tốt của GV theo hướng vậndụng PPDH tích cực đã có, nhưng chưa nhiều, chưa có sự quan tâm đúng mức đếnviệc nâng cao năng lực tự học, sự chiếm lĩnh tri thức mới của đa số SV trường Caođẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm

Mặt khác, phương thức thi kết thúc môn Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác - Lênin nói chung và “phần thứ ba” môn học này nói riêng tại trườngCao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm vẫn còn áp dụng theo cách truyền thống, yêucầu mà người GV đưa ra thường ở mức ghi nhớ tài liệu học Đây cũng là nguyênnhân dẫn tới SV thiếu tính tích cực, sáng tạo trong việc tự học, tự chiếm lĩnh tri

thức.

Trang 6

Chính vì lẽ đó, tác giả chọn vấn đề: “Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm nâng cao năng lực tự học cho sinh viên Trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm, TP Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc

sĩ chuyên nghành LL&PPDH chính trị, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảngdạy, đào tạo hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong lịch sử giáo dục, vấn đề PPDH tích cực đã được nhiều nhà tư tưởng,

nhiều nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, góp phần thúc đẩyPPDH tiến bộ trong thời đại ngày nay

Ở Phương Đông, thời Cổ đại, Khổng tử - một nhà triết học, nhà văn hóa, nhàgiáo dục Trung Quốc đã quan tâm tới dạy học làm thế nào để phát huy được tínhtích cực suy nghĩ, tính tự học của trò; hướng cho học trò tự biết suy nghĩ, tự học làchính, tự tìm ra mấu chốt quan trọng của vấn đề

Ở Phương Tây, thời Cổ đại có Arixtốt, Xôcrát, đến thời kỳ Phục Hưng ở Châu

Âu có Môngterxkiơ coi trọng sự phát triển tự nhiên, tự do của con người trong việcgiáo dục trẻ, coi trọng vấn đề tự học

Nhà giáo dục nổi tiếng của nước Nga - K.D.Usinxki năm 1948 quan tâm tớiviệc lĩnh hội tri thức thông qua con đường tự học, tự tìm tòi khám phá nhằm pháttiển tư duy độc lập, tích cực sáng tạo của người học Để chỉ ra kỹ năng tự học làđiều kiện tốt đảm bảo cho người học đạt kết quả cao của A.P.Primaco với “phương

pháp đọc sách” Theo K.Barry và King (1993), đặt cơ sở cho lấy học sinh là trung

tâm là những công trình của John Dewey (Experience and education, 1938) và CarlRogers (Freedom to learn, 1986) Các tác giả này đề cao nhu cầu, lợi ích của ngườihọc, đề xuất việc để cho người học lựa chọn nội dung học tập, được tự lực tìm tòi

nghiên cứu Đến cuối thế kỷ XX, Khalamov đề cập đến việc “Tri thức trở thành

kiến thức thật sự khi học sinh chiếm lĩnh nó bằng sức lao động, sáng tạo của mình”trong cuốn sách “phát huy tính tích cực của SV như thế nào” (gồm 2 tập)

Ở nước ta, vấn đề phát huy tính tích cực của người học đã được đặt ra trongngành giáo dục nước ta từ thập niên 60 của của thế kỷ XX Tuy nhiên, thuật ngữ

“dạy học lấy người học làm trung tâm” chỉ mới xuất hiện và được sử dụng phổbiến trong những năm gần đây và nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau:

Trang 7

Nhóm đề tài luận văn thạc sĩ của các học viên Nguyễn Thị Thanh Hương:

“Vận dụng Phương pháp tổ chức hoạt động tự học để nâng cao năng lực học tập phần CNXHKH của sinh viên các trường cao đẳng”(Qua khảo sát tại trường Cao đẳng Y tế Nghệ An) (2008); Luận văn thạc sĩ của Phan Thị Tuyết Mai (2010):

“Vận dụng phương pháp tổ chức hoạt động tự học vào giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin (phần thứ nhất) nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của sinh viên sư phạm ở trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật Nghệ An”; Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Nhung Tuyết: “Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy học phần Triết học trong chương trình chính trị ở trường Cao đẳng nghề (Qua khảo sát thực tế tại trường cao đẳng nghề Việt Đức - Hà Tĩnh)”(2009); Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Lý (2001):“Những biện pháp nâng cao kết quả hoạt động tự học của sinh viên Trường cao đẳng Sư phạm Kon Tum” Nhìn chung, nhóm công trình này đặc biệt đã đưa ra được một số quy

trình và điều kiện vận dụng các PPDH tích cực vào một số bài cụ thể trong chươngtrình môn học Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin hệ cao đẳng -đại học

Nhóm các bài viết đăng trên các tạp chí, các bài báo liên quan đến vấn đề

này như:“Bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên đại học” của tác giả Đinh Công Triêm, Tạp chí Giáo dục, số 8 tháng 07/2001; “Phát triển bền vững chất lượng của các trường đại học thông qua phát triển năng lực học tập” Tạp chí

KH ĐHSP Hà Nội, số 5 tháng 10/2005 của tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa; "Bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên", Tạp chí Giáo dục số 74 của tác giả Thái Duy Tuyên (2003); “Phát huy tính tích cực, chủ động của sinh viên qua hoạt động tự định hướng học tập” của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Vân, Tạp chí ĐH Sài Gòn

(Jounal of Saigon University) số 6 tháng 06/2011) Nhóm các bài viết này đề chỉ rađược cách thức và hướng dẫn quá trình dạy học, chưa đề cập đến vấn đề vận dụngcác PPDH tích cực trong giảng dạy bộ môn

Nhóm sách, tài liệu tham khảo đề cập tới PPDH truyền thống và hiện đại

nhằm đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học như:“Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” của tác giả Thái Duy Tuyên, Nxb Giáo dục (2008); “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” của tác giả Trần Bá Hoành - Viện Khoa học Giáo dục tháng 9/1993; Chuyên đề 2: Một số phương pháp dạy học tích cực, ĐHSP Hà Nội

Trang 8

(2007) của tác giả Vũ Hồng Tiến Phan Trọng Ngọ (2005): “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường”, Nxb ĐHSP; Sổ tay phương pháp luận dạy học

của chương trình Hỗ trợ LNXH, tài liệu tổng hợp do TS Rudolf Batliner biên soạncho chương trình Hỗ trợ LNXH có sử dụng các thẻ kỹ năng của TS John Cullum,Swisscontac

Về cơ bản, các công trình trên đã đề cập rất sâu sắc đến những khía cạnhkhác nhau của việc đổi mới PPDH theo hướng vận dụng các PPDH tích cực trongquá trình dạy học cả về mặt lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, về mặt lý luận và mặtthực tiễn vận dụng các PPDH tích cực vào giảng dạy “phần thứ ba” môn Nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm nâng cao năng lực tự học cho

SV tại trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm, TP Hồ Chí Minh là vấn đềchưa có ai đề cập tới nên tôi cảm thấy có trách nhiệm nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ

- Phân tích làm rõ sự cần thiết vận dụng các PPDH tích cực vào giảng dạy

“phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin;

- Khảo sát, đánh giá thực trạng vận dụng các PPDH tích cực trong giảng dạy

“phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ Nghĩa Mác - Lê nin ởTrường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm, TP Hồ Chí Minh;

- Thực hiện thực nghiệm, đối chứng việc vận dụng các PPDH tích cực vàogiảng dạy “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin

ở trường Cao đẳng kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm TP Hồ Chí Minh;

- Đề xuất giải pháp, điều kiện vận dụng PPDH tích cực trong giảng dạy học

“phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm

Trang 9

nâng cao năng lực tự học cho SV Trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm,

TP Hồ Chí Minh

4 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài việc sử dụng phương pháp luận khoa học Mác - Lênin, luận văn còn sửdụng các phương pháp sau đây:

- Phương pháp quy nạp, diễn dịch, so sánh;

- Phương pháp lôgic - lịch sử;

- Phương pháp phân tích và tổng hợp;

- Phương pháp thống kê, điều tra xã hội học;

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

5 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu một số PPDH tích cực vận dụng vào giảng dạy “phần thứ ba”môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin ở trường cao đẳng Kinh

tế - Kỹ thuật Phú Lâm, TP Hồ Chí Minh;

Thực nghiệm một số bài thuộc “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác - Lê nin ở lớp 11CDKT 1 - 2 Khóa IV năm học 2011- 2012

6 Đóng góp của luận văn

Tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng các PPDH tíchcực vào “Phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nintrong giai đoạn hiện nay;

Kết quả đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lýgiáo dục và GV dạy môn chính trị tại các trường cao đẳng nói chung và ở trườngCao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm, TP Hồ Chí Minh nói riêng

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung có 3 chương:

Chương 1: Vận dụng các PPDH tích cực nhằm nâng cao năng lực tự học cho

SV là yêu cầu khách quan trong giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác - Lênin ở các trường cao đẳng hiện nay

Chương 2: Thực nghiệm sư phạm vận dụng các PPDH tích cực vào giảng dạy

“phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm

Trang 10

nâng cao năng lực tự học cho SV trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm,

TP Hồ Chí Minh

Chương 3: Giải pháp và điều kiện để vận dụng các PPDH tích cực trong

giảng dạy “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lêninnhằm nâng cao năng lực tự học cho SV trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật PhúLâm, TP Hồ Chí Minh

Trang 11

B NỘI DUNG Chương 1 VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC

NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN LÀ YÊU CẤU KHÁCH QUAN TRONG GIẢNG DẠY MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ

CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG

HIỆN NAY.

1.1 Cơ sở lý luận của PPDH tích cực và năng lực tự học của SV

1.1.1 Phương pháp và PPDH tích cực

1.1.1.1 Phương pháp và phương pháp dạy học

- Khái niệm phương pháp

Thuật ngữ "phương pháp” theo tiếng Hy Lạp là "methods" có nghĩa chungnhất là con đường, cách thức, phương tiện để đạt được mục đích nào đó Do vậy,

có thể hiểu, trong dạy học phương pháp là con đường, cách thức, phương tiện màchủ thể sử dụng để tác động, chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục đích đềra

Trong Từ điển triết học (Nxb Sự thật Hà Nội 1976) xác định: “Phương pháp

là cách thức đề cập đến hiện thực, nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội, làkhoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy” [37; 744].Theo C.Mác: "Phương pháp là sức mạnh tuyệt đối, duy nhất, cao nhất, vôcùng tận, không có vật thể nào có thể cưỡng lại nổi; đó là xu thế của lý tính đi đến

chỗ tìm thấy lại, nhận thấy lại bản thân mình ở trong mọi sự vật" [9; 122 ].

Phương pháp càng có vai trò quan trọng trong hoạt động thực tiễn cũng nhưtrong học tập, con người đã sớm nhận thức được vị trí, vai trò của phương pháp,không có phương pháp, con người sẽ hành động không có kết quả, thậm chí phạmsai lầm, thất bại Đúng như K.Đêcac, nhà duy vật Pháp thế kỉ XVIII đã từng khẳngđịnh: thiếu phương pháp thì người tài năng cũng có thể không đạt kết quả Cóphương pháp thì người tầm thường cũng làm được việc phi thường

Từ những quan niệm trên cho thấy có rất nhiều cách xem xét về phương

pháp Tuy nhiên theo chúng tôi, phương pháp là cách thức, con đường, là phương tiện để con người đạt tới cái đích mà mình đặt ra.

- Khái niệm phương pháp dạy học

Trang 12

PPDH là cách thức hành động của GV và SV trong quá trình dạy học Chođến nay không có sự thống nhất về định nghĩa PPDH.

Theo các nhà giáo dục học Kazansky và Nazarova cho rằng: "Phương phápdạy học là cách thức làm việc của giáo viên với học sinh để cho học sinh lĩnh hộitri thức, kỷ năng và kỹ xảo" [30; 7]

Theo GS.TS Nguyễn Hữu Vui: "Phương pháp giảng dạy, theo nghĩa rộngbao hàm trong đó có cách thức hoạt động tác động của người dạy (chủ thể dạy -người thầy) trực tiếp hoặc gián tiếp (qua các phương tiện như sách, nghe nhìn, )với người học (vừa là đối tượng của sự dạy, vừa là chủ thể học, tự học) cùng nhằmthực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung dạy học" [5; 11]

Socrate đã từng nêu lên khẩu hiệu "anh phải tự biết lấy mình" phương phápnày được gọi là phương pháp Xôcrát nhằm mục đích phát hiện "chân lý" bằng cáchđặt câu hỏi để gợi cho người nghe dần dần tìm ra kết luận mà ông dẫn người ta[13; 59]; hay Khổng Tử thì cho rằng: "không tức giận vì muốn biết thì không gợi

mở cho, không bực vì không rõ được thì không trình bày vẽ cho [13; 59]; Còn vớiMông - Te - Nhơ: "phải để học sinh chạy trước mà nhận xét" chứ không bắt buộctrẻ em phải nhắm mắt theo những nhận định chủ quan của người thầy giáo [13;60] Cũng bàn về PPDH, I.Ia.Lecen (1981) ông lại cho rằng PPDH là một hệ thốngnhững hành động nhận thức và thực hành của người học; đảm bảo người học lĩnhhội nội dung học vấn [32; 38]

Từ các định nghĩa trên có thể đưa ra nhận xét sau:

PPDH gồm hoạt động của thầy và hoạt động của trò, hoạt động này có sự tácđông qua lại lẫn nhau;

Thầy có chức năng chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức hoạt động học tập của tròcòn trò tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức cần thiết;

Kết quả tương tác giữa hoạt động của thầy và của trò trong quá trình dạy học

là đạt được các mục tiêu dạy học đề ra

1.1.1.2 Quan niệm về PPDH tích cực

- Quan niệm về PPDH tích cực:

PPDH tích cực xuất hiện ở các nước phương tây ( Mỹ, Pháp ) từ đầu thế kỷ

XX và được phát triển mạnh từ nửa sau thế kỷ này, có ảnh hưởng sâu rộng đến cácnước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Vậy PPDH tích cực là gì? Khi bàn về

Trang 13

PPDH tích cực đã có nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục trong và ngoài nước đề cậpđến vấn đề này, đồng thời đưa ra những quan niệm, tư tưởng khác nhau.

Theo tác giả Nguyễn Kỳ: “… Phương pháp lấy học sinh làm trung tâm,người học giữ vai trò chủ động, tích cực trong quá trình học tập và không còn ở thểthụ động như khi dùng phương pháp sư phạm cổ truyền…” [21; 3]

Theo PGS.TS Vũ Hồng Tiến: “PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn,được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng

phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng

vào việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa làtập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải tập trung vàophát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp tíchcực thì giáo viên phải nổ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động” [34; 1]

Trên cơ sở tham khảo các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, chúng tôi

cho rằng: PPDH tích cực là PPDH nhằm phát huy tính tích cực, tự học, tự nghiên cứu, tự giác, sáng tạo và chủ động học tập trên cơ sở hướng dẫn gợi mở GV trong quá trình truyền đạt tri thức.

PPDH tích cực dùng để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theohướng phát huy tối đa tính tính cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tíchcực này được hiểu như một quan điểm, một phương cách hay một hệ thống cácphương pháp giáo dục mới hiện nay để phân biệt với các PPDH truyền thống trướcđây

Như vậy, PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước

để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo phương hướng phát huy tínhtích cực, chủ động, sáng tạo của người học

PPDH tích cực có các đặc trưng cơ bản sau:

- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh - SV.

Trong PPDH tích cực, người thầy phải thật sự trở thành người thiết kế, tổchức hướng dẫn các hoạt động độc lập

PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhậnthức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người họcchứ không phải tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người dạy

Trang 14

Tuy nhiên, để dạy học theo PPDH tích cực thì GV phải nỗ lực hơn nhiều sovới dạy học theo phương pháp truyền thống.

Tính tích cực trong PPDH tích cực được dùng với nghĩa là chủ động, hoạtđộng, trái nghĩa với thụ động, không hoạt động chứ không đúng theo nghĩa trái vớitiêu cực Khác với PPDH truyền thống, PPDH tích cực hay chủ động là sự đào tạobằng cách cho người học tìm kiếm, thể nghiệm và làm thí nghiệm, bằng cách xâydựng câu trả lời thích hợp, bằng phát kiến, bằng hành động, bằng cách đặt mìnhvào tình huống phát kiến sáng tạo với sự giúp đỡ gợi mở hướng dẫn của GV

Phương pháp tích cực dựa trên cơ sở tâm lý cho rằng, nhân cách của ngườihọc được hình thành thông qua các hoạt động chủ động, thông qua các hành động

có ý thức Mối quan hệ giữa học và làm được nhiều tác giả nói đến "suy nghĩ tức làhành động", "cách tốt nhất để hiểu và làm", Hồ Chí Minh đã dạy: "không có lýluận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi, lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lýluận suông” [17; 234]

Trong PPDH tích cực, người học - đối tượng học tập do GV tổ chức và chỉđạo, thông qua đó khám phá những cái mình chưa rõ chú không phải thụ động tiếpthu những tri thức đã được sắp đặt ra theo suy nghĩ của mình, từ đó, vừa nắm vữngđược kiến thức, kỹ năng mới vừa nắm được phương pháp "làm ra" những kiếnthức, kỹ năng đó không nhất thiết rập theo những khuôn mẫu sẵn có

Dạy học theo cách này không chỉ đơn giản cung cấp tri thức mà còn hướngdẫn hành động Khả năng hành động là một yêu cần được đặt ra không chỉ đối vớitừng cá nhân mà cả ở cấp độ cộng đồng địa phương và toàn xã hội Chương trìnhgiảng dạy phải giúp cho từng cá nhân người học biết hành động và tích cực thamgia các chương trình hành động của cộng đồng Trong PPDH tích cực, học "chữ"

và học "làm" gắn với nhau Từ học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốntồn tại và phát triển như nhân cách một con người lao động, tự chủ, năng động,sáng tạo

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học hơn là tuyền thụ kiến thức đơn thuần

Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Mộtyếu tố quan trọng đảm bảo thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khảnăng phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn

Trang 15

Nếu rèn luyện cho SV có được kỹ năng, phương pháp, thói quen tự học, biết linhhoạt ứng dụng những điều đã học vào những tình huống mới, tự lực phát hiện vàgiải quyết những vấn đề đặt ra thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năngvốn có trong mỗi con người Do vậy, kết quả học tập được nâng lên gấp bội

Có ý kiến cho rằng: “Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lí, người thầy giáogiỏi dạy cách tìm ra chân lí” là hoàn toàn chính xác Rèn luyện cho SV phươngpháp tự học không chỉ là biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học mà còn làmục tiêu của quá trình dạy học Con người được đào tạo trước hết phải là conngười năng động, có tính tích cực, có khả năng tự học, tự nghiên cứu để tự hoànthiện mình

Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động trong quá trình dạyhọc, nỗ lực, tạo ra sự chuyển biến tự học của SV không chỉ tự lực ở nhà sau bài lênlớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV Tiến sĩ Ngô Vĩnh Long,giáo sư kinh tế Đại học Maine (Mỹ), là GV chương trình Fulbright (hợp tác giữaĐại học Harvard và Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội) cho rằng: SV không biếtcách học là do thầy giáo không biết cách dạy hay dạy không đúng cách Ngườithầy cần hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu sau giờ nghe giảng

- Tăng cường học tập có thể phối hợp với học tập hợp tác.

PPDH tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi SV trongquá trình tự lực giành lấy kiến thức mới Trong một lớp học, tư duy và trình độkiến thức của SV không điều nhau Vì vậy buộc phải chấp nhận sự phân hoá vềcường độ và tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kếthành một chuỗi công tác học tập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ ngàycàng cao thì sự phân hoá ngày càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệthông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu của hoạt động học tập và nâng lựccủa mỗi SV

Tuy nhiên, trong học tập không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều đượchình thành bằng con đường hoạt động thuần túy cá nhân Lớp học là một môitrường giao tiếp thầy - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa cá nhân trên conđường chiếm lĩnh tri thức của nhân loại Thông qua thảo luận, tranh luận trong tậpthể ý kiến của mỗi cá nhân được điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người

Trang 16

học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinhnghiệm của mỗi cá nhân của nhóm và của cả lớp học.

Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm,

tổ lớp hoặc trường sử dụng phổ biến nhất là hợp tác trong nhóm nhỏ 4-6 người.Hoạt động trong tập thể nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phâncông hợp tác lao động trong xã hội Hiệu quả học tập sẽ tăng lên, nhất là lúc phảigiải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thật sự nhu cần phối hợp giữa các

cá nhân để hoàn thành công việc trong hoạt động theo nhóm, tính cách năng lựccủa mỗi cá nhân được bộc lộ dần dần được uốn nắn, không có hiện tượng ỷ lại,phát triển tình bạn, có ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tương trợ lẫn nhau trongmột tập thể, cộng đồng

Thoạt nhìn tưởng như học tập hợp tác mâu thuẫn với học tập có thể hạn chếmức độ tích cực của mỗi cá nhân Nhưng thực ra trong học tập hợp tác, mục tiêuhoạt động là chung của toàn nhóm nhưng mỗi cá nhân được phân công một nhiệm

vụ cụ thể phối hợp với nhau để cùng đạt tới mục tiêu chung

- Kết hợp đánh giá của thầy và của trò.

Trong học tập, việc đánh giá SV không chỉ nhằm mục đích nhận định thựctrạng và điều chỉnh hoạt động của trò, đồng thời tạo ra điều kiện nhận định thựctrạng và điểu chỉnh hoạt động dạy của thầy

Trước đây, quan niệm đánh giá còn mang tính phiến diện: GV giữ độcquyền đánh giá, SV là đối tượng được đánh giá Trong dạy học theo hướng pháthuy vai trò tích cực chủ động của người học và xem việc rèn luyện phương pháp tựhọc để chuẩn bị cho người học khả năng học tập liên tục suốt đời như một mục tiêugiáo dục thì GV phải hướng dẫn người học phát triển khả năng tự đánh giá, tự điềuchỉnh cách học của chính bản thân SV

Mặt khác, đánh giá SV, giúp SV biết được khả năng lĩnh hội tri thức củamình đạt đến đâu, từ đó điều chỉnh phương pháp học tập của bản thân sao cho cóhiệu quả

Trong PPDH tích cực, GV phải là người hướng dẫn tạo điều kiện để SV biết

tự đánh giá năng lực của mình GV luôn tạo điều kiện để SV không chỉ tự đánh giábản thân mình mà còn biết đánh giá giữa các bạn SV trong lớp với nhau

Trang 17

Theo hướng phát triển các PPDH tích cực để dần dần đào tạo những SVnăng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, hoà nhập và phát triển cộng đồng,việc kiểm tra đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lạicác kỹ năng đã học mà còn phải khuyến khích óc sáng tạo tự rèn luyện khả năngphát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong các tình huống thực tế Muốnvậy, phải có những phương pháp và kỹ thuật đánh giá thích hợp.

Với sự hỗ trợ của các thiết bị kĩ thuật đang phổ biến trong nhà trường, việckiểm tra đánh giá không còn là một công việc nặng nhọc đối với GV mà GV cónhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy và chỉ đạo hoạtđộng học Các phương pháp và phương tiện mới sẽ tạo điều kiện để tăng nhịp độkiểm tra, giúp cho SV có thể thường xuyên tự kiểm tra

Tóm lại, trong PPDH tích cực “người được giáo dục” trở thành “người tựgiáo dục”, SV chủ động, tự giác, có ý thức về sự giáo dục bản thân

- Vai trò chủ đạo của GV.

PPDH phát huy tính tích cực của người học không hề hạ thấp hay giảm nhẹvai trò chủ đạo của người thầy Để PPDH đạt kết quả cao, người thầy phải thật sựtrở thành người thiết kế, tổ chức hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm

để hSV chiếm lĩnh tri thức mới, hình thành kỹ năng, thái độ, tình cảm và niềm tintheo yêu cầu của nội dung, chương trình học Đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thờigian, công sức mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúctác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi, hồ hứng tranh luận sôinổi của SV Song không phải mọi tri thức đều do SV chiếm lĩnh được và hơn nữaPPDH phát huy tính tích cực không phải dễ dàng vận dụng ở mọi nơi, mọi lúc mà

nó cần phải có sự kết hợp của các phương phương pháp khác

Từ sự phân tích trên có thể thấy sự khác nhau của hai phương pháp Dạy học truyền thống và Dạy học tích cực:

Dạy học truyền thống Dạy học tích cực

Quan niệm

- Học là quá trình tiếp thu vàlĩnh hội, qua đó hình thành kiếnthức, kỷ năng, tư tưởng, tìnhcảm

- Học là một quá trình kiến tạo:học sinh tìm tòi, khám phá, pháthiện, luyện tập và khai thác, xử

lý thông tin, .tự hình thànhhiểu biết, năng lực và phẩmchất

Trang 18

Bản chất - Truyền thụ tri thức, truyền thụ

và chứng minh chân lý theocách của người thầy

- Tổ chức hoạt động nhận thứccho người học Dạy người họccách tìm ra chân lý

Mục tiêu

- Chú trọng cung cấp tri thứcmột chiều, kỹ năng, kỹ xảo

- Học để đối phó với thi cử Saukhi thi xong những điểu đã họcthường bị bỏ quen hoặc ít dùngđến

- Chú trọng hình thành các nănglực (hợp tác, tự học, tự nghiêncứu, sáng tạo) dạy học và kỹthuật khoa học, dạy cách học

- Học để đáp ứng những yêu cầucủa hiện tại và tương lai Nhữngđiều đã học rất cần thiết cho SV

và cho sự phát triển của xã hội

Nội dung

- Nguồn kiến thức hẹn hẹp, chủyếu là sách giáo khoa và sáchGV

- Dạy từng bài riêng biệt

- Cung cấp các sự kiện

- Nhiều nguồn khác nhau: sáchgiáo khoa, sách GV, các tài liệukhoa học phù hợp, phòng thínghiệm, bảo tàng, thực tế (vềnguồn), internet, những vấn đề

mà người học quan tâm…

- Hệ thống bài học

- Cung cấp kiến thức có chọnlọc, học đi đôi với hành, nhữngkiến thức gắn lý luận và thựctiễn vận dụng vào cuộc sống

Hình thức

tổ chức

- Cố định giới hạn trong lớphọc, GV đối diện với cả lớp

- Linh hoạt: học ở lớp, ở phòngthí nghiệm, ở hiện trường, trongthực tế (về nguồn) Hình thức tựhọc cá nhân, đôi bạn, nhóm bạn,

cả lớp đối diện với GV

Kiểm tra,

đánh giá

- Thầy đánh giá trò; phầnthưởng và sự thừa nhận vào kết

- Kết hợp sự đánh giá của Thầy

và trò; phần thưởng và sự thừa

Trang 19

quả của cá nhân nhận được dựa vào việc thực

hiện của cá nhân và nhóm

Để vận dụng có hiệu quả PPDH tích cực cần thực hiện tốt các yêu cầu:

Một là, mỗi PPDH đều có những ưu điểm và hạn chế khác nhau, mỗiphương pháp nó phù hợp với từng nội dung bài dạy Vì thế cần phải biết kết hợpcác PPDH sao cho khéo léo, nhuần nhuyễn để tiết dạy, bài dạy lôi cuốn sức hấpdẫn của bài học đối với SV;

Hai là, sử dụng khoa học, hợp lý, đúng lực các phương tiện dạy học Hiệnnay các phương tiện dạy học hiện đại được sử dụng trong giảng dạy rất đa dạngphong phó như ti vi, băng hình, phim tư liệu, phim truyền hình, vi deo, máy tính,phần mền , máy chiếu Projeter… những phương tiện dạy học này có chức năngkhơi dậy, truyền dẫn và làm tăng sức mạnh tác động của GV tới đối với SV Vìvậy, phương tiện phục vụ quá trình dạy học phải mang tính khoa học, giáo dục vàcũng không nên quá lạm dụng lại làm cho bài học trở nên nhàm chán có tác dụngngược lại đối với SV

1.1.1.3 Một số PPDH tích cực được vận dụng trong quá trình giảng dạy

“phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

- Phương pháp Xêmina - thảo luận nhóm

Xêmina đã có từ xa xưa, nhưng đến thế kỷ XIX mới được đưa vào sử dụng ởmột số trường đại học Ngày nay xêmina được sử dụng phổ biến trong dạy học ởcác trường đại học, cao đẳng trong và ngoài nước Xêmina càng có ý nghĩa thiếtthực hơn đối với việc giảng dạy đặc thù môn học lý luận chính trị

Xêmina là hình thức học tập, trong đó một nhóm người học được giao chuẩn

bị trước vấn đề nhất định Sau đó trình bày trước lớp (nhóm) và thảo luận vấn đề

đã được chuẩn bị [26; 234]

Xêmina trong giảng dạy phần thứ ba môn Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác - lênin là một hình thức tổ chức dạy học mà trong đó SV tranh luậnnhững vấn đề khoa học đã được chuẩn bị dưới sự hướng dẫn của GV

Quá trình SV nghiên cứu “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác- lênin có thể chia thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: SV tiếp thu một khối lượng thông tin nhất định ở GV và ghinhớ nó trong quá trình nhận thức

Trang 20

Giai đoạn 2: SV tự học, củng cố và bổ sung những thông tin mà họ tiếp thuđược, biến nó thành kiến thức của bản thân

Giai đoạn 3: SV nắm sâu kiến thức để nhận thức những hiện tượng khácnhau trong đời sống xã hội, bước đầu biến kiến thức thu nhận được thành niềm tin

Như vậy, xêmina trong giảng dạy “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơbản của chủ nghĩa Mác - Lênin có những ưu điểm và hạn chế sau:

Ưu điểm:

Xêmina góp phần củng cố và khắc sâu kiến thức cho SV Thông qua xêmina

SV có thể mở rộng, đào sâu và nâng cao kiến thức và thông qua xêmina SV rènluyện được khả năng diễn đạt lưu loát một vấn đề trước tập thể

Xêmina giúp SV biết vận dụng những kiến thức đã học và thực tiễn

Giúp GV nhanh chóng thu được kết quả phản hồi từ phía người học

GV có điều kiện bổ sung và mở rộng kiến thức khi lên lớp Đồng thời, GVkiểm tra, uốn nắn những tri thức sai lệch, không chuẩn xác và định hướng kiếnthức cho SV

Xêmina còn là nơi áp dụng kiểm nghiệm tính đúng đắn của những phươngpháp giảng dạy có tính đặc thù của môn học, bài học, học phần

Hạn chế:

Đòi hỏi GV phải có nhiều kinh nghiệm chuyên môn cũng như kỹ năng dạyhọc và người học phải thực sự tích cực, tự giác học tập

Tốn nhiều thời gian, công sức của cả của GV và SV: M.I.Calinin khi nói về

“Giáo dục cộng sản” ông đã từng khẳng định: “Không những chỉ đòi hỏi sinh viênnhững kiến thức của những luận điểm chủ yếu của chủ nghĩa Mác, mà còn đòi hỏi

họ làm thế nào để có thể tiếp cận được những sự kiện này hay sự kiện khác, đánhgiá chúng như thế nào trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nếu không làmđược điều đó trong các bài giảng thì bất kỳ giá nào cũng phải áp dụng thực tế rộngrãi trong các buổi xêmina” [39; 273]

Thảo luận nhóm là một trong các phương pháp dạy học có thể phát huy đượctính tích cực, chủ động và sáng tạo của SV trong quá trình học tập.“Phương phápthảo luận nhóm là phương pháp dạy học mà trong đó nhóm lớn (lớp học) được chiathành những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc vàthảo luận về một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề

Trang 21

đó [26; 223 ].

Để chuẩn bị cho việc thảo luận nhóm cần thực hiện các bước sau:

Bước 1: Xác định hệ thống chủ đề thảo luận Chủ đề thảo luận của môn học phải bảo đảm được hai yêu cầu: Một là, yêu cầu gợi mở thông tin qua thảo luận,

SV nâng cao được nhận thức lí luận môn học Hai là, gắn lí luận với thực tiễn.

Trong thực tiễn đời sống xã hội hay một quan điểm lí luận được khẳng định Chủ

đề đưa ra phải vừa tầm, vừa sức giải quyết của tập thể, hoặc mỗi cá nhân SV trongmỗi buổi thảo luận Nghĩa là GV phải là người “hoàn chỉnh”

Bước 2: Giới thiệu hệ thống chủ đề cho SV (tốt nhất là giới thiệu trước 1- 2 tuần) để SV có thời gian chuẩn bị GV cần thực hiện ba việc: Một là, giới thiệu tên

chủ đề và cho SV đại diện (nhóm trưởng của từng nhóm bốc thăm) đăng ký chủ đề

với GV Hai là, GV giới thiệu bảng hướng dẫn SV chuẩn bị thảo luận Trong bản

hướng dẫn SV chuẩn bị thảo luận gồm có giới thiệu: hướng suy nghĩ giải quyết vàphác họa đề cương để định hướng cho SV chuẩn bị; tài liệu tham khảo; hình thức

trình bày (mẫu) Ba là, phát cho nhóm trưởng một phiếu đánh giá công viện của

từng thành viên trong quá trình chuẩn bị theo biểu mẫu

Giai đoạn tổ chức thảo luận, GV sẽ triển khai thảo luận đã thông báo cho

SV trong khâu chuẩn bị GV cần theo dõi, ghi toàn bộ ý kiến của SV (nhất lànhững ý kiến chưa được thống nhất, chưa được sáng tỏ) sau đó khái quát lại bằngnghiệp vụ của mình, GV tiếp tục gợi ý suy nghĩ cho sinh viên Trong thảo luận GVkhông nên biến buổi thảo luận thành buổi “kiểm tra kiến thức” mà phải xem đây làmột dịp sinh hoạt khoa học Muốn thế, ngoài việc giải quyết nội dung của chủ đề,

GV cần đặt ra những tình huống “gay cấn” thậm chí “trái ngược” để lôi cuốn SVvào một cuộc tranh luận sôi nổi góp phần làm sáng tổ chủ đề

Ưu điểm:

Tăng cường sự tham gia tích cực của SV SV được chủ động tham gia, đượcbày tỏ ý kiến, quan điểm, được tôn trọng;

Nâng cao kết quả học tập Do có sự hợp tác làm việc và thảo luận nhóm nên

SV có thể giải quyết được những nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp SV có thểchia sẻ và học tập lẫn nhau;

Phát triển năng lực lãnh đạo, tổ chức, năng lực hợp tác của SV Trong quátrình học tập theo nhóm, SV được thay đổi vai trò làm nhóm trưởng, thư ký, hình

Trang 22

thành năng lực quản lý của người lao động Để thu được kết quả cao trong thảoluận nhóm, các SV phải rèn luyện kỹ năng xã hội Khi làm việc cùng nhau SV phảihọc cách hiểu người xung quanh theo những cách khác nhau và học cách tin tưởngngười khác và sẵn sàng hỗ trợ nhau Bên cạnh đó, SV cũng phải học cách giảiquyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ từ đó SV có thể ápdụng những kỹ năng này vào giải quyết những vấn đề thực tiễn;

Tăng cường năng lực đánh giá và tự đánh giá GV có thể tổ chức SV đánhgiá thường xuyên và tiến độ thực hiện nhiệm vụ của nhóm minh đồng thời đánhgiá cả nhóm bạn để tăng hiệu quả làm việc nhóm Qua đó năng lực đánh giá và tựđánh giá của SV được hình thành

Hạn chế:

Hạn chế do không gian lớp học; hạn chế do quỹ thời gian; một số SV tính tựgiác chưa cao; hiệu quả không cao nếu tổ chức nhóm chỉ là hình thức

- Phương pháp động não trong dạy học

Phương pháp động não (Brains torming method) được Alex Osborn - mộtdoanh nhân người Mỹ đưa ra năm 1938, phương pháp này được ông tiếp tục pháttriển vào những năm 50 của thề kỷ XX

Ở Việt Nam, PPDH động não đã được nghiên cứu và vận dụng trong nhiềulại hình nhà trường và đã mang lại nhiệu kết quả khả quan Đây cũng là phươngpháp được nhiều GV sử dụng ở nhiều bài học khác nhau, thích hợp với giảng dạy

“phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

Phương pháp động não là phương pháp trong đó GV đưa ra nhiều vấn đề đỏihỏi sinh phải suy nghĩ, thu thập tất cả các ý kiến của SV trừ ý kiến trùng lặp vàtrong khoảng thời gian ngắn SV nảy sinh được nhiều ý tưởng để giải quyết đượccác vấn đề GV đặt ra

Dạy học với phương pháp động não có thể tiến hành theo các bước sau:

GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề trước cả lớp hoặc cho từng nhóm nhỏ qua phiếugiao việc

Động viên, khích lệ SV trả lời vào phiếu học tập và phiếu phát biểu

GV hoặc lớp trưởng, thư ký lớp liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu SV lênbảng, lên phiếu học tập, lên bảng trong để tất cả SV trong lớp theo dõi (trừ các ýkiến trùng lặp) và phân loại các ý kiến đúng, sai

Trang 23

Tổng hợp các ý kiến của SV, cho SV được nêu những băn khoăn, thắc mắc

và GV kết luận vấn đề (nội dung cần làm rõ của bài học)

Khi vận dụng phương pháp động não vào giảng dạy “phần thứ ba” mônnhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin cần đảm bảo các yêu cầu sưphạm sau:

Chỉ sử dụng phương pháp này khi dạy học các nội dung ít nhiều đã quenthuộc với SV; có thể sử dụng phương pháp này khi mở đầu bài học, kết thúc bàihọc, tổng kết bài

Các ý kiến phát biểu cần ngắn gọn Nếu trả lời vào phiếu học tập cần ngắngọn bằng một câu, một từ hay cụm từ

Tất cả ý kiến của SV cần được GV, cả lớp chấp nhận, hoan nghênh, khôngvội vàng cười chê, phê phán hay nhận xét đúng sai

Khi kết luận vấn đề, nội dung bài học GV cần động viên, khích SV bằngviệc nhấn mạnh kết quả này là của tất cả mọi thành viên xây dựng nên

- PPDH nêu vấn đề

PPDH nêu vấn đề xuất hiện vào thập niên 50 của thế kỷ XX tại trường đạihọc Hamilton (Canada), sau đó được phát triển nhanh chóng tại trường đại họcMaastricht (Hà Lan) Sự ra đời của dạy học nêu vấn đề được xem là một bước tiến

của khoa học sư phạm hiện đại PPDH nêu vấn đề được các nhà giáo dục ở nước ta

vận dụng và đưa vào giảng dạy từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX Cho đến nay,việc vận dụng PPDH nêu vấn đề đã đạt những thành công trong dạy học “Phươngpháp dạy học nêu vấn đề là cách thức người GV xây dựng và đưa ra những tìnhhuống có vấn đề dưới dạng câu hỏi, tình huống, bài tập có tính chất nghiên cứutrong một hệ thống nhất định, để SV tự lực làm bài và dần dần tiếp thu được nhữngkinh nghiệm hoạt động, nghiên cứu, học tập sáng tạo” [7; 74]

Khi vận dụng PPDH nêu vấn đề trong giảng dạy “phần thứ ba” môn Nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin GV cần phải có nghệ thuật nêu ra tìnhhuống có vấn đề, tránh tình trạng vận dụng gượng ép, máy móc, kém hiệu quả Khinêu tình huống có vấn đề GV cần phải chú ý những vấn đề sau:

Tình huống có vấn đề nảy sinh khi phân tích những khái niệm học thuật GVđặt câu hỏi dẫn dắt SV vào vấn đề nghiên cứu

Trang 24

Tình huống có vấn đề xuất hiện khi SV đứng trước sự lựa chọn các phương

án trả lời khác nhau đối với cùng một câu hỏi (bài tập) nhất là những vấn đề khôngchỉ dừng lại ở việc nhớ kiến thức đã học Trước vấn đề đó người GV phải nhắc lại

và phân tích kiến thức cơ bản, sau đó đưa ra câu trả lời đúng đắn

Tình huống có vấn đề xuất hiện khi SV phải áp dụng các kiến thức đã họcgiải quyết vấn đề trong tình huống mới Khi giảng dạy, GV cần căn cứ vào nhữngtri thức cơ bản và thực tiễn để nêu những vấn đề cho SV nghiên cứu và giải quyết

Khi nêu vấn đề GV cũng cần lưu ý:

Trong quá trình dạy học, GV tạo tình huống phải phù hợp với khả năng cuả

SV, có tỷ lệ hợp lý giữa cái đã biết và cái chưa biết Câu hỏi, bài tập hơi khó, hơivượt mức SV nhưng SV có thể giải quyết được Không nên nêu vấn đề quá khóhoặc quá dễ đối với SV, gây tâm lý chán học, xem thường, chủ quan

Vấn đề phải chứa đựng những tin tức mới, cập nhật ở trong nước và thế giới

GV phải có những hình thức đánh giá thiết thực, phù hợp để động viên SVhọc tập say mê trong môn học

Khi sử dụng tình huống có vấn đề trong giảng dạy “phần thứ ba” mônNhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin cần tuân theo những giai đoạnsau:

Giai đoạn thứ nhất: GV định hướng vấn đề nghiên cứu Ở giai đoạn này

được thực hiện thông qua việc GV nêu vấn đề nghiên cứu dần dần đưa SV vào tìnhhuống có vấn đề SV nắm bắt tình huống có vấn đề mà GV đưa ra, SV nêu lênnhững mâu thuẫn cần giải quyết mà bản thân họ đã nhận thức, từ đó nhận thứcđược những nhiệm vụ cần thực hiện của bản thân dưới sự tổ chức, hướng dẫn củaGV

Giai đoạn thứ hai: SV lập kế hoạch giải quyết vấn đề SV thu thập thông tin

liên quan đến vấn đề, sử dụng tri thức khoa học đã biết để nêu lên giả thuyếtnghiên cứu và các nhiệm vụ thực hiện để chứng minh giả thuyết, xây dựng cáchthức và kế hoạch thực hiện cụ thể: Phải làm gì? Ai làm? Cần làm lúc nào và giảiquyết được đến đâu? Đề ra giải pháp và chọn giải pháp tối ưu

Giai đoạn thứ ba: Thực hiện kế hoạch đã đề ra để giải quyết vấn đề nghiên

cứu Ở giai đoạn này SV tự giác thực hiện kế hoạch dưới sự chỉ dẫn của GV SV

Trang 25

lựa chọn các giải pháp hữu hiệu nhất để thực hiện nhiệm vụ đặt ra có hiệu quả caonhất

Giai đoạn thứ tư: Kiểm tra, đánh giá việc giải quyết vấn đề nghiên cứu Để

thực hiện tốt giai đoạn này GV phải đánh giá khách quan, đưa ra đáp án hoànchỉnh làm tiêu chuẩn đánh giá sản phẩm nghiên cứu của SV… đồng thời việc đánhgiá phải công bằng, kịp thời và hiệu quả, kết quả của đánh giá sẽ làm cơ sở cho quátrình nghiên cứu những vấn đề phức tạp hơn tiếp theo

Trong quá trình đặt và giải quyết vấn đề có thể phân biệt bốn mức sau:

Các

mức Đặt vấn đề

Nêu giả thuyết

Lập kế hoạch

Giải quyết vấn đề Kết luận

Mức 3: GV gợi ý để SV phát hiện vấn đề, hướng dẫn SV tìm cách giải quyếtvấn đề, GV và SV cùng đánh giá kết luận

Mức 4: SV phát hiện vấn đề cần nghiên cứu, nêu giả thuyết, lập kế hoạch vàgiải quyết vấn đề, tự rút kết luận, GV nhận xét, đánh giá

Ưu điểm của PPDH nêu vấn đề trong giảng dạy “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin:

Giúp SV hứng thú học tập, nghiên cứu học phần và từng bước hình thànhnăng lực gắn lý luận với thực tiễn, học với hành, khắc phục thuộc lòng, thiếu sángtạo;

Nhằm hình thành, xây dựng ở SV tác phong nghiên cứu khoa học như: tính

tổ chức, tỉ mỉ dám nghĩ dám làm;

Góp phần tạo tiện đề cho SV phát huy tính chủ động sáng tạo, tích cực tronghọc tập và nghiên cứu, biết giải quyết thực tiễn một cách linh hoạt, hiệu quả;

Trang 26

Tạo ra sự nổ lực hứng thú của SV, giúp SV có bản lĩnh trong việc giao lưutrình bày vấn đề trước đám đông;

Khắc phục thái độ xem thường môn học, hiểu biết thêm phần học, có ý thứchọc tập xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chống lại tư tưởng phản động chống phá sựnghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta;

GV nhiệt tình, có trách nhiệm nghiên cứu, nâng cao chất lượng giảng dạy

Hạn chế của PPDH nêu vấn đề:

Để xây dựng được tình huống có vấn đề, đòi hỏi GV phải có nhiều kinhnghiệm chuyên môn, phải có phương pháp để kích thích sự say mê, hứng thú củaSV; đòi hỏi người học phải nắm vững tri thức liên quan đến vấn đề cần giải quyết

Người học mất nhiều thời gian để giải quyết các vấn đề, rút ra các tri thứccần thiết Vì vậy, các tình huống tạo ra phải điển hình

Người học dễ bị lạc hướng trong quá trình giải quyết vấn đề

GV nếu quá lạm dụng phương pháp này sẽ không đảm bảo chất lượng đồngbộ của SV dẫn tới nhiều SV yếu kém có tâm lý chán học

- Phương pháp hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu bài học

Trong quá trình học tập ở đại học, cao đẳng thì tự học, tự nghiên cứu có ýnghĩa to lớn đối với bản thân SV để hoàn thành nhiệm vụ học tập của họ và thựchiện mục tiêu đào tạo của nhà trường Tự học thể hiện đầy đủ vai trò của chủ thểnhận thức (SV) Trong đó, SV hoàn toàn chủ động độc lập, tự tìm tòi, khám phá đểlĩnh hội tri thức dưới sự chỉ đạo, điều khiển của GV Để phát huy tính chủ độngtích cực của mình, SV cần rèn luyện phương pháp tự học, tự nghiên cứu

Tự học thực chất là hoạt động độc lập của SV với các nguồn tri thức có sẵnnhư các tài liệu, giáo trình, các tài liệu tham khảo dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo củagiáo viên, SV tìm tòi, khám phá hoặc chọn lọc, bổ sung, hệ thống hóa các kiếnthức cần nắm, rèn luyện một số kĩ năng nghề nghiệp cần thiết Tự học của SVthường được tiến hành trong các trường hợp: nội dung bài học tương đối đơn giản

và được trình bày khá rõ ràng trong giáo trình, các kĩ năng nghề nghiệp đã được

GV hướng dẫn

Tự nghiên cứu cũng là những hoạt động độc lập của SV, nhưng với cácnguồn tri thức có thể có sẵn, cũng có thể phải tìm kiếm hoặc phải điều tra, khảo sátngoài thực tế phổ thông Tự nghiên cứu là SV phải hoạt động nhiều hơn, sử dụng

Trang 27

nhiều thao tác tư duy để tìm tòi, khám phá tri thức mới, học tập những kĩ năng mới

và sự hướng dẫn của GV kĩ lưỡng hơn: hướng dẫn tìm nguồn tài liệu, hướng dẫnđiều tra, khảo sát thực tế, hướng dẫn cách thức khai thác các nguồn tri thức, hướngdẫn cách xử lí và cách hệ thống thông tin Việc tự nghiên cứu thường được tiếnhành ở ngoài lớp hoặc ở nhà, với thời gian dài hơn và nội dung khó hơn

Tự học, tự nghiên cứu là hình thức hoạt động của cá nhân người học nhằmnắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng của môn học Hoạt động tự học, tự nghiêncứu do chính SV tiến hành ở trên lớp, ngoài lớp hoặc ở nhà Tự học, tự nghiên cứu

có liên quan chặt chẽ với quá trình dạy học, nhưng có tính độc lập cao, nó được coi

là “chìa khóa vàng” của giáo dục trong thời đại tri thức nhân loại tăng lên như vũbão ngày nay

Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu “phần thứ ba”

môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Má c- Lênin ở trên lớp cho SV:

Việc tổ chức hoạt động tự học “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác - Lênin ở trên lớp cho SV là quá trình GV lựa chọn, sắp xếpcác phương pháp dạy học, nhằm hướng dẫn điều khiển SV tự tổ chức, tự điềukhiển hoạt động nhận thức quan sát, ghi chép, phân tích, so sánh, khái quát hoá, hệthống hoá…, hoạt động kiểm tra, đánh giá, nhằm đạt được kết quả tối ưu mục đích,nhiệm vụ môn học đề ra

Tổ chức hoạt động tự học “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác- Lênin ở trên lớp cho SV thực chất là GV nhằm giúp cho SV nắmđược mục đích, ý nghĩa của môn học, nắm được yêu cầu đối với từng loại bài học,từng chương nhằm tích cực hoạt động học tập của SV, qua đó giúp cho SV nắmđược các quan điểm Mácxít, đường lối của Đảng và Nhà nước, nắm vững hệ thốngtri thức vế lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin từ đó giúp SV rèn luyện kỹ năngnghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ hiểu biết, có tình cảm tích cực đối vớinghề nghiệp trong tương lai của họ

Tổ chức hoạt động tự học “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác - Lênin trên lớp cho SV là quá trình GV sử dụng hệ thống cácphương pháp:

Tạo môi trường học tập cho SV;

Tổ chức cho SV làm việc theo nhóm kết hợp thảo luận;

Trang 28

Sử dụng phương pháp mô hình hoá trong dạy học học phần để tổ chức hoạtđộng tự học cho SV Để hoạt động tự học trên lớp có hiệu quả cần phối hợp chặtchẽ hoạt động của thầy và trò:

- Tạo tình huống để SV rõ vấn đề, thấy

cần giải quyết

- Nghe, tiếp thu, chuyển mâu thuẫn bên ngoài thành mâu thuẫn bên trong,

có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn

- Giao nhiệm vụ học tập (đặt câu hỏi, ra

bài tập )

- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập qua câu hỏi, bài tập

- Hướng dẫn SV hoạt động (đọc giáo

trình, nghiên cứu tài liệu tham khảo, tổ

chức thảo luận,…)

- Hướng dẫn SV kỹ năng ghi chép nội

dung, tài liệu học

- Đọc giáo trình, tái hiện, suy nghĩ, sáng tạo, trả lời câu hỏi thảo luận

- Ghi chép những ý chính

- Theo dõi sự tự học của SV, tổ chức

nhóm thảo luận, đặt các câu hỏi bổ sung

khi cần thiết

- Phát huy tính tính tích cực, sự nỗ lựcsang tạo, trao đổi với bạn bè, hỏi GV

để thảo luận để giải quyết các nhiệm

Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu “phần thứ ba”

môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở nhà cho SV:

Tổ chức hoạt động tự học “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của

chủ nghĩa Mác - Lênin ở nhà cho SV không giống như việc học ở trên lớp Nó làquá trình GV tiến hành thiết kế, sắp xếp các phương pháp dạy học nhằm sử dụnghay áp dụng các yếu tố, các nguồn lực giúp SV làm việc độc lập, chủ động tự lập

kế hoạch bài học, hình thành các kỹ năng tự học, rèn luyện ý chí tự học, phát triểntới mức cao nhất tính tích cực, tính độc lập trong quá trình tự học, tự nghiên cứucủa SV

Tổ chức hoạt động tự học “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác - Lênin ở nhà cho SV gồm các phương pháp:

+ Hướng dẫn SV lập kế hoạch bài học

Trang 29

+ Bồi dưỡng một số kỹ năng tự học cho SV như: Kỹ năng xây dựng kếhoạch tự học, kỹ năng tự đọc sách, kỹ năng ghi chép tài liệu, ỹ năng hệ thống hoá,khái quát hoá, kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá.

Như vậy, để tăng cường khả năng tự học cho SV, trong quá trình hướng dẫn

SV học, người GV phải biết khơi dậy được niềm say mê, yêu thích môn học, phảitạo được ý thức học tập giúp cho SV có cái nhìn bao quát toàn bộ môn học,chương trình học, hướng dẫn SV cách lập và thực hiện kế hoạch học tập một cáchkhoa học và hợp lý, cách thu thập và xử lý tài liệu Khi hướng dẫn SV tự học GVphải chú ý sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, vừa phối hợp với cácphương pháp một cách nhuần nhuyễn, hài hoà, vừa đảm bảo kiến thức cơ bản, lạivừa bồi dưỡng khả năng tự học cho SV “Tự tìm lấy kiến thức - có nghĩa là tự học”(N.ARubakin) giúp SV “học mọi nơi, học mọi lúc”- trên lớp, ở nhà, thảo luận,nghiên cứu khoa học, thực tập… khả năng tự học suốt đời cho SV

Ưu điểm phương pháp hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu bài học:

Giúp cho SV biết tranh thủ, tiết kiệm thời gian rảnh rỗi để nâng cao trình độnhận thức về bản lĩnh chính trị - xã hội trên lập trường giai cấp công nhân, hìnhthành những phẩm chất của con người mới XHCN

Giúp cho SV tự lực nắm vững tri thức của môn học, hiểu bản chất của vấn

đề, hình thành những phẩm chất và năng lực chính trị cho bản thân Có ý thức đấutranh chống lại các thế lực thù địch trong và ngoài nước phá hoại sự nghiệp cáchmạng nước ta hiện nay

Không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập của bản thân khi còn

là SV, mà còn tạo nên năng lực và phẩm chất của người cán bộ XHCN, hình thànhthói quen học thường xuyên, học suốt đời “Học, học mãi, học nữa” (Lênin) đểhoàn thiện bản thân

Giúp cho SV hình thành niềm tin vào CNXH để rèn luyện bản thân, ý chíchiến đấu, tinh thần cách mạng bảo vệ Tổ quốc XHCN…

Khắc phục được những nhược điểm SV thường mắc phải như học chốngđối, học thuộc lòng câu chữ, hiểu hời hợi vấn đề

- Phương pháp hướng dẫn SV đọc tài liệu phục vụ môn học

Sách là nguồn tri thức vô giá của nhân loại Đọc sách giúp cho SV bổ sung

và mở rộng được kiến thức, sách chính là nguồn tài liệu quan trọng nhất để tự học,

Trang 30

tự nghiên cứu và sáng tạo M Gorki từng nói “Mỗi cuốn sách là một bậc thang nhỏ

mà khi bước lên, tôi tách khỏi con thú để đi tới gần con người” Nhận xét này đãkhái quát một cách chính xác vai trò của sách đối với cuộc sống nhân loại Mỗicuốn sách mở ra trước mắt con người những chân trời mới

Phương pháp hướng dẫn SV đọc tài liệu phục vụ môn học là phương pháp,trong đó SV tự làm việc cá nhân với sách, tư liệu, tài liệu tham khảo để thu nhậncác thông tin cần thiết Các tài liệu học tập này do GV cung cấp, chỉ dẫn; trongnhiều trường hợp cần thiết kèm theo các hướng dẫn làm việc cụ thể

Để phục vụ cho việc học tập “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác - Lênin có rất nhiều sách, tài liệu khác nhau: giáo trình chính làGiáo trình Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin dành cho SV đạo học, caođẳng khối không chuyên ngành Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb chính trịQuốc gia - sự thật, Hà nội 2011 Giáo trình bổ sung vào học phần là loại sách thamkhảo như: Các tác phẩm kinh điển của C Mác - Ăngghen - Lênin, Tạp chí triếthọc, Kinh tế chính trị, Tạp chí Cộng sản, Nghị quyết, văn kiện của Đảng… sửdụng các tài liệu liên nghành để bổ sung số liệu trong quá trình học tập học phần

Để đọc được nhiều tài liệu và thu được một cách hiệu quả, người GV cầnhướng dẫn SV phương pháp đọc phù hợp với mỗi loại tài liệu

Đối với những giáo trình chính, phục vụ trực tiếp cho môn học cần phải đọc

và nghiên cứu kĩ: Trước hết cần đọc mục lục để khái quát được toàn bộ nội dung

của giáo trình, rút ra được những phần cơ bản nhất của tài liệu (có thể hệ thốngbằng cách ghi chép vào sổ tay ghi nhớ của mình) Đọc từng phần và hệ thống lạinhững kiến thức cơ bản nhất của phần đó Liên kết các phần, xác lập được mốiquan hệ về mặt kiến thức của toàn bộ tài liệu Tổng quan lại tài liệu theo cách hiểu

và cách sắp xếp của người đọc

Đối với tài liệu bổ sung cho từng phần của môn học: Trước hết cần đọc mục

lục để tìm ra những nội dung cần thiết bổ sung cho môn học, đánh dấu những phầnquan trọng phục vụ trực tiếp cho phần nào của môn học Đọc phần đã xác định và

hệ thống lại những kiến thức cơ bản nhất của phần đó Liên kết giữa phần đọcđược ở tài liệu với nội dung của giáo trình Đối chiếu so sánh giữa giáo trình đọc

và nội dung bài học để thấy được sự thống nhất hay khác biệt về kiến thức, quanđiểm

Trang 31

Đối với những tài liệu tham khảo: Trước hết cần đọc mục lục để biết nội dung

của tài liệu, đánh dấu những phần có thể đọc để bổ sung hoặc mở rộng cho nộidung môn học Chỉ đọc những phần đã đánh dấu và ghi lại những kiến thức cầnthiết nhất có liên quan đến nội dung môn học

Như vậy, phương pháp GV hướng dẫn SV đọc tài liệu phục vụ môn học làphương pháp bắt buộc người học phải đào sâu suy nghĩ và hoàn thiện một quátrình tư duy từ việc tiếp nhận thông tin (tự tìm qua sách vở, sách tham khảo,phương tiện truyền thông và mạng internet, và một số nguồn khai thác khác), xử lýthông tin và tái tạo lại thông tin (qua các bài tập, qua các tiểu luận được giao), đếnviệc thể hiện thông tin (thông qua tự trình bày vấn đề trên lớp)

Ưu điểm:

SV là chủ thể nhận thức, tri thức lĩnh hội được trở nên chắc chắn;

Rèn luyện kĩ năng làm việc với sách, tài liệu, kĩ năng tự học, kĩ năng nghiêncứu của SV;

Rèn luyện cho SV các thói quen đọc sách, các phẩm chất đặc biệt như tínhđộc lập, tính chủ động, tính khoa học, tính phê phán, tính ham hiểu biết;

SV có điều kiện để mở rộng kiến thức ngoài chương trình, không chỉ giớihạn bởi giáo trình hay bài giảng của GV

Hạn chế:

Cần phải có quỹ thời gian rộng; tốc độ dạy học chậm;

SV khi phải làm việc với các tài liệu mới, khó, phức tạp, hoặc không có tính

sư phạm dễ nản, buông xuôi

Khó áp dụng đối với SV chưa được rèn luyện nhiều các kĩ năng làm việc vớisách hay kĩ năng tự học

Để phương pháp này có hiệu quả, cần phải có tài liệu đầy đủ, rõ ràng và có

sự hướng dẫn của GV lưu ý SV vào các nội dung trọng điểm, cơ bản của tài liệugiúp SV mở rộng kiến thức

1.1.2 Năng lực tự học của SV

- Khái niệm tự học

Đổi mới PPDH là vấn đề thường xuyên, cấp thiết nhằm đáp ứng những yêucầu của thực tiễn đặt ra trong nền giáo dục và đào tạo ở mỗi quốc gia Trong nhữngPPDH tích cực, hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu là một phương pháp đóng vai

Trang 32

trò quan trọng Khi nói đến vấn đề tự học, trong các giáo trình tài liệu, các tác giả

đã đưa ra các định nghĩa khác nhau:

Nhà tâm lý học N.ARubakin nói: “Tự tìm lấy kiến thức - có nghĩa là tựhọc” Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thựctiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệmban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức củaloài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng , kỹ xảo của chủ thể [41; 12 ] Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn trong tác phẩm "Quá trình dạy học" đã cho rằng:

"Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ như quan sát,tổng hợp, so sánh, phân tích, và có khi cả cơ bắp (Khi phải sử dụng công cụ) cùngcác phẩm chất của mình cùng các động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan và thế giớiquan (Như tính tiến thủ, khách quan, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học ) đểchiếm lĩnh tri thức nào đó” [ 30; 59 - 60]

Nguyễn Văn Cư cho rằng: “Tự học là hoạt động học tập sinh viên không chỉ

tự đọc sách, đọc tài liệu khi không có thầy giáo và các bạn mà còn phải có tinhthần, thái độ, ý chí, phương pháp làm việc tích cực, hiệu quả trong giờ học để nắmvững và vận dụng tri thức khoa học vào đời sống” [7; 74]

Khác với quan điểm trên, khi nói về vấn đề tự học tác giả Lưu Xuân Mớicho rằng: "Tự học là hình thức hoạt động của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống trithức và kỹ năng do chính SV tiến hành trên lớp, ở ngoài lớp hoặc không theochương trình và sách giáo khoa quy định Tự học là một hình thức dạy học cơ bản

ở bậc đại học có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân, nhưng có quan hệchặt chẽ với quá trình dạy học" [24; 276] Chủ Tịch Hồ Chí Minh là tấm gươngsáng về tự học Theo Người: “Về cách dạy thì phải tránh nhồi sọ”; "Trong cáchhọc, phải lấy tự học làm cốt" về học tập thì tránh lối học vẹt

Theo chúng tôi, tự học là một quá trình tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tiếp nhận tri thức mới để tự hoàn thiện bản thân dưới sự hướng dẫn của GV.

Ở đây tác chúng tôi đặt vấn đề tự học trong mối quan hệ chặt chẽ với hoạtđộng giảng dạy của GV, nhấn mạnh hiệu quả của hoạt động tự học phụ thuộc nhềuvào vai trò của cách thức, PPDH của GV

Trong quá trình tự học, người học rất muốn được biết họ nên tự học như thếnào, học những nội dung gì và kết quả được đánh giá ra sao? Nếu không có sự

Trang 33

hướng dẫn của GV thì quá trình tự học của SV sẽ gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy,trong luận văn này, chúng tôi tập trung khai thác khía cạnh tổ chức hướng dẫn SV

tự học với tư cách là một PPDH

Nhưng dưới bất cứ góc nhìn nào, tự học đều được xem là sự tự giác, nỗ lựclớn của người học Với hoạt động tự học, SV có thể làm phong phú thêm giá trịcủa mình bằng các thao tác của trí tuệ và cơ bắp nhờ vào ý chí nghị lực và lòngđam mê tìm tòi, học hỏi nghiên cứu của bản thân

Với những ý nghĩa đó, trong quá trình dạy học ở cao đẳng, đại học có thểtiến hành hoạt động học dưới nhiều hình thức khác nhau, trong các điều kiện khácnhau:

Một là, hoạt động tự học của SV diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của GV

và những phương tiện kỹ thuật ở trên lớp Trong hình thức này SV phải tự pháthuy những phẩm chất và năng lực của mình như khả năng chú ý, óc phân tích,năng lực khái quát hóa, tổng hợp hóa…để tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

mà GV định hướng cho

Hai là, hoạt động tự học của SV cũng có thể diễn ra khi không có sự điều

khiển trực tiếp của GV Ở đây SV phải tự sắp xếp quỹ thời gian và điều kiện vậtchất để tự ôn tập, tự củng cố, tự đào sâu những tri thức hoặc tự hình thành kỹ năng,

kỹ xảo ở một lĩnh vực nào đó theo yêu cầu của GV, hoặc quy định chương trìnhđào tạo của nhà trường

Ba là, hoạt động tự học của SV cũng có thể diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu

hiểu biết riêng khi gặp những tình huống có vấn đề, để bổ sung và mở rộng tri thứcngoài chương trình đào tạo và cũng không cần có sự điều khiển trực tiếp của GV.Bởi “muốn học được nhiều thì chủ yếu vẫn là tự học, thầy không thể dạy tất cảnhững điều cần thiết đối với trò Vì mỗi SV có một vốn tri thức riêng, có tư duyriêng Chỉ có tự học mới có tất cả những gì mình muốn học” Nhưng nếu có sựhướng dẫn, tổ chức của thầy cô, tự học sẽ đạt kết quả cao hơn

Qua nghiên cứu, tìm hiểu chúng tôi cho rằng, thực chất của hoạt động tự học là quá trình người học cá nhân hoá việc học, nhằm thoả mãn những nhu cầu học tập và tự giác tiến hành các hoạt động học tập một cách tự giác, chủ động, tích cực Ngườ học bằng các thao tác tư duy tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo và tiến hành các hoạt động thực hành nhằm tích luỹ kiến thức từ kho tàng

Trang 34

kiến thức của nhân loại, biến những tri thức và kinh nghiệm trong sách vở thành kinh nghiệm và vốn sống của bản thân họ.

Hoạt động tự học của SV là nhân tố, một khâu của quá trình học Quá trình

tự học là quá trình hoạt động tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo của SV Tự học

là một quá trình tự điều khiển quá trình tổ chức và chiếm lĩnh tri thức

- Năng lực tự học của Sinh viên

Theo Từ điển mở Wiktionary định nghĩa ngắn gọn: Năng lực là khả nănglàm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn Năng lực khôngphải là bẩm sinh, không phải là từ kinh nghiệm, và cũng không phải là làm việc gìcũng được.Năng lực mỗi người không giống nhau, nó được hình thành trong quátrình phát triển của con người trong xã hội Nghĩa là có bao nhiêu hình thức hoạtđộng của con người thì có bấy nhiêu loại năng lực

Theo chúng tôi, năng lực tự học của sinh viên chính là khả năng để sinh viên tự học tốt, tự lĩnh hồi tri thức, nhờ được trang bị hệ thống các phương pháp

Như chúng ta biết rằng, trong bối bối cảnh đổi mới giáo dục đại học, ngày

18 tháng 09 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định

số 52 /2008/QĐ-BGDĐT về chương trình môn học Những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác - Lênin Môn học này bao gồm ba bộ phận lý luận cấu thành củaChủ nghĩa Mác -Lênin: Triết học, Kinh tế chính trị và CNXH khoa học

Mục tiêu của môn học Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin

Trang 35

Xây dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng cho SV.

Kết cấu nội dung chương trình giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác – Lênin

Thời lượng: 5 tín chỉ (phần 1: 2 tín chỉ; phần 2 và 3: 3 tín chỉ)

- Nghe giảng: 70% và thảo luận: 30%

Đây là môn học bắt buộc dùng cho SV khối không chuyên ngành Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trình độ đại học, cao đẳng; Bố trí học năm thứ nhấttrình độ đào tạo đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác - Lênin, Tưtưởng Hồ Chí Minh; là môn học đầu tiên của chương trình các môn Lý luận chínhtrị trong trường đại học, cao đẳng

-Ngoài chương mở đầu, căn cứ vào mục tiêu môn học, nội dung chương trìnhmôn học được cấu trúc thành 3 phần (9 chương) Cụ thể:

Chương mở đầu: Nhập môn những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác Lênin.

-Phần thứ nhất: Thế giới quan và phương pháp luận triết học của Chủ nghĩa Mác - Lênin gồm 3 chương bao quát những nội dung cơ bản về thế giới quan và

phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin Cụ thể:

+ Chương 1: Chủ nghĩa duy vật biện chứng

+ Chương 2: Phép biện chứng duy vật

+ Chương 3: Chủ nghĩa duy vật lịch sử

Phần thứ hai: Học thuyết kinh tế của Chủ nghĩa Mác - Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa gồm 3 chương bao quát những nội dung cơ bản

nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Cụ thể:

+ Chương 4: Học thuyết giá trị

+ Chương 5: Học thuyết giá trị thặng dư

+ Chương 6: Học thuyết về CNTB độc quyền và CNTB độc quyền nhànước

Phần thứ ba: Lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH gồm 3 chương

khái quát những nội dung cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin về CNXH, một sốvấn đề về CNXH hiện thực và triển vọng của nó Cụ thể:

+ Chương 7: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và cách mạng XHCN

Trang 36

+ Chương 8: Những vấn đề chính trị - xã hội có tính quy luật trong tiến trìnhcách mạng XHCN.

+ Chương 9: CNXH hiện thực và triển vọng

Trong chương trình đào tạo của trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật PhúLâm, TP Hồ Chí Minh hiện nay, căn cứ vào chường trình của bộ GD& ĐT trên cơ

sở đó cơ cấu lại chương trình giảng dạy 5 tín chỉ với 75 tiết Trong đó, kết cấu của

“phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin có 15 tiếtnhư sau:

số tiết

Sốtiếtgiảng

Sốtiết tựhọcVII Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công

VIII

Những vấn đề chính trị-xã hội có tínhquy luật trong tiến trình cách mạng

Học tập “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin có ý nghĩa trong việc trang bị và nâng cao nhận thức khoa học về CNXH,nhất là những vấn đề chính trị - xã hội Xây dựng và củng cố niềm tin, lập trườngcộng sản chủ nghĩa cho cán bộ, đảng viên và mọi công dân nói chung

-Bên cạnh đó, học tập học phần giúp ta vận dụng vào hoạt động thực tiễn, họctập, rèn luyện, lao động sản xuất, sinh hoạt xã hội Giúp ta có căn cứ nhận thứckhoa học để luôn cảnh giác và đấu tranh với những tư tưởng hành động sai lệch,thù địch với CNXH và những kẻ phản lại lợi ích của nhân dân, dân tộc và nhân loạitiến bộ

1.2.2 Thực trạng vận dụng các PPDH tích cực trong giảng dạy “Phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

Trang 37

- Vài nét về trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Phú Lâm, TP Hồ Chí Minh là trườngcông lập, nằm trong hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng của cả nước, thành lậptheo quyết định số 1974/QĐ-BGDĐT ngày 09/04/2008 của Bộ Giáo dục và Đàotạo trên cơ sở nâng cấp của Trường Trung cấp Kỹ thuật - Nghiệp vụ Phú Lâm

Trường đã nhận được sự quan tâm, tin tưởng của lãnh đạo TP Hồ ChíMinh và được định hướng là một trong những đơn vị giáo dục nghề nghiệp trọngđiểm, cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật có chất lượng cao, đáp ứng chương trìnhCông nghiệp hoá - Hiện đại hoá của TP Hồ Chí Minh

Qua 04 năm hoạt động, nhà trường đã từng bước khẳng định được vị thếcủa một trường cao đẳng thông qua việc hoàn thiện bộ máy tổ chức nhân sự, quantâm đến việc phát triển số lượng, chất lượng đội ngũ Tính đến nay, trường có 08phòng chức năng, 08 khoa, 03 Tổ trực thuộc và 04 trung tâm, 01 Phân hiệu đaPhước và 01 trạm Y tế Hàng năm, nhà trường luôn có kế hoạch và chính sách hợp

lý để không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, GV, công nhân viên vàngười lao động của trường Nhà trường hiện nay có 254 cán bộ, GV, công nhânviên và người lao động, trong đó có 01 tiến sĩ, 03 GV đang nghiên cứu sinh có 37cán bộ, GV trình độ thạc sỹ và 39 cán bộ, GV đang học cao học

Hàng năm, công tác tuyển sinh được tiến hành nghiêm túc, đúng quy chế vàđạt được kết quả cao Hệ cao đẳng năm 2011 - 2012, có 04 ngành mũi nhọn: Côngnghệ Thông tin, Công nghệ Kỹ thuật Cơ khí, Công nghệ Kỹ thuật điện - Điện tử,

Kế toán với tổng số SV nhập học là 1088 SV Công tác đầu tư cơ sở vật chất, trang

thiết bị phục vụ dạy và học được quan tâm đầu tư đúng mức, có trọng tâm, trọngđiểm, tiếp cận xu thế phát triển của khoa học công nghệ và trình độ phát triển củasản xuất Năm học 2011 - 2012, nhà trường có kế hoạch mở thêm 05 nghành đàotạo là: Quản trị Kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng, Công nghệ kỹ thuật Cơ điện

tử, Công nghệ kỹ thuật Điện tử, tuyền thông và Anh Văn đến nay đã được BộGDĐT duyệt và tuyển sinh 05 nghành mới này vào tháng 7 năm 2012 đưa vào đào

Trang 38

tạo năm học 2012- 2013.

Các hoạt động hợp tác quốc tế luôn được nhà trường chú trọng Nhàtrường đã thực hiện được các dự án Hợp tác quốc tế như: Dự án Temasek SP-DOET, liên kết với Đại học Công nghệ Cali - Universty về đào tạo cử nhân quảntrị doanh nghiệp, Công ty TAFESA (Úc) về đào tạo ngành May - Thời trang; Công

ty Union (Singapore), Công ty ELWE (Đức) về đào tạo GV, chuyển giao côngnghệ Liên kết với trường Polytechnic (Singapore) đào tạo ngành cơ điện tử vàtruyền thông đa phương tiện (đã đào tạo được 03 khóa Trung cấp), ký kết hợp tácvới tập đoàn Yalong (Trung Quốc) trong việc hỗ trợ kỹ thuật và cung cấp các thiết

bị phuc vụ công tác đào tạo; Ký kết thõa thuận với công ty Toyota về việc hỗ trợđào tạo kỹ thuật ngành đồng và sơn ôtô; hợp tác và giao lưu học tập giữa học việnQuảng Tây Trung Quốc về chia sẻ tài nguyên giáo dục tiên tiến và mở rộng cơ hộihọc tập cho học sinh…

Bằng tất cả sự đoàn kết cố gắng, nỗ lực, tập thể Cán bộ, GV, công nhân viêntrường đã vinh dự được Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khen tặng.Trong 04 năm học (2007- 2008, 2008 - 2009, 2009 - 2010, 2010 - 2011), nhàtrường đã được nhận Bằng khen Tập thể Lao động xuất sắc, Cờ thi đua xuất sắccủa Uỷ ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh

- Tình hình vận dụng các PPDH tích cực trong giảng dạy “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Má c - Lênin

Trong những năm gần đây, nhà trường đã tích cực triển khai nhiều hoạtđộng nhằm đổi mới phương pháp dạy học cho GV nói chung và GV bộ mônNhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và “phần thứ ba” môn học nàynói riêng bằng cách đưa GV đi tập huấn, tham dự một số buổi hội thảo về đổi mớiphương pháp giảng dạy và bồi dưỡng PPDH tích cực Qua đó, số GV trong nhàtrường bước đầu đã nhận thức được sự quan trọng và tính cấp thiết về việc đổi mớiPPDH vả đã vận dụng PPDH tích cực vào quá trình soạn bài và lên lớp

Trang 39

GV đã xác định rõ mục tiêu môn học, luôn tìm tòi đổi mới PPDH nên đãnâng cao được chất lượng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ ngĩa Mác -Lênin Một số GV có kinh nghiệm giảng dạy đã thực sự lôi cuốn SV bằng nhiềucách dạy hấp dẫn, tạo ra sự say mê, hứng thú học tập cho SV.

Bên cạnh đó, ngoài những phương tiện dạy học truyền thống, GV cũng đã sửdụng các phương tiện dạy học mới nhằm nâng cao chất lượng cho bài giảng ( máy

vi tính, projecto, bảng ghim, …)

Tuy nhiên, việc áp dụng PPDH tích cực cũng còn tồn tại những hạn chế cầnkhắc phục như: GV chưa nhận thức hết vai trò của việc vận dụng các PPDH tíchcực vì vậy số GV vận dụng PPDH này chưa nhuần nhuyễn và cũng chưa nhiều nênchưa thực sự phát huy được tính tích cực của người học khiến cho quá trình họccủa SV đa số vẫn còn thụ động khiến cho quá trình dạy học chưa thật sự đạt hiệuquả;

Mặt khác, do chưa nhận thức đầy đủ, chưa hiểu thấu đáo về PPDH tích cực

vì vậy trong giảng dạy các thầy cô khó triển khai trong tiết giảng Ví dụ: GV khithực hiện phương pháp thảo luận nhóm GV chưa xác định được các bước thảo luận

vì vậy việc tổ chức thảo luận tốn nhiều thời gian và thực sự không mang lại hiệuquả Đôi khi lại biến buổi thảo luận thành buổi thuyết trình thay thế là GV thuyếttrình cho SV thành SV thuyết trình cho SV nghe làm cho tiết dạy, buổi dạy khônghiệu quả

Năm học 2011- 2012, đội ngũ GV dạy bộ môn Những nguyên lý cơ bản của

chủ nghĩa Mác - Lênin là 5 GV Về trình độ: có 01 GV là thạc sĩ, 03 GV sau đại

học và 01 cử nhân Về thâm niên công tác có 01 GV trên 10 năm, 04 GV thâm niên

Trang 40

xuyên sử dụng

thường xuyên sử dụng

dụng

SốGV

Tỉ lệ

%

SốGV

Tỉ lệ

%

SốGV

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Thực trạng học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa   Mác - Lênin: - Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần thứ ba môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác lênin  trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật phú lâm, thành phố hồ chí mi
Bảng 2 Thực trạng học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin: (Trang 42)
Câu 8: Hình thức thi, kiểm tra môn học - Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần thứ ba môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác lênin  trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật phú lâm, thành phố hồ chí mi
u 8: Hình thức thi, kiểm tra môn học (Trang 43)
Hình thức  tổ chức - Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần thứ ba môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác lênin  trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật phú lâm, thành phố hồ chí mi
Hình th ức tổ chức (Trang 48)
SƠ ĐỒ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC  CHXHCN VIỆT - Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần thứ ba môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác lênin  trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật phú lâm, thành phố hồ chí mi
SƠ ĐỒ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CHXHCN VIỆT (Trang 78)
Bảng 5: Kết quả học tập của SV sau thực nghiệm lần hai - Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần thứ ba môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác lênin  trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật phú lâm, thành phố hồ chí mi
Bảng 5 Kết quả học tập của SV sau thực nghiệm lần hai (Trang 84)
Bảng 6. Kết quả trưng cầu ý kiến của việc vận dụng các PPDH tích cực vào   giảng dạy “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. - Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần thứ ba môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác lênin  trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật phú lâm, thành phố hồ chí mi
Bảng 6. Kết quả trưng cầu ý kiến của việc vận dụng các PPDH tích cực vào giảng dạy “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (Trang 85)
Đồ thị 6: Kết quả của trưng cần ý kiến về việc vận dụng các PPDH tích cực   vào giảng dạy “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -   Lênin - Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần thứ ba môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác lênin  trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật phú lâm, thành phố hồ chí mi
th ị 6: Kết quả của trưng cần ý kiến về việc vận dụng các PPDH tích cực vào giảng dạy “phần thứ ba” môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (Trang 86)
8. Hình thức thi/Kiểm tra - Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy phần thứ ba môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác lênin  trường cao đẳng kinh tế   kỹ thuật phú lâm, thành phố hồ chí mi
8. Hình thức thi/Kiểm tra (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w